|
Ngày 01 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Sau sự cố người dân đốt rừng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đường dây 500KV ngày 20/9 tại xã hải Sơn, huyện Hải Lăng, hôm 30.9 UBND tỉnh Quảng Trị đã phát đi công văn gửi các ban ngành và địa phương liên quan tăng cường quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy nổ, đảm bảo an toàn lưới điện. (Thanh Niên 1/10, tr2) đầu trang(
30-9, tòa phúc thẩm TAND tỉnh tuyên hủy án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra xét xử lại các bị cáo vụ “ăn chặn trầm kỳ” của người dân tại huyện Khánh Sơn.
Trong vụ án "ăn chặn trầm kỳ", có năm bị cáo đã bị tòa sơ thẩm TAND huyện Khánh Sơn tuyên phạt các mức án từ 3 năm đến 10 năm tù giam vào tháng 6-2014. Trong đó, có bốn bị cáo đều là nguyên cán bộ, sĩ quan Công an huyện Khánh Sơn và Công an tỉnh Khánh Hòa.
Phiên tòa phúc thẩm mở từ ngày 29-9, xét xử hai bị cáo đã có đơn kháng cáo án sơ thẩm là Nguyễn Thành Trung (46 tuổi, nguyên thượng tá trưởng Công an huyện Khánh Sơn, nguyên phó trưởng trại tạm giam của Công an tỉnh Khánh Hòa) và Luân Văn Nam (29 tuổi, ở thị trấn Tô Hạp, Khánh Sơn). (Tuổi Trẻ 1/10; Tiền Phong 1/10) đầu trang(
Tại Bình Phước, một số doanh nghiệp đang "làm quy trình" để lấy đi 512 ha rừng tự nhiên ở Tiểu khu 379. Đây vốn là khu rừng đang được những cựu chiến binh trông coi, bảo tồn từ nhiều năm nay.
Gần đây nhất, tháng 8/2014, Hội Di sản Văn hóa Việt Nam đã có Quyết định công nhận Tiểu khu 379 là nơi có nhiều cây di sản quý, cần được bảo tồn và gìn giữ. Tuy nhiên, theo Quyết định thu hồi 512 ha rừng tại đây, tỉnh Bình Phước lại dựa vào đề án của Doanh nghiệp cao su Bình Phước xác định Tiểu khu 379 là khu vực rừng nghèo và có thể chuyển đổi sang trồng cao su.
Không chỉ tại Bình Phước, hàng ngàn ha rừng tự nhiên tại Tiểu khu 389, huyện Bảo Lộc, Lâm Đồng đã được chuyển đổi thành rừng sản xuất để trồng cao su. Chỉ riêng trên địa bàn xã Lộc Bảo, huyện bảo Lộc có 19 doanh nghiệp được cấp phép chuyển đổi 5.000ha rừng tự nhiên thành rừng sản xuất. Đến thời điểm này 3.000ha đã cơ bản chuyển đổi xong.
Theo Đại diện UBND tỉnh Lâm Đồng, việc đánh giá rừng tại xã Lộc Bảo là nghèo kiệt là đúng quy trình và được phép chuyển đổi. Nhưng ở địa phương lại không nghĩ như vậy. Ông Chủ tịch xã Lộc Bảo không thể hiểu tại sao người ta lại gọi rừng trên địa bàn xã là rừng nghèo kiệt.
Theo Viện Quản lý rừng bền vững, nhiều người đang lợi dụng việc xây dựng quy trình thẩm định, phân loại rừng để đạt được mục đích riêng.
Đất rừng tự nhiên muốn được chuyển đổi sang rừng sản xuất để trồng các loại cây khác phải trải qua các quy trình khắt khe: Rừng phòng hộ/rừng tự nhiên/rừng già ---> Rừng sản xuất ---> Rừng sản xuất nghèo kiệt ---> Trồng cây khác.
Mỗi công đoạn phải do cơ quan chuyên trách điều tra, rà soát. Cơ quan cao nhất thường xuyên được giao trọng trách này là Viện Điều tra quy hoạch rừng. Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững, quy trình này tưởng chừng như được quy định chặt chẽ nhưng lại dễ dàng được hợp thức hóa.
