|
Ngày 12 tháng 06 năm 2014
THỜI SỰ
TRUNG QUỐC ĐẶT GIÀN KHOAN VÀO VÙNG BIỂN VIỆT NAM
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
QUẢN LÝ
NHÂN SỰ
KINH TẾ
PHÁP LUẬT
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THỜI SỰ
Kết thúc phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng sáng 11-6, Chính phủ đã nhận được lưu ý đặc biệt từ Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: “Có thể kết luận nợ công, nợ Chính phủ đang ở trong mức giới hạn của pháp luật cho phép nhưng đe dọa an ninh tài chính vĩ mô rồi”.
Khái quát vấn đề nợ công như một nỗi lo quốc gia được đặt ra nghiêm túc tại phiên chất vấn chiều 10 và sáng 11-6, là người từng giữ chức bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nêu ra nhiều vấn đề tài chính quốc gia sát sườn. Ông nhận xét: “Bộ trưởng nói là an toàn, đang ở mức an toàn, đại biểu thì rất lo lắng, nó có nhiều dấu hiệu không an toàn”. Theo ông Hùng, phát biểu của các vị đại biểu, trả lời của bộ trưởng đã rõ ý này, cho nên phải tập trung giải quyết.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu phải tái cơ cấu nguồn vay. Hiện nay, vay với thời hạn 1, 2, 3 năm trở lại, chưa dùng đến đã phải trả nợ. “Cơ cấu nợ công như vậy là xấu” - ông Hùng đánh giá đồng thời đề nghị tăng cường lượng vốn vay 5, 10, 15 năm và 20 năm đối với nước ngoài; vay càng dài càng tốt. Gợi mở thêm giải pháp, ông Hùng yêu cầu cân đối thu chi hợp lý để đảm bảo khả năng trả nợ của ngân sách. Trả nợ đến 25% là quá cao rồi, cố gắng tỉ lệ này khoảng 15-19%, “đến một thời điểm nào đó căng quá thì mới có thể (trả nợ) chiếm 20% số thu” - ông Hùng lưu ý.
Trong khi đó, việc lấy nguồn vay để trả nợ cũng khiến nhiều đại biểu rất lo lắng. Theo ông Nguyễn Sinh Hùng, vay để đảo nợ cũng có nghĩa lấy tiền vay để trả nợ, “là không an toàn”. “Vay để trả nợ thì không làm nợ công tăng nhưng vay phải để cho đầu tư phát triển, bội chi là để đầu tư phát triển, không phải chủ yếu để trả nợ” - Chủ tịch Quốc hội cũng nhắc nhở Quốc hội duyệt bội chi ngân sách, duyệt trái phiếu Chính phủ là để đầu tư chứ không phải để trả nợ.
Tại phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đánh giá câu hỏi của đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) hay. Ông Nghĩa cho rằng chiến lược phát triển của Việt Nam nói chung và chiến lược tài chính nói riêng từ bây giờ trở đi không thể không tính đến yếu tố Trung Quốc.
Ông Nghĩa chất vấn: Xin cho biết bằng thông tin và số liệu, mức độ phụ thuộc (lệ thuộc nếu có) về tài chính của Việt Nam đối với Trung Quốc, cụ thể là nợ công mà chủ nợ là nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc; nguồn vốn ODA từ Trung Quốc và các dự án có liên quan, hiệu quả, chất lượng của các dự án này. Vốn của các doanh nghiệp tư nhân hoặc nhà nước Trung Quốc trong các công ty cổ phần của Việt Nam (nếu có). Tình hình các doanh nghiệp Trung Quốc thâu tóm và chi phối nền kinh tế, thị trường Việt Nam thông qua việc mua bán công ty... Các chính sách, biện pháp của Chính phủ nói chung và Bộ Tài chính nói riêng để khắc phục tình trạng lệ thuộc về tài chính đối với Trung Quốc.
Trả lời đại biểu Trương Trọng Nghĩa, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng khẳng định Việt Nam vay của Trung Quốc không nhiều. Trong đó, về chứng khoán, các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư vào lĩnh vực này đến nay chỉ chiếm 0,33% so với quy mô thị trường. Có hai nhà đầu tư lớn, chủ yếu đầu tư vào hai công ty Việt Nam (đầu tư dài hạn nên không lo ảnh hưởng lớn); số còn lại các nhà đầu tư nhỏ không đáng kể. Tuy nhiên, “đụng” đến tổng số nợ vay của Trung Quốc, như ông Nghĩa hỏi, ông Dũng cho rằng “có tính nhạy cảm, xin phép trao đổi trực tiếp với đại biểu Trương Trọng Nghĩa”.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói: “Chúng ta hợp tác làm ăn theo pháp luật với Trung Quốc, nếu thua thì hai bên cùng thua, còn vay mượn của ta với Trung Quốc cũng không lớn, nên chưa đến mức độ phụ thuộc gì lớn”.
Trả lời báo chí sau phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng sáng 11-6, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết nguồn vốn chi cho đầu tư phát triển (năm 2014) từ nguồn ngân sách nhà nước là 163.000 tỉ đồng, còn tính thêm cả trái phiếu Chính phủ 100.000 tỉ đồng nữa thì nguồn đầu tư này là 263.000 tỉ đồng (khoảng 23,8%).
Ông Vinh khẳng định với tỉ lệ vốn chi cho đầu tư phát triển như thế vẫn rất thấp so với một nước đang phát triển. Tuy nhiên theo ông Vinh, cần chia sẻ là ngân sách của nước ta hiện nay quá hạn hẹp. Trong tình hình này, điều quan trọng nhất là cần cơ cấu lại việc chi tiêu. “Việc chi tiêu của chúng ta hiện nay rất nhiều bất hợp lý” - ông Vinh nhấn mạnh. (Tuổi Trẻ 12/6) đầu trang(
Phiên chất vấn và trả lời chất vấn trước Quốc hội sáng 11.6 của Bộ trưởng Bộ GDĐT Phạm Vũ Luận “nóng” với các câu hỏi về tình trạng hàng chục nghìn cử nhân thất nghiệp, tiêu cực trong thi cử, chạy theo thành tích, đề án đổi mới sách giáo khoa...
Đại biểu Hà Minh Huệ (Bình Thuận) tuy đã được Bộ trưởng Bộ GDĐT trả lời bằng văn bản, nhưng ông vẫn chất vấn rằng: Bộ trưởng không kiểm soát được tình hình khi đưa ra con số 34.000 tỉ đồng cho đề án đổi mới chương trình SGK. Nếu trong đề án không trình bày kinh phí thực hiện thì đó không chỉ là một sai sót, mà còn là một đề án chưa chuẩn xác nhưng đã trình ra UBTVQH?”.
Bộ trưởng Luận thừa nhận “lỗi kỹ thuật” về số tiền “khổng lồ” được trình ra với UBTVQH: “Tôi khẳng định đề án không hề đề cập đến số tiền này. Do đi vắng, tôi giao cho một thứ trưởng đi họp, nhưng mong QH thông cảm cho, anh dự một cuộc họp trang nghiêm như vậy đã bị “khớp” nên đã vô tình nêu ra số tiền không có trong đề án”.
Tuy nhiên, dư luận đặt câu hỏi vị thứ trưởng đã lấy ở đâu số tiền khủng thế để báo cáo, thậm chí số tiền chi tiết đến từng phần mục?
Quan ngại về các trường đại học chủ yếu đào tạo các ngành nghề khoa học xã hội mà không tập trung vào đào tạo ngành nghề khoa học kỹ thuật, gây “méo mó” cung cầu thị trường lao động, đại biểu Thân Đức Nam (Đà Nẵng) đề nghị Bộ trưởng Phạm Vũ Luận giải thích về con số 72.000 cử nhân thất nghiệp.
Bộ trưởng Luận thừa nhận: “Bộ GDĐT có trách nhiệm chính trong các yếu kém này! Có một khoảng thời gian dài, mô hình phát triển giáo dục ĐH chỉ chú trọng số lượng mà xem nhẹ chất lượng, quy trình mở trường, cấp phép thành lập ĐH chưa chú trọng đến nhu cầu thực tế của xã hội”.
Theo ông Luận, ngành giáo dục đã có nhiều giải pháp để cải thiện tình hình trên, như “siết” những ngành đã có quy mô đào tạo lớn, từ nay đến năm 2015 không thành lập thêm bất cứ trường ĐH nào, điều chỉnh cơ cấu 450 sinh viên/10.000 dân xuống còn 200 sinh viên...
“Tôi xin nói rõ, việc làm là vấn đề của thị trường. Khi thị trường lao động hình thành, độ trễ giữa cung – cầu là thực tế khách quan. Bộ GDĐT có trách nhiệm phối hợp xử lý, cảnh báo cho xã hội ngành nào thiếu, thừa. Còn các bộ phận khác về cầu lao động, việc làm cần đưa ra các phương án để sẵn sàng cho thị trường lao động” – Bộ trưởng Luận cho biết.
Trước lo ngại của nhiều đại biểu tình trạng bỏ điểm sàn sẽ hạ thấp chất lượng đầu vào ĐH, ông Luận phân tích rõ, kỳ thi ĐH vẫn sẽ có điểm sàn nhưng với nhiều mức khác nhau, nhằm phân tầng ĐH thành các mức chất lượng khác nhau, từ đó giúp học sinh cân nhắc lựa chọn trường phù hợp. Điểm sàn không quyết định chỉ tiêu tuyển sinh, chỉ là giới hạn về chất lượng, nếu thấp hơn nữa thì không đủ yêu cầu đào tạo.
Bộ trưởng Luận nêu rõ: “Chỉ tiêu tuyển sinh của từng trường đã thay đổi theo hướng bỏ cơ chế xin – cho mà căn cứ vào hai yếu tố: Số lượng giảng viên cơ hữu thực có của các cơ sở đào tạo và diện tích xây dựng phục vụ đào tạo mà nhà trường có. Xin bao nhiêu sinh viên sẽ phụ thuộc vào hai điều kiện này”.
Đại biểu Nguyễn Thị Bích Nhiệm (Yên Bái) băn khoăn việc chọn đột phá từ khâu thi cử chỉ thay đổi phần ngọn, trong khi đổi mới chương trình, phương pháp dạy học mới là phần gốc. Ông Phạm Vũ Luận giải thích: “Giữa thi cử và dạy học có quan hệ tác động lẫn nhau. Trong quá trình triển khai dạy học và thi cử, có thể có những thay đổi của quá trình thi cử dẫn đến sự thay đổi của dạy và học. Con em chúng ta đang học theo cách của chúng ta với nhiều lạc hậu cần thay đổi, thì khi đi học nước ngoài với cách thi khác hẳn, các em vẫn thích ứng được”.
