|
Ngày 28 tháng 08 năm 2015
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
NHÂN SỰ
KINH TẾ
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
ĐỊA PHƯƠNG
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THỜI SỰ
Ngày 27-8, đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức phiên giải trình về thực hiện chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai tại các nông trường, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014.
Theo đại biểu Trương Thị Huệ (Thái Nguyên), một số biệt thự, “biệt phủ” xây dựng trái phép trên đất rừng quốc gia, trên đất nông lâm trường quốc doanh toàn của quan chức và những người có tiền, có quyền. Do đó, cần làm rõ trách nhiệm quản lý của các bộ để xảy ra tình trạng trên.
Theo đại biểu Chu Sơn Hà (Hà Nội), ở Vườn Quốc gia Ba Vì, trong khi người dân địa phương không được giao khoán đất thì nhiều người ở nơi khác đến lại được giao. Điều này buộc người dân địa phương phải đi làm thuê, làm mướn và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp.
Giải trình về việc này, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát cho rằng để xảy ra tình trạng trên có trách nhiệm của bộ khi chưa đôn đốc, kiểm tra sát sao hoạt động quản lý, bảo vệ ở các vườn quốc gia. Tuy nhiên, trách nhiệm lớn nhất thuộc về chính quyền địa phương vì là đơn vị quản lý sát sườn, lẽ ra phải biết và ngăn chặn ngay từ đầu.
“Quan điểm của chúng tôi là phải xử lý nghiêm mọi trường hợp vi phạm pháp luật trong việc xâm lấn đất rừng, bất kể người đó là ai, ở cương vị nào”. Còn về việc cấp xã quản lý quá nhiều đất, ông Phát lý giải không phải người dân đang thiếu đất mà Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không giao. Đất này có giao cho dân thì cũng không làm được, không thể hiệu quả nên buộc phải để xã quản lý.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường Nguyễn Minh Quang thừa nhận tình trạng tranh chấp, vi phạm pháp luật đất đai tại các nông, lâm trường vẫn phổ biến. Kết quả thanh tra toàn diện việc chấp hành chính sách, pháp luật trong quản lý và sử dụng đất tại các nông, lâm trường ở 79 đơn vị thuộc 41 tỉnh, TP cho thấy 17 đơn vị có tranh chấp về quyền sử dụng đất với các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức với diện tích 43,2 ha; 50 đơn vị đã bị 4.823 hộ gia đình, cá nhân, 105 tổ chức lấn chiếm đất với tổng diện tích hơn 10.084 ha; 3 đơn vị đã lấn chiếm hoặc được giao chồng lấn vào đất của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức và địa phương với diện tích là 27,96 ha. Sau thanh tra, đã giải quyết nhiều trường hợp tranh chấp; xử lý nhiều vi phạm chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường. (Người Lao Động 28/8) đầu trang(
Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 185 nước
Phát biểu tại lễ kỷ niệm 70 năm thành lập ngành ngoại giao được tổ chức hôm 27-8, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao những đóng góp to lớn của ngành.
Theo Chủ tịch nước, chúng ta đã mở rộng quan hệ đối ngoại chưa từng có cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Từ vỏn vẹn 11 nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1954, đến nay chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất cả châu lục; đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược và toàn diện với nhiều quốc gia chủ chốt trên thế giới.
Lần đầu tiên trong lịch sử chúng ta có quan hệ hợp tác tốt với tất cả nước lớn, trong đó có 5 nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
Chúng ta đã giữ vững chủ quyền lãnh thổ, tạo dựng môi trường hòa bình, hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút gần 260 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Đồng thời, Việt Nam đang chủ động, tích cực khẳng định vai trò trong các diễn đàn đa phương quan trọng cũng như các liên kết kinh tế hàng đầu ở khu vực và quốc tế.
Cũng tại buổi lễ trang trọng này, nguyên phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đánh giá công tác ngoại giao Việt Nam trở nên sắc bén, hiệu quả cao bởi phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự, chính trị, tạo thành sức mạnh tổng hợp.
Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Bình, cục diện quốc tế nay đã khác, vô cùng phức tạp. Hợp tác và phát triển trở thành xu thế khách quan, nhưng bên cạnh đó chạy đua vũ trang có chiều hướng gia tăng. Cạnh tranh kinh tế ngày một quyết liệt. Tranh chấp chủ quyền trở nên căng thẳng. Trong khi quân sự còn đang được kiềm chế, chính trị, kinh tế là công cụ chủ yếu thì ngoại giao là biện pháp hết sức quan trọng.
Trong tình hình mới, bà Nguyễn Thị Bình đề nghị ngành ngoại giao quan tâm đến hai vấn đề. Thứ nhất, trong thời đại ngày nay sức mạnh công lý là trong luật pháp quốc tế.
Do quá trình đấu tranh vì một trật tự quốc tế dân chủ, công bằng hơn, nhiều định chế, luật quốc tế quan trọng được thiết lập. Chúng ta cần nắm vững khai thác, vận dụng và sử dụng nó sắc bén.
Ví dụ như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 là công cụ quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Thứ hai là đấu tranh dư luận. Chưa bao giờ khoa học thông tin phát triển và có sức mạnh lan tỏa như ngày nay. Ai cũng muốn sử dụng nó như “sức mạnh mềm” có lợi cho mình.
Chúng ta có chính nghĩa, tin mình có lẽ phải. Nhưng không phải lúc nào cộng đồng quốc tế cũng hiểu được lập trường và hành động của chúng ta.
Vì vậy trong mọi hoàn cảnh, chúng ta cần coi trọng, chủ động và kịp thời đấu tranh mạnh mẽ trên mặt trận tuyên truyền, vận động dư luận, tranh thủ tối đa sự đoàn kết, ủng hộ quốc tế.
Ghi nhận những đóng góp to lớn của ngành ngoại giao cho sự nghiệp phát triển của đất nước, tại buổi lễ trọng thể này Chủ tịch nước đã trao thưởng Huân chương Sao Vàng cho Bộ Ngoại giao. (Tuổi Trẻ 27/8) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành chỉ thị về việc tăng cường quản lý các quỹ tài chính ngoài ngân sách nhà nước.
Theo đánh giá của Chính phủ, bên cạnh một số mặt tích cực của các quỹ tài chính trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đối với các quỹ tài chính ngoài ngân sách vẫn còn nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của các quỹ.
Trước thực tế đó, Thủ tướng yêu cầu các bộ, cơ quan Trung ương, UBND cấp tỉnh tăng cường công tác quản lý đối với các quỹ tài chính ngoài ngân sách.
Trong đó, tập trung rà soát các quy định hiện hành liên quan đến việc thành lập, hoạt động và quản lý đối với các quỹ tài chính ngoài ngân sách trong phạm vi ngành, lĩnh vực và địa bàn được phân công phụ trách, nhất là các quy định về chế độ tiền lương, tiền thưởng và trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi, mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước đối với các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; trên cơ sở đó, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với pháp luật hiện hành.