Và như vậy, hàng ngàn ha rừng đã bị phá đi đúng quy trình. Trong khi đó, những cánh rừng bị phá vì mục đích gì thì chỉ có những người tự tay làm mới có thể biết rõ. Người dân có thể sống được nhờ rừng hay không? Hay chỉ có các doanh nghiệp là sống được nhờ rừng? (VTV 30/9) đầu trang(
Dẫn PV đi thăm những đồi keo ở xã Sơn Nga mới trồng vụ xuân năm nay nhưng đã cao quá đầu người, ông Nguyễn Văn Viễn - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Cẩm Khê phấn khởi nói: “Những đồi cây này năm trước còn là bạch đàn chồi hiệu quả kinh tế rất thấp nay đã được thay bằng keo. Cây keo hợp với đất đai nơi đây nên lớn rất nhanh. Cùng với trồng rừng, người dân đã biết tự bảo vệ diện tích rừng của gia đình và của khu, xã. Nhận thức của người dân nơi đây về trồng và bảo vệ rừng đã thay đổi đáng kể”.
Ông Hoàng Du - Phó Chủ tịch UBND xã Sơn Nga cho biết thêm: “Xã có 132ha đất lâm nghiệp. Cách đây 5 năm về trước diện tích này chủ yếu là cọ làm bạc màu đất mà hiệu quả kinh tế thấp. Hoặc một số hộ trồng rừng hỗn giao, chủ yếu là bạch đàn chồi, dăm, bảy năm mới khai thác do không được trồng, đầu tư chăm sóc đúng kỹ thuật nên năng suất rừng trồng chỉ đạt 30-40m3/ha.
Bây giờ thì đã khác, người dân đã bỏ diện tích bạch đàn chồi kém hiệu quả để thay bằng giống keo hạt ngoại, cộng với chăm sóc, bón phân đúng kỹ thuật theo hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm nên cây lớn nhanh lắm. Xã cũng đã có nghị quyết của Đảng bộ về phát triển kinh tế đồi rừng, vận động nhân dân thay thế cây cọ, bạch đàn chồi bằng cây keo.
Thấy cây keo lớn nhanh, cải tạo đất tốt, nhiều hộ mạnh dạn đầu tư trồng rừng với diện tích vài ha. Cùng với phát triển rừng, ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng lên rõ rệt, không còn hiện tượng phá rừng trái phép, cháy rừng đã giảm hẳn”.
Qua tìm hiểu được biết, không riêng Sai Nga, các xã có rừng trên địa bàn huyện Cẩm Khê có bước chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển và bảo vệ rừng do có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước từ việc giao đất giao rừng đến các dự án 327, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng và dự án bảo vệ và phát triển rừng.
Đến nay, trên địa bàn huyện đã có hơn 6.300ha rừng, trong đó thực hiện Dự án bảo vệ và phát triển rừng đã trồng mới được gần 1.000ha. Các tiến bộ KHKT được áp dụng, cơ cấu cây trồng được lựa chọn hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng và nhu cầu của thị trường. Đời sống của người làm rừng từng bước được cải thiện và nâng cao.
Trong những năm qua, bảo vệ và phát triển rừng đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đóng góp vào sự phát triển chung của huyện. Nhiều địa phương đã dần hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với chế biến; năng suất, chất lượng và độ che phủ rừng không ngừng được tăng cao đã đóng góp tích cực trong phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, cải thiện và nâng cao đời sống của người dân.
Do đó, huyện đã xác định phát triển lâm nghiệp là một trong 5 chương trình kinh tế nông nghiệp trong điểm của huyện. Cùng với việc chú trọng hướng dẫn kỹ thuật cho người dân về trồng rừng lực lượng kiểm lâm làm tốt công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn để phát triển kinh tế đồi rừng bền vững.
Hạt kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ rừng, PCCCR, kiện toàn BCH các vấn đề cấp bách trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR, củng cố kiện toàn các tổ, đội PCCCR ở các địa phương có rừng. Đặc biệt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng đã được chú trọng qua các buổi tuyên truyền cho dân quân tự vệ, học sinh, các chủ rừng, trên hệ thống đài truyền thanh.
Do làm tốt công tác tuyên truyền và thực hiện các chương trình dự án đã mang lại nhiều lợi ích, nhiều gia đình đã cải thiện kinh tế từ rừng nên nhận thức của người dân về rừng đã được nâng cao, đã có ý thức hơn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Phú Thọ 30/9) đầu trang(
29/9, tại huyện Sơn Động, Ban chỉ đạo diễn tập tỉnh tổ chức diễn tập thực binh phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2014. Dự và chỉ đạo diễn tập có: Thiếu tướng Trần Hữu Hoàng- Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu I, Phó chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái.
Buổi diễn tập thực binh thực địa được tổ chức tại xã Vĩnh Khương. Nhiều tình huống giả định được đưa ra để các lực lượng tham gia phòng cháy, chữa cháy. Trong đó có tình huống đầu tiên là phát hiện đám cháy, thông báo báo động, huy động tổ bảo vệ rừng, nhân dân thôn Đặng xã Vĩnh Khương tham gia chữa cháy rừng.
