|
Ngày 30 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
29-9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Đinh Văn Thu đã ký quyết định xử phạt 300 triệu đồng đối với Công ty TNHH một thành viên Anh Tú (địa chỉ Phòng A16-04, số 06 Hoàng Văn Thụ, phường Diên Hồng, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai) vì đã có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Ngoài phạt tiền, UBND tỉnh còn quyết định tịch thu toàn bộ tang vật vi phạm. Nguyên nhân bị phạt là do trước đó, vào ngày 23-8-2014, công ty này kinh doanh, vận chuyển hơn 9 m3 gỗ Gõ Lau quy tròn (nhóm IIA) không có hồ sơ nguồn gốc hợp pháp. Hành vi này vi phạm quy định tại Điểm d, Khoản 7, Điều 23 của Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2013 của Chính phủ.
UBND tỉnh yêu cầu Công ty TNHH một thành viên Anh Tú nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt, số tiền phạt nộp tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Nam.
Quá thời hạn này, nếu cố tình không chấp hành quyết định xử phạt sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật. (Nhân Dân 30/9; Đại Đoàn Kết 30/8, tr10) đầu trang(
29/9, TAND tỉnh mở phiên tòa phúc thẩm xét xử 4 cựu cán bộ công an và đồng phạm trong vụ "ăn chặn" trầm hương, kỳ nam trị giá tiền tỷ xảy ra tại huyện Khánh Sơn cuối tháng 9/2012.
Các bị cáo trong vụ án này gồm có: Nguyễn Thành Trung (SN 1968 tại Hà Nội, nguyên Thượng tá, nguyên Trưởng Công an huyện Khánh Sơn), Nguyễn Hồng Hà (SN 1967 tại Hà Nội, nguyên Trung tá, nguyên Đội trưởng Đội CSGT, Công an Khánh Sơn), Vũ Anh Trung (SN 1978 tại Thanh Hóa, nguyên Thiếu tá, nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường, Công an Khánh Sơn), Trần Lệ Kiên (SN 1984 tại Phú Thọ, nguyên Thượng úy, nguyên Phó đội trưởng Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp, Công an Khánh Sơn), Luân Văn Nam (Nam lụi, SN 1985 tại Cao Bằng, trú thôn Dốc Gạo, thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn, nghề nghiệp lái xe).
Giữa tháng 9/2012 có hàng nghìn người đến đào bới ở khu vực rừng Gộp Ngà (Sơn Trung, Khánh Sơn) để tìm kiếm trầm kỳ. UBND huyện Khánh Sơn thành lập đội liên ngành, nhằm ngăn chặn việc phá rừng, đưa người tìm trầm ra khỏi rừng, do Vũ Anh Trung làm Đội trưởng, Nguyễn Hồng Hà làm Đội phó.
Cuối tháng 9/2012, nhiều người dân tố cáo một số cán bộ Công an trong đội liên ngành đã chiếm đoạt trầm kỳ do họ tìm được. Cơ quan CSĐT, Công an Khánh Hòa điều tra, xác định hai nhóm người tìm được trầm kỳ trong đêm 26/9/2012 đã phải giao lại sĩ quan công an trong đội liên ngành.
Ông Nguyễn Thành Trung (lúc đó vừa bị giáng cấp từ Thượng tá xuống Trung tá, giáng chức xuống Phó trưởng Công an huyện Khánh Sơn do sai phạm liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng, rồi bị điều về làm Phó Giám thị Trại tạm giam, Công an tỉnh Khánh Hòa) đem hai cục trầm kỳ đi bán, được tổng cộng 4,15 tỷ đồng. Nhóm của ông Thừa được nhận lại 1,6 tỷ đồng, các bị cáo chia nhau 2,55 tỷ đồng.
Ngày 1/4/2013, Cơ quan CSĐT, Công an Khánh Hòa khởi tố vụ án. Vũ Anh Trung, Trần Lệ Kiên, Nguyễn Hồng Hà bị bắt tạm giam ngày 3/4/2013. Nguyễn Thành Trung và Luân Văn Nam bị bắt tạm giam ngày 11/6/2013.
Xét xử sơ thẩm vụ án này từ ngày 18/6/2014 đến ngày 20/6/2014, TAND huyện Khánh Sơn kết án 5 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Hồng Hà và bị cáo Vũ Anh Trung, 5 năm tù đối với bị cáo Trần Lệ Kiên, đều về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Bị cáo Luân Văn Nam bị kết án 3 năm tù về tội “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, với vai trò đồng phạm. Bị cáo Nguyễn Thành Trung bị phạt án 10 năm tù về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Bị cáo Luân Văn Nam kháng án, xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Thành Trung kháng án, kêu oan. Ông ta phủ nhận việc mình có mặt tại quán cà phê Góc Núi (Tô Hạp) tối ngày 27/9/2012 để bàn việc bán trầm kỳ, phủ nhận việc mình đi bán trầm kỳ.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thành Trung khai, từ khoảng 19 giờ đến gần 22 giờ ngày 27/9/2012, ông ta nhậu với một số người, trong đó có ông Nguyễn Thành Phấn, Chánh án TAND huyện Khánh Sơn và ông Nguyễn Văn Phương, Viện trưởng VKSND huyện Khánh Sơn tại quán Quê Hương ở thành phố Cam Ranh.
Các luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo Nguyễn Thành Trung là luật sư Nguyễn Đình Thơ (Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa) và luật sư Lê Văn Minh (Đoàn Luật sư Hà Nội) trưng ra văn bản mang chữ ký của ông Phạm Hồng Ngọc ở thị trấn Tô Hạp, ông Đỗ Nguyên Tuấn ở xã Ba Cụm Bắc (Khánh Sơn) và ông Nguyễn Quốc Khanh (cán bộ Phòng TNMT huyện Khánh Sơn), xác nhận họ dự cuộc nhậu đêm 27/9 ở quán Quê Hương với bị cáo.
Các luật sư của bị cáo Nguyễn Thành Trung đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm coi đó là hồ sơ vụ án, chứng cứ ngoại phạm rất quan trọng của bị cáo. Tuy nhiên, HĐXX sơ thẩm cho rằng cần tiếp tục xem xét, chưa thể coi đó là chứng cứ vụ án.
12/9, TAND tỉnh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án. Tuy nhiên, phiên tòa phải tạm hoãn vì chỉ có 4/20 nhân chứng được triệu tập có mặt. Trước đó, các luật sư của bị cáo Nguyễn Thành Trung đề nghị Tòa mời các ông Nguyễn Thành Phấn, Nguyễn Văn Phương, Phạm Hồng Ngọc, Đỗ Nguyên Tuấn, Nguyễn Quốc Khanh tới Tòa với tư cách nhân chứng, nhưng không được chấp thuận.
Tại phiên tòa phúc thẩm mở ngày 29/9, TAND tỉnh Khánh Hòa đã mời các ông Nguyễn Văn Phương, Phạm Hồng Ngọc, Đỗ Nguyên Tuấn, Nguyễn Quốc Khanh tới Tòa, với tư cách nhân chứng.
Tuy nhiên, Tòa không mời hai người khác, được cho là cùng dự cuộc nhậu với bị cáo Nguyễn Thành Trung tại quán Quê Hương ở thành phố Cam Ranh tối ngày 27/9/2012, ông Nguyễn Thành Phấn, Chánh án TAND huyện Khánh Sơn và ông Nguyễn Văn Phương, Viện trưởng VKSND huyện Khánh Sơn. (Tiền Phong 29/9) đầu trang(
Kín như rừng cũng có những lối đi nhỏ (mạch) người ta có thể biết được, kín như vách người ta cũng có thể nghe được. Xưa ông cha ta đã nhận xét vậy, nhưng bây giờ chưa hẳn đúng vậy (?!).
Thì đây, chuyện còn đang nóng hổi với vụ phá rừng quy mô lớn ở thượng nguồn sông Thu Bồn. Tại tiểu khu 640, 642, 644, 645 thuộc vùng sâu, vùng xa, giáp ranh giữa Nông Sơn và Phước Sơn, lực lượng chức năng đã phát hiện số lượng lớn gỗ xẻ gồm 257 phách gỗ, tổng khối lượng hơn 51m3 gỗ các loại thuộc nhóm từ I đến VII như chò, gõ, huỷnh, xoan đào.
Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) loan tin vào tối 17.9 và ngày 18.9, số gỗ quý trị giá hàng tỷ đồng này được tập kết theo đường dây khép kín liên huyện hoạt động một thời gian dài, không chỉ khai thác trên địa bàn huyện Nông Sơn, mà từ cả những cánh rừng già, rừng đặc dụng của các huyện giáp ranh như Phước Sơn, Nam Giang... được vận chuyển về đây.
Có lạ không khi “một thời gian dài” không thấy lực lượng “tai mắt” nào phát hiện? “Tai vách mạch rừng” vẫn không xì ra thông tin có tới 5 điểm tập kết gỗ lậu với hàng trăm phách gỗ quý được cắt theo quy cách từ đòn tay, khung ngoại, cho đến những bộ phản có giá trị lên đến cả trăm triệu đồng?
Vụ việc, đúng như ông Trần Văn Thu - Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã nói, kiểm lâm địa bàn và chính quyền sở tại phải chịu trách nhiệm đầu tiên. Số lượng gỗ bị khai thác quá lớn, bãi tập kết gỗ sờ sờ ra đó, rồi việc xẻ quy cách gỗ bài bản vậy thì những bộ phận “tai mắt” trên không thể không biết.
PV cũng làm một thống kê trong thời gian gần đây, các vụ phá rừng liên tiếp xảy ra ở địa bàn Quảng Nam. Cây ươi không biết giữ thân mình đã rải hạt bay đi khiến nhiều kẻ phát hiện tìm tới đốn hạ. Rừng dầu rái muốn chảy dòng nhựa thơm, bao người ào tới đốt cháy. Cây mật nhân “đắng lòng” cho kẻ lưng đau gối mỏi khiến thương lái động lòng tìm mua giá cao, bao người lại lùng rừng đào chặt đem về bán…
Cây rừng thì vô tư dâng hiến. Lâm tặc thì rất… giỏi biết cây gì, gỗ gì, ở cánh rừng nào, và tìm cách khai thác triệt để. Vậy mà lực lượng giữ rừng, chính quyền sở tại rất bị động trong đối phó. Còn khi lực lượng chức năng tổ chức truy quét là “tai vách mạch rừng” ở đâu lộ ra cả, lâm tặc cao chạy xa bay, quy trách nhiệm thì phải điều tra dài ngày.
Cũng cần phải nhắc, lâm tặc ngày càng ngang nhiên xâm hại rừng, dường như “coi thường” chính quyền. Lập bãi xẻ gỗ lớn như ở Nông Sơn nếu không có bảo kê thì chỉ có kẻ “ăn gan trời” mới dám làm nếu lực lượng giữ rừng tuần tra liên tục, chính quyền ra tay quyết liệt.
Một số người bảo vệ rừng đơn độc thì bị lâm tặc chém, đòi “luộc nước sôi” như vụ việc xảy ra trung tuần tháng 9 này ở Khe Dâu mà Báo Quảng Nam vừa đưa tin mới đây. Rõ ràng cuộc chiến giữ rừng chưa và sẽ khó đến hồi kết, chỉ một lúc lơi lỏng thì cây rừng tiếp tục đổ; rừng khóc trong khi lâm tặc cười vào mũi lực lượng chức năng.
Rừng có mạch, vách có tai, không có chuyện gì kín như bưng mãi được. Ngẫm lại từ xưa có người đã nhắc rằng: Ông biết, tôi biết, trời biết, đất biết, thế sao gọi là không biết? (Báo Quảng Nam 28/9) đầu trang(
Tuy chủ rừng và các cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp bảo vệ nhưng từ nhiều năm nay, rừng tự nhiên căm xe hàng chục năm tuổi ở xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) vẫn bị tàn phá tan hoang.
Điều đáng nói, tình trạng phá rừng xảy ra đã lâu, song chính quyền địa phương, đơn vị chủ rừng vẫn đang lúng túng trong việc xử lý... Rừng tự nhiên căm xe ở xã Ninh Tây mùa này xanh tốt. Nhưng ở ven rừng hoặc những nơi sát rẫy mía của người dân, hàng loạt cây căm xe cao lớn trơ trụi lá, chết đứng và mục dần theo thời gian.
Từ trên cao nhìn xuống, rừng căm xe đang bị xâm hại nặng nề, những ruộng mía xen lẫn với rừng cây loang lổ từng mảng như da beo. Thật khó để thống kê đầy đủ về số lượng cây căm xe bị chết, bởi chúng không bị phá hàng loạt mà phần lớn bị xâm hại theo kiểu “chết dần chết mòn”.
Trên dọc con đường đi vào vùng lõi rừng, PV bắt gặp la liệt những thân cây bị băm vằm sát gốc. Có cây còn bị đốt gốc, cháy nham nhở và chết đứng từ bao giờ. Tìm hiểu nguyên nhân được biết, rừng căm xe Ninh Tây bị phá không phải để lấy gỗ, mà nhằm mục đích chiếm đất làm rẫy, trồng mía.
Len lỏi trong rừng, không khó để PV bắt gặp những rẫy mía của người dân. Hỏi thăm một người dân đang trên đường đi lên rẫy, anh cho biết: “Những rẫy mía đó là của người dân ở xã Ninh Tây. Ban đầu chỉ có vài sào, sau cứ mở rộng dần lên đến vài héc-ta. Người ta lấy đất rừng để trồng mía, bởi đất trong rừng căm xe rất tốt. Trong rừng căm xe phải có hơn chục rẫy mía. Muốn hỏi về những rẫy mía ấy, tìm gặp thằng Cao Sao, Cao Dương mà hỏi”.
Thật vậy, không như mía được trồng ở vùng lân cận, các rẫy mía ở trong rừng căm xe phát triển xanh tốt, nhờ đất ở đây khá phì nhiêu. Cũng chính vì đất tốt cộng với việc mía được giá (những năm 2010 - 2011) nên người dân Ninh Tây đổ xô vào rừng căm xe để phá rừng, chiếm đất trồng mía. Diện tích mía được mở rộng tới đâu là cây căm xe bị “bức tử” đến đó. Ở bên cạnh tất cả các rẫy mía, nơi nào cũng có vài cây căm xe đang trút lá, trơ đét thân đứng phơi giữa trời, chờ ngày mục đổ.
PV tìm đến nhà Cao Sao ở thôn Buôn Tương trong vai những người tìm mua đất trồng mía. Ban đầu, anh ta tỏ vẻ thăm dò, nhưng khi biết PV không phải là người của cơ quan chức năng nên chia sẻ: “Rẫy mía rộng 0,8ha ở giữa rừng căm xe kia là của gia đình tôi. Tôi trồng mía ở đó được 3 năm rồi. Ban đầu diện tích chỉ 0,6ha thôi, sau cây căm xe bị chết nên diện tích cứ rộng dần ra”.
PV thắc mắc: “Cây căm xe sống dai, rất khó chết khô, sao nhiều cây ven rẫy mía bị chết như vậy?”. Cao Sao giải thích: “Thực ra, căm xe đâu dễ chết như vậy, ở các rẫy mía giữa rừng, diện tích cứ lớn dần là do người ta ken gốc cho cây chết dần, phần để mở rộng thêm diện tích, phần để mía phát triển. Cây khi bị ken gốc không chết ngay mà vài tuần sau lá mới bắt đầu khô và chết. Một lần chỉ làm vài cây thôi, nếu mình ken nhiều sẽ gây chú ý; còn nếu mang máy cưa vào hạ cây, họ (lực lượng bảo vệ rừng - PV) sẽ biết và tìm đến ngay”.
Cao Sao còn bật mí thêm: “Đất ở đây, lúc đầu đều là của người đồng bào địa phương, nhưng giờ đây phần lớn đã được người Kinh mua lại”. Cao Sao bảo PV, nhà anh ta chỉ còn ít đất nên không thể bán được, rồi chỉ cho chúng tôi sang nhà Cao Dương ở cùng thôn để hỏi. Sang nhà Cao Dương, PV mới biết do kẹt tiền nên anh ta vừa bán 1,5ha đất trồng mía trong rừng với giá chưa đến 10 triệu đồng; bây giờ anh chỉ còn lại đám rẫy với diện tích nhỏ để làm chứ không bán nữa.