Với tình trạng học sinh không đọc thông viết thạo vẫn được lên cấp 2 khiến đại biểu Hồ Thị Thủy (Vĩnh Phúc) lo ngại về chất lượng giáo dục thực sự, ông Luận quả quyết: “Chúng tôi thừa nhận có tình trạng này và đang nỗ lực giảm bệnh thành tích. Bậc tiểu học đã triển khai rộng rãi chương trình giảng dạy tiếng Việt mới trên phạm vi rộng. Với chương trình này, xin hứa với đại biểu Quốc hội là các cháu học hết lớp 1 có thể viết đúng chính tả, học hết lớp 2 có thể viết đúng câu và không tái mù!”. (Lao Động 12/6) đầu trang(
Là người truy vấn Bộ trưởng Phạm Vũ Luận về việc đưa 34.000 tỉ đồng vào đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa, song câu trả lời từ ông Luận mà đại biểu Hà Minh Huệ (Bình Thuận) nhận được được cho là chưa thỏa đáng, có phần né tránh.
Đại biểu Huệ, cùng với đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) đã có bình luận về điều này bên hành lang Quốc hội chiều nay, 11.6.
Theo đại biểu Hà Minh Huệ - Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, việc Quốc hội chấp thuận để Chính phủ rút, không trình đề án trên tại kỳ họp này là đã rõ, và sự thật là Bộ GDĐT có sai sót. Tuy nhiên, điều quan trọng mà đại biểu Quốc hội lẫn người dân quan tâm là bao giờ làm xong đề án này?
“Trả lời của Bộ trưởng về quá trình làm đề án này thì cử tri cả nước cũng đã nghe rõ rồi. Chúng tôi muốn nói rõ trách nhiệm Bộ trong việc trình lên nội dung này. Bộ trưởng nói áp dụng kinh nghiệm trình Nghị quyết về đổi mới chương trình, SGK của năm 2000. Nay đã là năm 2014, nếu áp dụng như vậy thì có thỏa đáng không? Nhất định phải đổi mới cách làm sau chừng ấy năm chứ!” - đại biểu Huệ bức xúc.
Ông còn bình luận thêm, việc Bộ trưởng nêu là con số 34.000 tỉ đồng đưa ra là do anh em bị… khớp là một câu trả lời chưa thỏa đáng, thậm chí có phần buồn cười. Theo ông Huệ, trách nhiệm của bộ trưởng ở đây cũng phải được làm rõ, chứ không đơn thuần chỉ là do lỗi kỹ thuật.
Cho rằng rất… "hoang mang" trước câu trả lời của Bộ trưởng Luận, đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) đồng thời nghi ngại không biết bao giờ thì Bộ mới đổi mới chương trình, SGK xong. Ông nhấn mạnh: “Những việc đó gây mất lòng tin cho nhân dân. Mặc dù chúng ta ghi nhận là giáo dục thời gian qua đã có những thay đổi, nhưng với giáo dục, chúng ta đang đòi hỏi phải có những đổi mới cấp bách”.
Theo đại biểu Dương Trung Quốc, với các phát ngôn của mình, Bộ trưởng không chỉ nói về bản thân mà nói cả về bộ máy của mình. “Tốt nhất là Bộ trưởng nhận lỗi của mình. Còn sau đó Bộ trưởng xử lý cấp dưới của mình như thế nào thì chúng ta không bàn. Với con số 34.000 tỉ đồng, điều khiến người dân thấy phản cảm nhất, mất lòng tin nhất là tại sao một con số vu vơ như vậy mà lại được đưa ra tại cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội?” – ông Dương Trung Quốc nói.
Trước đó, sau phần “truy vấn” của đại biểu Hà Minh Huệ vào cuối buổi sáng, Quốc hội dành thêm một tiếng vào đầu buổi chiều để Bộ trưởng Phạm Vũ Luận trả lời các chất vấn dang dở. Đại biểu Hà Minh Huệ đã đưa ra thắc mắc về con số 34.000 tỉ đồng được báo cáo tại Ủy ban Thường Vụ Quốc hội và cho rằng, Bộ trưởng Luận đã không kiểm soát được tình hình về đề án đổi mới chương trình, SGK.
Bộ trưởng Luận khi đăng đàn, đã thừa nhận: “Đây là lỗi kĩ thuật, và trước một cuộc họp quan trọng như thế, anh em đã có phần bị… khớp!”. Ông mong Quốc hội thông cảm cho những sai sót đáng tiếc này, đồng thời khẳng định sẽ hoàn thiện đề án và sớm trình Quốc hội trong kì họp tới (gồm cả phần dự trù kinh phí). (Lao Động 12/6) đầu trang(
Tại phiên chất vấn chiều 11-6, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường thốt lên như vậy.
Trả lời câu hỏi của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Trần Du Lịch, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường nói: “Hệ thống pháp luật Việt Nam có lẽ phức tạp nhất thế giới. Vì theo quy định, rất nhiều chủ thể, thậm chí tới cả chủ tịch xã cũng được ban hành văn bản QPPL và một chủ thể được ban hành rất nhiều loại văn bản”.
Chất vấn Bộ trưởng Hà Hùng Cường chiều 11-6, ĐB Nguyễn Thị Kim Thúy (Đà Nẵng) hỏi thẳng: “Liệu có sự cài cắm lợi ích nhóm, lợi ích riêng của các bộ, ngành khi xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật (QPPL)? Có hay không xu hướng quy định nhằm tạo thuận lợi cho phía cơ quan công quyền, đẩy khó khăn về phía người dân?”.
ĐB Trần Du Lịch (TP.HCM) tiếp lời: “Có dư luận cho rằng Bộ Tư pháp vì nể nang đã để tình trạng bộ nào xây dựng luật thì quyền nặng cho mình nhưng trách nhiệm nhẹ đi và thiếu một tính hệ thống về pháp luật. Trách nhiệm Bộ Tư pháp trong việc này thế nào?”.
Bộ trưởng Hà Hùng Cường đáp, theo Luật Ban hành văn bản QPPL, Bộ Tư pháp được giao thẩm định các văn bản QPPL từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên, còn thông tư, thông tư liên tịch giao cho bộ phận pháp chế của các bộ.
Từ quyết định của Thủ tướng trở lên thì quy trình rất chặt chẽ. Các văn bản QPPL đều thể hiện đường lối, chính sách của Đảng và một trong những nhiệm vụ thẩm định của Bộ Tư pháp là phải phát biểu ý kiến về việc dự thảo đó có phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng hay không?
“Với quy trình như vậy, câu chuyện có cài đặt lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, lợi ích ngành vào các văn bản QPPL từ quyết định của Thủ tướng Chính phủ trở lên, chúng tôi thấy chưa phải là vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, vấn đề là đứng từ phía nào để chúng ta nhìn xem có lợi ích nhóm?” - Bộ trưởng Cường cho hay.
Cũng theo người đứng đầu ngành tư pháp, trong việc thẩm định thông tư, thông tư liên tịch, vừa qua có một số vấn đề phát sinh khiến dư luận thắc mắc. Thế nhưng theo kết quả “hậu kiểm” của bộ, chưa thấy nổi lên vấn đề lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, lợi ích cơ quan trong văn bản của các bộ.
“Là cơ quan thẩm định, chúng tôi đã ra sức cố gắng nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm. Chúng tôi cũng thấy có sự chồng chéo…” - ông Cường thừa nhận.
Chưa hài lòng với câu trả lời của Bộ trưởng Cường, ĐB Thúy chất vấn tiếp: “Nếu bộ trưởng khẳng định là không có việc cài lợi ích nhóm, lợi ích riêng của các bộ, ngành trong việc ban hành văn bản QPPL, vậy việc soạn thảo các văn bản thường rất quan tâm đến tổ chức bộ máy, các quỹ… thì đó là cái gì? Vế thứ hai của câu hỏi bộ trưởng chưa trả lời…”.
Bộ trưởng Cường đáp Chính phủ đã ra nghị quyết (bây giờ vẫn thực hiện) là trong luật, pháp lệnh không đưa tổ chức bộ máy vào đó nếu không có sự đồng ý của Bộ Chính trị. Vậy nên nếu có thì cũng là được cơ quan có thẩm quyền quyết định.
“Đương nhiên, cũng thành thật báo cáo với QH, có những luật không phải hoàn toàn là vấn đề lobby hay chạy cái này, chạy cái khác nhưng cũng có những tranh thủ này, tranh thủ kia… Có ĐBQH tại Hà Nội rất trách nhiệm, mỗi khi có những chuyện đó đều gọi điện thoại, nhắn tin cho tôi, cũng nghe ngóng dư luận có việc nhóm nào đó định tranh thủ một đơn vị nào đó của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định. Tôi cũng được cảnh báo việc đó và cũng cố hết sức để tránh những việc như vậy” - ông Cường cho hay.
Bộ trưởng Cường sau đó thừa nhận có xu hướng không quản lý được thì cấm, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý hơn cho người dân trong một số lĩnh vực, một số văn bản. Vấn đề này đang được xem xét hết sức thận trọng. Từ khi nhận bàn giao việc kiểm soát thủ tục hành chính, Bộ Tư pháp đã yêu cầu việc kiểm tra, kiểm soát thủ tục hành chính làm sao cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân cũng như không để thuận lợi cho quản lý.
ĐB Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) đặt vấn đề: “Có những văn bản hướng dẫn nhưng không làm nhiệm vụ hướng dẫn mà đặt ra các điều kiện, thủ tục, đôi khi là những cái “bẫy” cho DN và người dân. Để vượt qua những rào cản này, người dân, DN phải chấp nhận chung chi, bôi trơn, phải xin-cho. Tình trạng này phải được khắc phục, xử lý như thế nào?”.
Bộ trưởng Hà Hùng Cường cho biết về nguyên tắc, văn bản của các bộ, kể cả mẫu mã đính kèm các văn bản không được trái với luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ và càng không được trái với Hiến pháp. “Chúng tôi sẽ kiểm tra lại cụ thể và gửi ý kiến kiểm tra để báo cho ĐB” - ông Cường nói.
ĐB Nghĩa cũng nêu vấn đề cử tri rất bức xúc là việc ra các văn bản hướng dẫn sai phải rút lại, phải thu hồi, phải sửa chữa dẫn đến chuyện đôi khi chúng ta phải tốn kém hàng trăm tỉ hoặc hàng ngàn tỉ. Bộ trưởng Cường nêu: “Văn bản ra sai có nhiều dư luận. Có những trường hợp ra văn bản rồi nhưng có những cái mới là dự thảo, sau khi được góp ý, cơ quan chủ trì soạn thảo đã sửa chữa…”.
