|
Ngày 20 tháng 11 năm 2013
THỜI SỰ
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THỜI SỰ
Đúng 8h sáng 19/11, Quốc hội bắt đầu phiên chất vấn và trả lời chất vấn đầu tiên ở kỳ họp thứ sáu.
Thay mặt Chính phủ, Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày báo cáo về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 3, thứ 4 và thứ 5.
Phó thủ tướng khẳng định, nghiêm túc chấp hành các nghị quyết của Quốc hội, ngay sau mỗi kỳ họp, Chính phủ, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ đã khẩn trương cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện đồng bộ với các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Ba lĩnh vực được Phó thủ tướng tập trung báo cáo là nông nghiệp và phát triển nông thôn; văn hóa, thể thao và du lịch; lao động, thương binh và xã hội. Nhưng vấn đề làm nóng nghị trường sau đó lại liên quan đến trách nhiệm trước tình trạng thủy điện làm khổ nhân dân.
Gần 30 phút sau khi bắt đầu phiên họp, các vị đại biểu Quốc hội bắt đầu thảo luận về báo cáo của Phó thủ tướng.
Là người đầu tiên nhấn nút, đại biểu Nguyễn Thái Học (Phú Yên) biểu thị sự thống nhất cao với việc Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn sau ba kỳ họp.
Đại biểu Học cũng phản ánh, cử tri đánh giá cao Bộ Giao thông Vận tải đã siết chặt kỷ luật kỷ cương, ngành ngân hàng đã bước đầu làm lành mạnh thị trường vàng, kéo giảm lãi suất… Nhiều lĩnh vực cho thấy chuyển biến tích cực.
Tuy nhiên, theo vị đại biểu này, vẫn còn nhiều nội dung đã nói qua nhiều kỳ họp nhưng chưa có chuyển biến, mà một trong các vấn đề đó là hỗ trợ cho đồng bào nghèo trong diện tái định cư ở các công trình thủy điện. Khi mà cuộc sống của họ rất nhiều khó khăn, mùa khô thì cạn nước, mùa mưa thì lũ lụt.
Ông Học cũng nêu rõ, tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội đã có nghị quyết yêu cầu phải nâng cao đời sống cho bà con, Chủ tịch Quốc hội cũng gợi ý nghiên cứu lấy một phần lợi nhuận từ công trình thủy điện đầu tư cho dân nghèo. Đến kỳ họp thứ tư Quốc hội cũng có nghị quyết liên quan đến vấn đề nêu trên với mốc thời gian là trong năm 2013 phải ban hành chính sách, và khi trả thì lời thì Bộ trưởng Bộ Công Thương cũng hứa sẽ ban hành chính sách cho đồng bào nghèo vùng tái định cư thủy điện.
Nhưng đến nay, gần hết năm 2013 chính sách đó vẫn chưa được ban hành, và “đáng buồn hơn là Bộ trưởng Bộ Công Thương lại cho rằng trách nhiệm thuộc về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”, đại biểu Học nhấn mạnh.
Ông Học cũng cho biết, đầu kỳ họp này, ông đã gửi văn bản chất vấn Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, nhưng sau đó, ông nhận được văn bản trả lời chất vấn của một lãnh đạo cục được Bộ trưởng ủy quyền, nói rất ngắn gọn là trách nhiệm đó thuộc về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Không đồng tình, ngày 4/11 ông Học lại tái chất vấn Bộ trưởng Hoàng, và lần này Bộ trưởng vẫn khẳng định trách nhiệm này thì Chính phủ giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
“Với việc trả lời như thế chúng tôi không biết báo cáo cử tri như thế nào, đề nghị Chính phủ và và Bộ trưởng nói rõ trách nhiệm và đề nghị xem xét trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Công Thương trong việc thực hiên nghị quyết của Quốc hội”, ông Học nói.
Phát biểu ngay sau đó, đều băn khoăn về hậu quả nặng nề do vận hành thủy điện cho nhân dân, đại biểu Đỗ Văn Đương (Tp.HCM) và đại biểu Nguyễn Văn Phúc (Hà Tĩnh) đều đề nghị phải làm rõ trách nhiệm. Không chỉ điều tra xử lý mà nếu cần thì xử lý hình sự thật nghiêm một vài vụ điển hình. Không thể để dân thiệt hại thế mà không có ai bị xử lý, ông Phúc nhấn mạnh.
Do Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đi công tác, không có mặt tại phiên chất vấn, nên Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn đề nghị Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát làm rõ ý kiến của đại biểu Học.
Rất ngắn gọn, Bộ trưởng Phát cho biết, thực hiện nghị quyết của Quốc hội, bộ này đã tiến hành khảo sát cùng Bộ Công Thương đánh giá tình hình di dân tái định cư các công trình thủy lợi, thủy điện gửi Quốc hội. Hiện đang lập chính sách ổn định cuộc sống người dân, dự kiến cuối 2013 (tháng 12) sẽ nghiệm thu, trình Chính phủ đề án kèm theo chính sách để khắc phục các khó khăn tồn tại.
Trên cơ sở đề án, Bộ cũng đang chuẩn bị dự thảo để trình Chính phủ thông qua quy định sửa đổi về chính sách di dân tái định cư thủy điện, thủy lợi, Bộ trưởng Cao Đức Phát nói. (Vneconomy 19/11) đầu trang(
Sáng 19/11, các đại biểu (ĐB) đã mổ xẻ những vấn đề nóng được dư luận đặc biệt quan tâm như xuống cấp y đức, án oan, dự án lãng phí.
Giải thích lý do chưa thể trả lời câu hỏi của ĐB Đỗ Văn Đương (TP.HCM) từ một năm trước về thống kê bao nhiêu công trình không hiệu quả, lãng phí, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nói: “Quả thật hơi khó đánh giá. Bao nhiêu ngàn tỉ đồng thất thoát cũng là con số khó. Báo cáo với ĐB, tôi nghĩ không dễ đâu vì phải lấy kết quả thanh tra, kiểm tra từng dự án thì mới nói được”.
Còn theo ĐB Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh), từ kỳ họp thứ 4 ông đã chất vấn về trách nhiệm trong quản lý, sử dụng trái phiếu chưa hiệu quả, nhưng nay chưa được trả lời. Bộ trưởng Vinh khẳng định báo cáo đã chuyển tới Quốc hội rồi. Riêng kiểm điểm trách nhiệm các cấp, các ngành, ông thừa nhận là “báo cáo của các địa phương, các bộ rất ít người nhận trách nhiệm, có nhận nhưng chung chung, khó chỉ ra địa chỉ cụ thể”.
Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm (TP.HCM) cho biết, cử tri thành phố rất lo ngại tình hình xuống cấp về đạo đức xã hội đang rất trầm trọng, gây bức xúc, gây sự bất bình và bất an trong nhân dân.
“Tình hình tham nhũng chưa giảm, vấn đề quy hoạch, vấn đề xây dựng và kinh doanh thủy điện không được quan tâm một cách thỏa đáng đến sinh mạng, tinh thần và đời sống của người dân. Những vụ việc hiện tượng như Cát Tường hay án oan, vấn đề tình hình tội phạm ngày càng nghiêm trọng” – bà Tâm nói.
Tận dụng diễn đàn nghị trường như cơ hội trình bày những vấn đề của ngành mình, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đề cập tới chuyện y đức mà “vụ Cát Tường là đỉnh điểm. Đó không chỉ là vấn đề đạo đức ngành y mà là việc mất nhân tính. Vụ việc này không chỉ gây bức xúc, đau đớn cho nạn nhân mà còn làm đau đớn cả ngành y”. Theo bà Tiến: “Dù là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp, khách quan hay chủ quan thì Bộ Y tế và người đứng đầu bộ đều liên quan ít nhiều đến trách nhiệm”.
