Xem ngày trước
BẢN TIN TỔNG HỢP
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 09 năm 2011
PHIÊN HỌP THỨ 2 - ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
TIN TỨC
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

PHIÊN HỌP THỨ 2 - ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Tiếp tục chương trình phiên họp thứ hai, sáng 29/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về Báo cáo giám sát tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề.
Trình bày Báo cáo giám sát, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng nêu rõ, mục đích hoạt động của Đoàn giám sát lần này là đánh giá việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề; đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân cũng những tồn tại và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế và làng nghề trong phạm vi cả nước.
Đoàn giám sát đã làm việc với đại diện lãnh đạo nhiều bộ ngành và các cơ quan hữu quan, Ủy ban Nhân dân 19 tỉnh, thành phố và khảo sát thực tế tại 15 khu kinh tế ven biển và 54 làng nghề tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; xem xét báo cáo của các bộ có liên quan, của Ủy ban Nhân dân 58 tỉnh, thành phố và báo cáo giám sát của 10 Đoàn đại biểu Quốc hội gửi đến.
Qua giám sát cho thấy, hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường có liên quan đến khu kinh tế đã được ban hành tương đối đầy đủ, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc quản lý và bảo vệ môi trường tại các khu kinh tế. Tuy nhiên, tiến độ ban hành còn chậm; thiếu các quy định phù hợp với quản lý môi trường đặc thù của các khu kinh tế; một số quy định còn chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành ở khu kinh tế.
Việc chỉ đạo, điều hành công tác bảo vệ môi trường ở các khu kinh tế chưa thực sự thường xuyên; thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường ở các khu kinh tế tuy đã được quan tâm và có những kết quả nhất định nhưng vẫn còn không ít cơ sở chưa tuân thủ nghiêm, thực hiện không đầy đủ các nội dung cam kết.
Báo cáo cũng chỉ ra, bên cạnh những kết quả đạt được, ô nhiễm môi trường là một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với không ít làng nghề. Đoàn giám sát nhận định, các chính sách liên quan đến đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường áp dụng cho các làng nghề trên thực tế ít được triển khai. Việc thực hiện những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh khi áp dụng cho làng nghề còn nhiều khó khăn, bất cập.
Cho đến nay, kinh phí từ Trung ương và địa phương dành chi trực tiếp cho hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề rất hạn chế. Chức năng thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ môi trường nói riêng đối với các đối tượng sản xuất trong làng nghề được giao cho nhiều ngành nhưng việc thực hiện chưa thường xuyên, xử lý chưa thực sự nghiêm minh. Hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục phổ biến chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường ở một số nơi mới chỉ mang tính phong trào.
Đoàn giám sát đã đề xuất một số kiến nghị đối với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ; trong đó nhấn mạnh đến yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của các khu kinh tế và làng nghề, tăng cường giám sát, tăng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường...
Góp ý vào báo cáo giám sát, các đại biểu đánh giá cao việc lựa chọn nội dung giám sát bởi môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề hiện là vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội, được dư luận và cử tri rất quan tâm. Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tại khu vực này hiện còn những hạn chế, bất cập, chưa đạt yêu cầu. Nếu không sớm khắc phục, nguy cơ ô nhiễm môi trường là tất yếu.
Đoàn giám sát đã phản ánh được cơ bản những vấn đề tồn tại, phân tích nguyên nhân và đề xuất những kiến nghị xác đáng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến đề nghị Báo cáo giám sát cần phân tích thấu đáo hơn, nêu bật được hiện trạng với những minh chứng cụ thể, rõ ràng đồng thời đưa ra được những giải pháp thực sự phù hợp.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Phùng Quốc Hiển, không thể phủ nhận sự phát triển của các khu kinh tế, làng nghề đã góp phần rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách, tăng thu nhập cho người lao động. Tuy nhiên, qua thực tế giám sát, rõ ràng bên cạnh số làm tốt, việc phát triển các khu, cụm công nghiệp, làng nghề hiện nay giống như “trăm hoa đua nở”, mạnh nơi nào nơi ấy làm. Như thế, ô nhiễm môi trường là tất yếu. Thực trạng cho thấy ô nhiễm ở một số khu công nghiệp, làng nghề đã làm ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân.
Ông Phùng Quốc Hiển cho rằng, nhiều địa phương chưa thực sự quan tâm đến vấn đề quản lý môi trường, tỉnh đẩy cho huyện, huyện lại đẩy cho xã trong khi cấp xã không đủ năng lực để làm. Có thể nói việc quản lý đang bị buông lỏng. Với tình trạng như hiện nay, thu ngân sách rồi cũng không đủ để khắc phục những hậu quả do ô nhiễm gây ra.
Tập trung phân tích nguyên nhân của những tồn tại, nhiều ý kiến cho rằng, một trong những lý do quan trọng là do hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, hoàn chỉnh, thiếu cụ thể. Nêu ví dụ vụ vi phạm của công ty Vedan trước đây, ông Phùng Quốc Hiển cho rằng, nếu hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì đã không có chuyện khó xử lý do thiếu cơ sở pháp lý như vậy.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ Nghiêm Vũ Khải, sản xuất làng nghề là sản xuất nhỏ, chịu nhiều rủi ro do nguồn nguyên liệu bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên, vốn nhỏ, công nghệ thấp, lao động thiếu đào tạo, năng suất thấp, thu nhập thấp, thị trường thiếu ổn định. Đây là những nguyên nhân cơ bản lý giải tại sao môi trường ở các làng nghề lại dễ ô nhiễm. Theo ông, cốt lõi của vấn đề là phải chuyển đổi được cơ cấu sản xuất ở các làng nghề, chọn được những mô hình nâng cao sản xuất, vừa bảo đảm đời sống vừa bảo vệ môi trường. Một nguyên nhân khác là việc quy hoạch các khu kinh tế phát triển nhanh, nóng, một số địa phương có tâm lý trông chờ ở cơ chế đặc biệt; Ban quản lý một số khu kinh tế được giao quyền nhưng năng lực chưa đáp ứng trong khi lẽ ra là nhiệm vụ của chính quyền địa phương.
Theo Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Trần Văn Hằng, các khu kinh tế, làng nghề góp phần quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm, nâng cao phần nào đời sống của người dân. Tuy nhiên, Báo cáo mới dừng lại ở việc mô tả mà chưa đánh giá sâu tác động của việc chưa thực hiện nghiêm chính sách, pháp luật về môi trường đối với đời sống xã hội như ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt, sản xuất thủy sản, sức khỏe con người...
Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai cũng cho rằng, báo cáo nên tập trung vào trọng điểm là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tại các khu kinh tế, làng nghề, không nên sa vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế. Bà Trương Thị Mai cũng đồng tình với ý kiến ông Trần Văn Hằng khi cho rằng, cần có đánh giá sâu sắc hơn về tác động để từ đó tìm kiếm các giải pháp cho vấn đề này. Hoạt động sản xuất làng nghề hiện thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn, nhưng 70% còn lại phải chịu tác động, ảnh hưởng trực tiếp từ ô nhiễm.
Bà Trương Thị Mai đề nghị, cần phân tích, làm rõ một nguyên nhân quan trọng là sự chồng chéo, chưa hiệu quả trong phân công, phối hợp trách nhiệm về quản lý nhà nước. Báo cáo cũng chưa nêu rõ tình hình bố trí ngân sách và vấn đề xã hội hóa.
Đề cập các giải pháp, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển cho rằng cần tập trung giải quyết bằng những giải pháp cụ thể mà trước tiên là định hướng lại phát triển, đi vào phát triển sâu, bền vững; quy hoạch, sắp xếp lại các làng nghề, tùy tình hình mà tập trung hay phân tán cho hợp lý. Chương trình xây dựng nông thôn mới đang được triển khai cũng là dịp để củng cố lại các làng nghề. Việc sử dụng nguồn ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường cũng cần được bố trí lại hợp lý, nhưng phải chú ý vấn đề xã hội hóa, nếu chỉ trông chờ ngân sách thì thu bao nhiêu cũng không đủ chi. Theo ông, nếu không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, có chế tài nghiêm minh thì khó có thể phát hiện, xử lý sai phạm.
Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ Nghiêm Vũ Khải, song song với việc nâng cao năng lực xử lý là phải giảm thiểu công nghệ sản xuất lạc hậu, cũ kỹ, áp dụng sản xuất sạch.
Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Trần Văn Hằng cũng đồng tình, cần kiên quyết trong đổi mới công nghệ, không chạy theo tăng trưởng nhanh mà phải thực sự quan tâm đến tăng trưởng bền vững; tăng cường vai trò của chính quyền địa phương, giám sát của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân, thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm, có chế tài đủ mạnh mới đủ sức răn đe và tính đến việc tăng ngân sách cho công tác này.
Tuy nhiên, ông Trần Văn Hằng chưa đồng tình với giải pháp quy hoạch tập trung làng nghề bởi đa phần các làng nghề gắn với các dòng họ, mang nét văn hóa làng xã, nếu dồn lại có thể sẽ bị triệt tiêu. Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cũng cho rằng, không nên áp đặt mà cần tôn trọng tư duy sáng tạo, lối sống, nếp sinh hoạt của các cộng đồng dân cư. Nên chăng xây dựng một chương trình mục tiêu quốc gia về bảo vệ môi trường; có chính sách ưu đãi đặc thù về công nghệ, con người đối với làng nghề, thực hiện theo lộ trình. Giám sát phải chỉ rõ làng nghề nào cần ngừng hoạt động, làng nào cần di dời, làng nào nên quy hoạch tại chỗ để giữ gìn bản sắc văn hoá đồng thời bảo đảm môi trường; đề cao vai trò của các hiệp hội làng nghề, phát huy vai trò của nhân dân.
Theo bà Trương Thị Mai, cần chia ra thành 2 nhóm: nhóm giải pháp cần khẩn trương làm ngay, ví dụ về mô hình ban quản lý, quy hoạch, quản lý nhà nước...; nhóm giải pháp chiến lược: ngân sách, xã hội hóa, đổi mới công nghệ, quản lý nhà nước về lâu dài. Các giải pháp đặt ra phải vừa giải quyết được những vấn đề bức xúc trước mắt vừa khiến nhà nước và xã hội yên tâm trong lâu dài. Ý kiến này của bà Trương Thị Mai nhận được sự đồng tình của nhiều đại biểu.
Đề cập một mặt khác, ông Phan Xuân Dũng cho rằng, xử lý ô nhiễm môi trường ở làng nghề không những khó khăn mà còn rất nhạy cảm. Nhiều làng nghề ô nhiễm nhưng có hàng trăm người đang làm việc ở đó, nếu đóng cửa ngay có thể giải quyết được ô nhiễm môi trường nhưng sẽ dẫn đến "ô nhiễm" xã hội, vì lao động mất việc làm, không nghề nghiệp, không nguồn thu nhập.
Theo Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, trọng tâm chính của Báo cáo giám sát là tình hình thực thi chính sánh, pháp luật về môi trường, do đó cần đi sâu phân tích tính khả thi, vướng mắc, khó khăn trong việc thực hiện. Nhiệm vụ của công tác giám sát là phải chỉ ra đúng hay sai, có phù hợp thực tế không, có đi vào cuộc sống không, không phù hợp ở điểm nào, vướng mắc ở đâu, phân tích cụ thể, có minh chứng rõ ràng.
Đồng tình với ý kiến này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, Báo cáo cần bám sát vấn đề giám sát để có những đánh giá chính xác; làm rõ những tình huống trong thực hiện chính sách, pháp luật như: chủ trương chính sách đúng mà không làm; có nơi vận dụng tốt nhưng cũng có nơi chưa làm được hoặc có nơi làm sai; do chưa đồng bộ, thiếu thực tế, chưa đầy đủ nên ở cơ sở không làm được hoặc vướng mắc. Kiến nghị trong Báo cáo cần rõ ràng, thấy được cái đúng, cái sai, ai sai và sửa sai như thế nào... (TTXVN/Vietnam+ 29/9) đầu trang(
Theo báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, Chính phủ đề nghị xác định diện tích đất trồng lúa là 3,8 triệu ha (giảm hơn 300 nghìn ha so với năm 2010), trong đó đất trồng lúa 2 vụ trở lên là hơn 3,2 triệu ha
Căn cứ xác định diện tích đất trồng lúa là 3,8 triệu ha được Chính phủ dựa trên những tính toán về quy mô dân số (khoảng 100 triệu người), tổng lương thực cho nhu cầu cả nước với diện tích gieo trồng tối thiểu khoảng 7,3 triệu ha và theo kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2020.
Tại buổi cho ý kiến về Báo cáo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế  hoạch sử dụng đất 2011- 2015 cấp quốc gia diễn ra chiều 29/8, đa số các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đều đồng ý với mục tiêu này của Chính phủ.
Tuy nhiên, UBTVQH đều tỏ ra “lo lắng” về khả năng giữ được quy hoạch 3,8 triệu ha đất trồng lúa vào năm 2020.
Diện tích đất nông nghiệp bị giảm chủ yếu do sự mở rộng của đất công nghiệp. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh cho rằng không thể không mở rộng đất công nghiệp vì nước ta đang hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mục tiêu năm 2020 cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng bày tỏ lo ngại về việc giữ 3,8 triệu ha đất trồng lúa. Theo Chủ tịch Quốc hội, nếu thực hiện không tốt thì việc tăng diện tích đất công nghiệp (từ 72 nghìn ha năm 2010 lên 200 nghìn ha năm 2020) bằng việc mở các khu công nghiệp, nhà máy thì có nguy cơ vỡ quy hoạch đất nông nghiệp cũng như một số quy hoạch khác..
Một số ý kiến cho rằng không mở rộng đất công nghiệp ở khu vực đồng bằng mà đưa các khu công nghiệp lên khu vực miền núi, các khu vực  ở phía Tây đường Hồ Chí Minh.
Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Mạnh Hiển cũng giải trình rằng Chính phủ đã yêu cầu địa phương nào có tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp trên 60% thì mới được mở thêm khu công nghiệp. Vừa qua nhiều địa phương xin mở thêm khu công nghiệp nhưng do không đạt chỉ tiêu này nên Chính phủ đã không đồng ý.
Ở một khía cạnh khác, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho rằng việc đất trồng lúa, đất nông nghiệp có nguy cơ bị giảm còn do tâm lý bệnh thành tích của lãnh đạo địa phương, muốn xây dựng nhiều công trình trên địa bàn trong nhiệm kỳ của mình… Do đó không nên tồn tại suy nghĩ này trong đội ngũ lãnh đạo.
Một số ý kiến khác cho rằng để giữ đất lúa không chỉ chuyển đổi mục đích sử  dụng đất hợp lý, hiệu quả, Nhà nước cần hướng dẫn cho nông dân sản xuất tốt trên một đơn vị  diện tích đất, tránh việc nông dân bỏ đất… Quan trọng hơn là có chính sách tổng thể hỗ trợ địa phương thiếu đất để phát triển kinh tế- xã hội. (Chính phủ 29/9) đầu trang(

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Mức tăng này bao gồm cả tăng tiền lương tối thiểu và quan hệ tiền lương tối thiểu- trung bình- tối đa - Đó là đề xuất của cả Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Nội vụ về việc tăng lương cho khối hành chính sự nghiệp.
Theo Bộ Nội vụ, căn cứ trên Đề án quan hệ tiền lương tối thiểu - trung bình - tối đa (thường gọi là hệ số “phẩy”) do Bộ LĐ-TB&XH xây dựng, Bộ này đang Dự thảo định hướng cải cách tiền lương giai đoạn 2011-2020 và đề xuất mức dãn cách quan hệ tiền lương khá rộng.
Cụ thể, mức quy định hiện hành là 1 – 2,34 – 10 (tối thiểu là 1x 830.000, trung bình là 2,34 x 830.000 và tối đa là 10x830.000). Mức 2,34 được áp dụng với sinh viên ĐH mới ra trường và mức 10 được áp dụng với chuyên viên cao cấp và các vị trí lãnh đạo. Với Dự thảo định hướng mới, Bộ Nội vụ, Bộ LĐTBXH đề nghị tăng theo 2 phương án là 1 - 3,2 – 15 và 1 - 3,5 - 15.
Với phương án 1, quan hệ tiền lương tính theo mức lương tối thiểu 830.000 đồng/tháng thì người tốt nghiệp đại học mới ra trường sẽ nhận được mức lương thấp nhất khoảng 2.656.000 đồng/tháng (3,2 x 830.000) và tối đa dành cho chuyên viên cao cấp bậc 3 là 12.450.000 đồng/tháng. Phương án 2, mức lương tối đa tương ứng của sinh viên tốt nghiệp đại học mới ra trường là 2.905.000 đồng/tháng và tối đa cho chuyên viên cao cấp bậc 3 là 12.450.000 đồng/tháng.