Với lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng được chuẩn bị, huấn luyện theo phương châm 4 tại chỗ, phương án đã được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, chất lượng. Các lực lượng xung kíchđược huy động tại chỗ đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, tham gia phòng cháy, chữa cháy đạt kết quả cao.
Cùng với tình huống này, nhiều tình huống được đưa ra trong lúc cấp bách như: huy động sự phối hợp củacác lực lượng tham gia chữa cháy từng, cấp cứu chuyển thương người bị nạn ra khu vực an toàn sơ cứu điều trị.. Các tình huống đã được các lực lượng hiệp đồng, phối hợp giữa nhân dân 3 xã Vĩnh Khương, An Lập, Vân Sơn thực hiện xử trí kịp thời.
Với việc đưa ra các tình huống giả định và phương án sát với thực tế đã cho thấy sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng của Ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách về bảo vệ rừng và phóng cháy, chữa cháy rừng huyện Sơn Động. Thông qua đó, nâng cao trách nhiệm, nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương, các chủ rừng và nhân dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cũng như bào vệ rừng.
Bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm đặt ra đối với riêng chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng. Thực tế cho thấy, việc bảo vệ rừng cần thiết phải có vai trò quan trọng của cả xã hội, của chủ rừng và nhân dân địa phương. Huyện Sơn Động có 160 nghìn héc ra diện tích rừng tự nhiên, hơn 85 nghìn diện tích rừng trồng. Công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong những năm qua tuy đã được quan tâm nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn.
Cụ thể như thiếu sự phối hợp giữ các lực lượng, nhân dân các địa phương; nhận thức của cấp ủy, chính quyền địa phương, nhân dân ở một số địa phương có rừng còn hạn chế. Chính vì vậy, cần thiết phải tổ chức diễn tập thực binh nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm chung và đánh giá khả năng phối hợp giữa các lực lượng trên địa bàn. Qua đó, nâng cao vai trò của cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành đoàn thể trong phương pháp điều hành, chỉ đạo thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Mỗi năm trên thế giới xảy ra hàng nghìn vụ cháy rừng gây thiệt hại về người, tài sản, làm hủy hoại môi trường sống. Tại Việt Nam cũng đã từng xảy ra nhiều vụ cháy rừng nghiêm trọng nhiều ngày mới dập tắt được, để lại hậu quả lớn. Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm nào cũng xảy ra cháy rừng. Việc bảo vệ sự sống, mầu xanh cho những cánh rừng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, môi trường sống hiện nay.
Đây là thực tế đòi hỏi cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành, đoàn thể, chủ rừng và nhân dân cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm để bảo vệ rừng, thực hiện phòng cháy, chữa cháy rừng hiệu quả nhằm hạn chế tới mức thấp nhấp thiệt hại, ảnh hưởng gây ra bởi cháy rừng. (Đài PTTH Bắc Giang 29/9) đầu trang(
29/9, Trường chính trị tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Chi cục kiểm lâm, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh khai mạc lớp bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý và bảo vệ rừng cho trên 100 cán bộ, công chức kiểm lâm địa bàn các huyện, phó ban lâm nghiệp các xã trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian 5 ngày từ 29/9-03/10, các học viên sẽ được trang bị những nội dung liên quan đến: Đa dạng sinh học của rừng, phòng chống chặt phá rừng, phương pháp lập hồ sơ ban đầu để xử lý vi phạm hành chính, nghiệp vụ phòng chống cháy rừng và giao khoán, cho thuê rừng, kiểm kê rừng.
Thông qua lớp học lần này sẽ giúp các học viên nắm vững những kiến thức cơ bản liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng, từ đó thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ tại các cơ quan đơn vị. (Đài PTTH Lâm Đồng 30/9) đầu trang(
30/9, Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng tỉnh diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn năm 2014 tại huyện Lập Thạch.
Dự buổi diễn tập có ông Lê Duy Thành, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chỉ đạo diễn tập tỉnh; đại diện lãnh đạo Quân khu II; lãnh đạo các sở, ban, ngành và UBND huyện Lập Thạch.
Cuộc diễn tập gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn I, tổ chức ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn; giai đoạn II, triển khai thực hành chữa cháy theo các tình huống giả định.
Theo đúng phương án, kế hoạch diễn tập, các đơn vị, lực lượng thực hành xử lý theo 3 nội dung diễn tập thực binh: Vào hồi 9.30 phút ngày 30/9/2014, xảy ra cháy rừng phòng hộ thuộc khu vực rừng Mom Giang, thôn Nghệ Oản, xã Ngọc Mỹ, ban đầu cháy nhỏ ở diện tích 1ha, độ cao trên 100m, sau đó cháy vừa ở diện tích 5-7ha, độ cao 100-150m và cháy lớn, diện tích 7-10ha, độ cao 100-150m.