Đồng thời, các bộ, cơ quan Trung ương, UBND cấp tỉnh phải rà soát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ tài chính ngoài ngân sách; trên cơ sở đó, quyết định dừng hoạt động hoặc cơ cấu lại các quỹ theo hướng đối với các quỹ hoạt động có hiệu quả, cần tiếp tục duy trì hoạt động để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, đối tượng yếu thế trong xã hội.
Đối với các quỹ có mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ trùng lặp, nhất là các quỹ đầu tư có tính chất sinh lời thì xây dựng phương án chuyển đổi mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ để phát huy hiệu quả.
Đối với các quỹ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích hoặc hoạt động không hiệu quả, các quỹ đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ được giao thì kiên quyết cho dừng hoạt động, giải thể.
Chỉ thành lập quỹ mới trong trường hợp thật cần thiết và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Thủ tướng cũng yêu cầu tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra hoạt động và việc chấp hành pháp luật của các quỹ tài chính ngoài ngân sách, bảo đảm nguồn lực tài chính nhà nước được quản lý, sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch. Thực hiện nghiêm chế độ báo cáo tài chính hàng năm; công khai rộng rãi hoạt động của các quỹ tài chính ngoài ngân sách theo quy định. (Vneconomy 28/8) đầu trang(
Thủ tướng vừa đồng ý giao Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm chủ đầu tư dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai).
Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam được giao chịu trách nhiệm sử dụng kinh phí từ nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp để tổ chức lập báo cáo nghiên cứu khả thi giai đoạn 1 của dự án, trình Thủ tướng Chính phủ trước khi báo cáo Hội đồng thẩm định nhà nước.
Dự án sân bay quốc tế Long Thành đã chính thức được Quốc hội thông qua vào 25-6-2015. Sân bay có công suất 100 triệu hành khách và năm triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Tổng mức đầu tư của toàn bộ dự án là 336.630 tỉ đồng, trong đó giai đoạn 1 là 114.450 tỉ đồng (tương đương 5,45 tỉ USD)... Dự kiến sân bay sẽ được khởi công vào năm 2018. (Pháp Luật TP.HCM 28/8) đầu trang(
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về việc thực hiện đề án quy hoạch báo chí.
Trước đó, tại phiên họp thường kỳ tháng Năm, Chính phủ đã ra Nghị quyết (số 40/NQ-CP ngày 1/6/2015) trong đó giao “Bộ Thông tin và Truyền thông căn cứ kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị về Đề án quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025, khẩn trương có kế hoạch làm việc với các cơ quan, địa phương chủ quản báo chí có ấn phẩm báo chí cần được sắp xếp theo phương án trong dự thảo Quy hoạch…, thống nhất phương án, lộ trình sắp xếp cụ thể, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.”
Triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương thực hiện yêu cầu trên, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/10 tới. (Vietnamplus 27/8) đầu trang(
Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đến năm 2020 đạt 300 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân từ 11% - 12%/năm trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020; phấn đấu cân bằng thương mại ổn định vào năm 2020 và đạt thặng dư thương mại bền vững từ năm tiếp theo.
Đề án phát triển các thị trường khu vực thời kỳ 2015 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó, về định hướng phát triển thị trường, củng cố vững chắc và từng bước mở rộng thị phần hàng hóa Việt Nam tại các thị trường truyền thống bao gồm Đông Nam Á, Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc), Trung Quốc, Australia, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu (EU), Nga và các nước Đông Âu, Canada, Ấn Độ. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, tập trung và tạo bước đột phá mở rộng thị trường xuất khẩu mới, có tiềm năng tại khu vực Châu Phi, Mỹ La-tinh, Trung Đông và Ấn Độ.
Giảm bớt sự phụ thuộc của xuất khẩu vào một số thị trường nhất định nhằm hạn chế rủi ro trước những biến động của thị trường cũng như các yếu tố kinh tế, chính trị khu vực và thế giới.
Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại tại những thị trường truyền thống và thị trường mới tiềm năng; tham gia sâu, rộng vào hệ thống phân phối tại các thị trường khu vực, đặc biệt là thị trường khu vực Châu Mỹ và Châu Âu.
Khai thác và tận dụng tốt cơ hội mở cửa thị trường theo lộ trình cắt giảm thuế quan và dỡ bỏ các rào cản phi thuế quan để đẩy mạnh xuất khẩu; nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang các thị trường đã ký Hiệp định thương mại tự do (FTA); đẩy mạnh hoạt động đàm phán thương mại song phương và đa phương, tạo thuận lợi cho xuất khẩu những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước phát triển đã ký FTA với Việt Nam để tiếp nhận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia ngày càng sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Một trong các giải pháp thực hiện Đề án là xúc tiến thương mại. Cụ thể, thực hiện các giải pháp tổng thể hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường ngoài nước, đặc biệt là tại các hội chợ chuyên ngành thường niên uy tín giúp kết nối với các hệ thống phân phối và thu hút được nhiều đối tác trên thế giới tại các thị trường trọng điểm.
Bên cạnh đó, tăng cường công tác xây dựng, quảng bá thương hiệu hàng hóa Việt Nam gắn với các hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường xuất khẩu nhằm xây dựng hình ảnh, tạo cơ sở phát triển xuất khẩu hàng Việt Nam ổn định, vững chắc. Ưu tiên hỗ trợ thâm nhập thị trường nước ngoài đối với các thương hiệu hàng hóa thuộc Chương trình Thương hiệu quốc gia.
Đẩy mạnh công tác khảo sát thị trường, xúc tiến thương mại để phát triển xuất khẩu, đưa hàng Việt Nam tới các thị trường mới tại khu vực Châu Phi và Mỹ La-tinh; các thị trường tiềm năng khu vực Bắc Âu, Đông Âu và SNG, khu vực Nam Thái Bình Dương (Đông Timo, Palau, Vanuatu), khu vực Đông Bắc Á (Mông Cổ, Triều Tiên), một số bang vùng Trung Hoa Kỳ.
Giải pháp khác thực hiện Đề án là củng cố các thị trường xuất khẩu truyền thống, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Cụ thể, củng cố, phát triển nhóm thị trường trọng điểm và những mặt hàng xuất khẩu thế mạnh. Nghiên cứu, xây dựng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của các nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực trong từng thời kỳ nhằm mở rộng và duy trì ổn định thị trường xuất khẩu của hàng hóa Việt Nam.
Cùng với đó, nghiên cứu, xây dựng chính sách khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất, phân phối ở nước ngoài. Tích cực hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu với hàng hoá có thương hiệu, giá trị gia tăng cao. Tăng cường cơ chế hợp tác toàn diện với hệ thống phân phối lớn ở các thị trường khu vực... (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 27/8) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo cho biết, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan xây dựng Dự án đầu tư sản xuất vắc xin phòng bệnh cho người.
Việt Nam là một trong số ít các nước có khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm sản xuất vắc xin phòng bệnh cho người. Vắc xin do Việt Nam sản xuất không chỉ cung cấp đủ cho Chương trình tiêm chủng mở rộng mà còn xuất khẩu và được quốc tế ghi nhận.
