|
Ngày 07 tháng 11 năm 2012
KỲ HỌP THỨ 4 - QUỐC HỘI KHOÁ 13
CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUẢN LÝ
TIN TỨC
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
KỲ HỌP THỨ 4 - QUỐC HỘI KHOÁ 13
Tại phiên thảo luận ở tổ sáng 6-11 về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, đa số đại biểu Quốc hội tán thành việc quy định rạch ròi, cụ thể về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp cũng như quy định rõ thẩm quyền của Chủ tịch nước.
Tuy nhiên, nhiều đại biểu đề nghị cần quy định rõ hơn, hướng tới xây dựng các đạo luật nhằm thực thi quyền dân chủ, đảm bảo xây dựng Nhà nước pháp quyền thật sự của dân, do dân, vì dân.
Theo ông Đinh Xuân Thảo - viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, đồng thời là thành viên ban biên tập dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, dự thảo lần này quy định rõ hơn vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các nhánh quyền lực nhà nước, ghi nhận quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự kiểm soát, giám sát lẫn nhau. “Ví dụ, quy định Chính phủ là cơ quan hành pháp, có nghĩa là không chỉ chấp hành thụ động trước cơ quan lập pháp như trước đây, mà là cơ quan chủ động đề xuất chính sách, pháp luật và tổ chức thực thi. Như vậy sẽ rõ ràng vị thế của hành pháp” - ông Thảo nói.
“Chúng ta không theo tam quyền phân lập, nhưng tôi đề nghị phải nghiên cứu để phân định rõ trách nhiệm giữa các nhánh quyền lực làm sao cho hoạt động của bộ máy thật tốt. Vừa qua, trách nhiệm của từng bộ phận, từng cơ quan không rõ ràng nên khi nhận lỗi chỉ thấy trách nhiệm tập thể và người đứng đầu nhận trách nhiệm chính trị” - đại biểu Bùi Thị An (Hà Nội) bình luận.
Ông Vũ Trọng Kim, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ VN, đề nghị phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. “Quyền lực nếu phát huy tốt thì ảnh hưởng tốt đối với quốc gia, dân tộc, nếu không tốt thì hậu quả nặng nề. Xu hướng thế giới cũng vậy chứ không riêng gì nước ta, đó là vấn đề dễ bị tha hóa, dễ bị lạm dụng quyền lực” - ông Kim nói.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền hoàn toàn ủng hộ hiến định Kiểm toán Nhà nước và Hội đồng Bầu cử quốc gia là thiết chế độc lập. “Sau đó phải sửa Luật kiểm toán nhà nước, hiện nay đang quy định giở giăng giở đèn là Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Chính phủ. Cần quy định Kiểm toán Nhà nước độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” - ông Quyền nói.
Ông Vũ Trọng Kim cũng đề nghị nên có một tổ chức chuyên trách về phòng chống tham nhũng của Quốc hội.
“Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Có nghĩa nhân dân là chủ thể của chế độ này. Như vậy, chúng ta phải làm thế nào để có cơ chế thật sự phát huy dân chủ, dân thật sự làm chủ. Cần quy định rõ trong hiến pháp cơ chế công khai, minh bạch, dân chủ, khẳng định rõ quyền của người dân và cơ chế để dân thực hiện các quyền của mình” - đại biểu Bùi Thị An đề nghị.
Còn theo ông Nguyễn Đình Quyền, dự thảo lần này có bổ sung rất quan trọng là ghi nhận quyền dân chủ trực tiếp của người dân. “Nhưng cần quy định rõ nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp như thế nào, hay chỉ dừng lại ở việc lấy ý kiến nhân dân?” - ông nói.
Ông Đinh Xuân Thảo khẳng định các quyền con người, quyền công dân đã được thể hiện khá đầy đủ bởi các điều khoản bổ sung và điều khoản mới trong dự thảo. Một trong những quy định để phát huy quyền dân chủ là trưng cầu ý dân.
“Tới đây, theo kế hoạch, Quốc hội sẽ xây dựng Luật trưng cầu ý dân là đạo luật rất quan trọng để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình. Thật ra, vấn đề trưng cầu ý dân cũng có quy định trong Hiến pháp 1992 nhưng chưa thực hiện được. Dự thảo hiến pháp sửa đổi tiếp tục khẳng định quyền này cũng như các quyền cơ bản khác như quyền lập hội, quyền biểu tình..., tới đây sẽ phải thể chế hóa thành các đạo luật cụ thể” - ông Thảo cho hay.
Ông Thảo cho biết thêm: “Luật trưng cầu ý dân sẽ xác định rõ những công việc nào, nội dung nào, vấn đề nào được đưa ra để dân bàn và quyết định. Tôi nghĩ những việc quan trọng như mở rộng Hà Nội vừa rồi, hay đường sắt cao tốc phải đem ra lấy ý kiến toàn dân, còn việc xây dựng thủy điện mà liên quan đến hai tỉnh phải đem ra trưng cầu ý kiến người dân hai tỉnh đó. Trưng cầu ý dân không chỉ đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp của dân được thực thi, mà còn đảm bảo việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội tốt hơn.
Vấn đề biểu tình cũng vậy, vì đó là quyền nên người dân sẽ cứ thực hiện nếu thấy cần thiết, cho xây dựng đạo luật về biểu tình sẽ đưa ra các quy định cụ thể để người dân thực hiện quyền của mình một cách tốt hơn và cũng để Nhà nước kiểm soát tình hình an ninh, trật tự tốt hơn”.
Về thẩm quyền phong hàm, phong cấp sĩ quan cấp cao của Chủ tịch nước, ông Nguyễn Hữu Hùng - ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và an ninh - cho rằng việc quy định “Chủ tịch nước quyết định phong hàm, phong cấp sĩ quan cấp tướng, đô đốc, phó đô đốc, chuẩn đô đốc hải quân trong các lực lượng vũ trang nhân dân; bổ nhiệm tổng tham mưu trưởng, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam” là cần thiết, để bảo đảm đúng vị trí, vai trò của Chủ tịch nước là thống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân. Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son đồng tình vì “từ thời Bác Hồ làm chủ tịch nước, năm 1948 Bác là người phong hàm các tướng lĩnh”.
Dự thảo cũng quy định thêm một số nội dung thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước trong mối quan hệ với hành pháp, tư pháp. Ví dụ, Chủ tịch nước có quyền yêu cầu Chính phủ triệu tập các cuộc họp để bàn những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Chủ tịch nước. Tuy nhiên, theo đại biểu Trần Du Lịch, đây chỉ là các quy định làm rõ hơn quyền của Chủ tịch nước chứ không phải là mở rộng quyền. Vấn đề được các đại biểu đặt ra là hiến pháp cần xây dựng định chế Chủ tịch nước thực quyền hơn nữa, đúng với vị thế của nguyên thủ quốc gia.
“Tôi thấy rằng đảm bảo tăng thêm quyền hạn của Chủ tịch nước là rất cần thiết. Theo Hiến pháp 1992, Chủ tịch nước tuy là nguyên thủ quốc gia nhưng vai trò có tính biểu tượng là chính, thiếu thực quyền” - đại biểu Trần Thị Quốc Khánh (Hà Nội) nói.
Đại biểu Trần Du Lịch bình luận chương về chính quyền địa phương trong dự thảo thực chất chỉ mới thay tên gọi so với Hiến pháp 1992 và đây là điểm còn rất yếu của dự thảo, cần củng cố. Chính quyền địa phương tự quản có đưa vào không, chính quyền đô thị như thế nào... vẫn còn bỏ ngỏ dù đã có chủ trương từ rất lâu. Đại hội X, XI của Đảng nói về chính quyền đô thị, đến nay chờ sửa hiến pháp cũng chưa nói gì cả.
Trong khi đại biểu Đỗ Văn Đương (TP.HCM) đề nghị “cần quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn... của chính quyền địa phương và mối quan hệ giữa trung ương - địa phương như thế nào” thì ông Nguyễn Đình Quyền đề nghị không nên dùng thuật ngữ chính quyền địa phương. “Nhà nước ta là nhà nước đơn nhất, không phải nhà nước liên bang, tại sao lại phân chia ra chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Quy định như vậy là không ổn về mặt lý luận” - ông Quyền nói.
Quốc hội sẽ tiếp tục thảo luận dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vào ngày 15-11. Phiên thảo luận được truyền hình, phát thanh trực tiếp. (Tuổi Trẻ 7/11) đầu trang(
Thảo luận tại tổ chiều 6- 11 về Luật Đất đai (sửa đổi), đại biểu (ĐB) Trần Ngọc Vinh (Hải Phòng) cho rằng, đang có 9 cái nhất trong đất đai: Nhiều văn bản nhất, đơn thư, khiếu nại tố cáo nhiều nhất, tham nhũng lớn nhất, làm giàu nhanh nhất…, do vậy, sửa luật phải “trám” được hai “lỗ hổng” lớn nhất là tham nhũng và khiếu kiện đông người.
