|
Ngày 22 tháng 09 năm 2011
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
KINH TẾ
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TIN TỨC - SỰ KIỆN
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Các chuyên gia kiến nghị thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai và hướng đến đa dạng hóa sở hữu đất đai.
Vấn đề sở hữu đất đai như thế nào: sở hữu toàn dân hay sở hữu Nhà nước; có công nhận sở hữu tư nhân hay không... là nội dung nhận được nhiều ý kiến góp ý sôi nổi của các chuyên gia, luật sư tại hội thảo Hoàn thiện báo cáo rà soát Luật Đất đai 2003 và Luật Kinh doanh bất động sản do Phòng thương mại và công nghiệp VN (VCCI) tổ chức tại Hà Nội ngày 21-9. Để giải quyết những bức xúc liên quan đến đất đai hiện nay, hầu hết các ý kiến cho rằng phải sửa Luật Đất đai từ gốc vấn đề sở hữu. Đó là phải thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai và hướng đến đa dạng hóa sở hữu đất đai.
Theo luật sư Nguyễn Tiến Lập, Công ty Quang và cộng sự, sau nhiều năm thực hiện Luật Đất đai đã nổi lên nhiều vấn đề mà ai cũng có thể nhìn thấy. Đó là tình trạng giá cả đất đai tăng chóng mặt và không bình thường. Quan hệ cung cầu về nhà ở tiếp tục mất cân đối khi thực tế nhà nhiều nhưng người dân không có tiền mua và nhà để trống trong khi người dân vẫn cứ thiếu chỗ ở. Vốn đầu tư của xã hội tập trung một cách mất cân đối vào khu vực bất động sản. Giảm quá nhiều đất nông nghiệp và đất trồng lúa đồng thời với việc nông dân mất ruộng và bỏ ruộng. Tranh chấp và khiếu kiện về đất đai bùng nổ. Một tầng lớp đại gia hình thành từ đầu cơ, kinh doanh bất động sản do trục lợi từ cơ chế chính sách, góp phần làm rộng hơn khoảng cách giàu nghèo...
Luật sư Trương Thanh Đức, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Hàng hải, cũng liệt kê 21 vấn đề gây nhiều bức xúc oái oăm, rắc rối nhất cho cuộc sống và sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực đất đai mà luật chưa giải quyết được.
Xét về mặt chính sách, luật sư Lập cho rằng chính sách đất đai hiện nay vẫn nặng nề kiểm soát trong khi không kiểm soát được, thậm chí không có định hướng, mục tiêu rõ ràng trong kiểm soát. “Chúng ta muốn kiểm soát toàn diện về đất đai từ quy hoạch, cấp đất, sử dụng đất, thu hồi đất đến giá cả thị trường và quyền kinh doanh bất động sản. Tuy nhiên, thực tế cho thấy quy hoạch phải sửa đổi thường xuyên, cấp đất tràn lan, thu hồi đất không bồi thường thỏa đáng dẫn đến khiếu kiện, giá cả tăng và nhiều biến động...” - ông Lập nói.
Phân tích về vấn đề sở hữu đất đai, đại diện nhóm nghiên cứu, TS Trần Quang Huy, Trưởng bộ môn Đất đai (khoa Pháp luật kinh tế ĐH Luật Hà Nội), cho rằng cần làm rõ khái niệm “sở hữu toàn dân” vì khái niệm này trừu tượng, không có chủ thể thực. Có thể nên nghiên cứu bỏ khái niệm “sở hữu toàn dân”, thay bằng “sở hữu Nhà nước”.
Tuy nhiên, luật sư Đức cho rằng báo cáo rà soát Luật Đất đai dường như vẫn chưa đi vào cốt lõi của vấn đề, chưa công phá những tảng bê tông đang chèn ép, đè nén, bóp méo và vô hiệu hóa Luật Đất đai. “Thực ra, sở hữu “toàn dân” hay “Nhà nước” thì cũng vẫn chỉ là sách vở, chẳng có gì thay đổi cả. Trong khi lý luận và thực tế cuộc sống đòi hỏi công nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Nếu không thừa nhận vấn đề gốc rễ căn bản đó thì dù có sửa Luật Đất đai bao nhiêu lần nữa cũng vẫn không thoát khỏi tù mù, nhập nhằng, bất cập. Sửa đổi Luật Đất đai mà không sửa được cơ bản về quyền sở hữu đất thì hãy kết thúc vấn đề cho khỏi tổn công, phí sức” - ông Đức bức xúc.
Luật sư Lập cũng cho rằng việc rà soát Luật Đất đai cần mạnh dạn đụng chạm vào những vấn đề cốt lõi, bao gồm cả cách tiếp cận vấn đề theo hướng bản chất. Đặc biệt, sửa Luật Đất đai phải đặt trong bối cảnh nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp năm 1992 hơn là chỉ đi vào lối cũ sửa luật để gỡ vướng mắc cụ thể và đơn lẻ nảy sinh từ thực tế rồi cứ như vậy mãi.
“Sở hữu toàn dân hay trạng thái vô chủ về đất đai đã vô tình tạo điều kiện cho sự lạm dụng tràn lan trong việc sử dụng quỹ đất cho lợi ích của các nhóm tư nhân hơn là lợi ích của toàn dân. Thay cho sở hữu toàn dân về đất đai sẽ là sự đa dạng hóa sở hữu đất đai như: sở hữu quốc gia do trung ương quản lý, sở hữu của chính quyền địa phương, sở hữu của cộng đồng dân cư, sở hữu của pháp nhân và sở hữu của cá nhân” - luật sư Lập đề xuất.
Đồng tình với đề xuất này, luật sư Đỗ Trọng Hải, Công ty Luật Bizlink, nhấn mạnh: “Đã đến lúc xem xét lại vấn đề sở hữu đất đai theo hướng đa dạng hóa sở hữu. Hầu hết các nước trên thế giới đều công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai. Có đa dạng hóa sở hữu thì mới tránh được những xáo trộn hiện nay và hợp với thông lệ quốc tế. Cho dù có là sở hữu gì, khi đụng đến những vấn đề về an ninh quốc gia thì Nhà nước vẫn đương nhiên được quyền quyết định”.
TS Phạm Sỹ Liêm - Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam cho biết: “Điều 23 Hiến pháp 1992 quy định “trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường”, trong khi Điều 38 Luật Đất đai ngoài quy định đó còn bổ sung thêm “lợi ích công cộng, phát triển kinh tế”! Vậy luật có quyền quy định như thế không, có vi hiến không?
Tôi chưa thấy một quốc gia nào đưa phát triển kinh tế vào mục đích thu hồi đất. Dù rằng Điều 40 Luật Đất đai xác định mục đích phát triển kinh tế chỉ là “xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” thì vẫn là không nên. Người dân có quyền hỏi: Thế thu hồi đất nông nghiệp để cấp cho dự án sân golf thì vì mục đích cao cả nào vậy?
Vì mở rộng tràn lan phạm vi thu hồi đất ra quá tầm kiểm soát như vậy nên không có gì lạ khi thu hồi đất đã trở thành tiêu điểm của phần lớn bất ổn xã hội và cũng là cơ hội tham nhũng cho một số quan chức.
Tôi đề nghị phải thi hành đúng hiến pháp, nếu muốn thì có thể thay lợi ích quốc gia thành lợi ích công cộng như thông lệ các nước, vì đã là lợi ích công cộng thì đã bao hàm lợi ích quốc gia rồi!”.
Tại hội thảo, luật sư Trương Thanh Đức, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Hàng hải, chỉ ra bảy cái nhất kinh khủng trong lĩnh vực đất đai. Đó là: Lãng phí tài nguyên, công của nhiều nhất; lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực nhiều nhất; giao dịch phi pháp, mập mờ nhiều nhất; kiện cáo nhức nhối, phức tạp nhiều nhất; hậu quả ngang trái, oan sai nhiều nhất; khuyến khích bội tín, lật lọng nhiều nhất; chống lại tử tế, lương thiện nhiều nhất.
