|
Ngày 30 tháng 03 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TIN TỨC
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
NHÌN RA THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thiếu cơ chế bảo vệ nên tâm lý người dân vẫn lo ngại, nể nang, sợ bị trù dập khi tham gia góp ý cho MTTQ địa phương trong việc giám sát cán bộ, đảng viên ở khu dân cư, dù vậy, hơn 3.100 đơn giám sát và ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân là kết quả khả thi để MTTQ căn cứ kiến nghị tiếp tục mở rộng giám sát.
Bộ Nội vụ, Ủy ban TƯ MTTQ Việt Nam sáng nay phối hợp tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm thi thành luật MTTQ Việt Nam và 5 năm thực hiện Nghị quyết liên tịch 05 giữa Chính phủ và MTTQ về việc ban hành quy chế “Mặt trận tổ quốc giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư”.
Vai trò giám sát của MTTQ là một trong những nội dung được đề cập nổi bật khi tổng kết 10 năm thực hiện luật MTTQ Việt Nam. Không mang tính quyền lực như giám sát của Đảng và của bộ máy công quyền, nhưng MTTQ được coi là lực lượng giám sát xã hội mang tính nhân dân với hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật quy định cho vai trò, nhiệm vụ quan trọng này.
Nhưng theo Phó Chủ tịch MTTQ TP.HCM Phạm Văn Hải, qua triển khai thực hiện tại địa phương, giám sát ở cơ sở thường bị "xem nhẹ", sự hiểu biết về vị trí, vai trò, trách nhiệm giám sát của MTTQ đối với chính quyền còn rất hạn chế, với người dân lại càng hạn chế hơn. Trong khi khối lượng phải giám sát đồ sộ thì nghịch lý là cán bộ chuyên trách có trình độ, năng lực thiếu, lại khó khăn trong thu hút nhân lực.
Giám sát không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân nên trong 4 năm qua, giám sát được cụ thể hóa thành quy chế thực hiện thí điểm tại 5 tỉnh, thành phố. Quy chế “MTTQ giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư” theo đó được triển khai với những kết quả khả thi song cũng đặt ra nhiều vấn đề đáng bàn.
Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Dĩnh, qua thí điểm thực hiện, có hơn 3.100 đơn giám sát và ý kiến phản ánh trực tiếp của nhân dân. Nội dung đơn thư phần lớn tập trung phản ánh, phát hiện những vi phạm về quản lý đất đai, liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng, quản lý trong xây dựng, biểu hiện tham nhũng… Số còn lại đề cập đến tư cách, phẩm chất đạo đức, thái độ đảng viên, cán bộ, công chức của chính quyền cơ sở trong việc tiếp xúc giải quyết công việc của dân.
Nhưng thực tế ở một số nơi, UB MTTQ cấp xã và Ban công tác mặt trận còn lúng túng trong việc phân công, phối hợp trách nhiệm thực hiện các hoạt động giám sát. Có nơi, Ủy ban MTTQ cấp xã và tổ chức thành viên còn nể nang, e ngại, chưa tin tưởng cao vào hiệu quả giám sát, thậm chí còn có tư tưởng ngại va chạm, sợ bị trù dập, trả thù, vì vậy có nơi sự việc vi phạm đã rõ ràng nhưng UB MTTQ cấp xã chưa dám kiến nghị.
Do thiếu những quy định, cơ chế cụ thể về phạm vi, đối tượng, chế tài thực hiện giám sát cộng với tâm lý nể nang, sợi bị trù dập, đã khiến cho việc thực hiện quy chế gặp nhiều khó khăn, kết quả hạn chế.
Góp ý sửa đổi Luật MTTQ Việt Nam, Phó Chủ tịch MTTQ TP.HCM cho rằng cần làm rõ việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước là những cơ quan nào cụ thể như đối với cơ quan dân cử, cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tư pháp, nội dung và hình thức giám sát ra sao, cần có quy định những biện pháp chế tài đối với những đối tượng chịu sự giám sát của MTTQ nếu không trả lời kiến nghị hoặc trả lời không đạt yêu cầu.
Ngoài ra cần bổ sung nội dung phản biện xã hội và quy định cơ chế cụ thể để MTTQ các cấp thực hiện công tác phản biện xã hội.
Đại diện MTTQ tỉnh Hà Giang cũng cho rằng cần phân biệt các hoạt động giám sát của Đảng, cơ quan công quyền và MTTQ để tránh chồng chéo, lấn sân. Cơ bản, chức năng giám sát, phản biện xã hội của MTTQ VN phải được thể chế hóa thành một chế định trung tâm của luật.
MTTQ Việt Nam đã kiến nghị chính thức bổ sung vai trò giám sát và phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam vào luật MTTQ, mong muốn có những quy định cụ thể về phạm vi, đối tượng giám sát, cơ chế, điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát, trình tự thủ tục giám sát và trách nhiệm phúc đáp của cơ quan có thầm quyền...
Tham dự và phát biểu tổng kết hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị MTTQ Việt Nam và các cấp tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát, trong đó chú trọng thiết lập cơ chế bảo vệ người giám sát, tiếp tục tổng kết thí điểm thực hiện quy chế giám sát cán bộ, đảng viên ở khu dân cư để đề xuất với Ban Bí thư mở rộng thực hiện trong phạm vi cả nước, tăng cường năng lực cho cán bộ MTTQ cấp cơ sở, xem xét tham mưu cho dự án sửa đổi luật MTTQ cuối năm 2013. (Vietnamnet 29/3) đầu trang(
Đó là ý kiến của TS Trần Hà Anh (nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của QH) tại hội thảo cơ chế bảo hiến ở một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam do Viện Nghiên cứu lập pháp (thuộc Ủy ban Thường vụ QH) tổ chức ngày 29-3.
“Hiến pháp sửa đổi tới đây nên quy định về cơ chế bảo hiến với những nguyên tắc chung nhất còn việc thực hiện cụ thể như thế nào sẽ được quy định bởi một đạo luật của QH”- TS Hà Anh nói.
Theo TS Hoàng Văn Tú, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, hiến pháp là văn bản chính trị pháp lý quan trọng nhất của một quốc gia. Do vậy những quy định của hiến pháp phải được thực hiện một cách nghiêm túc và cần phải có cơ chế bảo vệ hiến pháp (cơ chế bảo hiến). Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến nay vẫn chưa có cơ quan chuyên trách thực hiện việc bảo vệ hiến pháp mà nhiệm vụ này được giao cho nhiều cơ quan nhưng lại chưa có sự phân công hợp lý và trách nhiệm rõ ràng nên hiệu quả không cao. Trên thực tế có không ít những hành vi vi phạm hiến pháp nhưng không được xử lý.
TS Tú cũng nêu rõ văn kiện Đại hội X đã yêu cầu phải nghiên cứu xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. “Việc nghiên cứu về cơ chế bảo vệ hiến pháp với những kinh nghiệm hay từ nước ngoài để phục vụ cho việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới là hết sức quan trọng và cấp bách” - ông Tú nhấn mạnh.
Theo PGS-TS Trương Đắc Linh, Trường ĐH Luật TP.HCM, hiện nay có ba phương án về mô hình cơ chế bảo hiến được đưa ra ở Việt Nam. Phương án một là thành lập một ủy ban giám sát hiến pháp trực thuộc QH, phương án hai là trao thẩm quyền bảo vệ hiến pháp cho tòa án tối cao, phương án ba là thành lập một tòa án hiến pháp độc lập. TS Đặng Minh Tuấn (khoa Luật, ĐHQG Hà Nội) cho biết xu hướng hiện nay có nhiều ý kiến ủng hộ phương án một bởi tính ổn định của mô hình này.