Nói về rẫy mía vừa bán, Cao Dương tiếc nuối: “Nếu không kẹt tiền tôi sẽ không bán đất ấy đâu. Bởi trồng mía trong rừng căm xe năng suất rất cao. Chỉ cần phát dọn, cuốc đất trồng mía xuống, chẳng bỏ công chăm sóc mà năng suất cũng đạt đến 80 tấn/ha; còn trồng mía ở những vùng khác thì phải đầu tư nhiều mới đạt được con số này”.
Hỏi Cao Dương có biết hộ nào muốn bán đất mía hay hợp tác cùng trồng mía trong rừng, anh ta lắc đầu bảo: “Trong rừng có mía của nhiều hộ nhưng tôi nghĩ không đến lượt các anh đâu; còn hợp tác để trồng mía thì người Kinh và người Raglai mình làm mấy năm nay rồi, muốn mua hay hợp tác trồng thì phải đợi thêm một thời gian nữa”.
Vào những hộ dân khác ở các thôn Buôn Tương, Suối Mít... để hỏi mua đất rẫy trong rừng căm xe, đến đâu PV cũng chỉ nhận được cái lắc đầu. Người dân cho biết, tất cả đất rẫy trong rừng căm xe hoặc đã bán hoặc họ dành lại để canh tác. Hiện vẫn còn một số người có đất đã “dọn” hết căm xe nhưng vì chính quyền làm căng nên phải lén lút phát dọn, một thời gian nữa mới trồng mía được.
Rừng căm xe đang bị “gặm nhấm” từng ngày. Nếu không có biện pháp bảo vệ thì chỉ vài năm nữa, quần thể rừng tự nhiên căm xe ở Ninh Tây sẽ biến mất. Tuy nhiên, đến thời điểm này, mọi biện pháp đưa ra đều chưa mang lại hiệu quả.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Công Hà - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa (chủ rừng căm xe) cho biết: “Tình trạng người dân xã Ninh Tây phá rừng căm xe để lấy đất sản xuất diễn ra nhiều năm nay nhưng chưa thể xử lý dứt điểm. Sở dĩ tình trạng kéo dài là do chưa có biện pháp đủ mạnh để răn đe các đối tượng vi phạm. Từ năm 2012 đến nay, số tiền phạt đối với những người xâm hại rừng đã lên đến 300 triệu đồng, song vẫn chưa thu được đồng nào.
Còn các quyết định xử lý hành chính thì đã hết hiệu lực. Đã vậy, một số đối tượng vi phạm nặng và có dấu hiệu hình sự thì đến nay vẫn chưa thể khởi tố. Thực tế, để bảo vệ rừng căm xe không thể chỉ dựa vào chủ rừng mà cần sự vào cuộc của các cấp, các ngành”.
Ông Hà đề xuất: “Đối với những trường hợp phá rừng, lấn chiếm đất rừng cần phải cưỡng chế thi hành đối với các đối tượng vi phạm hành chính; tiến hành khởi tố, xét xử lưu động các đối tượng vi phạm hình sự để răn đe kẻ khác”.
Những trăn trở và đề xuất mà ông Nguyễn Công Hà đưa ra thực chất không phải là mới. Nhiều năm qua, các cơ quan chức năng thị xã Ninh Hòa đã nhiều lần tìm cách giải quyết dứt điểm vấn đề này. Tuy nhiên, dù nhiều biện pháp đưa ra, nhiều lần xử phạt, rừng căm xe vẫn bị “chết” dần theo thời gian.
Ông Lê Xuân Tuyên - Chủ tịch UBND xã Ninh Tây cho hay: “Tình hình xâm lấn rừng căm xe đến nay đã giảm, song vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Những người phá rừng căm xe chủ yếu là các hộ dân ở ven bìa rừng. Trong số các hộ dân này, không có một hộ nào thiếu đất theo quy định”.
Ngoài ra, hầu hết rừng căm xe phân bố trên địa hình đất bằng phẳng, gần khu dân cư, giao thông thuận lợi, đất đai màu mỡ. Hiện nay, lợi ích từ cây mía mang lại rất lớn, do đó, không ít hộ dân đã xâm lấn đất rừng để trồng mía. Ngoài ra, do căm xe là gỗ quý nên thời gian gần đây, nhiều người đã vào rừng đốn hạ.
“Tuy 600 hộ dân trong xã đã ký cam kết không chặt phá, lấn chiếm đất rừng, nhưng nhiều hộ vẫn tiếp tục vi phạm. Giờ cũng không biết phải làm thế nào để có thể xử lý dứt điểm tình hình này. Đã có nhiều phương án đưa ra, song hiện vẫn chưa có phương án tối ưu”, ông Tuyên nói.
Có ý kiến cho rằng, sở dĩ việc phá rừng căm xe kéo dài suốt một thời gian dài là do người dân thiếu đất sản xuất. Vậy nhưng, theo ông Đặng Cửu - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Ninh Hòa: “Các hộ phá rừng, lấn chiếm đất rừng căm xe không có hộ nào thiếu đất sản xuất. Hiện trên địa bàn xã Ninh Tây chỉ có 36 hộ dân thiếu đất sản xuất. Thị xã đã lập phương án để bố trí đất sản xuất cho các hộ dân này tại khu vực Thùng Cửa Sổ với diện tích 18ha, dự kiến những hộ thiếu đất sẽ được bố trí 0,5ha/hộ đất sản xuất”.
Từ 600ha, nay rừng căm xe chỉ còn khoảng 300ha, nếu cơ quan chức năng không có biện pháp mạnh tay thì rừng căm xe bị xóa sổ chỉ còn là vấn đề thời gian.
Ông Nguyễn Khương - Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cho hay: Phải xác định rõ vai trò, trách nhiệm hết sức quan trọng của chủ rừng (Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa). Trước mắt, phải thống kê toàn bộ diện tích rừng, đất rừng bị lấn chiếm để có hướng xử lý. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương phải tăng cường hơn nữa việc vận động người dân không tiếp tục phá rừng căm xe.
Về phía Chi cục Kiểm lâm, đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa phải phối hợp chặt chẽ với chủ rừng tăng cường tuần tra, kiểm soát để kịp thời ngăn chặn người dân chặt phá, lấn chiếm đất rừng căm xe.
Để bảo vệ được rừng căm xe, cần phải có biện pháp xử lý đủ mạnh để răn đe các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất; trước mắt cần khởi tố, đưa ra xét xử 4 trường hợp vi phạm vượt khung xử lý vi phạm hành chính. (Báo Khánh Hòa 28/9) đầu trang(
Vườn Quốc gia Hoàng Liên được giao quản lý, bảo vệ 23.278,92 ha rừng, nằm trên địa bàn các xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) và một phần các xã Trung Đồng, Phúc Khoa (huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu).
Theo đánh giá của Ban Quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên – Sa Pa, hiện tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở đây vẫn còn nhiều phức tạp và có chiều hướng gia tăng so với những năm trước đây.
Cụ thể, trong 9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên – Sa Pa đã phát hiện 31 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Trong đó: Vi phạm về vận chuyển lâm sản trái phép 22 vụ (tăng 22 vụ so với cùng kỳ năm 2013); vi phạm các qui định về phòng cháy rừng gây cháy rừng 03 vụ; vi phạm về cất giấu lâm sản trái phép 3 vụ; vi phạm về khai thác rừng trái phép 1 vụ. Bên cạnh đó còn xảy ra một số vụ vi phạm về khai thác lâm sản, động vật rừng nhỏ lẻ.
Qua xử lý các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên – Sa Pa, cơ quan chức năng đã tịch thu 1 xe mô tô; hơn 3 m3 gỗ pơ mu, 750 kg gỗ thông tre; 0,8 kg củ tam thất hoang; 5,7 kg củ rắn cắn; 0,2 kg nấm linh chi. Tổng số tiền xử phạt nộp ngân sách nhà nước là: 33, 5 triệu đồng. (Báo Lào Cai 27/9; Nông Thôn Ngày Nay 30/9, tr6) đầu trang(
Những ngày qua, cùng đoàn công tác kiểm lâm huyện Nông Sơn (tỉnh Quảng Nam), PV có dịp thâm nhập vào “thiên đường gỗ lậu” của giới lâm tặc trên địa bàn hai huyện miền núi Nông Sơn và Phước Sơn (Quảng Nam), chứng kiến những cánh rừng già đang “chảy máu”, mới thấy sự tàn phá khốc liệt và vận chuyển với quy mô rầm rộ các loại gỗ quý từ phía đại ngàn của giới lâm tặc nơi đây.
Rừng Quảng Nam vốn nổi tiếng với nhiều loại kỳ trân, diệu thảo, nhiều loại gỗ được xếp vào loại quý hiếm như lim, gõ, kiền kiền... Những cánh rừng già luôn trở thành “điểm đến” hấp dẫn của các “đại gia” cũng như giới “lâm tặc”. Những nơi mà chúng tôi men rừng đi qua, ít nhất có gần chục địa điểm tập kết gỗ với đủ các loại quý hiếm, quy mô chẳng khác nào một “xưởng cưa di động” đặt trong rừng sâu.
Lần theo những cung đường có dấu chân của giới lâm tặc, cùng những cán bộ kiểm lâm của huyện Nông Sơn tiến sâu về phía những cánh rừng mà các đối tượng lâm tặc đã kéo gỗ ra. Với kinh nghiệm trong nghề, ông Lê Trung Thọ, cán bộ phụ tránh Thanh tra - Pháp chế Hạt Kiểm lâm Nông Sơn xác định: cứ lần theo vết đường kéo gỗ sẽ tới nơi khai thác. Vượt qua khúc suối có tên “Ngã ba khe”, tiến về phía những cánh rừng già thuộc địa phận huyện Phước Sơn. Trước mắt, là một bãi tập kết gỗ với hơn 30 phách gỗ gõ mật, giổi… được lâm tặc sắp xếp ngay ngắn.
Tiếp tục tiến sâu hơn theo vệt đường kéo gỗ của giới lâm tặc, rải rác trên nhiều tuyến đường tự mở là ngổn ngang điểm tập kết gỗ, tất cả đều được xếp ngay ngắn, từ 10 đến 15 phách gỗ vuông vắn. Theo những cán bộ Kiểm lâm huyện Nông Sơn, tại tọa độ 0808359-1720287 thuộc xã Phước Hòa, địa phận ranh giới giữa hai huyện Phước Sơn và Nông Sơn, phát hiện nhiều gốc cây có đường kính to mới vừa bị chặt chặt hạ. Những gốc cây kia được xác định là loại gõ mật, loại gỗ đặc biệt quý hiếm.
Lâm tặc đã cắt, chọn những khúc đẹp nhất của cây để cưa thành phách kéo đi, phần cây còn lại cũng còn khối lượng rất lớn, chúng xẻ thành từng khúc theo quy cách để dành cưa xẻ lấy gỗ dần. Các cán bộ kiểm lâm cho biết, khu vực này là một trong những cánh rừng nguyên sinh hiếm hoi còn sót lại ở sườn phía Đông Trường Sơn khu vực Quảng Nam.
Trên thực tế, để tìm ra được một cây gỗ gõ mật, ở nhiều địa phương miền núi Quảng Nam hiện rất khó, xem xét số lượng gỗ các đối tượng lâm tặc đã cưa xẻ, cho thấy số lượng gỗ gõ mật ở khu vực này là còn rất lớn, chứng tỏ, trong những năm gần đây, khu vực những cánh rừng này mới bắt đầu được lâm tặc để mắt tới và ra tay triệt hạ.
Theo chân các cán bộ kiểm lâm, ngược lên một dọc suối cạn còn ngổn ngang vết tích đào bới của các đối tượng khai thác vàng trái phép, bất ngờ hiện ra trước mắt là cả một cánh rừng bị chặt hạ ngồn ngang như vừa trải qua một trận bom oanh tạc. Một cây gỗ chò nâu đường kính gốc có chu vi 1,46 mét đã chặt hạ, cưa xẻ, gỗ thành phẩm lẫn bìa phách tươi đỏ như máu ngổn ngang, lâm tặc mới chỉ cưa xẻ được 2/3 cây gỗ, khúc còn lại dài hơn 20 mét có đường kính hơn 1 mét đang xẻ dở dang.
Một cán bộ kiểm lâm cho hay, chắc nghe vụ việc bị phát hiện nên lâm tặc đành bỏ dở lại cây gỗ quý giá này. Ngay cách đó không xa, một cây gỗ xoan đào đường kính hơn 1 mét đã được cắt hạ, chuẩn bị lên đà xẻ, một cây khác đã được xẻ thành hơn chục phách chưa kịp kéo ra khỏi hiện trường. Và cũng cách đó không xa, 5 cây gỗ giổi hương, cây nào cũng đường kính trên dưới 1 mét đã được chặt hạ nằm ngổn ngang, chờ ngày xẻ thành phẩm.
Cả cánh rừng nguyên sinh bị chặt hạ không thương tiếc, lâm tặc chỉ cắt lấy những phần gỗ đẹp, thẳng, phần lõi của cây, còn lại vứt bỏ. Những cây gỗ lớn bị chặt hạ đổ ngã đè gãy nát hàng chục cây gỗ nhỏ có đường kính tới 40-50 cm. Tiếp tục tìm kiếm, không phải lần mò lâu, hiện ra trước mắt chúng tôi, một gốc cây gỗ giổi, đường kính đo được 1,46 mét, cây gỗ cũng bị cưa xẻ ngổn ngang, phần đã kéo đi, phần còn bỏ dở.
Chỉ trong một buổi chiều, các cán bộ kiểm lâm huyện Nông Sơn đã xác định tại hiện trường gần 20 gốc cây các loại đã bị chặt hạ, cưa xẻ, ước tính cả số lượng gỗ đã khai thác và số gỗ còn lại hiện trường có tới hàng trăm mét khối gỗ bị chặt hạ, khai thác trái phép.
Theo các cán bộ kiểm lâm, hiện trường các đối tượng khai thác gỗ lậu thuộc địa phận xã Phước Hòa và tiếp giáp xã Phước Hiệp, huyện Phước Sơn, khắp các cánh rừng rộng lớn, những vệt đường kéo gỗ còn mới nguyên màu đất vàng sánh, những cây cọc tiêu cắm ven đường để ngăn gỗ kéo khỏi rơi xuống vực còn tươi rói. Dọc ven bờ suối có tên Khe Nấm, hàng chục hố các đối tượng đào đã vàng trái phép đã đưa cả xe múc vào đào bới khoét xuống thành những hố, hục lớn sâu hàng chục mét còn ngổn ngang đất đá, chứng tỏ cánh rừng đã bị xâm hại nghiêm trọng.
Dọc con đường men theo dòng suối có tên Khe Mây, đến mỗi điểm lâm tặc tập kết gỗ mới thấy sự ngang nhiên, lộng hành của các đối tượng khai thác rừng trái phép. Tại các điểm tập kết như đã nêu trên, hàng chục phách gỗ được lâm tặc dùng trâu kéo từ nơi khai thác ra, sắp xếp ngay ngắn, kê đà chống mục đàng hoàng, như không hề sợ sệt, như chính họ đang làm chủ những cánh rừng nguyên sinh này.
Những phách gỗ còn tươi rói, đủ các chủng loại từ gõ mật thuộc lại đặc biệt quý hiếm đến giổi hương, xoan đào, chò... Những phách gỗ xẻ đều tăm tắp, như đã được đặt hàng trước, chỉ chờ kéo ra khỏi rừng, chất lên xe chở về nơi tiêu thụ.
Trong những ngày qua, các cơ quan chức năng huyện Nông Sơn đã triển khai công tác tổ chức thu gom toàn bộ số gỗ phát hiện để làm tang vật. Sau khi dùng sơn xanh để đánh dấu thứ tự từng phách gỗ, lực lượng chức năng đã phải thuê người dân địa phương để đưa gỗ về. Chính những người dân này cũng là những người mà giới lâm tặc thuê để kéo gỗ cho chúng.
Ông Lê Trung Thọ, cán bộ phụ trách Thanh tra - Pháp chế Hạt Kiểm lâm Nông Sơn cho biết, các điểm tập kết gỗ xa, phải chờ mưa xuống, nước suối dâng cao, mới có thể kéo gỗ ra theo đường nước, công tác thu gom còn phải tiến hành thời gian dài nữa mới có thể hoàn tất.