Trước đó, tại một hội thảo do Kiểm toán Nhà nước tổ chức ngày 15-9, ông Phạm Đình Cường, Cục trưởng Cục Quản lý Công sản (Bộ Tài chính), cũng nhận định: Tổng kết lĩnh vực đất đai ở Việt Nam thời gian qua cho thấy có ba cái nhất. Một là không được lòng dân nhất, hai là có nhiều biểu hiện tiêu cực nhất, ba là thất thoát nhiều nhất. (Pháp Luật TP.HCM 22/9) đầu trang(
Bộ Tài chính đã chính thức chọn hai doanh nghiệp triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp nhằm giảm rủi ro cho nông dân, tuy nhiên, tại hội nghị triển khai ngày 21-9, đại diện nhiều tỉnh thành khẳng định cơ chế hiện tại vẫn khó cho nông dân.
Theo quyết định 315 của Thủ tướng, Nhà nước sẽ hỗ trợ 100% phí bảo hiểm nông nghiệp cho hộ, cá nhân nghèo; hỗ trợ 80% phí bảo hiểm cho nông dân, cá nhân cận nghèo; hỗ trợ 60% phí bảo hiểm cho hộ nông dân không thuộc diện nghèo, cận nghèo sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm. Các tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm sẽ được hỗ trợ 20% phí.
Hai doanh nghiệp được chọn là Bảo Việt và Bảo Minh. Nguyên tắc triển khai là doanh nghiệp không được tính lợi nhuận và phải hạch toán riêng khoản thu từ bảo hiểm nông nghiệp.
Theo ông Trịnh Thanh Hoan - cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Bộ Tài chính, năm 2010 nông nghiệp đóng góp tới 20% GDP. Tuy nhiên nông dân vẫn gặp nhiều rủi ro và riêng năm 2010, tổng thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh đã lên đến 11.700 tỉ đồng. Nhà nước đã hỗ trợ từ ngân sách nhưng đây mới là chi cho cuộc sống tối thiểu chứ chưa giúp nông dân khôi phục và bù đắp chi phí sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, bảo hiểm là lối ra khả dĩ nhất và đến nay đã đầy đủ các yếu tố để thực hiện.
Phát biểu tại hội nghị, ông Đoàn Ngọc Hải, phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn An Giang, thừa nhận bảo hiểm nông nghiệp sẽ giúp nông dân bớt đối mặt với khả năng mất trắng. Tuy nhiên theo ông Hải, với mức phí bảo hiểm mà các doanh nghiệp, như Bảo Minh đưa ra, lên tới 4% giá trị mùa vụ là quá lớn với nông dân. “Dân chưa quen với bảo hiểm, ngay cả với bảo hiểm y tế có hỗ trợ một phần nhưng người cận nghèo còn ít đóng, doanh nghiệp đưa ra phí cao như vậy dân sẽ khó được bảo hiểm”.
Phân tích mức phí 4% trên sản lượng mùa vụ, ông Đoàn Ngọc Hải cho rằng tính ra mỗi hecta lúa nông dân sẽ phải đóng trên 3 triệu đồng, mỗi công đất 300.000 đồng. Cây lúa đang phải chịu nhiều chi phí nên với đóng góp như trên, ông Hải cho rằng sẽ khó thực hiện. Mức nông dân có thể chịu đựng được, ông Hải đề nghị là 1% trên sản lượng, doanh nghiệp cần giảm phí để nông dân được lợi.
Ông Phùng Văn Lộc, tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm, cho rằng các bộ đã chọn diện được thí điểm quá ít, rất khó cho doanh nghiệp lấy số đông đóng phí để bù số ít bị rủi ro phải chi trả bảo hiểm. “Thí điểm để nhân rộng chứ không phải để xếp xó, mà chọn ba huyện, mỗi huyện ba xã với lúa là quá ít” - ông Lộc nói và đề nghị cần xem lại cả cách lấy số liệu làm cơ sở đền bù thiệt hại cho nông dân. Khi bị thiệt hại, cơ quan bảo hiểm phải căn cứ vào sản lượng trung bình trong năm năm gần nhất. Trong khi sản lượng luôn tăng, lại lấy giá trị trung bình khoảng thời gian quá dài sẽ thiệt cho dân, vì vậy ông Lộc đề nghị chỉ lấy sản lượng trung bình của ba năm để dân được lợi.
Cũng theo ông Phùng Văn Lộc, hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn là nông dân phải đạt quy trình sản xuất khá tốt mới được bảo hiểm. “Như vậy, để đạt được các tiêu chuẩn trên thì phải là hộ khá giàu rồi mới có thể được bảo hiểm. Mục đích bảo hiểm cho hộ nghèo sẽ khó đạt được vì như thế chúng ta chủ yếu bảo hiểm cho hộ giàu”...
Hầu hết ý kiến của đại diện tỉnh thành tại hội nghị đều cho rằng với việc liệt kê các dạng thiên tai, dịch bệnh được bảo hiểm của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, nhiều loại hình thiên tai thường xuyên gây thiệt hại cho nông dân sẽ không được bảo hiểm. Ví dụ thiệt hại do mưa to, ngập úng, dông tố và nhiều loại bệnh mới phổ biến... không được bảo hiểm sẽ khó thuyết phục nông dân.
Đặc biệt, ông Đoàn Ngọc Hải cho rằng quy định năng suất phải thấp hơn 75% mới được bảo hiểm là không có lợi cho dân vì năng suất đang ngày càng được nâng lên. Ông Hải đề nghị cần sửa lại quy định để năng suất đạt thấp hơn 85% cũng được bảo hiểm mới thật sự giúp dân nghèo. (Tuổi Trẻ 22/9) đầu trang(
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa ký ban hành Nghị định 83/2011/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực viễn thông.
Theo đó, hành vi tiết lộ trái phép nội dung thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng; hành vi mua bán hoặc trao đổi trái phép thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông bị phạt từ 30-50 triệu đồng. Ngoài ra, phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi thu trộm, nghe trộm thông tin trên mạng viễn thông; đánh cắp và sử dụng trái phép mật khẩu, khóa mật mã, thông tin riêng của tổ chức, cá nhân; ngăn cản bất hợp pháp việc truy nhập thông tin của tổ chức, cá nhân.
Các hành vi như lợi dụng hoạt động viễn thông nhằm kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan; gửi phát tán tin nhắn rác; dịch vụ cung cấp có nội dung thông tin bói toán, mê tín dị đoan; thông tin có nội dung cờ bạc, lô đề hoặc để phục vụ chơi cờ bạc, lô đề bị phạt từ 30-50 triệu đồng… (Người Lao Động 22/9) đầu trang(
QUẢN LÝ
Tại cuộc làm việc sáng 20/9, báo cáo với Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh cho biết: 8 tháng đầu năm, ngành thanh tra đã có 5.950 cuộc thanh tra hành chính và 64.788 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành.
Cơ quan thanh tra đã phát hiện thiếu sót, sai phạm về kinh tế là 4.585 tỷ đồng, 1.972ha đất, kiến nghị thu hồi 1.476 tỷ đồng, 1.937ha đất, đề nghị xử lý kỷ luật hành chính với 275 tập thể, 766 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý 29 vụ việc, xử phạt vi phạm hành chính 196.438 tổ chức, cá nhân với số tiền 1.361 tỷ đồng (đã thu hồi 119 tỷ đồng). Đến nay, đã có 13 bộ, ngành, cơ quan trung ương và 11 địa phương báo cáo hoàn thành 100% việc kê khai tài sản, thu nhập năm 2010.
Phát biểu tại cuộc làm việc, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lưu ý, ngành thanh tra sớm khắc phục tồn tại như các cuộc thanh tra kéo dài, kết luận lớn nhưng thu hồi ít…
Toàn bộ 21.000 cán bộ thanh tra trong cả nước cần đi đầu trong phòng chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo cho dân, có kiến thức sâu rộng ở các lĩnh vực, giữ gìn đạo đức, lối sống, vững vàng chuyên môn, bản lĩnh để bảo vệ sự thật, bảo vệ công lý. (Nông Thôn Ngày Nay 21/9) đầu trang(
Theo nguồn tin, đại diện Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng vừa có buổi làm việc với 7 doanh nghiệp dược phía Nam xung quanh nội dung đơn kiến nghị của họ về Cục trưởng Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), tức ông Trương Quốc Cường.
Các doanh nghiệp đề nghị làm rõ dấu hiệu được cho là bất thường của Cục trưởng Cục Quản lý Dược trong việc duyệt dự trù mua nguyên liệu tiền chất Pseudoephedrin HCL thời gian qua. Việc xét duyệt dự trù mua nguyên liệu tiền chất này đòi hỏi hết sức thận trọng, nhưng không hiểu vì sao có doanh nghiệp được Cục Quản lý Dược đồng ý duyệt mua bổ sung chỉ trong một ngày kể từ khi họ làm đơn.