Phân tích sâu hơn các yếu tố dẫn đến bức xúc của người dân về thái độ, tác phong của y, bác sĩ cũng như chất lượng dịch vụ, Bộ trưởng Tiến chỉ ra bốn điểm chính: Bản thân cán bộ không rèn luyện; bị tác động tiêu cực từ cơ chế kinh tế thị trường, vì lợi nhuận mà bất chấp trách nhiệm, năng lực nghề nghiệp. Bệnh viện công lập thì quá tải cũng khiến cán bộ y tế mất chuẩn mực y đức. Còn về phía người dân, quá tin vào quảng cáo mà tới cơ sở y tế không đủ điều kiện dẫn tới dịch vụ kém, thậm chí chịu tai biến y khoa…
Về giải pháp của ngành, bà Tiến cho biết sau khi xảy ra hàng loạt sự việc, nhất là sau vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường, Bộ đã làm việc với Hà Nội và địa phương đã ra chỉ thị giao trách nhiệm cho quận/huyện và lập tổ liên ngành để quản lý hoạt động y tế tư nhân trên địa bàn. Bộ Y tế cũng đã ban hành thông tư về rút giấy phép, đình chỉ hoạt động cơ sở y tế không đạt chuẩn.
“Chúng tôi đang soạn thông tư về đạo đức nghề nghiệp. Anh em thắc mắc sao ngành khác không có. Chúng tôi giải thích ngành y đụng chạm đến sức khỏe, tính mạng con người. Người thầy thuốc ngoài chuyên môn còn có trách nhiệm lương tâm, phải học hỏi suốt đời”.
Ngoài ra, ngành y tế đang khẩn trương thiết lập đường dây nóng ở ba cấp: bộ, sở, bệnh viện. Qua tổng hợp thông tin từ 1.000 cuộc gọi điện trực tiếp thấy một nửa phản ánh về thái độ cán bộ y tế. Trước tình hình đó, Bộ đã tổ chức các lớp tập huấn về quy tắc đạo đức ứng xử. Tinh thần là sẽ đưa tiêu chí ứng xử, đạo đức nghề nghiệp vào bình xét danh hiệu thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú.
Phần cuối trình bày, Bộ trưởng Tiến nói: “Chúng tôi hy vọng ĐB và nhân dân nhìn một cách khoan dung và toàn diện. Một năm ngành y tế khám, chữa bệnh cho hơn 121 triệu lượt người, chưa kể ngoài công lập. Số lượng lớn như thế chắc chắn cũng có những tỉ lệ nhất định tai biến và cũng có những cán bộ y tế con sâu làm rầu nồi canh”.
Trong bài phát biểu tại hội trường sáng 19/11, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho biết: “Chúng ta đã quyết định các công trình mà không căn cứ vào nguồn lực, việc này có ở cả cấp trung ương, cấp địa phương, các bộ cũng có một số vấn đề như vậy, các địa phương rất nhiều. Chúng ta không làm kế hoạch 5 năm mà làm kế hoạch hàng năm.
Từ năm 2011 đến nay, kế hoạch 2014 chúng tôi đang tích cực làm và hiện nay đang thể chế hóa thành Luật đầu tư công để tính pháp lý cao hơn. Bộ Kế hoạch đầu tư tiên phong làm việc này và nhận rõ trách nhiệm trước Quốc hội. Chúng tôi sẽ làm hết mình, nhưng khắc phục việc này rất khó, hiện nay số lượng công trình dở dang còn rất nhiều, vốn ngày càng rất ít. Mong đại biểu Quốc hội phối hợp giám sát, chất vấn, góp ý, chúng tôi xin tiếp thu”. (Tiền Phong 20/11; Pháp luật TP.HCM 20/11) đầu trang(
Chiều 19.11, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát đăng đàn đầu tiên trả lời chất vấn của Quốc hội.
Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết đã nhận được 20 phiếu chất vấn của 17 đại biểu Quốc hội, với 21 câu hỏi, tập trung chủ yếu vào tái cơ cấu ngành; tình hình quản lý vật tư nông nghiệp; nâng cao thu nhập và đời sống nông dân; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm...
Về những vấn đề các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đặt ra, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói rằng, đây là những vấn đề không mới, nhưng luôn nóng và rõ ràng là chúng ta chưa giải quyết tốt.
Mở đầu phần chất vấn, ĐB Trần Văn Minh (Quảng Ninh) hỏi: Nhiều cử tri đang bày tỏ sự quan ngại về tình hình sản xuất, buôn bán và sử dụng vật tư nông nghiệp (VTNN) khi tình trạng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) kém chất lượng xuất hiện tràn lan, gây thiệt hại cho nông dân. Điển hình là thời gian qua đã xảy ra vụ chôn lấp thuốc trừ sâu của Công ty CP Nicotex Thanh Thái; chất kích thích sinh trưởng bày bán vô tư... Bộ NN&PTNT có giải pháp gì để giải quyết rốt ráo?
Cũng về vấn đề này, ĐB Huỳnh Minh Hoàng (Bạc Liêu) thẳng thắn nói: Tình trạng lộn xộn đó là do Bộ NN&PTNT chậm hoặc chưa ban hành quy chuẩn quản lý chất lượng sản phẩm phân bón cũng như thức ăn thủy sản. Bộ trưởng có thể hứa bao giờ sẽ quản lý được chất lượng VTNN?
Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết: Bộ đã xác định nhiệm vụ quản lý chất lượng VTNN là số 1 từ 2-3 năm nay, đích thân Bộ trưởng hoặc ủy quyền cho các Thứ trưởng hàng tháng chủ trì họp giao ban về tình hình quản lý VTNN, an toàn vệ sinh thực phẩm. “Chúng tôi nhận thấy công tác này đã có nhiều chuyển biến tích cực, tuy nhiên cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, mong đợi của cử tri” - ông Phát thừa nhận.
Để khắc phục, Bộ trưởng cho biết sẽ tập trung vào 4 giải pháp: Một là tiếp tục hoàn thành khung pháp lý - mà mới nhất là Quốc hội đã xem xét và có thể thông qua Luật Bảo vệ, kiểm định thuốc BVTV, đồng thời tiếp tục hoàn thiện, điều chỉnh các tiêu chuẩn. Hai là chấn chỉnh lại bộ máy quản lý chất lượng VTNN, thanh kiểm tra.
Hiện nay cán bộ thanh tra ở một số địa phương rất yếu và thiếu, ví dụ tại Bắc Kạn chỉ có 1 thanh tra tại Sở NN&PTNT, Bắc Giang 2 người, còn trung bình mỗi tỉnh cũng chỉ có 7-9 người... Ba là chỉ đạo các địa phương tăng cường kiểm tra, siết chặt tình hình buôn bán VTNN tại các khu vực biên giới; thống kê các cơ sở sản xuất kinh doanh, xác định trọng tâm, trọng điểm để phát hiện và kịp thời xử lý vi phạm. Thứ tư là tăng cường phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân phối hợp phát hiện, đấu tranh với các loại VTNN giả, nhái, kém chất lượng...
“Vai trò chủ động của Bộ NNPTNT phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính trong việc phát triển bền vững ngành lúa gạo Việt Nam để người sản xuất hưởng lợi một cách công bằng là thế nào?” - ĐB Nguyễn Văn Tuyết (Bà Rịa - Vũng Tàu) hỏi.
Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng việc cần làm đầu tiên là phải tiếp tục rà soát quy hoạch về các khu vực trồng lúa. Những nơi không thuận lợi trồng lúa thì chuyển sang trồng các loại cây khác, có lợi hơn cho dân. Thứ hai là tiếp tục hỗ trợ nhân dân ứng dụng khoa học, kỹ thuật.
Lấy ví dụ về cây lúa, ông Phát cho biết ông đã đặt hàng với các viện nghiên cứu chọn tạo ra một số lượng ít giống nhưng phải đạt những tiêu chí: Có giá trị thương phẩm trên 500 USD/tấn thay vì chỉ 400USD như hiện nay; không phải trồng 3 năm đã xuống cấp, phải trồng từ 10 năm trở lên chúng tôi mới công nhận...
Hai giải pháp khác ông Phát nêu ra là phải tiếp tục hỗ trợ nhân dân để ứng dụng cơ giới hóa, ứng dụng công nghệ mới trong bảo quản và chế biến; tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp, liên kết giữa nông dân và nông dân, liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. “Mô hình cánh đồng mẫu lớn của An Giang đã cho thấy đấy là một lối thoát có triển vọng” - ông Phát nói.