Tuy nhiên, cả TS Tuấn và PGS-TS Trương Đắc Linh đều cho rằng mô hình này mang tính nửa vời, khi ấy QH sẽ vừa đá bóng vừa thổi còi, việc bảo vệ tính tối cao của hiến pháp sẽ không hiệu quả. Theo hai chuyên gia này, phương án ba - thành lập tòa án hiến pháp độc lập sẽ triệt để nhất, tuy nhiên đây lại là vấn đề mới ở Việt Nam. (Pháp luật TP.HCM 30/3) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa cho biết Chính phủ đã đồng ý với đề xuất bỏ khung giá đất do liên bộ Tài chính, Tài nguyên Môi trường kiến nghị; hiện chủ trương còn chờ quyết định cuối cùng từ Quốc hội.
Ngoài việc bỏ khung giá đất, Bộ Tài chính cũng đề nghị Nhà nước đẩy mạnh thu hồi đất theo quy hoạch, tạo quỹ đất sạch để đấu giá; thực hiện đấu thầu các dự án có sử dụng đất và hạn chế tối đa tình trạng giao đất, cho thuê đất theo phương thức chỉ định nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng trong việc tiếp cận đất đai đối với các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Bên cạnh đó, cần áp dụng một hình thức Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm hoặc một lần cho cả thời gian thuê đối với đất sản xuất kinh doanh, không phân biệt tổ chức trong nước, ngoài nước và các thành phần kinh tế. Đồng thời, rà soát lại toàn bộ chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo hướng hạn chế các đối tượng được miễn, giảm; chuyển cơ bản các hình thức ưu đãi từ thu sang ưu đãi về chi để tăng kiểm soát, nâng cao hiệu quả chính sách. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 29/3) đầu trang(
Bộ Xây dựng vừa cho biết sẽ trình Chính phủ đề án Quỹ tiết kiệm nhà ở vào tháng 4 tới và dự kiến vận hành thí điểm vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2013.
Đề án gồm 2 mô hình: Mô hình Quỹ phát triển và tiết kiệm nhà ở xã hội để cho người có thu nhập thấp vay mua, thuê mua nhà ở xã hội hoặc cho doanh nghiệp vay đầu tư xây dựng nhà ở thu nhập thấp, nhà ở công nhân, nhà ở xã hội; và mô hình Quỹ tiết kiệm cho vay nhà ở để các đối tượng có thu nhập ổn định từ trung bình trở lên mua nhà.
Theo đề án, Quỹ tiết kiệm nhà ở được hình thành từ vốn hiện có của Quỹ phát triển nhà ở; nguồn đóng tiết kiệm và trả nợ của đối tượng có nhu cầu tham gia đóng vào quỹ; từ ngân sách trung ương; 30% lợi nhuận từ phát hành xổ số; phát hành trái phiếu nhà ở. Lãi suất huy động bằng 1/2 lãi suất vay thương mại (dự kiến 5%/năm), lãi suất cho vay bằng lãi suất huy động cộng thêm 1%.
Trước đó, Chính phủ đã đồng ý với đề án lập quỹ tiết kiệm nhà ở và giao cho Bộ Xây dựng lấy ý kiến hoàn thiện thêm. Hình thức tham gia quỹ mang tính tự nguyện với mức đóng góp dự kiến từ 1% tổng tiền lương hằng tháng của người lao động. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 29/3) đầu trang(
Đó là một trong các nội dung tại Nghị định số 21/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, được Thủ tướng ký ban hành ngày 21.3 vừa qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.6 tới, thay thế Nghị định số 71/2006/NĐ-CP ngày 25.7.2006 của Chính phủ về quản lý cảng biển và luồng hàng hải.
Theo đó, giám đốc cảng vụ hàng hải căn cứ quy định tại nghị định này và điều kiện đặc thù tại vùng nước cảng biển và khu vực quản lý được giao để ban hành “Nội quy cảng biển” sau khi đã được Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam phê duyệt, nhằm mục đích đảm bảo an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong hoạt động hàng hải.
Tổ chức, cá nhân, tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài khi hoạt động trong vùng nước cảng biển và khu vực quản lý của cảng vụ hàng hải có trách nhiệm chấp hành “Nội quy cảng biển”. Nghị định số 21/2012/NĐ-CP có 93 điều, quy định về đầu tư xây dựng, khai thác cảng biển, luồng hàng hải và quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và trong vùng biển Việt Nam. (Thanh Niên 30/3) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sáng 29/3, Vụ Cải cách hành chính, Bộ Nội vụ đã tổ chức hội thảo góp ý kiến về phần mềm cơ sở dữ liệu về cải cách hành chính (CCHC), do Vụ và Viện Công nghệ thông tin phối hợp chuẩn bị nội dung, thiết kế.
Theo Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính Đinh Duy Hòa, cơ sở dữ liệu này sẽ cung cấp các số liệu, thông tin, dữ liệu cơ bản và chắc chắn về CCHC. "Trước đây, báo cáo các cấp gửi về có nêu nhưng thường không đầy đủ, dữ liệu không được tổng hợp rộng rãi. Cơ sở dữ liệu khi hoàn thành sẽ cung cấp số liệu về cán bộ công chức, số liệu thống kê của từng mảng cải cách cũng như chính sách một cửa ở các địa phương cấp tỉnh, huyện, xã cụ thể được thực hiện thế nào", ông nhấn mạnh.
Sau khi nghe đại diện Viện Công nghệ thông tin giới thiệu sơ lược về thiết kế và nội dung chính, đã có một số ý kiến đóng góp xây dựng phần mềm này.
Phó tổng biên tập Tạp chí Tổ chức nhà nước Phạm Hồng Thông cho rằng, về phần tin tức trong cơ sở dữ liệu, cần phối hợp với các cơ quan liên quan khác để mở rộng lượng thông tin và cập nhật được nhanh chóng, cần thêm mục hỏi và trả lời, tạo điều kiện sử dụng dễ dàng cho độc giả có nhu cầu tiếp cận. Đại diện Cổng thông tin điện tử Chính phủ đề xuất tách biệt rõ cơ sở dữ liệu với trang web CCHC, làm rõ đối tượng phục vụ và mục đích sử dụng. Ngoài ra còn những ý kiến đóng góp về hình thức, tính thông tin rõ ràng trong từng chuyên mục như trong hệ thống văn bản, cần nêu rõ văn bản nào còn hiệu lực hay không...
Theo ông Đinh Duy Hòa, khó khăn cơ bản hiện nay là tập hợp số liệu. Ông cho biết, chỉ tính riêng mảng số liệu hồ sơ về cán bộ công chức, viên chức, để tiến hành cuộc tổng điều tra về số lượng công chức, viên chức toàn quốc theo tiêu chí thống nhất như bộ ngành, tên tuổi, trình độ chuyên môn... đã đòi hỏi thời gian và công sức rất lớn. Sau đó là việc cập nhật dữ liệu.
Ông cho hay: "Như ở Indonesia, khi có sẵn kết quả điều tra, thì việc đưa vào máy tính số lượng công chức, viên chức đòi phải mất hơn một năm với sự tham gia của khoảng 50 người".
Đối tượng phục vụ của cơ sở dữ liệu về CCHC rất rộng, từ người dân tới các doanh nghiệp, các bộ ngành, đội ngũ cán bộ viên chức, người làm công tác CCHC... nếu có nhu cầu sử dụng. Cơ sở dữ liệu khi hoàn tất - dự kiến vài tháng tới - sẽ được đưa vào trang thông tin điện tử về CCHC, trở thành một chuyên mục của trang. (Vietnamnet 29/3) đầu trang(
QUẢN LÝ
Các công ty 100% vốn nhà nước, các doanh nghiệp cổ phần hóa đang có lợi thế chiếm giữ nhiều nhà, đất, ở những vị trí có giá trị thương mại cao nhưng sử dụng, khai thác chưa hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện chuyển mục đích, cho thuê lại kiếm lời, cá biệt, một số nhà, đất bị chiếm dụng hoặc bỏ trống.