Theo phản ánh của các doanh nghiệp, Cục trưởng Cục Quản lý Dược có dấu hiệu ưu ái một số doanh nghiệp dược khác trong đấu thầu thuốc, cấp số đăng ký thuốc. (Tiền Phong 22/9) đầu trang(
Ngày 21/9, Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Đà Lạt cho biết đã có quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo ông Trần Anh Quốc, Chủ tịch UBND xã Xuân Trường. Ông Quốc bị kỷ luật vì liên quan đến 2 vụ việc: uống rượu, đánh và nhục mạ người dân.
Đêm 3/8/2011, sau khi uống rượu, ông Quốc đã triệu tập ông Nguyễn Phong (trú xã Trạm Hành) đến trụ sở Công an xã Xuân Trường và đánh ông Phong. Đêm 5/8/2011, trong lúc đang có hơi men, ông Quốc đã dùng lời lẽ thô tục chửi bới và dọa đánh ông Lê Văn Khoa (trú xã Xuân Trường) trước sự chứng kiến của nhiều người. (Sài Gòn Giải Phóng 22/9) đầu trang(
NHÂN SỰ
Ông Nguyễn Đức Hiền, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội được bổ nhiệm làm Trưởng ban Dân nguyện nhiệm kỳ Quốc hội 2011-2016.
Chiều 21/9, tại Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã trao Nghị quyết 222/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Hiền giữ chức Trưởng ban Dân nguyện.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng mong muốn trên cương vị mới, ông Nguyễn Đức Hiền cùng tập thể sẽ gắn bó, đoàn kết, phát huy sức mạnh tập thể; trên cơ sở kế thừa kết quả đã đạt được của Ban Dân nguyện, đề xuất sáng kiến, đổi mới, góp phần để công tác dân nguyện ngày càng tốt hơn vì mục đích gần dân, lắng nghe dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. (Chính phủ 21/9) đầu trang(
Ngày 21-9, ông Vũ Đăng Minh - vụ trưởng Vụ Công tác thanh niên (Bộ Nội vụ), trưởng ban chỉ đạo dự án tuyển chọn 600 trí thức trẻ về làm phó chủ tịch xã tại 62 huyện nghèo - cho biết đã tuyển chọn được 140 trí thức trẻ (từ 1.500 hồ sơ gửi về) cho dự án tại bảy tỉnh gồm Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Bắc Giang, Quảng Nam, Ninh Thuận và Lâm Đồng.
Ông Minh cho hay sau khi trúng tuyển, các học viên được đào tạo tập trung theo từng cụm địa phương với khóa học kéo dài ba tháng. “Sau khóa đào tạo, nếu học viên không đáp ứng được hoặc quá trình hoạt động tại cơ sở yếu kém sẽ bị xem xét loại khỏi dự án” - ông Minh cho biết. (Tuổi Trẻ 22/9) đầu trang(
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
Để chủ động phòng ngừa và thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ về quy trình tuần tra, kiểm soát giao thông; chấn chỉnh tư thế tác phong công tác, Bộ Công an yêu cầu công an các địa phương:
Chủ động đề xuất giám đốc công an tỉnh, thành phố tổ chức các cuộc kiểm tra đặc biệt nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai phạm của cán bộ chiến sỹ công an trong khi thi hành nhiệm vụ; xử lý nghiêm khắc các hành vi những nhiễu, đòi, nhận tiền mãi lộ của lái xe, phụ xe dưới bất kỳ hình thức nào và trách nhiệm liên đới của lãnh đạo, chỉ huy.
Thông tin thường xuyên số điện thoại đường dây nóng để quần chúng nhân dân biết, kịp thời phản ánh những sai phạm của cán bộ chiến sĩ công an, đồng thời phải xử lý thông tin nhận được theo đúng quy trình và có trách nhiệm bảo vệ, động viên khen thưởng đối với những quần chúng tích cực hợp tác với tinh thần xây dựng.
Thanh tra Bộ sẽ tăng cường tổ chức kiểm tra đột xuất trên một số địa bàn và kiểm tra trách nhiệm của công an đơn vị, địa phương trong việc tổ chức, thực hiện các biện pháp chủ động phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực này. (Giao Thông Vận Tải 22/9) đầu trang(
Tham nhũng đã và đang là một đại họa của đất nước ta, vì vậy, trước tình trạng đó, có ý kiến cho rằng, do thu nhập của công chức, viên chức quá thấp nên khó có được một “phác đồ điều trị” hữu hiệu.
Trước hết, những công chức, viên chức ở các cơ quan công quyền, hưởng mức lương thấp không đủ sống nên phải tìm cách kiếm thêm thu nhập qua những phong bì “bồi dưỡng” của công dân, doanh nghiệp khi có công việc liên quan. Đó là dạng tham nhũng lặt vặt và dường như nhiều người đã chấp nhận nó kiểu như “sống chung với lũ”!
Tuy nhiên, không nên coi thường những hành vi tham nhũng lặt vặt bởi số tiền tuy nhỏ nhưng cộng lại sẽ vô cùng lớn. Hơn nữa, nếu được cho qua thì kẻ tham nhũng sẽ thực hiện những hành vi tham nhũng lớn hơn.
Cho rằng nâng lương cho công chức, viên chức lên gấp 2-3 lần hiện nay thì tham nhũng lặt vặt sẽ biến mất là không đúng. Bởi thời gian qua đã có rất nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử mà người đứng trước vành móng ngựa đâu phải có thu nhập thấp! Đó là những cán bộ có chức, có quyền, lương cao và các chế độ khác đảm bảo có một cuộc sống sung túc.
Vì sao vậy? Vì lòng tham của những con người đó là vô hạn. Họ đã giàu rồi nhưng lại luôn muốn được giàu thêm. Hơn nữa, do quyền lực tạo ra một khoản thu nhập cho người có nó nên không ít trường hợp phải chạy chọt để có chức, quyền và đã phải chi phí không ít. Đó là một khoản “đầu tư” và khi đã có chức, có quyền, người ta phải tìm cách thu hồi.
Như vậy, có thể thấy thu nhập thấp không phải là nguyên nhân chính của nạn tham nhũng. Nói như vậy không có nghĩa là không quan tâm gì đến thu nhập, đời sống của cán bộ, công chức. Bởi không thể hô hào một người cống hiến khi họ không có thu nhập để trang trải những nhu cầu ở mức trung bình của xã hội.
Tuy nhiên, điều cần hơn là phải có sự công khai, minh bạch trong quản lý và điều hành. Chẳng hạn, rất cần công khai, minh bạch về thu nhập của cán bộ, công chức. Vì sao một công chức bình thường, một cảnh sát giao thông với quân hàm cấp úy..., mức lương rất khiêm tốn nhưng lại dễ dàng mua nhà lầu, xe hơi đắt tiền hoặc chu cấp cho con đi du học nước ngoài mỗi năm tới hàng trăm ngàn đô la Mỹ?
Bên cạnh đó, cũng cần áp dụng những biện pháp tạo ra sự gắn bó mật thiết giữa thu nhập của cán bộ, công chức với sự liêm khiết, nghiêm túc của họ trong khi thi hành công vụ. Hiện nay, trong các công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, các chức danh quản lý chỉ được tạm ứng 70% mức lương hàng tháng theo quy định, số còn lại sẽ được thanh toán vào cuối năm nếu hoàn thành nhiệm vụ, không bị kỷ luật. Tại sao chúng ta không áp dụng biện pháp đó đối với các cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền? Singapore đã áp dụng biện pháp đó và họ đã xây dựng được một chính phủ trong sạch đứng thứ hai trên thế giới. (TBKTSG-Online 21/9) đầu trang(
KINH TẾ
Giám sát 15 khu kinh tế và 48 làng nghề, đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã bật đèn đỏ cảnh báo thực trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do chạy theo mục tiêu tăng thu ngân sách, tăng trưởng kinh tế, bất chấp những hậu quả lộ rõ.
Sáng 21/9, đoàn giám sát của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Kim Ngân chủ trì đã họp với các bộ, ngành về kết quả bước đầu chuyên đề giám sát bảo vệ môi trường ở các khu kinh tế ven biển và làng nghề.