Quảng Nam thực sự được sở hữu một “kho vàng xanh” do thiên nhiên ban tặng, bởi 2/3 diện tích tự nhiên là rừng và đất rừng, trong đó có nhiều cánh rừng nguyên sinh với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Cũng vì thế mà câu chuyện về rừng luôn là vấn đề thời sự nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, quản lý và dư luận xã hội trong nhiều năm qua. (Tài Nguyên & Môi Trường 29/9) đầu trang(
Trên các tuyến đường liên thôn và quốc lộ 27 đoạn đi qua địa bàn xã Quảng Sơn và thị trấn Tân Sơn, H.Ninh Sơn (Ninh Thuận) thường xuyên xuất hiện nhiều xe máy độ ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu, khiến người đi đường lo lắng.
Người dân cho biết nhiều vụ tai nạn giao thông dẫn đến chết người do các phương tiện này gây ra. (Thanh Niên 30/9, tr18) đầu trang(
Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) vừa công bố kết quả khảo sát về kiến thức, thái độ, hành vi liên quan đến sử dụng sản phẩm từ động vật hoang dã (ĐVHD) và kết quả rà soát văn bản pháp luật, chính sách quản lý, bảo tồn ĐVHD nguy cấp quý hiếm.
Hai cuộc khảo sát này do Viện Xã hội học thực hiện với sự tài trợ của Quỹ Môi trường toàn cầu trong khuôn khổ dự án Tăng cường công tác bảo tồn đa dạng sinh học thông qua cải cách chính sách và thay đổi hiện trạng tiêu thụ các loại ĐVHD ở Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát một số người trong độ tuổi từ 20-69 tại toàn bộ 10 quận của TP Hà Nội xung quanh vấn đề sử dụng sản phẩm từ ĐVHD.
Kết quả có 69% số người được hỏi đã từng sử dụng ĐVHD làm thực phẩm, 67% sử dụng làm thuốc và 12% sử dụng làm đồ trang sức. Rắn, trăn được dùng làm thực phẩm nhiều nhất với tỉ lệ 49%, thứ hai là hươu với tỉ lệ 29%; ngoài ra còn có tê tê, rùa, linh trưởng... Sử dụng cho mục đích làm thuốc chữa bệnh thì gấu và hổ chiếm tỉ lệ cao nhất với 49%.
Một số loài như voi, hổ, chim, cá sấu... được sử dụng nhiều cho mục đích trang trí. Về đối tượng thì nam giới sử dụng ĐVHD nhiều hơn nữ giới và nhóm tuổi từ 20-34 sử dụng nhiều ĐVHD nhất.
Một điều đáng ngạc nhiên là các yếu tố như “may mắn, thịnh vượng hay thú chơi thời thượng” lại không phải là nguyên nhân chính trong việc sử dụng ĐVHD mà do người tiêu dùng tin vào các công dụng của sản phẩm từ ĐVHD như chữa được bệnh, bồi bổ cơ thể, món ăn ngon, lạ...
Những nhận thức này một phần hình thành từ kinh nghiệm lưu truyền dân gian, một phần từ chính lời khuyên của bác sĩ, kinh nghiệm truyền miệng và cả chính từ quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng. Qua đó cho thấy việc tiêu thụ sản phẩm từ ĐVHD đã trở nên bình dân hơn chứ không chỉ đơn thuần để thể hiện đẳng cấp, địa vị như trước kia.
Theo các chuyên gia bảo tồn, đây là điều rất đáng lo ngại bởi việc sử dụng ĐVHD trở nên bình thường, đồng nghĩa với mức độ sử dụng sẽ gia tăng. Minh chứng cho điều đó là khoảng 19% người tiêu dùng được hỏi cho biết họ có ý định bắt đầu hoặc tiếp tục sử dụng thực phẩm làm từ ĐVHD. Thậm chí, nhóm người ban đầu phản đối nhưng sau đó lại sử dụng ĐVHD, tỉ lệ này là 35%.
Theo nhận định của nhóm khảo sát, TP Hà Nội có “tiềm năng” rất lớn trong việc tiêu thụ và sử dụng ĐVHD, tập trung vào mục đích thực phẩm và làm thuốc. Quá trình khảo sát cũng cho thấy việc tiếp cận sản phẩm từ ĐVHD khá dễ dàng. Việc quảng cáo thuốc cũng gián tiếp đẩy mạnh tiêu thụ ĐVHD.
Một trong những lỗ hổng lớn trong công tác bảo tồn ĐVHD tại Việt Nam là sự hạn chế và bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật. Nhóm khảo sát của Viện Xã hội học đã chỉ ra rất nhiều sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật.
Chẳng hạn, điều 9 Nghị định 32/2006 cho phép kinh doanh, chế biến với mục đích thương mại các loại động vật rừng nguy cấp, hiếm thuộc nhóm 1B là tang vật xử lý tịch thu theo quy định hiện hành của nhà nước không có khả năng cứu hộ, thả về môi trường. Quy định này mâu thuẫn và không nhất quán với quy định chung của pháp luật là cấm buôn bán, săn bắn động vật hoang dã.
Việc cho phép chế biến kinh doanh dẫn đến cấm chưa triệt để và không đủ sức răn đe, thậm chí có thể làm gia tăng số vụ vi phạm và đi ngược lại nguyên tắc bảo tồn loài. Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất điều chỉnh hoặc thay thế Nghị định 32 để thống nhất với Nghị định 160/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Đồng thời, bãi bỏ quy định cho phép đấu giá tang vật là ĐVHD còn tươi sống, động vật rừng bị yếu, bị thương như trong Nghị định 157/2013.
Trong khi đó, nước ta lại thiếu các quy định về xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm liên quan đến ĐVHD cấp quý hiếm. Chế tài xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe. Chẳng hạn, theo Nghị định 157/2013, dẫu có bắt được số lượng lớn ĐVHD quý hiếm cũng chỉ bị xử phạt cao nhất là 500 triệu đồng.
Theo Nghị định 157/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, các mức phạt đều căn cứ vào giá trị quy ra tiền của động vật. Nhóm nghiên cứu của Viện Xã hội học cho rằng quy định này là bất hợp lý và phi logic bởi nếu đã cấm lưu hành hàng hóa là ĐVHD thì trên thị trường sẽ không có giá tham chiếu để xử phạt.
Còn khi thừa nhận giá trị giao dịch thì cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận một thị trường phi pháp (còn gọi là thị trường chợ đen) đang tồn tại. Thực tế, có rất nhiều vụ vi phạm không xử lý được vì không có giá tham chiếu. Vì thế, nhóm nghiên cứu đề xuất nên bỏ yếu tố giá cả trong các căn cứ xử phạt, chỉ cần xét trên cơ sở loài, họ, số lượng cá thể... mà thôi. (Người Lao Động 30/9) đầu trang(
Bà Đinh Thị Lê - Sinh năm 1962, trú tại xóm 3, Thôn Ea Tút, xã Pơng Đrang, huyện Krông Búk (Đắk Lắk) đã bị cơ quan điều tra công an Krông Búk khởi tố về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 175 (BLHS).
Theo lời kể của bà Lê: Đầu năm 2008 gia đình bà Đặng Thị Nguyệt và ông Nguyễn Trọng Thái có thiếu nợ bà 174 triệu đồng. Nhiều lần bà qua nhà ông Thái, bà Nguyệt đòi nợ nhưng do chưa có tiền, nên ông Thái, bà Nguyệt khất lần, khất lượt và bà Nguyệt than phiền: “Dạo này gỗ đứng không giao được nên kẹt tiền lắm”.
Nhiều lần qua lại nhà Thái, Nguyệt (Doanh nghiệp Đức Thắng) thấy có nhiều gỗ Gõ mật đã qua sơ chế. Anh Toàn và Hồ Anh Tuấn tìm đến hỏi: Chị hoặc có người nào bán gỗ Gõ mật thì chỉ giùm, bà Lê nhớ lại ở xưởng Doanh nghiệp Đức Thắng có gỗ Gõ mật chưa xuất được.
Bà dẫn Toàn, Tuấn qua xưởng gỗ gặp Nguyệt trao đổi mua bán bà Lê không biết. Lúc ra về, Nguyệt có dặn bà Lê: “Để gọi điện hỏi chồng đã” (tức anh Thái) vì hôm đó Thái không có ở nhà. Đến chiều Nguyệt gọi điện cho bà Lê nhờ bà gọi điện cho Toàn qua xưởng bàn bạc. Vì ông Thái (chồng Nguyệt) đã đồng ý bán với giá mà 2 người đã thoả thuận trước. Lúc đó Nguyệt cũng nói với bà Lê, nếu bán được số gỗ này thì Nguyệt sẽ trả nợ cho bà Lê luôn. Khi bà Lê nghe nói được trả nợ, bà rất mừng và gọi Toàn cùng đi theo bà sang nhà Nguyệt.
Cũng theo bà Lê việc mua bán, trao đổi giữa bà Nguyệt và Toàn về giá cả bà có nghe nói, còn giấy tờ có hợp lệ hay không đủ bà hoàn toàn không biết được. Sau đó ông Thái, hay Nguyệt thuê xe chở gỗ đi giá cả bao nhiêu bà Lê cũng hoàn toàn không hề hay biết. Còn nhận số tiền 57 triệu đồng tại nhà Nguyệt, bà Lê công nhận có nhận để trừ vào số tiền ông Thái, bà Nguyệt còn nợ từ 174 triệu đồng, qua nhiều lần lấy gỗ nhưng ông Thái, bà Nguyệt vẫn còn thiếu 60 triệu đồng nữa. Với số tiền ông Thái, bà Nguyệt trả 57 triệu, nếu trừ đi thì ông Thái, bà Nguyệt vẫn còn nợ bà Lê 3 triệu đồng nữa.
Qua kết luận điều tra bổ sung ngày 28-6-2011, Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện Krông Búk số: 37/BCKTĐT, căn cứ Quyết định Khởi tố Vụ án Hình sự số 44 ngày 9-6-2010 và các Quyết định Khởi tố bị can số 54 + 55 ngày 9-6-2010 Quyết định Khởi tố Bị can số 74 ngày 4-8-2010 của cơ quan CSĐT — Công an huyện Krông Búk.
Căn cứ Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 01/KSĐT HS ngày 15-3-2010 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Krông Búk yêu cầu điều tra - Làm rõ tính hợp pháp của đĩa ghi âm do bị cáo Đinh Thị Lê cung cấp. Làm rõ hành vi liên quan của các đối tượng Nguyễn Trọng Thái và Đặng Thị Nguyệt, có dấu hiệu đồng phạm với bị can Đinh Thị Lê.
Theo lời khai của bà Đinh Thị Lê: Yêu cầu Cơ quan CSĐT làm rõ hành vi của các bị can trong vụ án “Vi phạm của các bị can trong vụ án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” cụ thể nhiều cuộc gọi điện thoại với Nguyễn Trọng Thái và Đặng Thị Nguyệt mà bà Lê đã ghi lại được. Chỉ xin đề cập tới 2 cuộc trao đổi.
Một là, file ghi âm ký hiệu 071194000 - Bà Lê đã nói chuyện với ông Thái thể hiện: “Thực ra gỗ của nhà anh bán mà, còn Nguyệt nói nếu bán được thì trả nợ cho em”, ông Thái đáp: “Biết rồi, em yên tâm đi, mình dân địa phương không ai làm gì đâu mà sợ, mình nói sao thì công an nghe vậy thôi".
Hai là, file ghi âm ký hiệu 0882191300 - Nguyệt gọi điện than phiền với bà Lê “Ông Thái chửi vì xe gỗ bị công an truy tố” và Nguyệt cũng xác nhận việc bán gỗ đã hỏi ý kiến ông Thái rồi, vậy mà khi xe gỗ bị bắt ông Thái chửi bà Nguyệt, bà Nguyệt nói: “Khi suôn sẻ thì không sao, nhưng khi có chuyện thì ông đè tui ông chửi, Nguyệt cũng xác nhận khi đo gỗ không có ông Thái ở nhà, rồi Nguyệt phân bua: “Nếu có mất mát thì mình cùng chịu với nhau, chứ tôi không để cô Lê chịu một mình đâu. Tôi nói lại: “Trên thực tế không phải gỗ của mi danh chính ngôn thuận, gỗ mi bán để trả nợ cho tau, Nguyệt đáp: “Thì không nói mình cũng biết như vậy rồi, tại cô Lê nhận mới khổ chứ”.
Qua nội dung 2 cuộc đàm thoại đó chứng tỏ số tiền bán gỗ cho Toàn mà bà Lê lấy đều do Nguyệt bảo lấy và đã có tính toán trên sổ sách tại bàn nhà Nguyệt. Sau khi bị cáo Lê cung cấp nội dung ghi âm chép ra thành đĩa CD, ngày 05-5-2011 Cơ quan CSĐT ra quyết định trưng cầu giám định số: 62/QĐTCGĐ yêu cầu Viện khoa học hình sự - Bộ công an giám định giọng nói trong đĩa CD ghi âm mà bị can Đinh Thị Lê gửi cho HĐXX có phải là giọng nói của anh Nguyễn Trọng Thái và chị Đặng Thị Nguyệt trao đổi qua điện thoại với bị can Lê.
Kết quả giám định của Viện khoa học hình sự - Bộ công an tại bản án kết luận giám định số 1084/C54 (P2) ngày 18-5-2011 đã kết luận: Theo các file ghi âm nói trên thì chứng cứ thể hiện đã rõ ràng, nguồn gốc gỗ là của vợ chồng Thái Nguyệt, Bà Lê chỉ là người đứng ra giới thiệu để lấy nợ. Các file ghi âm trên đều đã được giám định tại Viện khoa học kỹ thuật hình sự Bộ Công an và kết luận giọng nói trong đoạn ghi âm là không bị lồng ghép chắp nối, đúng giọng nói của ông Thái, bà Nguyệt và bà Lê trong các đoạn ghi âm.
Vụ việc đã rõ ràng, nhưng theo kết quả điều tra bổ sung và nhận xét đánh giá là không có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn Trọng Thái và chị Đặng Thị Nguyệt có hành vi đồng phạm với các bị can trong vụ án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”; Hành vi mua và bán 8 hộp gỗ của Nguyễn Văn Dương chỉ vi phạm và xử lý hành chính.
Vì vậy, Cơ qụan CSĐT kết luận điều tra bổ sung và đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, truy tố các bị can theo kết luận điều tra số 54/KLĐT, ngày 20-9-2014 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện Krông Búk.
Lời khai của chủ xưởng gỗ Đức Thắng - Đặng Thị Nguyệt xác nhận các mục ghi âm mà cơ quan điều tra mở cho Nguyệt nghe là tiếng nói của Đinh Thị Lê và Đặng Thị Nguyệt. Việc trao đổi điện thoại giữa hai người thực hiện nhiều lần chứ không phải 3 lần. Việc giao gỗ xẻ xây dựng cho người nhà bà Lê được chị Nguyệt, anh Thái hoặc Toàn công nhận của xưởng giao, việc giao có ghi chép ra các mảnh giấy nhỏ (2 bên tự ghi chép) để theo dõi và tính toán trừ vào công nợ, tại thời điểm Lê bán gỗ bị kiểm lâm bắt, 2 bên không còn công nợ.
Sau khi thanh toán xong công nợ các giấy ghi chép khối lượng và quy cách gỗ đã được bỏ đi. Chỉ sót lại hai mảnh giấy ghi chép và 1 cuốn vở còn 9 trang Nguyệt cung cấp cho cơ quan CSĐT để làm căn cứ xác định việc bị can Lê có lấy gỗ xẻ và gia công gỗ xẻ tại xưởng cưa nhà Nguyệt.
Qua đối chiếu số lượng gỗ xẻ, gỗ gia công, kèm theo bản kê có số lượng và chi tiết trùng nhau. Còn Nguyễn Trọng Thái khi cơ quan điều tra mở các mục ghi âm cho nghe, Thái xác nhận là tiếng nói của Đinh Thị Lê và Nguyễn Trọng Thái. Việc trao đổi điện thoại giữa hai người thực hiện nhiều lần chứ không phải 3 lần như trong đĩa.
Nguyễn Trọng Thái khai: Việc mua bán, bốc gỗ Thái không có liên quan gì? Vì khi Thái đi công việc ở Đồng Nai về vào khoảng 15 giờ ngày không còn nhớ thì xe gỗ đã được bốc lên xong, xe dừng đậu trong khu vực xưởng. Thái có hỏi lái xe gỗ có giấy gì không? tài xế chở gỗ trả lời: “Chủ gỗ đang về lấy giấy tờ và xin ở lại trong xưởng một đêm”.