Phó Trưởng đoàn ĐB Quốc hội (QH) TP Hải Phòng Trần Ngọc Vinh cho rằng, bức xúc lớn nhất thời gian qua là cơ chế nhà nước thu hồi đất và giá đất. Ngoài ra, còn có tình trạng tham nhũng đất đai, khiếu kiện, thực thi pháp luật kém của chính quyền địa phương. Nhiều cán bộ địa chính không có trình độ, có nơi cán bộ văn hóa làm địa chính.
Trong luật sửa đổi chưa tạo được đột phá giải quyết những bức xúc hiện tại. Nhiều nội dung chỉ sửa đổi, bổ sung chứ chưa phải sửa toàn diện. Luật trao quyền cho nhà nước, nhưng quyền của người sử dụng đất chưa tương xứng”- Ông Vinh nhận xét tổng thể.
ĐB Vinh cho rằng, luật sửa đổi phải giải quyết và bịt được hai “lỗ hổng” lớn hiện nay là tham nhũng và khiếu kiện đông người.
Theo ĐB Bùi Thị An (Hà Nội), vấn đề đất đai không chỉ nóng mà đang “sôi lên sùng sục”. Tuy nhiên, tờ trình của Chính phủ chưa thể hiện rõ điều này. Bất cập lớn nhất hiện nay là “chưa công khai, minh bạch”.
Trong thảo luận, một số ĐBQH cũng đề xuất nghiên cứu đa sở hữu đối với đất đai. ĐB Phạm Huy Hùng (Hà Nội) dẫn tờ trình của Chính phủ nêu, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước làm chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Tuy nhiên, đây là vấn đề còn có những ý kiến khác nhau. “Tôi cho rằng nếu không thể và chưa đủ điều kiện cần thiết để công nhận sở hữu tư nhân về đất đai - điều mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang áp dụng - cũng nên chấp thuận sở hữu tư nhân đối với một số loại đất. Với chế độ sở hữu đất đai như hiện nay, người sử dụng trong thực tế cũng gần như là chủ sở hữu gồm đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Tuy nhiên, cơ quan, đơn vị được giao quản lý đã gần như định đoạt tạo ra bức xúc của người sử dụng, đặc biệt là quá trình thu hồi đất từ người sử dụng này sang người sử dụng khác mà chưa giải quyết hết các vấn đề về giá trị gia tăng. Ban soạn thảo xem xét, cân nhắc vấn đề lớn này”, ông Hùng đề nghị.
ĐB Bùi Thị An đồng tình đề xuất nghiên cứu xem có các hình thức sở hữu khác không. Nếu vẫn quy định là đất đai thuộc sở hữu toàn dân thì cần làm rõ, nhà nước là QH, Chính phủ và chính quyền các cấp.
“Nếu quy định nhà nước chung chung thì khó khăn cho người bị thu hồi đất”- Bà An nói. Theo ĐB này, những vụ việc như ở Văn Giang, Tiên Lãng vừa qua có phần nguyên nhân từ chính sách đất đai. “Nhà nước là đại diện chủ sở hữu nhưng thực chất có đến mấy trăm đại diện chủ sở hữu từ tỉnh đến huyện. Ông chủ - nhân dân - là sở hữu toàn dân bị biến thành người chỉ có quyền sử dụng mà thôi”- ĐB Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) nhận xét.
Tuy nhiên, ĐB Đinh Xuân Thảo (Hà Nội) lại nhìn nhận, Trung ương đã quyết đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do vậy, vấn đề đa sở hữu đất đai sẽ được nghiên cứu tiếp chứ chưa thể quy định trong luật.
Trước thực trạng giá đất đền bù chênh lệch lớn giữa các khu vực giáp ranh, nhiều nơi chỉ cách nhau một bờ ruộng, một số ĐBQH nhận định: “Dân không khiếu kiện mới là lạ”.
ĐB Trần Ngọc Vinh cho biết, đối với đất giáp ranh thì thu hồi, đền bù đúng luật nhưng vẫn xảy ra khiếu kiện. Chính phủ quy định khung giá từ 1 đến 3 triệu đồng/m2.
Hải Phòng áp giá khung cao nhất là 3 triệu đồng/m2, Hải Dương áp khung thấp nhất 1 triệu/m2. “Như vậy vẫn đúng luật nhưng người dân Hải Dương không đồng tình bởi chỉ cách nhau bờ ruộng mà chênh lệch giá quá lớn”, ông Vinh nói.
Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho rằng, thu hồi đất theo quy hoạch nhưng khi bồi thường cần tránh tình trạng cùng một đường phố, nhưng đất thu hồi để xây dựng trường học thì Nhà nước áp giá, còn thu hồi để xây dựng thương mại thì giá khác, có mức chênh lệch lớn.
Dẫn đến, người dân thắc mắc, khiếu nại. ĐB Nguyễn Xuân Trường (Hải Phòng) cùng quan điểm không thể để hai gia đình, thu hồi đất xây trường học áp giá 20 triệu đồng/m2, đất thương mại bồi thường 100 triệu đồng/m2.
Ông Trường lưu ý, không chỉ đất giáp ranh giữa các tỉnh mà ngay trong một tỉnh, giáp ranh giữa thị xã và huyện cũng rất phức tạp. “Giá đất thu hồi làm thương mại có chuyện thỏa thuận. Doanh nghiệp có cơ chế mềm hỗ trợ cho nhân dân, thế nhưng có trường hợp người tử tế, nghiêm túc đi trước thì thiệt, anh chây ì lại được hỗ trợ thêm gây khiếu kiện”, ông Trường nói.
Theo ĐB Phạm Huy Hùng, luật hiện hành và dự thảo sửa đổi đều quy định, quyền thu hồi đất thông qua các quyết định của cơ quan nhà nước. Quyền sử dụng đất về bản chất cũng là một loại tài sản.
“Hiện quy định thu hồi đất mang tính chất của hoạt động quốc hữu hóa tài sản hơn là công tác quản lý nhà nước. Nội dung này chưa đồng bộ với các quyền cơ bản khác của quyền tài sản. Khi được nhà nước công nhận quyền sở hữu thì cần thực hiện theo Luật Dân sự và Hiến pháp. Trong đó, quy định tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hóa.
Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia thì nhà nước trưng thu hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản theo thời giá thị trường. Hiện nay, thu hồi đất bằng quyết định hành chính thực chất là biện pháp cưỡng chế trong khi người sử dụng đất không hề vi phạm pháp luật”- Ông Hùng nói.
ĐB Phạm Huy Hùng đề nghị Ban soạn thảo thay thế cơ chế thu hồi đất bằng cơ chế trưng mua quyền sử dụng đất. Cơ sở của việc trưng mua đã có trong Hiến pháp 1992 và Luật Trưng mua, trưng dụng tài sản.
Cơ chế thu hồi đất chỉ nên áp dụng đối với trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai. Việc thu hồi là biện pháp hành chính có giá trị bắt buộc thi hành với người sử dụng đất.
ĐB Lê Trọng Sang (TPHCM) đồng tình, đất đai là tài sản của dân không thể bị thu hồi. “Luật Đất đai nên thay cụm từ “thu hồi” đất bằng “trưng mua” quyền sử dụng đất trong những trường hợp luật định. Hiện nay, giá đất bồi thường thường rất thấp. Tại TPHCM và Hà Nội mức giá nhà nước cao nhất chỉ 81 triệu đồng/m2 nhưng thực tế ở Hà Nội có nơi bán vài trăm triệu đồng/m2 tạo ra địa tô chênh lệch lớn”- Ông Sang nói.
ĐB Trương Trọng Nghĩa (TPHCM) dẫn Hiến pháp và cho rằng, Nhà nươc thu hồi đất bằng cách trưng mua, trưng thu, phải bảo đảm đền bù thỏa đáng. Nhưng Luật Đất đai lại mở rộng quyền thu hồi đất dẫn đến một số địa phương làm sai, lạm quyền, hàng triệu ha đất bị thu hồi rồi bỏ hoang.
“Khi thu hồi đất, giá đất sẽ do Nhà nước quyết định bảo đảm nguyên tắc phù hợp với giá thị trường” thay cho nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường” - đó là một trong những điểm quan trọng và được quan tâm nhất của Dự luật Đất đai (sửa đổi).
Tuy nhiên, tại phiên thảo luận tổ, rất nhiều đại biểu cho rằng quy định đó vẫn hết sức mơ hồ và không giải quyết được vấn đề khiếu kiện như mong muốn.