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở nhiều làng nghề được đánh giá "đáng báo động". Tuy nhiên, giải pháp khắc phục lại không dễ trong bối cảnh các tỉnh thành đều nỗ lực chạy theo mục tiêu tăng thu ngân sách, tăng trưởng kinh tế.
Theo đánh giá của đoàn giám sát sau khi thực tế tại 15 khu kinh tế và 48 làng nghề, việc xây dựng hạ tầng bảo vệ môi trường đang rất chậm ở hầu hết các khu kinh tế hiện nay và với tốc độ phát triển của khu kinh tế trong tương lai thì nguy cơ ô nhiễm môi trường là tất yếu.
Như kết luận thanh tra của Bộ TN&MT tiến hành từ 2009 đến nay, nhiều cơ sở chưa thực hiện nghiêm túc cam kết bảo vệ môi trường, thường xuyên xả nước thải chưa xử lý ra ngoài môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép (có nơi 10 lần đến vài chục lần). Một số nơi, các cơ sở hệ thống xử lý nước thải chỉ hoạt động khi có đoàn thanh tra, kiểm tra tới. Hầu hết các khu kinh tế đều không có trạm quan trắc không khí.
Trong bối cảnh đó, việc hậu kiểm đánh giá tác động môi trường chưa được thực hiện thường xuyên và kiên quyết. Hầu như chưa áp dụng hình thức xử lý nghiêm với sai phạm. Mức quy định xử phạt hành chính hiện nay quá thấp so với chi phí mà doanh nghiệp (DN) bỏ ra đầu tư hệ thống xử lý, chi phí vận hành.
Theo Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến, kinh phí cho bảo vệ môi trường ở các khu kinh tế cao nhất là 618 triệu đồng (Hà Tĩnh, năm 2009). Có nơi như khu kinh tế Vân Phong (Khánh Hoà) lần lượt các năm 2009 và 2010 chỉ "rót" 10 và 30 triệu đồng. Nhiều tỉnh còn không bố trí ngân sách.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Diệp Kính Tần thì phàn nàn, trước đây về với nông thôn rất thanh bình, nhưng đến nay chỉ thấy ô nhiễm. Theo ông Chí, tỷ trọng đóng góp của các làng nghề từ sản phẩm xuất khẩu chỉ thu được khoảng 1 tỷ USD nhưng hậu quả để lại sau 5 - 10 năm tới là vô cùng nghiêm trọng.
Ô nhiễm môi trường làng nghề khiến cảnh quan nông thôn bị phá vỡ. Đa số cơ sở sản xuất đều dùng công nghệ lạc hậu, thủ công, chắp vá và tiêu hao nhiên liệu. Với nếp sống tiểu nông chỉ quan tâm lợi ích trước mắt nên nhiều cơ sở sản xuất đã sử dụng nguyên, nhiên liệu rẻ tiền, hoá chất độc hại gây tác động lên sức khoẻ của dân.
Những tồn tại này kéo dài nhiều năm nhưng chưa được xử lý. Bởi, ngoài các làng nghề thủ công, nhiều nơi phát triển các cơ sở sản xuất "núp bóng" làng nghề nên gây ô nhiễm nghiêm trọng. Việc thanh tra, xử lý vi phạm ở các làng nghề còn đang "bỏ trống".
Theo các đại biểu, trách nhiệm giám sát chính vẫn phải thuộc về địa phương. Tuy nhiên, các địa phương lại đứng trước bài toán trải thảm đỏ mời gọi đầu tư (vào khu kinh tế) và phát triển nông thôn (ở các làng nghề). Vì vậy, việc thanh tra, giám sát hầu như không được làm chặt chẽ, rốt ráo, dẫn đến hậu quả khó lường.
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Hữu Chí phản ánh, nhiều nơi nộp được một đồng ngân sách thì phải bỏ ra ba đến năm đồng để khắc phục hậu quả môi trường.
Tuy nhiên, doanh nghiệp ở các khu kinh tế không mấy quan tâm đến vấn đề này. Bởi, như một đại diện của Tổng cục cảnh sát môi trường (Bộ công an) đã chỉ ra, với mức xử phạt cao nhất hiện nay 500 triệu đồng (và rất ít khi DN bị phạt tối đa) thì DN sẵn sàng nộp phạt thay vì bỏ tiền đầu tư hệ thống xử lý môi trường và vận hành.
Còn theo Thứ trưởng Bùi Cách Tuyến, ở nhiều làng nghề, người dân vì lợi nhuận trước mắt nên chỉ quan tâm đến kinh tế và cho rằng trách nhiệm với môi trường là của chính quyền. Chính quyền lại coi nhà nước phải có nghĩa vụ đầu tư và xử lý hậu quả.
Về giải pháp, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng An ninh Lê Việt Trường kiến nghị Chính phủ phải xem xét trách nhiệm của chính quyền các cấp trong vấn đề bảo vệ môi trường, trước mắt phải thay đổi nhận thức "coi trọng kinh tế, coi nhẹ môi trường".
Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Hữu Chí đề xuất, sau đợt giám sát, Chính phủ nên chọn một số địa chỉ ô nhiễm nghiêm trọng để xử lý dứt điểm mới mong tạo chuyển biến rõ rệt.
Kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng, đoàn giám sát cần nêu ra được các giải pháp mang tính đột phá trong thời gian tới, chỉ rõ địa chỉ sai phạm và đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm quản lý của các địa phương, bộ ngành.
Chuyên đề giám sát này sẽ được báo cáo tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá 13 khai mạc vào tháng 10 sắp tới. Người dân sẽ được xem trực tiếp qua truyền hình nội dung phiên họp thảo luận của Quốc hội kéo dài một ngày về vấn đề nêu trên.
Theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Hữu Chí: Số tiền nhà nước chi từ ngân sách cho bảo vệ môi trường vẫn được tăng lên hàng năm. Năm 2008 tăng 10,9% so với 2007. Năm 2009 tăng thêm 32,6%. Năm 2010 tăng thêm 21%. Năm 2011 tăng thêm 22%. Năm 2010, có 29 địa phương cắt giảm chi ngân sách cho bảo vệ môi trường. (Vietnamnet 21/9) đầu trang(
Thứ trưởng Bộ Công Thương cho rằng Bộ Tài chính điều hành giá xăng càng lúc càng rối, khiến doanh nghiệp lỗ nặng, đáp lại, Bộ trưởng Tài chính khẳng định chịu trách nhiệm trước dân, nếu doanh nghiệp lỗ không kinh doanh được thì rút.
Buổi hội thảo về "Điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường" tổ chức sáng nay biến thành cuộc tranh cãi song phương gay gắt giữa đại diện 2 bộ Tài chính và Công Thương, dù đây là cuộc họp mở rộng có sự góp mặt của hơn 20 chuyên gia đầu ngành và báo chí.
Bộ trưởng Tài chính - Vương Đình Huệ, người từng công tác 10 năm trong ngành kiểm toán, cho biết mục đích của cuộc hội thảo là để lắng nghe các ý kiến trái chiều liên quan đến mặt hàng nhạy cảm - xăng dầu. Trên cơ sở các số liệu công khai về lỗ lãi doanh nghiệp, biến động thị trường, các ý kiến đề xuất, Bộ Tài chính sẽ có các giải pháp điều hành hiệu quả trong thời gian tới.
Đại diện cho phía Bộ Công Thương có Thứ trưởng Bộ Nguyễn Cẩm Tú. Dù không có tên trong danh sách phát biểu, ông Tú xin có ý kiến vì cho rằng bức xúc của ông đã ở ngưỡng không thể tiếp tục kìm nén.
Ông Tú cho rằng cách điều hành giá bán lẻ xăng dầu của Việt Nam thời gian qua mang tính nửa vời và chẳng giống ai, không hẳn là bao cấp cũng chẳng thị trường. Theo ông, mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ Bộ Tài chính không xác định rõ mục tiêu là đảm bảo an ninh năng lượng hay bao cấp cho dân.
"Chúng ta đang điều hành giá xăng theo kiểu “sống chết mặc bay”, dùng tay chân thay cho cái đầu vì vậy mà lãnh đạo cấp cao chửi, báo chí chửi, làm đúng cũng bị chửi và dân thì coi như tội đồ... Dân chửi cố mà nghe, vợ tôi chửi, anh em họ hàng nhà tôi chửi, tôi cũng phải chịu. Đây là cách tốt nhất có thể làm lúc này", ông Tú bức xúc.