Để tạo điều kiện thúc đẩy phát triển việc nghiên cứu khoa học và sản xuất vắc xin tạo ra sản phẩm vắc xin phòng bệnh cho người an toàn, hiệu quả, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam giao Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Khoa học và Công nghệ, Văn phòng Chính phủ xây dựng Dự án đầu tư nhà máy sản xuất vắc xin quy mô công nghiệp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước tháng 12/2015.
Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị sản xuất vắc xin phối hợp với SCIC trong quá trình xây dựng Dự án.
Đồng thời, Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính tiếp tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho Chương trình nghiên cứu “Phát triển sản phẩm quốc gia vắc xin phòng bệnh cho người”. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 27/8) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Sáng 27/8, Sở Quy hoạch Kiến trúc (QHKT) Hà Nội đã tổ chức Hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp nhằm lắng nghe, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư. Nhiều ý kiến của nhà đầu tư đã được trao đổi, trả lời trực tiếp…
Sở QHKT cho biết đã chỉ đạo thực hiện nghiêm Quy chế làm việc cơ quan, chấn chỉnh tác phong, thái độ làm việc, tiếp khách của cán bộ, công chức, viên chức; Quy định về công tác phối hợp trong xây dựng, thực hiện các chương trình, kế hoạch; thành lập tổ công tác và kiểm tra, giám sát nội bộ về kỷ cương hành chính. Hàng tuần lãnh đạo sở và các phòng ban chuyên môn đều tổ chức họp giao ban để kiểm soát việc giải quyết thủ tục hành chính, đảm bảo không có hồ sơ chậm, muộn, quá hạn.
Đại diện một số nhà đầu tư cho rằng, cán bộ chuyên môn của Sở cần dành nhiều thời gian hơn để nghiên cứu hồ sơ, tránh tình trạng hồ sơ phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần làm kéo dài thời gian. Đại diện Công ty Newtasco đề xuất, các phòng ban chuyên môn của Sở không nên áp đặt nhiều vào vấn đề mỹ thuật của công trình nhằm tạo điều kiện cho các kiến trúc sư có thể sáng tạo nhiều hơn.
Đại diện một đơn vị tư vấn thiết kế của Bộ GTVT đề nghị Sở nghiên cứu có thể thành lập một đơn vị tư vấn chuyên nghiệp nắm rõ về thủ tục để hỗ trợ doanh nghiệp tốt hơn, tránh tình trạng mỗi nhà đầu tư sử dụng một đơn vị tư vấn khác nhau không am hiểu quy định, thủ tục.
Trao đổi với các nhà đầu tư, ông Nguyễn Thế Hùng, Giám đốc Sở QHKT khẳng định, Sở chỉ thẩm định, kiểm soát chặt về tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với các công trình, dự án, còn với vấn đề mỹ thuật luôn tạo điều kiện để các tác giả sáng tạo, tôn trọng các ý tưởng thiết kế.
Sở QHKT cũng cho biết, đang nghiên cứu triển khai các thủ tục hành chính công trực tuyến. Sở áp dụng hình thức chỉ định Phòng chuyên môn, cán bộ viên chức cụ thể để giải quyết thủ tục hành chính trong trường hợp tín nhiệm về thái độ làm việc, thời gian và chất lượng công việc. Đánh giá của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí để bình xét thi đua cuối năm đối với các tập thể và cá nhân cán bộ của Sở.
Tính đến ngày 15/8, Sở đã nhận 1337 hồ sơ. Trong đó, giải quyết 1091 hồ sơ. Giải quyết trước và đúng hạn 1033 hồ sơ, tương đương 95%. Trong thời gian tới, Sở QHKT phấn đấu rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ từ 30-50% thời gian giải quyết… (Tiền Phong 28/8) đầu trang(
NHÂN SỰ
Bộ Công Thương vừa ra thông báo thi tuyển 55 công chức năm 2015 cho 16 Cục, Vụ với các chuyên ngành kinh tế, ngoại giao, lao động - tiền lương, báo chí…
Thí sinh trực tiếp nộp hồ sơ tại Vụ Tổ chức cán bộ (phòng 302, phòng 338 tầng 3), số 54 Hai Bà Trưng, Hà Nội, thời gian từ 14h đến 17h vào các ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm hằng tuần từ ngày 25/8/2015 đến hết 24/9/2015.
Các môn thi cũng được công bố công khai bao gồm kiến thức chung; nghiệp vụ chuyên ngành; ngoại ngữ; tin học văn phòng. Thời gian dự kiến thi vào các ngày 24 và 25-10 tới.
Năm 2014, Bộ Công Thương đã có 2 vụ ồn ào liên quan đến tuyển công chức ở Cục Quản lý thị trường và Cục Quản lý cạnh tranh, trong đó có 1 vụ Thanh tra Bộ Nội vụ đã phải vào cuộc. (Công An Nhân Dân 27/8) đầu trang(
KINH TẾ
“Người Việt Nam chém gió trong nước rất giỏi. Lãnh đạo còn chém gió giỏi hơn bọn tôi. Nhưng ra nước ngoài thì hầu hết là im hơi lặng tiếng, chứ mấy ai thể hiện được”, TS. Võ Trí Thành phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2015, ngày 27/8.
Cũng như nhiều vị khác, ông Thành khá hào hứng với chủ đề “Kinh tế Việt Nam: Hội nhập và phát triển bền vững” của diễn đàn.
“Tôi thực sự cảm kích tham dự diễn đàn này, vì cứ về Hà Nội là chỉ nghe hỏi có hai câu là tỷ giá sắp tới là bao nhiêu và ai sẽ là lãnh đạo của đất nước”, ông Thành nói.
Nhận xét “chém gió” được TS. Võ Trí Thành nêu ra sau khi nhấn mạnh sâu xa của câu chuyện chủ động hội nhập chính là con người.
Và đã đến lúc, Việt Nam phải tham gia xây dựng luật chơi và phải cài người vào được các tổ chức quốc tế. Thế nhưng theo ông, nỗi lo chính là người Việt Nam chỉ giỏi “chém gió” trong nước.
Dẫn lại con số chỉ khoảng 30% doanh nghiệp hiểu đôi chút về hội nhập, ông Thành cho rằng với công chức tỷ lệ này còn thấp hơn 30%.
Bởi vậy, lo ngại đặt ra không phải với doanh nghiệp, vì doanh nghiệp cạnh tranh cùng lắm là “chết” (có thể “chết” một lúc 100.000 doanh nghiệp, nhưng sau đó sẽ có 200.000 doanh nghiệp mới mọc lên). Còn công chức, nhà nước không cạnh tranh được thì cũng không cho... “chết” được.
“Tôi không lo cho doanh nghiệp bằng lo cho khu vực công, vì doanh nghiệp có công cụ điều chỉnh bằng thị trường, còn khu vực công thì sức nào điều chỉnh được? Đó là sức ì lớn nhất khi hội nhập”, ông Thành nhấn mạnh.
Không còn ở vị trí đề dẫn tổng quan như mọi diễn đàn khác, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên tham gia thảo luận khá dài.
Đi vào một số vấn đề cụ thể, ông Thiên cùng quan điểm với TS. Nguyễn Đình Cung và nhiều vị khác là Việt Nam đàm phán thì tốt, nhưng khi hội nhập thực sự thì có vấn đề.