Ông Phạm Đình Cường, Cục trưởng Cục Quản lý công sản (Bộ Tài chính) nhận xét, chỗ nào đất đẹp nhất, đắc địa nhất đều của cơ quan hành chính, Nhà nước, đặc biệt các tập đoàn, tổng công ty.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, một số bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước chưa quan tâm đúng mức đến việc sắp xếp xử lý nhà, đất nói riêng và việc khai thác, quản lý có hiệu quả nguồn lực tài sản là nhà, đất nói chung. Một số bộ, ngành có tâm lý chây ỳ và cố giữ đất.
Nguyên nhân của tình trạng này là khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, việc chuyển đổi công năng tài sản trên đất không theo kịp chức năng nhiệm vụ. Một nguyên nhân khác là mục tiêu hình thành nên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực đã góp phần định hướng các “ông lớn” chú tâm vào lĩnh vực bất động sản do địa tô chênh lệch lớn.
Đây cũng là một trong những lý do khiến một số tập đoàn, tổng công ty sao nhãng nhiệm vụ chính, giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, vừa tạo ra sự phát triển quá nóng cho thị trường bất động sản. “Đến nay, khi chính sách thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã có sự thay đổi, quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản thay đổi thì sẽ có thể dẫn đến sự đổ vỡ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng”, ông Phạm Đình Cường lo ngại.
Bộ Tài chính cho biết, đến nay cơ quan này đã phê duyệt phương án 233 mặt bằng, trong đó số mặt bằng giữ lại để tiếp tục sản xuất kinh doanh chỉ chiếm khoảng 30%; chuyển mục đích sử dụng đất khoảng 2%; bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất 2%, số còn lại là Nhà nước thu hồi và chuyển giao ngành nhà, đất thành phố để quản lý và xử lý.
Theo số liệu từ Cục Công sản, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập đang quản lý, sử dụng diện tích nhà, đất lớn, khoảng 1,5 tỷ m2. Trong đó, khu vực sự nghiệp công lập chiếm 1,2 tỷ m2 bằng khoảng 80% diện tích. Hiện tại, các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn sử dụng đất dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất, mang nặng tính bao cấp về đất đai.
Cơ chế cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được sử dụng nhà, đất vào mục đích cho thuê, sản xuất kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết chưa đủ mạnh. Mặt khác, một số quy định trong cơ chế này mang tính “lưỡng tính”.
Chẳng hạn, quy định “một tài sản nhà, đất có thể sử dụng vào nhiều mục đích vừa cung cấp dịch vụ công cho Nhà nước, vừa cho thuê, vừa kinh doanh dịch vụ”. Đối với phần cung cấp dịch vụ công cho Nhà nước thì không trích khấu hao, không phải trả tiền thuê đất; nhưng đối với phần kinh doanh, dịch vụ, cho thuê, thì phải tính khấu hao và trả tiền thuê đất. Do đó, rất khó xác định, hạch toán và thực hiện trong trường hợp này.
Chính vì vậy, cơ chế thu tiền thuê đất đối với diện tích đất đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng vào mục đích cho thuê, kinh doanh dịch vụ, liên doanh, liên kết... là chưa thực hiện được. Vì vậy, thất thoát ngân sách nhà nước; đơn vị sự nghiệp công được bao cấp đất đai sử dụng lãng phí đã giảm hiệu quả khai thác nguồn lực tài chính từ nhà, đất. (Vneconomy 29/3) đầu trang(
Hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã thông qua Nghị quyết thi hành kỷ luật đối với tập thể Ban cán sự Đảng UBND thành phố bằng hình thức khiển trách.
Thực hiện Kết luận của Thủ tướng về vụ việc cưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, đã có 50 cán bộ, đảng viên, nhân viên và 25 tổ chức có liên quan tiến hành kiểm điểm, xử lý nghiêm túc.
Hội nghị Ban Thường vụ Thành ủy ngày 27/3 đã thông qua bản báo cáo tự kiểm điểm của tập thể Ban Thường vụ Thành ủy và một số đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy.
Hội nghị cũng đã thông qua Nghị quyết thi hành kỷ luật đối với tập thể Ban cán sự Đảng Ủy ban Nhân dân thành phố bằng hình thức khiển trách và 2 cán bộ diện Thành ủy quản lý là lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường với hình thức khiển trách.
Huyện Tiên Lãng đã có 16 tổ chức và 17 cá nhân bị kiểm điểm và xử lý kỷ luật. Ngày 23/2/2012, Ban Thường vụ Thành ủy ban hành quyết định kỷ luật tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy Tiên Lãng bằng hình thức cảnh cáo; cách chức Huyện ủy viên đối với Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền và Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Khanh.
UBND thành phố Hải Phòng ra Quyết định cách chức Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền và Phó Chủ tịch Nguyễn Văn Khanh.
Ban Thường vụ Thành ủy quyết định kỷ luật cảnh cáo đối với Bí thư Huyện ủy Tiên Lãng Bùi Thế Nghĩa, 2 Ủy viên thường vụ Huyện ủy là Trưởng Công an huyện Lê Văn Mải và Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Quân sự huyện Hoàng Đăng Chinh.
Các lãnh đạo, chuyên viên các đơn vị của huyện là: UBND huyện, Ban chỉ đạo cưỡng chế thu hồi đất, Đảng ủy quân sự huyện, Đảng ủy xã Vinh Quang, UBND xã Vinh Quang, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tư pháp, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thanh tra huyện, Văn phòng UBND huyện, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Ban Dân vận Huyện ủy, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, cơ quan Hội Nông dân, chi bộ Viện Kiểm sát nhân dân huyện đã kiểm điểm và xem xét các hình thức kỷ luật.
Đối với các cơ quan, ban, ngành thành phố, đã có 9 tổ chức và 33 cá nhân tiến hành kiểm điểm sâu sắc, coi đây là một bài học để rút kinh nghiệm cho công tác sau này. Có 12 đảng viên bị xử lý kỷ luật với các hình thức, mức độ khác nhau.
Các tổ chức đã kiểm điểm nghiêm túc, rút kinh nghiệm sâu sắc là: Ban Cán sự đảng UBND thành phố, Ban Cán sự đảng Tòa án nhân dân thành phố, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố, Đảng ủy Văn phòng UBND thành phố, Đảng ủy Sở Tài nguyên và Môi trường, Đảng ủy Thanh tra Thành phố, Đảng ủy Công an thành phố, Đảng ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố, Đảng ủy Sở Thông tin và Truyền thông, Đảng ủy Ban Tuyên giáo Thành ủy. (Chính phủ 29/3) đầu trang(
Hôm nay (30.3), tại Quảng Ninh, Bộ VH-TT&DL tổ chức hội nghị sơ kết về công tác quản lý lễ hội năm 2012 và một trong các vấn đề đang gặp nhiều khó khăn sẽ được đem ra bàn thảo là quản lý tiền công đức ở đền, chùa.
Vào chốn đền, chùa, người Việt thường có thói quen cung tiến một chút tiền để gọi là tỏ lòng thành với Phật, thánh. Tiền lẻ để vào các hòm công đức thường có mệnh giá từ 200 -2.000 đồng, gọi là tiền “giọt dầu”, số này tuy nhiều, vào đền chùa nào cũng thấy chất ngồn ngộn khắp nơi nhưng tổng lại cũng không đáng kể.