Trả lời ĐB Nguyễn Thanh Thủy (Hậu Giang) về việc khi nào người nông dân hết cảnh được mùa mất giá, Bộ trưởng Cao Đức Phát không đưa ra được mốc thời gian cụ thể mà chỉ nói chung chung “đó là điều chúng ta mong đợi”.
Bộ trưởng phân tích, lúc nào chúng ta cũng mong sản xuất nông nghiệp được giá, có lợi cho nông dân, nhưng giá cả theo quy luật cung cầu. Nguồn cung của ngành nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, còn phía cầu thị trường phụ thuộc phần lớn vào thị trường thế giới mà thị trường không thể ổn định như mong đợi, luôn phải sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
Về an toàn hồ đập, ĐB Lê Nam (Thanh Hóa) đặt vấn đề tại tỉnh Thanh Hóa có rất nhiều hồ đập, tuy nhiên các hồ này chủ yếu khai thác, mà không bảo trì bảo dưỡng dù đã xuống cấp trầm trọng. “Trận mưa đầu tháng 10 đã làm hai hồ đập ở huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa) gây thiệt hại lớn cho dân. Vậy giải pháp của Chính phủ và Bộ trưởng như thế nào để ngăn ngừa thảm họa do hồ đập gây ra?”.
Bộ trưởng Cao Đức Phát thừa nhận hiện nay có 1.200/6.800 hồ đập có vấn đề cần tu bổ, nâng cấp. Vừa qua chính phủ đã nâng cấp được 500 hồ. Riêng năm 2013 xác định tu bổ 317 hồ, Chính phủ đã bỏ ra hơn 500 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương sửa chữa hơn 90 hồ đập.
Ông Phát cũng cho biết trước mỗi trận bão, Bộ NN&PTNT đều có cảnh báo tới các địa phương về các hồ nguy hiểm để địa phương cử người canh gác và cảnh báo cho người dân. Tuy nhiên một trong những khó khăn trong việc nâng cấp, sửa chữa các hồ đập xuống cấp là thiếu kinh phí, khoảng 3.000 tỷ đồng. “Chúng tôi kiến nghị Quốc hội cần quan tâm và dành kinh phí để sửa chữa các hồ, đập, đảm bảo an toàn cho người dân vùng lũ”, Bộ trưởng Phát nói.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng Bộ trưởng Phát phải làm rõ “vậy 1.200 hồ đập đó có vỡ không? Nếu vỡ thì gay go. Nếu chưa có tiền phải tìm cách báo cáo Chính phủ, Quốc hội để thực hiện”.
ĐB Phan Văn Quý (Nghệ An) cho rằng để người dân có cuộc sống ổn định khi “sống chung với lũ” phải có chính sách đột phá và có mô hình nhà chống lũ hiện đại. Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời việc này phải do Bộ Xây dựng quyết. “Tuy nhiên trước sức tàn phá của cơn bão Haiyan vừa qua tại Philippines, có thể nói là chúng ta đã rất may mắn khi cơn bão này không đi qua. Nhưng chúng ta không thể may mắn mãi”, ông Phát lo lắng.
Về nhà tránh lũ, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng làm rõ thêm.
Ông Dũng cho biết hiện nay cả nước có hai khu vực cần lưu ý là Đồng bằng sông Cửu Long và miền Trung. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, hiện nay đã bố trí 140 nghìn hộ vào 804 cụm tuyến dân cư bờ bãi có sẵn. Đối với miền Trung, Bộ Xây dựng làm thí điểm 700 ngôi nhà chống lũ. Mỗi một ngôi nhà có nhà sàn và khung bê tông khoảng từ 10 đến 15 m2. “Đợt mưa lũ vừa qua những nhà làm thí điểm rất an toàn. Chính phủ đang chuẩn bị nguồn vốn để đầu tư cho 40 nghìn hộ xây nhà chống bão”, ông Dũng nói.
Ông Dũng cho biết, trước sức tàn phá nặng nề của cơn bão Haiyan vừa qua tại Philippines, Bộ Xây dựng đã có kế hoạch đưa đoàn công tác sang nước bạn để khảo sát. Bộ cũng đang nghiên cứu quy hoạch những đô thị ven biển để ứng phó với biến đổi khí hậu đối với VN trong tương lai.
ĐB Trương Văn Vở (Đồng Nai) đã 2 lần đứng lên hỏi Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc vì sao đến nay vẫn chưa ngăn chặn được tình trạng phá rừng để trồng cao su? Giải pháp xử lý dứt điểm của Bộ trưởng như thế nào và trách nhiệm của Bộ trưởng đến đâu?
Trả lời câu hỏi này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết, những năm trước chúng ta có chủ trương cho dùng diện tích rừng nghèo kiệt, có điều kiện phù hợp để trồng cây cao su, tạo công ăn việc làm cho công nhân, chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên và một ít tại Tây Bắc.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chúng tôi đã phát hiện một số sai phạm, đã đề xuất lên Chính phủ và đã cùng các địa phương nghiêm túc kiểm tra, theo đó chỉ cho phép triển khai các dự án đã được phê duyệt trong quy hoạch. “Rõ ràng chúng tôi có trách nhiệm cùng chính quyền địa phương trong việc thiếu kiểm tra, giám sát thường xuyên. Chúng tôi xin nhận trách nhiệm trong việc này và sẽ cố gắng triển khai thực hiện tốt hơn” – Bộ trưởng nói.
Chưa thỏa mãn với câu trả lời này, ông Vở tiếp tục đề nghị Bộ trưởng có báo cáo rõ hơn để nhân dân an tâm, bởi hiện nay tình trạng sử dụng đất rừng để trồng cao su đang vượt quy hoạch, vậy từ nay trở đi có chấm dứt tình trạng này hay không?
Trách nhiệm để xảy ra việc này thuộc về ai? Vẫn giữ sự từ tốn, chậm rãi, Bộ trưởng Phát cho biết: Hiện toàn quốc có 910.000ha cây cao su, vượt hơn 100.000ha so với quy hoạch của Chính phủ. Nhưng số diện tích này không hoàn toàn trồng trên đất rừng hay do phá rừng, mà có cả trồng trên đất lâm nghiệp, đất nghèo kiệt và một số loại đất khác.
Từ năm 2011 trở lại đây chỉ có 60.000ha được trồng hợp pháp, chúng tôi cũng đã đề nghị dừng không cho khai thác thêm. Tuy nhiên, ở một số nơi vẫn có tình trạng bà con tự khai thác rừng để trồng.
“Đương nhiên với trách nhiệm quản lý ngành, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT phải chịu trách nhiệm, nhưng các địa phương cũng phải liên đới. Bộ trưởng không thể hàng ngày lặn lội tới từng địa phương để kiểm tra, xử lý vi phạm, xem cao su đó có trong quy hoạch hay không, do vậy chính quyền địa phương cần lưu ý thực hiện tốt trách nhiệm của mình” – ông Phát dung hòa.
Nhận xét trả lời chất vấn của Bộ trưởng Phát, ĐB Huỳnh Minh Thiện (TP.Hồ chí minh) cho rằng: “Bộ trưởng vẫn chưa làm rõ trách nhiệm việc thương lái nước ngoài len lỏi đi thu mua nông sản đến đâu. Rồi việc nông dân vì lợi ích trước mắt mà có thể phá vỡ cả hoạt động của lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, như nuôi ốc bươu vàng, thu mua lá điều... Những cái này Bộ trưởng phải nói rõ trách nhiệm trong việc xử lý, không thể cứ nói chúng tôi nhắc nhở, tuyên truyền”.