Theo ông, chủ trương của Chính phủ là đảm bảo nguồn cung ở mọi lúc, mọi nơi và mọi thời điểm, đảm bảo an ninh năng lượng phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng thời gian qua, Bộ Tài chính điều hành giá xăng theo kiểu dư luận tới đâu, điều hành tới đó. Các mục tiêu cân đối cung cầu, hệ thống ra sao, doanh nghiệp lỗ lãi thế nào, xuất lậu ra sao đều bị bỏ qua.
"Bộ Tài chính hứa bù lỗ cho doanh nghiệp bao lần nhưng hứa nhiều lại thất hứa. Tôi thật xấu hổ khi hứa quá nhiều với doanh nghiệp nhưng lại bất lực không làm được gì giúp họ cả trong khi vẫn yêu cầu đảm bảo nguồn cung", ông Tú nói.
Theo ông, chính cách điều hành kể trên đã dẫn đến hậu quả là cơ quan quản lý bất lực trước doanh nghiệp. Nếu giá không theo thị trường, không giải quyết các khoản lỗ cho doanh nghiệp thì sẽ dẫn đến các nguy cơ vỡ hệ thống, đứt nguồn cung... Vì vậy, việc tăng giá từng bước cần phải thực hiện.
Bổ sung cho ý kiến của Thứ trưởng Tú, Tổng giám đốc Petrolimex Bùi Ngọc Bảo dẫn chứng một loạt con số lỗ lãi mà doanh nghiệp này phải chịu trước áp lực giá thế giới và cách điều hành quá rối rắm của Bộ Tài chính.
Ông Bảo cho biết suốt thời gian qua, giá bán lẻ của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với giá nhập khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp luôn trong trạng thái lỗ trường kỳ. Tính tới tháng 8, Petrolimex lỗ 1.800 tỷ đồng. Dự kiến trong tháng 9 khoản lỗ của công ty ước khoảng 200 tỷ đồng, nâng tổng số lỗ trong 9 tháng đầu năm lên 2.000 tỷ đồng. "Bộ Tài chính nên xem xét xử lý các khoản lỗ cho doanh nghiệp", ông Bảo nói.
Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu VN (PV Oil) - Lê Xuân Trình tiếp lời: "Các khoản lỗ này không phải do doanh nghiệp tạo ra mà do cơ chế". Ông Trình đề xuất nên "thả" giá xăng, dầu theo thị trường giống như một số mặt hàng khác trong đó có gas. Vì khi giá theo thị trường có lên, có xuống người tiêu dùng sẽ cảm thấy sòng phẳng, doanh nghiệp cũng dễ thở hơn...
Tại hội thảo, đại diện của Bộ Công Thương và một số doanh nghiệp cũng lớn tiếng phê phán Bộ Tài chính về quyết định giảm giá bán lẻ xăng dầu 500 đồng hồi cuối tháng 8 vừa qua. Lý do là, quyết định này quá bất ngờ và nó không phản ánh đúng thực tế của thị trường. Tại thời điểm tháng 7/2011 khi giá thế giới giảm mạnh, doanh nghiệp lãi, Bộ Tài chính "lờ" chuyện giảm giá. Khi giá thế giới tăng trở lại (tháng 8/2011), doanh nghiệp lỗ, quyết định giảm giá lại được đưa ra.
Trước luồng ý kiến chỉ trích gay gắt từ Bộ Công Thương và doanh nghiệp, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ nói rằng quyết định giảm giá bán lẻ được ông căn cứ vào đúng quy định của Luật, diễn biến thực tế của thị trường. Và nếu chịu sức ép dư luận, lẽ ra ông phải quyết định giảm giá ngay thời điểm đảm nhận vị trí Bộ trưởng Tài chính - giai đoạn mà dư luận bức xúc nhất về giá xăng dầu, chứ không phải đợi đến 20 ngày sau mới ra quyết định.
Ông Huệ tiết lộ, tại thời điểm giảm giá xăng dầu, ông đã mời Chủ tịch Petrolimex lên để hỏi: "Có giảm giá được hay không?". Lúc ấy, Petrolimex đã lãi tới 780 đồng mỗi lít xăng, sau khi đã tính đủ các chi phí và cả 300 đồng lợi nhuận định mức mà Chính phủ cho phép. Khoản lãi của Petrolimex cũng được ông Huệ cập nhật từ chính số liệu của hải quan.
"Tôi ra quyết định giảm giá và tôi chịu trách nhiệm cá nhân. Chúng tôi không quan liêu mà sau mỗi quyết định là cả tập thể lãnh đạo", ông Huệ nói.
Bộ trưởng Vương Đình Huệ cho rằng với kinh nghiệm 10 năm kiểm toán ông thuộc các số liệu lỗ lãi của doanh nghiệp như lòng bàn tay. Điều này có nghĩa, ông thừa hiểu các nhà nhập khẩu xăng dầu lỗ hay lãi và sức chịu đựng của họ đến đâu. "Không ai muốn tăng giá xăng cả vì tác động đến lạm phát ảnh hưởng tới 80 triệu dân. Việc giảm giá cũng vậy, không ai lại bỏ qua khi có cơ hội giảm", ông Huệ chia sẻ.
Theo ông, sở dĩ giá xăng dầu chưa thể "thả" theo thị trường ngay được vì vẫn còn tồn tại độc quyền. Ba doanh nghiệp đang chiếm trên 90% thị phần trong đó có Petrolimex (trên 60%) và PV Oil. Nếu 3 doanh nghiệp này "đi đêm" với nhau thì doanh nghiệp khác chết, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt.
"Bộ Tài chính không bỏ qua doanh nghiệp nào cả. Nếu cách điều hành của chúng tôi gây thiệt hại cho doanh nghiệp chúng tôi chịu trách nhiệm và bồi thường. Nếu doanh nghiệp nào không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được nhà nước", ông Huệ tỏ thái độ.
Năm 2008, Nhà nước đã trích trên 4.600 tỷ đồng để bù lỗ cho doanh nghiệp. Theo bộ trưởng Huệ, sự hy sinh của Nhà nước chẳng ai đề cập tới, trong khi doanh nghiệp chỉ biết kêu lỗ mà không biết chia sẻ với người tiêu dùng.
Ông Huệ cảnh báo tới đây, Bộ Tài chính sẽ liên tục có "trát" yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo lỗ lãi, các hoạt động kinh doanh ở bất cứ thời điểm nào
Liên quan đến ý kiến của Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú, ông Huệ cũng thẳng thắn: Bảo đảm nguồn cung, bình ổn, hoạt động kinh doanh... trách nhiệm thuộc về Bộ Công Thương. Việc vỡ hay không vỡ hệ thống không thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính. Nhà máy Lọc dầu Dung Quất cũng đã vận hành 100% công suất là nguồn dự trữ cho thị trường nội địa.
Bộ trưởng Vương Đình Huệ chốt lại: Từ nay đến cuối năm sẽ không có chuyện tăng giá và cũng không nên tăng giá bán lẻ xăng dầu mà sẽ áp dụng các biện pháp bình ổn. Trong trường hợp cần thiết, Nhà nước sẽ bù lỗ. (Vnexpress 20/9) đầu trang(
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Ai được vay tiền của Quỹ Phát triển nhà ở TP để xây nhà trọ, mua nhà… là vấn đề được nhiều người quan tâm trong buổi giao lưu trực tuyến với Sở Xây dựng và Quỹ Phát triển nhà ở TP vào ngày 21/9 vừa qua.
Theo ông Nguyễn Ngọc Thạch, Phó Giám đốc Quỹ Phát triển nhà ở, đối tượng muốn được vay tiền của quỹ này để mua nhà phải đáp ứng yêu cầu: là cán bộ, công chức thuộc sở, ban, ngành, quận, huyện của TP, cơ quan hành chính sự nghiệp thuộc khu vực hưởng lương từ ngân sách của TP. Người này phải có hộ khẩu tại TP, có thời gian công tác tại đơn vị từ ba năm trở lên. Đồng thời không đứng tên sở hữu nhà đất tại thời điểm vay, chưa được giải quyết chính sách về nhà đất. Căn hộ sẽ mua là tài sản thế chấp cho việc vay tiền. Số tiền vay tối đa là 400 triệu đồng, thời gian vay tối đa là 15 năm.