“Chuyện chậm, chuyện ban hành sai gây hậu quả, đề nghị ngày mai bộ trưởng nói rõ thêm” - Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng “gút”. Ông Hùng cũng đề nghị Bộ trưởng Cường làm rõ về con số 312 văn bản Bộ Tư pháp báo cáo là vi phạm Hiến pháp và pháp luật, đã gây họa gì chưa?
“Nếu căn cứ vào 312 văn bản để tổ chức thực hiện thì gay go rồi. Nếu không áp dụng thì là vi phạm pháp luật. Theo quy định thì có thể khiển trách, cảnh cáo, cách chức, đuổi việc, thậm chí là có thể xử lý hình sự. Chỗ này rất nghiêm trọng. Vấn đề nợ đọng văn bản, Bộ trưởng nói là mười mấy phần trăm nhưng tôi nói nợ chỗ nào thì 100% không thi hành được chỗ đó…” - ông Hùng lưu ý. (Pháp luật TP.HCM 12/6) đầu trang(
“Có một số việc chưa thể hoàn thành trong một sớm một chiều nhưng chúng tôi đã và đang tận tâm, tận lực cống hiến hết sức để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến hồi âm câu hỏi về từ chức của đại biểu Quốc hội.
Tại kỳ họp thứ 7 của Quốc hội, Bộ trưởng Kim Tiến vẫn đứng đầu danh sách các thành viên Chính phủ nhận được nhiều chất vấn qua văn bản của các vị đại diện cho dân.
Phản ánh phẫn nộ của cử tri trước dịch sởi gây chết nhiều trẻ em, một vị đại biểu cho rẳng Bộ Y tế xử lý quá chậm. “Vấn đề đặt ra ở đây là: Tại sao các vụ việc tiêu cực liên tục xảy ra ở ngành y, giống như “nạn đại dịch”, hết vụ rút ruột vắc-xin ở trung tâm y tế Hà Nội, đến vụ nhân bản phiếu kết quả xét nghiệm ở Bệnh viện huyện Hoài Đức, thay thiết bị đục thủy tinh thể giả ở Bệnh viện Mắt, tiêm nhầm vắc-xin ở Quảng Trị, thẩm mỹ viện Cát Tường …”, đại biểu viết ở phiếu chất vấn.
Câu hỏi được gửi tới Bộ trưởng là, với tư cách là “tư lệnh ngành” trên mặt trận “nóng bỏng này”, đã liên tục để xảy ra “những tai họa” cho đất nước và cho gia đình nạn nhân, Bộ trưởng có thấy tình trạng trên có phần trách nhiệm chính do công tác điều hành của mình hay không? Ở các nước khác, nếu để xảy ra tình trạng trên, Bộ trưởng phải từ chức. Đến thời điểm này Bộ trưởng có nghĩ đến điều này hay không?
Tại văn bản trả lời, Bộ trưởng Kim Tiến viết: Như đã phát biểu trong cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ ngày 29/4/2014, tôi không thể “từ chức” khi toàn ngành y tế đang tập trung cao độ cho công tác phòng chống dịch bệnh, đang dồn sức lực cho việc giành giật sự sống của các bệnh nhi, nhằm dập tắt dịch sởi càng sớm càng tốt.
Hiện nay, khi dịch sởi cơ bản đã được kiểm soát thì dịch chân tay miệng, sốt xuất huyết và một số dịch bệnh nguy hiểm khác đang có nguy cơ bùng phát tiếp tục đặt ngành y tế trước những thách thức mới đầy khó khăn, Bộ trưởng viết tiếp.
Văn bản trả lời chất vấn cũng nêu, với mục tiêu kiểm soát hoàn toàn dịch bệnh và giảm tới mức thấp nhất số trường hợp tử vong, ngành y tế hiện đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, chính quyền địa phương tiếp tục khẩn trương triển khai các giải pháp phòng chống dịch bệnh trên toàn quốc.
Lý do tiếp theo khiến Bộ trưởng không thể rời vị trí là Bộ Y tế đang tiếp tục triển khai 7 nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra từ đầu nhiệm kỳ, đặc biệt là giảm quá tải bệnh viện, phòng chống dịch bệnh, đổi mới và phát triển ngành y tế… nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
“Tôi được Đảng và Nhà nước bổ nhiệm giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Y tế theo quy trình quy hoạch cán bộ, qua một quá trình phấn đấu. Khi nhận nhiệm vụ này, tôi luôn tâm niệm đặt quyền lợi của nhân dân, dân tộc lên trên hết”, Bộ trưởng Kim Tiến hồi âm đại biểu.
Bộ trưởng cũng cho biết đối với bất cứ vụ việc nào xảy ra trong ngành y tế, quan điểm của Bộ là phải xử lý nghiêm minh, không bao che, đúng người đúng việc, đúng trách nhiệm, thẩm quyền quản lý, giải quyết theo quy định của pháp luật và cần có sự phối hợp chặt chẽ, quyết liệt, cộng đồng trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ở cả Trung ương và địa phương, bên cạnh trách nhiệm của người đứng đầu ngành y tế.
“Tôi mong đại biểu Quốc hội và cử tri thấu hiểu, chia sẻ, ủng hộ ngành y tế nói chung và với Bộ trưởng y tế nói riêng để chúng tôi tiếp tục vững tâm hoàn thành được những nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược của ngành, phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn”, Bộ trưởng kết thúc văn bản trả lời chất vấn. (Vneconomy 11/6) đầu trang(
Hôm nay (12/6), theo sự phân công của Thủ tướng, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ trả lời chất vấn các đại biểu Quốc hội.
Các vấn đề lớn của đất nước sẽ được Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trả lời đại biểu Quốc hội như về tình hình Biển Đông, việc hỗ trợ ngư dân, lao động việc làm, an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, công tác chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội của Chính phủ.
Trước đó, Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh trả lời chất vấn các vị đại biểu Quốc hội các vấn đề được đại biểu và cử tri quan tâm.
Theo Thanh tra Chính phủ, tính đến nay, kết quả kiểm tra, rà soát, giải quyết 528 vụ việc tồn đọng, bức xúc, kéo dài đã giải quyết được 492/528 vụ việc (đạt 93%); hiện còn 36 vụ việc các bộ, ngành, địa phương đang tích cực giải quyết. Trong số các vụ việc đã giải quyết, có 43 vụ việc công dân vẫn tiếp tục đến khiếu nại tại Trụ sở Tiếp dân TW; 53 vụ việc công dân vẫn gửi đơn khiếu nại đến Thanh tra Chính phủ.
Về công tác phòng, chống tham nhũng, hằng năm, Thanh tra Chính phủ hướng dẫn các bộ, ngành, địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm đối với thủ trưởng các cơ quan quản lý Nhà nước trong thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại các bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty 91.
Qua kiểm tra, thanh tra thực hiện các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng đã thu được những kết quả nhất định, cụ thể: Chỉ ra những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng của địa phương, bộ, ngành và doanh nghiệp, đồng thời, kiến nghị chấn chỉnh và có biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm theo quy định; Nâng cao nhận thức của người đứng đầu, cán bộ, công chức về công tác phòng, chống tham nhũng; xác định được tầm quan trọng của việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng từ đó nêu cao vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong công tác phòng, chống tham nhũng…
Về những hạn chế, yếu kém trong công tác này, Thanh tra Chính phủ cũng chỉ ra nguyên nhân chính. Đó là, trách nhiệm người đứng đầu trong nhiều trường hợp chưa quyết liệt, chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng; việc tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu.
Công tác chỉ đạo của các cấp, các ngành trong thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa thường xuyên.
Việc thanh tra, kiểm tra chưa nắm bắt được nhiều thông tin phục vụ công tác quản lý Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, đặc biệt chưa phát hiện được những vụ việc, sai phạm có tính chất nghiêm trọng về kinh tế hoặc hành vi tham nhũng.
Bên cạnh đó, Thanh tra Chính phủ cũng đã ra những số liệu về việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng của lực lượng thanh tra thời gian qua, theo hướng giảm dần. Năm 2011 phát hiện 150 vụ, 320 người có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tài sản là 267,4 tỷ đồng 9,4 ha đất; đã thu hồi 79,5 tỷ đồng, kiến nghị xử lý hành chính đối với 11 tập thể, 134 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra 76 vụ, 159 người; xử lý trách nhiệm 32 người đứng đầu.
Năm 2012: phát hiện 89 vụ, 107 người có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tài sản là 104,59 tỷ đồng; kiến nghị xử lý hành chính đối với 02 tập thể, 56 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra 24 vụ, 42 người, xử lý trách nhiệm 44 người đứng đầu.
Năm 2013: phát hiện 80 vụ, 90 đối tượng có hành vi liên quan đến tham nhũng với số tiền 117,5 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi 117,5 tỷ đồng; đã thu 59 tỷ đồng, kiến nghị xử lý hành chính đối với 04 tập thể, 28 cá nhân, chuyển cơ quan điều tra 11 vụ, 34 đối tượng; xử lý trách nhiệm 41 người đứng đầu.
Công tác phối hợp giữa cơ quan thanh tra với cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định; sau khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng qua thanh tra, cơ quan thanh tra đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra, viện kiểm sát đánh giá cụ thể các dấu hiệu trước khi chuyển hồ sơ, nên phần lớn các vụ việc chuyển hồ sơ được khởi tố, điều tra và xử lý. Kết quả phát hiện các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng và chuyển các vụ việc này từ cơ quan thanh tra sang cơ quan điều tra đã đạt nhiều tiến bộ.
Công tác phòng, chống tham nhũng trong nội bộ ngành Thanh tra được thực hiện nghiêm túc, quyết liệt. Trong 3 năm qua (2011-2013), ngành Thanh tra đã tiến hành xử lý kỷ luật 82 cán bộ, công chức, chiếm 0,3% trên tổng số 28.200 cán bộ, công chức (trong đó: xử lý hành chính 71 người, xử lý hình sự 11 người có dấu hiệu và hành vi tham nhũng).
Riêng Thanh tra Chính phủ đã xử lý kỷ luật 12 công chức (buộc thôi việc 1 công chức do vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật Nhà nước, cách chức 1 công chức do vi phạm pháp luật về giao thông và chống người thi hành công vụ, khiển trách 10 công chức do vi phạm về quy trình nghiệp vụ và sinh con thứ ba). (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 12/6) đầu trang(
TRUNG QUỐC ĐẶT GIÀN KHOAN VÀO VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Chiều 11-6, Cục Kiểm ngư (Tổng cục Thủy sản, Bộ NN&PTNT) cho biết: Phía Trung Quốc (TQ) tiếp tục sử dụng lực lượng áp đảo với nhiều loại tàu để vây ép, ngăn cản, uy hiếp các tàu thực thi pháp luật của Việt Nam và tàu cá của ngư dân ta tại khu vực giàn khoan phi pháp - Hải Dương 981.