ĐB Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh) đánh giá: “Về giải pháp đầu ra cho các sản phẩm nông nghiệp, qua báo cáo của Bộ trưởng tôi thấy chưa có gì mới so với trước. Theo tôi, ngoài các giải pháp ứng dụng KHCN, đầu tư vốn... cần phải thêm giải pháp ngăn chặn các hàng hóa nông nghiệp nhập lậu, kém chất lượng. Làm sao cho hàng hóa của chúng ta có thương hiệu là vấn đề cần được Bộ trưởng nói rõ và có định hướng thực hiện”. (Nông Thôn Ngày Nay 20/11; Tiền Phong 20/11) đầu trang(
Chiều 19/11, Bộ trưởng Bộ Khoa học - công nghệ Nguyễn Quân cũng tham gia “chia lỉa” với Bộ trưởng Cao Đức Phát về việc hỗ trợ của khoa học công nghệ cho nông nghiệp.
Ông Quân cho biết: “Hiện một số lĩnh vực ta nằm ở vị trí dẫn đầu trong khu vực như sản xuất lúa gạo, cà phê, cao su, thủy sản cá da trơn, công nghiệp cơ khí siêu trường, siêu trọng, công nghiệp phần mềm... Với định hướng đầu tư, chiến lược phát triển khoa học công nghệ mà Thủ tướng phê duyệt thì có thể yên tâm là đến năm 2020 ta sẽ vượt hơn so với vị trí hiện nay. Nhưng để nằm trong tốp 3, tốp 4 khu vực là bài toán không đơn giản nhưng chúng tôi sẽ nỗ lực”.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ngắt lời: “Với tất cả biện pháp như vậy thì năm năm nữa ta có sánh được, thậm chí có vượt Thái Lan không?”. Ông Quân trả lời: “Nông nghiệp ta đang thua kém Thái Lan. Nhưng có nhiều yếu tố tiềm ẩn mà ta có thể vượt Thái Lan. Riêng về khâu giống như giống lúa, giống cây, giống con thì nhà khoa học ta không thua kém Thái Lan. Ta thua kém nhiều nhất là ở khâu chế biến, bảo quản, thu hoạch”. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
Vừa bằng kỳ họp Quốc hội thứ 5, kỳ họp này cũng mới có 5 chất vấn bằng văn bản được gửi tới Thủ tướng, tính đến 17h ngày 18/11.
Con số này khá ít ỏi so với nhiều thành viên Chính phủ khác, nhưng lại là quá nhiều so với các phó thủ tướng. Ngoài Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải nhận được một chất vấn thì chưa có văn bản chất vấn nào được gửi đến các phó thủ tướng khác.
5 chất vấn dành cho Thủ tướng đề cập các nội dung rất khác nhau, nhưng đều có câu hỏi về trách nhiệm.
Một đại biểu chuyên trách ở Trung ương nêu, ở Việt Nam, Chính phủ quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Văn bản pháp lý cao nhất là Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011. Khi Chính phủ ban hành Nghị định, chính quyền địa phương và nhân dân rất đồng tình khi nhiều chính sách dân tộc được nhà nước đề ra. Nhưng đến nay, gần hai năm qua có rất nhiều chính sách chưa được Chính phủ ban hành, các bộ hướng dẫn (khoản 14 chính sách trong Nghị định 05 của Chính phủ), các địa phương không tổ chức thực hiện được chính sách.
Đề nghị Thủ tướng cho biết nguyên nhân và giải pháp trong thời gian tới? Trách nhiệm này thuộc về ai?
Nội dung thứ hai được vị đại biểu nói trên chuyển đến người đứng đầu Chính phủ là, năm 2013, được sự quan tâm của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách mới, đồng bào dân tộc rất phấn khởi. Hiện nay, có ba chính sách ban hành nhưng ngân sách không bố trí thực hiện (Quyết định số 775/QĐ-TTg về hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc nghèo; Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg về hỗ trợ đất ở và việc làm đồng bào dân tộc ĐBSCL; Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg về chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số) và Chương trình 135 hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng theo Quyết định số 551/QĐ-TTg.
Đề nghị Thủ tướng cho biết vì sao nhà nước ban hành chính sách nhưng ngân sách không bố trí ngân sách thực hiện và năm 2014 có bố trí ngân sách thực hiện không? Đại biểu đặt câu hỏi.
Vị đại biểu khác thuộc đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Tuyên Quang ghi phiếu chất vấn gửi Thủ tướng: qua tiếp xúc cử tri tại kỳ họp thứ 5 và trước kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13, cử tri tỉnh Tuyên Quang cho rằng hiện nay Bộ Y tế chậm trễ trong việc triển khai ban hành danh mục bệnh tật để làm cơ sở giải quyết chế độ, chính sách cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học theo quy định tại khoản 2, Điều 39 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ.
Hiện nay, qua rà soát, tỉnh Tuyên Quang có 186 đối tượng và con đẻ của người hoạt động kháng chiến, tham gia trong vùng Mỹ rải chất độc hóa học còn tồn chưa được giải quyết, lý do là tại văn bản số 4515/BYT-KCB ngày 25/7/2013 về việc thực hiện Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 của Chính phủ quy định về điều kiện xác nhận đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học của Bộ Y tế trả lời: “Hiện nay Bộ chưa có cơ sở khoa học thực tiễn để ban hành danh mục bệnh tật dị dạng, dị tật do nhiễm chất độc hóa học…”.
Cử tri tỉnh Tuyên Quang mong muốn Thủ tướng chỉ đạo sớm giải quyết vì trong số đối tượng này có một số người đang mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, đang chờ được giải quyết chế độ.
Trong 3 năm (2010 đến 2012), nhiều địa phương tại các tỉnh miền núi, Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Bắc Cạn, có kết dư quỹ bảo hiểm y tế. Theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế và Nghị định 62 của Chính phủ, thì các địa phương trên được hưởng phần kết dư. Nhưng đến nay chưa có tỉnh nào được hưởng, một vị đại biểu khác phản ánh.
Sau đó chất vấn Thủ tướng: việc không thực hiện chuyển phần kết dư địa phương được hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế cho địa phương được hưởng thì Chính phủ có vi phạm quy định trên hay không? Nguyên nhân chậm chuyển trả phần kết dư địa phương được hưởng? Giải pháp truy trả cho địa phương như thế nào?
Sốt ruột vì dự án điện hạt nhân chậm tiến độ, một vị đại biểu chuyên trách cũng ghi phiếu chất vấn chuyển đến người đứng đầu Chính phủ.
Ông viết, tại Nghị quyết số 41/2009/QH12, Quốc hội đã quyết định dự kiến lộ trình triển khai thực hiện dự án điện hạt nhân Ninh Thuận: "Khởi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 vào năm 2014, đưa tổ máy đầu tiên vận hành vào năm 2020".
Ngày 23/10/2012, Chính phủ có báo cáo số 297/BC-CP nêu: "dự kiến tháng 3/2013 sẽ hoàn thành hồ sơ phê duyệt địa điểm và dự án đầu tư nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1.
Tuy nhiên, tại kỳ họp thứ 6, báo cáo số 370/BC-CP ngày 14/10/2013 lại nêu: sẽ hoàn thành lập hồ sơ phê duyệt địa điểm xây dựng và dự án đầu tư nhà máy này vào tháng 12/2013 và không đề cập đến việc khởi công nhà máy vào 2014. Còn tại báo cáo thẩm tra số 1049/BC-UBKHCNMTQH13 ngày 23/10/2013 của Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội lại khẳng định: "... đến năm 2014 sẽ chỉ có thể khởi công các công trình hạ tầng phục vụ thi công như đường giao thông, điện, nước. Và mẻ bê tông đầu tiên cho tâm lò phản ứng chỉ được đổ sớm nhất vào cuối năm 2017, đầu năm 2018 khi TKKT được duyệt và có giấy phép xây dựng".
Như vậy, cho đến nay có thể khẳng định dự án nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sẽ bị chậm, không đạt tiến độ như Nghị quyết 41/2009/QH13 yêu cầu.
Đại biểu đặt câu hỏi: "Kính đề nghị Thủ tướng cho biết: 1. Nguyên nhân, trách nhiệm của sự chậm trễ này. 2. Sự chậm trễ này có làm tăng chi phí đầu tư và làm giảm hiệu quả của dự án không?". (Vneconomy 19/11) đầu trang(
Không chỉ là 15.000 tỷ như một số vị đại biểu đã “khen”, mà Bộ Giao thông Vận tải đã cắt giảm khoảng 20.000 tỷ đồng tổng mức đầu tư tại một số công trình dự án.