Về vay tiền xây nhà trọ, đại diện Quỹ Phát triển nhà ở cho hay những đối tượng được vay tiền của quỹ này để xây nhà trọ sẽ được hưởng lãi suất là 16,2%/năm. Thời gian cho vay là năm năm (sửa chữa nâng cấp nhà trọ) và bảy năm (xây mới).
Về chương trình nhà ở xã hội, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Nguyễn Văn Danh thông tin: Năm 2010 có 79 trường hợp được thuê, thuê mua nhà ở xã hội. Hiện Quỹ Phát triển nhà ở đang triển khai dự án ở 35 Hồ Học Lãm, quận Bình Tân với 784 căn hộ, diện tích 34-55 m2, dự kiến đến quý IV-2013 sẽ hoàn thành.
Với loại nhà này, trong thời gian 10 năm kể từ ngày ký hợp đồng mua, thuê nhà thì bên mua không được thế chấp hoặc chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức nào. Có thể bán hoặc cho thuê nếu đã thanh toán hết tiền mua nhà, được cấp giấy chứng nhận nhưng phải đảm bảo thời gian ít nhất là 10 năm. Trong thời gian chưa tới 10 năm, nếu có nhu cầu thì chỉ được chuyển nhượng lại cho Nhà nước, chủ đầu tư dự án. (Pháp Luật TP.HCM 22/9) đầu trang(
TIN TỨC - SỰ KIỆN
Ngày 21/9, Văn phòng UBND tỉnh TT-Huế cho biết, ông Phan Ngọc Thọ - Phó Chủ tịch UBND tỉnh là một trong 12 gương mặt được bầu là Lãnh đạo công nghệ thông tin tiêu biểu Đông Nam Á năm 2011 (CIO Asean Awards 2011).
Ông Thọ là phó chủ tịch tỉnh duy nhất trong cả nước đoạt giải năm nay. Trong số 12 cá nhân giành giải thưởng năm nay, Việt Nam góp mặt 10 giám đốc thông tin (CIO), còn lại 2 CIO đến từ Thái Lan và Malaysia. (Tiền Phong 22/9) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Ngày 21-9, cơ quan điều tra Công an huyện Tân Trụ cho biết đã kết thúc điều tra, khép hồ sơ vụ cô Đinh Thị Kim Phượng chết đuối khi tham gia tiệc nhậu cùng hai cán bộ lãnh đạo VKSND huyện Cần Giuộc.
Cơ quan điều tra không phát hiện có dấu hiệu tội phạm và kết luận đây là vụ chết đuối bình thường. Việc hỗ trợ mai táng, chôn cất cho nạn nhân chỉ liên quan đến trách nhiệm một số cá nhân tham gia thuộc lĩnh vực dân sự nên cơ quan điều tra không đề cập đến.
Hai nhân chứng giăng câu, bắt cá ở gần chiếc phà xảy ra vụ việc là bà Chín và ông Út Lùn không thể hiện rõ việc nghe thấy hoặc tận mắt chứng kiến nên không có cơ sở khẳng định là cô gái đùa giỡn bị trượt chân hoặc ai đó lôi kéo nên rơi xuống sông.
Trước đó, hai cán bộ lãnh đạo VKSND huyện Cần Giuộc là ông Nguyễn Kim Đoạn (Viện trưởng), Nguyễn Hương Giang (Phó Viện trưởng) đã bị đình chỉ công tác và bị kỷ luật cảnh cáo về mặt đảng. Hai ông này được rút về VKSND tỉnh Long An chờ bố trí công tác khác. Ông Võ Hoàng Nguyên, Phó Viện trưởng VKSND huyện Bến Lức, được điều động về Cần Giuộc làm Quyền Viện trưởng VKSND huyện Cần Giuộc từ ngày 13-9. (Pháp Luật TP.HCM 22/9) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Những sửa đổi hiến pháp trong tương lai cần định hướng chính quyền vào các chuẩn mực pháp quyền; Căn bản của pháp quyền là sự thượng tôn quyền lực của pháp luật so với quyền lực nhà nước.
Sau hơn 10 năm vận hành, hệ thống chính quyền những năm đầu thế kỷ 21 phải đối mặt với những vấn đề mới phát sinh của nền kinh tế thị trường mà những nhà lập hiến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước chưa tiên liệu được: các yếu tố mới của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Thị trường và toàn cầu hóa không chỉ đòi hỏi một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mà là một nhà nước pháp quyền và xã hội công dân.
Chính vì vậy, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 được đặt ra vào hồi đầu thế kỷ mới này. Trong quá trình nghiên cứu để sửa đổi Hiến pháp đã tồn tại hai quan điểm về mức độ sửa đổi. Những người theo quan điểm thứ nhất cho rằng, đã đến lúc đổi mới căn bản, toàn diện Hiến pháp năm 1992 vì nó được ban hành vào thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới, rằng ở thời điểm đó, chúng ta chưa đủ điều kiện để xây dựng một bản Hiến pháp đáp ứng đòi hỏi của sự đổi mới toàn diện đất nước. Những người theo quan điểm thứ hai cho rằng, trong thời điểm hiện nay không thể đặt vấn đề sửa đổi căn bản, toàn diện, mà chỉ cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Khuynh hướng thứ hai đã thắng thế trong cuộc cải cách hiến pháp năm 2001 ở Việt Nam.
Hiến pháp đã không có những điều chỉnh căn bản về hệ thống chính quyền mà chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều. Hãy khoan nói về giá trị thực tế về sau của những sửa đổi hiến pháp năm 2001. Chỉ đứng trên phương diện lý thuyết, người ta cũng có thể nhận thấy những nội dung sửa đổi hiến pháp năm 2001 không đáp ứng được mục đích của việc sửa đổi.
Trong bối cảnh những năm đầu của thế kỷ này, do sự phát triển của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa, nhà nước pháp quyền là một nhân tố chính trị thiết yếu của quá trình đó. Nhận thức được điều này, Việt Nam cũng đã chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền.
Điều đáng chú ý là điều sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp vào năm 2001 là cam kết về xây dựng nhà nước pháp quyền. Điều 2 được sửa đổi như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, và vì nhân dân”. Từ “Nhà nước xã hội chủ nghĩa” sang “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” không giản đơn là một sự thay đổi về ngôn từ, mà thực sự là một sự thay đổi căn bản về triết lý chính quyền: từ một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật sang một nhà nước bị pháp luật quản lý.
Cùng với cam kết về nhà nước pháp quyền, vấn đề cơ bản của nó là phân công quyền lực cũng được thừa nhận: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Điều 2 Hiến pháp sửa đổi). Chỉ những điều này thôi cũng cho người ta thấy tín hiệu về một sự thay đổi căn bản về hệ thống quyền lực nhà nước.
Tuy nhiên, các sửa đổi tiếp theo không hoàn toàn trùng khớp với cam kết về nhà nước pháp quyền và phân công quyền lực mà Điều 2 mới tạo niềm hy vọng. Có lẽ đáng kể nhất là định chế bỏ phiếu tín nhiệm được trao cho Quốc hội. Thoáng nhìn, người ta có thể thấy điều này khá thống nhất với cam kết xây dựng nhà nước pháp quyền bởi chế độ nhà nước này cần một cơ chế hiệu quả để giám sát quyền lực nhà nước trong khi việc Quốc hội được trang bị thêm công cụ mới để bỏ phiếu tín nhiệm các thành viên do mình thành lập nên - một công cụ giám sát quyền lực khá tiến bộ.
Tuy nhiên, sáng tạo của các nhà thảo hiến về chế độ bỏ phiếu tín nhiệm từ việc cải biến chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm đã có từ Hiến pháp năm 1946 ở Việt Nam và ở nhiều nền đại nghị phương Tây đã không thực sự hoàn hảo: bỏ phiếu tín nhiệm là một công cụ thăm dò mức độ tín nhiệm chính trị hay là một công cụ giám sát quyền lực? Lời lẽ của Hiến pháp sửa đổi không cho người ta một câu trả lời chính xác. Có lẽ do sự mơ hồ của Hiến pháp mà cơ chế mới này đến nay vẫn chỉ nằm trong Hiến pháp.
Một nội dung sửa đổi khác của Hiến pháp cũng có ý nghĩa đối với việc thúc đẩy chế độ pháp quyền là việc bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát. Những người thực sự am hiểu về nhà nước pháp quyền sẽ cảm thấy rất lý thú khi đọc đến chương về Viện kiểm sát khi thấy cơ quan này đã không còn chức năng kiểm sát hoạt động ban hành văn bản pháp luật của các cơ quan từ Bộ cho đến chính quyền địa phương.