Ngày hôm sau khi chủ gỗ đến nhưng không cầm theo giấy tờ gỗ, anh Thái đã yêu cầu lái xe đánh ra khỏi khu vực xưởng để tránh liên lụy đến Doanh nghiệp. Nguyễn Trọng Thái cũng thừa nhận trách nhiệm hành chính có liên quan đến vụ án là: Đi vắng sau này về nghe Nguyễn Văn Dương là người của xưởng tự ý mua 8 lóng gỗ mật sau đó nhờ bà Lê bán hộ, tự hợp đồng bốc gỗ và cho xe chở đậu ở trong xưởng để bốc gỗ lên xe.
Trước đây, Thái không khai báo việc này vì khi xe gỗ bị Kiểm lâm bắt Thái mới biết và sợ ảnh hưởng đến uy tín của Doanh nghiệp. Theo lời Nguyễn Văn Dương khai, ngày tháng không nhớ vào đầu năm 2009 có một xe ô tô tải HyunDai do 2 người đàn ông (Dương không biết tên họ là gì, ở đâu vì không hỏi) chở 8 hộp gỗ mật vào đỗ trong xưởng để bán cho anh Thái, nhưng anh Thái đi vắng không có ở nhà; anh Dương đã điện thoại cho anh Thái “có mua không” anh Thái trả lời là “gỗ không mua nữa”.
Do thấy rẻ nên Dương mua về để sử dụng cho gia đình, sau này thấy gỗ bị nhiều giác không muốn sử dụng nên sẵn dịp anh Dương nhờ chị Lê bán hộ. Do xe gỗ Kiểm lâm bắt nên Dương không dám hỏi han gì về tiền bạc.
Sau khi cơ quan CSĐT có kết luận, bà Đinh Thị Lê viết rất nhiều đơn khiếu nại và kêu oan. Bà cho rằng: Cơ quan CSĐT - Công an huyện Krông Búk đã để lọt người lọt tội và vu oan cho bà là chủ gỗ. Còn sự thật bà chỉ là người đi lấy tiền nợ chứ không phải chủ gỗ.
Thể hiện: Nếu gỗ của bà thì tại sao Cơ quan CSĐT không hỏi bà mua gỗ của ai? Ai là người bán gỗ cho bà. Chẳng lẽ gỗ “Từ trên trời rơi xuống sao”? Hơn nữa, nếu là gỗ của bà thì tại sao khi đưa gỗ đến xưởng, lúc bốc xuống, với khối lượng nhiều như vậy mà trong xưởng không có ai biết? Một điều không thể chấp nhận được.
Có thể nói! ông Thái, bà Nguyệt cưa xẻ gỗ không rõ nguồn gốc là tiếp tay cho kẻ gian, dù gỗ đó là của bà Lê hay của ai, cũng đều vi phạm điểm c, khoản 5, Điều 21.
Theo như lời ông Nguyễn Trọng Thái đã khai tại Cơ quan CSĐT cho rằng: Việc mua bán, bốc gỗ Thái không có liên quan gì? Việc này thể hiện Thái đã khai không đúng sự thật trước Cơ quan CSĐT, cứ cho Thái không biết bốc gỗ nhưng ngày giờ thì không thể quên được. Vì xe gỗ bị Cơ quan CSĐT bắt sau 1 ngày mà lại không nhớ “Trong lúc Thái đang còn minh mẫn” là một điều gian dối.
Hơn nữa, số gỗ Gõ mật này, không Thái thì Nguyệt phải biết gỗ có giấy tờ hay không có giấy tờ? Tài xế gỗ trả lời: “Chủ gỗ đang về lấy giấy”. Thế chủ gỗ là ai? Có phải bà Lê không? Nếu phải của bà Lê thì tại sao Thái không biết, mà lại hỏi “ngớ ngẩn” như vậy. Số gỗ này cho là của bà Lê khi đưa vào xưởng Thái gia công thành hộp mà lại không biết chủ là ai, thì quả thật “Khôi hài”.
Còn việc, Thái thừa nhận trách nhiệm hành chính có liên quan đến vụ án là: Đi vắng sau này về nghe Nguyễn Văn Dương là người của xưởng tự ý mua 8 hộp gỗ mật sau đó nhờ bà Lê bán hộ, tự hợp đồng bốc gỗ và cho xe chở đậu ở trong xưởng để bốc gỗ lên xe.
Trước đây, Thái không khai báo việc này vì khi xe gỗ bị Kiểm lâm bắt Thái mới biết và sợ ảnh hưởng đến uy tín của Doanh nghiệp. Thế tại sao? 8 hộp gỗ Gõ mật Thái thừa nhận trách nhiệm hành chính, nhưng 8 hộp gỗ này Cơ quan CSĐT đã tính bao nhiêu m3 chưa? Vì xác định của hạt Kiểm lâm 55 hộp gỗ bằng 12,47m3 thế có phải 8 hộp cho thấy hơn 2m3 Theo điểm d) - khoản 2 - Điều 20.
Cũng theo bà Lê, nếu là gỗ của bà, tại sao bà phải tính tiền lấy tại nhà Nguyệt? Có mặt Nguyệt và bà Lê để gạch sổ nợ cho bà Nguyệt 60 triệu đồng trong đó đã lấy từ Toàn trả 57 triệu đồng do bà Nguyệt bảo, còn 3 triệu nữa lấy ở ông Thái (Về việc này bà Lê cũng đã khai tại các biên bản lấy lời khai tại cơ quan CSĐT).
Từ những chứng cứ trên để chứng tỏ rằng, Cơ quan CSĐT đã để lọt tội phạm. Theo bà Lê, tại sao Gỗ của bà lại nằm ngổn ngang ngoài xưởng mà không bị Kiểm lâm đến hỏi? Nếu là gỗ của bà Lê, tại sao Bà không đi đo để giao gỗ, bà có đo được 7 đến 8 hộp là do Nguyệt nhờ đo giùm, sau đó có việc riêng bà Lê không đo nữa, giao lại cho Nguyệt. Hơn nữa, khi bán gỗ nếu là gỗ của bà Lê thì không dại gì bà Nguyệt lại gọi xe đi bốc gỗ. Nguyên tắc bán “người nào bán, người đó đi thuê xe” và chịu trách nhiệm cho người mua.
Vụ việc đã rõ ràng như vậy mà tất cả chứng cứ đều bị Tòa cấp sơ thẩm bác bỏ hết, chỉ nhận định bằng một câu thiếu trách nhiệm “Kết quả giám định không có căn cứ rõ ràng để cho rằng số gỗ Gõ bị bắt là không phải của Thái”..
Qua quá trình điều tra cũng như tại phiên Tòa, lời khai của những người làm chứng, của bị can, bị cáo phù hợp với lời khai của bà Lê, nhưng tất cả đều không được Tòa án xem xét kỹ lưỡng, cụ thể: Tại BL 72 - Nguyễn Tấn Vinh đã khai: “Khoảng 15 giờ ngày 26-04-2009 tôi (lái xe 47P-0871 theo sự dẫn đường của Toàn và Tuấn đến xưởng ông Thái, khi đến cổng ông Toàn và Tuấn vào nói chuyện với ông Thái, sau đó tôi thấy một người nói giọng ngọng ngọng ra mở cửa cho tôi chạy xe vào trong xưởng ông Thái. Khoảng 45 phút thì xe cẩu chở gỗ bốc lên xe của tôi”.
Tại BL 75 - Hồ Văn Minh là phụ xe đã khai: "Khi đến nơi tôi (Minh) và ông Vinh đưa xe vào xưởng của ông Thái đến nơi ông Toàn và Tuấn vào nói chuyện với ông Thái một lúc thì bốc hàng lên xe. Lúc đó là khoảng 15 giờ ngày 26-4-2009”.
Tại BL 72 Nguyễn Tấn Vinh khai: “Lúc bốc gỗ Tuấn trực tiếp đứng trên xe để kiểm tra gỗ, ông Toàn ngồi trong nhà ông Thái, ông Thái ngồi cách xe tải khoảng 15-20m để xem bốc gỗ”.
Tại BL 135 - Tuấn khai: “Vợ ông Thái và anh Toàn ghi chép, còn tôi (Tuấn) cầm thước đo. Lúc bốc gỗ có tôi (Tuấn, anh Toàn, ông Thái và vợ ông Thái chứng kiến) Tại BL 137 - Tuấn khai: “Lúc bốc gỗ có ông Thái và vợ ông Thái cũng có mặt trong xưởng. Tôi (Tuấn) và người làm công cho ông Thái cầm thước đo gỗ cho Toàn, vợ ông Thái ghi chép sổ sách”. Tại BL 137 - Toàn khai: “Tôi đi cùng vợ ông Thái xem bốc gỗ”.
Từ những chứng cứ ở trên cho thấy bà Lê không phải là người bán gỗ cho Toàn, Tuấn -Đó là những chứng cứ để minh oan cho bà Đinh Thị Lê. Trao đổi với bà Lê, bà cam đoan, nếu số gỗ Gõ bị Kiểm lâm bắt thực sự là của bà, thì bà cam tâm chịu mọi hình phạt của Pháp luật mà không than vãn điều gì. Nhưng sự thật số gỗ đó không phải là của bà, mà lại chịu tội thay cho người khác là một điều “oan ức” và vô lý không thể chấp nhận được.
Hiện nay, bà Lê đang lâm vào cảnh khó khăn, chồng bị án ma túy bị Tòa án tuyên phạt với mức án 8 năm tù, đang thi hành án tại trại Gia Trung - Gia Lai, phải nuôi một mẹ già tai biến mạch máu não, bại liệt nằm một chỗ mấy năm nay.
Bản thân bà một mình lo kiếm sống nuôi chồng, mẹ và 4 người con. Do suy nghĩ nhiều mà bản thân bà đã mắc bệnh xơ gan ở giai đoạn đầu và đang theo điều trị tại Bệnh viện Thiện Hạnh - Đắk Lắk.
Với mong muốn được Viện KSND tỉnh, TAND tỉnh Đắk Lắk xem xét lại những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, những căn cứ mà bà đã trình bày tại Cơ quan CSĐT - Công an huyện Krông Búk; Tòa sơ thẩm TAND huyện Krông Búk để Viện KSND, TAND tỉnh Đắk Lắk xử lý theo đúng Pháp luật, đảm bảo công bằng và minh oan trả lại sự trong sạch cho bà cùng với Tuyên bố Bà không phải người phạm tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” theo Điều 175 - Bộ Luật hình sự. (Kinh Doanh & Pháp Luật 24/9, tr17) đầu trang(
Sừng tê giác, một món hàng quý hiếm đang được nhiều đại gia Sài Thành xem như một loại “thần dược” chữa bách bệnh, có thể đẩy lùi các căn bệnh nguy hiểm, cường dương, tăng cường sức khỏe…
Chính vì vậy, sừng tê giác luôn là thứ được săn lùng trong những năm gần đây, nhiều người sẵn sàng bỏ ra cả trăm triệu thậm chí tiền tỉ để sở hữu một chiếc sừng tê giác trong nhà.
Đặc biệt đối với các đại gia Sài Thành, sở hữu một chiếc sừng tê giác, lấy ra mài trong những bữa tiệc chiêu đãi bạn bè như cách khoa trương, thể hiện đẳng cấp, vị thế của mình.
Để sở hữu chiếc sừng tê giác, một đại gia tại Sài Gòn đã phải móc hầu bao hơn 400 triệu đồng. Đồng bộ với sừng tê giác là chiếc đĩa mài có xuất xứ từ làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), trên thành đĩa in biểu tượng của con tê giác. Theo lý giải của dân chơi Sài Gòn, chỉ có loại đĩa đặc biệt này khi mài mới không bị lên mùn và cho chất lượng tốt nhất.
Quan sát thực tế, chiếc sừng tê giác vừa được đại gia này mua về có trọng lượng khoảng 400gram, dài 20cm, mặt cắt của sừng tê giác có nhiều khoanh vân tròn.
Theo Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều người tin rằng sừng tê giác có thể giúp giảm sốt, thải độc tố, tăng cường sức khỏe và phòng ngừa bệnh tật. Thậm chí một số người còn cho rằng, sừng tê giác chữa được cả bệnh ung thư.
Nhưng thực tế thì sừng tê giác được cấu tạo chủ yếu từ chất keratin, giống hệt như thành phần trong móng chân, móng tay người. Và hoàn toàn không có tác dụng chữa ung thư hay tăng cường khả năng tình dục như đồn thổi.
Mặc dù, theo quy định, sừng tê giác là hàng hóa thuộc diện cấm nhập khẩu của danh mục các loài động thực vật hoang dã thuộc quản lý của công ước về buôn bán quốc tế các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, nhưng các vụ vận chuyển tiêu thụ sừng tê giác vẫn thường xuyên bị phát hiện bắt giữ là do nhu cầu tiêu thụ sừng tê giác ở nước ta rất lớn.
Phần lớn người dân thiếu hiểu biết vẫn tin rằng loại sừng này là thần dược có thể trị bách bệnh. (Dân Trí 29/9) đầu trang(
Với tuổi thọ hàng trăm năm, từ lâu hàng cây sao đen trên phố Lò Đúc đã một phần tạo vóc dáng cho Hà Nội, nhưng giờ đây hàng cây đó đang bị xâm hại nghiêm trọng, trong đó có nhiều cây bị chặt ngang thân gây bức xúc cho dư luận…
Theo thông tin từ Cty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội, loài cây trên phố Lò Đúc có tên gọi là sao đen. Trên địa bàn Hà Nội giống cây này còn có mặt ở một số khu phố khác như ở phố Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Thượng Hiền. Tuy nhiên số cây sao đen trên các phố này ít và không tập trung.
Qua ghi nhận của PV, hiện trên tuyến phố Lò Đúc có nhiều cây sao đen bị xâm hại hoặc bị đốn hạ. Cụ thể ngay trước cổng chùa Đức Viên, hai cây sao đen chỉ còn trơ gốc.
Theo một số người dân, phần thân và ngọn cây đã được Cty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội đốn hạ cách đây 3 tháng với lí do cây đã già cỗi, nhiều cành, ngọn bị chết nên cần hạ giải, đảm bảo an toàn cho người dân trong mùa mưa bão. Ngoài ra họ không biết thêm thông tin gì.
Việc bức tử những “lá phổi xanh” của TP đang xảy ra nhiều nơi. Rất cần UBND TP có biện pháp bảo vệ. (Lao Động 29/9) đầu trang(
Để nâng cao nhận thức của người dân, gia đình, tổ chức xã hội tham gia vào công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn huyện Lộc Ninh đạt được hiệu quả cao, ngăn chặn được tình trạng phá rừng, cháy rừng, chống người thi hành công vụ thì công tác tuyên truyền là không thể thiếu, là biện pháp quan trọng trong công tác bảo vệ rừng hiện nay.
Vì vậy công tác tuyên truyền bảo vệ rừng cho học sinh trong trường học trên địa bàn huyện Lộc Ninh được Hạt Kiểm lâm quan tâm và thực hiện.
Hạt Kiểm lâm Lộc Ninh bàn giao 300 cuốn Sổ tay tuyên truyền bảo vệ rừng cho 03 trường học gồm: Trường PTDTNT - THCS Lộc Ninh, THCS Lộc Thạnh, THCS Lộc Thịnh, mỗi trường học 100 cuốn. Nhà trường ưu tiên phát cho các em học sinh là người đồng bào dân tộc thiểu số, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, sinh sống gần rừng hoặc trong rừng.
Hàng tuần trong buổi chào cờ nhà trường sẽ thực hiện công tác tuyên truyền lồng ghép cho các em học sinh về chính sách của Nhà nước trong công tác bảo vệ rừng, những hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2014.
Mục đích là nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ rừng trong nhà trường, để các em học sinh tuyên truyền cho thành viên trong gia đình, cộng đồng dân cư ở địa phương nắm, từ đó không có người vi phạm về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn huyện.
Một số trường học trên địa bàn huyện Lộc Ninh cũng đề nghị Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm cấp thêm sổ tay tuyên truyền bảo vệ rừng để phát cho các em học sinh viết bài vì số lượng học sinh người đồng bào thiểu số trong nhà trường là rất lớn và được các em học sinh háo hức đón nhận. (Kiểm Lâm Bình Phước 26/9) đầu trang(
Rời hang cọp nơi công viên đá (Khu bảo tồn thiên niên - văn hóa Đồng Nai), câu chuyện về người thợ rừng Tám Thi (tên thật là Châu Văn Thi, ấp 1, xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu) bẫy được con cọp dữ cuối cùng của rừng Mã Đà - Hiếu Liêm thôi thúc PV muốn được gặp ông.