Tuy nhiên, Bộ Nội vụ cho rằng, với tình hình giá cả như hiện nay, cần phải tăng cả mức lương tối thiểu thì mới đảm bảo được đời sống công chức. Bộ này cũng vừa công bố kết quả khảo sát, đánh giá thực hiện cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức từ năm 2003 đến nay và định hướng cải cách giai đoạn 2012 – 2020.
Tính chung từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung đã điều chỉnh 7 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, tăng thêm 295,2%. Tuy con số tăng lớn như vậy nhưng tính trên giá trị thực tế tiền lương thì mức tăng thấp.
Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu chung mới thực hiện chủ yếu trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng và khả năng ngân sách, chưa bảo đảm được nhu cầu tối thiểu của cán bộ, công chức, mức tăng tiền lương thực tế thấp nên đời sống của người hưởng lương còn gặp nhiều khó khăn; điều chỉnh chậm hơn so với khu vực doanh nghiệp.
Theo ông Đoàn Cường – Vụ trưởng Vụ Tiền lương (Bộ Nội vụ): “Trên thực tế, với mức điều chỉnh từ 2003 đến nay, cán bộ công chức chưa thể sống được bằng tiền lương, lương không có tính cạnh tranh, khó thu hút được người tài, tận tâm gắn bó với công việc, chưa tạo điều kiện cho cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng…”.
Theo đánh giá của Bộ Nội vụ, cán bộ, công chức là một bộ phận của thị trường lao động, nhưng lại bị điều chỉnh bởi nhiều quy định, trong đó có quy định không được làm thêm nên thu nhập không đảm bảo mức sống. Bộ Nội vụ cũng đưa ra cảnh báo, nếu không thoả mãn tốt quan hệ này sẽ dẫn đến tiêu cực, tham nhũng và can thiệp hành chính vào thị trường của các nhóm lợi ích để “đòi chia sẻ lợi ích”, làm lũng đoạn, méo mó thị trường...
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cũng khẳng định: “Mục tiêu cải cách chính sách tiền lương là tiến tới bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội”.
Với những nhận định đó, Bộ Nội vụ cũng xây dựng Dự thảo định hướng cải cách tiền lương giai đoạn 2011-2020 sẽ được trình lên Chính phủ trong tháng 10 tới. Các mức lương tối thiểu mong muốn đề xuất từ 1.500.000 đồng/tháng đến 4.000.000 đồng/tháng. Nếu được Chính phủ thông qua mức tăng này, kết hợp với mức tăng của quan hệ tiền lương thì tới năm 2012, lương tối thiểu của sinh viên mới ra trường có thể lên tới gần 5 triệu đồng/tháng (3,2 x1.500.000).
Đối với các chế độ ngoài lương phục vụ hoạt động công vụ (tiền điện thoại, phụ cấp phục vụ, chế độ xe ô tô đưa đón công tác), Bộ Nội vụ đề nghị không đưa vào mức tiền lương cơ bản mà tiếp tục hoàn thiện các định mức và cơ chế khoán để sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm được kinh phí quản lý hành chính.
Theo TS Nguyễn Minh Phong - Trưởng phòng Nghiên cứu kinh tế xã hội, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội: “Tiền lương của cán bộ công chức, viên chức rất thấp nên họ buộc phải tìm kiếm thu nhập ngoài lương, là một trong những nguyên nhân của tiêu cực, tham nhũng”. (Nông Thôn Ngày Nay 30/9) đầu trang(
Tình trạng luật chồng luật, các quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, mâu thuẫn lẫn nhau đã được nhiều đại biểu nêu ra tại hội thảo hoàn thiện báo cáo rà soát Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức ngày 29/9.
Đại diện nhóm rà soát Luật Đấu thầu, ông Ninh Viết Định, Trưởng ban Quản lý Đấu thầu, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, cho hay quy định về đấu thầu được nêu ở nhiều luật khác nhau, thiếu sự thống nhất và không đồng bộ. Ngoài ra, các quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn cho các đơn vị thực hiện.
“Vấn đề là các luật được giao cho các bộ chuyên ngành soạn thảo. Ví dụ, Luật Đấu thầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư chấp bút, Luật Xây dựng do Bộ Xây dựng soạn thảo mà không có các cơ quan chuyên trách về luật pháp của Quốc hội soạn thảo. Chính vì vậy không thể tránh khỏi ý kiến, quan điểm chủ quan thậm chí đôi khi là lợi ích cục bộ của các cơ quan soạn thảo. Hệ quả tất yếu là nó có sự vênh nhau giữa các luật nên việc áp dụng luật này mâu thuẫn với luật khác” - ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư Dầu khí Toàn Cầu, nói.
Muốn giải quyết tận gốc tình trạng này, theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, cơ quan soạn thảo luật phải là một bộ phận am hiểu luật pháp, nghề nghiệp và có trách nhiệm chứ không nên nằm ở một bộ nào.
Góp ý cho Luật Đấu thầu, ông Nguyễn Cảnh Hà, Phó Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Nghệ Tĩnh tại TP.HCM, đề xuất: Cần quy định chặt chẽ trong hồ sơ giao thầu về tiến độ, chất lượng để nhà thầu đáp ứng, nếu sai tiến độ thì phạt, nếu không đạt chất lượng thì đập bỏ và nhà thầu phải chịu. Còn nếu nhà thầu đã làm đúng thiết kế mà vẫn không an toàn thì không phải chịu trách nhiệm, khi ấy trách nhiệm thuộc về tư vấn thiết kế.
Về Luật Xây dựng, một số ý kiến khác cho rằng quy định chỉ các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng 30% vốn nhà nước trở lên mới được điều chỉnh dự án trong một số trường hợp là chưa hợp lý và công bằng. Bởi, trong khi các dự án không phải vốn nhà nước bị bắt buộc phải thực hiện theo dự án đã được duyệt thì dự án có vốn nhà nước lại được điều chỉnh. (Pháp Luật TP.HCM 30/9) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 129/2011/TT-BTC, quy định mức thu lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản.
Theo đó, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động khoáng sản theo quy định tại Luật Khoáng sản, phải nộp lệ phí cấp giấy phép hoạt động theo quy định. Với hoạt động thăm dò khoáng sản, nếu diện tích thăm dò nhỏ hơn 100ha, mức thu là 4 triệu đồng/giấy phép; diện tích thăm dò từ 100ha đến 50.000ha, mức thu là 10 triệu đồng/giấy phép; diện tích thăm dò trên 50.000ha, mức thu là 15 triệu đồng/giấy phép.
Với hoạt động khai thác khoáng sản, nếu khai thác tận thu, mức thu là 5 triệu đồng/giấy phép. Trường hợp cấp gia hạn giấy phép, cấp lại giấy phép khi chuyển nhượng, thừa kế thì người được gia hạn giấy phép, người được chuyển nhượng, thừa kế phải nộp lệ phí tính bằng 50% mức lệ phí tương ứng với các mức thu nêu trên.
Thông tư quy định, lệ phí cấp giấy phép hoạt động khoáng sản thu bằng VND. Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài có nhu cầu nộp lệ phí bằng ngoại tệ thì thu theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thu phí. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 1-11-2011. (Hà Nội Mới 27/9) đầu trang(

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa phê duyệt danh mục dự án Trung tâm dữ liệu điện tử Chính phủ trên Internet (GIDC), sử dụng vốn vay ưu đãi của Chính phủ Hàn Quốc.
Thủ tướng giao Bộ Thông tin và Truyền thông, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành liên quan tổ chức thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi và chỉ đạo triển khai Dự án có hiệu quả theo quy định hiện hành về quản lý, sử dụng ODA. (Chính phủ 29/9) đầu trang(
Ngày 29/9, tại Hà Nội, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (KSTTHC) thuộc Văn phòng Chính phủ tổ chức buổi tọa đàm Báo chí và công tác cải cách thủ tục hành chính.
Theo Cục trưởng Ngô Hải Phan, tới quý III-2011, tổng số thủ tục hành chính được đơn giản hóa là 3.248, chiếm 68% khối lượng thủ tục hành chính cần cải cách năm 2011. Đánh giá vai trò của báo chí, Cục trưởng Ngô Hải Phan cho rằng, báo chí đã đóng góp 50% thành công trong công cuộc cải cách hành chính.
Tại buổi tọa đàm, Cục KSTTHC mong muốn các cơ quan báo chí phối hợp chuyển những thắc mắc của bạn đọc về vướng vắc trong việc tiếp cận thủ tục hành chính hoặc Cục sẽ tiếp nhận trực tiếp thông tin của người dân về vấn đề này qua cổng thông tin www.thutuchanhchinh.vn. (Tiền Phong 30/9) đầu trang(
Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 35/2011/TT-BCT sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông tư số 19/2005/TT-BTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp.