Do phương tiện chữa cháy tại chỗ còn thô sơ, nguồn nước chữa cháy ở xa, thời tiết hanh khô, gió mùa thổi mạnh, mặt khác, lớp thảm thực bì quá dày nên đám cháy lan rộng, khả năng lực lượng tại chỗ của xã và nhân dân địa phương không dập tắt được, đám cháy có nguy cơ lan rộng sang các khu vực khác, có thể gây hậu quả thiệt hại lớn.
Chủ tịch UBND xã Ngọc Mỹ đã báo cáo tình hình với UBND huyện Lập Thạch. Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ rừng huyện đã triệu tập cuộc họp khẩn cấp để thống nhất phương án xử lý tình huống. Với quyết tâm cao, bằng các phương tiện thiết bị chữa cháy, sự phối hợp nhịp nhàng của các lực lượng, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn, người bị nạn được cấp cứu kịp thời.
Phương án diễn tập đã hoàn thành yêu cầu đặt ra, các lực lượng tham gia đảm bảo an toàn về người và tài sản, đặc biệt nâng cao sự phối hợp trong công tác chỉ huy, tác chiến phòng cháy, chữa cháy rừng.
Phát biểu rút kinh nghiệm buổi diễn tập, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Duy Thành biểu dương các lực lượng đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng đạt kết quả tốt. Trong diễn tập xử trí các tình huống thực binh đã thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của chủ rừng, lực lượng tại chỗ, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp.
Ông đề nghị, các cơ quan, đơn vị, địa phương tham gia diễn tập từng bước hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương; tăng cường vai trò tham mưu của cơ quan quân sự, công an và các ban, ngành, đoàn thể trong thực hành xử lý tình huống cháy rừng trên địa bàn; nâng cao khả năng phối hợp hiệp đồng giữa các lực lượng khi có tình huống cháy rừng xảy ra; kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch phòng cháy chữa cháy, bảo vệ rừng cho phù hợp với tình hình thực tế; tổ chức tuyên truyền sâu rộng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng cho các chủ rừng và người dân địa phương.
Thông qua diễn tập, mỗi cơ quan, đơn vị kịp thời rút kinh nghiệm, hoàn thiện các văn bản, kế hoạch, các phương án xử trí. Khi có tình huống xảy ra, cấp ủy, chính quyền địa phương phải chủ động, kịp thời tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo huy động lực lượng, phương tiện nhanh chóng dập tắt đám cháy, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Kết thúc diễn tập, UBND tỉnh đã tặng Bằng khen cho 7 tập thể và 18 cá nhân có thành tích xuất sắc. (Vinhphuc.gov.vn 30/9) đầu trang(
Mới đây, tại hội trường Vườn Quốc gia Côn Đảo đã diễn ra Hội nghị triển khai công tác phối hợp giữa Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Côn đảo với Ban Chỉ huy Quân sự huyện trong công tác bảo vệ rừng.
Tham dự hội nghị có các đại diện lãnh Huyện ủy, Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Côn Đảo, Ban CHQS huyện, Công an huyện cùng các đồng chí là khu đội trưởng, các khu đội Dân quân Tự vệ, các cán bộ Hạt kiểm lâm của Vườn Quốc gia và Ban điều hành 10 Khu dân cư trên địa bàn.
Việc thực hiện kế hoạch phối hợp giữa 2 đơn vị nhằm tăng cường mối quan hệ trong công tác, đảm bảo sự phối hợp giữa lực lượng Dân quân, Tự vệ trên địa bàn huyện với lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia trong các hoạt động liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCR trên địa bàn huyện.
Kế hoạch phối hợp quy định rõ các vấn đề như: Mục đích yêu cầu của việc phối hợp; nội dung phối hợp công tác; trách nhiệm phối hợp của 2 đơn vị và tổ chức thực hiện. Theo đó, Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Côn Đảo có trách nhiệm phối hợp với Ban CHQS huyện tổ chức tập huấn tuyên truyền cho các đối tượng trên địa bàn; phối hợp với lực lượng dân quân tự vệ thực hiện việc truy bắt và xử lý vi phạm, tổ chức tuần tra, kiểm tra việc bảo vệ rừng và PCCR theo định kỳ, đột xuất; xây dựng phương án, kế hoạch luyện tập, diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng.