Số tiền lớn hơn gấp nhiều chục lần, do chính các phật tử, người dân quyên góp vào các chùa để được phát giấy ghi nhận công đức mới được gọi là “tiền công đức”. Theo các thống kê, lễ hội Bà Chúa Xứ (An Giang) trong năm 2011 đã thu về hơn 70 tỷ đồng tiền công đức, còn lượng tiền công đức tại Đền Trình – Chùa Hương Hà Nội) chỉ trong 3 tháng của năm 2010 đã lên tới 30 tỷ đồng. Rõ ràng một nguồn tiền rất lớn như vậy cần được minh bạch thu chi, để số tiền này được sử dụng đúng mục đích - điều được đông đảo người dân quan tâm.
Với Bộ VH-TT&DL - đơn vị đang tiến hành phối hợp với Bộ Tài chính, Ban Tôn giáo Chính phủ xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý sử dụng tiền công đức, tiền giọt dầu, thì đây là việc rất nên làm. Từ cách đây 4 năm, năm 2009, Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh đã yêu cầu các đơn vị liên quan khẩn trương đề xuất các phương án quản lý các nguồn thu, chi từ lễ hội, đặc biệt là nguồn thu từ tiền công đức, cung tiến để đảm bảo sự minh bạch và sử dụng có hiệu quả các nguồn thu phục vụ di tích. Bộ trưởng Hoàng nhấn mạnh: Ở những nơi linh thiêng như đền, chùa mà lại tồn tại tiêu cực là điều không chấp nhận được.
Thế nhưng, ngay từ khi vấn đề này được đặt ra đã vấp phải sự không đồng tình của nhiều ban quản lý di tích, các vị thượng tọa trụ trì tại các chùa. Ngày 21.3, thượng tọa Thích Thanh Thắng đã bày tỏ quan điểm khá rõ ràng trên trang phattuvietnam.net: “Khi Giáo hội cử vị sư có đầy đủ tài đức về quản lý động sản, bất động sản và chăm sóc đời sống tinh thần, tâm linh của nhân dân là Giáo hội đã trực tiếp tin tưởng giao phó cho vị ấy theo đúng tinh thần của Hiến chương Giáo hội.
Đồng thời chính phật tử và nhân dân địa phương sẽ là “người giám sát” tốt nhất không chỉ về đạo đức tu hành của vị sư mà còn cả những vấn đề thu chi từ tiền công đức nữa. Vậy thì đặt vấn đề “ai quản lý” tiền công đức trong phạm vi nhà chùa là thừa, vì như thế chẳng khác gì dùng “quản lý” để chồng lên “quản lý”, nói một cách cụ thể là “thế tay thợ đẽo”.
PGS-TS Lương Hồng Quang - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật VN, đơn vị được Bộ VH-TT&DL giao cho thực hiện đề tài nghiên cứu chính sách quản lý và sử dụng nguồn kinh phí thu từ hoạt động lễ hội, cho biết: “Tôi cũng biết, xung quanh việc xây dựng thông tư quản lý tiền công đức có nhiều ý kiến chưa đồng tình từ phía các chức sắc, người tu hành của Giáo hội Phật giáo, vì vậy tôi rất mong các cơ quan thông tấn báo chí giúp cho tất cả mọi người hiểu rõ điều này:
Việc quản lý tiền công đức không phải làm hại đến ai mà chỉ có ích thêm cho các nhà chùa, đền miếu, bởi một khi mọi chuyện được minh bạch hóa, chúng ta sẽ có một hành lang pháp lý vững chắc trong việc sử dụng tiền công đức thế nào. Về nguyên tắc, mọi hoạt động một khi đã phát sinh nguồn thu thì cần rõ ràng việc chi tiêu, sử dụng số tiền ấy như thế nào, bởi đó là tiền đóng góp của dân. Còn nếu đó là tiền do các tăng ni lao động mà có được thì không ai dám động vào”.
PGS -TS Đặng Văn Bài - Phó Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Việt Nam cũng đồng tình với quan điểm này của ông Quang: “Theo tôi đặt vấn đề quản lý tiền công đức là đúng, bởi đơn giản nhất là người dân có quyền được biết số tiền mình công đức vào đền, chùa sẽ được chi tiêu thế nào, càng minh bạch bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Không phải tất cả các nhà tu hành, các thành viên ban quản lý di tích đều sử dụng tiền công đức sai mục đích nhưng cũng đã có một vài trường hợp xảy ra. Tuy nhiên, vai trò của Nhà nước trong việc quản lý tiền công đức đến đâu phải được thể hiện một cách khéo léo”.
Việc cho ra một thông tư quản lý tiền công đức - một lĩnh vực rất nhạy cảm là hết sức cần thiết, nhưng nó không thể được tiến hành vội vã mà cần lắng nghe ý kiến từ rất nhiều phía, đặc biệt là các nhà tu hành.
Ông Nguyễn Văn Nha - thành viên Ban quản lý di tích Phủ Giày (Nam Định) cho biết: “Theo tôi khó có thể quản lý được tiền công đức. Có trường hợp công đức hàng tỷ đồng để duy tu sửa chữa các đệ tứ, đệ nhất... song họ chỉ làm việc với thủ nhang”. (Nông Thôn Ngày Nay 30/3) đầu trang(
NHÂN SỰ
Ngày 29-3, Văn phòng Chủ tịch nước và Bộ Ngoại giao đã tổ chức lễ trao quyết định cho 25 cán bộ làm công tác đối ngoại được chỉ định là đại sứ, tổng lãnh sự nước Cộng hòa XHCN VN tại nước ngoài.
Trao quyết định cho các cán bộ được bổ nhiệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lưu ý trong tình hình khu vực và quốc tế còn nhiều diễn biến phức tạp, các cơ quan đại diện cần tranh thủ và tích cực vận động sự ủng hộ của các nước và cộng đồng quốc tế với VN, xem đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, quan trọng. Cần chú trọng công tác bảo hộ công dân, trở thành chỗ dựa của bà con và doanh nhân VN ở nước ngoài.
Trong đợt bổ nhiệm trưởng cơ quan đại diện VN nhiệm kỳ 2012 - 2015 lần này có 19 đại sứ và 6 tổng lãnh sự. Tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định đây là đợt bổ nhiệm đầu tiên sau Hội nghị ngoại giao 27, vì vậy các vị được bổ nhiệm cần hết sức tận tâm, chủ động sáng tạo, quán triệt và bám sát các phương hướng cụ thể mà Hội nghị ngoại giao 27 đề ra, trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng XI. Đồng thời cần quan tâm thúc đẩy toàn diện các lĩnh vực hợp tác, trong đó ngoại giao chính trị là nền tảng, ngoại giao kinh tế là trọng tâm. (Tuổi Trẻ 30/3) đầu trang(
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
Từ lâu, việc kê khai tài sản của cán bộ đã được đặt ra nhưng thực tế việc này vẫn dừng lại ở việc kê khai... cho có, nhiều ý kiến cho rằng, nếu không kiểm soát được nguồn hình thành tài sản của cán bộ thì rất khó khăn cho công tác phòng chống tham nhũng (PCTN).
Theo Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu tổng hợp, Văn phòng Ban Chỉ đạo trung ương về PCTN Cấn Đức Quyết, một trong những nội dung quan trọng của phòng ngừa tham nhũng là kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ.
Theo thống kê, đã có 13 bộ, ngành, cơ quan trung ương và 11 địa phương báo cáo hoàn thành 100% việc kê khai tài sản, thu nhập năm 2010, các cơ quan và địa phương khác gần 100% với hơn 135.000 cán bộ kê khai lần đầu, 585.000 cán bộ kê khai bổ sung. Qua đó, có 3 trường hợp bị xử lý kỷ luật do vi phạm quy định về kê khai tài sản, thu nhập, 9 cá nhân, người đứng đầu bị phê bình do chậm tổ chức, thực hiện việc kê khai.