“Bác Tuyển (nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển) có lần nói là “thằng đàm phán cứ đàm phán còn ở nhà chẳng chuẩn bị gì cả. Còn anh Cung (Viện trưởng CIEM) đã thể hiện thực tế rất chua chát của Việt Nam là việc chuẩn bị năng lực hội nhập rất là kém”.
“Chủ động hội nhập là nói cho vui thôi, còn chỉ có mấy ông đàm phán cứ hì hục đàm phán”, ông Thiên nhìn nhận.
Việc gia nhập WTO, theo Viện trưởng Thiên là bài học rất lớn, khi Việt Nam vào biển lớn trời cao, nhưng năng lực thị trường không có, cạnh tranh không có, nên cơ hội lại biến thành thách thức. Mà một trong những biểu hiện là Việt Nam đã không đỡ được dòng tiền chảy vào thị trường nhiều quá, nên lạm phát.
“Tại sao từ khi vào WTO thì Nhà nước phải chống đỡ nhiều hơn, xu thế hành chính hóa nền kinh tế, phân tán quyền lực lại tăng lên? Cần kiểm điểm nghiêm khắc và nghiêm túc”, ông Thiên nói.
“Vậy lần này chuẩn bị năng lực hội nhập đến đâu, hạm đội thuyền thúng ra khơi thế nào? Có khi còn tệ hơn lần trước ấy chứ không phải hay hơn đâu”, ông lo ngại.
Theo Viện trưởng Thiên, triển vọng gặt hái được cơ hội từ hội nhập là thấp. “Với lực lượng thế này chúng ta hội nhập thế nào, thì nên trả lời nghiêm khắc, nghiêm túc, chứ chơi với thế giới mà cứ ôm hôn, sau đó lại quại nhau thì không được”, ông bày tỏ quan điểm.
Bàn về bước đi sắp tới, ông Thiên cho rằng mọi nỗ lực phải nhằm vào hệ thống doanh nghiệp mà trụ cột phải là tập đoàn lớn, còn chỉ có doanh nghiệp nhỏ thì hạm đội thuyền thúng không thể nào ra khơi được.
Vấn đề nữa được vị chuyên gia này nhấn mạnh là hội nhập của Việt Nam khó nhất là bài toán với Trung Quốc. Khi mà công nghệ lạc hậu hàng hóa thừa họ chuyển sang ta, còn ta thì dễ dàng nhập và sử dụng thì liệu có phát triển được không?
Bàn thêm về chủ động chính sách trong hội nhập - vấn đề được nhiều vị đề cập, ông Thiên bình luận, từ trước đến nay ta có chủ động, nhưng là chủ động đánh cờ nước một, đến đâu hay đến đó chứ chưa chủ động từ tầm nhìn. Nói chủ động chỉ là an ủi, ông thẳng thắn. (Vneconomy 27/8) đầu trang(
VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN
“Tiền lương là một trong các yếu tố giá thành, tiền lương cao thì việc hội nhập kinh tế, xuất khẩu sẽ khó khăn”, Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi trao đổi với báo chí trước thềm Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2015 đang diễn ra tại Thanh Hóa.
Ông Lợi nói, trong giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam, tiền lương chiếm 18%, trong khi khu vực ASEAN chỉ khoảng 16%. Nên phải làm sao cân nhắc hài hoà lợi ích của người lao động và chủ sở hữu lao động.
“Tôi rất muốn giữa VCCI và đại diện công đoàn nên xác định mức tiền lương tối thiểu tăng lên 10% là hợp lý”, ông nói.
Tại sao 10% lại là hợp lý? Ông Lợi trả lời: Theo nghị quyết của Quốc hội thì năm 2016, CPI cố gắng dưới 5%, nhưng nay chưa đến 2%, nếu tính thêm một bước đến năm 2016, qua Tết, lạm phát khoảng 3 - 4%, năng suất lao động khoảng 3,7%. Nếu như với xu hướng phát triển 4 - 5%, thì hai yếu tố cấu thành tiền lương tối thiểu khoảng 7 - 8%.
Trước đây tôi cho rằng lương tối thiểu tăng 10 - 12% là hợp lý, nhưng qua phân tích vừa qua, tôi thấy CPI tăng không quá 2%, nên nếu nâng mức tăng lương tối thiểu của 2016 là 10% thì đảm bảo cho các doanh nghiệp tồn tại phát triển, tránh lợi bất cập hại, giữ việc làm cho người lao động, đảm bảo phát triển ổn định.
Người lao động có thể thiệt một chút, nhưng ở 10% thì cũng đảm bảo nhu cầu và lộ trình là đến năm 2018 lương tối thiểu mới đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu. Như vậy đảm bảo hài hoà lợi ích của ba chủ thể: người lao động, chủ lao động, và Nhà nước.
Không nên nói rằng sự đấu tranh giữa hai bên là xung đột, căng thẳng mà là sự hài hoà lợi ích , nên phải có sự thông cảm và chia sẻ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động. Để giữ cho doanh nghiệp phát triển, người lao động có việc làm”.
Lộ trình tăng lương tối thiểu từng năm rõ ràng, tuy nhiên VCCI cho rằng một số yếu tố về tăng lương chưa tính đến yếu tố thị trường? Về điều này, ông Lợi cho biết: “Điều 91 trong Luật Bảo hiểm xã hội đã xác định đến năm 2018 thì mọi khoản đóng mới tính trên toàn bộ thu nhập. Hai năm tới chưa tính theo tiền lương đầy đủ, nên nói vậy là chưa chuẩn”.
Nhưng hiện nay vẫn còn không ít băn khoăn về tính chính xác của con số về mức sống tối thiểu? Ông Lợi trả lời: “Theo điều 90 của Bộ luật Lao động, mức tiền lương tối thiểu là mức tiền lương thấp nhất của chủ lao động trả cho người lao động theo quy định của Chính phủ, đảm bảo ba yêu cầu: một là theo nhu cầu sống tối thiểu, đảm bảo yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, và ba là mức tiền lương trên thị trường lao động.
Hiện nay, thị trường lao động của Việt Nam đang hoàn thiện chưa đạt đến đỉnh cao nên cần có lộ trình, cần phải đảm bảo hài hòa lợi ích hai bên. Nếu đi quá, doanh nghiệp sẽ rất khó khăn. Trong ASEAN, chi phí lao động của doanh nghiệp Việt Nam là 18%, cao hơn của ASEAN là 16%, tức là chi phí lao động của chúng ta cao hơn, còn năng suất lao động của ta quá thấp.
Nguyên tắc tiền lương là tốc độ tăng tiền lương phải thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động, để có quá trình tái sản xuất và thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu chúng ta làm ít ăn nhiều thì không có tích luỹ, còn làm nhiều ăn ít thì không đáp ứng tái sản xuất sức lao động”.
Cũng có ý kiến cho rằng năng suất lao động không hoàn toàn do người lao động quyết định, mà có thể do giới chủ không chịu đầu tư để tăng năng suất? Về điều này, ông Lợi cho hay: “Năng suất lao động phải đáp ứng hai yêu cầu, một là kỹ năng của người lao động, hai là cải tiến tổ chức, công nghệ. Nhưng đây là tiền lương tối thiểu, là mức thấp nhất chủ lao động trả trong điều kiện bình thường, nên không nên đặt hoàn toàn lương tối thiểu trong yêu cầu tăng năng suất lao động”.