Theo lời kể của những người thợ rừng, vào năm 1985 ông Tám Thi là người đã bẫy được con cọp khá lớn. Loại bẫy được sử dụng là bẫy cáp lớn. Chúa sơn lâm khi mắc bẫy chồm lên tấn công người. Vốn là tay súng bản lĩnh, ông Tám Thi bình tĩnh bắn hạ chúa sơn lâm. Khi con thú chết, ông lại gần xem xét và rợn người khi thấy sợi dây cáp đứt gần hết chỉ còn vài sợi nhỏ.
Nhắc lại câu chuyện bẫy cọp, ông Tám Thi cười khà cho rằng, câu chuyện hạ chúa sơn lâm mà các thợ rừng kể về ông chỉ đúng một ý. Ông chính là người dùng súng bắn hạ con cọp khi nó bị mắc bẫy. Còn tình tiết ông là người phát hiện dấu vết, rồi đặt bẫy, thăm bẫy, phát hiện con cọp mắc bẫy rồi bắn hạ… chỉ là lời đồn thổi.
Nhấp ngụm trà bà Thắm (vợ ông Tám Thi) vừa pha nghi ngút khói, ông bắt đầu câu chuyện trong cơn mưa rả rích. Hôm ấy, ông và thợ rừng đang ngồi nghỉ nơi lán trại. Một người thợ rừng tên Sang đứng dậy, không nói không rằng cầm cưa máy đi về hướng có cây gõ đỏ cách lán trại khoảng 500m.
Trên đường đi tìm cây, bất chợt thợ rừng Sang nghe tiếng cây đổ rầm rầm. Sau đó thì nghe tiếng gầm rú rờn rợn của cọp nên tá hỏa chạy ngược về báo tin. Hay tin, ông Tám Thi chụp cây súng săn phóng về hướng thợ rừng Sang chỉ. Đi được một đoạn thì ông nghe rất rõ tiếng hổ gầm rít.
Ông Tám Thi cặp cây súng vào nách với tư thế sẵn sàng khai hỏa. Rồi ông nhẹ nhàng tiến về nơi phát ra tiếng cọp đang gầm gừ dữ dội. Cách nơi con cọp bị dính bẫy 10m, ông Tám Thi nép vào vách đá quan sát. Ngay lập tức, ông thấy con cọp co người phóng về phía ông, hai mắt long lên thật dữ dằn như muốn vồ chụp lấy ông.
Bằng phản xạ của người thợ săn, ông Tám Thi ngắm vào mang tai con cọp bóp cò. Sau phát đạn thứ nhất, con cọp lồng lộn rồi khụy xuống. Thợ rừng Tám Thi bồi thêm phát thứ hai thì nó không còn giãy giụa được nữa. Lúc này, thợ rừng Sang mới cùng ông tiến về nơi con cọp bị bắn hạ thì thấy một chân của nó bị dính bẫy. Sợi dây bẫy sắp tuột ra.
Đường 768 mưa như trút nước, ông Tám Thi hồi tưởng lại cái cảnh khổ cực khi chui lủi trong rừng làm “lâm tặc” sau khi xuất ngũ về với đời thường. “Con cọp dài cỡ 2m, nặng chừng 170kg đã bất động sau hai phát đạn của tui.
Nó dính bẫy vì hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi hang khi nghe cây bị cưa ngã rần rần gần nơi ẩn nấp. Cái cây đó do một thợ rừng trong nhóm cưa. Còn cái bẫy thì không biết do ai đặt để bẫy thú chứ không phải do tui đặt. Tui hạ nó vì không biết nó dính bẫy và thấy nó dữ dằn chồm phóng về phía tui. Thật lòng mà nói trong thâm tâm tui không muốn hạ nó vì bao lâu nay tui chỉ săn mấy con cheo, chồn, heo rừng mà thôi” - ông Tám Thi đính chính lại thông tin về việc ông hạ con cọp tại khu công viên đá.
Chấm dứt câu chuyện về bắn cọp, ông Tám Thi kể tiếp cho PV nghe câu chuyện về những năm tháng ông tham gia cách mạng, bám chặt những cánh rừng đại ngàn Đại An, Mã Đà, Hiếu Liêm hoạt động. Ông Tám Thi cho hay, ông đã 3 lần được phong tặng danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ. Những ngõ ngách của rừng già trải dài từ Đại An đến Bình Hòa (huyện Vĩnh Cửu xưa) ông đều thông thuộc.
Từ quê Đồng Tháp, năm 1958 cha ông đưa gia đình về xã Trị An mở tiệm mộc. Năm 16 tuổi, khi đang làm lao công cho lò đường ông Hai Đồ, ông Tám Thi đã được giác ngộ và tham gia cách mạng. “Do tui thường xuyên đi khắp vùng huyện Vĩnh Cửu chặt mía thuê cho chủ lò đường nên thông thuộc từng lối đi, ngõ ngách. Vì vậy, tui được cách mạng giao nhiệm vụ đưa đón cán bộ ra vào, liên lạc thư từ” - ông Tám Thi bộc bạch.
Sau Mậu Thân 1968, ông Tám Thi bị lộ và được tổ chức đưa vào căn cứ hoạt động. Do lanh lợi, thông thuộc địa bàn, ông vừa là bộ đội của Huyện đội, vừa là cán bộ liên lạc của Huyện ủy Vĩnh Cửu.
Rồi kẻ thù rải chất độc hóa học làm cho những cánh rừng già Mã Đà, Hiếu Liêm bị xác xơ, ông vẫn kiên trung bám rừng, bám cơ sở hoạt động. Ông Tám Thi thấp giọng kể, sau những đợt rải thảm chất khai hoang, rải bom đốt phá căn cứ cách mạng của Mỹ - ngụy, những cánh rừng già bị phá ghê gớm. Mùa mưa đến, rau tàu bay xanh rì khắp nơi nhìn như ruộng mạ. Đó là thứ để ông và đồng đội nấu chung với nắm gạo cầm cự khi chưa móc nối được với cơ sở.
Rời quân ngũ được 1 năm ông lấy bà Thắm. Ông Tám Thi ngượng ngùng bày tỏ, vì thuộc rừng như lòng bàn tay nên những năm quá khó khăn, ông mới tham gia khai thác rừng, săn bắn thú rừng để cưu mang đàn con nheo nhóc. Đến năm 1990 ông Tám Thi giải nghệ làm “lâm tặc”, lo mấy sào đất rẫy và làm thuê cho bà con trong xã.
“Tui cũng có 2 hécta đất rẫy khai phá được. Sau đó tui lại hiến cho xã làm nghĩa trang nên giờ không còn bao nhiêu đất. Nay mấy chú còn nhớ đến tui về hỏi chuyện bắn cọp, kể chuyện kháng chiến là tui vui lắm rồi” - ông Tám Thi siết mạnh tay chúng tôi khi kết thúc câu chuyện một thời “oanh liệt” trong mưa chiều lất phất. (Báo Đổng Nai 27/9) đầu trang(
Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có Công văn số 63244/BKHĐT-KTNN ngày 18/9/2014 về việc thông báo danh mục dự án nâng cao năng lực phòng chống cháy rừng và bảo vệ rừng cấp bách năm 2014.
Theo đó, Bình Phước có 01 dự án được hỗ trợ vốn là Dự án bảo vệ và phát triển rừng Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập với số vốn là 10 tỷ đồng.
Việc sử dụng vốn hỗ trợ thực hiện theo Thông tư số 85/2014/TT-BTC ngày 30/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý, thanh quyết toán vốn đầu tư từng Ngân sách nhà nước thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. (Sở NNPTNT Bình Phước 28/9) đầu trang(
Chiều 26/9, Trường cao đẳng nghề Du lịch Sài Gòn tiến hành trao giấy Chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ cho 90 học viên đã tham gia khóa học Hướng dẫn viên du lịch bản địa.
Đây là những hộ dân đã và đang trực tiếp quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn tại Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ.
Lớp học nằm trong hợp phần của dự án “Phát triển sinh kế cho hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn” do Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (gọi tắt là IUCN) tài trợ với nguồn vốn đối ứng của Việt Nam lên đến 3 tỷ đồng.
Tham gia lớp học, các học viên được trang bị các kỹ năng cơ bản về phục vụ khách du lịch tại gia đình, đảm bảo vệ sinh môi trường sinh hoạt, chuẩn bị bữa ăn, đón tiếp khách…qua đó có thể tham gia làm hướng dẫn viên du lịch bản địa nhằm giảm tải áp lực khai thác nguồn lợi thủy sản từ rừng ngập mặn, đa dạng sinh kế, giúp người dân giữ rừng có trách nhiệm cao hơn nữa trong bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
Để người dân từng bước làm quen với hoạt động du lịch, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ cũng đang xem xét tới việc tổ chức phân luồng tuyến, xây dựng sản phẩm đáp ứng nhu cầu và thu hút du khách. (VOH 27/9) đầu trang(
Chiều 29-9, Bệnh viện Quân y 121 (Cần Thơ) cho biết, từ đầu năm đến nay bệnh viện này đã tiếp nhận 354 ca nhập viện do bị rắn cắn; trong đó có tới 345 ca bị rắn lục đuôi đỏ cắn.
Cụ thể, gần đây nhất vào tối 27-9, hai nữ sinh của trường Đại học Cần Thơ là Trần Xuân Th. (20 tuổi, sinh viên năm thứ hai Khoa Sư phạm) và Nguyễn Thúy V. (21 tuổi, sinh viên năm thứ ba Khoa Công nghệ Thông tin) bị rắn lục đuôi đỏ cắn trong khuôn viên nhà trường.
Em Nguyễn Thúy V. cho biết, khoảng 21 giờ ngày 27-9, sau khi cùng nhóm bạn đi tập võ về khu KTX Cà Mau, thì bất ngờ bị một con rắn lục đuôi đỏ ở trong đám cỏ ven đường lao ra cắn vào chân. Nhờ phát hiện kịp thời nên mọi người đã đập chết con rắn lục và đưa em V. đi cấp cứu ở Bệnh viện 121.
Còn em Trần Xuân Th. thì đi họp nhóm tại nhà học C1 trường đại học Cần Thơ xong, trong lúc ra nhà xe dắt xe định về thì bị rắn lục đuôi đỏ cắn vào chân và được đưa tới Bệnh viện 121 cấp cứu.
Cả 2 em nhập viện trong tình trạng mạch nhanh, vết thương nhức nhiều..., được các bác sĩ truyền huyết thanh, cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm tính mạng.
Theo các bác sĩ, những trường hợp bị rắn cắn không nên tự ý can thiệp vào vết thương mà cần nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu càng sớm càng tốt. (Sài Gòn Giải Phóng 30/9, tr7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đó là khẳng định của ông Trần Văn Hiếu - Giám đốc Công ty TNHH – một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ (gọi tắt là Công ty U Minh Hạ) tại cuộc họp báo do Sở NNPTNT tỉnh Cà Mau tổ chức vào chiều 29.9.
Đây là cuộc họp báo làm rõ một số nội dung trong Kết luận số 13/KL-TT ngày 15.8 của Thanh tra tỉnh Cà Mau về việc giao 863ha đất thuộc vùng đệm Vườn quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau).
Ông Lê Văn Sử - Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Cà Mau đã nêu lên 9 vấn đề trong Kết luận số 13 của Thanh tra tỉnh Cà Mau như: Phản ánh một số cán bộ có nhiều đất ở U Minh Hạ, việc cắt hậu đất của dân để giao cho cán bộ…
Theo ông Sử, kết luận của Thanh tra tỉnh đã làm rõ một số vấn đề để UBND tỉnh có căn cứ xử lý, chỉ đạo khắc phục những sai phạm của những đơn vị, cá nhân có liên quan. “Tuy nhiên, theo kết luận của Thanh tra tỉnh, còn một số vấn đề chưa được rõ, Sở và một số cá nhân có liên quan đã có kiến nghị đến Thanh tra tỉnh xem xét lại” – ông Sử nói.
Trả lời câu hỏi của phóng viên NTNN về việc Kết luận thanh tra số 13 do ông Đinh Phước Thọ - Chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau ký ngày 15.8.2014, không có kiến nghị xử lý nào đối với cá nhân, tổ chức đã để “thất lạc” toàn bộ số hồ sơ trong giai đoạn 10 năm thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định 661 ngày 29.7.1998 của Thủ tướng Chính phủ (Báo NTNN đã phản ánh ngày 23.9). Vậy, ở góc độ ngành, Sở có kiến nghị gì để làm rõ việc mất hồ sơ một cách đáng ngờ như thế không?
Với câu hỏi này, ông Lê Văn Sử từ chối bình luận vì cho rằng Công ty U Minh Hạ trực thuộc UBND tỉnh. Tuy nhiên, ông Sử cũng nhìn nhận rằng việc không cung cấp được hồ sơ trong 10 năm thực hiện Dự án 661 (từ năm 1998 – 2007) theo quy định là sai.
Nhưng, ông Trần Văn Hiếu – Giám đốc Công ty U Minh Hạ thì khẳng định: “Hồ sơ trong giai đoạn 10 năm thực hiện Dự án 661 như đã nói ở trên không hề mất, mà nó còn nằm trong kho”.
Ông Hiếu giải thích rằng: Công ty U Minh Hạ được sáp nhập từ 5 công ty khác vào năm 2008, do đó công ty chỉ cung cấp được hồ sơ trong 3 năm thực hiện dự án (từ năm 2008 – 2010). Mặt khác, khi sáp nhập 5 công ty, hầu như kế toán và giám đốc đều nghỉ hết do đó việc gom hồ sơ có phần không chu đáo. “Nguyên nhân chính là do lúc đó bộ phận nghiệp vụ lưu trữ của công ty còn hạn chế. Hiện công ty đang cho kiểm tra lại” – ông Hiếu nói. (Nông Thôn Ngày Nay 30/9) đầu trang(
17/9,UBND tỉnh Thanh Hóa giao cho Công an tỉnh và ngành chức năng kiểm tra, xử lí vấn đề Báo Người cao tuổi phản ánh: Thời gian gần đây, Báo Người cao tuổi có loạt bài viết: “Huyện Tĩnh Gia thực hiện dự án trồng keo bằng cách “khai tử” diện tích lớn rừng phòng hộ tái sinh; ngày 11/9/2014 và ngày 16/9/2014 Báo tiếp tục có bài: “Huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa: Rừng phòng hộ bị “hành quyết”, dân chỉ còn biết kêu trời”.
Sau khi xem xét, Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo như sau: Giao Công an tỉnh chủ trì, phối hợp với UBND huyện Tĩnh Gia và các đơn vị có liên quan điều tra, xác ninh làm rõ nội dung phản ánh của Báo Người cao tuổi; xử lí nghiêm những tập thể, cá nhân sai phạm (nếu có) theo quy định của pháp luật. (Người Cao Tuổi 30/9) đầu trang(
27-9, tin từ UBND tỉnh Bình Phước cho hay chủ tịch UBND tỉnh đã ký quyết định kỷ luật khiển trách hai ông Nguyễn Thành Chương (chủ tịch) và Nguyễn Văn Thanh (phó chủ tịch) UBND huyện Đồng Phú.
Quyết định nêu rõ các chủ tịch, phó chủ tịch UBND huyện Đồng Phú đã thiếu trách nhiệm trong vụ việc thanh lý trên 72ha gỗ rừng giá tỵ tại địa bàn xã Tân Lập gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước.
Cụ thể, việc áp giá sai qui cách từ gỗ thành củi đã gây thiệt hại cho ngân sách trên 1,2 tỉ đồng. Đây là vụ án mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Phước đã khởi tố vụ án. (Tuổi Trẻ 28/9, tr5) đầu trang(
Trong vai Trưởng ban quản lý dự án trồng rừng “phủ xanh đồi trọc” của một tổ chức phi chính phủ, Nguyễn Thị Minh (tức Minh “trầu”, SN 1978, trú xã Tân Đức, Hàm Tân, Bình Thuận) đã lừa đảo hàng chục tỷ đồng thông qua hình thức thu gom sổ đỏ chờ giải ngân. Hàng nghìn nông dân khắp cả nước đã lâm cảnh màn trời chiếu đất, trốn nợ khắp nơi.
Từ năm 2008, xuất hiện cơn lốc thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) trên cả nước. Một nhóm đối tượng tự giới thiệu có khả năng xin được vốn tài trợ không hoàn lại của tổ chức phi chính phủ nước ngoài cho dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.