Cụ thể, trong ngày TQ tiếp tục duy trì hàng trăm tàu quanh khu vực giàn khoan trái phép gồm khoảng 39 tàu hải cảnh, 14 tàu vận tải, 20 tàu kéo, 35 tàu cá và sáu tàu quân sự. Theo Cục Kiểm ngư, sáu tàu quân sự của TQ vẫn được bố trí án ngữ ba phía đông, tây, nam của giàn khoan trái phép. Cụ thể phía đông hai tàu; phía tây hai tàu, trong đó một tàu có số hiệu 756; phía nam hai tàu, số hiệu 842 và 839.
Tàu cá TQ khoảng 35 chiếc dưới sự hỗ trợ của hai tàu hải cảnh đã tiếp tục vây ép, ngăn cản tàu cá của ngư dân ta khi đang khai thác ở ngư trường truyền thống xa khu vực giàn khoan trái phép 38-40 hải lý. Các tàu hải cảnh, hải tuần, tàu kéo, tàu vận tải đã tổ chức thành từng nhóm cách giàn khoan trái phép 7-8 hải lý và 9-11 hải lý để ngăn cản và liều lĩnh đâm va, phun vòi rồng vào các tàu thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam nhằm đẩy phạm vi hoạt động của lực lượng chức năng của Việt Nam ra xa khu vực giàn khoan trái phép.
Trước hành vi hung hăng, manh động của đội tàu TQ, các tàu kiểm ngư Việt Nam vẫn an toàn và kiên trì bám sát hiện trường giàn khoan phi pháp để yêu cầu TQ rút toàn bộ giàn khoan và lực lượng ra khỏi vùng biển Việt Nam. Các tàu cá của ngư dân ta vẫn bám ngư trường để đánh bắt và đấu tranh bảo vệ ngư trường truyền thống của mình. (Pháp luật TP.HCM 12/6) đầu trang(
Giàn khoan Hải Dương 981 như cục nam châm khổng lồ hút hết mọi sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế từ đầu tháng năm cho đến nay. Nhiều nhà phân tích vò đầu tìm kiếm lời giải cho câu hỏi Trung Quốc đang có ý đồ gì đây?
Đã có nhiều lời giải và đáp số chung nhất là Trung Quốc đang thực hiện từng bước trong chiến lược độc chiếm biển Đông. Giàn khoan Hải Dương 981 là phép thử để đo lường phản ứng của Việt Nam và dư luận quốc tế.
Cũng có ý kiến phân tích Trung Quốc phạm sai lầm và sa lầy khi đưa giàn khoan Hải Dương 981 đến hạ đặt trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những gì diễn ra trên các diễn đàn ngoại giao và truyền thông quốc tế hiện nay cho thấy nhận định này không sai.
Nhưng chuyện cái giàn khoan không đơn giản như là phép thử hay đi kiếm dầu, mà là một kế sách rất thâm độc của Trung Quốc. Đã có vài ý kiến tỉnh táo, đề nghị cảnh giác Trung Quốc dùng kế “dương đông kích tây” trong vụ này. Trung Quốc đã triển khai xây dựng các căn cứ quân sự trên bãi đá ngầm Gạc Ma và Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Trung Quốc đã chiếm năm 1988. Trong khi cái giàn khoan to đùng đương tự đắc thu hút mọi sự quan sát thì họ ráo riết hoàn thành các công trình như sân bay, cảng biển ngay trên các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Giữa cái giàn khoan trôi nổi trên biển với các công trình quân sự được xây dựng kiên cố và cố định trên đảo, cái nào nguy hiểm hơn thì ai cũng biết.
Để kiểm soát và đi đến độc chiếm biển Đông, Trung Quốc cần chuẩn bị các căn cứ quân sự chiến lược trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Căn cứ trên đảo Phú Lâm tại Hoàng Sa cùng với các căn cứ khác tại hai bãi đá Gạc Ma, Chữ Thập của Trường Sa là mối đe dọa lớn không chỉ với Việt Nam. Và sau đó Trung Quốc còn làm những gì nữa thì chưa ai lường được. Đến khi đó thì tình hình sẽ rất phức tạp và Việt Nam phải đối diện với những mối hiểm nguy không thể lường hết được.
Giàn khoan Hải Dương 981 chỉ đóng vai trò con tốt đã sang sông làm nhiệm vụ nghi binh với chút ít đe dọa, còn những căn cứ quân sự trên Gạc Ma, Chữ Thập mới là con pháo, con xe đang giữ đúng các vị trí trọng yếu có sức kiểm soát toàn bộ bàn cờ.
Cần phải có đối sách đúng đắn, kịp thời và dứt khoát trước nước cờ trên biển Đông của Trung Quốc. Trước mắt, những hoạt động của giàn khoan Hải Dương 981 và việc xây dựng trên đảo Gạc Ma, Chữ Thập là vi phạm pháp luật quốc tế một cách trắng trợn, cho nên cần phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế.
Người Việt Nam thông minh cơ trí trong chống giặc ngoại xâm. Đây chính là lúc huy động tối đa sức lực, trí lực của toàn dân. Chần chừ hoặc đi sai nước là đại họa. (Lao Động 12/6) đầu trang(
Theo đài truyền hình Nhật NHK, mới đây người phát ngôn Liên Hiệp Quốc (LHQ) Stephane Dujarric tuyên bố Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon sẵn sàng làm trung gian giải quyết xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc nếu như các bên liên quan đề nghị LHQ hỗ trợ.
Ông Dujarric cho biết Tổng thư ký Ban bày tỏ hi vọng các bên sẽ giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Trong khi đó ngày 10-6, đại sứ Việt Nam tại LHQ Lê Hoài Trung đã gặp ông John Ashe, chủ tịch Đại hội đồng LHQ, để phản đối vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép trên vùng biển Việt Nam. Đại sứ Lê Hoài Trung khẳng định Việt Nam có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Ông bác bỏ những lý lẽ sai trái, không có cơ sở pháp lý quốc tế trong tài liệu Trung Quốc đưa ra tại LHQ.
Đại sứ Lê Hoài Trung nhấn mạnh Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của UNCLOS. Trung Quốc cũng vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC), đe dọa hòa bình, ổn định khu vực cũng như an ninh, an toàn và tự do hàng hải.
Chủ tịch John Ashe chia sẻ quan ngại của cộng đồng quốc tế về tình hình biển Đông. Ông khẳng định ủng hộ chủ trương của Việt Nam nhằm tìm kiếm các biện pháp hòa bình để giải quyết căng thẳng. Ông cũng cho rằng các bên liên quan không nên thực hiện các hành động đơn phương làm căng thẳng gia tăng. Chủ tịch Ashe cho biết ông sẵn sàng hỗ trợ các bên giải quyết tình hình hiện nay.
Nhà phân tích Bonnie Glaser của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ) cũng đánh giá rõ ràng Trung Quốc đang lo ngại về uy tín quốc tế của nước này sau khi bị các nước khu vực và Mỹ tố cáo là kẻ gây chiến. “Trung Quốc không muốn bị xem là nước chuyên vi phạm luật pháp quốc tế” - bà Glaser cho biết. (Tuổi Trẻ 12/6) đầu trang(
Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế (IADL) đã gửi thư đề nghị Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế, dừng và kiềm chế các hành động gây phức tạp tình hình trên biển Đông.
Sáng 11/6, được sự ủy quyền của Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế, Hội Luật gia Việt Nam tổ chức cuộc họp báo công khai bản tuyên bố của Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế về tình hình Biển Đông.
Trước sự leo thang vi phạm gần đây của Trung Quốc đối với lãnh thổ Việt Nam cũng như các tàu của nước này trên khu vực Biển Đông, IADL ra tuyên bố này và kêu gọi hành động nhằm giải quyết vấn đề trên.
Bản tuyên bố nêu rõ, vào ngày 2/5/2014, Trung Quốc đã tiến hành việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại khu vực nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
IADL hiểu rằng sau khi phía Việt Nam lên tiếng phản đối, Trung Quốc đã điều hơn 80 tàu và máy bay, bao gồm cả tàu quân sự tới khu vực trên. Tình hình trở nên nghiêm trọng hơn khi tàu Trung Quốc đâm và sử dụng vòi rồng bắn vào một số tàu cảnh sát biển và tàu kiểm ngư của Việt Nam gây thiệt hại về phương tiện và đe dọa đến tính mạng con người. IADL cũng được thông báo về một số vụ đâm vào các tàu đánh cá của Việt Nam, gây hư hại một số tàu, làm bị thương ngư dân và thậm chí khiến một tàu đánh cá của Việt Nam bị chìm.
Sau khi xem xét sự việc này, IADL đã quyết định gửi thư tới chính quyền Trung Quốc với các nội dung:
1. Nhắc nhở tất cả các bên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, tuyệt đối tuân thủ UNCLOS 1982, Công ước mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều là quốc gia thành viên.
2. Đề nghị phía Trung Quốc làm rõ cơ sở pháp lý của các hành động:
- Đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
- Đưa tàu, máy bay và tàu quân sự tới hoạt động gần khu vực giàn khoan Hải Dương 981.
- Tiền hành những hành vi khiêu khích như đâm, bắn vòi rồng vào các tàu chấp pháp của Việt Nam gây thiệt hại về phương tiện và đe dọa đến tính mạng con người cũng như các vụ việc tấn công tàu các ccuar Việc Nam ngày 7/5.
3. Kêu gọi Trung Quốc, với tư cách là một quốc gia thành viên của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (LHQ):
- Tôn trọng, tuân thủ và giữ gìn tuyệt đối Hiến chương LHQ.
- Xử sự đúng tư cách của một nước lớn cũng như đúng tư cách của 1 quốc gia thành viên của Hội đồng bảo an LHQ trong việc giữ gìn và bảo vệ hòa bình, ổn đinh, an ninh khu vực và Thế giới.
4. Yêu cầu chính quyền Trung Quốc đưa ra những phản hồi với IADL, bày tỏ quan điểm về các vấn đề này. Với tư cách là một tổ chức có mục tiêu hướng tới giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, IADL đề nghị Trung Quốc tôn trọng luật pháp quốc tế dừng và kiềm chế các hành động gây phức tạp tình hình, làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, đe dọa đến an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông. (Người Đưa Tin 11/6) đầu trang(
CHÍNH SÁCH - CHỈ ĐẠO
Ngày 9-6, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (nghị quyết số 33-NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
Mục tiêu chung của nghị quyết là xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Các giải pháp đặt ra: tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa; xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa; và tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa... (Tuổi Trẻ 12/6) đầu trang(
Thủ tướng vừa ký ban hành Nghị định 45/2014 quy định về thu tiền sử dụng đất, áp dụng từ 1/7/2014.