Bên cạnh tái cơ cấu Vinashin, Vinalines, báo cáo Quốc hội về kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn sau 3 kỳ họp gần đây, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng còn đề cập các nội dung liên quan đến đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông, quản lý, sử dụng quỹ bảo trì đường bộ…
Trong quản lý đầu tư xây dựng, báo cáo cho biết, Bộ đã rà soát, điều chỉnh quy mô và phân kỳ đầu từ các côn trình giao thông vận tải cho phù hợp với điều kiện về vốn và nhu cầu thực tiễn.
Đến nay Bộ đã cắt giảm được khoảng 20.000 tỷ đồng tổng mức đầu tư tại một số công trình, dự án như đường cao tốc Bến Lức - Long Thành, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, dự án mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Quán Hành - Quán Bánh, đoạn nam tuyến tránh Hà Tĩnh - Vũng Áng…
Hiện nay Bộ đang tiếp tục rà soát quy mô đầu tư một số dự án khác như đường Hồ Chí Minh đoạn qua Bình Phước, đường Tân Vũ - Lạch Huyện, cầu Mỹ Lợi và tiếp tục xem xét để cắt giảm quy mô một số công trình trong thời gian tới như cảng Lạch Huyện, cầu Việt Trì… Bộ trưởng cho biết.
Đánh giá khái quát, báo cáo nêu công tác quản lý tiến độ, chất lượng công trình đã có chuyể biến tích cực. Hiện nay không còn tình trạng công trình chậm tiến độ.
Tại báo cáo, tư lệnh ngành giao thông cũng trình bày với Quốc hội khó khăn khi Nghị quyết số 13, Hội nghị Trung ương 4 giao mục tiêu về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa đất nước cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất cao (giai đoạn 2011 - 2015 cần 480.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016 - 2020 cần 730.000 tỷ đồng). Trong khi đó, vốn ngân sách dành cho ngành năm 2011 - 2013 lại chỉ đạt 20% so với nhu cầu vốn cho giai đoạn 2011 - 2015.
Để khắc phục khó khăn, Bộ phải xem xét cắt giảm đầu tư, đồng thời huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách theo hình thức BOT, PPP… Đến nay, ngành huy động được hơn 94.000 tỷ đồng. Cụ thể, các dự án BOT mở rộng quốc lộ 1A là 49.002 tỷ đồng, các dự án BOT mở rộng đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên là 5.890 tỷ đồng, các dự án khác khoảng 40.000 tỷ đồng.
Trong quản lý và sử dụng quỹ bảo trì đường bộ, trước khi cung cấp các con số cụ thể, Bộ trưởng Thăng giải thích, các bộ ngành đã nghiên cứu rất kỹ các phương án thu và lựa chọn phương án thu qua đầu phương tiện là phương án công bằng nhất.
Bộ Tài chính hiện đang lấy ý kiến góp ý về phương án quy định mới. Còn Bộ Giao thông vận tải đã báo cáo Thủ tướng, triển khai thực hiện các phương án xử lý dừng, xóa bỏ các trạm thu phí nộp ngân sách, xắp xếp lại các trạm thu phí BOT, trạm đã chuyển nhượng về quyền thu phí.
Cụ thể, hiện ngành đã dừng thu 22 trạm. Việc mua lại 2 trạm Hoàng Mai và Bãi Cháy do việc đàm phán với nhà đầu tư không đi đến thống nhất nên Bộ đã báo cáo Thủ tướng giao Tổng cục Đường bộ thay mặt chủ phương tiện để chi trả tiền vé qua trạm cho nhà đầu tư trong quá trình thu phí còn lại của hợp đồng với mức thu hiện hành. Việc trả tiền vé này đã thực hiện từ 15/10 vừa qua.
Với quỹ bảo trì đường bộ, Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết, trong 2013, việc thu quỹ bao gồm nguồn thu phí qua đầu phương tiện ô tô và ngân sách cấp bổ sung là 1.500 tỷ đồng (375 tỷ đồng/quý). Tổng thu quỹ Trung ương đến ngày 31/10 đạt hơn 5.600 tỷ đồng, trong đó, thu phí trên đầu phương tiện ô tô đạt gần 4.500 tỷ đồng. Ước thực hiện cả năm 2013 sẽ đạt trên 6.400 tỷ.
Cũng đến hết tháng 10, tổng chi quỹ Trung ương là 4.300 tỷ đồng. Trong đó có 3.604 tỷ cho cho quản lý, bảo trì hệ thống quốc lộ và các nhiệm vụ liên quan (gồm việc bảo dưỡng thường xuyên 102 tuyến quốc lộ với chiều dài 17.800 km, chi sửa chữa định kỳ 904 dự án…).
Ngoài ra, 700 tỷ đồng được chi về cho các quỹ bảo trì đường bộ địa phương để thực hiện các dự án sửa chữa hư hỏng cục bộ của 201 tuyến đường địa phương.
Dự kiến tổng chi cả năm 2013 vào khoảng 6.400 tỷ đồng (tương đương khoản thu quỹ đạt được), Bộ trưởng báo cáo.
Để hạn chế xe quá tải, Bộ trưởng Thăng trình bày, Bộ đã triển khai các trạm cân lưu động. Hiện ngành đã đầu tư 10 trạm cân. Hết năm 2013 sẽ đầu tư thêm 57 trạm, nâng tổng số trạm cân lên 67 trạm, từng bước hạn chế hiện tượng xe quá tải lưu thông ảnh hưởng xấu đến chất lượng cầu đường. (Vneconomy 19/11) đầu trang(
Hai đại biểu đề nghị Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình làm rõ vì sao còn tình trạng tồn tại khoảng 30% cán bộ công chức không làm được việc trong Bộ máy Nhà nước, thế nhưng Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình chưa đưa ra câu trả lời cho câu hỏi này.
Tại phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình sáng nay (20-11), hai đại biểu Danh Út (Kiên Giang) và Huỳnh Nghĩa (Đà Nẵng) cùng đặt vấn đề: trong báo cáo của Chính phủ vừa qua có nêu cả nước có 30% cán bộ, công chức không làm được việc, điều đó đúng không? Với trách nhiệm của mình, bộ trưởng nghĩ sao về vấn đề này và bộ trưởng đã giải quyết vấn đề này như thế nào?
Với câu hỏi này, Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình chưa đưa ra câu trả lời. Ông bảo chúng tôi sẽ kết hợp để có nhóm trả lời chung câu hỏi này.
Các đại biểu ngồi phía dưới hội trường tỏ vẻ chưa đồng tình với câu trả lời này của Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng nói Bộ trưởng chưa trả lời rõ vấn đề mà hai đại biểu Huỳnh Nghĩa và Danh Út nêu, đề nghị Bộ trưởng nói rõ hơn sau giải lao.
Đại biểu Huỳnh Nghĩa còn nhấn mạnh, đã hết nửa nhiệm kỳ làm bộ trưởng nhưng tôi thấy công việc triển khai của Bộ Nội vụ quá ì ạch, nhiều việc chưa được triển khai và giải quyết, Bộ trưởng cảm nhận và đánh giá như thế nào?
Về câu hỏi này, Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình chưa đề cập tới trong phần trả lời của mình.
Đại biểu Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) hỏi về trách nhiệm của Bộ Nội vụ trước tình trạng có chủ trương tinh giản biên chế, cán bộ công chức, thế nhưng sau 5 năm, việc này không được thực hiện và thậm chí số cán bộ công chức còn tăng thêm, đề nghị Bộ trưởng giải thích rõ vấn đề này. Ông Vinh cũng hỏi về trách nhiệm của Bộ Nội vụ trong việc đào tạo, nâng cao năng lực của cán bộ công chức.
Tuy nhiên câu trả hỏi này cũng chưa nhận được trả lời thỏa đáng của Bộ trưởng. Chủ tịch Quốc hỗi Nguyễn Sinh Hùng đề nghị Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình quay lại cau hỏi này sau giải lao.