Từ năm 2007-2011, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố bình quân mỗi năm khoảng 280 vụ án tham nhũng với hơn 600 bị can. Tuy vậy, theo ý kiến của các chuyên gia, con số kê khai trên không mấy ý nghĩa trong phòng ngừa tham nhũng. Thực tế, nhiều khoản tài sản khổng lồ của cán bộ, công chức vẫn nằm ngoài vòng kiểm soát, bởi kê khai vẫn chỉ dừng ở việc cán bộ "vừa đá bóng vừa thổi còi” mà chưa có cơ quan kiểm soát tính chính xác của thông tin.
Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị cho rằng: Kê khai tài sản cán bộ là giải pháp rất hay để ngăn ngừa tệ tham nhũng cũng như làm trong sạch đội ngũ cán bộ. Vấn đề là phải có cơ chế kiểm soát việc kê khai này. Chúng ta chỉ mới dừng ở việc cán bộ tự kê khai những bất động sản "nổi” của họ thì chưa đủ. Bất cứ cán bộ nào khi mua tài sản lớn phải chứng minh được nguồn tiền, nếu không nguồn tiền đó sẽ là bất minh. Ngoài ra, việc kê khai tài sản của cán bộ phải làm liên tục, trước, trong, sau khi nhận chức, tránh trường hợp cán bộ lúc đương chức có cuộc sống thanh đạm nhưng khi về hưu lại có khối tài sản kếch xù.
Theo nhiều chuyên gia, có 2 lý do khiến việc kê khai tài sản cán bộ trở nên khó khăn hơn. Thứ nhất, đó là nền tài chính của ta sử dụng tiền mặt quá nhiều. Việc kiểm soát nguồn tiền gần như là không thể thực hiện được. Thứ hai, đó là người Việt Nam là người "duy tình” nhất trên thế giới. Chính điều này đã khiến rất khó có thể kiểm soát được thu nhập của cán bộ, công chức.
Có một thực tế mà ai cũng biết, đó là rất nhiều quan chức, khi đang đương chức, đương quyền nếu kê khai tài sản, chắc chắn chẳng ai khai có trang trại, có biệt thự nơi này nơi khác, có xe ô tô xịn... Và càng chẳng có ai khai rằng tôi có bao nhiêu tỉ đồng, bao nhiêu USD gửi ngân hàng, bao nhiêu triệu cổ phiếu.
Cho nên kê khai tài sản nếu như không có chế tài bắt buộc phải giải trình, hoặc truy tận gốc số tài sản đó thì cũng chỉ là... khai cho vui mà thôi? Suy cho cùng, cái gốc của vấn đề nằm ở việc thiếu chế tài xử lý hành vi khai không đúng tài sản mình, điều đó khiến cho việc xử lý các hành vi vi phạm khó khăn, giảm hiệu quả của việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức hiện nay.
Phó Tổng thanh tra Chính phủ Trần Đức Lượng cho rằng: Kê khai chưa hiệu quả hoặc có chỗ nói còn hình thức không phải ở trách nhiệm giải trình mà ở chỗ kiểm tra tính trung thực của bản kê khai đó như thế nào. Hiện, trong luật phòng chống tham nhũng có những chế định kiểm tra xác minh nhưng ràng buộc điều kiện hơi bị chặt nên tới đây trong đề xuất của Chính phủ sẽ phải xem lại điều kiện này.
Ngoài ra, nhiều ý kiến cho rằng, Chính phủ cũng cần ban hành một nghị định về nghĩa vụ giải trình đối với tài sản của cán bộ, công chức. Theo đó, cán bộ, công chức có nghĩa vụ giải trình đối với tài sản của mình và từng bước công khai tài sản. Đồng thời, Thanh tra Chính phủ và các cơ quan liên quan cần tiến hành tổng kết, đánh giá việc kê khai tài sản, thu nhập thời gian qua để xây dựng đề án kiểm soát thu nhập, xử lý tài sản kê khai không trung thực. Việt Nam đã ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về phòng, chống tham nhũng; trong Công ước quy định "tài sản không giải trình được, bất minh là phải tịch thu”.
Ngoài ra, muốn tài sản, thu nhập của người kê khai được công khai, minh bạch theo đúng tinh thần của pháp luật về phòng, chống tham nhũng thì cần có sự thay đổi về cơ chế giám sát. Phải xây dựng cơ chế giám sát tài sản, thu nhập từ nhiều phía chứ không chỉ từ các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời, phải mở rộng quyền giám sát từ phía người dân. (Đại Đoàn Kết 29/3) đầu trang(
Giai đoạn 2006 - 2010 và năm 2011, công tác thanh tra, kiểm tra trên các lĩnh vực đã được tăng cường, góp phần phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật gây lãng phí nguồn nhân lực của đất nước.
Cuối năm 2008 và năm 2009, Ban Bí thư T.Ư Đảng đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra, đề cương hướng dẫn thực hiện các cuộc kiểm tra, thành lập các đoàn để tiến hành kiểm tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (THTK, CLP) theo Chương trình kiểm tra số 97-Ctr/TW ngày 23/12/2008 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Ban Bí thư T.Ư Đảng đã thành lập 9 đoàn kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo THTK, CLP trong việc quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước (NSNN), đi công tác nước ngoài; quản lý, sử dụng nguồn tiền ủng hộ khắc phục hậu quả thiên tai, người nghèo và các hoạt động từ thiện; quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản ở một số bộ, ngành T.Ư và địa phương.
Các Thành ủy, Tỉnh ủy, Ban Cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc T.Ư căn cứ vào chương trình toàn khóa của Ban Bí thư lựa chọn nội dung, đối tượng kiểm tra phù hợp tiến hành kiểm tra công tác THTK, CLP đối với các tổ chức Đảng, đơn vị trực thuộc.
Hằng năm, Bộ Tài chính đều tiến hành kiểm tra việc thực hiện Luật THTK, CLP tại một số bộ, ngành, địa phương, trong đó tập trung kiểm tra công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện chương trình THTK, CLP.
Nhiều bộ, ngành, địa phương cũng đã xây dựng chương trình, kế hoạch và thực hiện thanh tra, kiểm tra THTK, CLP đối với các cơ quan, đơn vị trực thuộc.
Công tác triển khai, thực hiện Luật THTK, CLP và Nghị quyết T.Ư 3 (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; hoạt động giám sát về THTK, CLP của nhân dân, các cơ quan dân cử đã được tăng cường hơn. Hằng năm, Quốc hội, HĐND các cấp đều tiến hành giám sát tình hình, kết quả THTK, CLP trên phạm vi cả nước và từng địa phương; nghe báo cáo và thảo luận, chất vấn về công tác THTK, CLP.
Các Đoàn Đại biểu Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội đã thực hiện chức năng giám sát của mình, kịp thời phản ánh ý kiến của cử tri với Quốc hội về THTK, CLP. Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đã có nhiều hoạt động thiết thực, góp phần quan trọng trong công tác THTK, CLP.
Trong 5 năm (2006 - 2010), các đơn vị thanh tra ngành Tài chính đã thực hiện 32.933 cuộc thanh tra, kiểm tra, tập trung vào công tác điều hành NSNN tại các địa phương và việc quản lý, sử dụng kinh phí NSNN tại cơ quan, đơn vị. Qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện và kiến nghị xử lý về tài chính 18.473 tỷ đồng, trong đó thu hồi nộp NSNN 15.037 tỷ đồng, xử phạt vi phạm hành chính 1.037 tỷ đồng, xử lý tài chính khác 2.398 tỷ đồng, góp phần tiết kiệm cho NSNN.