Nếu tăng lương 10% sẽ tác động thế nào đến ngân sách? Theo ông Lợi: “Tăng lương 10% thì cơ bản đáp ứng nhu cầu của người lao động, theo lộ trình. Nếu tăng quá thì doanh nghiệp khó khăn, thu hẹp, việc làm giảm, khi đó ngân sách cũng bị ảnh hưởng.
Tiền lương là một trong các yếu tố giá thành, tiền lương cao thì việc hội nhập kinh tế, xuất khẩu sẽ khó khăn”.
Vừa qua có rất nhiều tranh cãi về mức sống tối thiểu để từ đó tính lương tối thiểu, vậy liệu có cần đội ngũ độc lập tính toán về mức sống tối thiểu? Ông Lợi cho rằng: “Cách tính nhu cầu sống tối thiểu của các nước khác nhau. Một số nước tính theo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và 50% khẩu ăn theo, còn Việt Nam thì tính theo nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và 70% khẩu ăn theo, như vậy là cao hơn 20% các nước khu vực.
Một đất nước năng suất lao động đang thấp, tiền lương thấp mà an sinh xã hội đi trước một bước sẽ ảnh hưởng đến tiền lương. Vấn đề là ưu tiên cho phát triển sản xuất”.
Vậy là nhu cầu sống tối thiểu của Việt Nam đang tính theo mức cao? “Đúng vậy, như tôi đã trình bày ở trên. Điều đó chúng ta phải suy nghĩ để tính toán. Nếu cao quá trong khi năng suất lao động thấp, thì sẽ có điểm nghẽn trong phát triển kinh tế, làm tăng trưởng chậm lại.
Người lao động cũng phải đáp ứng nhu cầu tái sản xuất sức lao động, nhưng doanh nghiệp cũng phải tồn tại để tạo việc làm. Chúng ta phải tạo nguồn thu cho ngân sách. Nếu không nuôi dưỡng nguồn thu qua doanh nghiệp, thì cũng sẽ không có ngân sách.
Chúng ta đang phải đối mặt nhiều thay đổi, đồng Nhân dân tệ giảm giá, tỷ giá VND/USD điều chỉnh…. doanh nghiệp phải đối mặt nhiều khó khăn, nên phải duy trì sự phát triển cho doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu”, ông Lợi nói. (Vneconomy 27/8) đầu trang(
Báo Lao Động vừa nhận được ý kiến của ông Nguyễn Đăng Khoa - nguyên Chủ tịch CĐ Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ tại Miến Điện kiêm nhiệm Nepal, Pakistan và Bangladesh - về việc tăng lương tối thiểu vùng (LTTV) năm 2016.
Sau đây là ý kiến của ông: “Về việc tăng LTT cho NLĐ năm 2016, tôi hoàn toàn ủng hộ đề nghị và lập trường của Tổng LĐLĐVN về vấn đề này. Trước đây, Tổng LĐLĐVN cũng đã có lập trường đúng về vấn đề BHXH (bảo lưu quyền được nhận trợ cấp BHXH một lần).
Về lập luận, tôi xin nói thêm là cuối năm nay, cộng đồng ASEAN ra đời, LĐ là thị trường chung. Lương của NLĐ ta cần tăng lên thỏa đáng để tránh chảy máu LĐ, chảy máu chất xám. Hãy phấn đấu lương NLĐ ở vào tốp 6, tốp 4 ASEAN, chứ đừng để thua ngay trên sân nhà về thị trường LĐ. Rõ ràng, đây còn là vấn đề hội nhập, vấn đề cạnh tranh quốc tế.
VCCI nói rằng 70% số DN không có lãi. Tôi cũng nghe 50% số DN vốn đầu tư nước ngoài không có lãi. Nhưng đến nay, DN đầu tư nước ngoài không ai rút khỏi kinh doanh. Theo bản tin tài chính kinh doanh (tháng 7.2015), 6 tháng đầu năm nay, ôtô mới nhập về VN tăng trên 30%, Việt Nam vượt qua Singapore trở thành nước nhập xe ôtô đắt tiền nhất ở Đông Nam Á.
Bản tin này vào tháng 4.2014 đưa theo Tạp chí Wealth Report rằng: Không thể phủ nhận là không ít DN gặp khó khăn, nhưng DN cần hiểu rằng tái sản xuất sức LĐ thỏa đáng giúp tăng năng suất LĐ (tất nhiên DN cần đổi mới thiết bị, đào tạo, bồi dưỡng là nhân tố hàng đầu).
Việc tăng lương đúng mức cũng góp phần tăng sức mua, thúc đẩy sản xuất kinh doanh đi lên. Không nên coi tăng lương NLĐ là gánh nặng cho DN, cho nền kinh tế nói chung. Không phải ngẫu nhiên ta nâng mức chịu thuế thu nhập cá nhân từ 5 triệu đồng lên 9 triệu đồng và trừ gia cảnh 2 triệu, cộng là 11 triệu đồng. Như vậy, mặt bằng thu nhập xã hội tăng lên đáng kể. Do đó mức đề nghị của Tổng LĐLĐVN tăng lương cho NLĐ năm 2016 là hợp lý và thỏa đáng”. (Lao Động 28/8) đầu trang(
Bất kỳ một giải pháp kinh tế nào nếu quá mức sẽ mang lại những hệ lụy; Nhà nước cần cân nhắc kỹ việc tăng và mức độ tăng tiền lương tối thiểu vùng năm 2016.
Thông thường lương tối thiểu được hiểu là mức lương thấp nhất trả cho người lao động (NLĐ) làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường, đảm bảo định mức lao động và đủ để đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ.
Việt Nam hiện đang duy trì hai loại lương tối thiểu, đó là lương tối thiểu chung (từ năm 2015 gọi là lương cơ sở) và lương tối thiểu vùng. Lương tối thiểu chung được sử dụng làm căn cứ xác định mức lương khởi điểm bậc 1 trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định dành cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và NLĐ trong các doanh nghiệp nhà nước đến trước khi Nghị định 49/2013/NĐ-CP thay thế Nghị định 205/2004/NĐ-CP. Lương tối thiểu vùng áp dụng đối với NLĐ làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan tổ chức có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (HĐLĐ).
Ở Việt Nam, lương tối thiểu không chỉ là mức sàn trong hệ thống trả công lao động nhằm bảo vệ NLĐ thu nhập thấp, mà là căn cứ để xác định tiền lương trong hệ thống thang, bảng lương do Nhà nước quy định hoặc do doanh nghiệp tự xây dựng và làm căn cứ để trích nộp các khoản bảo hiểm, phí công đoàn, tính tiền làm thêm giờ... Như vậy, lương tối thiểu tăng là kéo theo hàng loạt các khoản trích nộp theo lương tăng.