Theo đó, Nhà nước sẽ thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp: giao đất cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình thông qua đấu giá; thu tiền sử dụng đất khi chuyển đổi mục đích sử dụng và thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình.
Bên cạnh đó, Chính phủ cũng quy định có 2 trường hợp được giảm và 5 trường hợp được miễn tiền sử dụng đất. Trong đó 2 trường hợp giảm (50%) là gia đình dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại một số địa bàn nhất định khi cấp giấy chứng nhận lần đầu hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở và các hộ gia đình có người có công với cách mạng.
Đối với 5 trường hợp được miễn tiền sử dụng đất, gồm:
- Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi sử dụng đất để thực hiện chính sách nhà ở, đất ở đối với người có công với cách mạng thuộc đối tượng được miễn tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về người có công; hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo; sử dụng đất để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở; nhà ở cho người phải di dời do thiên tai.
- Miễn tiền sử dụng đất trong hạn mức giao đất ở khi cấp giấy chứng nhận lần đầu đối với đất do chuyển mục đích sử dụng từ đất không phải là đất ở sang đất ở do tách hộ đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi theo danh mục các xã đặc biệt khó khăn do Thủ tướng quy định.
- Miễn tiền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở cho các hộ dân làng chài, dân sống trên sông nước, đầm phá di chuyển đến định cư tại các khu, điểm tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch và dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Miễn tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất được giao trong hạn mức giao đất ở để bố trí tái định cư hoặc giao cho các hộ gia đình, cá nhân trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Thủ tướng quyết định việc miễn tiền sử dụng đất đối với các trường hợp khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính trình trên cơ sở đề xuất của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch UBND cấp tỉnh. (Vneconomy 11/6) đầu trang(
QUẢN LÝ
Theo Chánh văn phòng Công an tỉnh Ninh Bình, chiếc xe Ford Expedition được Bộ Công an cấp, mang biển kiểm soát 80, tuy nhiên, trong dịp Đại lễ Vesak vừa qua, chiếc xe này được đeo biển 35A-9999 để… tiện công tác.
Thời gian qua, dư luận tỉnh Ninh Bình xôn xao về việc 2 chiếc xe ô tô hạng sang cùng đeo biển xanh 35A-9999. Người dân đã ghi lại được hình ảnh 2 chiếc xe Toyota Camry và Ford Expedition dùng chung chiếc biển kiểm soát “tứ quý” trên.
Nhiều người cho rằng, chiếc xe Ford Expedition đeo biển thật còn xe Camry đeo biển giả vì xe Camry trong bức ảnh là xe đời mới, không thể đeo biển kiểm soát 4 số. Thậm chí, nhiều người còn “tố” rằng cả 2 xe trên đều đeo biển giả. Tấm biển kiểm soát “tứ quý 9” trên thuộc về xe Toyota Land Cruiser màu xám bạc.
Ngày 10/6, Thượng tá Lã Hồng Phúc - Chánh văn phòng Công an tỉnh Ninh Bình - khẳng định, chiếc xe mang biển kiểm soát 35A-9999 đã hỏng và được Công an tỉnh bỏ từ lâu. Tấm biển kiểm soát trên, Thượng tá Phúc cho rằng do Phòng Cảnh sát giao thông chưa thu hồi, lái xe vẫn quản lý biển.
“Hai xe Camry và Ford Expedition đều là xe của Công an tỉnh. Trong đó, xe Ford là do Bộ Công an cấp cho Công an tỉnh, mang biển 80B-4318, dùng để chở lãnh đạo Công an tỉnh. Chỉ có 1 lần chiếc xe này đeo biển 35A-9999 là đợt Đại lễ Vesak ở Bái Đính. Lái xe lấy biển cũ đeo vào để mang tính chất địa phương và tiện cho công tác bảo vệ.” - Thượng tá Phúc “trần tình”.
Theo Thượng tá Phúc, nhiều khi xe của lực lượng công an cần “hóa trang” để sử dụng việc khác nên có thể dùng biển kiểm soát khác. Song, việc sử dụng biển kiểm soát khác chỉ diễn ra trong 1 thời gian.
“Trường hợp này không phải chuyên án mà chỉ là phục vụ công việc chung” - Thượng tá Phúc nói.
Về chiếc xe Toyota Camry màu trắng, Thượng tá Lã Hồng Phúc cho hay, chiếc xe này vừa được Bộ Công an cấp cho Công an tỉnh, vừa mới được đăng ký. Trước đó, lái xe lắp biển như thế nào, Chánh văn phòng Công an tỉnh Ninh Bình cũng… không nắm được. “Có thể là lái xe tự ý lắp.” - Thượng tá Phúc nhận định.
Theo thông tin từ Chánh văn phòng Công an tỉnh Ninh Bình, chiếc xe Camry trắng vừa được đăng ký đầu tháng 4/2014, mang biển kiểm soát 35A-001.15. Chiếc xe này được giao cho lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ.
Trước câu hỏi về việc xe Ford Expedition chuyên chở lãnh đạo Công an tỉnh, xe Toyota Camry được lực lượng Cảnh sát giao thông sử dụng, tại sao lại xảy ra việc 2 xe sử dụng chung 1 biển kiểm soát “tứ quý 9”, Thượng tá Phúc không có câu trả lời rõ ràng và chỉ nhận định: “Có thể lái xe hỏi mượn của nhau.”!?
Chánh văn phòng Công an tỉnh Ninh Bình cho hay, tới đây, Công an tỉnh sẽ báo cáo sự việc với lãnh đạo, yêu cầu lái xe giải trình cụ thể đã lắp biển như thế nào, sử dụng ra sao. Theo Thượng tá Phúc, nếu phát hiện lái xe vi phạm quy chế ngành, Công an tỉnh sẽ kiểm điểm, tùy từng mức độ vi phạm để xử lý. “Trong trường hợp này có lẽ chỉ xử lý hành chính.” - Thượng tá Phúc đánh giá.
Quan sát của chúng tôi, tại khu để xe trong trụ sở Công an tỉnh Ninh Bình, chiếc xe Ford Expedition 80B-4318 được để trong “chuồng” có gắn biển dành cho chiếc xe có biển kiểm soát 35A-9999. (Dân Trí 11/6) đầu trang(
Thanh tra tỉnh Hậu Giang vừa tiến hành thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng tài chính; đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị; công tác đấu thầu thuốc tại Sở Y tế tỉnh Hậu Giang từ năm 2010 - 2013. Qua đó, phát hiện sai phạm kinh tế hơn 4,2 tỉ đồng.
Theo kết luận thanh tra, Bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Hậu Giang đã chi chưa đúng quy định hơn 2,6 tỉ đồng gồm thanh toán tiền trực đêm thêm giờ; chi phí mua thuốc, hóa chất, vật tư y tế tiêu hao từ năm 2008 - 2010 và năm 2012; chi phụ cấp độc hại; chi phụ cấp ưu đãi ngành chưa đúng đối tượng...
Các đơn vị khác như: BVĐK H.Châu Thành A, BVĐK TP.Vị Thanh, BVĐK H.Long Mỹ, BVĐK H.Phụng Hiệp, BVĐK H.Châu Thành, Trung tâm truyền thông - giáo dục sức khỏe, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS... cũng có nhiều sai phạm trong quản lý tài chính, lập hồ sơ, sổ sách, báo cáo quyết toán; quản lý, sử dụng tài sản mua sắm, tặng cho, tài trợ chưa tốt... với số tiền sai phạm từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng.
Thanh tra tỉnh Hậu Giang kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, kiểm điểm trách nhiệm Ban Giám đốc Sở Y tế và cá nhân ông Võ An Ninh (Giám đốc), ông Phan Thanh Tùng (Phó giám đốc) trong công tác quản lý điều hành, sử dụng tài chính, đầu tư xây dựng mua sắm trang thiết bị, đấu thầu thuốc để xảy ra những sai phạm như trên; kiến nghị Sở Y tế kiểm điểm trách nhiệm các tập thể, cá nhân để xảy ra sai sót; xem xét có hình thức kỷ luật phù hợp các cá nhân, cán bộ thuộc Tổ chuyên gia đấu thầu, xét thầu, Tổ thẩm định hồ sơ mời thầu, kết quả lựa chọn nhà thầu để xảy ra việc chấm thầu không phù hợp. (Thanh Niên 12/6) đầu trang(
NHÂN SỰ
Sáng 10/6, HĐND tỉnh Quảng Ngãi khóa XI, nhiệm kỳ 2011 - 2016 tiến hành kỳ họp thứ 12 (bất thường) bầu bổ sung chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2011 - 2016
Tại kỳ họp, các đại biểu đã thông qua Tờ trình của HĐND tỉnh về việc giới thiệu nhân sự bầu bổ sung chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2011- 2016 đối với ông Trần Ngọc Căng, Phó Bí thư Tỉnh ủy. Kết quả bầu, ông Trần Ngọc Căng, trúng cử chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2011 - 2016 với số phiếu cao.
Ông Trần Ngọc Căng, sinh ngày 20/9/1960, quê quán xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, cử nhân kinh tế, hiện là Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi, nhiệm kỳ 2010 - 2015.
Cũng tại kỳ họp này, các đại biểu đã biểu quyết thông qua Tờ trình của HĐND tỉnh và Nghị quyết về việc đề nghị miễn nhiệm chức danh Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Ngãi, khóa XI, nhiệm kỳ 2011 - 2016 đối với ông Phạm Minh Toản để nghỉ hưu theo chế độ. (Tin Tức 10/6) đầu trang(
KINH TẾ
Thủ tướng vừa chính thức ký ban hành Quyết định Phê duyệt đề án tái cơ cấu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) giai đoạn 2014-2015.
Theo Quyết định, Chính phủ điều chuyển nguyên trạng Công ty VMS-MobiFone, Bưu điện Trung ương, Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông về Bộ Thông tin và Truyền thông quản lý.
Sau khi sắp xếp tổ chức lại, cơ cấu của VNPT sẽ là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. VNPT sẽ có các công ty con là VNPT-VinaPhone, VNPT-Media, VNPT-Technology.
Hiện nay, VNPT còn nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ của 18 công ty khác và sẽ phải tiến hành thoái vốn đối với 63 doanh nghiệp đã góp vốn đầu tư. (VTV 12/6) đầu trang(
Chiều 11/6, lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ thành lập Đoàn kiểm tra việc giải ngân gói tín dụng hỗ trợ nhà ở 30 nghìn tỷ đồng nhằm tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy việc giải ngân.