Qua kiểm soát chi NSNN, hệ thống Kho bạc Nhà nước đã phát hiện 158.800 khoản chi của 67.243 lượt đơn vị chưa chấp hành đúng thủ tục, chế độ quy định đã yêu cầu bổ sung các thủ tục cần thiết; từ chối chưa thanh toán với số tiền khoảng 1.476 tỷ đồng chi thường xuyên.
Kết quả kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước cũng cho thấy: Việc thực hiện các biện pháp THTK,CLP trong quản lý, sử dụng NSNN đã thu được những kết quả khả quan. Thu ngân sách hằng năm đều vượt dự toán, quản lý và điều hành chi NSNN có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác chỉ đạo, điều hành và thực hiện các giải pháp chống suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội có hiệu quả.
Phần lớn các đơn vị đã sử dụng ngân sách đúng quy định, các khoản chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức năm sau giảm hơn năm trước (tổng số các khoản giảm chi năm 2009 do Kiểm toán Nhà nước phát hiện là 2.462,7 tỷ đồng, trong đó số chi sai phải thu hồi nộp NSNN là 157,3 tỷ đồng; năm 2008 là 3.404,8 tỷ đồng, trong đó số phải thu hồi nộp NSNN là 294,2 tỷ đồng).
Việc phân bổ vốn cơ bản thực hiện đúng định mức, đối tượng, nội dung chương trình và kịp thời hơn, hạn chế chi chuyển nguồn, chi chuyển nguồn sai quy định đã giảm nhiều (năm 2009 Kiểm toán Nhà nước kiến nghị loại khỏi quyết toán 7,5 tỷ đồng; năm 2008 là 24,2 tỷ đồng…).
Công tác kiểm soát thanh toán, quyết toán vốn đầu tư được tăng cường và cải tiến phương thức, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí quản lý cho chủ đầu tư, giảm bớt khó khăn về vốn cho các nhà thầu. Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị và chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tăng cường quản lý hoạt động đầu tư xây dựng, nhất là đầu tư công, các dự án (D.A) sử dụng vốn NSNN, vốn trái phiếu Chính phủ. Ngày 15/12/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 113/2009/NĐ-CP về giám sát và đánh giá đầu tư nhằm hạn chế tình trạng các D.A, đặc biệt là từ nguồn vốn NSNN sử dụng không hiệu quả, lãng phí, gây thất thoát.
Giai đoạn từ năm 2007 - 2011 các bộ, ngành, địa phương đã thẩm tra, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư của 186.049 D.A, phát hiện, giảm trừ các khoản đề nghị quyết toán không đúng chế độ trên 5.863 tỷ đồng, góp phần tiết kiệm NSNN.
Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng đã được đẩy mạnh, đặc biệt là các công trình, D.A sử dụng vốn Nhà nước.
Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, trong 5 năm, ngoài số tiết kiệm 10% theo chỉ đạo của Chính phủ, số tiền tiết kiệm kinh phí chi thường xuyên trên 6.373 tỷ đồng (trong đó, khối bộ, ngành tiết kiệm 1.824 tỷ đồng; khối địa phương là 4.549 tỷ đồng). Các bộ, ngành, địa phương cũng đã thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng và Nhà nước, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, thực hiện D.A.
Rà soát, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công, tập trung vốn cho các công trình quan trọng, cấp bách, sắp hoàn thành nhằm thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời góp phần sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư của Nhà nước trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế, đặc biệt trong năm 2008 và năm 2011.
Cụ thể, năm 2008 đã rà soát, điều chuyển vốn, đình hoãn và giãn tiến độ 1.968 D.A với tổng số vốn khoảng 5.992 tỷ đồng; năm 2011 (đến tháng 8) đã ngừng khởi công mới, cắt giảm, giãn tiến độ, điều chuyển vốn của 2.538 D.A là 9.452 tỷ đồng.
Cùng thời gian, 12 tập đoàn, tổng công ty 91 cũng đã tiết kiệm được trên 13.738 tỷ đồng chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí đầu tư xây dựng. Thực hiện Nghị quyết số 11/2011/NĐ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ, trong năm 2011 các tập đoàn kinh tế và tổng công ty Nhà nước đã rà soát, cắt giảm, đình hoãn, giãn tiến độ 907 D.A đầu tư với tổng số vốn là 39.212,2 tỷ đồng.
Bộ Tài chính khẳng định: Giai đoạn 2006 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cấp, các ngành, các địa phương trong cả nước đã triển khai, thực hiện có hiệu quả Luật THTK, CLP và Nghị quyết T.Ư 3 (khóa X). Ý thức THTK, CLP trong đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đã được nâng lên. Công tác THTK, CLP đã có nhiều chuyển biến tích cực, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và cả giai đoạn.
Tuy nhiên, theo đánh giá, công tác thanh tra, kiểm tra về THTK, CLP vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác thanh tra, kiểm tra THTK, CLP. Hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nội bộ cơ quan, tổ chức chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng lãng phí vẫn còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều lĩnh vực, làm phát sinh những hệ quả tiêu cực đến sự phát triển của đất nước, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Một bộ phận dân cư còn tâm lý tiêu dùng xa xỉ, phô trương, lãng phí.
Bộ Tài chính cho rằng, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế nêu trên một phần do bối cảnh trong nước và thế giới cũng như những hạn chế, yếu kém nội tại của nền kinh tế; hệ thống cơ chế, chính sách và các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chưa thực sự hoàn thiện, tính đồng bộ chưa cao.
Bên cạnh đó, có nguyên nhân từ nhận thức, ý thức của một số cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tổ chức thực hiện chương trình THTK, CLP chưa nghiêm; việc xử lý vi phạm, lãng phí đã được phát hiện có lúc, có nơi thiếu kiến quyết. Ngoài ra, công tác thông tin, tuyên truyền, vận động THTK, CLP chưa thường xuyên, liên tục, chất lượng chưa đồng đều.
Được biết, những mục tiêu và biện pháp sẽ được triển khai trong giai đoạn từ nay tới năm 2015 là: Tiếp tục thực hiện biện pháp THTK, CLP đã và đang triển khai có hiệu qủa; tăng cường và nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về THTK, CLP đối với các cơ quan, tổ chức sử dụng kinh phí NSNN, tiền, tài sản của Nhà nước, tài nguyên thiên nhiên và các doanh nghiệp có vốn của Nhà nước; đẩy mạnh vận động THTK, CLP trong sản xuất, tiêu dùng của nhân dân gắn với “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”…
Tạo dư luận xã hội lên án, phê phán những hành vi lãng phí và kiên quyết xử lý theo đúng quy định pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân có vi phạm, gây lãng phí… (Thanh Tra 29/3) đầu trang(
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Tại cuộc họp báo do UBND TP Đà Nẵng tổ chức sáng 28-3 về chủ trương hạn chế người nhập cư vào các quận nội thành của TP Đà Nẵng theo nghị quyết 23 HĐND TP, ông Văn Hữu Chiến - chủ tịch UBND TP - cho biết trong thời gian chờ đợi Quốc hội, Chính phủ có ý kiến chính thức thì Đà Nẵng vẫn tiếp tục thực hiện việc hạn chế nhập cư vào các quận Hải Châu, Thanh Khê với các đối tượng không có nghề nghiệp và chỗ ở ổn định, có tiền án tiền sự...