Một trong những điểm mới của dự luật là quy định: Nhà nước chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để tạo quỹ đất “sạch”. Sau đó, Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Về nguyên tắc định giá đất cũng được sửa đổi bằng quy định: “Giá đất do Nhà nước quyết định bảo đảm nguyên tắc phù hợp với giá thị trường” thay cho nguyên tắc “giá đất sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường”.
Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề rất được các đại biểu sôi nổi thảo luận. Nhiều đại biểu (ĐB) cho rằng, quy định “phù hợp theo giá thị trường” là rất mơ hồ, chưa có chuẩn mực nào cả. Nhiều ĐB cũng đặt ra câu hỏi: Quy định giá thị trường là giá lúc định giá khi quy hoạch sử dụng đất hay giá lúc thu hồi, đấu giá? Bởi theo các ĐB thì từ lúc định giá đến lúc đền bù, giá đất có thể đã biến động rất khác, vì vậy phải có nguyên tắc để định giá chứ không thể quy định chung chung như vậy.
ĐB Tô Văn Tám (Kon Tum) tỏ ra rất băn khoăn về quy định này. Ông phát biểu: “Khái niệm “phù hợp với giá thị trường” là một khái niệm khó nắm bắt, vì chưa thể xác định được chính xác thế nào là giá thị trường”. “Vì vậy, việc xác định thế nào để mảnh đất ấy đúng giá trị thật là hết sức khó, tôi ví dụ ở Tây Nguyên có những lô đất rộng cả hécta nhưng chưa chắc giá bán đã bằng giá 1m2 đất ở Hà Nội.
Vậy căn cứ vào tiêu chí nào của thị trường để nói rằng mảnh đất đó giá bao nhiêu? Nếu không làm rõ được việc này thì đừng hy vọng giải quyết được khiếu kiện khi thu hồi” – ĐB Tám kết luận. Nhìn ở góc độ một chuyên gia về luật pháp, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của QH Lê Thị Nga cho rằng, dù dự luật được nghiên cứu khá lâu nhưng vẫn còn rất nhiều nhược điểm, ví như chưa giải quyết rõ ràng vấn đề đất nông trường, trạm trại. Quy định Nhà nước chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để tạo quỹ đất “sạch”.
Sau đó, Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hoặc đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước thu hồi đất cũng là vấn đề không thực tiễn. Theo ĐB này thì chỉ có những địa phương có nguồn lực mạnh mới đủ tiền để trả tiền làm mặt bằng sạch chứ các địa phương nghèo thì không thể có tiền để đền bù cho dân theo quy định của luật.
ĐB Nga cũng cho rằng dự luật này có những điều xung đột với Hiến pháp: “Đất đai là một tài sản, Hiến pháp chỉ quy định trưng mua, trưng dụng tài sản khi có yêu cầu về quốc phòng, an ninh, nhưng trong dự luật lại có quy định thu hồi đất của dân khi có nhu cầu phát triển kinh tế, như vậy liệu có đứng trên cả Hiến pháp?” – ĐB Nga đặt câu hỏi. Ý kiến này cũng trùng với ý kiến của ĐB Lê Trọng Sang (đoàn TPHCM). Cuối cùng ĐB Lê Thị Nga bày tỏ “Cách chuyển dịch đất và giá đất là những thứ chúng tôi chưa yên tâm”.
Một nội dung cũng được khá nhiều ĐB đề cập đến là quy định mức hạn điền của dự luật. Rất nhiều ĐB cho rằng quy định như vậy là cản trở quá trình tích tụ ruộng đất để phục vụ nền sản xuất nông nghiệp lớn. Hơn thế nữa quy định như vậy sẽ trái với Hiến pháp và cả luật dân sự về quyền sở hữu tài sản.
Để giải quyết mâu thuẫn này, ĐB Tô Văn Tám và nhiều ĐB khác hiến kế nên sửa Điều 115 về mức hạn điền theo hướng khi Nhà nước giao đất thì giao cho họ theo mức hạn điền, nhưng khi người ta chuyển nhượng lại cho nhau thì không nên giới hạn.
“Tại sao nên quy định như vậy, vì chúng ta đang thực hiện cơ chế thị trường, đất đai cũng là tài sản thì cũng phải được giao dịch theo cơ chế thị trường. Cá nhân nào đó có khả năng sử dụng và sử dụng hiệu quả hơn 10 lần mức hạn điền thì tốt quá và Hiến pháp, Luật Dân sự đâu có giới hạn việc họ sở hữu bao nhiêu tài sản” – ĐB Tám giải thích.
Cũng theo nhiều ĐB thì đây là một bộ luật hết sức quan trọng, nhưng thời gian dành cho thảo luận quá ít trước khi thông qua sẽ không thể làm rõ hết mọi vấn đề và sẽ khó khi đi vào thực tiễn. (Tiền Phong 7/11; Lao Động 7/11) đầu trang(
Đoàn thư ký kỳ họp quốc hội vừa gửi các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) phiếu xin ý kiến về việc chất vấn tại kỳ họp.
Theo đó, tên 6 bộ trưởng đã được đưa ra để đại biểu chọn 4 người trả lời chất vấn. Các bộ trưởng dự kiến trả lời chất vấn của QH gồm: Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các bộ trưởng Tài chính, GD&ĐT, LĐ-TB&XH Xây dựng và Y tế.
Với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, đoàn thư ký đề xuất 3 nhóm vấn đề: Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng; dư nợ tín dụng thấp nhưng DN không vay được vốn, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN; nợ xấu, giải pháp căn bản xử lý nợ xấu; quản lý nhà nước về thị trường vàng miếng.
Bộ trưởng Tài chính nhận được câu hỏi về trách nhiệm của Bộ trưởng trong quản lý nhà nước về giá các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu, thuốc chữa bệnh, mức viện phí…
Bộ trưởng Xây dựng nhận được câu hỏi về các giải pháp trong việc xử lý tồn đọng bất động sản và giải quyết đồng bộ cơ sở hạ tầng tại các khu đô thị mới; chất lượng các công trình xây dựng, trong đó có thủy điện Sông Tranh 2.
Vấn đề ĐBQH và cử tri quan tâm với Bộ trưởng Y tế là trách nhiệm trước những tiêu cực, sai phạm ở một số bệnh viện; việc giáo dục nâng cao y đức; ý thức trách nhiệm nghề nghiệp; tình trạng giá viện phí mới quá cao, giá thuốc trong nước cao hơn giá thuốc thế giới nhiều lần…
Theo chương trình, phiên chất vấn diễn ra vào các ngày từ 12 đến 14-11. Mở đầu phiên chất vấn, một phó thủ tướng sẽ thay mặt Chính phủ trình bày báo cáo việc thực hiện các nghị quyết của QH về chất vấn và trả lời chất vấn tại hai kỳ họp trước. (Tiền Phong 7/11) đầu trang(
Trao đổi với báo chí về nội dung điều 84 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đại biểu Võ Thị Dung (TP.HCM) cho rằng rất đồng tình điều 84 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc khi cần thiết thì Quốc hội thành lập ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định.
Ủy ban này sẽ giám sát được những vấn đề cụ thể, không phải giám sát việc thực hiện chủ trương chính sách chung chung. Chẳng hạn như vấn đề nổi lên trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, Quốc hội cần có ủy ban để điều tra, giám sát, khẳng định sự việc trong thực tế diễn ra ra sao, đến mức độ nào.
Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (TP.HCM) cũng cho biết đây là bổ sung tốt trong dự thảo sửa đổi hiến pháp, tạo điều kiện pháp lý để Quốc hội sử dụng quyền lực của mình trong những tình huống khẩn cấp, những sự việc nghiêm trọng, có tính chất cụ thể, chuyên sâu. Nếu không mở ra khả năng này thì khi cần sẽ lúng túng vì chưa có cơ sở pháp lý, trong khi thực tế có nhu cầu như vậy. (Tuổi Trẻ 7/11) đầu trang(
Chính phủ vừa báo cáo Quốc hội về nợ công, cho thấy xu hướng gia tăng nợ công vẫn tiếp tục diễn ra trong các năm tới.
Theo Bộ Tài chính, tại thời điểm 31-12-2011, số dư nợ công bằng 54,9% GDP; dư nợ Chính phủ bằng 43,2% GDP. Ước tính đến cuối năm 2012, số dư nợ công bằng 55,4% GDP; dư nợ Chính phủ bằng 43,1% GDP.