Nguyễn Phước (SN 1967, HKTT: 122 Lý Thái Tổ, phường Yên Đổ, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai), Giám đốc Công ty TNHH Phước Thịnh tự xưng là trưởng ban quản lý. Đi đâu Phước cũng bảo dự án này là của Chính phủ, đứng đầu là một đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước chưa muốn ra mặt, đứng ra để quản lý và tổ chức giải ngân.
Mức hỗ trợ cho mỗi hécta (ha) rừng là 25 đến 30 triệu đồng. Những người môi giới được hưởng từ 200 đến 500 ngàn đồng/ha. Hồ sơ, thủ tục xin vốn đơn giản, không phải thông qua cơ quan chức năng nào xét duyệt cả. Thời hạn giải ngân thì nhanh, chỉ từ ba đến sáu tháng là có tiền về. Điều kiện tham gia dự án là người dân phải có sổ đỏ, sổ lâm bạ để chứng minh diện tích rừng.
Phước yêu cầu những người không có sổ đỏ phải đưa tiền cho người của ban quản lý để mua sổ đỏ hộ. Chúng lại dùng chính những quyển sổ đỏ thu được để quay vòng, bán cho những người không có sổ đỏ nhưng muốn mua diện tích rừng theo sổ đỏ để được tham gia dự án. Muốn lấy lại sổ đỏ của chính mình cũng phải nộp cho bọn chúng khoảng 30 triệu đồng (trên 100ha rừng) gọi là chi phí đi rút hồ sơ. Với thủ đoạn đó, Phước đã gom được khoảng 100.000 sổ đỏ, lâm bạ của dân.
“Đánh hơi” Phước thu gom được 25 thùng sổ đỏ nhưng chỉ biết đem gửi vào... ngân hàng chờ được tổ chức phi chính phủ nào đó giải ngân, Minh “trầu” đã vào cuộc. Minh nói rằng, mình chính là đại diện duy nhất của Ban quản lý dự án. Dù thu gom được một đống sổ đỏ như thế, nhưng quả thực Nguyễn Phước chẳng biết mặt mũi Ban quản lý ở đâu.
Thời điểm này, Nguyễn Phước cũng đang nợ nhiều người, thấy Minh “trầu” ba hoa vậy, tưởng đã gặp được mối chuẩn, y lập tức chuyển giao hết các thùng sổ đỏ thu gom được cho Minh. Phước cũng tự nguyện trở thành một tay chân bên dưới của Minh, Minh sai gì thì răm rắp làm theo. Cũng với thủ đoạn như Phước, Minh đã gom thêm được rất nhiều sổ đỏ khắp đất nước.
Khi đã gom được rất nhiều sổ đỏ và tiền, Minh bắt đầu đánh bóng tên tuổi để củng cố lòng tin. Giữa năm 2013, Minh và Nguyễn Phước tổ chức hội nghị khách hàng “hoành tráng” tại một khách sạn trên đường Võ Văn Tần (TP.Hồ Chí Minh). Bọn chúng cho mời khoảng 300 người ở 63 tỉnh, thành là đại diện các cá nhân, doanh nghiệp tham gia các dự án trồng rừng có nhu cầu tham gia dự án của chúng.
Để mọi chuyện như thật, Minh yêu cầu mỗi người nộp 2 bộ hồ sơ (gồm ảnh 3x4, ảnh 10x15, CMND, hộ khẩu...), rồi phân chia tổ, nhóm (mỗi nhóm 10-12 người). Tại hội nghị này, bọn Minh còn thuê một người ăn mặc lịch sự, nói giọng miền Nam, ngồi ở bàn danh dự và giới thiệu là lãnh đạo Trung ương, theo dõi dự án. Rồi chúng tổ chức quay phim, chụp ảnh, ăn uống linh đình. Cả Phước và Minh đều tha hồ “chém”, hứa sẽ cố gắng giải ngân sớm để đưa mọi người ít nhất trở lại trạng thái ban đầu (trả hết nợ nần).
Đầu tiên, Minh tìm gọi những người từng bị mất tiền, theo đuổi việc giải ngân dự án rừng trước đây, nói rằng thị mới chính thức là Ban quản lý duy nhất ở Việt Nam, việc giải ngân chỉ là nay mai. Nhưng muốn được giải ngân, Minh yêu cầu những người này đưa tiền “bôi trơn” cho lãnh đạo cấp trên từ 100 - 200 triệu đồng. Đến gần ngày hứa sẽ giải ngân, Minh lại nói với các nạn nhân là còn thiếu một số diện tích rừng nữa mới giải ngân được.
Vì thế, các bị hại phải lo tiền để đi mua thêm số sổ đỏ cho đủ diện tích rừng còn thiếu. Thế là, khi đã dốc hết tiền, các bị hại tiếp tục rủ rê người nhà, người quen, thậm chí đi vay “nóng” bên ngoài để cùng Minh đi thu gom sổ đỏ. Sở dĩ họ phải đi cùng Minh, vì thị nói phải mua sổ đỏ diện tích rừng đúng với địa điểm mà Ban quản lý yêu cầu. Minh dẫn các bị hại đi khắp nơi, từ Nam ra Bắc để mua gom sổ đỏ.
Nhưng tại các điểm này, thị cho người của mình đóng giả người bán sổ đỏ, lấy một phần sổ đỏ của Nguyễn Phước cho vào bao tải bán lại cho các bị hại. Với chiêu này, Minh lừa được rất nhiều tiền. Theo thống kê, có người bị lừa nhiều nhất lên đến 6 tỷ đồng. Anh Phạm Thế H. trú tại Tuyên Quang, bị Minh và đồng bọn dẫn dắt đi mua sổ đỏ ở Hải Dương, rồi nộp tiền “bôi trơn”, tính đến ngày 29-5-2013 đã mất 1,5 tỷ đồng.
Ngay khi nhận được trình báo của nhiều nạn nhân, thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Công an, Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, Cục Cảnh sát hình sự đã xác minh. Kết quả xác minh, cùng với kết quả làm việc trực tiếp với các cơ quan chức năng, Cơ quan CSĐT khẳng định từ năm 2008 đến nay, không có bất kỳ dự án nào có nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài cho dự án phát triển rừng, phủ xanh đất trống, đồi trọc.
Ngày 18-6, Cơ quan CSĐT- Bộ Công an bắt khẩn cấp Nguyễn Phước khi đối tượng đang lẩn trốn tại tỉnh Quảng Nam. Tại thời điểm bị bắt, Phước đã gom được 25 thùng, 100.000 sổ đỏ tại 22 tỉnh, thành.
Ngay khi Nguyễn Phước bị bắt, ở bên ngoài, Minh “trầu” vẫn trấn an các nạn nhân rằng công an chỉ giữ Phước vài ngày để bảo vệ việc giải ngân cho Phước. Ai đến cơ quan công an có ý định tố cáo, thị sẽ biết ngay và sẽ không cho vào danh sách được nhận tiền giải ngân trong tuần tới. Câu cửa miệng của Minh “trầu” vẫn là 15 - 20 ngày nữa sẽ được giải ngân.
Có lần, Minh tung tin rằng tiền giải ngân đã được vận chuyển bằng đường biển về đến Đà Nẵng, mọi người chuẩn bị vào Đà Nẵng nhận tiền. Rồi có lần, khi bị mọi người thúc ép quá, Minh giả vờ bảo cô cháu ở Hà Nội gọi điện vào báo Minh có giấy báo của Ngân hàng quân đội là tiền giải ngân đã về, nhưng phải cần thêm một số thủ tục, giấy tờ nữa...
Thế nên, khi Minh yêu cầu nộp thêm tiền để cho kịp tiến độ giải ngân, nhiều người đã nhắm mắt vay nóng của dân “tín dụng đen”. Nhưng việc giải ngân chỉ là trò bịp bợm của Minh nên thời gian cứ kéo dài, lãi mẹ đẻ lãi con, nhiều người phải bỏ trốn vì bị bọn chủ nợ truy đuổi.
22-9, Cục Cảnh sát hình sự bắt giữ Nguyễn Thị Minh và Nguyễn Thị Anh (SN 1990, trú xã Hữu Kiệm, Kỳ Sơn, Nghệ An) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Viện KSND tối cao đã phê chuẩn quyết định khởi tố hai đối tượng về tội danh trên. (Công An TPHCM 28/9) đầu trang(
Đó là yêu cầu của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn tại cuộc họp Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, diễn ra chiều 29/9.
Theo báo cáo, trên địa bàn tỉnh ta hiện có 11 đơn vị, cơ sở sử dụng và phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, gồm: 3 nhà máy thủy điện, 6 cơ sở sản xuất kinh doanh nước sạch sinh hoạt và 2 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch.
Quỹ Bảo vệ phát triển rừng đã tiến hành đàm phán, ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với 4/6 đơn vị gồm: Công ty CP thủy điện Hương Sơn (2 tỷ đồng/năm), Công ty CP thủy điện miền Bắc (800 triệu đồng/năm), Công ty TNHH MTV cấp nước và xây dựng Hà Tĩnh (240 triệu đồng/năm), Công ty TNHH MTV thủy lợi Bắc Hà Tĩnh mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng bằng 1% trên doanh thu.
2 đơn vị chưa ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng gồm: Công ty du lịch Trương Sơn - Khu du lịch sinh thái nước khoáng nóng Sơn Kim, Công ty CP thủy điện Kẽ Gỗ.
Hiện Quỹ Bảo vệ phát triển rừng, Sở NN&PTNT đang tiến hành đàm phán với các đơn vị trên để ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ phát triển rừng đã huy động các nguồn thu lên gần 19 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng 7,3 tỷ đồng, nguồn thu từ tiền trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích rừng sang mục đích không phải lâm nghiệp 6,3 tỷ đồng…
Kết luận buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Đình Sơn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của Quỹ Bảo vệ phát triển rừng. Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tập trung truy thu số tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các đơn vị phải trả theo quy định, đặc biệt là số tiền trên 4 tỷ đồng Công ty CP thủy điện miền Bắc hiện còn nợ và một số đơn vị khai thác mỏ vật liệu xây dựng trên toàn tỉnh.
Đối với việc chi trả cho các chủ rừng và các hộ trồng rừng thay thế Phó Chủ tịch UBND giao cho Sở NN&PTNT và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng phải thực hiện việc chi trả một cách minh bạch, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời theo quy định, nhất là đối với các hộ dân trồng rừng thay thế.
Sở NN&PTNT chủ trì trực tiếp xây dựng và hướng dẫn các đơn vị chủ rừng phối hợp xây dựng hồ sơ xác định lưu vực, hiện trạng rừng trong lưu vực 2 nhà máy thủy điện nhằm phục vụ chi trả; hướng dẫn các đơn vị chủ rừng và địa phương liên quan thực hiện các thủ tục ký cam kết quản lý, bảo vệ rừng… (Báo Hà Tĩnh 29/9) đầu trang(
Khánh Hòa là một trong những địa phương có nhiều thế mạnh về rừng với tổng diện tích tự nhiên 521.765,5ha. Trong đó, diện tích quy hoạch cho phát triển lâm nghiệp 284.459,4ha; diện tích đất có rừng 212.903,7ha, chiếm 40,6% diện tích đất tự nhiên.
Để tạo bước ngoặt chính sách đối với nghề rừng, tỉnh đã xây dựng, thông qua Đề án chi trả DVMT rừng; thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển (BV-PT) rừng để làm đầu mối thực hiện việc thu, chi trả phí DVMT rừng. Đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy thực hiện tốt công tác BV-PT rừng.
Theo Đề án chi trả DVMT rừng được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng, hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 3 nhóm đối tượng sử dụng DVMT rừng phải chi trả phí gồm: 2 nhà máy thủy điện Ea Krông Rou và Sông Giang; 27 đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch; 8 cơ sở kinh doanh du lịch cảnh quan với mức nộp 20 đồng/kW điện thương phẩm, 40 đồng/m3 nước thương phẩm và 1 - 2% doanh thu du lịch.
Dự kiến, tổng số tiền thu từ các đối tượng sử dụng DVMT rừng trong giai đoạn 2011 - 2014 hơn 14,1 tỷ đồng; riêng số thu năm 2014 gần 4,9 tỷ đồng. Nguồn thu này sẽ được trích để chi trả cho các chủ rừng và trích một phần cho Quỹ BV-PT rừng Việt Nam, Quỹ BV-PT rừng tỉnh để chi cho công tác quản lý, bổ sung kinh phí dự phòng. HIện nay, Quỹ BV-PT rừng đã đi vào hoạt động và đang triển khai chính sách chi trả DVMT rừng.
Theo ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tồn tại, khó khăn. Chẳng hạn như chưa có hướng dẫn về xác định phạm vi, ranh giới diện tích của các khu cung ứng DVMT rừng về cảnh quan tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch.
Điều này dẫn đến khó khăn trong việc xác định căn cứ để tính toán thu, chi DVMT rừng. Hoặc mức quy định cụ thể về chi trả DVMT rừng đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn chưa được hướng dẫn. Các quy định về chế tài xử lý đối với những đối tượng sử dụng DVMT rừng không thực hiện nghĩa vụ nộp chưa đủ mạnh...
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng sẽ huy động tối đa nguồn lực để phục vụ cho công tác BV-PT rừng; từng bước thực hiện xã hội hóa nghề rừng. Bên cạnh đó, giúp các địa phương miền núi xóa đói, giảm nghèo; bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng, điều tiết, duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống...
Nhiều ý kiến cho rằng, việc thực hiện chính sách chi trả DVMT rừng là một cơ chế sòng phẳng giữa các đơn vị khai thác thủy điện, nước sinh hoạt, kinh doanh du lịch với các chủ rừng, người trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Có được nguồn thu này, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng sẽ có thêm kinh phí để tăng cường tuần tra, truy quét, đầu tư các công trình lâm sinh, làm tốt công tác khoanh nuôi tái sinh rừng. Đây cũng là phương thức hỗ trợ giúp giảm bớt gánh nặng chi đối với nguồn ngân sách Nhà nước.
Với chính sách chi trả DVMT rừng đang được triển khai, công tác bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh được kỳ vọng sẽ có những chuyển biến tích cực hơn trong thời gian tới.
Theo ông Lê Đức Vinh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, việc truy thu tiền sử dụng DVMT rừng giai đoạn 2011 - 2013 cần tính toán sao cho phù hợp. Trong thực hiện chính sách này, phải làm rõ trách nhiệm của các đối tượng chi trả DVMT rừng; có chế tài xử lý những trường hợp vi phạm...
Đối với các đơn vị sản xuất và cung ứng nước sạch được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, không nên đưa vào danh sách các đối tượng phải chi trả DVMT rừng. (Báo Khánh Hòa 29/9) đầu trang(
Dự án “Rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” là dự án phối hợp giữa Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản và Hiệp Hội Chữ thập đỏ Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, được triển khai từ đầu tháng 4/2011, tại 10 tỉnh trong cả nước, trong đó có Nam Định.
Dự án đã đem lại hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ cơ sở, người dân 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định trong việc sẵn sàng ứng phó với biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của thiên tai, thảm họa; phát huy vai trò của cán bộ, hội viên và tình nguyện viên chữ thập đỏ về công tác phòng ngừa, ứng phó thảm họa.
Nam Định được xác định là một trong những tỉnh trọng điểm thiên tai trong các mùa mưa bão với 3 huyện ven biển là Giao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng. Tỉnh Nam Định có 91 km đê biển và hơn 300 km đê sông, đặc biệt địa bàn có 4 con sông lớn là sông Hồng, sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ chảy qua là những vùng có nguy cơ cao và thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thảm họa thiên tai.
Từ đầu năm đến nay, nằm trong hoạt động của Dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” được triển khai tại 16 xã thuộc 3 huyện ven biển nói trên, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã phối hợp với các ban, ngành, nhất là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh triển khai Dự án có hiệu quả.
Hội Chữ thập đỏ tỉnh tập trung thực hiện các hoạt động như tổ chức tập huấn, tuyên truyền trực tiếp và gián tiếp cho hơn 91.000 người về giảm thiểu rủi ro, thảm họa và thích nghi với biến đổi khí hậu; kiến thức quản lý, phát triển tình nguyện viên, phòng ngừa ứng phó thảm họa, sơ cấp cứu, cứu hộ cứu nạn; diễn tập cứu hộ, cứu nạn trong tình huống khẩn cấp.