Sau trên 10 năm liên tục tăng, lương tối thiểu chung và lương tối thiểu vùng (hiện nay lương cơ sở là 1.150.000 đồng; lương tối thiểu vùng 1 là 3,1 triệu đồng, vùng 2 là 2,75 triệu, vùng 3 là 2,4 triệu và vùng 4 là 2,15 triệu) có thể nói đã đạt mức tới hạn sức chịu đựng của ngân sách nhà nước (nguồn chi lương cho đối tượng hưởng lương từ ngân sách) và của doanh nghiệp (nguồn chi lương cho NLĐ theo hợp đồng lao động). Bằng chứng là từ năm 2014 đến nay, Nhà nước đã không thể có nguồn để tăng lương cơ sở mà chỉ điều chỉnh cho người nghỉ hưu và cán bộ công chức có mức lương từ 2,34 trở xuống.
Đối với lương tối thiểu vùng thì sao? Chỉ tính từ 1-1-2010 đến nay, lương tối thiểu vùng đối với các doanh nghiệp trong nước đã tăng từ 2,95 lần đến 3,16 lần, còn đối với doanh nghiệp nước ngoài đã tăng từ 2,15-2,3 lần (tùy theo từng vùng).
Không thể phủ nhận những tác động tích cực của việc tăng lương tối thiểu vùng trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, bất kỳ một giải pháp kinh tế nào nếu quá mức sẽ mang lại những hệ lụy.
Tác động đối với doanh nghiệp: Đối với các doanh nghiệp, tác động dễ nhận thấy nhất là tăng mức đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN).
Cùng với tăng lương tối thiểu vùng ở mức rất cao, tỷ lệ đóng BHXH của người sử dụng lao động (NSDLĐ) cũng tăng theo. Từ mức 15% trong năm 2010, cứ hai năm tiếp theo là phải đóng thêm 1% để đến năm 2014 đạt 18%. Tỷ lệ đóng BHXH của NLĐ từ 5% trong năm 2010 cũng đã lên đến 8% trong năm 2014. Hiện nay, NSDLĐ và NLĐ đóng bảo hiểm tổng cộng 32,5% (NSDLĐ đóng 22% gồm BHXH 18%, BHYT 3%, BHTN 1%; NLĐ đóng 10,5%, gồm BHXH 8%, BHYT 1,5%, BHTN 1%).
Lương tối thiểu vùng tăng đương nhiên các khoản nộp kinh phí công đoàn 2%, đoàn phí công đoàn 1%, tiền làm thêm giờ (ngành dệt may khoảng 300 giờ/năm), làm việc vào ban đêm tăng theo.
Tính sơ bộ, cứ mỗi đồng lương tối thiểu vùng tăng, doanh nghiệp phải tăng chi phí nhân công ít nhất lên gấp đôi. Riêng ngành dệt may Việt Nam, với khoảng 2,5 triệu lao động, lấy vùng 2 là vùng chuẩn để tính, khi tăng lương tối thiểu lên 300.000 đồng, chi phí nhân công cả ngành sẽ tăng thêm trên 20.000 tỉ đồng, đồng nghĩa với việc giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Tác động đối với người lao động: Nâng lương tối thiểu nếu được kiểm soát chặt chẽ sẽ có một số lượng nhất định NLĐ đang hưởng mức lương thấp hơn lương tối thiểu vùng được nâng lương (khoảng 10%) để không thấp hơn lương tối thiểu. Trường hợp “sức khỏe” của doanh nghiệp đủ mạnh, số NLĐ còn lại ít nhiều có thể được nâng theo.
Trường hợp doanh nghiệp chưa đủ mạnh, doanh nghiệp sẽ phải giảm thu nhập của đa số NLĐ từ phần lương “mềm” (hiện chiếm khoảng 30% thu nhập) để bù vào các khoản bảo hiểm, kinh phí công đoàn tăng thêm và dành một khoản nhất định chia cổ tức cho cổ đông. Các doanh nghiệp yếu, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ đứng trước nguy cơ ngừng sản xuất, phá sản.
Một điều rất đáng lưu tâm là theo số liệu của ngành thuế trong năm 2014, có tới trên 96% trong tổng số 483.000 doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, trong đó 70% kinh doanh không hiệu quả. Doanh nghiệp khó khăn không có tích lũy để đầu tư công nghệ, thiết bị mới để tăng năng suất lao động, đồng nghĩa với việc không có điều kiện tăng thu nhập một cách bền vững cho NLĐ.
Tác động đối với nền kinh tế: Nâng lương tối thiểu liên tục và ở mức cao, gắn với các khoản trích nộp theo lương cao sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp và giảm nguồn thu trực tiếp từ thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tác động gián tiếp là các doanh nghiệp trong nước không có khả năng đầu tư mở rộng sản xuất tạo việc làm, tuyển dụng lao động để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoài với ưu thế về vốn, công nghệ, quản lý... sẽ dần lấn át các doanh nghiệp trong nước và tận dụng những lợi thế mà các hiệp định tự do thương mại mang lại.
Doanh nghiệp trong nước chắc chắn sẽ thua ngay trên sân nhà. Không phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả các doanh nghiệp lớn và mạnh của ngành dệt may như Việt Tiến, Nhà Bè, Phong Phú, Việt Thắng, Đồng Nai, May 10, May Sông Hồng, May Hưng Yên.. đều lên tiếng phản đối tăng lương tối thiểu ở mức cao mà chỉ đề xuất tăng 6-7%.
Giải pháp giảm khó cho doanh nghiệp: Kinh tế Việt Nam đang ở trình độ phát triển tương đối thấp. GDP bình quân đầu người mới đạt trên 2.000 đô la Mỹ, đứng thứ bảy trong 10 nước ASEAN, chỉ trên Campuchia, Lào và Myanmar. Lương tối thiểu của ta cũng đứng ở vị trí tương tự. Tăng lương tối thiểu liên tục và ở mức cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Nhà nước cần cân nhắc kỹ việc tăng và mức độ tăng lương tối thiểu năm.
Thứ nhất, cần nghiên cứu tách tiền lương tối thiểu khỏi hệ thống thang, bảng lương doanh nghiệp tự xây dựng và không lấy đó làm căn cứ đóng các khoản phải trích nộp theo lương. Như vậy, doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật không được trả lương thấp hơn lương tối thiểu Nhà nước quy định và không phải lo đến các khoản chi phí tăng theo mỗi lần tăng lương tối thiểu.
Thang, bảng lương doanh nghiệp tự xây dựng có thể lấy lương cơ sở làm căn cứ như các doanh nghiệp nhà nước trước đây. Số bậc, hệ số, bội số được xây dựng phù hợp với điều kiện phức tạp, tiêu chuẩn kỹ thuật của công việc. Quy định như hiện nay, theo tôi, đã làm triệt tiêu tính linh hoạt và hiệu quả khi sử dụng tiền lương làm đòn bẩy kinh tế, do các doanh nghiệp chỉ xây dựng thang, bảng lương với số bậc ít nhất có thể để giảm các khoản trích nộp.
Thứ hai, tỷ lệ trích nộp các khoản bảo hiểm trên lương ở Việt Nam đang ở mức rất cao so với các nước trong khu vực. Doanh nghiệp Việt Nam đang phải đóng 22%, trong khi Malaysia 13%, Philippines 10%, Indonesia 8% và Thái Lan 5%. Đề nghị nghiên cứu giảm về mức hợp lý (khoảng 15%) và kiểm tra giám sát việc chi trả các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp, về hưu trước tuổi một cách chặt chẽ tránh trục lợi gây vỡ quỹ. Mức đóng quá cao hiện nay cũng là một nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trốn đóng, chậm đóng làm ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ.