Về kết quả huy động, sử dụng vốn vay và trả nợ của Chính phủ, tổng số vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài tính đến cuối năm 2011 đạt 71,7 tỉ USD, trong đó số vốn đã được ký kết là 54,1 tỉ USD. Vốn ODA đã được giải ngân cho các chương trình, dự án là 33,41 tỉ USD. Phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước năm 2010 được 68.292 tỉ đồng, năm 2011 đạt 80.447 tỉ đồng và dự kiến năm 2012 là 120.000 tỉ đồng…
Trong cơ cấu nợ công, các khoản nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm khoảng 78% (chủ yếu là phát hành trái phiếu chính phủ và vay ODA). Các khoản vay nước ngoài của Chính phủ chủ yếu vay lãi suất rất ưu đãi (ODA), điển hình là khoản vay của Ngân hàng Thế giới (WB) có thời hạn 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn, mức lãi suất 0,75%/năm. Khoản vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn, lãi suất 1%/năm, các khoản vay của Nhật Bản có thời hạn 30 năm, 10 năm ân hạn và mức lãi suất khoảng từ 1%-2%/năm.
68% dư nợ vốn vay nước ngoài của Chính phủ được đưa vào cân đối ngân sách, 32% cho vay lại các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn. Cũng tính đến ngày cuối cùng của năm trước, tổng trị giá vay nước ngoài của Chính phủ đã giải ngân để cho vay lại tương đương 12,6 tỉ USD. Dư nợ các dự án cho vay lại của Chính phủ tương đương 10,3 tỉ USD, bằng 8,5% GDP, tập trung vào điện, dầu khí, công nghiệp tàu thủy, cấp nước, nông nghiệp, đường cao tốc, hàng không, cảng biển, công nghiệp, xi măng, phát triển hạ tầng đô thị…
Tuy nhiên, báo cáo cũng cho thấy một vấn đề đáng lo ngại là trong số 580 dự án cho vay lại, có đến 55 dự án có nợ quá hạn với số dư nợ gốc quá hạn chiếm 0,7% tổng dư nợ cho vay lại. Có đến 5/16 dự án xi măng và 2/4 dự án ngành giấy gặp khó khăn trong việc trả nợ nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Theo định hướng của Chính phủ, nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) đến năm 2015 không quá 65% GDP, trong đó dư nợ Chính phủ không quá 50% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.
Để quản lý nợ công bảo đảm an toàn và bền vững, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp, trong đó có việc xếp hạng tín nhiệm quốc gia, thực hiện trả nợ đầy đủ, đúng hạn, không để phát sinh nợ quá hạn; huy động nguồn vốn vay phù hợp với tiến độ giải ngân; tăng cường giám sát, kiểm tra việc tuân thủ pháp luật đối với các đơn vị sử dụng vốn vay, theo dõi chặt chẽ khả năng trả nợ của từng dự án đầu tư, từng doanh nghiệp...
Chính phủ cũng cho biết sẽ chỉ xem xét cấp bảo lãnh vay trong nước đối với các dự án cấp bách, công trình trọng điểm quốc gia đã được Thủ tướng phê duyệt chủ trương cấp bảo lãnh vay trong nước. Trước mắt chưa xem xét bảo lãnh phát hành trái phiếu quốc tế. Các doanh nghiệp hoặc ngân hàng thương mại nếu có nhu cầu thì chủ động phát hành trái phiếu quốc tế không có bảo lãnh chính phủ. (Người Lao Động 7/11) đầu trang(
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình vừa ký văn bản báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết của Quốc hội khóa XIII về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ hai (tháng 11-2011) và thứ ba (tháng 6-2012).
Ông Bình khẳng định đã tăng cường kiểm tra, giám sát ngân hàng. Năm 2012 có 32 tổ chức tín dụng được thanh tra toàn diện. Nhiều ngân hàng thương mại cổ phần báo cáo có lãi nhưng qua thanh tra làm rõ thực tế bị lỗ, giảm vốn điều lệ, thậm chí không còn vốn điều lệ. Những ngân hàng được kể tên như Nam Việt, Tiên Phong, Đại Tín, Phương Tây, Dầu Khí Toàn Cầu, Nhà Hà Nội phải củng cố, chấn chỉnh, sáp nhập hợp nhất.
Theo Ngân hàng Nhà nước, kết quả này đã hỗ trợ tích cực cho việc xác định các tổ chức tín dụng cần phải ưu tiên tái cơ cấu và xây dựng biện pháp, phương án tái cơ cấu phù hợp. (Tuổi Trẻ 6/11) đầu trang(
Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội từ kỳ họp trước, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng cho biết đang rà soát các dự án, hợp đồng, cơ chế chính sách để xác định rõ nguyên nhân suất đầu tư công trình cao và đưa ra giải pháp cụ thể khắc phục.
Bộ đang triển khai giải pháp loại bỏ yếu tố bất hợp lý ngay từ khâu thiết kế, dự toán công trình cũng như các nhà thầu yếu kém ảnh hưởng đến tiến độ dự án làm tăng chi phí công trình.
Về đổi mới doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông vận tải, ông Thăng khẳng định quyết liệt tái cơ cấu để vượt qua khó khăn, không để phát sinh “điểm nóng” mới. Riêng việc thực hiện đề án tái cơ cấu Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy VN (Vinashin) vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Bộ này cũng báo cáo về nguyên nhân cháy nổ xe, trong đó cho biết sẽ sửa một số thông tư theo hướng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khi có sự cố cháy nổ xe liên quan đến lỗi kỹ thuật... (Tuổi Trẻ 6/11) đầu trang(
Ngày 6/11, các vị đại biểu Quốc hội đã nhận được báo cáo việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ của Bộ Tài chính, do Bộ trưởng Vương Đình Huệ ký.
Theo đánh giá của Bộ trưởng, việc thanh tra, kiểm tra thuế đã có những chuyển biến tích cực so với những năm trước. Trong 9 tháng năm 2012 đã thanh tra, kiểm tra tại 35.128 doanh nghiệp; truy thu, phạt, truy hoàn 6.511,2 tỷ đồng tiền thuế; giảm khấu trừ là 913,9 tỷ, giảm lỗ 8.273,7 tỷ. Tổng số thuế truy thu và phạt đã nộp vào ngân sách là 2.987,6 tỷ đồng.
Liên quan đến vấn đề đã được đề cập khá nhiều tại nghị trường là dấu hiệu chuyển giá ở nhiều doanh nghiệp, Bộ Tài chính đã thanh, kiểm tra tại 1.172 doanh nghiệp lỗ, có dấu hiệu chuyển giá, có hoạt động giao dịch liên kết với tổng số truy thu, truy hoàn, phạt là 394,9 tỷ đồng, giảm khấu trừ 79 tỷ và giảm lỗ 2.433,8 tỷ đồng.
Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế đối với 1.268.499 hồ sơ, xử lý điều chỉnh tăng và ấn định 463,6 tỷ đồng.
Còn đối với các ngân hàng thương mại và tập đoàn, tổng công ty nhà nước, Bộ cũng đã đôn đốc nợ thuế tại 56 đơn vị hội sở và chi nhánh ngân hàng thương mại, xử lý truy thu và phạt 105 tỷ đồng, đã đôn đốc nộp vào ngân sách 1.431 tỷ đồng số thuế nợ đọng (bao gồm cả 1.416 tỷ đồng số thuế nợ đọng).Đáng chú ý là Bộ "đã kiểm tra và đôn đốc nợ thuế tại 88 tập đoàn, tổng công ty, xử lý truy thu 576,7 tỷ đồng, đã đôn đốc nộp vào ngân sách 546,8 tỷ đồng (bao gồm cả 267,5 tỷ đồng số thuế nợ đọng)".Báo cáo thực hiện lời hứa cũng cho hay, thông qua việc triển khai các biện pháp quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, tính đến 31/8/2012 toàn ngành đã thu hồi được 17.149 tỷ đồng (đạt 48,6%) tổng số nợ thuế của năm 2011.
Kết quả thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ thị trường cũng được Bộ trưởng Huệ báo cáo với Quốc hội.
Theo đó đã thực hiện gia hạn khoảng 11.124 tỷ đồng tiền thuế giá trị gia tăng các tháng 4, 5 và 6/2012 cho gần 190.000 doanh nghiệp.
9 tháng qua cũng giải quyết gia hạn 3.327 tỷ đồng nợ thuế thu nhập doanh nghiệp cho khoảng 77.295 doanh nghiệp. Gia hạn tiền sử dụng đất cho 346 doanh nghiệp với tổng số tiền sử dụng đất được gia hạn là 2.778 tỷ đồng.
Đồng thời, giải quyết giảm 50% tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.609 doanh nghiệp, với số tiền giảm là 445,2 tỷ đồng. Giải quyết miễn và hoàn thuế môn bài năm 2012 cho 44.897 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng 12,4 tỷ đồng.