Đồng thời đầu tư một số trang thiết bị cơ bản phục vụ công tác ứng phó thiên tai, thảm họa, góp phần nâng cao nhận thức của chính quyền và người dân về công tác phòng ngừa, ứng phó và giảm thiểu rủi ro, thảm họa, giúp cộng đồng được an toàn hơn.
Trên địa bàn huyện Giao Thủy, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ hơn 625 ha rừng tại 4 xã Giao An, Giao Xuân, Giao Lạc, Giao Phong và thị trấn Quất Lâm. Hiện tại, rừng phát triển tốt, không có hiện tượng sâu bệnh và chặt phá rừng. 5 đội quản lý và bảo vệ rừng tại các xã, thị trấn trên được tập huấn và cung cấp trang thiết bị cơ bản phục vụ tốt cho hoạt động tuần tra, không để xảy ra tình trạng chặt phá và xâm hại rừng ngập mặn.
Bên cạnh đó, Hội Chữ thập đỏ tỉnh cũng triển khai và tiếp tục duy trì, phát triển các tiểu dự án giảm thiểu rủi ro thảm họa, như: Hệ thống cầu dân sinh của xã Hải Chính, hệ thống cảnh báo sớm thiên tai ở xã Hải Lý, hệ thống loa truyền thanh ở xã Hải Triều, hệ thống thoát nước 1.500m tại khu dân cư và nuôi trồng thuỷ sản xã Hải Châu (huyện Hải Hậu), công trình vuốt dốc đê đường giao thông xã Giao An, công trình nhà vệ sinh chợ trung tâm xã Giao Xuân và công trình cống thoát nước khu dân sinh xã Bạch Long (huyện Giao Thủy).
Những tiểu dự án sau khi được triển khai đã đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ môi trường tại cộng đồng; phát huy được hiệu quả, giúp nhân dân các xã thuận tiện trong sinh hoạt và sản xuất; nâng cao nhận thức phòng ngừa thảm họa, giúp cộng đồng an toàn hơn trong phòng ngừa, ứng phó thảm họa thiên tai thích ứng biến đổi khí hậu. Các công trình của dự án hỗ trợ đều được chính quyền và người dân bảo quản tốt, hàng năm được kiểm tra bảo dưỡng để đảm bảo tính bền vững.
Để nâng cao khả năng của cộng đồng trong việc chuẩn bị và ứng phó một cách hiệu quả, góp phần giảm nhẹ rủi ro, thiệt hại có thể xảy ra khi có thiên tai, thảm họa tại địa phương, Ban quản lý dự án Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã hướng dẫn và phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tại các cơ sở thành lập 2 đội ứng phó nhanh cấp cộng đồng với hơn 50 thành viên của 2 xã Nghĩa Thắng (huyện Nghĩa Hưng) và xã Hải Chính (huyện Hải Hậu.
Sau khi được thành lập, các thành viên của đội ứng phó được tập huấn về kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, ứng phó thảm họa, giảm nhẹ rủi ro, tìm kiếm cứu nạn, sơ cấp cứu và thực hành diễn tập sơ cấp cứu, cứu hộ, cứu nạn. Để đảm bảo cho đội ứng phó nhanh cấp cộng đồng hoạt động tốt khi có những tình huống khẩn cấp xảy ra, Ban quản lý dự án tỉnh Hội đã cấp trang thiết bị đạt tiêu chuẩn phục vụ hoạt động như mũ chữ thập đỏ, ao phao cứu sinh, túi sơ cấp cứu, đồ dùng cứu thương, đèn pin, áo mưa, loa pin cầm tay...
Trong khuôn khổ các hoạt động của Dự án, Hội chữ thập đỏ tỉnh Nam Định đã khảo sát, thẩm định và hỗ trợ nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm thiên tai cho thị trấn Rạng Đông (huyện Nghĩa Hưng) lắp mới 4 cụm loa, xây dựng 2 bản tin cảnh báo sớm thiên tai, thảm họa nhằm phục vụ việc cảnh báo sớm, giúp người dân thị trấn nắm bắt thông tin, góp phần giảm nhẹ những rủi ro, thiệt hại khi xảy ra thiên tai, thảm họa tại địa phương.
Ông Phạm Minh Phương, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nam Định cho biết: Thời gian tới, Ban quản lý Dự án “Trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro” tỉnh Nam Định tập trung sớm hoàn thiện và đưa vào sử dụng các hệ thống cơ sở vật chất hỗ trợ địa phương trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó thảm họa. Đồng thời tổ chức các lớp tập huấn về phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và biến đổi khí hậu cho giáo viên, học sinh tiểu học tại xã Nghĩa Thắng và thị trấn Rạng Đông (huyện Nghĩa Hưng).
Cùng với dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa”, trong năm 2014, Hội chữ thập đỏ tỉnh đã và đang triển khai dự án “Rừng và Đồng bằng” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Winrok Intemationna tài trợ nhằm thực hiện các hoạt động về thích ứng biến đổi khí hậu tại 9 xã của 3 huyện ven biển là Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng. (Hội Nông Dân VN 29/9) đầu trang(
Thị trường xuất khẩu đồ gỗ đang có nhiều chuyển biến tích cực vì nhu cầu sử dụng những sản phẩm này trên thế giới tăng trở lại. Đây là cơ hội tốt để ngành chế biến lâm sản trong nước tiến xa hơn. Để mở rộng các thị trường lớn, nhiều doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ nên tham gia những cuộc triển lãm quốc tế.
Tham gia triển lãm quốc tế đối với các DN lớn không quá khó, nhưng với các DN vừa và nhỏ thì không phải dễ dàng. Chi phí, kinh nghiệm tham gia đều là những khó khăn đối với các DN vừa và nhỏ.
Theo ông Phan Văn Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhất Nam (Khu công nghiệp Biên Hòa 1), các DN chế biến gỗ năm 2014 có mức tăng trưởng từ 10-15%. Tuy nhiên, do việc phải cạnh tranh khá quyết liệt ở nhiều thị trường, cộng thêm nhiều chi phí sản xuất tăng khiến lợi nhuận của DN sản xuất không cao.
Ông Trần Việt Dũng, Phó giám đốc Công ty cổ phần triển lãm VCCI (Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam), nhận xét ngành chế biến gỗ của Việt Nam đang phải cạnh tranh rất khốc liệt với các nước, như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, một số nước Đông Âu, Mỹ la tinh và đặc biệt là Trung Quốc. Ông Dũng dẫn chứng, chỉ tính riêng Trung Quốc đã có hơn 50 ngàn DN sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới.
Chính vì vậy, DN chế biến gỗ của Việt Nam “săn” được những đơn hàng tốt không phải dễ dàng. Ông Dũng cũng cho hay, các nhà phân phối luôn có mặt ở các triển lãm để tìm nguồn hàng mới, có chất lượng để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường.
Tham gia vào các triển lãm quốc tế được thường xuyên sẽ là cơ hội tốt để tìm đối tác có đơn hàng tốt. “Tại đây, DN có thể ký hợp đồng trực tiếp với các nhà phân phối lớn mà không phải thông qua trung gian nên giá sẽ tốt hơn” - ông Dũng nói.
Tuy nhiên theo đánh giá của Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, việc khai thác thị trường thông qua các triển lãm của các DN Việt Nam chưa mạnh như nhiều quốc gia khác.
Cũng theo ông Bình, khi tham gia vào các triển lãm quốc tế, nếu các DN vừa và nhỏ biết cách thì vẫn giảm được chi phí và mang lại hiệu quả. Ông Bình gợi ý: “Có thể nhiều DN liên kết lại với nhau tham gia một gian hàng, như vậy tiền thuê gian hàng sẽ đỡ hơn và số hàng đưa đi triển lãm cũng cùng đóng vào 1 container chung giảm thêm được chi phí vận chuyển”.
Theo đó, khi chia sẻ chi phí tham gia, DN còn hỗ trợ được nhau các mặt khác, như DN có kinh nghiệm giúp những DN chưa có kinh nghiệm, kể cả việc trang trí gian hàng. “Sắp tới tại triển lãm đồ gỗ quốc tế tại Singapore - 2015, Hiệp hội Chế biến lâm sản Đồng Nai cũng sẽ đứng ra làm đầu mối hỗ trợ cho các DN chế biến gỗ, đặc biệt là DN vừa và nhỏ của tỉnh tham gia triển lãm này” - ông Bình nói.
Bà Lê Thị Ngọc Trâm, Giám đốc kinh doanh Công ty APT Showfreight Việt Nam (quận 3, TP.Hồ Chí Minh), đơn vị chuyên hỗ trợ thủ tục hải quan và vận chuyển cho DN chế biến gỗ tham gia các triển lãm quốc tế, cho biết các DN chế biến gỗ vừa và nhỏ của Việt Nam thường ngại tham gia các triển lãm quốc tế lớn do ngại chi phí cao, nhiều DN chỉ tham gia một lần rồi thôi nên hiệu quả kém.
Trong khi đó, các DN chế biến gỗ nước ngoài xem việc tham gia triển lãm quốc tế hàng năm là việc phải làm. Chính sự ổn định đó khiến cho khách hàng nhớ đến và khả năng tiếp cận các thị trường lớn khá hiệu quả.
Bà Trâm chia sẻ: “Khi tham gia triển lãm xong, phần đông DN của Việt Nam muốn bán hết hàng để khỏi phải mang về. Đó cũng là một sai lầm, bởi đưa đến triển lãm là những mẫu hàng mới, khi được bán những sản phẩm mẫu đó sẽ được các DN chế biến gỗ Trung Quốc mua ngay về sản xuất rồi tung ra thị trường”. (Báo Đồng Nai 29/9) đầu trang(
Đó là một trong những kế hoạch mà TPHCM sẽ thực hiện theo kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP\2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trên địa bàn TPHCM vừa được UBND TP ban hành.
Theo đó, nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự suy thoái của các hệ sinh thái, suy giảm các loài, TP đã yêu cầu Sở Tài nguyên - Môi trường xây dựng kế hoạch hành động đa dạng sinh học trên địa bàn TP từ nay đến năm 2015 và định hướng đến 2020; Lập quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp thành phố đến năm 2025, tầm nhìn đến 2035.
Rà soát, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan theo hướng quản lý thống nhất, tập trung đầu mối về bảo tồn đa dạng sinh học. Cùng với đó, Sở NN-PTNT được giao tăng cường tuyên truyền, phổ biến về vai trò, ý nghĩa của rừng và cây xanh trong việc bảo vệ môi trường đến cộng đồng nhằm nâng cao ý thức đối với việc bảo vệ rừng và cây xanh, bảo vệ diện tích rừng và cây xanh TP.
Cụ thể: tổ chức quán lý bảo vệ tốt diện tích gần 42.500ha rừng và đất rừng; phát triển diện tích rừng và cây xanh TP đến năm 2020, dự kiến toàn TP trồng gần 10 triệu cây xanh và trồng cây phát triển rừng 407.120 cây; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc vận chuyển và mua bán lâm sản; công tác quản lý gây nuôi phát triển động vật hoang dã.
Tăng cường công tác phòng cháy chữa cháy rừng, góp phần bảo vệ bền vững các hệ sinh thái rừng trên địa bàn và kiên quyết không để xảy ra cháy rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 29/9, tr8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hữu Lộc vừa ký ban hành Quyết định số 3137/QĐ-UBND về việc thành lập Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng.
Theo đó, Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng do bà Trần Thị Thu Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban; ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN-PTNT làm Phó ban.
Nhiệm vụ của Ban là tham mưu cho Chủ tịch UBND tỉnh trong việc chỉ đạo, điều hành sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả công tác kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh.
Xây dựng phương án kiểm kê rừng, lập dự toán kinh phí kiểm kê rừng trình Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt báo cáo Bộ NN-PTNT thẩm định. Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm kê rừng của các Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng của 11 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Tổng hợp kết quả kiểm kê rừng của tỉnh để báo cáo UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo kiểm kê rừng Trung ương và tham mưu công bố kết quả kiểm kê rừng của tỉnh. (Báo Bình Định 28/9) đầu trang(
Nông dân Trương Thanh Khoan (61 tuổi) ở ấp Phú Lâm 3, xã Phú Sơn sinh ra và lớn lên trong gia đình nông dân nghèo, nhà đông anh em. Để phụ giúp bố mẹ có gạo nuôi em, ông sớm phải nghỉ học, theo chân người địa phương vào rừng “săn” trầm hương.
Ông cho biết, tìm trầm là một trong những nghề vất vả, người phu trầm phải băng rừng, lội suối, vào tận chốn thâm sơn cùng cốc và luôn phải đối diện hiểm nguy. Cái chết, bệnh tật… luôn rình rập nhưng nếu trúng trầm hương thì từ khố rách áo ôm cũng sẽ trở thành đại gia, sẽ có cuộc sống vương giả.
Vì nuôi hy vọng đó mà trong suốt thời gian từ 1980-1997, Trương Thanh Khoan đã lặn lội khắp các khu rừng ở Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, thậm chí ra tận các khu rừng ở miền Trung, sang tận Lào để săn trầm.
Ông tâm sự: “Suốt 17 năm ròng rã tìm trầm nhưng thành quả tôi đạt được chỉ là những mảnh gỗ trầm nhỏ, không thể giúp tôi đổi đời. Nghĩ mình không thể chạy theo hy vọng trong sự may rủi nên tôi quyết định về khai mảnh vườn sẵn có để trồng trầm hương".
Năm 2000, ông vào rừng tìm cây dó bầu con (loại cây dùng để cấy tạo trầm hương) mang về trồng và vận dụng những kỹ năng có được để tạo trầm. Là người đầu tiên trong vùng trồng loại cây này để tạo trầm hương nên nhiều người dân cho rằng ông gàn dở. Họ không tin những gì ông làm và luôn cho rằng trầm hương chỉ tích tụ, hình thành trong tự nhiên, con người không thể tự tạo.
Ông Khoan cho biết thêm, khi cây dó lớn, đường kính thân cây từ 10 đến 15cm là lúc ông bắt đầu áp dụng các phương pháp cấy trầm nhân tạo bằng cách bơm chất hóa học vào thân cây nhưng kết quả thu được chỉ là con số không. Không chùn bước trước thất bại, ông Khoan lại mày mò, tìm phương pháp mới để tạo trầm.
Ông kể: “Khi bơm các chất hóa học không có kết quả tôi đã chuyển sang dùng hỗn hợp được làm ra từ mật mía, cám ngô, tinh dầu dừa... để kích thích quá trình tạo trầm trong cây. Chế phẩm sinh học này an toàn và có tác động đến sự hình thành trầm trên cây dó bầu nhưng kết quả thu được chưa cao”.
Ông cho biết thêm, một hôm, ông rong ruổi trong vườn thì phát hiện trên thân một cây dó bị kiến đục khoét làm tổ. Các đường vân gỗ quanh tổ kiến có màu dầu đen bóng như trầm hương tự nhiên. Thấy vậy, ông Khoan liền lấy dao, nạo một mảnh nhỏ đem đốt thì mảnh gỗ tỏa mùi hương trầm ngào ngạt. Ông Khoan nảy ý định “thuần dưỡng” kiến để tạo trầm.
Như chớp được cơ hội, ông Khoan liền chạy về nhà, gói ghém tư trang rồi vào rừng “thu phục” kiến. Sau một tháng rong ruổi, ông Khoan đã đưa về hàng chục tổ kiến để nuôi và bắt đầu tạo trầm theo phương pháp mới.
Ông cho biết: “Kiến tạo ra chất giúp quá trình hình thành trầm trên cây dó nhanh hơn bất cứ phương pháp nào. Vậy nhưng, nếu lạm dụng, nuôi kiến trên cây thì hiệu quả tạo trầm chỉ đạt tỷ lệ khoảng 2-3%”. Ông Khoan bật mí, kiến ăn các loại thực vật và tạo ra chất lỏng có màu giống mật mía. Loại chất lỏng này kết hợp cùng chế phẩm được làm từ mật mía, mật ong, cám ngô, tinh dầu dừa sẽ thúc đẩy quá trình lên men và tạo ra chế phẩm vi sinh.
Khi chế phẩm vi sinh này được bơm vào vết thương trên cây dó khiến cây dó phải tiết ra một loại kháng sinh để bao bọc vết thương, kháng khuẩn và sự “tương tác” này là điều kiện tạo trầm trên cây dó.