Đầu giờ sáng 20-11, Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp - Phát triển nông thôn Cao Đức Phát tiếp tục trả lời một số câu hỏi của đại biểu. Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình sẽ đăng đàn.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình tập trung trả lời các nhóm vấn đề: Giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, công tác tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm… để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức Hội.
Chiều nay, Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son tập trung trả lời các nhóm vấn đề: Trách nhiệm quản lý nhà nước đối với báo chí nói chung và báo mạng nói riêng trước tình hình an ninh văn hóa diễn biến phức tạp; Giải pháp quản lý những trang thông tin điện tử, ngăn chặn tác hại và chấn chỉnh những vi phạm trong việc kinh doanh trò chơi trực tuyến (game online); Trách nhiệm và giải pháp tăng cường quản lý thị trường viễn thông, khắc phục tình trạng sim rác, tin rác, tin quảng cáo rác trên điện thoại di động. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
Trước thềm chuyến thăm cấp nhà nước Cộng hòa Ấn Độ, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời phỏng vấn của Hãng thông tấn Ấn Độ PTI.
Về vấn đề biển Đông, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng tôi luôn kiên trì chủ trương thông qua thương lượng hòa bình để đi tới giải pháp cơ bản, lâu dài về những bất đồng, tranh chấp giữa các bên liên quan trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982.
Trước mắt, các bên cần nghiêm chỉnh tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC), đồng thời đẩy nhanh quá trình hình thành Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC). Tôi nghĩ rằng hòa bình, ổn định, an ninh hàng hải và hợp tác cùng có lợi trên biển Đông là lợi ích thiết yếu của nhiều quốc gia, cả trong và ngoài khu vực. Chúng tôi đánh giá cao lập trường xây dựng của Ấn Độ trên vấn đề này”.
Về vấn đề hợp tác giữa Ấn Độ và ASEAN mà Việt Nam là một thành viên, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ: “Ngày nay, Ấn Độ là bạn hàng thứ sáu của ASEAN với kim ngạch buôn bán hai chiều lên tới gần 72 tỉ USD và dự kiến sẽ đưa lên mức 100 tỉ USD vào năm 2015.
Thời gian tới, hai bên đứng trước yêu cầu gia tăng sự kết nối toàn diện, nhất là về hạ tầng giao thông, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, khoa học, du lịch..., nỗ lực sớm ký hiệp định về dịch vụ, đầu tư, hình thành khu vực mậu dịch tự do, đẩy mạnh hợp tác trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, phối hợp chặt chẽ tại các cơ chế khu vực do ASEAN đóng vai trò trung tâm. ASEAN và Ấn Độ cần cùng nhau hành động kiên quyết và sáng tạo hơn nữa”. (Tuổi Trẻ 19/11) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 182/2013/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động, thay thế Nghị định 103/2012/NĐ-CP ngày 4/12/2012.
Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với doanh nghiệp từ ngày 1/1/2014 sẽ là 2,7 triệu đồng/tháng tại vùng I; 2,4 triệu đồng/tháng tại vùng II; tại vùng III là 2,1 triệu đồng/tháng và vùng IV là 1,9 triệu đồng/tháng.
So với mức lương tối thiểu theo vùng hiện hành thì mức lương tối thiểu theo vùng sắp áp dụng sẽ cao hơn khoảng từ 250.000-350.000 đồng/tháng.
Trước đó, khi đem ra lấy ý kiến về lương tối thiểu vùng mới, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam đã dự báo mức sống tối thiểu năm 2014 tại vùng I trên 4,1 triệu đồng/tháng, vùng II trên 3,4 triệu đồng/tháng, vùng III trên 3 triệu đồng/tháng, và vùng IV trên 2,4 triệu đồng/tháng. Như vậy, kể cả khi tăng lương thì mức lương tối thiểu mới cũng chưa đủ đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu của người lao động.
Mức lương tối thiểu này mới chỉ đáp ứng được 66% mức sống tối thiểu của người lao động ở vùng I, 70,6% mức sống tối thiểu người lao động ở vùng II; 70% mức sống tối thiểu của người lao động ở vùng III và 79% mức sống tối thiểu của người lao động ở vùng IV.
Cũng theo Nghị định, mức lương tối thiểu vùng như trên là cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận tiền lương, bảo đảm mức tiền lương tính theo tháng trả cho người lao động chưa qua đào tạo làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
Mức lương thấp nhất trả cho người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng.
Căn cứ vào mức lương tối thiểu vùng nêu trên, doanh nghiệp sẽ xác định, điều chỉnh các mức lương trong thang lương, bảng lương của doanh nghiệp và mức lương ghi trong hợp đồng lao động của người lao động cho phù hợp với quy định của pháp luật lao động.
Đồng thời, Chính phủ cũng khuyến khích các doanh nghiệp thỏa thuận, trả lương cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng quy định.
Nghị định 182/2013/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 31/12/2013 và sẽ bắt đầu áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Nghị định này từ ngày 1/1/2014.
Đối tượng áp dụng với Nghị định này gồm các doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam); hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này). (Dân Trí 20/11) đầu trang(
Thủ tướng vừa phê duyệt Quyết định Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo giai đoạn 2013 – 2020, tổng nhu cầu vốn đầu tư cho Chương trình khoảng 28.809 tỷ đồng.
Chương trình nhằm tạo điều kiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất của người dân khu vực nông thôn, miền núi, góp phần cải thiện và thu hẹp dần khoảng cách phát triển trong vùng và giữa các vùng một cách bền vững, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo tại khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Mục tiêu đến năm 2015 về cơ bản các xã trên toàn quốc có điện đưa đến trung tâm xã, đến năm 2020 hầu hết số hộ dân nông thôn có điện, với 57 xã, khoảng 12.140 thôn, bản, khoảng 1.288.900 hộ dân được cấp điện. Quyết định nêu rõ, Chương trình này được thực hiện từ năm 2013 đến hết năm 2020 qua 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ 2013 – 2015. Giai đoạn 2 từ 2016 – 2020. (Đại Đoàn Kết 19/11) đầu trang(
Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 153/2013/TT-BTC quy định về thủ tục thu, nộp tiền phạt, biên lai thu tiền phạt và kinh phí từ ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động của các lực lượng xử phạt vi phạm hành chính, có hiệu lực thi hành kể từ 16 -12 -2013.
Theo đó, thủ tục thu tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính được quy định rõ: Quá thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức chưa nộp tiền phạt thì sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và cứ mỗi ngày chậm nộp phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm 0,05% trên tổng số tiền phạt chưa nộp.
Không tính chậm nộp tiền phạt trong thời hạn cá nhân vi phạm hành chính được hoãn thi hành quyết định xử phạt theo quy định của pháp luật. Số ngày chậm nộp tiền phạt bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo chế độ quy định và được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp tiền phạt. (Đại Đoàn Kết 19/11) đầu trang(
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 159/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, để thay thế cho Nghị định số 02/2011.
Theo đó, đội ngũ phóng viên (những người chưa được cấp thẻ nhà báo) cũng sẽ được bảo vệ khi tác nghiệp.
Cụ thể, Điều 7 nghị định quy định phạt tiền từ 5 đến 10 triệu đồng đối với hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của nhà báo, phóng viên. Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nhà báo, phóng viên khi đang hoạt động nghề nghiệp. Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với một trong các hành vi: Uy hiếp tính mạng nhà báo, phóng viên; hủy hoại, cố ý làm hư hỏng phương tiện, tài liệu hoạt động báo chí của nhà báo, phóng viên.
Một điểm mới khác, Nghị định 159 quy định phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi: Cản trở việc cung cấp thông tin cho báo chí của tổ chức, cá nhân; không thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí theo quy định…
Như vậy, nghị định nói trên đã bổ sung hành vi “không thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí” vào nhóm hành vi phải chịu chế tài, tuy nhiên mức phạt tiền với hành vi cản trở việc cung cấp thông tin lại giảm đáng kể (mức hiện hành là từ 1 triệu đến 3 triệu đồng).
Cạnh đó, Nghị định 159 quy định sẽ phạt tiền từ 3 triệu đến 5 triệu đồng đối với hành vi “cung cấp thông tin không trung thực, sai sự thật cho báo chí”.