Thông tư nêu rõ việc sửa đổi điểm a khoản 4 Thông tư số 19/2005/TT-BTM như sau: Hồ sơ đề nghị cấp Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp gồm các giấy tờ quy định tại điều 15 của Nghị định 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 của Chính phủ về bán hàng đa cấp, trong đó bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh là bản sao có chứng thực (đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện); bản chụp kèm theo bản chính (đối với trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp); hoặc bản scan từ bản gốc (đối với trường hợp nộp hồ sơ qua mạng điện tử).
Thông tư cũng bãi bỏ yêu cầu “Xác nhận của cơ quan Công an cấp xã về việc doanh nghiệp đó khai báo mất Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp” tại điểm a khoản 8 Thông tư số 19/2005/TT-BTM. Mặt khác, bổ sung quy định “Số hồ sơ phải nộp: 1 bộ” vào các khoản 4, 7 và 8 Thông tư số 19/2005/TT-BTM.
Đáng chú ý là thông tư sẽ bãi bỏ nội dung “kèm theo đơn” trong Mẫu MD-1, MD-2, MD-3 tại Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư số 19/2005/TT-BTM. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 8/11. (TTXVN/Vietnam+ 29/9) đầu trang(

QUẢN LÝ
Ông Đỗ Nhất Hoàng, cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch - đầu tư), cho biết bộ đang triển khai kiểm tra, thanh tra các dự án bất động sản và sẽ kiểm tra, thanh tra các dự án thép, ximăng, khoáng sản trên địa bàn cả nước.
Trước tình trạng phát sinh các dự án sân golf dùng đất nông nghiệp, dự án trồng rừng, khai thác khoáng sản ô nhiễm môi trường..., ông Hoàng cho biết hiện nay việc cấp phép đã được phân cấp mạnh mẽ về các UBND tỉnh và ban quản lý dự án, nên nếu không đúng luật thì cơ quan cấp phép phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chính phủ, còn các bộ ngành chỉ đóng góp ý kiến.
"Về khoáng sản, tôi biết một số địa phương có mỏ khoáng sản quy mô lớn nhưng có trường hợp bị "biến tấu" thành quy mô nhỏ để địa phương có thẩm quyền tự quyết định. Đó là câu chuyện cần xử lý căn bản hơn trong thời gian tới" - ông Hoàng nói. (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Theo phản ánh của người dân xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng, trong những ngày căng thẳng chống lũ và xảy ra sự cố vỡ đê ở ấp Bưng Ràm ngày 26-9 làm hàng chục hecta lúa phải thu hoạch non thì phần lớn lãnh đạo xã này đi du lịch ở Huế.
Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, chủ tịch UBND kiêm trưởng ban chỉ huy phòng chống lụt bão Huỳnh Văn Lùng, chủ tịch HĐND Tạ Văn Mệnh, phó chủ tịch Ủy ban MTTQ VN xã Nguyễn Văn Mỵ và cán bộ giao thông - thủy lợi Đỗ Văn Tèo đã vô tư đi du lịch từ ngày 26 đến 30/9. Ngay trong ngày các vị này đi du lịch thì đê vỡ không cứu được.
Ông Nguyễn Thanh Dũng, phó bí thư thường trực Đảng ủy xã Hưng Điền B, xác nhận các cán bộ nói trên đi du lịch theo lời mời của một doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh phân bón và hiện chưa về. (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Ngày 29/9, Công an TP.HCM cho biết đã ra quyết định cảnh cáo đối với thượng sĩ Văn Thành Luân (Đội CSGT Hàng Xanh thuộc Phòng CSGT đường bộ - đường sắt Công an TP.HCM – PC67), người liên quan trong vụ “CSCĐ tấn công CSGT”.
Liên quan đến vụ việc, trước đó, Trần Đại Phúc, nguyên trung úy CSCĐ đã bị cơ quan CSĐT Công an quận Bình Thạnh khởi tố, bắt tạm giam về hành vi “Chống người thi hành công vụ”
Theo kết luận của cơ quan CSĐT Công an quận Bình Thạnh, trong khi làm nhiệm vụ tại ngã ba Xô Viết Nghệ Tĩnh - D5 (phường 25, quận Bình Thạnh), thượng sĩ Luân phát hiện Phúc không đội mũ bảo hiểm, chạy xe nẹt pô nên dùng gậy điều khiển giao thông “khều” Phúc từ phía sau lưng.
Sau khi bị “khều”, Phúc quay lại hỏi thượng sĩ Luân vì sao không làm theo đúng quy trình là đứng trước đầu xe ra tín hiệu và thổi còi. Sau đó, giữa trung úy Phúc và thượng sĩ Luân xảy ra xô xát, bị người dân quay phim rồi tung lên mạng.
Trước đó, thượng sĩ Luân cũng đã bị Hội đồng kỷ luật của Phòng PC67 Công an TP.HCM cắt thi đua năm 2011, điều chuyển sang Đội CSGT Nam Sài Gòn. (Người Lao Động 30/9) đầu trang(

KINH TẾ
Ngày 29/9, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về tình hình thực hiện Nghị định 84 về kinh doanh xăng dầu.
Theo đó, Thủ tướng chỉ đạo điều hành kinh doanh, giá xăng dầu nhất quán, từng bước theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thủ tướng cũng yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu, các yếu tố hình thành giá, chi phí và kết quả kinh doanh phải được công bố công khai rõ ràng.
Thủ tướng giao các bộ Tài chính, Công Thương phối hợp chặt chẽ và chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc điều chỉnh giá của các doanh nghiệp, công bố công khai phương án giá. Các cơ quan có liên quan thường xuyên phối hợp trong điều hành và kiểm soát giá xăng dầu. Trường hợp vượt thẩm quyền, báo cáo, kiến nghị Thủ tướng xử lý kịp thời. (Pháp Luật TP.HCM 30/9) đầu trang(
Theo Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại Bộ Tài chính, đoàn công tác của Ngân hàng Thế giới (WB) đã chính thức đến VN để đánh giá hiệu quả quản lý nợ công của VN, theo các tiêu chí của công cụ DeMPA (gồm 15 tiêu chí nhằm xếp loại A, B, C, D về mức độ mạnh, yếu trong các hoạt động quản lý nợ đã thực hiện có hiệu quả trên 60 quốc gia).
Theo Bộ Tài chính, việc đoàn công tác của WB vào VN là do lời mời của bộ này và việc đánh giá nợ công sẽ giúp tăng cường công tác quản lý nợ công của VN.
Bộ Tài chính cũng cho biết đoàn công tác của WB sẽ đánh giá tập trung vào các lĩnh vực cụ thể trong quy trình thực hiện nghiệp vụ quản lý nợ của VN, bao gồm: thể chế pháp lý, cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan quản lý nợ; điều hành chiến lược quản lý nợ; công tác kiểm toán, phối hợp giữa quản lý nợ với chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ; các hoạt động vay nợ; báo cáo và ghi chép nợ phù hợp với thông lệ quốc tế... (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(

VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
Chỉ cần bỏ ra 1 tỷ USD là có thể biến hệ thống công chức làm quá nhiều việc ban phát, xin cho thành đội ngũ có tư duy để hoạch định chính sách, chủ nhiệm đề tài “Tầm nhìn chiến lược thể chế chính phủ và lộ trình thực hiện”, nhận định.
Nhóm chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng nguyên nhân cơ bản khiến bộ máy hành chính cồng kềnh, kém hiệu quả là do ôm việc. “Cái gì cũng sợ bỏ sót, sợ không lo được cho dân, nhưng thực tế không lo được gì nhiều”, ông Lê Viết Thái, Trưởng ban Thể chế Kinh tế (CIEM), chủ nhiệm đề tài, nói.
Ông Thái cho biết, đây là đề tài do nhóm tự nghiên cứu, sau đó được Thủ tướng giao nghiên cứu sâu hơn.
Qua nghiên cứu ban đầu về bộ máy Chính phủ, nhóm phát hiện được những gì? Trả lời câu hỏi này, ông Thái cho biết: “Chúng tôi tìm hiểu thực tế ở các bộ. Mỗi bộ đều có nghị định về chức năng, nhiệm vụ, và cơ cấu tổ chức. Chỉ riêng điều về chức năng, nhiệm vụ của 19 bộ (nhóm không nghiên cứu ba Bộ Công an, Quốc phòng và Ngoại giao) đã lên tới hàng trăm trang giấy. Như với Bộ NN&PTNT, riêng chức năng nhiệm vụ của tất cả các vụ, cục, trung tâm trực thuộc, viện nghiên cứu... khi in ra đã hơn 100 trang giấy.