Báo cáo mới nhất của Bộ Xây dựng cho biết, tình tình giải ngân gói hỗ trợ tín dụng 30 nghìn tỷ đồng, tính đến 31/5/2014, tổng số tiền 5 ngân hàng đã cam kết là hơn 3.950 tỷ đồng, tổng dư nợ là hơn 2.150 tỷ đồng ( tăng 225% so với thời điểm 31/12/2013), đạt 13,2% so với tổng nguồn vốn.
Gói hỗ trợ tín dụng 30 nghìn tỷ đồng là gói tín dụng cho vay trung và dài hạn, muốn giải ngân nhanh gói này thì phải có nhiều căn hộ nhà ở xã hội hoặc căn hộ nhà ở thương mại có diện tích sàn dưới 70 m2, giá bán dưới 15 triệu đồng/m2, nhưng hiện nay nguồn cung còn ít nên chưa thể giải ngân nhanh được.
Ngoài ra, một số địa phương vẫn chưa thực sự quyết liệt trong việc giải quyết các trình tự, thủ tục về công tác chuẩn bị đầu tư của các dự án nhà ở xã hội, cũng như việc xem xét, cho phép chuyển đổi dự án nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội, cho phép điều chỉnh cơ cấu diện tích các căn hộ nhà ở thương mại cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, phù hợp với tiêu chí cho vay theo quy định của Nghị quyết 02 ngày 07/01/2013 của Chính phủ.
Chính vì vậy các dự án cũng chậm được triển khai, nguồn cung còn thấp so với nhu cầu thực tế. Trong bối cảnh nợ xấu ngân hàng đang là vấn đề lớn, nên một số ngân hàng còn quy định quá thận trọng và chặt chẽ, thậm chí đặt ra quy định riêng mà nhiều khách hàng vay vốn không thể đáp ứng được hoặc quá chậm trễ trong việc xét duyệt, thẩm định đối tượng khiến người dân và các doanh nghiệp cũng nản.
Mặt khác, một số doanh nghiệp cũng chưa nỗ lực hoàn thiện hồ sơ, thủ tục đầu tư cần thiết của dự án để vay vốn, như báo cáo tài chính, giấy phép xây dựng... theo quy định, nên ngân hàng cũng chưa thể giải ngân.
Theo Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng, một trong những vấn đề lớn khiến người dân vẫn ngần ngại tiếp cận gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng, đó là lãi suất cho vay ưu đãi mặc dù đã được điều chỉnh giảm từ 6%/năm xuống 5%/năm từ tháng 01/2014, nhưng vẫn còn cao so với thu nhập của người dân; thời hạn hỗ trợ cho hộ gia đình, cá nhân vay tối thiểu 10 năm là ngắn so với khả năng tích lũy, trả nợ.
Ngoài việc người dân được thế chấp tài sản hình thành trong tương lai để vay vốn lãi suất thấp mua nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng đã đề xuất Chính phủ cho phép kéo dài thời gian hỗ trợ đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân với thời hạn cho vay tối đa từ 10 năm lên 15 năm; mở rộng đối tượng được vay vốn từ gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng... (Đảng Cộng Sản 11/6) đầu trang(
Cổng thông tin điện tử Chính phủ giới thiệu bài viết “Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp và tăng thu nhập bền vững cho người nông dân: Cần đột phá ở khâu trước và sau nông dân” của Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân.
Không đầy một năm sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã viết bài “Gửi nông gia Việt Nam” đăng trên báo “Tấc đất” ngày 11/4/1946 khẳng định vai trò quan trọng và con đường đi của ngành nông nghiệp nước ta: "Việt Nam ta là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã".
Thực hiện mong ước và chỉ dẫn của Người, trong gần 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất to lớn, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
Ngành nông nghiệp nói chung đóng góp 18,38% GDP cả nước năm 2013. Nông thôn là thị trường rộng lớn với dân số chiếm 67,64% tổng dân số cả nước năm 2013, có yêu cầu về chất lượng, mẫu mã, giá cả phù hợp với hàng sản xuất trong nước nên đã góp phần quan trọng làm tăng tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong nước, góp phần ngăn chặn nguy cơ sụt giảm tăng trưởng kinh tế.
Ngành nông nghiệp đã góp phần quan trọng thực hiện xóa đói giảm nghèo, đưa nước ta từ chỗ thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với 7 mặt hàng chủ lực như: xuất khẩu tiêu đứng thứ nhất thế giới; cà phê và hạt điều đứng thứ hai; gạo, cao su và thủy sản đứng thứ ba và chè đứng thứ năm.
Xuất khẩu nông sản tăng trưởng bình quân 13,3%/năm trong giai đoạn 2008-2012, năm 2013 đạt giá trị hơn 27 tỷ USD, chiếm gần 21% tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 2013, trong 22 mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên ngành nông nghiệp đã đóng góp 7 mặt hàng (thuỷ sản, rau quả, gạo, hạt điều, cà phê, cao su, sắn và các sản phẩm từ sắn).
Nền nông nghiệp nước ta còn tự hào có 12 loại cây trồng, vật nuôi có năng suất thuộc vào loại nước có năng suất sinh học cao nhất thế giới là hạt điều, tiêu, cà phê, nho, dừa, cao su, gạo, chè, đay, thuốc lá, cá tra và bò sữa. Nông nghiệp cũng đã góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá, kiềm chế lạm phát, nhất là trong những năm 2011 đến 2013 do giá lương thực và thực phẩm cơ bản ổn định. Lương thực, thực phẩm là mặt hàng tiêu dùng thiết yếu chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng chi tiêu của người có thu nhập thấp, nên giá lương thực, thực phẩm ổn định là niềm vui của người tiêu dùng, đặc biệt là người có thu nhập thấp.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nổi bật nêu trên, vẫn còn 3 câu hỏi cấp bách mà chúng ta cần phải tìm ra lời giải. Một là, đang tồn tại một nghịch lý: Nước ta có nhiều cây trồng, vật nuôi có năng suất thuộc loại cao nhất thế giới, nhiều nông sản dẫn đầu thế giới về xuất khẩu nhưng thu nhập của người nông dân vẫn còn thấp và không ổn định.
Hai là, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp có xu hướng giảm dần: Tăng trưởng bình quân 1996-2000 là 4,01%/năm; 2001-2005 là 3,83%/năm; 2006-2010 là 3,03%/năm và trong giai đoạn 2011-2013 chỉ tăng 2,7%/năm. Đáng lưu ý là trong 2 năm gần đây tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp giảm mạnh và chỉ bằng khoảng 2,6%/năm. Nền nông nghiệp nước ta đang đối mặt với nguy cơ không trở lại được mức tăng trưởng trên 3% trong nhiều năm tới nếu không có những giải pháp đột phá.
Ba là, với phương thức sản xuất chủ yếu là hộ gia đình và nông trại, với sự hỗ trợ của hệ thống khuyến nông và thành tựu to lớn về năng suất cây, con, sản lượng và xuất khẩu nông sản trong hơn 20 năm qua, người nông dân Việt Nam cần cù, sang tạo đã gần như làm hết khả năng của mình.
Vì vậy, muốn thúc đẩy ngành nông nghiệp tăng trưởng cao hơn, để nông dân có thu nhập cao hơn và bền vững hơn, thì ngoài việc người nông dân phải tiếp tục lao động cần cù và sáng tạo, thì cần phải “mổ xẻ”, phân tích khâu trước nông dân và sau nông dân trong chuỗi sản xuất nông nghiệp.
Có thể nói, trong hơn 20 năm qua, đã diễn ra một cuộc cách mạng về năng suất của rất nhiều cây, con ở nước ta. Đây là cơ sở khoa học và nền tảng vật chất để nông nghiệp nước ta đạt được những thành quả to lớn. Song khâu trước nông dân – việc cung ứng vốn, vật tư, giống, thiết bị máy móc cho người nông dân và khâu sau nông dân – tiêu thụ nông sản không có thay đổi nào có tính cách mạng.
Tình trạng phân bón, thức ăn chăn nuôi, giống cây, con không đạt chất lượng, bị làm giả, giá tăng cao là nằm ngoài khả năng chi phối của nông dân. Lãi suất cho vay, thời hạn vay và quy mô vốn được vay cho các hộ nông dân cũng nằm ngoài khả năng chi phối của nông dân. Giá đầu vào cao vẫn phải mua, lãi suất cao vẫn phải vay. Người nông dân không có khả năng dự báo giá cả và nhu cầu thị trường. Đến kỳ thu hoạch, giá cây, con dù thấp vẫn phải bán, nếu không sẽ còn thiệt hại hơn và không có tiền trả nợ vụ trước.
Tình trạng được mùa mất giá, được giá mất mùa diễn ra từ hàng chục năm, song người nông dân không thể chi phối được. Có thể nói một cách hình tượng: đầu vào giá cao và chất lượng kém vẫn phải mua, đầu ra giá thấp vẫn phải bán đang là hai gọng kìm giữ chặt thu nhập thấp của người nông dân cho dù năng suất đã liên tục tăng trong hơn 20 năm qua và với nhiều cây, con năng suất đã đạt loại cao nhất thế giới. Để chấm dứt nghịch lý: Năng suất cao, thu nhập thấp; năng suất cao, tăng trưởng thấp thì phải có một cuộc cách mạng ở khâu trước và khâu sau nông dân.
Nhằm tháo gỡ các nút thắt đối với sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp, ngày 10/6/2013 Thủ tướng đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định 899/QĐ-TTg, trong đó nêu rõ các định hướng cơ bản là nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành bình quân từ 2,6 đến 3%/năm trong giai đoạn 2011-2015, từ 3,5 đến 4%/năm trong giai đoạn 2016-2020;
Tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế, đặc biệt là nhóm người nghèo và cận nghèo ở nông thôn, người dân ở vùng sâu, vùng xa, không thuận lợi về điều kiện đất đai, sinh thái, nhóm dân tộc thiểu số và phụ nữ tham gia vào quá trình tăng trưởng nông nghiệp thông qua hỗ trợ giảm nghèo, hỗ trợ duy trì sản xuất và thu nhập, tăng khả năng tiếp cận thị trường lao động phi nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế cho dân nông thôn, giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực và an ninh dinh dưỡng.
Đến năm 2020, thu nhập hộ gia đình nông thôn tăng lên 2,5 lần so với năm 2008, số xã đạt tiêu chí nông thôn mới là 20% vào năm 2015 và 50% vào năm 2020.