Miễn, giảm thuế theo Nghị quyết 29/2012/QH13 được Bộ trưởng Huệ cho hay là tổng số giảm 6.488 tỷ đồng (năm 2012 giảm 4.150 tỷ và năm 2013 giảm 2.338 tỷ đồng). (Vneconomy 7/11) đầu trang(
TS Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, thành viên Ban Biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trao đổi với báo chí về nội dung quản lý và sử dụng quyền lực Nhà nước trong điều hành xã hội trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Hiến pháp coi quyền lực của Nhà nước thuộc về nhân dân, thông qua Hiến pháp, nhân dân trao quyền cho Nhà nước. Về điểm này, Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 có gì mới? Trả lời câu hỏi này, ông Thảo cho biết: Bản chất của Hiến pháp là một khế ước xã hội, thể hiện sự đồng thuận của nhân dân trao cho nhà nước quyền lực của mình, nhưng sẽ là những quyền gì và trao đến đâu để Nhà nước có quyền quản lý, điều hành xã hội. Hiến pháp cũng có cơ chế để Nhà nước không lạm quyền...
Người ta hay hiểu là nhân dân trao quyền cho Quốc hội, như vậy không chính xác. Nhân dân trao quyền cho Quốc hội, nhưng chỉ trong “tích tắc” (bỏ phiếu), Quốc hội bầu ra Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, Tòa án Nhân dân Tối cao, Chủ tịch nước, Chính phủ… và trao tiếp quyền lực cho các cơ quan này theo đúng phạm vi của các nhánh quyền lực. Kể từ đó các nhánh quyền lực này thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình.
Đồng thời không chỉ có Quốc hội giám sát một chiều các cơ quan nói trên mà các cơ quan này còn giám sát ngược lại Quốc hội và giám sát lẫn nhau. Đấy là nguyên tắc (giám sát quyền lực) mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã bổ sung để hạn chế sự lạm quyền của các cơ quan Nhà nước.
Về biểu hiện cụ thể của việc kiểm soát lẫn nhau, ông Thảo ví dụ: Ví dụ, Quốc hội là cơ quan lập pháp nhưng luật, pháp lệnh có hiệu lực thì phải được Chủ tịch nước đồng ý và công bố. Nếu thấy còn vấn đề gì thì Chủ tịch nước có quyền dừng ban hành luật. Hay như việc phê chuẩn điều ước Quốc tế, Chủ tịch nước cũng có quyền phê chuẩn hoặc không, theo đề nghị của các cơ quan khác.
Chính phủ đề xuất Quốc hội quyết định việc làm luật nhưng Chính phủ cũng có quyền đề nghị dừng xây dựng luật hoặc sửa đổi những nội dung mà Quốc hội đã quyết vì có thể sẽ khó thực thi trong thực tế. Chính phủ cũng có quyền giám sát hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp.
Có ý kiến cho rằng chức năng giám sát của Chính phủ đối với các cơ quan lập pháp và tư pháp chưa rõ ràng. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 khắc phục bất cập này như thế nào? Trả lời câu hỏi này, TS Đinh Xuân Thảo nói: Vai trò kiểm soát của Chính phủ (là cơ quan hành pháp) đối với cơ quan lập pháp, tư pháp hiện mới ở góc độ hành chính. Lần sửa đổi này sẽ rạch ròi hơn, Chính phủ với vai trò là cơ quan hành pháp sẽ chủ động đề xuất chính sách và làm tốt hơn việc giám sát thực hiện chính sách.
Quyền lực của nhân dân không trao hết cho Nhà nước, vậy phần còn lại được sử dụng như thế nào? Đó là quyền lực trực tiếp trong việc quản lý nhà nước, xã hội, có nghĩa là quy định việc trưng cầu ý dân. Lần này, dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 có một chương về quyền công dân, quyền con người, trong đó có quy định trưng cầu ý dân. Theo đó, sẽ xác định những vấn đề quan trọng quốc gia, hay đặc biệt quan trọng của địa phương để xin ý kiến nhân dân xử lý như thế nào thông qua luật trưng cầu ý dân.
Nhưng phải xác định được là những việc nào thì cần trưng cầu ý dân, chứ không phải là mọi việc đều trưng cầu.
Đối với quyền bầu cử của công dân, bầu cử là quyền dân chủ trực tiếp quan trọng nhất, sau đó mới đến trưng cầu ý dân. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 dự kiến đưa ra thiết chế Hội đồng bầu cử quốc gia, là một cơ quan độc lập, thực hiện tổ chức bầu cử một cách khách quan. Cơ quan này vẫn tồn tại sau khi kết thúc bầu cử để xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến các vị trí đã được bầu. (Chính phủ 7/11) đầu trang(
CHÍNH SÁCH
Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là nghị quyết rất quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định xã hội, an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường...
Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch “ngầm” còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp.
Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu trên là: Đất đai có nguồn gốc rất đa dạng; chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ; chủ trương, chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; việc thể chế hoá còn chậm, chưa thật đồng bộ. Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai và các chính sách, pháp luật có liên quan chưa nghiêm; việc thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý đất đai chưa tốt.
Ý thức chấp hành pháp luật về đất đai của một bộ phận cán bộ và nhân dân còn hạn chế. Hiệu lực, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn thấp. Tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai và các cơ quan liên quan còn nhiều bất cập, hạn chế; một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng.
Về quan điểm chỉ đạo quản lý đất đai trong thời kỳ mới, nghị quyết nêu rõ: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tuỳ theo từng loại đất và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách, pháp luật về đất đai. Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất.
Chính sách, pháp luật về đất đai phải bảo đảm hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất và của nhà đầu tư; bảo đảm cho thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, phát triển lành mạnh, ngăn chặn tình trạng đầu cơ. Sử dụng có hiệu quả các công cụ về giá, thuế trong quản lý đất đai nhằm khắc phục tình trạng lãng phí, tham nhũng, khiếu kiện. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn dân trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai. Kiên quyết lập lại trật tự trong quản lý, sử dụng đất đai.
Về định hướng tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai, nghị quyết chỉ rõ: Thu hẹp các đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng được thuê đất. Việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất .
Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời, mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, từng giai đoạn để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất đai, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp. Sớm có giải pháp đáp ứng nhu cầu đất sản xuất và việc làm cho bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đang không có đất sản xuất.
Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm những trường hợp đất đã giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức đoàn thể nhưng không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích, trái pháp luật. Thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất khi sắp xếp lại trụ sở, cơ sở làm việc thuộc sở hữu nhà nước để chuyển sang mục đích phát triển kinh tế.
Quy định cụ thể điều kiện để nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời có chế tài đồng bộ, cụ thể để xử lý nghiêm, dứt điểm các trường hợp đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích, đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng; không bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất, giá trị đã đầu tư vào đất đối với các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai.
Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển lành mạnh, bền vững thị trường bất động sản. Tăng cường sự quản lý, điều tiết của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Việc phát triển đô thị, các dự án kinh doanh bất động sản phải phù hợp với quy hoạch, nhu cầu của thị trường. Đẩy mạnh phát triển nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội để từng bước cải thiện điều kiện nhà ở của nhân dân.
Đối với các dự án xây dựng công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, chỉnh trang đô thị, cần quy hoạch cả phần diện tích đất bên cạnh công trình kết cấu hạ tầng, vùng phụ cận để thu hồi đất, tạo nguồn lực từ đất đai đầu tư cho các công trình này, hỗ trợ người có đất bị thu hồi và tăng thu ngân sách nhà nước; đồng thời ưu tiên cho người bị thu hồi đất ở được giao đất hoặc mua nhà trên diện tích đất đã thu hồi mở rộng theo quy định của pháp luật.
Nhà nước chủ động điều tiết thị trường bằng quan hệ cung - cầu; từng bước thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trong giao dịch bất động sản; rà soát lại các điều kiện lựa chọn nhà đầu tư, bảo đảm nhà đầu tư phải có đủ năng lực thực hiện các dự án bất động sản.
Giá đất do Nhà nước quy định theo mục đích sử dụng đất tại thời điểm định giá, bảo đảm nguyên tắc phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chính phủ quy định phương pháp định giá đất và khung giá đất làm căn cứ để uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành bảng giá đất. Bổ sung quy định về điều chỉnh khung giá đất, bảng giá đất bảo đảm linh hoạt, phù hợp với từng loại đất, các đối tượng sử dụng đất và các trường hợp giao đất, cho thuê đất. Có cơ chế để xử lý chênh lệch giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các địa phương.
Làm tốt công tác theo dõi, cập nhật biến động giá đất trên thị trường; từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu về giá đất tới từng thửa đất. Có cơ chế giám sát các cơ quan chức năng và tổ chức định giá đất độc lập trong việc định giá đất. Khuyến khích phát triển các tổ chức tư vấn định giá đất độc lập. (Lao Động 7/11) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có công văn thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về một số kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn từ nay đến năm 2020.