Việc sáp nhập các bộ vừa qua gần như không đạt được mục tiêu, khi nó chỉ mang tính chất lắp ghép cơ học, chỉ giảm được ghế vài ông bộ trưởng, nhưng lại phình ghế các tổng cục trưởng. Chưa kể, chức năng, nhiệm vụ cũng gần như không có sự thay đổi, vì nó cũng được lắp ghép rất cơ học.
Ngoài ra, còn khá nhiều chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ chồng chéo, giẫm chân nhau. Chưa kể, trong các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này, còn khá nhiều chức năng, nhiệm vụ chỉ phù hợp với thời bao cấp, nhưng nay vẫn ôm, gây khó khăn cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp...
Ngoài việc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, như việc quản lý vốn đầu tư, vốn ODA..., thì ở rất nhiều bộ, vẫn còn duy trì một số nhiệm vụ không cần thiết đối với công việc quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường, như hiện tượng về các loại giấy phép kinh doanh cũng như các dạng giấy phép con là minh chứng điển hình về những nhịêm vụ không cần thiết.
Hiện có hàng chục ngành, sản phẩm mang tính thương mại nhưng lại được phê duyệt quy hoạch phát triển theo tư duy kế hoạch hóa tập trung. Đối với chiến lược hoặc quy hoạch phát triển ngành hoặc sản phẩm, Nhà nước chỉ nên quan tâm những ngành, sản phẩm mang tính mạng (ví dụ hệ thống giao thông, hệ thống truyền tải điện, hệ thống cảng,…) hoặc những ngành có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế (ngành dầu khí) thôi”.
Lý giải nguyên nhân của những tồn tại trên, dù Chính phủ đã nỗ lực cải cách hành chính, ông Thái cho rằng: Lâu nay, chúng ta mới chỉ cải cách phần thủ tục hành chính, phần hình thức chứ không đi vào cải cách nội dung. Ví dụ thủ tục đăng ký kinh doanh trước đây mất cả tháng, thì nay còn vài ngày. Tại sao chúng ta không bỏ luôn thủ tục xin giấy phép đăng ký kinh doanh? Đó mới là cải cách nội dung.
Chừng nào mà phạm vi nhiệm vụ và chức năng của bộ máy hành chính chưa được điều chỉnh theo hướng cắt giảm những nhiệm vụ không cần thiết, không phù hợp thì chừng đó không thể có tiền đề để thực hiện cải cách hành chính một cách cơ bản và hiệu quả. Điều này đã dẫn đến hiện tượng ôm đồm trong hệ thống hành chính. Đây cũng chính là nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất cho sự tồn tại một Nhà nước cồng kềnh, hiệu lực yếu, hiệu quả thấp.
Chế độ làm việc tập thể kéo dài từ hệ thống cũ, khiến cho bộ máy, các qui trình ra quyết định và việc điều hành, thực thi các quyết định của nhà nước rất khó cải thiện được tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Quyền lực, trách nhiệm, lợi ích được chia rải ra giữa nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều cá nhân trong hệ thống, nên hay trùng lắp, chồng chéo, dẫn đến có thể ai cũng có quyền, có lợi, nhưng không ai chịu trách nhiệm rõ ràng trước người dân về công việc của chính quyền.
Chế độ này cũng không khuyến khích những bộ máy tinh thông, những con người tài giỏi, mà lại còn dung dưỡng cho những bộ máy và con người kém cỏi ở các vị trí khác nhau trong bộ máy, khiến cho bộ máy nhà nước nhìn chung vẫn kém hiệu quả và hiệu lực sau nhiều lần cải cách.
Ở đây cần xác định việc đó nhà nước có cần gánh hay không. Như vậy sẽ gạt đi được khá nhiều. Còn nếu xác định nhiệm vụ này nếu nhà nước phải gánh thì có bắt buộc phải có một bộ máy để làm chuyện này hay không. Cách tiếp cận của tôi là như vậy.
Nhà nước có cần làm không. Không cần làm thì dứt khoát bỏ. Nếu nhà nước phải làm thì có đủ nguồn lực làm không. Nếu chưa đủ nguồn lực, phải tạm gác lại. Còn nếu có đủ nguồn lực mà việc đó phải làm thì cần đặt ra câu hỏi nhà nước có nhất thiết phải có một tổ chức đứng ra làm chuyện đó hay không. Nếu không cần thì để các tổ chức dân sự, doanh nghiệp họ làm. Việc gì phải sinh ra cả bộ máy công chức.
Nếu xác định được rõ ràng như vậy thì bộ máy nhà nước mới gọn nhẹ được. Nhà nước chỉ giữ lại những bộ phận cốt lõi nhất, chủ yếu là những người hoạch định chính sách. Khi đó anh mới xử lý được vấn đề tiền lương cho công chức.
Để có thể cải cách được như vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị rất cao và phải cần một thời gian để thay máu cơ bản đội ngũ công chức hiện nay. Một hệ thống công chức đang chăm chú làm quá nhiều việc cấp phép, ban phát, xin cho, giờ chuyển sang hệ thống công chức có tư duy để hoạch định chính sách là việc không đơn giản.
Có lần tôi nói đùa, nếu quyết tâm thay máu đội ngũ công chức như vậy thì có thể cải cách được với giá rẻ. Chỉ cần bỏ ra khoảng 1 tỷ USD thôi. Một anh công chức 50 tuổi, tôi trả lương đến 60 tuổi luôn, rồi mời anh ở nhà hưởng lương. Tôi sẽ tuyển đội mới vào. Nhưng để làm thật không dễ, bởi đây là vấn đề lợi ích. Nên có mấy bộ, mỗi lần cải cách tự mình xin rút, thu gọn đơn vị đầu mối đâu, mà chỉ muốn phình ra.
Về những đề xuất của nhóm nghiên cứu trong báo cáo gửi Chính phủ, ông Thái cho hay: Báo cáo này của chúng tôi như một bức ảnh chụp theo công nghệ 3D để nhìn được nhiều góc cạnh. Từ bức ảnh này, chúng tôi báo cáo lên Chính phủ có những vấn đề như thế. Những vấn đề này chúng tôi không nói vu vơ mà có chứng cứ. Nếu Chính phủ chấp thuận gạt những chỗ tòi lên, tụt xuống này thì cần phải có những bước tiếp theo sau.
Đây là dịp rất thuận lợi để chúng tôi nghiên cứu sâu hơn, đi vào những vấn đề liên quan thể chế, bộ máy Chính phủ, mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp với sự lãnh đạo của Đảng và với Quốc hội. Từ đó đề xuất những giải pháp để hoạt động của bộ máy nhà nước hiệu quả hơn.
Đặc biệt, đây là cơ hội thuận lợi, khi mà Quốc hội đang nghiên cứu để sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp hiện hành có rất nhiều quy định đã được áp dụng hơn 20 năm rồi, nay đã lỗi thời cần sửa. Nếu không sửa Hiến pháp, mà chỉ sửa luật thì những vấn đề chúng tôi đề xuất sẽ trở thành vi hiến.
Ví dụ, Hiến pháp khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong khi luật bảo kinh tế nhà nước như kinh tế tư nhân, thế là vi hiến. Trong Hiến pháp cũng có rất nhiều quy định nhà nước phải làm thế này, phải làm thế kia. Rõ ràng, sau 20 năm đến giai đoạn phát triển này, nhà nước không cần phải làm những điều đó nữa. Nếu không sửa Hiến pháp sẽ không có cơ hội sửa những luật này và không có cơ hội cải cách toàn bộ bộ máy
Được biết, trong 10 năm thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, tổng số đầu mối của Chính phủ giảm từ 48 xuống cịn 30, trong đĩ cĩ 22 cơ quan bộ v ngang bộ (trước thng 7-2007 l 26 bộ v cơ quan ngang bộ). Trong qu trình sắp xếp, số vụ v đơn vị tương đương giảm 28, nhưng lượng tổng cục v tương đương tăng 18 đơn vị, nhĩm cc cục v tương đương tăng 22 đơn vị. (Tiền Phong 30/9) đầu trang(
Theo ông Vũ Mão, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội: “Chúng ta đưa ra chủ chương học tập theo gương Bác Hồ nhưng kết quả đạt được vẫn còn kém xa kỳ vọng”.