Ban CHQS huyện có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị DQTV tham gia tập huấn, huấn luyện về bảo vệ rừng, PCCCR; huy động các đơn vị trực thuộc, phương tiện để ứng cứu, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra, khắc phục hậu quả cháy rừng theo lệnh huy động của UBND huyện hoặc đề nghị của Hạt kiểm lâm; chỉ đạo các đơn vị cấp dưới phối hợp xác minh một số vụ vi phạm pháp luật trong quản lý, bảo vệ rừng để xử lý vi phạm theo quy định.
Cuối mỗi quý sẽ tiến hành họp giao ban định kỳ giữa 2 đơn vị để đánh giá tình hình, kết quả thực hiện công tác phối hợp nhằm kịp thời chấn chỉnh, tháo gỡ những vướng mắc, đồng thời xác định những khu vực trọng điểm, các nội dung công việc cần tập trung thực hiện trong quý tiếp theo. (Cổng Thông Tin Điện Tử Côn Đảo 29/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại phiên họp báo Văn phòng Chính phủ diễn ra chiều 30.9, Bộ trưởng Nguyễn Văn Nên đã trả lời nhiều câu hỏi liên quan đến một số vấn đề “nóng” được dư luận quan âm.
Về vụ trùm xã hội đen Minh “Sâm” ở Bắc Ninh, ông Nên cho biết: “Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có công văn chỉ đạo UBND tỉnh Bắc Ninh báo cáo tình hình thực hiện vụ án này. Đến giờ này chúng tôi đã nhận được báo cáo. Qua xem xét sơ bộ, Phó thủ tướng chỉ đạo chặt chẽ vụ án này”. (Thanh Niên 1/10, tr4) đầu trang(
Theo báo cáo của tỉnh Nghệ An, tổng nguồn thu huy động được từ các đơn vị trực tiếp sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ năm 2011 đến hết tháng 7/2014 được trên 107,1 tỷ đồng (lũy kế).
Trong đó nguồn thu từ các nhà máy thủy điện được trên 99,87 tỷ đồng. Thế nhưng, theo đánh giá của Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng TƯ thì Nghệ An là một trong số những địa phương đang phó thác hoàn toàn cho tư vấn triển khai nhiệm vụ thực hiện rà soát chủ rừng, nên thời hạn kéo dài và chất lượng xác định diện tích rừng đến chủ rừng chưa cao.
Nghệ An cũng là tỉnh có lượng tiền DVMTR thu được trong các năm trước đó chưa có đối tượng chi và còn lúng túng trong việc xác định đối tượng chi, tổ chức hệ thống chi trả và lựa chọn phương thức chi trả (trả trực tiếp đến từng chủ rừng, trả thông qua nhóm hộ, hoặc trả cho cộng đồng...).
Đó là lý do giải thích vì sao cho đến nay, nguồn chi trả DVMTR lũy kế trong 3 năm qua (tính đến tháng 7/2014) hiện mới dừng lại ở hình thức chi tạm ứng được 25,4% với gần 28,66 tỷ đồng (bằng 50 - 70% đơn giá tạm tính) cho 4 chủ rừng là tổ chức (gồm Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn, Tương Dương, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt và Tổng đội TNXP 8 Kỳ Sơn).
Trong đó 3 đơn vị được chi ứng 70% và 1 đơn vị được chi ứng 50% theo đơn giá tạm tính. Số chủ rừng do địa phương quản lý và trực tiếp giao khoán 100% chưa được chi ứng dù chỉ một đồng (!?)
Rõ ràng hoạt động thu chi ở Quỹ BV&PTR Nghệ An vẫn chưa "xuôi chèo, mát mái". Một số câu hỏi được đặt ra là nguyên nhân vì sao số tiền trên lại chưa đến tay người dân?
Tại sao trong quá trình thực hiện rà soát lưu vực các công trình thủy điện, đơn vị tư vấn lại không tiến hành rà soát, lập hồ sơ và thống kê luôn danh sách các chủ rừng, nhất là các chủ rừng thuộc diện rừng sản xuất do các địa phương quản lý để giúp họ có đủ hồ sơ giải ngân như mong muốn?
Giải thích lý do của những bất cập trong thu chi nói trên, ông Nguyễn Khắc Lâm, GĐ Quỹ BV&PTR Nghệ An cho biết: "Trong thời gian qua, chúng tôi đã tổ chức 33 đoàn, nhóm công tác đi kiểm tra, theo dõi, giám sát các chủ rừng thực hiện công tác chi trả, giao khoán BVR của các chủ rừng trên địa bàn 3 huyện Tương Dương, Kỳ Sơn và Quế Phong.
Thế nhưng việc giải ngân nguồn quỹ này vẫn gặp khó khăn. Lý do chính là nhiều diện tích được lập hồ sơ giao khoán BVR trước đây với thực tế được giao khoán đang có sự sai khác; công tác nghiệm thu ở cơ sở vẫn còn sai sót, nên chưa đánh giá sát đúng với thực tế hiện trạng rừng được giao...".