Về phía báo chí, khi đăng, phát thông tin sai sự thật sẽ bị chế tài tùy theo mức độ hậu quả, mức thấp nhất là 1 triệu đồng nếu “chưa gây ảnh hưởng nghiêm trọng” và cao nhất là 30 triệu đồng nếu “gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng”; nếu cơ quan báo chí đăng, phát tác phẩm đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; đăng, phát thông tin gây phương hại đến lợi ích quốc gia hoặc gây mất đoàn kết dân tộc sẽ bị phạt tiền từ 70 triệu đến 100 triệu đồng… Nghị định mới sẽ có hiệu lực từ 1-1-2014. (Pháp luật TP.HCM 20/11) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Thủ tướng vừa ban hành Chỉ thị số 15/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
Cụ thể, theo Chỉ thị số 15, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương phấn đấu đạt mục tiêu, trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước các cấp, từ năm 2014, có ít nhất 55% văn bản được trao đổi hoàn toàn dưới dạng điện tử và đến hết năm 2015 phấn đấu đạt mức 80% (trong đó văn bản điện tử dạng ảnh quét, số hoá từ văn bản giấy chiếm ít hơn 50% tổng số văn bản điện tử được trao đổi nội bộ).
Trước quý 1/2014, trừ các loại văn bản có quy định mật, 100% các văn bản, hồ sơ, tài liệu trình Chính phủ, Thủ tướng để giải quyết công việc và 50% văn bản trao đổi giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ngoài bộ hồ sơ giấy, đều phải gửi kèm bản điện tử của toàn bộ hồ sơ văn bản.
Trong giai đoạn 2013-2015, các bộ, ngành, địa phương phấn đấu đạt mục tiêu 60% văn bản, hồ sơ chính thức trình lên các bộ, cơ quan ngang bộ, bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh để giải quyết công việc ngoài bản giấy đều phải gửi kèm bản điện tử của toàn bộ hồ sơ trình...
Các bộ, ngành, địa phương tăng cường trao đổi văn bản điện tử giữa các đơn vị trực thuộc các bộ, cấp sở, ban, ngành, quận, huyện tại các địa phương với nhau. Trong năm 2014 đạt 30% số văn bản, tài liệu chính thức hoàn toàn dưới dạng điện tử, 35% số văn bản dưới dạng hỗn hợp điện tử kèm bản giấy; cuối năm 2015 đạt ít nhất 50% số văn bản được trao đổi dưới dạng hỗn hợp.
100% cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước đăng tải văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng hợp, thống kê về ngành, lĩnh vực quản lý, dự thảo văn bản cần xin ý kiến thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước và các thông tin khác. (Vneconomy 19/11) đầu trang(
QUẢN LÝ
Sở LĐ-TB&XH vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh cách chức ông Nguyễn Văn Nhãn (52 tuổi), phó giám đốc Sở LĐ-TB&XH kiêm bí thư chi bộ, giám đốc Trung tâm chữa bệnh, giáo dục - lao động xã hội tỉnh (gọi tắt là trung tâm chữa bệnh).
Theo báo cáo, với vai trò là người đứng đầu trung tâm chữa bệnh, ông Nhãn đã để xảy ra hàng loạt sai phạm như: vi phạm nguyên tắc đấu thầu, quyết toán khống và kê chênh lệch tiền thanh toán hàng trăm triệu đồng; duyệt một số khoản chi chưa đúng chế độ, vượt quá quy định, không đảm bảo chứng từ thanh quyết toán
Đáng chú ý, ông Nhãn đã tự ý ra chủ trương thu thêm tiền của học viên trên 433,3 triệu đồng, thu tiền của học viên trốn trại trên 60 triệu đồng (1 triệu đồng/học viên). Các khoản thu này để ngoài sổ sách. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
Chiều 19-11, ông Đinh Như Hạnh - phó tổng giám đốc Tổng công ty Bưu điện VN dẫn đầu đoàn công tác, tổ chức cuộc họp tại Bưu điện Hà Tĩnh để xem xét kỷ luật đối với hai lãnh đạo Bưu điện Hà Tĩnh.
Tại đây, Tổng công ty Bưu điện VN đã bỏ phiếu, thống nhất kỷ luật cảnh cáo với ông Lê Đức Ninh (59 tuổi) giám đốc và khiển trách ông Nguyễn Kiên Cường (39 tuổi) phó giám đốc Bưu điện Hà Tĩnh.
Đợt thanh tra của đoàn công tác Tổng công ty Bưu điện VN đã phát hiện hai người này vi phạm nguyên tắc xây dựng cơ bản trong quá trình xây dựng nhà trạm thông tin và điều hành giao dịch Bưu điện huyện Cẩm Xuyên và một số công trình khác. Hậu quả làm thất thoát trên 500 triệu đồng.
Ngoài ra Bưu điện Hà Tĩnh sẽ xét kỷ luật bảy cán bộ liên quan khác gồm: hai trưởng phòng, một phó phòng, ba chuyên viên và một giám đốc Bưu điện huyện Thạch Hà. Bảy người này liên quan đến sai phạm nêu trên. (Tuổi Trẻ 19/11) đầu trang(
THAM NHŨNG - LÃNG PHÍ
Đó là thông tin được đưa ra tại Hội nghị tổng kết công tác thi đua năm 2013, triển khai nhiệm vụ công tác thi đua năm 2014 của Thanh tra cụm thi đua 9 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Dương và Vĩnh Phúc), diễn ra sáng 19.11 tại Thái Bình.
Toàn ngành thanh tra của 9 tỉnh đã triển khai hơn 2.000 cuộc thanh tra kinh tế, phát hiện số tiền sai phạm hơn 203 tỉ đồng, kiến nghị thu hồi gần 92 tỉ đồng, hơn 717.000 m2 đất, kỷ luật 10 cá nhân.
Trong công tác phòng chống tham nhũng, từ đầu năm đến nay thanh tra 9 tỉnh không phát hiện một vụ việc nào liên quan đến vi phạm của cán bộ, công chức. Nguyên nhân đưa ra là do thiếu sự tố giác, phát hiện của cán bộ, công chức đối với vấn đề này. (Thanh Niên 20/11) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Phiên xét xử hành chính sơ thẩm của TAND tỉnh Trà Vinh sáng 19-11 đã tuyên bà Trần Hồng Ly “thua kiện”.
Trước đó, bà Ly (nguyên phó phòng quản lý doanh nghiệp và lao động - Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh) khởi kiện ông Lê Tấn Lực (trưởng Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh Trà Vinh) vì cho rằng buộc bà thôi việc bất hợp pháp.
Bà Ly cũng là người xông thẳng vào trụ sở UBND tỉnh đập phá ôtô công vụ và phòng làm việc của ông Trần Khiêu (nguyên chủ tịch tỉnh Trà Vinh, đã miễn nhiệm).
Tại tòa, người thừa ủy quyền của ông Lê Tấn Lực cho rằng quyết định cho thôi việc là đúng quy trình và hợp pháp bởi bà Ly có 13 cái sai như chống người thi hành công vụ, gây mất đoàn kết nội bộ, làm giả hồ sơ mang thai...
Riêng vụ mang thai, tại tòa, bà Ly bật khóc và khẳng định là thật bởi có nhiều bệnh viện xác nhận và cơ quan điều tra bước đầu xác nhận. Sau đó thai bị hư trước khi bà có đơn khởi kiện. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
Viện KSND tối cao vừa ra cáo trạng vụ án “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” nâng khống giá trị tài sản từ 100 triệu đồng lên 130 tỉ đồng tại Công ty cho thuê tài chính II (ALCII) - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN (Agribank), truy tố 10 bị can về tội danh trên.