Ông Khoan hồ hởi: “Chế phẩm vi sinh của tôi có thể tạo ra trầm loại 3-4 trong khi các chế phẩm hóa học khác chỉ cho kết quả trầm loại 5-6". (Theo xếp loại, trầm loại 1 có màu đen bóng, mùi thơm như trầm tự nhiên, giá trị kinh tế cao. Trầm 5-6 kém chất lượng hơn nên mỗi kg khoảng 2-3 triệu đồng).
Hơn nữa chế phẩm vi sinh của ông còn góp phần rút ngắn thời gian tạo trầm từ 12-18 tháng xuống còn 6-9 tháng mà chất lượng trầm không hề thay đổi. Sau nhiều lần thử nghiệm thành công, ông Khoan đã áp dụng cách tạo trầm trên vào sản xuất 5ha diện tích dó bầu và đạt hiệu quả cao.
Với khoảng trên 3.000 cây dó đang đến tuổi thu hoạch, ông Khoan đang nắm trong tay tài sản hàng chục tỷ đồng. Ông cho biết, chế phẩm vi sinh giúp quá trình tích tụ trầm trên cây dó nhanh, chất lượng trầm thuộc loại 5 đến loại 3 nên có giá bán bình quân khoảng từ 2-5 triệu đồng một kg.
“Trầm do tôi tạo nên không có hóa chất độc hại nên làm ra đến đâu có người mua đến đấy. Không chỉ thị trường trong nước mà các đối tác ở Thái Lan, Sigapore, Trung Quốc, Nhật Bản… cũng tìm về tận vườn để đặt hàng. Nhiều danh y trong nước cũng tìm đến mua trầm hương về chế thuốc”, ông Khoan cho hay.
Không chỉ bán các sản phẩm trầm hương theo trọng lượng, ông Khoan còn chế tác sản phẩm thành cây cảnh, khô mộc dùng để trưng bày. Theo ông Khoan, dòng sản phẩm này hiện được rất nhiều người ưa chuộng và có giá không hề rẻ. Mỗi khô mộc trưng bày có chiều cao từ 1-1,5m có giá trên dưới 20 triệu đồng.
Những cây có nhiều điểm tích tụ trầm, màu sắc đẹp, thế đẹp thì có giá từ 50 đến 100 triệu đồng. Ông thổ lộ: “Khô mộc trầm có giá trị cao gấp nhiều lần nên tôi thường nghiên cứu cách tạo dáng cho mỗi thân. Hiện tại, tôi đang tạo trầm theo hình dáng rồng cuộn và các thế “độc” khác để tăng cao giá trị cho sản phẩm”.
Để tận thu nguồn nguyên liệu trầm hương, ông Khoan cũng xây dựng lò chưng cất tinh dầu trầm. Đây là tinh dầu được dùng làm dược liệu chữa bệnh và phục vụ công nghiệp mỹ phẩm có giá mỗi lít 5.000- 10.000 USD (khoảng 100-200 triệu đồng một lít).
Ông Khoan cho hay, sau khi đục đẽo, phân loại sản phẩm trầm thì những thớ gỗ dó bầu có trầm kém hơn sẽ được xay nhuyễn rồi cho vào nồi chưng cất. Quá trình này vừa không tốn chi phí sản xuất vừa loại bỏ gỗ dó bầu thừa lại vừa cất được tinh dầu trầm với giá trị cao. Với những thành tựu đã đạt được, ông Khoan đang ấp ủ hy vọng sẽ phổ biến chế phẩm do ông chế tạo để giúp nông dân trồng dó bầu tạo trầm. (VnExpress 28/9) đầu trang(
Hơn 1.000 người đã tham gia trồng 5.000 cây xanh tại AEON Bình Dương Canary (TX.Thuận An) vào sáng 28-9.
Tới dự ngày hội trồng cây có ông Võ Văn Minh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và đại diện một số sở, ban ngành. Chương trình “Cánh rừng quê hương” này là một trong những hoạt động thường lệ của AEON, được tổ chức trước khi khai trương một trung tâm mua sắm mới thay cho lời chào đầu tiên đến với người dân địa phương.
Chương trình khởi nguồn từ JUSCO Malacca (Malaysia) vào năm 1991, đến nay AEON trồng được tổng cộng hơn 1 triệu cây trên toàn châu Á.
AEON là một trong những tập đoàn thương mại bán lẻ lớn nhất trên thế giới, với 179 liên doanh trong và ngoài nước Nhật Bản, có lịch sử hình thành và phát triển 250 năm. Công ty TNHH AEON Việt Nam được thành lập tháng 10-2011 và đã khai trương chi nhánh AEON Tân Phú Celadon (TP.HCM) vào tháng 1-2014.
Dự kiến, AEON Bình Dương Canary sẽ được khai trương vào tháng 11-2014. (Báo Bình Dương 28/9) đầu trang(
Nhằm tạo sân chơi lành mạnh, rèn luyện sức khỏe và cũng là cơ hội để các thành viên trong Đội trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng phòng hộ được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, Hội thi đã tuyển chọn 16 thành viên nòng cốt thuộc Đội trồng rừng của xã Trung Bình tham gia.
Thực hiện văn kiện Dự án phát triển trồng rừng ngập mặn ven biển tỉnh Sóc Trăng được ký kết giữa TW Hội Chữ thập đỏ VN và Cty Premier Oil – Vương quốc Anh. Tại khu du lịch Mỏ Ó, xã Trung Bình - huyện Trần Đề, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng phối hợp UBND huyện tổ chức hội thi “Lướt mông trồng rừng ngập mặn ven biển”.
Nhằm tạo sân chơi lành mạnh, rèn luyện sức khỏe và cũng là cơ hội để các thành viên trong Đội trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng phòng hộ được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, Hội thi đã tuyển chọn 16 thành viên nòng cốt thuộc Đội trồng rừng của xã Trung Bình tham gia.
Lướt mông là phương tiện di chuyển nhanh chóng, thuận tiện của bà con vùng biển. Theo đó mỗi VĐV sẽ lướt mông trồng rừng với khoảng cách từ điểm xuất phát đến đích dài 200 mét. Vòng 1 có 4 đợt thi loại trực tiếp, mỗi đợt có 4 người thi với nhau. Sau đó chọn ra 8 người thắng cuộc vào vòng 2 và tiếp tục loại trực tiếp để chọn ra người thắng cuộc vào vòng chung kết.
Ông Lâm Văn Bé, PCT UBND huyện Trần Đề cho biết: “Tổ chức lễ đua mông lần này để các thành viên thấy công tác di chuyển, quản lý kiểm tra trong đội trồng rừng được dễ dàng hơn”.
Trải qua 3 vòng thi đầy hào hứng, Ban tổ chức đã trao giải nhất cho anh Lâm Văn Khang, giải nhì thuộc về anh Lê văn Bảy và giải ba là anh Thạch Cải đều thuộc Đội trồng rừng xã Trung Bình và trao 5 giải khuyến khích cho các thành viên khác.
Hội thi đã thành công tốt đẹp, đây là hình thức tuyên truyền, tác động đến người dân về ý thức giữ gìn, bảo vệ rừng ngập mặn một cách hiệu quả nhất. (Đài PTTH Sóc Trăng 29/9) đầu trang(
Bên cạnh việc thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, thời gian qua, Hạt Kiểm lâm huyện Thạch Thành còn tích cực giúp người dân phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới (XDNTM).
Thực hiện XDNTM do Chi cục Kiểm lâm tỉnh phát động, Hạt Kiểm lâm huyện Thạch Thành đã chọn 8 thôn trong huyện, xác định, lựa chọn tiêu chí XDNTM phù hợp với tình hình địa phương; tham mưu cho chính quyền địa phương tuyên truyền đến cộng đồng dân cư hiểu rõ ý nghĩa của phong trào chung sức XDNTM.
Ngoài ra, hạt đã tham mưu cho UBND 18 xã có rừng xây dựng phương án giữ vững ổn định an ninh rừng và quản lý chặt chẽ nguồn lâm sản; thành lập 132 tổ tuyên truyền, 170 tổ đội quần chúng, 18 trung đội dân quân tự vệ bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng cấp thôn, với gần 2.000 người tham gia; quản lý tập trung tại cộng đồng thôn, bản 36 cưa xăng, 31 cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, 77 hộ gây nuôi động vật hoang dã; triển khai mô hình quản lý gỗ làm nhà ở xã Thạch Lâm...
Với sự chung tay, góp sức của Hạt Kiểm lâm Thạch Thành, 8 thôn kiểm lâm tham gia XDNTM đã đạt bình quân 15/19 tiêu chí. (Báo Thanh Hóa 27/9) đầu trang(
Những năm gần đây, phong trào nuôi ong lấy mật ở xã vùng cao Núa Ngam, huyện Ðiện Biên có bước phát triển mạnh mẽ góp phần tạo thu nhập ổn định, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn, đồng thời trực tiếp góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương.
Là xã vùng ngoài của huyện Ðiện Biên với năm dân tộc anh em cùng sinh sống: Thái, Lào, Mông, Khơ Mú và Kinh, xã Núa Ngam có diện tích đất đồi rừng và vườn cây ăn quả khá lớn. Chủ động khai thác điều kiện thuận lợi đó, nhiều hộ nông dân trong xã đã mạnh dạn đầu tư phát triển nghề nuôi ong lấy mật.
Từ chỗ lúc đầu chỉ một vài hộ dân chăn nuôi tự phát nhỏ lẻ, sản phẩm chỉ để phục vụ nhu cầu của gia đình, đến nay Núa Ngam đã có hàng chục hộ tham gia nuôi ong mật, trong đó nhiều hộ nuôi với quy mô lớn từ 200 đến 300 đàn.
Ðánh giá hiệu quả của mô hình nuôi ong lấy mật của nhân dân trong xã, Chủ tịch UBND xã Núa Ngam Nguyễn Văn Ðóa cho biết, toàn xã hiện có hơn 3.880 ha rừng trồng cùng hàng trăm ha vườn đồi, mô hình nuôi ong đã tạo cơ sở để địa phương khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng đồng thời tăng thu nhập cho người dân trong xã.
Hiện nay, toàn xã Núa Ngam đã có hơn 2.000 đàn ong mật. Ðảng bộ, chính quyền xã đã có định hướng nhân rộng mô hình nuôi ong lấy mật bởi so với các nghề nông khác thì nghề nuôi ong trên địa bàn đang cho thu nhập trội hơn hẳn.
Theo ông Lương Ðức Thắng ở bản Pá Ngam 2, người có nhiều năm kinh nghiệm nuôi ong ở Núa Ngam thì việc nuôi ong lấy mật không đòi hỏi đầu tư nhiều về thời gian, công sức và diện tích đất mà hiệu quả kinh tế thu được lại khá cao. Trong một năm, người nuôi ong chỉ mất nửa năm đầu tư thức ăn vào thời điểm cây cối không có hoa hoặc ít hoa; thời gian còn lại, ong sẽ tự tìm thức ăn từ thiên nhiên và làm mật.
Nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, mỗi năm, người nuôi ong có thể được thu mật thành ba vụ trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12 đến hết tháng 5. Ở những khu vực có nhiều thức ăn tự nhiên như Núa Ngam, trung bình mỗi đàn ong cho thu hoạch khoảng 50 kg mật/năm.
Với giá mật ong hiện nay là 60.000 đồng/kg thì việc một hộ gia đình có thu nhập từ 70 đến 80 triệu đồng sau khi đã trừ chi phí các loại không phải là quá khó. Hiện hằng năm, gia đình ông Thắng đều thu nhập hơn 100 triệu đồng từ 120 đàn ong nuôi trong vườn nhà.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, nghề nuôi ong lấy mật ở xã vùng cao Núa Ngam hiện nay còn đang góp phần bảo đảm ổn định sinh thái, bảo vệ môi trường thiên nhiên. Một trong những yêu cầu thiết yếu đặt ra với các hộ nuôi ong đó là phải thường xuyên bảo đảm nguồn thức ăn tự nhiên cho đàn ong.
Vì vậy, cùng với việc phát triển hệ thống vườn cây ăn quả, các hộ nông dân trên địa bàn xã đã quan tâm bảo vệ, chăm sóc và phát triển diện tích rừng trồng để bổ sung nguồn thức ăn tự nhiên cho đàn ong.
Trên cơ sở nguồn vốn hỗ trợ của các dự án trồng rừng, phí trồng rừng của Nhà nước và nhằm tạo điều kiện để phát triển nghề nuôi ong bền vững, Núa Ngam đã không ngừng tăng diện tích rừng trồng với các loại cây chủ yếu là keo tai tượng, keo lai... góp phần giúp tăng tỷ lệ che phủ rừng của xã. Theo đó, đến năm 2014, tỷ lệ che phủ rừng ở Núa Ngam đã đạt hơn 42% so với 40,5% năm 2011.
Nhận thấy lợi ích từ việc nuôi ong, nhiều hộ gia đình ở Núa Ngam đã mạnh dạn đầu tư phát triển đàn ong, qua đó nhân rộng mô hình nuôi ong trong toàn xã. Nếu như những năm trước, chỉ được một số ít hộ ở các bản Phú Ngam, Pá Ngam 2 tham gia nuôi ong thì đến nay đã được nhân rộng trên nhiều bản khác trong xã như các bản Hợp Thành, Tân Ngam, Na Sang 2...
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên đến nay hoạt động nuôi ong ở Núa Ngam cơ bản vẫn chỉ dừng lại ở tự phát, quy mô chủ yếu là nhỏ lẻ. Thực tế cho thấy, nghề nuôi ong cũng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi các loại dịch bệnh và thời tiết. Trong khi đó, các hộ nuôi ong ở Núa Ngam hiện nay chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm tự tích lũy được qua quá trình nuôi, việc bồi dưỡng kiến thức kỹ thuật về nuôi ong mật của ngành nông nghiệp tuy có nhưng chưa thường xuyên và hiệu quả chưa cao.
Mong mỏi chung của những người nuôi ong ở Núa Ngam là sớm được tham gia các lớp bồi dưỡng về kỹ thuật nuôi ong; kỹ thuật phòng và điều trị các bệnh thường gặp ở đàn ong. Nên chăng, các cơ quan chức năng mà trực tiếp là Trạm khuyến nông - khuyến ngư huyện Ðiện Biên cần có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng và nhân rộng những kinh nghiệm về nuôi ong lấy mật trên địa bàn gắn với những tiến bộ kỹ thuật để người dân thật sự yên tâm phát triển đàn ong.
Ðồng thời, rút kinh nghiệm việc phát triển ồ ạt một số sản phẩm nông nghiệp trong thời gian qua, để tránh nguy cơ "cung vượt quá cầu", chính quyền địa phương nên chủ động nghiên cứu "đầu ra" cũng như xây dựng thương hiệu cho sản phẩm mật ong Núa Ngam, có như vậy thì nghề nuôi ong lấy mật mới thật sự là hướng thoát nghèo bền vững của đồng bào các dân tộc nơi đây.
Nuôi ong mật thời gian qua đã và đang là một trong những hình thức phát triển kinh tế theo hướng chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, nâng cao hiệu quả kinh tế ở Núa Ngam. Bên cạnh sự mạnh dạn đầu tư của người dân, sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền và cơ quan chức năng địa phương sẽ là cơ sở để các mô hình nuôi ong được tiếp tục nhân rộng, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, thúc đẩy công tác xóa đói, giảm nghèo ở xã vùng cao Núa Ngam. (Nhân Dân 30/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo tờ The Mirror, những hành khách có mặt trên tàu lượn siêu tốc “The Ultimate” tại công viên Lightwater Valley Theme ở Ripon, miền Bắc Yorshire, Vương quốc Anh đã cảm thấy vô cùng bất ngờ và sợ hãi khi một con nai chạy ngang qua đường ray.
Chú nai dại dột trên đã vấp vào một phần đường ray và bị mắc kẹt. Đúng lúc đó, đoàn tàu lượn đi tới và đâm trúng vào con nai.
Theo những nhân chứng có mặt trên đoàn tàu lượn, con nai xấu số đã bị đứt đầu. Trong khi đó, những hành khách có mặt trên tàu đều an toàn.
Phát ngôn viên của Lightwater Valley Theme cho biết: "Chúng tôi xác nhận việc một con nai đã không may bị đoàn tàu đâm chết. Chúng tôi đã bố trí một hàng rào lớn xung quanh đoàn tàu lượn nhưng đôi khi một số con vật đã lạc vào công viên buổi đêm. Sau khi xảy ra sự việc chúng tôi đã tạm ngừng trong 30 phút để kiểm tra và sau đó tàu lượn đã hoạt động trở lại bình thường". (VietnamPlus 30/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||