Thứ ba, kinh phí công đoàn 2% đối với tất cả các doanh nghiệp và 1% đối với đoàn viên công đoàn và mức trích nộp lên cấp trên tới 35% kinh phí và 40% đoàn phí công đoàn là một số tiền không nhỏ. Đề nghị Tổng liên đoàn Lao động thể hiện sự chia sẻ với doanh nghiệp và hướng về cơ sở, quan tâm đến NLĐ bằng hành động cụ thể giảm đến mức tối thiểu tỷ lệ nộp lên cấp trên để cùng NSDLĐ chăm lo đời sống cho NLĐ tại doanh nghiệp. (TBKTSG-Online 28/8) đầu trang(
ĐỊA PHƯƠNG
Sáng 27-8, tại hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Quy định 1043 của Ban Thường vụ Thành ủy TP về phân công đảng viên trực tiếp làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở, Phó Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thị Thu Hà cho biết như trên.
Theo bà Hà, giai đoạn 2005-2014, số lượt đảng viên trên được phân công trực tiếp làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở trên nhiều lĩnh vực khác nhau như tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng văn minh đô thị, vận động chủ nhà trọ không tăng giá cho công nhân lao động thuê phòng… “Những hoạt động trên không chỉ góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương mà còn nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên về công tác dân vận” - bà Hà nói.
Bà Hà cũng chỉ ra những mặt hạn chế như một số cấp ủy chưa quan tâm đúng mức trong công tác chỉ đạo thực hiện Quy định 1043, nhiều nơi còn mang tính hình thức… Bà Hà đề nghị những người đứng đầu cấp ủy cần có giải pháp khắc phục tốt nhất trong thời gian tới. (Pháp Luật TP.HCM 28/8) đầu trang(
Ngày 27.8, UBND TP.HCM ban hành quyết định tăng lệ phí đăng ký ô tô, xe máy từ 1.9 (đăng ký lần đầu tại VN).
Cụ thể, thu 150.000 đồng/lần/xe đối với ô tô, trừ ô tô dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách; 11 triệu đồng (gấp 5,5 lần so với mức thu hiện tại) đối với ô tô dưới 10 chỗ ngồi (kể cả lái xe) trở xuống không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách; 150.000 đồng đối với sơ mi rơ moóc đăng ký rời, rơ moóc; 750.000 đồng đối với xe máy trị giá dưới 15 triệu đồng; 1,5 triệu đồng đối với xe máy trị giá từ 15 - 40 triệu đồng; 3 triệu đồng đối với xe máy trị giá trên 40 triệu đồng.
Toàn bộ số tiền thu được đều nộp vào ngân sách T.Ư. (Thanh Niên 28/8) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Trên các trang mạng xã hội rao bán thắt lưng, giày cấp úy, cấp tá, cấp tướng... cùng nhiều móc khóa, ví da bò, áo quần... in logo của ngành công an.
Lên mạng và các trang mạng xã hội (đặc biệt là mạng xã hội Facebook) gõ từ khóa “phụ kiện công an” sẽ thấy không ít thông tin rao bán đồ ngành công an như mũ bảo hiểm, thắt lưng, giày, móc khóa, ví da…
Trên các trang này, phần lớn đều cho số điện thoại, địa chỉ liên hệ công khai để ai cũng có thể mua dễ dàng. Khi chúng tôi gọi đến số điện thoại của một người tên A.D. (ở Hà Nội), người này nhanh nhảu giới thiệu: “Bên em bán nhiều hàng về ngành công an”. Người này nói tiếp, có giày cấp úy, cấp tá và cấp tướng giá dao động từ 400-600.000 đồng. Còn thắt lưng được bán với giá 320.000 đồng, mũ bảo hiểm 230.000 đồng. Nếu lấy hàng số lượng nhiều, sẽ giảm 15% đơn đặt hàng.
Ngoài những mặt hàng nêu trên, A.D. còn bán móc khóa công an giá 85.000 đồng, còi mạ vàng có logo công an dập nổi hai bên giá 120.000 đồng, ví da bò 450.000 đồng (khắc logo ngành công an), áo khoắc gắn logo ngành công an 190.000 đồng...
Khi chúng tôi đặt vấn đề về chất lượng của những mặt hàng này, D. nói, móc khóa ngành công an 100% da thật, khoen đeo bằng inox sáng bóng… Còn ví da bò khắc logo ngành công an và tên theo công nghệ khắc laser nên không sợ phai mờ. “Tụi em có máy khắc riêng để khắc lên ví, áo, túi xách, đảm bảo mua những hàng này chỉ có bên em mới “sản xuất” được; vừa độc, vừa đẹp mà lạ mắt”, D. nói với vẻ tự hào.
Đại tá Trần Văn Quảng, Phó trưởng phòng Phòng chống tệ nạn xã hội, Cục Cảnh sát hình sự - Bộ Công an cho biết, theo quy định của ngành, những mặt hàng như thắt lưng, giày cấp tướng, cấp tá của công ty thuộc ngành công an, không được bán ra ngoài. Việc cảnh phục, các phụ kiện của ngành công an được rao bán dễ bị kẻ xấu lợi dụng, mạo danh công an thực hiện hành vi lừa đảo...
Theo đại úy Nguyễn Nam Hào - Cơ quan CSĐT Bộ công an, việc lấy logo của ngành công an để in lên quần áo, móc khóa... là vi phạm về việc sử dụng hình ảnh không xin phép. Nếu sử dụng những mặt hàng này vào mục đích bất hợp pháp như lừa đảo, mạo danh công an thì phải xử lý hình sự. Riêng các phụ kiện lấy trực tiếp trên ve hàm chiến đấu của công an, logo ''CA'' dập nổi hai bên là không đúng với quy định và sẽ bị xử lý nghiêm nếu vi phạm. (Thanh Niên 28/8) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hiện nay, nhu cầu phân cấp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, nâng cao tính chủ động, linh hoạt, làm tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy công quyền càng trở nên cấp thiết.
Hiến pháp 2013 có đề cập nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương.
Luật Tổ chức chính quyền địa phương mới được Quốc hội thông qua có làm rõ vấn đề phân quyền, phân cấp, ủy quyền cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Sẽ có các luật quy định cụ thể hơn về phân quyền, phân cấp nhằm đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, trong đó có tháo gỡ những khó khăn trong quản lý của chính quyền địa phương, đặc biệt là đối với đô thị lớn như TPHCM.
Việc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp trên nguyên tắc bảo đảm quản lý nhà nước thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược và quy hoạch đối với các ngành và lĩnh vực, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia; phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương; kết hợp chặt chẽ quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ; phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị; chính quyền địa phương được đảm bảo nguồn lực và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp... Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp có trách nhiệm giám sát trong thực hiện phân quyền, phân cấp.