Các bị can bị truy tố gồm Vũ Quốc Hảo (nguyên tổng giám đốc ALCII, bị án tử hình trong vụ tham nhũng tại ALCII); Nguyễn Văn Tài (nguyên phó tổng giám đốc ALCII, bị án 14 năm tù trong vụ tham nhũng tại ALCII); Phạm Xuân Nghị, Nguyễn Văn Thọ, Đinh Nguyên Tý (nguyên trưởng và hai phó phòng cho thuê thuộc ALCII);
Hoàng Lộc (nguyên tổng giám đốc Công ty cổ phần giám định, thẩm định Việt Nam - Vivaco); Lê Phúc Đức (nguyên trưởng phòng giám định, thẩm định của Vivaco); Phạm Minh Tuấn (nguyên chủ tịch HĐQT Công ty Xuân Việt); Vũ Đức Hòa và Lê Thị Minh Huệ (nguyên giám đốc và kế toán trưởng Công ty cổ phần Cát Long Hải). (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Đại biểu Quốc hội Bùi Thị An có lần tha thiết đề nghị Thống đốc sắp xếp thời gian vi hành ở những nơi mà “dân vẫn phải đi vay nặng lãi” từ tín dụng đen, nơi mà doanh nghiệp (DN) không tiếp cận được vốn, công chức không vay được tiền mua nhà “mặc dù lãi suất trần của đồng chí hạ thấp”.
Bà An thậm chí nêu tên một DN cụ thể hiện “đang phải vay với lãi suất là 15%... hạ trần lãi suất vừa rồi rất tốt nhưng ai được tiếp cận vốn, ai được vay!”.
Rất nhanh chóng sau đó, và cũng rất thật thà, Thống đốc đã có hồi âm. Một bài báo dẫn báo cáo Ngân hàng Nhà nước, đáp rằng: Thống đốc đi 33 tỉnh, thành trong 10 tháng.
Phải thừa nhận là Thống đốc đang “ghi điểm” trong báo cáo Chính phủ với mấy chữ chính ông có lẽ cũng thích thú “điểm sáng trong điều hành kinh tế vĩ mô”.
Chính sách với “sòng vàng” đã dẹp bỏ cơ bản tính chất cờ bạc dù 8.000 tỉ đồng lãi ra vẫn không ít ý kiến cho rằng bản chất vẫn là tiền của dân. Vàng đưa ra khỏi cân đối, lãi suất USD bị đánh sụt, đương nhiên tỉ giá cũng vì thế mà ổn định.
Để tìm một hình ảnh về “nửa giải Nobel” cho Thống đốc, có lẽ không gì sinh động hơn đánh giá của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính quốc gia Trương Văn Phước, rằng “đã tìm lại được tương đối nhanh dây cương của con ngựa tiền tệ từng bất kham những năm trước”. Nếu chính sách tiền tệ mà là một con ngựa bất kham, thì không ai khác, Thống đốc chính là kỵ sĩ đã nắm được sợi dây cương.
Về lý thuyết, thấp là lãi suất cho vay giảm từ 9-12%/năm. Nhưng chỉ vừa một tuần trước, trên báo Nhân Dân, xuất hiện những lời than. Nào là “Hầu hết các DN, nhất là DN vừa và nhỏ, vẫn đang gặp khó khăn về nguồn vốn”.
Bài báo dẫn lời TGĐ Nhà máy ôtô Xuân Kiên Bùi Ngọc Huyên nêu thực tế: “Dù lãi suất đã hạ, chỉ còn từ 7-9%/năm, nhưng không phải DN nào cũng được hưởng mức lãi suất này. Chỉ có một số DN “thân quen” hoặc đang hoạt động “khỏe” được tiếp cận. Còn lại, phần lớn vẫn phải vay vốn với lãi suất từ 10-12%/năm hoặc không đủ điều kiện vay vốn”.
Ngay cả vốn rẻ, DN cũng không mặn mà. Ngay cả khi ngân hàng thừa vốn, DN cũng vẫn khó tiếp cận như thường. Một dòng trong báo cáo của Thống đốc gửi QH hôm qua đã chứa đựng sự thật đó: Dư nợ tín dụng tăng chỉ 7,18%, còn cách khá xa mục tiêu tăng trưởng là 12%.
Thống đốc đã đi 33 địa phương trong 10 tháng. Thế là nhiều rồi. Nhưng DN và người dân vẫn cần những chuyến vi hành tiếp cận các điểm “nghẽn”. Bởi chỉ có gặp gỡ DN, lắng nghe những cái khó thì sợi dây trong tay Thống đốc mới là sợi dây cương điều khiển con ngựa tiền tệ đi đúng hướng, chứ không chỉ đơn thuần là sợi dây lý thuyết đang trói tay những người mong vốn như trời hạn mong mưa. (Lao Động 19/11) đầu trang(
“Tại sao chúng ta đầu tư lôm côm, lãng phí thế này? Rất đơn giản, bởi vì lâu nay các cơ quan dân cử không thể kiểm soát được đầu tư” - Đại biểu Trần Du Lịch đã nói như vậy tại buổi thảo luận về dự án Luật Đầu tư công.
Hai chữ “lôm côm” được vị tiến sĩ kinh tế này dùng rất “văn học” khi bàn về một lĩnh vực quan trọng của đất nước. Ông Lịch xài chữ quá đắt, quá đúng, quá trúng với tình trạng đầu tư công hiện nay. Không lôm côm sao được khi địa phương nào cũng có dự án xây dựng, bất cần biết dự án đó có thực sự cần thiết hay không.
Có không ít dự án đầu tư vượt nhiều lần khả năng sử dụng, vẽ đường cho lớn ra, vẽ cầu cho to ra, vẽ cảng biển, sân bay cho hoành tráng ra. Tỉnh này có sân bay thì tỉnh khác cũng có sân bay, anh có cảng biển tôi cũng có cảng biển, chị có nhà máy ximăng tôi có hơn chị. Ông ở trụ sở như cung điện thì tôi cũng xây cung điện làm trụ sở.
Không lôm côm sao được khi vẽ dự án ra rồi chạy đua xin vốn. Túi tiền ngân sách có hạn, rải mỗi nơi một ít nên nơi nào cũng thiếu. Nói như ngôn ngữ của TS Lê Đăng Doanh là “tiền ngân sách bị rải tứ tung”. Vì thế, có rất nhiều dự án kéo dài từ vài năm đến vài chục năm do không có vốn, dẫn đến lãng phí vô cùng lớn.
Không lôm côm sao được khi chính các dự án đầu tư này là môi trường nảy sinh tham nhũng, hối lộ, rút ruột công trình. Doanh nghiệp “săn” tin các dự án được phê duyệt là lao vào, là cửa sau cửa trước để trúng thầu. Hăm hở xây nhưng công trình dang dở vì chủ đầu tư chưa xin được vốn. Cả nước cùng kịch bản như nhau, dẫn đến nợ đọng xây dựng cơ bản lên đến 42.000 tỉ đồng, theo công bố của Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Bùi Quang Vinh tại Quốc hội ngày 19.11.
Địa phương thiếu vốn nợ doanh nghiệp, doanh nghiệp nợ ngân hàng, cả một hệ thống kinh tế bị các dự án xây dựng “dư giấy làm gì chẳng vẽ voi” bắt làm con tin. Thế nhưng, theo trả lời của Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, các địa phương, các bộ có kiểm điểm về trách nhiệm, nhưng rất ít người nhận trách nhiệm hoặc nhận chung chung, ít trường hợp có địa chỉ cụ thể. Thật quá lôm côm.
Không nói “văn học” như ông Trần Du Lịch, Đại biểu Võ Thị Dung nói thẳng: “Vừa qua rõ ràng đầu tư công quá lãng phí, chúng ta phải thấy là có tội với nhân dân trong việc sử dụng nguồn vốn của Nhà nước... Chứ như vừa qua đầu tư công là một trong những lĩnh vực tham nhũng rất nặng nề”.
Có cả một rừng luật như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Xây dựng, Luật Quản lý nợ công, Luật Quản lý sử dụng tài sản nhà nước, Luật Đấu thầu, Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí... nhưng vẫn chưa đủ để điều chỉnh những “cái đầu” quản lý quá tham lam dự án đầu tư.
Nay thêm một dự án Luật Đầu tư công, liệu có ngăn chặn được những dự án xây dựng ào ạt như nấm, liệu có không còn mắc tội với nhân dân. (Lao Động 20/11) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||