Cùng với sự lý thú đó, người ta mong chờ cơ chế kiểm tra của tư pháp đối với tính hợp pháp trong các hành vi lập quy của Bộ trưởng và các quan chức địa phương, một cơ chế phù hợp với yêu cầu của nhà nước pháp quyền; bởi lẽ cơ chế này buộc chính quyền phải tuân thủ pháp luật và cho phép người dân viện dẫn đến tòa án để làm điều đó. Tuy nhiên, người ta sẽ sớm thất vọng khi thấy Hiến pháp mới im lặng trước các điều khoản về hệ thống tòa án.
Một điều lạ tưởng như không đáng có là trong khi Hiến pháp bỏ chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Viện kiểm sát thì chức năng này lại không được Hiến pháp trao cho ai. Rõ ràng là bỏ chức năng kiểm sát văn bản của Viện kiểm sát không đồng nghĩa với việc bỏ chức năng kiểm sát văn bản trong hệ thống nhà nước nói chung. Đáng lẽ Hiến pháp phải xử lý điều này: bố trí một thiết chế hợp lý hơn kiểm soát tính hợp hiến, hợp pháp trong việc lập quy của các Bộ và chính quyền địa phương thay cho thiết chế Viện kiểm sát.
Bên cạnh đó, mặc dù Điều 2 sửa đổi chủ trương phân công quyền lực giữa các ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp trong thế thống nhất nhưng các điều khoản sau của Hiến pháp không thể hiện rõ chủ trương này. Quốc hội, vẫn như trước, được trao quyền lập pháp. Nhưng không chỉ có thế. Quốc hội còn là một cơ quan quyết định những chính sách cơ bản của quốc gia, một loại thẩm quyền theo triết lý hiến pháp gắn liền với người điều hành quốc gia là Chính phủ - ngành hành pháp. Quốc hội còn là một cơ quan bảo hiến tối cao, một loại thẩm quyền mà theo triết lý hiến pháp thuộc địa hạt của các quan tòa của ngành tư pháp.
Có lẽ vì thế mà, ngoài việc Quốc hội được trao chức năng lập pháp, Chính phủ không được quy định có chức năng hành pháp mà là hành chính nhà nước cao nhất, trong khi hành chính và hành pháp là loại quyền khác biệt; Tòa án không được trao chức năng tư pháp mà tòa án chỉ được trao chức năng xét xử các vụ án. Và các loạt thẩm quyền cố hữu của ngành tư pháp không được trao cho tòa án như giải thích hiến pháp, luật, tài phán hiến pháp.
Tuy nhiên, một số sửa đổi cũng đã có ý nghĩa như là một sự phản ứng đối với nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Các sửa đổi như bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, phân cấp thẩm quyền phân bổ ngân sách giữa Quốc hội và Hội đồng nhân dân, quyền của Chính phủ trong việc tham gia ký kết các điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước… có ý nghĩa nhất định trong việc giúp cho chính quyền điều hành xã hội một cách linh hoạt hơn trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Nhưng có lẽ, đó không phải là những sửa đổi thực sự tạo ra một chính quyền năng động và có trách nhiệm, một điều cần thiết trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.
Quá nhiều công việc được trao cho Quốc hội, trong khi Chính phủ, người trực tiếp điều hành quốc gia lại được đặt ở một vị thế khá thụ động (là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính, không phải cơ quan hành pháp); đa số những thẩm quyền được trao cho Chính phủ đều do tập thể Chính phủ quyết định; Thủ tướng chưa được trao những quyền lực chủ động liên quan đến việc hoạch định và điều hành chính sách quốc gia.
Có lẽ, những điều mà cuộc cải cách hiến pháp năm 2001 chưa làm được đang là vấn đề mà thế hệ hiện nay phải giải quyết. Sau gần 20 năm kể từ năm 1992, thế hệ hiện nay đang đối mặt với những mục tiêu mới, nhiệm vụ mới. Không còn là hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nữa (vì đã hình thành), mà là phát triển nó trong một thế giới toàn cầu.
Một chính quyền điều hành xã hội trong một bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa khác với một chính quyền điều hành xã hội trong giai đoạn chuyển đổi từ chế độ tập trung sang chế độ thị trường (định hướng xã hội chủ nghĩa). Bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, toàn cầu hóa đòi hỏi những tiêu chí mới đối với chính quyền: chế độ pháp quyền, hành pháp năng động và trách nhiệm, tư pháp độc lập, tài phán hiến pháp, phi tập trung hóa quyền lực xuống địa phương… Thế hệ hiện tại cần một bản Hiến pháp mới để hợp hiến hóa các chuẩn mực này vì sự thịnh vương chung.
Giáo sư Donald S.Lutz ở Đại học Houston - trong một nghiên cứu về lý thuyết sửa đổi hiến pháp - đã đưa ra những định đề liên quan đến tỉ lệ sửa đổi hiến pháp và sự ổn định của Hiến pháp. Nhìn chung, các yếu tố tác động đến tỉ lệ sửa đổi hiến pháp, tính ổn định của Hiến pháp là: độ dài của Hiến pháp tính theo số từ trong Hiến pháp, tính khó khăn của quy trình sửa đổi hiến pháp, chức năng của chính quyền được quy định trong Hiến pháp, vai trò của tư pháp trong việc giải thích hiến pháp, mức độ phân biệt giữa Hiến pháp và thường luật.
Xét về mặt lý thuyết, Hiến pháp Việt Nam không có những điều kiện cần thiết của một Hiến pháp có sức sống lâu dài. Sự phân biệt giữa Hiến pháp và thường luật không rõ ràng thể hiện ở việc Quốc hội lập pháp đồng thời có chức năng lập hiến. Sự không phân biệt giữa Quốc hội lập pháp và Quốc hội lập hiến dẫn đến khả năng Quốc hội lập pháp dễ dàng sửa đổi hiến pháp.
Thực vậy, thủ tục sửa đổi hiến pháp ở Việt Nam không khó khăn. Hiến pháp chỉ quy định một yêu cầu duy nhất là việc sửa đổi hiến pháp phải có sự thông qua của 2/3 đại biểu Quốc hội, một tỉ lệ không khó để đạt được ở Việt Nam. Những thủ tục gây khó khăn cho việc sửa đổi hiến pháp như bầu lại Quốc hội, thành lập Ủy ban sửa đổi hiến pháp, Hội nghị hiến pháp, trưng cầu dân ý... không có trong Hiến pháp Việt Nam.
Một nghiên cứu được tiến hành từ Quốc hội đã viết: “Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta hiện nay chưa có quy định nào về quy trình soạn thảo, thông qua Hiến pháp. Vì vậy, khi tiến hành xem xét, thông qua Hiến pháp, Quốc hội thường vận dụng các quy định của việc xem xét, thông qua luật.” Hơn nữa, văn phong hiến pháp có khi trừu tượng nhưng nhiều khi rất cụ thể, làm Hiến pháp không thích ứng với sự thay đổi của xã hội. Hiến pháp liệt kê quá chi tiết các quyền hạn của Chính phủ. Chính phủ là định chế nhạy cảm nhất đối với các thay đổi của xã hội.
Chính vì vậy, quy định quá chi tiết quyền hạn của Chính phủ trong Hiến pháp sẽ làm cho Chính phủ thụ động và Hiến pháp phải thay đổi thường xuyên. Việc chi tiết đến cả cách thức tổ chức chính quyền địa phương cũng làm cho địa phương bị động và Hiến pháp muốn tháo gỡ cho chính quyền địa phương lại cần phải sửa đổi.
Ngoài ra, Hiến pháp Việt Nam khá dài, quy định quá nhiều các quan hệ xã hội: từ chính trị, kinh tế, đến văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Chính vì vậy, theo nguyên lý, Hiến pháp cần phải được sửa đổi để thích ứng với sự tiến triển của tình hình kinh tế - xã hội. Đặc biệt là Việt Nam không có hình thức sửa đổi hiến pháp không chính thức như sự giải thích hiến pháp của Tòa án, nên Hiến pháp càng phải được sửa đổi chính thức kịp thời.
Nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường luôn song hành với nhau. Chính quyền không thể điều hành hiệu quả nền kinh tế thị trường nếu chính quyền đó không tôn trọng các chuẩn mực pháp quyền. Ngược lại, một nhà nước cực quyền toàn trị không thể chấp nhận kinh tế trị thường.