Theo Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, tính đến nay cả nước đã thực hiện khoán bảo vệ rừng được hơn 1,96 triệu ha (đạt 98% kế hoạch) so với mục tiêu 2 triệu ha của năm 2012. Trong đó, khoanh nuôi tái sinh đạt trên 211.300ha, trồng cây phân tán đạt hơn 35,7 triệu cây…
Tuy nhiên, công tác bảo vệ, phát triển rừng hiện còn nhiều hạn chế. Trước tình trạng này, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&PTNT hoàn chỉnh lại “Đề án quản lý khai thác rừng sản xuất là rừng tự nhiên”, báo cáo Thủ tướng trong tháng 11.2012.
Về đề án này, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đề nghị Bộ NN&PTNT cần phân tích làm rõ ưu nhược điểm, tác động đến kinh tế, xã hội của từng phương án. Theo đó, có 2 phương án được đưa ra, đó là: Tạm dừng khai thác gỗ rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên địa bàn cả nước.
Phương án 2 là, đối với vùng Tây Nguyên cho phép Công ty Lâm nghiệp Đăk Tô ở tỉnh Kon Tum (đã được cấp chứng chỉ gỗ có kiểm soát và sẽ cấp chứng chỉ rừng FSC quốc tế vào năm 2013) được khai thác sản lượng ổn định 8.000m3/năm. Riêng đối với các địa phương còn lại, cho phép các công ty khai thác theo phương án điều chế rừng hoặc phương án quản lý rừng bền vững được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Về đề án nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm, giai đoạn 2011-2015, Phó Thủ tướng đề nghị Bộ NN&PTNT nghiên cứu, bổ sung hoàn chỉnh theo 2 phương án: Phương án 1 là nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động kiểm lâm giai đoạn 2011-2020. Phương án 2 là thành lập lực lượng cảnh sát lâm nghiệp (tương tự cảnh sát biển).
Về dự thảo Thông tư hướng dẫn trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng công trình thủy điện, khai thác khoáng sản và các công trình xây dựng khác, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ NN&PTNT chủ trì, lấy ý kiến các bộ, ngành. Trong dự thảo thông tư này, Phó Thủ tướng đề nghị: Phải có phương án trồng rừng được duyệt bảo đảm tính khả thi thì mới được khởi công công trình. Đối với những tỉnh không còn đất trồng rừng thay thế, thì phải nộp số tiền theo dự án trồng rừng thay thế được duyệt về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng T.Ư để Bộ NN&PTNT bố trí cho tỉnh còn quỹ đất trồng rừng thay thế thực hiện.
Đối với dự án đã chuyển mục đích sử dụng rừng từ khi Nghị định số 23/2006 của Chính phủ có hiệu lực, mà đến nay chưa trồng rừng thay thế, thì yêu cầu chủ đầu tư phải trồng lại rừng trong trường hợp địa phương đó còn quỹ đất. Nếu không còn quỹ đất, thì phải nộp tiền theo hướng xử lý nêu trên.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan tiến hành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tình hình thực hiện dự án trồng rừng thay thế tại các địa phương. (Nông Thôn Ngày Nay 6/11, Tr10) đầu trang(
Công văn mới nhất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác về tình hình phân bổ vốn ngân sách và vốn trái phiếu Chính phủ năm 2013 tiếp tục nhấn mạnh đến việc "hạn chế tối đa các dự án khởi công mới".
Cụ thể, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nguyên tắc phân bổ vốn trong năm 2012 là ưu tiên bố trí vốn cho các chương trình mục tiêu quốc gia; các lĩnh vực: quốc phòng, an ninh, các chương trình biên giới, biển đảo, nông, lâm nghiệp và thủy sản, các dự án lớn quan trọng quốc gia, vốn đối ứng cho các dự án ODA.
Việc phân bổ vốn sẽ phải đảm bảo bố trí vốn tập trung, khắc phục tình trạng dàn trải, thất thoát, lãng phí, nâng cao hiệu quả đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu cơ cấu lại đầu tư công.
Về ưu tiên phân bổ vốn, vốn ngân sách sẽ được bố trí cho các dự án hoàn thành trong năm 2012 trở về trước thuộc nhiệm vụ đầu tư từ ngân sách nhưng chưa được bố trí đủ vốn; các dự án dự kiến hoàn thành năm 2013 và vốn đối ứng cho các dự án ODA theo tiến độ thực hiện dự án; đồng thời bố trí đủ vốn để hoàn trả các khoản vốn ứng trước nguồn ngân sách Trung ương kế hoạch năm 2013 theo các quyết định của Thủ tướng cho phép ứng trước trong năm 2012.
Đặc biệt, sẽ "hạn chế tối đa việc khởi công các dự án mới" và chỉ bố trí vốn cho các dự án khởi công mới thật sự cấp bách khi đã bố trí đủ nguồn vốn để thanh toán vốn cho các dự án hoàn thành trong năm 2012 trở về trước và các dự án chuyển tiếp, hoàn trả các khoản vốn ứng trước.
Các dự án khởi công mới trong kế hoạch đầu tư năm 2013 phải nằm trong quy hoạch đã được duyệt, thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước, quyết định phê duyệt dự án và thẩm định nguồn vốn theo đúng quy định tại Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng; đồng thời phải xác định rõ nguồn vốn và khả năng cân đối vốn ở từng cấp ngân sách để bảo đảm dự án thi công đúng tiến độ, không bị dở dang, gây lãng phí, thất thoát nguồn vốn ngân sách.
Đối với nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, nguyên tắc phân bổ là bố trí đủ vốn để hoàn trả các khoản ứng trước vốn trái phiếu Chính phủ kế hoạch năm 2013 và các quyết định khác của Thủ tướng Chính phủ trong năm 2012 cho ứng trước kế hoạch năm 2013, các dự án đã hoàn thành và đã bàn giao đưa vào sử dụng và ưu tiên bố trí vốn cho các dự án dự kiến hoàn thành trong năm 2013.
Căn cứ các nguyên tắc trên đây, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị các bộ ngành, địa phương dự kiến kế hoạch vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách và trái phiếu Chính phủ năm 2013, gửi báo cáo về bộ này và Bộ Tài chính trước ngày 10/11/2012. (Vneconomy 6/11) đầu trang(
Tại hội nghị đánh giá ba năm thực hiện Luật bảo hiểm y tế và định hướng bổ sung một số điều của luật, được Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội VN tổ chức ngày 6-11 ở Hà Nội, báo cáo của Bộ Y tế cho biết sau ba năm thực hiện, nhiều quy định trong luật vẫn chưa được thực thi.
Đó là: bắt buộc bảo hiểm y tế ở nhóm người lao động trong các doanh nghiệp nhưng thực tế mới có 49,9% có thẻ; học sinh sinh viên mới có 80% tham gia bảo hiểm y tế và người cận nghèo mới có 18,9% có thẻ bảo hiểm y tế. Về quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, luật quy định quỹ bảo hiểm y tế sẽ chi trả phí khám, chẩn đoán sớm bệnh ung thư, sàng lọc sơ sinh..., tuy nhiên đến nay quy định này vẫn chưa được thực hiện.
Trao đổi với báo giới bên lề hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết mục tiêu phát triển bảo hiểm y tế theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu, trong đó có mở rộng diện bao phủ thẻ bảo hiểm y tế, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2020 và mở rộng quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế, mục tiêu giảm tiền túi người bệnh khi đi khám chữa bệnh xuống còn dưới 40% vào năm 2020 (hiện nay là 47%).
Theo Bộ Y tế, Luật bảo hiểm y tế quy định người nghèo, người dân tộc thiểu số, người mắc bệnh nặng, bệnh mãn tính như ung thư, chạy thận nhân tạo... phải cùng chi trả 5% phí khám chữa bệnh, nhưng thực tế quy định này đã hạn chế đáng kể khả năng tiếp cận dịch vụ. Bộ đề nghị bỏ quy định cùng chi trả với người nghèo, người dân tộc thiểu số, người đang sống ở các trung tâm bảo trợ xã hội, thân nhân người có công... (Tuổi Trẻ 7/11) đầu trang(
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Nhằm đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính trên địa bàn các quận huyện và phường - xã - thị trấn, UBND TP.HCM đang khẩn trương hoàn chỉnh quy trình thực hiện 2 nhóm thủ tục trong lĩnh vực hộ tịch, tư pháp.
Cụ thể, các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi, nhập hộ khẩu và đăng ký khai tử, xóa hộ khẩu sẽ triển khai diện rộng theo hướng đơn giản hóa tối đa về thủ tục và thời gian hoàn thành các thủ tục hành chính để người dân bớt phiền hà và đi lại nhiều lần. Việc nhận kết quả của một số thủ tục hành chính cũng sẽ được giao tận nhà cho người dân thông qua bưu điện. (Sài Gòn Giải Phóng 7/11) đầu trang(
Người dân và doanh nghiệp ở TP.HCM có thể giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính (TTHC) đối với một số lĩnh vực liên quan trực tiếp đến mình thông qua các hình thức như: gọi điện thoại, gửi văn bản tới cơ quan hành chính và các cơ quan báo chí truyền thông, hoặc góp ý tại hội nghị…
Bà Trần Băng Tâm, Giám đốc Xí nghiệp May Thanh Long (phường 8, quận 11) gửi văn bản đến UBND TPHCM phản ánh từ năm 2009 đến nay đã nhiều lần đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất (Sở TN-MT) xin cấp giấy chứng nhận sở hữu công trình nhưng đều không được giải quyết và cũng không nhận được câu trả lời.