Trao đổi về nhiều sự kiện liên quan đến bệnh háo danh và gian dối của quan chức đã làm nóng dư luận những ngày qua, ông Vũ Mão, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội  cho rằng: “Chúng ta đưa ra chủ chương học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại. Nhưng công bằng mà nói thì kết quả đạt được vẫn còn kém xa kỳ vọng, hiện tượng tiêu cực trong xã hội ngày càng tràn lan, nhiều cán bộ lãnh đạo thiếu gương mẫu, hiện tượng tiêu cực trong xã hội ngày càng tràn lan, nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp thiếu gương mẫu.
Ta hãy tìm về cội nguồn: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, chăm lo bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, theo Người, đạo đức là cái căn bản nhất của người cán bộ cách mạng.
Trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, lớp lớp cán bộ, đảng viên trưởng thành trong đấu tranh cách mạng, không tiếc tuổi xuân, gác lại những hoài bão cá nhân, dũng cảm, tiên phong trong cuộc đấu tranh một mất, một còn vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện hàng vạn, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên là những “người tốt, việc tốt”, những Anh hùng, Chiến sĩ thi đua tiêu biểu cho ý chí tự lực, tự cường, cần cù, sáng tạo, có ý thức tiết kiệm của công, không tham ô, lãng phí… Nhờ vậy, công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày càng giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Chia sẻ cảm nhận về công tác quản lý cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, ông Vũ Mão nói: Công tác quản lý cán bộ là một phần trong công tác tổ chức cán bộ. Và tất cả những gì thuộc về công tác Đảng, công tác quản lý cán bộ xuất phát từ nền tảng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gây dựng từ khi còn đấu tranh giải phóng dân tộc.
Nói về thời kỳ trước cách mạng tháng 8 chẳng hạn, Bác đã có những ý tưởng mang tầm chiến lược trong công tác đào tạo cán bộ. Có những người trở thành tấm gương anh dũng hy sinh trên chiến trường trong những trận đánh ác liệt, thế rồi có những đồng chí trở thành cán bộ cốt cán của Đảng và sau này có nhiều đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Cố Tổng Bí thư Trường Chinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp…
Từ đó có thể thấy rằng Bác Hồ đặc biệt chú trọng tới công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ, và khi có được những con người như vậy thì chúng ta đã làm cách mạng thành công.
Người ta vẫn thường nói rằng cách mạng thành công dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà Đảng thì không phải là cái gì ở trên trời rơi xuống, mà chính là những Đảng viên gương mẫu, kiêng cường, lúc đó chỉ có vài nghìn Đảng viên thôi vậy mà đã lãnh đạo cách mạng thành công. Điều đó cho thấy, việc tuyển chọn cán bộ Đảng viên ngay trong thời kỳ đó đã rất coi trọng về chất lượng.
Khi cách mạng thành công thì chúng ta có Quốc hội mới, mà ở đó có rất nhiều đại biểu trẻ, rất nhiều trong số họ chưa tới 30 tuổi, có những trường hợp rất trẻ như đồng chí Nguyễn Đình Thi lúc ấy mới 21 tuổi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy tầm nhìn xa trong công tác tuyển chọn, đào tạo cán bộ để giao trọng trách quan trọng trong công tác Đảng và Nhà nước. Người không chỉ chú trọng tới việc đào tạo các cán bộ cốt cán, mà cũng rất chú trọng tới các cấp lãnh đạo trẻ hơn nữa để chuẩn bị cho công tác kế cận trong thời kỳ đổi mới.
Về sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho triển khai từ Trung ương tới địa phương một hệ thống lãnh đạo phù hợp với tình hình công việc và đặc biệt chú trọng tới những người đã kinh qua thực tiễn cách mạng, có tâm có đức với nhân dân, đất nước, phải thực sự khiêm tốn. Tư tưởng của Người được thể hiện rõ qua 8 chữ “Cần – Kiệm – Liêm - Chính – Chí - Công - Vô – Tư”. Và Lê Nin cũng từng nói rằng “Bệnh kiêu ngạo cộng sản là một căn bệnh vô cùng nguy hiểm”.
Bác Hồ từng nói rằng “Công việc thành hay bại đều từ cán bộ mà ra”. Đã có nhiều chương trình học và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai trên cả nước. Vậy vì sao vẫn có nhiều cán bộ mắc sai phạm? Trả lời câu hỏi này, ông Vũ Mão nhìn nhận: Về căn bản thì chúng ta đều mong muốn chọn được người có tài có đức để tham gia vào hệ thống lãnh đạo xây dựng đất nước. Trước đây, chúng ta phát triển từ một nước nông nghiệp thuần túy, trải qua hai cuộc chiến tranh nên động vào đâu cũng thấy khó khăn, tuy nhiên công tác quản lý giám sát cán bộ có thể nói rằng rất chặt chẽ và bản thân các đồng chí cán bộ Đảng viên cũng rất nghiêm túc.
Khi cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện và nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, đồng chí Trường Chinh đã tự nhận khuyết điểm, thẳng thắn nhìn nhận lại những sai sót. Điều đó cho thấy, lãnh đạo cấp cao của Đảng ta ngay từ thời kỳ bắt đầu xây dựng đất nước đã rất chú ý nêu cao tính trung thực, thẳng thắn của người Đảng viên.
Giờ đây, đất nước đang trên đà đổi mới, có nhiều thành tựu đáng tự hào hơn và nhất là việc chúng ta gia nhập kinh tế thế giới, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thẳng thắn mà nói rằng, nền kinh tế thị trường đã ít nhiều tác động tới công tác tuyển chọn cán bộ, luân chuyển cán bộ, từ đó dẫn tới công tác quản lý cán bộ cũng ảnh hưởng theo, chuyện đó đã xảy ra ở một số địa phương, Bộ, ngành.
Điều mà người dân đang rất quan tâm hiện nay là công tác giám sát cán bộ. Gần đây, chúng ta đã nói nhiều về việc này. Đất nước ta do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mà Đảng là sinh ra là để phục vụ nhân dân, vì nhân dân, do đó phát huy vai trò làm chủ của dân, để dân biết, dân bàn, dân kiểm tra là hoàn toàn xác đáng.
Các lãnh đạo cấp cao ở Chính phủ thì luôn mong làm tốt điều này, tuy nhiên công tác triển khai ở các cấp dưới cũng chưa tốt, lâu lâu chúng ta lại thấy có một lãnh đạo của Bộ này hay ngành kia mắc sai phạm nghiêm trọng, rồi “hạ cánh an toàn”, thậm chí có rất nhiều người cố bám lấy cái chức vụ ấy để xin luân chuyển sang vị trí khác, chứ mấy ai dám từ chức, vì họ sĩ diện. Khi các sự việc như vậy vỡ lở, lòng tin của người dân với hệ thống cán bộ lãnh đạo bị suy giảm, mà muốn tránh được điều đó thì cần nâng cao tính dân chủ trong công tác tuyển chọn cán bộ.
Thí dụ như việc bầu cử ở địa phương chẳng hạn, thí điểm bầu luôn Bí thư Đảng ủy mà không phải bầu ra ban chấp hành rồi mới bầu Bí thư Đảng ủy xã, chủ trương thì tốt nhưng cách làm vẫn chưa ổn, là vì khi cấp trên đã chỉ định người ra ứng cử thì không có ai muốn tranh cử với người được chọn. Vì sao? Vì người ta không muốn “chơi kiểu quân xanh, quân đỏ”.
Người đã được cấp trên định hướng sẽ có lợi thế mà nếu người muốn tự nguyện ứng cử không rút thì cũng bị mang tiếng thế này thế khác, mà thậm chí sau đó còn bị ghét… có quá nhiều vấn đề như thế nên có thể thấy là chưa phát huy được công tác “bầu” mà thực chất vẫn là “cử”.
Vậy chúng ta cần thay đổi thế nào? Ông Vũ Mão trả lời: Quy hoạch cán bộ là công tác mà chúng ta vẫn cần triển khai và phải làm tốt hơn nữa, nhưng đó không phải là cách làm duy nhất, bởi vì khi đi vào thực tế thì có nhiều người giỏi nhưng chưa đưa vào diện quy hoạch, do đó khi bầu cử thì cũng không nên chỉ nhằm vào nhóm cán bộ trong diện quy hoạch mà cần phải cởi mở hơn, muốn vậy thì cần có tranh cử.
Thí dụ ở các xã, trong quá trình chuẩn bị là phải cho tranh cử. Ai có khả năng đảm đương được các công việc thì ứng cử và trình bày về chương trình công tác của mình ở cương vị lãnh đạo của xã ấy, như vậy thì nhân dân mới biết khả năng của từng người mà bầu.