Riêng việc nhập cư vào các quận huyện ven đô thì vẫn thực hiện bình thường. Với các ý kiến thắc mắc về nguồn tiền “dưỡng liêm” 5 triệu đồng/tháng cho lực lượng cảnh sát giao thông tại bốn trạm Hòa Phước, Hòa Hải, Kim Liên, Hòa Nhơn, ông Chiến cho hay nguồn kinh phí này không lấy từ ngân sách mà trích từ khoản thu xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn TP. (Tuổi Trẻ 29/3) đầu trang(
TIN TỨC
Theo kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011 vừa được Bộ Lao động - Thương binh Xã hội công bố, cả nước hiện có 2.580.885 hộ nghèo, 1.530.295 hộ cận nghèo.
Điều tra được thực hiện tại 63/63 tỉnh thành của cả nước, phân theo 8 vùng là: Miền núi Đông Bắc, miền núi Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng; Khu IV cũ; Duyên hải miền Trung; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ; Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong đó, miền núi Tây Bắc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất với 33,02%; tiếp đến là miền núi Đông Bắc 21,01%; Tây Nguyên 18,62%; Khu 4 cũ 18,28%; Duyên hải Miền Trung 14,49%; Đồng bằng sông Cửu Long 11,39%; Đồng bằng Sông Hồng 6,5% và Đông Nam Bộ 1,7%.
8 tỉnh, thành phố có tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là TP.HCM (0,006%), Bình Dương (0,01%), Đồng Nai (1,24%), Bà Rịa Vũng Tàu (2,95%), Đà Nẵng (2,98%), Hà Nội (3,14%), Tây Ninh (4,27%), Quảng Ninh (4,89%).
Một số tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo còn cao như: Điện Biên 45,28%, Lai Châu 38,88%, Hà Giang 35,38%, Lào Cai 35,29%...
Về số hộ cận nghèo, vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo cao nhất là Khu IV cũ 13,78%; tiếp đến là miền núi Tây Bắc 12,08%. Vùng có tỷ lệ hộ cận nghèo thấp nhất là Đông Nam Bộ 1,78%.
Kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011 tại 62 huyện nghèo thuộc Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP cho thấy có 37 huyện nghèo có số hộ nghèo trên 50% gồm: Mèo Vạc, Đồng Văn, Xín Mần (tỉnh Hà Giang); Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông (tỉnh Cao Bằng); Si Ma Cai, Mường Khương (tỉnh Lào Cai)...
Việc rà soát số hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc năm 2011 là cơ sở để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế, xã hội khác năm 2012. (Chính phủ 29/3) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Luật sư đã viện dẫn như vậy khi bào chữa cho bị cáo Phạm Thanh Bình trong ngày làm việc thứ ba (29-3), phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy VN - Vinashin.
Bảo vệ quyền lợi cho Phạm Thanh Bình (nguyên chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin), luật sư cho rằng việc cáo buộc bị cáo chỉ đạo, tổ chức phạm tội là không thỏa đáng, không đúng. Theo luật sư, Vinashin là tập đoàn thí điểm, mà theo cách hiểu chung thì việc thí điểm có nghĩa thử nghiệm cái mới chưa có trong quy định trước đó và làm cũng không theo quy định cũ trước đó. Luật sư cũng bày tỏ sự không đồng ý về cách tính thiệt hại của cơ quan điều tra.
Với bị cáo Trần Quang Vũ (nguyên tổng giám đốc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Nam Triệu), luật sư gọi ông này là “người đương thời” vì đã có những việc làm có lợi cho Nhà nước, trong khi đó đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP Hải Phòng luận tội bị cáo Vũ “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Quang Vũ cho rằng không đủ cơ sở cáo buộc thân chủ của mình về tội “cố ý làm trái” như nêu trên. Trước việc bản luận tội nêu các sai phạm của bị cáo Trần Quang Vũ như chỉ đạo phá dỡ tàu Bạch Đằng Giang, bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang là tài sản thế chấp cho khoản vay 106 tỉ đồng từ nguồn phát hành trái phiếu quốc tế của Chính phủ tại VFC (Công ty tài chính Công nghiệp tàu thủy) mà không báo cáo và không được sự đồng ý của VFC, luật sư khẳng định đây là tài sản của Công ty Nam Triệu, cho nên Công ty Nam Triệu không phải hỏi ý kiến Vinashin...
Theo bản luận tội, việc truy tố bảy bị cáo khác cùng với tội danh như bị cáo Vũ là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Riêng bị cáo Nguyễn Tuấn Dương (nguyên chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần đầu tư Cửu Long) được thay đổi tội danh. Trên cơ sở tài liệu trong hồ sơ và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo Dương về tội “sử dụng trái phép tài sản”.
Bản luận tội do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:
1. Bị cáo Phạm Thanh Bình (nguyên chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Vinashin) 19-20 năm tù;
2.Bị cáo Trần Văn Liêm (nguyên trưởng ban kiểm soát Vinashin, nguyên giám đốc Công ty Viễn Dương) 17-18 năm tù;
3.Bị cáo Tô Nghiêm (nguyên chủ tịch Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy Cái Lân, tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà - Quảng Ninh) 17-18 năm tù;
4.Bị cáo Nguyễn Văn Tuyên (nguyên giám đốc Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh) 15-16 năm tù;
5.Bị cáo Trịnh Thị Hậu (nguyên tổng giám đốc Công ty tài chính TNHH một thành viên Công nghiệp tàu thủy) 13-14 năm tù;
6.Bị cáo Hoàng Gia Hiệp (nguyên phó tổng giám đốc Công ty tài chính TNHH một thành viên Công nghiệp tàu thủy, giám đốc Công ty cho thuê tài chính Công nghiệp tàu thủy) 12-13 năm tù;
7.Bị cáo Trần Quang Vũ (nguyên tổng giám đốc Vinashin, nguyên tổng giám đốc Tổng công ty Nam Triệu) 11-12 năm tù;
8.Bị cáo Đỗ Đình Côn (nguyên kế toán trưởng, phó tổng giám đốc Công ty cổ phần công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh) 11-12 năm tù;
9.Bị cáo Nguyễn Tuấn Dương (nguyên chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần đầu tư Cửu Long) 3-4 năm tù.
Dự kiến hôm nay (30-3) tòa tuyên án. (Tuổi Trẻ 30/3) đầu trang(
Công an Thanh Hóa vừa phối hợp với Hải quan Thanh Hóa phát hiện và bắt quả tang đối tượng Va Văn Ly (SN 1981, ở bản Lắc Há, xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát) khi Ly đang thực hiện hành vi bán thuốc phiện tại một nhà nghỉ trên địa bàn thị trấn Mường Lát.
Lực lượng chức năng thu giữ 1,1 kg thuốc phiện mà Ly đang bán. Tại cơ quan CSĐT, Va Văn Ly khai nhận đã sang Lào mua số thuốc phiện nói trên về Mường Lát bán để kiếm lời.
Va Văn Ly hiện là một cán bộ đang công tác tại UBND xã Nhi Sơn, huyện Mường Lát. Là một cán bộ trẻ, tương lai còn rộng mở, nhưng vì hám lợi trước mắt mà Ly đã sa vào con đường buôn bán ma túy.
Sau khi củng cố hồ sơ, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh tạm giam đối với Va Văn Ly để tiếp tục điều tra, làm rõ. (Dân Trí 30/3) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Chiều 26.3, cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội( UBTVQH) bỗng nóng lên khi một vấn đề cũ là tuyển dụng cán bộ công chức được đưa ra chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Năm 2007, trong phiên họp QH ngày 19.11, đại biểu Lê Văn Cuông chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn: Vấn đề nhức nhối này Bộ trưởng có biết không? Nguyên nhân do đâu? Trách nhiệm thuộc về ai? Và làm gì để ngăn chặn? Bộ trưởng trả lời: “Chúng tôi muốn biết được cụ thể người chạy chức mà đại biểu nói, đó là ai?”. Đại biểu Lê Văn Cuông nói thay cho bao người phản ứng trước câu trả lời bàng quan ấy: “Không có người nào chạy chức, chạy quyền mà đi đến báo cáo với bộ trưởng cả!...”.