Từ thực tiễn hơn 1 năm triển khai thực hiện Đề án, lấy định hướng gia tăng thu nhập cho người nông dân làm trọng tâm và nâng cao hiệu quả của toàn ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung, chúng tôi xin đưa ra 2 giải pháp về quy hoạch, 5 giải pháp về đầu vào và 6 giải pháp về đầu ra như sau:
Thứ nhất, để đẩy mạnh thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp phải trả lời cho được câu hỏi từ bao lâu nay là “trồng cây gì, nuôi con gì” bằng cách đi sâu phân tích, xác định các cây trồng, vật nuôi mà Việt Nam có lợi thế so sánh kép về năng suất so với thế giới và về thu nhập cao cho người nông dân. So sánh năng suất 12 cây trồng, vật nuôi của Việt Nam với vùng có năng suất cao nhất của thế giới, ta thấy cá tra, tiêu, hạt điều và cà phê là 4 nông sản của Việt Nam hiện nay có lợi thế năng suất cao nhất so với thế giới (năng suất cao gấp từ 2 đến 3 lần năng suất bình quân của vùng có năng suất cao nhất thế giới).
Còn về thu nhập trên 1 ha đất mang lại cho người nông dân so với thu nhập từ trồng lúa, ta thấy cà phê có thu nhập gấp 3,5 lần, tiêu gấp 15 lần và cá tra gấp 37 lần. Vì vậy có thể nói cây cà phê, cây tiêu và con cá tra là 3 nông sản mà hiện nay Việt Nam có lợi thế kép lớn cần được tiếp tục quy hoạch là 3 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và đưa ra các giải pháp để mở rộng hơn nữa việc nuôi trồng và tiêu thụ các sản phẩm này phù hợp với nhu cầu của thị trường quốc tế. Nhìn chung, khi quy hoạch trồng cây gì, nuôi con gì, chúng ta cần chỉ rõ lợi thế kép của các cây, con này là như thế nào.
Giải pháp thứ hai về quy hoạch là đẩy nhanh quá trình nội địa hóa các yếu tố đầu vào cho nông nghiệp để vừa chủ động được khâu sản xuất vừa tăng thu nhập cho người Việt Nam.
Hiện nay thu nhập hàng năm từ cá tra của nước ta vào khoảng 7.400 tỷ đồng trên diện tích 10.000 héc ta mặt nước, lớn hơn thu nhập của ngành chè và điều của nước ta (6.300 tỷ đồng). Trong khi đó, diện tích trồng chè và điều là 430.000 héc ta, gấp 43 lần diện tích nuôi cá tra. Trong nuôi cá tra chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ rất cao là 84%. Như vậy, nếu hình thành một ngành công nghiệp sản xuất thức ăn cho cá tra tại Việt Nam (công nghiệp phụ trợ trước người nông dân) thì sẽ đem lại cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn hàng năm khoảng 5.500 tỷ đồng doanh thu.
Năm 2013, nước ta phải nhập khẩu 3 tỷ USD thức ăn gia súc, 2,2 triệu tấn ngô, trị giá 670 triệu USD và 1,4 triệu tấn đậu tương, trị giá 830 USD. Vì vậy, việc quy hoạch trồng ngô, đậu tương, và các cây, con có nhu cầu làm đầu vào cho nông nghiệp Việt Nam và phát triển ngành công nghiệp sản xuất thức ăn gia súc và thức ăn cho các loại cá, tôm là cấp thiết hơn bao giờ hết, vừa làm giảm lệ thuộc vào nước ngoài, vừa tăng thu nhập cho nền kinh tế Việt Nam.
Trên cơ sở rà soát lại quy hoạch, xác định được các giống cây trồng, vật nuôi có lợi thế kép cần tập trung đầu tư trong thời gian tới, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp đầu vào chủ yếu (các khâu trước người nông dân) sau đây: Thứ nhất là phát triển các hình thức liên kết doanh nghiệp – nông dân để cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, các dịch vụ đầu vào chủ yếu cho sản xuất như tưới tiêu, giống, phân bón, dịch vụ làm đất, chuyển giao khoa học kỹ thuật, dịch vụ bảo vệ thực vật tập trung, đào tạo, dạy nghề, cung cấp thông tin thị trường, hỗ trợ kinh phí để các hộ nông dân trong một vùng trồng cùng một loại cây, kỹ thuật canh tác giống nhau, có thể trồng và thu hoạch cùng lúc.
Hai là, nông dân chủ động liên kết hình thành các hợp tác xã mà nông dân là xã viên góp vốn, góp đất để thực hiện sản xuất trên cánh đồng lớn và chủ động cung cấp các dịch vụ đầu vào cho tất cả các xã viên.
Ba là, đẩy mạnh việc tạo ra giống có chất lượng cao, chịu được mặn, chịu hạn, chịu bệnh. Ngoài 13 giống cây trồng, vật nuôi năng suất rất cao so với thế giới, nước ta còn có 11 loại cây khác năng suất tương đối thấp so với năng suất bình quân của thế giới như vừng, mía, ngô, chuối, cam, đậu tương, bông, dứa, khoai tây, dưa hấu và tỏi, nên nếu có chính sách phát huy tốt các trung tâm khoa học nông nghiệp trong cả nước thì có thể cải thiện năng suất các giống cây trên và tạo thêm nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao so với thế giới.
Bốn là, cần đổi mới công nghệ nuôi trồng và ứng dụng công nghệ mới để tạo năng suất cao như công nghệ tưới nước có đủ chất dinh dưỡng cho cây bằng phương pháp nhỏ giọt vào từng gốc cây mà Công ty Hoàng Anh Gia Lai đã áp dụng thành công công nghệ này đối với cây mía, đạt năng suất 120 tấn/ha, gấp 2 lần năng suất khi trồng và chăm sóc theo phương pháp thông thường. Năm là, giải quyết bài toán vốn cho nông nghiệp phù hợp với chu kỳ tăng trưởng và quy mô sử dụng vốn sẽ góp phần giúp cho nông nghiệp phát triển mạnh hơn.
Các khâu sau người nông dân (đầu ra) là hết sức quan trọng vì quá trình thu hoạch, lưu trữ, chế biến, tiêu thụ là các khâu trực tiếp tạo ra giá trị gia tăng và mang lại cơ hội cải thiện thu nhập cho người nông dân nhưng lâu nay chưa có được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng thương lái thu lợi rất lớn trong khi người nông dân thường xuyên lâm vào cảnh "được mùa rớt giá". Vì vậy, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các giải pháp đầu ra chủ yếu sau.
Thứ nhất là phát triển các hình thức bao tiêu sản phẩm qua doanh nghiệp như trường hợp điển hình của Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang hợp đồng với nông dân hàng nghìn hécta trồng một loại giống, gieo cùng một ngày, chăm sóc cùng một công nghệ và thu hoạch cùng một thời gian và bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Hoặc mô hình thứ hai là chính người nông dân góp vốn để hình thành các hợp tác xã, lo "đầu ra" cho mình.
Hai là, để tránh rủi ro rớt giá mà người nông dân nước ta năm nào cũng phải đối mặt, cần tổ chức tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện các mô hình thí điểm mua bán tập trung như Sở Giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX), trung tâm giao dịch cà phê Buôn Mê Thuột (BCEC), sàn giao dịch hàng hóa Sài Gòn Thương Tín (Sacom-STE),... để có giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức các sàn giao dịch nông sản hàng hóa theo hướng áp dụng các phương thức giao dịch có tác dụng bảo hiểm giá cho người nông dân như các hợp đồng tương lai, quyền chọn.
Ba là, trên cơ sở tổng kết tình hình 3 năm thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định 315/QĐ-TTg ngày 01/3/2011 của Thủ tướng, khẩn trương khắc phục các hạn chế, khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện như phạm vi đối tượng, địa bàn bảo hiểm rộng, tính chất sản xuất nhỏ, manh mún, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh, giám định, xác định thiệt hại, phòng chống trục lợi bảo hiểm,…
Bốn là, để không bị chính phủ nước ngoài đánh thuế bán phá giá chúng ta phải công khai cho quốc tế hiểu Việt Nam không có chủ trương và thực tế không bán phá giá. Hiện nay chi phí lao động bình quân 1 giờ Việt Nam khoảng 1USD, trong khi đó chi phí lao động của Mỹ là 35USD, Singapore - 24USD, Đài Loan - 9,5USD, Trung Quốc - 2,5USD và Philippines là 2,1USD. Nói một cách khác, chi phí lao động ta chưa bằng một nửa của Trung Quốc và Philippines, bằng 1/10 của Đài Loan, bằng 1/20 của Singapore và Hàn Quốc, bằng 1/30 của Mỹ và Đức.
Do đó, phải làm rõ để các nước hiểu rằng không thể căn cứ vào chi phí thấp để đánh thuế bán phá giá đối với nông sản của Việt Nam. Vì vậy, những ngành nghề nào có nguy cơ bị kiện hoặc bị đánh thuế bán phá giá thì cần chủ động mời những nước quan tâm cử đại diện vào Việt Nam để họ đi khảo sát thực tế, họ thấy nhà nước ta không bù lỗ, không trợ giá cho nông nghiệp.
Năm là, cần triển khai quyết liệt hơn nữa các chính sách hỗ trợ người nông dân xây dựng thương hiệu sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, quảng bá tiếp thị, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa.
Sáu là, trong các chuỗi giá trị nông sản, việc đầu tư vào khâu chế biến và bảo quản vẫn còn hạn chế nên giá trị gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp chưa cao, do đó cần phát triển hệ thống kho bãi lưu trữ, vận chuyển, chính sách và cơ chế thu mua tạm trữ, phát triển công nghiệp chế biến nông sản.
Để thực hiện quan điểm của Bác Hồ kính yêu "Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh", trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta luôn phải xem nông nghiệp là trụ cột kép để phát triển đất nước: Trụ cột về kinh tế để đem lại thu nhập khá cho khoảng 45% lao động cả nước và trụ cột về xã hội để đảm bảo an sinh xã hội và gìn giữ văn hóa dân tộc – văn hóa lúa nước và đánh cá.
Trên cơ sở phát huy các thành tựu ngành nông nghiệp đã đạt được trong gần 30 năm đổi mới, với quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đặt biệt là tạo đột phá trong tổ chức kinh doanh ở khâu trước và sau nông dân, trong quy hoạch trồng cây gì, nuôi con gì, chúng ta hoàn toàn có khả năng tạo được chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tăng thu nhập bền vững cho người nông dân, làm cho phát triển của toàn ngành cao hơn và bền vững hơn.
Quốc hội, nhân dân và Mặt trận Tổ quốc các cấp sẽ là người đồng hành và giám sát quá trình chuyển đổi đó của ngành nông nghiệp Việt Nam. (Cổng thông tin điện tử Chính phủ 12/6) đầu trang(
PHÁP LUẬT
Sáng 10.6, TAND tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm vụ án tham ô tài sản xảy ra tại Sở Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) tỉnh Phú Yên.