Vì vậy, để thúc đẩy cho kinh tế thị trường phát triển, xã hội thịnh vượng hơn, những sửa đổi hiến pháp trong tương lai cần định hướng chính quyền vào các chuẩn mực pháp quyền. Căn bản của pháp quyền là sự thượng tôn quyền lực của pháp luật so với quyền lực nhà nước. Điều này dẫn đến những chuẩn mực cụ thể của pháp quyền như: tôn trọng các quyền con người, phân công quyền lực, tài phán hiến pháp, tư pháp độc lập, chính quyền minh bạch và trách nhiệm…
Các sửa đổi hiến pháp trong tương lai của Việt Nam cần hướng đến việc xây dựng một cơ sở hiến pháp hoàn hảo hơn cho việc tôn trọng các quyền tự nhiên của con người, những quyền vốn có do tự nhiên chứ không do nhân tạo; cho một Quốc hội hữu hạn để hoạt động hiệu quả; cho một Chính phủ năng động và trách nhiệm; cho một chế độ phân công mạch lạc quyền lực giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án; cho một nền tài phán hiến pháp tiên tiến; cho một nền tư pháp độc lập; và cho một chính quyền địa phương chủ động.
Hiến pháp là sản phẩm của một thế hệ trong một thời đại nhất định. “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (Điều 2 Hiến pháp Việt Nam hiện hành) cũng có nghĩa là mỗi thế hệ đều có quyền sống dưới những cam kết do chính mình tạo lập phù hợp với điều kiện sống của mình. Thế hệ hiện tại có quyền làm chủ cuộc sống của mình và không được ràng buộc thế hệ tương lai, cũng như họ không thể bị rạng buộc bởi ý chí của dĩ vãng. (Vietnamnet 21/9) đầu trang(
Để nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về kỹ thuật lập hiến, về tư tưởng Nhà nước pháp quyền, có lẽ, chúng ta không cần phải học hỏi ở đâu xa, mà học ngay ở Hiến pháp năm 1946.
Hiến pháp 1946 là một bản hiến văn hết sức ngắn gọn, súc tích. Toàn bộ bản hiến văn chỉ gồm 70 điều. Sự ngắn gọn này đạt được là nhờ vào việc Hiến pháp chỉ tập trung quy định những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hiến pháp, mà cụ thể là các quyền tự do, dân chủ; các nguyên tắc và cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực Nhà nước. Đây thực sự là một bản kế ước xã hội về việc phân chia quyền: quyền của các công dân và quyền của Nhà nước; quyền giữa các cơ quan Nhà nước với nhau.
Nếu Nhà nước pháp quyền là Nhà nước được tổ chức trên những nguyên tắc và thủ tục sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ, thì Hiến pháp 1946 đã phản ánh đúng tinh thần đó.
Trước hết, để lạm quyền không thể xảy ra thì Hiến pháp đã được đặt cao hơn Nhà nước. Về mặt thủ tục, điều này có thể đạt được bằng hai cách: 1. Hiến pháp phải do Quốc hội lập hiến thông qua; 2. hoặc Hiến pháp phải do toàn dân thông qua. Hiến pháp 1946 đã thực sự do một Quốc hội lập hiến thông qua. Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ 3 năm. Như vậy, đáng ra nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua Hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).
Hai là, các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Ví dụ, Điều 10 quy định: “Công dân Việt Nam có quyền: - Tự do ngôn luận; - Tự do xuất bản; - Tự do tổ chức và hội họp; - Tự do tín ngưỡng; -Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”; Điều 12 quy định: “Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Như chúng ta thấy, Hiến pháp không đặt vấn đề Nhà nước bảo đảm các quyền đó, mà ghi nhận các quyền đó như những quyền đương nhiên (do tạo hóa ban cho).
Ba là, việc phân cấp, phân quyền được thực hiện khá mạch lạc, và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế. Ví dụ, quyền “kiểm soát và phê bình Chính phủ” của Ban thường vụ Nghị viện (Điều 36); quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện” (Điều 40); Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết (Điều 54)...
Việc phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương cũng rất rõ. Ví dụ, Nghị viện nhân dân chỉ quyết định những vấn đề “chung cho toàn quốc” (Điều 23). Hội đồng nhân dân được quyền quyết định “những vấn đề thuộc địa phương mình” (Điều 59).
Cuối cùng, vai trò độc lập xét xử của tòa án được bảo đảm. Điều này đạt được nhờ hai cách: Một là, các tòa được thiết kế không theo cấp hành chính mà theo cấp xét xử (Điều 63); Hai là, xác lập quy phạm ở tầm hiến định là khi xét xử, thẩm phán “chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp” (Điều 69).
Hiến pháp năm 1946 là di sản to lớn về tư tưởng và văn hóa lập hiến của dân tộc. Di sản này sẽ mãi soi sáng trí óc và con tim của chúng ta trong quá trình phấn đấu xây dựng Nhà nước pháp quyền và xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. (Tia Sáng) đầu trang(
Cuộc tranh luận gay gắt giữa Bộ Tài chính và Bộ Công Thương tại hội thảo về “Điều hành giá xăng dầu theo cơ chế thị trường” một phần hé lộ thực hư của chuyện lãi lỗ trong kinh doanh xăng dầu.
Và cũng từ hội thảo này, người dân còn được chứng kiến một chân dung bộ trưởng đầy bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm - đó là ông Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ. Ông nói: “Hơn mười năm làm ở kiểm toán nhà nước, tôi đã biết rất rõ các doanh nghiệp xăng dầu. Vì vậy quan điểm điều hành của Bộ Tài chính sẽ không thể vì 11 doanh nghiệp xăng dầu đầu mối, mà phải vì hơn 80 triệu dân”.
Ông Vương Đình Huệ “thấy rất rõ” điều gì ở các doanh nghiệp xăng dầu thì ông không nói rõ, nhưng chí ít người dân cũng nhận ra là ông thấy các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu báo lỗ là không đúng.
Bởi vì, chính ông đã đưa ra quyết định giảm 500 đồng/lít xăng và cho rằng mình đã đưa ra quyết định đúng đắn, đồng thời sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Ông cũng cương quyết trong việc bác bỏ đề xuất để cho doanh nghiệp tự quyết về giá xăng dầu, vì lý do vẫn còn tồn tại độc quyền trong kinh doanh xăng dầu.
Nếu như 3 doanh nghiệp chiếm trên 90% thị phần “đi đêm” với nhau, thì doanh nghiệp khác chết, người tiêu dùng sẽ chịu thiệt. Các doanh nghiệp và đại diện của Bộ Công Thương đưa ra áp lực rằng sẽ vỡ hệ thống phân phối, ông Huệ cứng rắn: “Nếu doanh nghiệp nào không làm được thì rút lui. Kể cả Petrolimex, nếu không làm được chúng tôi sẵn sàng cho giải tán để lập tổng công ty khác. Nhà nước không dọa ai và cũng không ai dọa được Nhà nước”.
Rất mừng đã lâu dân chúng mới chứng kiến được một bộ trưởng bảo vệ quyền lợi của dân rành rành như vậy. Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu lắm tiền, đủ sức để “dàn xếp” cho việc tăng giá hoặc đừng giảm giá. Chỉ cần 500 đồng/lít xăng thì lợi nhuận rất lớn và cái phần lợi ấy có thể chia sẻ cho những người có công trong việc tạo ra lợi ích.
Một chuyện rất thông thường, đó là những người có quyền đưa ra các quyết định rất dễ có quyền lợi từ những quyết định của mình. Cho nên, trong những trường hợp liên quan đến lợi ích của một nhóm và lợi ích của xã hội - để có được sự công bằng – đòi hỏi người đưa ra quyết định phải có trí tuệ, bản lĩnh và quan trọng nhất là sự chính trực.
Người dân phấn khởi còn bởi một lẽ, có những vấn đề được đưa ra phân tích, mổ xẻ công khai trước báo chí, công luận. Các bộ không che chắn, bảo vệ nhau, gật gù cho qua chuyện, mà tranh luận, phản biện vì lợi ích của xã hội. Người dân mong chờ có nhiều ông bộ trưởng bản lĩnh như ông Vương Đình Huệ và có nhiều vụ việc được đưa ra bàn bạc công khai, minh bạch như vụ xăng dầu vừa qua. (Lao Động 22/9) đầu trang(./.
|
|||