Ngày 19-6-2012, UBND TP chỉ đạo Giám đốc Sở TN-MT kiểm tra, xử lý. Sau khi nhận được báo cáo của Sở TN-MT, UBND TP ra văn bản trả lời cho bà Tâm. Tính ra, từ lúc gửi văn bản đến lúc bà Tâm nhận được kết quả trả lời của UBND TP chỉ 11 ngày (kể cả thứ bảy, chủ nhật).
Dù kết quả không như mong muốn, song bà Tâm vẫn vui vẻ, vì như bà nói: “Được hay không được cứ trả lời mình một tiếng, không tức bằng phải chờ đợi hết năm này qua năm khác mà không biết có được giải quyết hay không”.
Tương tự, ông Nguyễn Hồng Dực (ngụ phường 9, quận 3) cũng nhiều lần gửi đơn đến UBND phường và quận hỏi lý do về sự chậm trễ trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nhưng đều không thấy trả lời. Nhận được đơn phản ánh của ông Dực, UBND TP đã chỉ đạo UBND quận 3 xem xét, giải quyết. Cũng chỉ hơn 10 ngày sau, mọi thắc mắc của ông Dực được hồi đáp. Thủ tục cấp giấy chứng nhận nhà đất cho ông sau đó được thực hiện nhanh hơn mặc dù có những vướng mắc ngoài thẩm quyền của UBND quận 3.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Phương (ngụ phường 5, quận Tân Bình) và một số hộ dân ở quận Bình Tân lại chọn hình thức gọi điện đến các cơ quan báo chí phản ánh về sự chậm trễ trong giải quyết khiếu nại liên quan đến nhà đất và đền bù giải tỏa thực hiện Dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Trong đó, trường hợp của bà Phương sau khi được báo chí phản ánh, UBND quận 2 đã ra các quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định, không để bà phải chờ đợi cả năm trời như trước kia nữa.
Theo báo cáo của Văn phòng UBND TP.HCM, từ đầu năm đến nay cơ quan này đã tiếp nhận 20 đơn thư phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về những vướng mắc liên quan đến TTHC, trong đó đã xử lý được 16 trường hợp. Kết quả này cho thấy những phản ánh, kiến nghị của người dân về giải quyết TTHC tại các cơ quan hành chính được tiếp nhận, xử lý kịp thời, nhanh chóng, dứt điểm theo đúng quy định.
Tuy nhiên, số đơn thư phản ánh, kiến nghị gửi đến cơ quan có thẩm quyền còn quá ít. Điều này không phản ánh đúng thực chất những vướng mắc, trở ngại trong quá trình thực hiện các TTHC trên các lĩnh vực đã được ban hành hiện nay. Từ đó dẫn đến chất lượng và hiệu quả công tác kiểm soát việc thực hiện TTHC của người dân và các cơ quan hành chính chưa cao, làm cho tiến trình cải cách TTHC chưa sát với thực tế của từng ngành và địa phương.
Theo ông Lê Hoài Trung, Phó Giám đốc Thường trực Sở Nội vụ TP.HCM, để công tác giám sát việc thực hiện cải cách TTHC từ khâu thẩm định, ban hành, đến thực thi được tốt thì phải đẩy mạnh việc công khai, minh bạch đến người dân và doanh nghiệp qua nhiều hình thức. Thực tế cho thấy nhiều TTHC trong quá trình thực thi đã không phù hợp, hoặc gây cản ngại, chồng chéo với các TTHC khác. Chỉ khi được công khai, minh bạch cho người dân được biết và tham gia giám sát ngay từ đầu, thì những TTHC bất hợp lý, không cần thiết mới kịp thời được phát hiện, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với thực tế.
Theo Văn phòng UBND TP.HCM: Tổng số TTHC trong kỳ báo cáo được thực hiện tại các cấp chính quyền tính đến đầu tháng 10-2012: 2.247. Trong đó: Sở, ban ngành: 1.611 TTHC; UBND các quận, huyện: 475 TTHC; UBND các phường, xã, thị trấn: 161 TTHC. Công bố TTHC mới ban hành: 154; Bãi bỏ: 184 TTHC; Tổng số TTHC giảm trong kỳ: 30. (Sài Gòn Giải Phóng 7/11) đầu trang(
QUẢN LÝ
Ngày 23/8/2012, Chủ tịch UBND huyện Sa Pa ký ban hành một văn bản Về việc thực hiện nghiêm túc Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước thuộc huyện và các UBND xã, phường, thị trấn.
Sở dĩ có văn bản này là do “thời gian gần đây việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của một số xã chưa thực hiện theo đúng quy định, đã ảnh hưởng đến hình ảnh và công tác lãnh chỉ đạo trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện”.
Nội dung của văn bản này quy định mấy vấn đề sau: Chỉ người phát ngôn của đơn vị mới được phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, bằng văn bản chính thống, chụp ảnh, ghi hình phải đúng sự thật, không được dàn dựng, phải cử cán bộ đi cùng, khi thấy có dấu hiệu sai phải báo cáo ngay cho lãnh đạo; Người phát ngôn có quyền từ chối cung cấp thông tin thuộc bí mật Nhà nước, thuộc nguyên tắc, quy định của Đảng, vụ việc đang điều tra, các văn bản chưa được cấp có thẩm quyền phổ biến;
Người phát ngôn chịu trách niệm trước Chủ tịch UBND huyện, trước pháp luật; Các cơ quan hành chính Nhà nước huyện Sa Pa không được giao nhiệm vụ phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí thì không được nhân danh cơ quan hành chính nhà nước để phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, chỉ được phát ngôn và cung cấp thông tin khi được UBND huyện ủy quyền bằng văn bản.
Về những nội dung đầy tính cấm đoán việc tiếp xúc với báo chí này bản thân nó đã nói lên tất cả. Không biết các phóng viên báo chí lên tác nghiệp ở Sa Pa theo Luật Báo chí hiện hành sẽ xoay sở ra sao với các quy định “đóng cửa” với báo giới này?.
Theo các phóng viên từ Sa Pa trở về, có nhiều khúc mắc trong việc thu hồi đất của dân khu vực Nhà thờ Sa Pa. Họ đã nhiều lần xin gặp Chủ tịch huyện mà không được, cuối cùng gần chục phóng viên bất ngờ vào phòng làm việc của ông để hỏi vấn đề trên.
Sự việc này là nguyên cớ trực tiếp để ra cái văn bản đã dẫn ở trên. Không biết cái văn bản này đã được “cấp thẩm quyền phổ biến” chưa?. Nếu chưa thì người cung cấp cho báo chí văn bản này phải “chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND huyện và trước pháp luật”. Họ sẽ bị xử lý sao đây?. (Pháp Luật Việt Nam 7/11) đầu trang(
TIN TỨC
Tỉnh Kiên Giang vừa có kiến nghị, đề xuất Chính phủ, Thủ tướng áp dụng các cơ chế, chính sách phát triển đảo Phú Quốc thành đặc khu hành chính - kinh tế trực thuộc Trung ương vào năm 2020.
Kiên Giang đề nghị điều chỉnh một số chỉ tiêu kiến trúc trong quá trình triển khai các quy hoạch chi tiết, nhằm đảm bảo phát huy tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên - xã hội, phù hợp theo tình hình thực tế và nhu cầu phát triển của Phú Quốc. Đồng thời xem xét, phân bổ nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng thiết yếu đảo từ nay đến năm 2015. Trước mắt, bố trí thêm 4.500 tỷ đồng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để xây dựng hoàn thành các tuyến đường vòng quanh đảo phía bờ Tây, đường trục chính Nam - Bắc đảo và cầu Nguyễn Trung Trực.
Theo phê duyệt quy hoạch tổng thể đảo Phú Quốc đến năm 2030 của Thủ tướng thì xây dựng đảo này phát triển bền vững; hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng và quốc gia. Từng bước xây dựng Phú Quốc trở thành một thành phố biển - đảo, trung tâm du lịch và dịch vụ cao cấp; trung tâm khoa học công nghệ của quốc gia và khu vực Đông Nam Á. (Đầu Tư 6/11) đầu trang(
Bộ Xây dựng cho biết như vậy tại văn bản gửi Văn phòng Chính phủ về việc góp ý kiến cho dự án đầu tư xây dựng trụ sở mới của cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
Theo Bộ Xây dựng, dự án đầu tư xây dựng trụ sở mới Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại khu đô thị mới Cầu Giấy, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy (Hà Nội) đã được Thủ tướng đồng ý. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã lập dự án đầu tư xây dựng trụ sở mới căn cứ quy hoạch biên chế đến năm 2030 được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở và kết quả thi tuyển thiết kế.