Ông Nguyễn Tiến Lâm, Phó GĐ Sở NN-PTNT Nghệ An kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ BV&PTR của tỉnh cho rằng: "Sở dĩ có tình trạng trên là do công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện chính sách mới này của các cấp chính quyền huyện, xã chưa quyết liệt; công tác rà soát, xác định ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng đến từng chủ rừng, chủ quản lý vẫn chưa được làm đến nơi, đến chốn khiến quỹ chưa đủ căn cứ để chi trả số tiền còn lại cho các chủ rừng và các hộ gia đình nhận khoán BVR...".
Ngoài ra, theo ông Nguyễn Tiến Lâm, việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng cho từng chủ rừng và việc giao khoán BVR đến từng chủ rừng trong các lưu vực cung ứng DVMTR hiện là một thách thức lớn phải tốn nhiều thời gian, công sức và cần nguồn kinh phí rất lớn.
Trong khi đó, ông Đinh Viết Hồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ BV&PTR lại cho rằng: "Việc còn tồn nguồn quỹ lớn chưa giải ngân được là do khâu rà soát, lập hồ sơ giao khoán để phê duyệt của Sở NN-PTNT và các địa phương trong tỉnh đang "có vấn đề", hiện mới đạt 30%".
Có 3 lý do dẫn đến tình trạng trên. Một là do chính sách này mới ra đời nên các hoạt động chuyên môn còn có nhiều lúng túng, chưa đáp ứng các yêu cầu thực tiễn đặt ra. Thứ hai là công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện của cơ quan thường trực còn chậm, chưa thật sự quyết liệt. Thứ ba là sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn giữa các sở, ban, ngành chưa tốt.
Chính vì ngành NN-PTNT vẫn chưa quan tâm đúng mức vấn đề rà soát, xác định ranh giới và hiện trạng giao khoán rừng cho từng chủ rừng khiến kết quả hồ sơ đủ điều kiện giải ngân đạt quá thấp.
Bởi vậy, UBND tỉnh Nghệ An đang yêu cầu Sở NN-PTNT phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho cán bộ và nhân dân hiểu được trách nhiệm của mình trong việc BVR, đồng thời chỉ đạo các địa phương làm sớm và hoàn chỉnh hồ sơ, thống kê chính xác danh sách các chủ rừng đã được địa phương giao khoán đến hộ để Quỹ BV&PTR của tỉnh có cơ sở chi trả tiền DVMTR đúng và đảm bảo quy định của Nhà nước đến từng hộ nhận khoán rừng... (Nông Nghiệp Việt Nam 30/9) đầu trang(
Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Phú Quốc (Kiên Giang) vừa tiến hành kiểm tra sai phạm theo đơn tố cáo của công dân liên quan đến cán bộ, đảng viên. Nội dung kiểm tra xoay quanh việc đất rừng ở Phú Quốc bị phù phép thành đất cá nhân để chiếm tiền ngân sách...
Trước đó, ông Nguyễn Văn Be (xã Cửa Cạn) có đơn tố cáo Hội đồng xét duyệt (gọi tắt HĐXD) của xã này và ông Huỳnh Văn Son - Phó phòng TNMT huyện Phú Quốc - đã có hành vi cấu kết với nhau hợp thức hóa đất rừng để lấy nhiều tỉ đồng của nhà nước.
Cụ thể, đất đứng tên ông Thái Văn Phương diện tích 10.986,4m2 tại ấp 4 (xã Cửa Cạn), thực tế chỉ có khoảng 3.000m2 trồng 20 cây đào, 35 cây tràm. HĐXD đã ghi khống gần 1.000 cây xà cừ để ông Phương nhận được tổng cộng 1,63 tỉ đồng tiền bồi thường.
Trường hợp khác, bà Phạm Thị Mỹ Phương đứng tên 9.000m2 ấp 4 là đất rừng thuộc Vườn Quốc gia Phú Quốc quản lý, đã có quyết định thu hồi sau thanh tra của UBND huyện Phú Quốc năm 2004. Thế nhưng bằng cách cho người khác đứng tên, đối tượng đã được nhận tiền bồi thường hàng trăm triệu đồng.
Việc khai khống, lấn chiếm đất rừng tại xã Cửa Cạn vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Mới đây tại tổ 6 (ấp 4) người dân đã phát hiện và tố cáo với phóng viên vụ việc 3.000m2 đất rừng bị chặt phá.