Nguyên nhân do đâu? Trách nhiệm thuộc về ai? Và làm gì để ngăn chặn? Bộ trưởng trả lời: “Chúng tôi muốn biết được cụ thể người chạy chức mà đại biểu nói, đó là ai ?” Đại biểu Lê Văn Cuông nói thay cho bao người phản ứng trước câu trả lời bàng quan ấy: “Không có người nào chạy chức, chạy quyền mà đi đến báo cáo với bộ trưởng cả!...”.
Năm 2009, cũng tại nghị trường Quốc hội, đại biểu Đặng Như Lợi (Cà Mau) cho biết: “Cách đây 20 năm, chúng ta đánh giá có khoảng 30% cán bộ công chức không đảm bảo yêu cầu công việc. Đến giờ, công vụ vẫn trì trệ, tiêu cực tham nhũng tăng lên .Hiện nay dư luận xã hội đánh giá: 1/3 CBCC làm việc cật lực, 1/3 chỉ đâu làm đấy, 1/3 có mặt cho vui, nhiều khi còn gây rối...”.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn gật đầu đồng ý: “Trình độ công chức có một bộ phận rất yếu. Nhưng có đúng 1/3 hay không thì... chưa có điều kiện để khẳng định, vì kết quả phân loại công chức hằng năm, cơ sở vẫn luôn đánh giá hơn 90% CBCC hoàn thành nhiệm vụ!”.
Tại cuộc họp UBTVQH lần này, ông Lê Như Tiến - Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hóa giáo dục thanh, thiếu niên và nhi đồng nói: “Trong cuộc khảo sát mới đây cho thấy có 30% cán bộ, công chức làm được việc, 30% phải cầm tay chỉ việc, và trên 30% được cầm tay chỉ việc vẫn không làm được việc!”.
Đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội) nói: “Trong quá trình tuyển dụng vào một số ngành, một số vị trí, người dự tuyển tốn rất nhiều tiền, một suất quà để cảm ơn, từ hàng trăm triệu trở lên, đồng chí bộ trưởng có biết không? Và đồng chí có giải pháp gì để triệt tiêu nó?”.
Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình trả lời: “Bản thân tôi khi về bộ cũng có nghe dư luận như thế, đây là một nội dung mang tính bức xúc, nhưng chỉ rõ ra thì thực là khó, chúng tôi xin tiếp thu ý kiến này để có nghiên cứu”.
Qua đó cho thấy, các cán bộ lãnh đạo chỉ dựa vào báo cáo của cấp dưới mà đánh giá tình hình; mặc dù dưới bộ trưởng, có 4 thứ trưởng và mạng lưới thanh tra, kiểm tra được giăng từ trung ương đến địa phương. Vậy mà những vụ việc tiêu cực đều do nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng phát hiện. Do đó, câu hỏi “mua quan bán chức” đặt ra đã 6 năm mà vẫn chưa có câu trả lời rạch ròi. Cũng do đó, số người không làm được việc, thậm chí còn gây ra hư hỏng cũng chẳng có ai nhận lỗi và không bao giờ xin từ chức.
Tổng kết 5 năm chống tham nhũng tại Hà Nội ngày 7.3.2012, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết: Chủ trương thi tuyển công khai để lựa chọn cán bộ lãnh đạo vẫn còn diễn ra lèo tèo. Đảng muốn cán bộ lãnh đạo khi phạm khuyết điểm do thiếu trách nhiệm gây hậu quả xấu thì nên chủ động từ chức, nhưng hầu như không có ai chịu từ chức!
Điều này thật dễ hiểu, khi cái “ghế” có được bằng đồng tiền “đi đêm”, thì làm sao người cán bộ công chức có đủ tài, đủ đức để làm tốt công vụ? Và làm sao những người như vậy có đủ lòng tự trọng để rời bỏ quyền và lợi khi họ chưa thu lại được số vốn đã chi ra? Chỉ có thực hiện thi tuyển công khai, có sự giám sát của nhân dân và công luận thì mới xóa được nạn mua quan bán chức, nâng cao năng lực cán bộ công chức và làm nảy nở văn hóa từ chức mà các nước văn minh đã có từ lâu. (Lao Động 30/3) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Cơ quan Sáng kiến Thu hồi tài sản bị đánh cắp (STAR) của Ngân hàng Thế giới (WB) và Văn phòng Chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc nhấn mạnh để đảm bảo cuộc chiến chống tham nhũng thành công, các công chức nên thực hiện tốt nhiệm vụ kê khai các khoản thu nhập, tài sản và lợi tức của họ.
Nghiên cứu “Công chức, lợi tức tư nhân: Trách nhiệm giải trình thông qua kê khai thu nhập và tài sản” công bố ngày 28/3, có nội dung chính là kêu gọi giới công chức thực hiện nghiêm cam kết kê khai thu nhập và tài sản để ngăn chặn tình trạng làm dụng chức vụ nhằm tăng thu nhập cá nhân; đồng thời giúp giải quyết những mâu thuẫn lợi ích trong khu vực công.
Nghiên cứu cũng nêu rõ các chế độ kê khai tài sản ở nhiều nước đã đạt hiệu quả hơn do các quan chức nhà nước thấy rõ mối đe dọa thực sự vì các vi phạm sẽ bị phát hiện và trừng phạt.
Công ước chống Tham nhũng của Liên hợp quốc (UNCAC), bắt đầu có hiệu lực năm 2003 và được 159 quốc gia phê chuẩn hoặc tán thành, yêu cầu tất cả các nước thành viên đề ra các chế độ kê khai tài chính hiệu quả cho giới công chức cũng như coi trọng việc chia sẻ kinh nghiệm với các nhà chức trách của các nước khác. Nghiên cứu nhằm xóa bỏ khoảng cách thực hiện yêu cầu chống tham nhũng quan trọng của UNCAC.
Nghiên cứu cũng đề cập đến những vấn đề khó khăn xung quanh các mục tiêu và phạm vi của yêu cầu kê khai tài chính, các biện pháp xác minh, các đạo luật và tăng cường luật pháp, khả năng tiếp cận của công chúng đối với các thông tin kê khai tài sản và thu nhập của các công chức. Nghiên cứu đưa ra các kiến nghị thực tiễn về quy chế kê khai tài sản và thu nhập đối với từng nước khác nhau.
Chuyên gia Khu vực Công của WB Francesa Recanatini đánh giá đây là một nghiên cứu quan trọng, không những giúp các chính phủ soạn thảo và thực hiện các quy chế kê khai thu nhập và tài sản hiệu quả mà còn tăng cường ủng hộ các nhà hoạch định chính sách xây dựng hoặc phát triển các quy chế kê khai ở nước họ.
Ông nhấn mạnh các quy chế kê khai thu nhập và tài sản không thể hoạt động một cách riêng biệt và cần trở thành một bộ phận trong khung chống tham nhũng rộng lớn hơn của một quốc gia.
Nghiên cứu trên của STAR được dựa trên cơ sở phân tích từ sáng kiến Cơ chế Trách nhiệm giải trình công khai (PAM) thuộc WB về các đạo luật kê khai tài sản và thu nhập ở 88 nước và nghiên cứu 11 trường hợp sẽ được công bố trong một tài liệu cuối năm 2012. (TTXVN 29/3) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||