Thời gian qua, pháp luật nước ta chưa phân định rõ trong quản lý hành chính ở đô thị và nông thôn. Để đáp ứng yêu cầu phát triển, vừa qua, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo, lãnh đạo, tháo gỡ những vướng mắc cho TPHCM. Nghị định 93/2001 của Chính phủ phân cấp cho thành phố một số lĩnh vực về quy hoạch, kế hoạch đầu tư và phát triển kinh tế-xã hội; quản lý nhà đất và hạ tầng kỹ thuật đô thị; quản lý ngân sách; tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ công chức.
Tuy nhiên, do cơ chế, chính sách chưa đồng bộ, quá trình phân cấp mang tính tình thế, trong thực tế còn nhiều bất cập, làm hạn chế việc phát huy tiềm năng, nguồn lực của thành phố.
Về nội dung phân cấp cho địa phương, cần được xem xét mở rộng trên nhiều lĩnh vực. Hiện nay, các văn bản pháp luật như Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Bảo vệ môi trường... ban hành theo hướng tập trung thẩm quyền xử lý ở cấp trung ương. Trong lĩnh vực xây dựng, theo Luật Xây dựng 2014, dự án nhóm A sử dụng vốn ngân sách thành phố trước khi được UBND thành phố quyết định đầu tư thì phải được Bộ Xây dựng thẩm định toàn bộ dự án.
Theo quy định, Bộ Xây dựng phải có ý kiến thống nhất trước khi thành phố quyết định đầu tư đối với dự án từ 20ha đến dưới 100ha và những dự án không phân biệt nhóm A, B, C mà thuộc công trình cấp đặc biệt, cấp 1 đều phải chuyển Bộ Xây dựng, bộ quản lý xây dựng chuyên ngành thẩm định, phê duyệt thiết kế cơ sở, thiết kế dự toán, nghiệm thu hoàn thành công trình.
Về ngân sách, mọi quyền lực tập trung vào ngân sách trung ương, ngân sách cấp dưới phụ thuộc và lồng ghép vào ngân sách cấp trên. Mặc dù TPHCM có được phân cấp nhưng quyền tự chủ trong quyết định các khoản thu ngân sách bị hạn chế, phân định nhiệm vụ chi còn bất cập và những khó khăn trong vay nợ, trả nợ...
Về lĩnh vực tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ, công chức, việc xác định và phân bổ chỉ tiêu biên chế hàng năm của các tỉnh, thành phố vẫn trên cơ sở tổng biên chế được Thủ tướng phê duyệt. Biên chế công chức làm việc tại cấp xã thực hiện theo quy định chung. Có những phường, xã dân cư đông, số lượng có được tăng thêm nhưng không tương xứng.
Cùng với phân cấp, những vấn đề liên quan cơ chế liên kết, hợp tác trong vùng để phát huy thế mạnh của mỗi địa phương và cả vùng, khắc phục tình trạng “cạnh tranh đang lấn át hợp tác” giữa các địa phương trong vùng và trong nước hiện nay.
Phân cấp, phân quyền là nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý hành chính nhằm phát huy mạnh mẽ tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương. Đối với TPHCM, trung ương cần đẩy mạnh phân cấp, tạo điều kiện thực hiện xây dựng chính quyền đô thị và xem đây là khâu đột phá trong phân cấp, tạo cho thành phố có cơ chế đặc thù để phát huy tối đa thế mạnh, đón bắt cơ hội phát triển trong xu thế hội nhập, đóng góp ngày càng lớn hơn cho sự phát triển chung của cả nước. (Sài Gòn Giải Phóng 28/8) đầu trang(
Năm 2012, Phó Viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia - PGS-TS Lê Bạch Mai - đã gây sốc dư luận khi lần đầu tiên nói đến tình trạng người lao động đang rơi vào tình trạng “như ăn thịt mình”.
Những khảo sát của viện năm đó cho thấy chất lượng bữa ăn của công nhân không khác gì hai chữ “tồi tệ” khi trong khẩu phần ăn chỉ có 12% protein (chất đạm), 16% chất béo…
“Khi năng lượng khẩu phần ăn không đủ thì (cơ thể) phải sử dụng nguồn năng lượng dự trữ của mình. Khi đó khối cơ của người lao động bị bào mòn, bị lấy đi hằng ngày… và họ rơi vào thực trạng “như ăn thịt mình” - bà Mai nói.
Vâng, 90% số bữa ăn công nhân không đủ dinh dưỡng. Vâng, 30% số công nhân bị suy dinh dưỡng do chế độ ăn thiếu chất nghiêm trọng.
Xin đừng ai đó đặt câu hỏi “tại sao” trước việc người lao động “tự cắt giảm” chỉ dành 27,3% thu nhập cho việc ăn uống (trong bình quân chi tiêu cho ăn uống của người dân TPHCM là 40% thu nhập). Lương tối thiểu không đáp ứng đủ nhu cầu sống tối thiểu thì phải cắt giảm thôi!
Xin đừng ai nói 20% số người lao động (NLĐ) phải “bỏ ăn ít nhất 1 lần trong ngày” là vì muốn… giảm cân, làm đẹp. Vô vàn và khắp nơi là tình cảnh “nồi canh rau lõm bõm và dăm con cá mặn to cỡ ngón tay” trong những “bữa cơm 4.000 đồng”, hay “mớ rau nhàu, miếng tàu hũ, sang lắm thì có thêm quả trứng” - như đã được phản ánh trước Quốc hội - đang cho thấy “căn bệnh” mà TS Lê Bạch Mai đã nói ở trên: Cắt giảm chi tiêu vào chính bữa ăn, về nguyên tắc là để tái tạo sức lao động âu cũng là sự bất đắc dĩ giống hệt như bần cùng!
Phải thẳng thắn là tình trạng suy dinh dưỡng, hay con số vài chục phần trăm NLĐ có sức khỏe ở mức từ kém tới rất kém - chưa kể tỉ lệ % các bệnh nghề nghiệp đang tăng cao - chính là hậu quả của các cuộc mặc cả lương tối thiểu suốt hơn 2 thập niên qua.
Và liệu có phải là cưỡng từ đoạt lý, liệu có phải là nhẫn tâm nếu buộc những “bệnh nhân tự ăn thịt mình” đó phải tăng năng suất lao động “thì mới nói đến chuyện tăng lương”?
Hôm 25.8, sau cái lắc đầu của giới chủ, có người đã bình luận vô cùng đau đớn rằng “năng suất lao động đang bị bắt làm con tin”. Rằng ừ thì lương “Chưa chết đói. Nhưng sẽ đói đến lúc chết”.
Có lẽ, việc tăng lương tối thiểu lần này phải được nhìn nhận một cách thẳng thắn. Thẳng từ chuyện lương tối thiểu đang rẻ như là bóc lột. Thẳng cả đến sự lầm than trong cái tối thiểu nhất là bữa ăn của NLĐ. Và phải thẳng để kết thúc món nợ “đủ sống” mà chúng ta đang buộc NLĐ phải cam chịu từ ít nhất 2 thập kỷ nay. Một món nợ đồng nghĩa với việc buộc không ít NLĐ phải “tự ăn thịt mình”! (Lao Động 28/8) đầu trang( ./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||