Nhân chứng Đào Văn Dân (một người dân địa phương) cho biết: “Chính tôi là người được thiếu tá Nguyễn Hữu Đức - công tác tại Đồn biên phòng tiểu khu 55 - thuê chặt phá khu rừng nói trên giá 3 triệu đồng. Khi đang cùng một số người khác nữa tham gia chặt phá rừng thì cán bộ kiểm lâm đến hỏi ai cho phép chặt phá rừng? Tôi trả lời ông Đức ở biên phòng thuê phát dọn. Nhóm cán bộ to nhỏ, điện thoại cho ai đó một lúc rồi bỏ đi, không lập biên bản gì hết”.
Kết quả kiểm tra thực địa cho thấy khu vực bị chặt phá hoàn toàn là rừng tự nhiên, chủ yếu là cây tràm. Không có bất kỳ một loại cây trồng nào khác để chứng minh rằng “có thành quả lao động”.
Một cán bộ ở Hạt Kiểm lâm Phú Quốc (xin giấu tên) thừa nhận khu đất đất rừng bị chặt phá trước đây thuộc Vườn quốc gia Phú Quốc, sau đó chuyển cho UBND xã Cửa Cạn quản lý, hiện nằm trong dự án du lịch của Cty SASCO Phú Quốc. Nếu vụ việc không bị ngăn chặn, ông Đức sẽ được nhận bồi thường số tiền trên 1,6 tỉ đồng.
Ngoài những dấu hiệu vi phạm đang được làm rõ tại xã Cửa Cạn, Thanh tra Nhà nước tỉnh Kiên Giang đã có kết luận sai phạm trong việc quản lý thu, chi tài chính tại Trung tâm Phát triển quỹ đất (TTPTQĐ) huyện Phú Quốc. Cụ thể, đơn vị này tham mưu cho UBND huyện Phú Quốc ban hành 486 quyết định chi trả bồi thường, hỗ trợ “quên” ghi ngày, tháng, năm chi trả. UBND huyện Phú Quốc còn tùy tiện cho một số nhà đầu tư mượn tiền hơn 27 tỉ đồng từ TTPTQĐ.
Cơ quan thanh tra đối chiếu tại các ngân hàng cho thấy, TTPTQĐ Phú Quốc đã “quên” 47 tài khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và 15 tài khoản không kỳ hạn. Chỉ tính riêng số tiền lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn phát sinh từ ngày 1.1.2011 đến ngày 5.9.2013 đã lên tới trên 31 tỉ đồng.
TTPTQĐ Phú Quốc còn sai phạm trong việc lập biểu mẫu quyết toán không đúng quy định, không hạch toán tài khoản, không có báo cáo tài chính, không có bảng cân đối kế toán, không trích lập quỹ dự phòng cải cách tiền lương, các khoản thu gửi tại ngân hàng và lãi phát sinh đơn vị này không báo cáo quyết với cơ quan tài chính.
TTPTQĐ còn chi sai nguyên tắc tài chính kế toán, sai tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước số tiền trên 3,21 tỉ đồng. Với những sai phạm nêu trên, Thanh tra tỉnh Kiên Giang kiến nghị thu hồi nộp ngân sách trên 33,95 tỉ đồng và thu hồi trả lại cho TTPTQĐ Phú Quốc trên 5,2 tỉ đồng. (Lao Động 1/10) đầu trang(
Quản lý rừng cộng đồng tại Quảng Bình là hình thức cộng đồng dân cư được giao quyền sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng để quản lý, bảo vệ và sử dụng lâu dài. Ðiều đó góp phần tăng độ che phủ của rừng và tạo ra nguồn thu nhập để bảo đảm đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sống trong khu vực rừng.
Quảng Bình có tổng diện tích rừng và đất rừng khá lớn (621.056 ha) chiếm 77% diện tích tự nhiên và đứng đầu cả nước về độ che phủ rừng. Ðể bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, những năm qua bên cạnh các hình thức truyền thống, tỉnh Quảng Bình đẩy mạnh việc giao rừng cho cộng đồng.
Bản Cổ Tràng thuộc xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, có 67 hộ với 280 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Từ bao đời nay, bà con sống chủ yếu dựa vào rừng, chặt, đốt, cốt, trỉa. Mặc dù một số hộ đã biết trồng lúa nước và phát triển kinh tế nhưng về cơ bản đời sống của người dân vẫn rất khó khăn.
Ðược sự hỗ trợ của Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, bà con ở bản Cổ Tràng được UBND huyện Quảng Ninh cấp gần 210 ha rừng tự nhiên có trữ lượng gần 33 nghìn m3 gỗ để quản lý, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng. Bản Cổ Tràng thành lập ban quản lý rừng cộng đồng gồm bảy thành viên do trưởng bản làm trưởng ban, có nhiệm vụ cùng với các đoàn thể tuyên truyền, vận động dân bản không chặt phá rừng trái phép.