Trong vụ án này, Viện KSND Phú Yên truy tố 10 bị cáo cùng về tội tham ô tài sản. Sáng 10.6, bị cáo Nguyễn Kim Phúc, nguyên giám đốc Sở TN-MT Phú Yên, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa vì đang điều trị bệnh. Bị cáo Phúc là giám đốc chương trình tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường (gọi tắt là Semla) Phú Yên. Theo cáo trạng, trong thời gian từ 1.2007 đến 11.2009, bị cáo Phúc đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, đưa chứng từ khống để thanh toán, chiếm đoạt hơn 15,6 triệu đồng.
Chín bị cáo còn lại gồm: Hà Thượng Trúc, kế toán trưởng Sở TN-MT kiêm kế toán trưởng chương trình Semla Phú Yên; Trần Thị Na, phó phòng, điều phối viên, trưởng nhóm đất đai chương trình Semla Phú Yên; Võ Văn Dũng, thư ký chuyên trách chương trình Semla Phú Yên, phó nhóm môi trường, chủ nhiệm dự án; Nguyễn Văn Mẫu, chánh văn phòng Sở TN-MT, kiêm chánh văn phòng chương trình Semla Phú Yên, điều phối viên, trưởng nhóm nâng cao năng lực;
Nguyễn Thị Thanh Vy, phó chi cục trưởng Chi cục Môi trường, điều phối viên, trưởng nhóm môi trường chương trình Semla Phú Yên; Phan Thị Kim Oanh, phó phòng môi trường, thành viên chương trình Semla Phú Yên, chủ nhiệm dự án, Võ Ngọc Tuân, phó chi cục trưởng Chi cục Môi trường, thành viên chương trình Semla Phú Yên, chủ dự án; Phan Thế Quốc, nguyên chuyên viên, thành viên của chương trình Semla Phú Yên, chủ nhiệm dự án; Lưu Phạm Bá Luân, nguyên chuyên viên, thành viên chương trình Semla Phú Yên, chủ nhiệm dự án.
Các bị cáo đều bị xét xử liên quan đến việc lập các chứng từ khống, chiếm đoạt tổng số tiền hàng trăm triệu đồng. Theo kế hoạch, phiên toàn diễn ra đến 13/6. (Thanh Niên 11/6) đầu trang(
Ngày 10.6, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với 4 người nguyên là cán bộ của UBND H.Nghi Xuân và thị trấn Xuân An, do có nhiều sai phạm trong việc lập hồ sơ bồi thường giải phóng mặt bằng tại dự án cầu Bến Thủy 2.
Trong đó, Đậu Hữu Tuất (54 tuổi, nguyên Trưởng phòng TN-MT kiêm Phó chủ tịch Hội đồng bồi thường); Nguyễn Văn Đức (54 tuổi) và Lê Quang Sáng (33 tuổi, cùng nguyên Phó phòng TN-MT) bị khởi tố để điều tra về các hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và “cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”.
Riêng Phan Duy Khương (43 tuổi, nguyên Chủ tịch UBND thị trấn Xuân An, H.Nghi Xuân) bị khởi tố về hành vi “lợi dụng quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Liên quan đến vụ án này, trước đó hai cán bộ thị trấn Xuân An cũng đã bị khởi tố. (Thanh Niên 11/6) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Khả năng diễn đạt ngôn ngữ của mỗi người khác nhau, khiếu ăn nói không phải chính khách nào cũng có, nhưng công bằng mà nói chất lượng các phiên chất vấn mấy kỳ gần đây ở Quốc hội (QH) có nhiều khởi sắc.
Đầu tiên phải kể đến việc chuẩn bị từ các ủy ban và Ủy ban Thường vụ QH. Các báo cáo giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến QH được thực hiện công phu, chất lượng.
Báo cáo thực hiện lời hứa của các bộ trưởng không được làm thường xuyên nhưng đã tạo ra ý thức giám sát của cá nhân các đại biểu (ĐB) QH. Và có lẽ chính ý thức về việc thực hiện quyền năng tối cao của các ĐB QH chuyên nghiệp, là điều quan trọng, tạo ra bản sắc, chất lượng của các phiên chất vấn.
Phiên chất vấn đối với Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng có màu sắc là bởi có những ĐB theo dõi sát vấn đề, tái chất vấn, truy trách nhiệm như bà Lê Thị Nga hỏi về quản lý, điều hành giá xăng dầu. Trước những truy vấn sắc sảo, bằng chứng thuyết phục, Bộ trưởng Tài chính phải thừa nhận: Nghị định 84 loanh quanh, luẩn quẩn quá lâu là trách nhiệm của bộ này. Hay như Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận thừa nhận 72.000 cử nhân thất nghiệp “có trách nhiệm của ngành, do thời gian dài đã chú trọng quy mô mà chưa đảm bảo chất lượng, các ngành đào tạo lại chưa gắn liền với thực tế sản xuất”.
Việc QH các kỳ gần đây dành thời gian cho các ĐB tái chất vấn về các vấn đề cũ như quản lý giá xăng dầu, nợ công, chạy chức, cải cách giáo dục hay phòng chống tham nhũng cũng là cách hiệu quả để gây áp lực lên các cơ quan hành pháp. Nhưng việc thực hiện các lời hứa của các bộ trưởng, trưởng ngành sự thực là chưa đáp ứng yêu cầu, mong đợi của cử tri. Bởi lẽ các phiên chất vấn vẫn chưa thoát khỏi hình thức của những cuộc hỏi đáp. Nó vẫn thiếu không khí tranh luận, và quan trọng là QH không có công cụ để biểu thị mức độ thỏa mãn của QH đối với các câu trả lời. Thỏa mãn thì QH tiếp tục nghị trình, không thỏa mãn thì QH phải đặt vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm.
Chúng ta chưa có cơ chế ràng buộc các bộ trưởng đã “hứa” rồi thì phải làm, ngoài việc thống kê lại lời hứa đó. Hoặc các ĐB khi thấy bộ trưởng “thừa nhận trách nhiệm” là coi như xong. Trong khi, lẽ ra, nếu coi việc thất bại trong điều hành giá xăng dầu suốt 3 năm qua là “vấn đề của quản lý”, ĐB Lê Thị Nga hoàn toàn có quyền yêu cầu QH bỏ phiếu tín nhiệm đối với Bộ trưởng Tài chính.
Đừng chỉ hài lòng với việc các vị bộ trưởng hứa, cử tri mong QH tạo điều kiện cho ĐB đi đến tận cùng trách nhiệm. Việc giám sát lời hứa cũng cần được thực hiện một cách quyết liệt, nghiêm túc hơn, biến nó thành những chính sách cụ thể, tạo ra chuyển biến trên thực tế, để chúng ta không còn phải nói mãi về những khuyết điểm cũ. (Thanh Niên 12/6) đầu trang(
“Nhà tôi có một cái két không phải để cất tiền mà cất giấy tờ, rất lo mất giấy tờ vì làm lại thì phiền phức lắm. Tương tự, nếu mất ví thì sợ nhất là mất giấy tờ nhân thân chứ không phải mất tiền”.
Ông Lê Hồng Sơn (thứ trưởng Bộ Tư pháp, nay là phó chủ tịch UBND TP Hà Nội) từng phát biểu như vậy trong một hội thảo về đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu quốc gia liên quan đến quản lý dân cư.
Sự lo lắng nêu trên không của riêng ai, bắt nguồn từ một lý do là hiện nay có tới 1.300 thủ tục hành chính liên quan đến các giấy tờ nhân thân, trong đó có 356 thủ tục trực tiếp liên quan đến chứng minh nhân dân (CMND). Rất nhiều thủ tục đòi hỏi có giấy tờ nhân thân, đặc biệt là CMND.
Nhưng thay vì tiếp cận một cách “tổng thể” như tên gọi của đề án nhằm đảm bảo ổn định trong giao dịch của người dân, thời gian qua, đây lại là lĩnh vực xuất hiện liên tục các đề xuất thay đổi.
Đầu tiên có thể kể đến việc ghi tên cha mẹ vào mặt sau CMND, sau khi dư luận có ý kiến thì rút lại. Tiếp theo là việc thí điểm cấp CMND theo công nghệ mới 12 số thay vì CMND 9 số như lâu nay.
Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung (giám đốc Công an TP Hà Nội) cho biết: “Hiện nay quản lý cũng rất phức tạp. Chúng tôi cấp CMND 12 số, rồi lại phải cấp chứng nhận là thay CMND để công dân đó có thể thay đổi hàng loạt giấy tờ khác: nhà đất, hộ khẩu, ngân hàng, giấy phép lái xe...”.
Và câu chuyện chưa dừng lại. Chỉ sau hai tháng kể từ thời điểm có quyết định tổ chức cấp CMND mẫu mới tại TP Hà Nội (1-4-2014), dự án Luật căn cước công dân được đặt lên bàn của các vị đại biểu Quốc hội đã đưa ra quy định cấp thẻ căn cước công dân thay cho CMND và được cấp ngay từ khi công dân sinh ra.
Theo thông tin từ các vị đại biểu Quốc hội, ước tính chi phí cho một thẻ căn cước công dân là 30.000 đồng gồm cả tiền chụp ảnh, nếu nhân lên số lượng công dân tính từ khi sinh ra thì tổng chi phí là rất lớn. Tương tự như vậy, nguồn lực cho việc cấp CMND 12 số (nhập khẩu công nghệ, phôi...) chắc cũng không ít.
Đó là chưa kể đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nền tảng có liên quan đến phát triển CMND 12 số cũng như thẻ căn cước công dân được ước tính vào khoảng 3.500 tỉ đồng.
Tất cả đều được tính bằng tiền tỉ, lên đến số ngàn! Trong khi đó, vấn đề người dân thật sự quan tâm không phải là trong ví họ sẽ có CMND 9 số, CMND 12 số hay thẻ căn cước công dân.
Vấn đề phải làm rõ sau khi Quốc hội bấm nút thì Nhà nước sẽ chi bao nhiêu từ tiền thuế để triển khai đạo luật này, và tương ứng với mức đầu tư như vậy sẽ giảm được cụ thể bao nhiêu thủ tục hành chính, giảm được cụ thể bao nhiêu giấy tờ có liên quan cho người dân?
“Tôi chưa thấy cơ quan soạn thảo làm rõ được các vấn đề đó” - ông Lê Như Tiến (phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội) nói.
Ủy ban Quốc phòng và an ninh của Quốc hội đã đề nghị Chính phủ chỉ đạo tạm dừng việc cấp CMND theo công nghệ mới, trong đó có số CMND 12 số tại TP Hà Nội và một số địa phương để bảo đảm ổn định trong quản lý và sử dụng CMND của công dân. Đây là đề nghị cần thiết, ít nhất cho đến khi chi phí thực hiện và lợi ích của thẻ căn cước công dân được công khai rõ ràng hơn. (Tuổi Trẻ 11/6) đầu trang( ./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||