Theo văn bản của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, dự án đầu tư xây dựng trụ sở mới có khái toán tổng mức đầu tư khoảng 1.600 tỉ đồng, nguồn vốn đầu tư được bố trí từ nguồn vốn thu được do xử lý các cơ sở nhà, đất không còn sử dụng của ngành (khoảng 200 tỉ đồng) và nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp. Bộ Xây dựng cho rằng việc sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho dự án này cần báo cáo Chính phủ xem xét, chấp thuận. (Tuổi Trẻ 7/11) đầu trang(
Gia đình ông Hồ Đang - Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng (huyện Hướng Hóa) đã tình nguyện hiến 3.000m2 đất để mở đường.
Con đường đang được thi công nối từ đường mòn Hồ Chí Minh vào khu trạm xá xã và Trường THCS Hướng Phùng. Toàn bộ diện tích đất hiến nói trên nằm trong vườn cà phê thuộc sở hữu của gia đình ông Hồ Đang.
Bà Hoàng Thị Lan- Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện Hướng Hóa nói: “Ở một trong những xã được chọn làm điểm trong phong trào xây dựng nông thôn mới, việc đi đầu gương mẫu của ông Hồ Đang đã tạo nên hiệu ứng tích cực, góp phần hoàn thành xây dựng nông thôn mới tại huyện miền núi Hướng Hóa”. (Nông Thôn Ngày Nay 6/11) đầu trang(
CHÍNH SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Sáng 5-11, UBND TP.Hồ Chí Minh (TPHCM) đã khai mạc phiên họp chính thức Hội đồng Thẩm định dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TPHCM đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
Phát biểu khai mạc, Chủ tịch UBND TPHCM Lê Hoàng Quân cho biết dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP thời kỳ 1996-2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1997, hầu hết các chỉ tiêu được TP thực hiện đạt và vượt so với dự báo ban đầu, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội TP trong những năm qua.
Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới, Thành ủy và UBND TP tiếp tục đề ra các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể nhằm điều hành, định hướng phát triển để TP giữ vững vai trò trung tâm về nhiều mặt của khu vực và cả nước trong những năm tới.
Với tầm quan trọng đó, UBND TP đã xây dựng dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025. Dự án này đã được ban chỉ đạo và ban quản lý dự án họp 19 lần để góp ý; gửi hồ sơ dự án đến 21 bộ, ngành Trung ương, 7 tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 20 sở, ngành và Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật của TP đề nghị đóng góp ý kiến cũng như tổ chức lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia đầu ngành và 24 quận, huyện. Hầu hết các ý kiến đánh giá cao nội dung dự án.
Các ý kiến đóng góp và đề nghị chỉnh sửa đã được nghiêm túc tiếp thu, hoàn chỉnh báo cáo. “Với sự chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo, đến nay về cơ bản dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội TP đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 đã hoàn thành. Tôi đề nghị các thành viên Hội đồng Thẩm định dự án tiếp tục đóng góp ý kiến cho dự án hoàn chỉnh hơn nữa để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong thời gian sớm nhất” - Chủ tịch Lê Hoàng Quân nhấn mạnh. (Người Lao Động 6/11/2012) đầu trang(
Trong cuộc họp tháng 10 vừa qua, nụ cười của Bộ trưởng Bộ GTVT có vẻ tươi tắn hơn bởi kết quả 10 tháng của công tác an toàn giao thông là "vùng sáng" - như đánh giá của Quốc hội.
Qua báo chí, tôi biết ông Đinh La Thăng, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải. Gần đây tôi là thành viên Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia (ATGTQG), tháng tháng được gặp ông, khi ông chủ trì cuộc họp của Ủy ban.
Trong lúc làm việc, thi thoảng tôi ngắm nhìn và không ít lần vô tình bắt gặp nụ cười của ông Bộ trưởng. Có lẽ vì cảm tình với phong cách điều khiển cuộc họp, cách xử lí ngắn gọn, rõ ràng và cụ thể, cùng những câu đùa dí dỏm, nên tôi cảm tình với nụ của ông Thăng.
Trong cuộc họp tháng 10 vừa qua, nụ cười của ông có vẻ tươi tắn hơn. Đúng là đáng vui chứ, bởi kết quả 10 tháng của công tác an toàn giao thông là "vùng sáng" - như đánh giá của Quốc hội. Và báo cáo kết quả 10 tháng của 2012: "Toàn quốc xảy ra 26.213 vụ tai nạn, làm chết 7.681 người, bị thương 27.800 người. So với 10 tháng năm 2011, giảm 9.999 vụ; giảm 1551 người chết (tức giảm 16,8%); giảm 10.730 bị thương (giảm 27,85%)."
Những con số về tử vong, thương vong nghe thật lạnh lùng, nhưng con số thông báo sự tang thương ấy, 10 tháng của năm 2012 cả nước đã giảm được 1.551 người chết vì tai nạn giao thông, tức là giảm tương đương với số đám tang, số các gia đình có người thân bị tử nạn vì giao thông. Kết quả ấy thật không nhỏ nhoi chút nào, nó rất nhân văn, nhân bản. Nó là công sức của biết bao nhiêu người, bao ngành, bao đoàn thể, trong đó một phần có sự đóng góp của ông Bộ trưởng.
Từ khi nhậm chức, ông Thăng là Bộ trưởng được báo chí săm soi "kĩ lưỡng", mang cả "kính hiển vi" ra soi. Người ta "soi" khi ông trảm tướng tại mấy dự án giao thông đường bộ, ở sân bay Đà Nẵng,…rồi các đề án về thu phí,…Không những bị soi trên báo chí, ông còn bị chất vấn tới tấp và ngay tại Quốc hội một vị dân biểu đã "dồn" ông về tỉ lệ giảm tử vong và ông dõng dạc: năm 2012 tỉ lệ tử vong sẽ giảm từ 5- 10%, tức là giảm số người chết do tai nạn giao thông từ 500 đến 1.000 mạng người.
Về nhưng chất vấn, săm soi và cả những phản biện của mọi người với các đề xuất, các quyết sách của ông, có ý kiến phản biện mang tính xây dựng, nhưng cũng không thiếu những ý kiến "bàn ngang". Ngay tại Ủy ban ATGTQG, trong một cuộc họp bàn việc nâng mức xử phạt vi phạm giao thông, từng có đại biểu đưa ra rằng: "Mức xử phạt cao như thế, tôi lương công chức, lấy đâu ra tiền để nộp". Dạng ý kiến kiểu vậy, thì hết bàn rồi (!?)
Giờ đây ta có thể thẩm định những đề xuất, những việc làm của ông Bộ trưởng: Nhà ga sân bay Đà Nẵng đã hoàn thành. Thành phố miền Trung này với khu nhà ga hoành tráng, tương xứng với một thành phố du lịch, trọng tâm kinh tế miền Trung, có thể tự tin đón khách quốc tế và khách trong nước.
Mới đây thôi, tại Thủ đô ta con đường trên cao dài nhất quốc gia được khánh thành, nó về đích trước kế hoạch nhiều tháng. Rồi không ít tuyến đường cao tốc khác trong cả nước đi vào sử dụng. Cũng tại Thủ đô chỉ bằng mắt thường, không cần những công trình nghiên cứu, hay điều tra xã hội học, thời gian gần đây ta có thể quan sát thấy nạn ùn tắc giao thông giảm đi rõ rệt.
Cũng trong cuộc họp tháng 10 vừa qua, ông Đinh La Thăng tin tưởng sẽ thực hiện được tỉ lệ tử vong giảm 5-10% trong năm 2013. Thực hiện được bởi hàng loạt đề án, biện pháp sẽ được áp dụng, như kiểm tra, sắp xếp lại hệ thông biển báo trong cả nước; triển khai đề án đăng kiểm; xây dựng kho dữ liệu vi phạm, tai nạn giao thông,… Thậm chí ngay cả những điều tưởng như nhỏ nhặt, nhưng không hề nhỏ - như ông Thăng chỉ đạo: "Đèn tín hiệu cần căn chỉnh thời gian dừng đỗ bao nhiêu giây sao cho thật phù hợp. Việc ấy nhỏ đấy, nhưng cũng góp phần giảm ùn tắc giao thông!"
Với những điều kể trên có thể hoàn toàn chia sẻ được cùng ông Bộ trưởng về nụ cười ấy! (Vov giao thông 6/11) đầu trang(./.
Biên tập: Nguyễn Mai
|
|||