Cụ thể: Vào năm 1988, bầu Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, bên Đảng thì giới thiệu Đồng chỉ Đỗ Mười, nhưng khi đưa ra Quốc hội thì các đại biểu muốn thêm một người nữa để có sự tranh cử và giới thiệu đồng chí Võ Văn Kiện. Kết quả bầu là đồng chí Đỗ Mười trúng với đa số phiếu. Tôi kể ra việc đó cũng để thấy rằng, chúng ta đã bắt đầu thực hiện dân chủ từ lâu rồi, nhưng đến nay vẫn chưa được quan tâm nhân rộng ra hơn nữa. Đây là điều đáng tiếc!
Bên cạnh đó, công tác luân chuyển cán bộ cũng làm nảy sinh nhiều tiêu cực, động cơ phía sau việc luân chuyển ấy lộ liễu quá. Tôi có thể điểm ra hàng loạt vụ luân chuyển cán bộ khiến cho các địa phương rất tâm tư, bởi vì thời gian cán bộ về với địa phương ngắn và những dấu ấn để lại không rõ nét. Tôi cũng đã từng có gần 10 năm công tác ở Quảng Ninh và trải qua nhiều vị trí lãnh đạo khác nhau nên tôi rất hiểu vấn đề này, điều quan trọng là cấp trên phải đánh giá được thực chất khả năng của cán bộ chứ không nên coi việc cán bộ đó đã có thời gian công tác tại cơ sở là thành tích.
Bên cạnh những tấm gương tiêu biểu thì vẫn có không ít cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, thiếu trách nhiệm trước công việc, ngại rèn luyện, sợ khó khăn, gian khổ, hy sinh; quan liêu, tham nhũng, lãng phí… trở thành một lực cản của tiến bộ xã hội; là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, làm giảm hiệu lực quản lý của Nhà nước.
Theo ông Mão có 4 vấn đề cần lưu ý giải quyết: Thứ nhất là tự bản thân mỗi cán bộ Đảng viên phải phấn đấu rèn luyện, sống đúng với giá trị của một con người có văn hóa. Những biểu hiện của tệ tham nhũng, lãng phí của công, bớt xén của người lao động... phải bị nghiêm trị. Đồng thời là phải quan tâm giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, bộ phận với toàn bộ, trong đó lợi ích của quốc gia, của nhân dân bao giờ cũng được ưu tiên hàng đầu. Sự lười biếng, vô trách nhiệm, cùng các biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống phải bị lên án, loại trừ một cách mạnh mẽ.
Thứ hai là cần làm cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc hơn nữa tư tưởng và đạo đức của Bác Hồ. Thực hiện lời Bác dạy: “Cần kiệm liêm chính - Chí công vô tư”. Phải đổi mới phương thức giáo dục. Bấy lâu nay chúng ta vẫn nặng về tuyên truyền chung chung nhưng cái chính là phải hướng dẫn để áp dụng vào từng loại đối tượng, kể cả cấp lãnh đạo.
Trong một số cán bộ đảng viên thường nêu câu hỏi: Không biết các đồng chí lãnh đạo có Chương trình (hoặc kế hoạch) học tập tư tưởng và đạo đức của Bác Hồ không? Nếu có thì cần công bố cho nhân dân được biết để học tập, làm theo và giám sát những Chương trình ấy. Nếu làm được như thế thì thật là tuyệt vời.
Thứ ba là cần rà soát và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng, đào tạo,  tuyển chọn cán bộ. Cần thành lập Hội đồng Quốc gia để kiểm định và thông qua những Chương trình ấy. Làm được như thế sẽ tránh được tình trạng tùy tiện, cục bộ như lâu nay thường thấy.
Thứ tư là cần nghiên cứu để đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên. Người lãnh đạo phải công tâm, tránh tình trạng, đối với người này thì định kiến, chụp mũ, ghét cay ghét đắng; đối với người khác thì ưu ái, đề cao quá mức, yêu thương nồng nàn. Bác Hồ  đã nói: “Mỗi con người ta đều có cái thiện và ác ở trong lòng.
Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Đấy là kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. (Giáo dục Việt Nam 30/9) đầu trang(

TIN TỨC
UBND TP Vũng Tàu vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giao cho TP sử dụng 11 trụ sở cơ quan của tỉnh để làm trường học, khi trung tâm hành chính tỉnh chuyển về thị xã Bà Rịa vào tháng 11-2011.
Theo Phòng GD-ĐT TP Vũng Tàu, trong vài năm qua và hiện tại, Vũng Tàu thiếu trầm trọng trường học. Cụ thể, mỗi năm TP này đón thêm 1.000 học sinh tiểu học, trong khi ở một số phường lại chưa có trường, học sinh phải học nhờ phường khác. Hệ thống trường mầm non cũng chỉ đáp ứng được hơn 50% nhu cầu. (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(

CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Ngày 29/9, UBND TP Hà Nội đã ra Quyết định số 4520 phê duyệt đề án giá dịch vụ nhà chung cư và ban hành giá trần giá dịch vụ nhà chung cư trên địa bàn TP.
Theo đó, đối với nhà chung cư không có thang máy được tính 2.400 đồng/m2/tháng cho dịch vụ vệ sinh công cộng (một lần/ngày); quản lý, vận hành các phương tiện kỹ thuật; thay, rửa bể nước (sáu tháng/lần); bảo vệ an ninh tòa nhà. Tương tự cho các dịch vụ này, ở tòa nhà chung cư có thang máy - mức thiết yếu và nhà chung cư có thang máy - mức mở rộng có giá 3.100 đồng/m2/tháng và 4.000 đồng/m2/tháng…
Mức giá này được áp dụng tạm thời trong một năm bắt đầu từ ngày 29/9/2011 (ngày ký quyết định). Trường hợp giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ đã có thỏa thuận liên quan đến giá dịch vụ nhà chung cư thì thực hiện theo thỏa thuận đó. Các loại dịch vụ chưa có thì người sử dụng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có trách nhiệm thỏa thuận với nhau theo đúng quy định hiện hành. (Pháp Luật TP.HCM 30/9) đầu trang(
Ngày 27-9, UBND TP.HCM ban hành văn bản quy định về giá đất nông nghiệp để tính bồi thường và nguyên tắc xác định giá đất ở trung bình tính hỗ trợ đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư trên địa bàn TP.
Theo đó, trên địa bàn các quận, đất nông nghiệp ở mặt tiền các đường có tên trong bảng giá đất, trong phạm vi 200 m kể từ lề đường hiện hữu (gọi tắt là mặt tiền đường) có giá 380.000 đồng/m2. Đất không nằm ở mặt tiền có giá 342.000 đồng/m2.
Trên địa bàn các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Hóc Môn, Củ Chi, đất nông nghiệp trong phạm vi khu dân cư có giá 375.000 đồng/m2 (mặt tiền đường) và 304.000 đồng/m2 (không mặt tiền). Đối với đất ngoài phạm vi khu dân cư, vị trí mặt tiền đường có giá 300.000 đồng/m2 (đất trồng cây hằng năm) và 375.000 đồng/m2 (đất trồng cây lâu năm); vị trí không mặt tiền đường có giá 200.000 đồng/m2 (đất trồng cây hằng năm) và 250.000 đồng/m2 (đất trồng cây lâu năm).
Tại huyện Cần Giờ, đất nông nghiệp trong phạm vi khu dân cư có giá 270.000 đồng/m2 (mặt tiền đường) và 228.000 đồng/m2 (không mặt tiền). Đối với đất ngoài phạm vi khu dân cư, vị trí mặt tiền đường có giá 230.000 đồng/m2 (đất trồng cây hằng năm) và 270.000 đồng/m2 (đất trồng cây lâu năm); vị trí không mặt tiền đường có giá 190.000 đồng/m2 (đất trồng cây hằng năm) và 225.000 đồng/m2 (đất trồng cây lâu năm).
UBND TP cũng quy định việc hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong các khu dân cư; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp ranh giới phường, ranh giới khu dân cư. Cụ thể, ngoài việc được bồi thường theo giá quy định trên, người dân còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi tính theo bảng giá đất công bố hằng năm. Diện tích được hỗ trợ là diện tích đang sử dụng thực tế nhưng không quá năm lần hạn mức giao đất ở theo quy định.
Các dự án đã chi trả xong bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước ngày 27-9 sẽ không áp dụng, điều chỉnh theo văn bản này. Những dự án đã phê duyệt phương án bồi thường và đang chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư... trước ngày 27-9 cũng tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt.
Những dự án đã phê duyệt phương án bồi thường nhưng đến ngày 27-9 vẫn chưa chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được áp dụng công văn này. Tương tự là những dự án đã được phê duyệt giá đất nông nghiệp để tính bồi thường và giá đất ở trung bình khu vực để tính hỗ trợ nhưng đến ngày 27-9 chưa lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. (Pháp Luật TP.HCM 30/9) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Dẫu mức lương tối thiểu chung từ năm 2003 đến nay đã điều chỉnh 7 lần, tăng từ 210.000 đồng/tháng lên 830.000 đồng/tháng, song đại đa số công chức khi được hỏi đều cho rằng mức lương này không bảo đảm cho nhu cầu chi tiêu thiết yếu như ăn, ở, mặc, đi lại, học hành, chữa bệnh...
Theo báo cáo của Bộ Nội vụ, mức lương tối thiểu đang áp dụng thấp nên thực tế khó thu hút được người tài vào làm ở khu vực hành chính nhà nước, chưa tạo ra động lực cho cán bộ, công chức tận tâm, gắn bó với công việc, ảnh hưởng đến việc cải cách hành chính và phòng chống tham nhũng...
Trong một cuộc hội thảo mới đây, TS Nguyễn Thiềng Đức, Phó chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty đầu tư tài chính nhà nước TP.HCM, cho rằng có một điều rất nghịch lý là dù rất nhiều công chức kêu ca lương thấp nhưng họ vẫn bám trụ một cách kiên trung. Hơn nữa vẫn có những thông tin cho rằng phải chạy vài chục triệu, thậm chí hàng trăm triệu đồng mới vào được cơ quan này, cơ quan nọ.
Bên cạnh tình trạng dịch chuyển công việc hoặc ở lại làm việc với các bổng lộc, khá nhiều cán bộ công chức đến cơ quan chỉ để uống trà, bàn chuyện, làm theo kiểu “tiền nào của ấy”. Vì thế, tuy nói tiền lương của cán bộ, công chức là thấp so với nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, nhưng không ít trường hợp lại sẽ không phải thấp so với hiệu quả lao động thực tế của họ.
Nhà nước trả lương không cao nhưng có một bộ phận không nhỏ công chức sống trên mức phong lưu của xã hội. Có thể những người như thế nhờ sẵn có tiềm lực tài chính từ trước, hoặc nhờ gia đình có thành viên giỏi làm ra tiền bạc...
Nhưng theo PGS-TS Trần Văn Thiện, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực (trường ĐH Kinh tế TP.HCM), cũng cần phải khẳng định rằng lương thấp không phải là nguyên nhân duy nhất nhưng nó nhất định là mảnh đất màu mỡ, tươi tốt nhất để gieo mầm và phát triển một cách bền vững nạn tham ô, tham nhũng, làm việc vô cảm và kém hiệu quả.
Thang lương hiện nay chưa thể hiện rõ sự công bằng trong đãi ngộ lao động, ít khuyến khích tài năng, thường cứ “đến hẹn lại lên”, dựa trên cấp bậc chính quyền. Từng có nhiều nhận xét tổng kết chính nền hành chính cơ chế không minh bạch, công chức lương không đủ sống là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nạn nhũng nhiễu, thường gọi là “làm khó để ló ra tiền”, “tham ô tập thể”…
Theo Bộ Nội vụ, tăng lương tối thiểu để hạn chế những hệ lụy tiêu cực phát sinh trong đội ngũ công chức là cần thiết, nhưng mỗi lần tăng đều phải phụ thuộc vào chỉ số giá tiêu dùng hằng năm, mặt bằng tiền công trên thị trường và khả năng của ngân sách nhà nước. Tổng quỹ lương cán bộ, công chức, viên chức chiếm khoảng 40% tổng thu ngân sách, nếu tăng lương khu vực này lên 2,5 lần, thì gần như toàn bộ ngân sách chỉ đủ để trả lương.
Vì thế, theo ý kiến của các nhà nghiên cứu về chính sách tiền lương, điều căn bản nhất là cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách hành chính, quyết liệt tinh giản biên chế trên cơ sở định biên hợp lý, tinh gọn, hiệu quả hơn. Chỉ khi nào cán bộ công chức không còn phải chật vật, bận tâm nhiều đến tiền lương thì họ mới có thể tận tâm, nghĩ ra được nhiều sáng kiến và hết “làm khó” khi giải quyết các dịch vụ công liên quan đến người dân. (Thanh Niên 30/9) đầu trang(
Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, đã được Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu bằng trí tuệ và tâm huyết của mình, nghiên cứu, đề xuất những sáng kiến đổi mới để Ban chỉ đạo làm cơ sở hoàn thiện.
Tại phiên họp thứ hai của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các đại biểu sẽ đóng góp các ý kiến về những nội dung cơ bản của Đề án, trong đó có một số vấn đề cải tiến có thể thực hiện được ngay trong kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII.
Nhiệm kỳ khóa XII của Quốc hội là một nhiệm kỳ sôi động với những phiên thảo luận, những ý kiến đóng góp và phản biện tạo được dấu ấn trong cử tri và nhân dân. Vậy Quốc hội khóa XIII có làm được như vậy không? Trả lời câu hỏi này của giới truyền thông, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạng, tại mỗi nhiệm kỳ, mỗi thời điểm đều có những trọng trách, những sứ mệnh khác nhau.
Theo quy luật của sự phát triển, nhiệm kỳ sau thừa kế, tiếp tục phát huy những thế mạnh và khắc phục những điểm còn chưa hoàn hảo của nhiệm kỳ trước để đảm bảo cho sự phát triển liên tục và ngày càng hiệu quả hơn. Mọi sự phát triển hôm nay đều phải là sự kế thừa và hoàn thiện từ ngày hôm qua.
Vì vậy, theo Chủ tịch Quốc hội, việc xây dựng đề án cần được thực hiện một cách bài bản, khoa học, có bước đi vững chắc, đảm bảo phát huy dân chủ tập hợp trí tuệ của đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan, tổ chức hữu quan, qua đó vừa nâng cao chất lượng hoạt động, vừa tiết kiệm thời gian làm việc của Quốc hội.
Một trong những nội dung trọng tâm của đề án là củng cố vững chắc mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa Quốc hội và Chính phủ. Cả hai cơ quan lập pháp và hành pháp đều phải mạnh. Chủ tịch Quốc hội phân tích sâu sắc rằng, Chính phủ có mạnh thì hoạt động của Quốc hội mới hiệu quả. Cụ thể là, trong công tác lập pháp, các dự án luật mà Chính phủ trình ra nếu chất lượng cao, thì khi Quốc hội thông qua luật mới có tính hiệu lực và hiệu quả cao, phù hợp với thực tiễn.
Đối với những vấn đề quan trọng của đất nước, Chính phủ là cơ quan hành pháp, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Chính phủ điều hành, tổ chức thực hiện đưa các nghị quyết của Quốc hội về những vấn đề quan trọng đi vào đời sống kinh tế - xã hội, phát huy hiệu quả trong thực tiễn. Đối với vấn đề giám sát thì Chính phủ có cơ quan thanh tra, kiểm tra hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần đắc lực cho chức năng giám sát của Quốc hội.
Sự phản biện của Quốc hội, suy cho cùng chính là để tạo sự thống nhất cao hơn cho Chính phủ hành động. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII, vấn đề đổi mới Quốc hội đã được đề ra khẩn trương và mạnh mẽ. Mặc dù tại phiên họp này, có ý kiến của lãnh đạo một ủy ban của Quốc hội cho rằng, đổi mới phải đảm bảo tính khoa học, không có nghĩa là nhiệm kỳ này thì đổi mới thế này, nhiệm kỳ khác lại đổi mới thế khác, cứ quanh đi quẩn lại, vừa mất thời gian, vừa tốn tiền của dân.
Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã quyết định xây dựng Đề án tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả của Quốc hội với 7 điểm đổi mới cách thức tổ chức các quy trình lập pháp, công tác kiểm tra, phối hợp thẩm tra; hoạt động tiếp xúc cử tri, theo dõi việc giải quyết và báo cáo kết quả với cử tri…
Xem xét một số ý tưởng đổi mới hoạt động của Quốc hội có thể áp dụng ngay trong kỳ họp thứ hai sắp tới của Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội khẳng định, điều mà Quốc hội quan tâm nhất trong việc đổi mới là làm sao tập hợp được trí tuệ và tâm huyết của các đại biểu Quốc hội, làm sao để Quốc hội - Chính phủ, cả hai đều phải mạnh. (An Ninh Thủ Đô 30/9) đầu trang(./.