Số tiền bảo vệ rừng 200 nghìn đồng/ha (hỗ trợ trong sáu năm liền) được dự án gửi vào một tài khoản ngân hàng để ban quản lý rừng cộng đồng bản chi trả cho hoạt động bảo vệ rừng. Mỗi chuyến tuần tra rừng, mỗi thành viên được trả 100-200 nghìn đồng.
Anh Hồ Văn Giáo nói: "Ðược Nhà nước giao rừng cộng đồng, dân bản phấn khởi lắm. Bà con Vân Kiều chúng tôi vận động nhau không phá rừng làm nương rẫy và không cho người lạ vào rừng khai thác bừa bãi... Cứ mỗi tháng tham gia tuần tra bảo vệ rừng, mình được trả lương gần hai triệu đồng để mua lương thực, thực phẩm cho gia đình".
Sau hai năm giao rừng cho cộng đồng bản Cổ Tràng, khu vực rừng này không xảy ra nạn khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép như trước. Chủ tịch UBND xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ cho biết: "Việc giao rừng theo mô hình cộng đồng cho bản Cổ Tràng giúp cho người dân trong bản có kế sinh nhai lâu dài. Mặt khác, dân bản quản lý rừng ngay tại nơi mình cư trú nên rất dễ phát hiện lâm tặc cùng với chính quyền địa phương và kiểm lâm địa bàn tạo thành ba lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả".
Bí thư chi bộ bản Phú Minh kiêm Phó trưởng ban bảo vệ rừng của bản Ðinh Tiến Hùng nói: "Bà con ở bản Phú Minh, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa được giao quản lý, bảo vệ 804 ha rừng khu vực đèo Ðá Ðẽo. Khu rừng này có nhiều gỗ quý nên lâm tặc hay đến khai thác. Có lần, tôi cùng các thành viên trong ban bảo vệ rừng đi tuần tra thì phát hiện một nhóm lâm tặc đang chặt gỗ. Số lượng lâm tặc khá đông, thái độ hung hăng nên tôi gọi thêm dân bản và chính quyền địa phương đến ngăn chặn. Nhờ cách giải thích "mềm dẻo", có lý có tình nên nhóm lâm tặc phải rút lui. Từ đó, không còn đối tượng nào ngoài bản vào rừng cộng đồng của chúng tôi phá nữa".
Giám đốc Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng Nguyễn Trung Thực cho biết, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa UBND tỉnh Quảng Bình và Ngân hàng Tái thiết Ðức (KFW), từ năm 2012 đến 2017, Quảng Bình giao khoảng 12 nghìn ha rừng ở khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho cộng đồng dân cư tại 13 xã. Từ năm 2012 đến nay đã giao hơn 5.200 ha rừng cho cộng đồng dân cư ở các huyện Minh Hóa, Bố Trạch và Quảng Ninh. Phấn đấu đến năm 2015, tỉnh Quảng Bình giao hết toàn bộ diện tích rừng mà tỉnh đã ký cam kết cho cộng đồng quản lý, bảo vệ.
Cùng với nguồn thu nhập hằng tháng từ công việc bảo vệ rừng, người dân tại các thôn, bản nhận quản lý, bảo vệ rừng được khai thác gỗ và các loại lâm sản khác dùng vào mục đích làm nhà và các vật dụng gia đình, với sự đồng ý của Ban quản lý và phải khai thác đúng kỹ thuật, không được ảnh hưởng đến những cây chung quanh. Về lâu dài, cộng đồng được giao rừng có quyền lợi được tận dụng và hưởng lợi nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng, nuôi động vật rừng, thu phí từ hoạt động tham quan du lịch, dịch vụ nghiên cứu khoa học...
Theo ông Nguyễn Trung Thực, thành công lớn nhất qua hai năm giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý là nhận thức về vấn đề bảo vệ rừng của người dân được nâng lên.
Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là đời sống của người dân ở những khu vực được giao rừng còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, khả năng sử dụng nguồn tài chính để duy trì đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng chưa cao.
Mặt khác, năng lực quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng không dễ tạo lập ngay được mà phải có thời gian, do vậy việc hỗ trợ, giám sát thường xuyên của chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm là rất cần thiết. (Nhân Dân 1/10) đầu trang(
Mới đây, Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II – tỉnh Cà Mau đã tổ chức lớp tập huấn phổ biến tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật mới về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho 45 cán bộ đang công tác tại các Ban Quản lý rừng, Hạt Kiểm lâm và một số xã có rừng trên địa bàn tỉnh.
Đơn vị tư vấn của Chương trình UN-REDD đã triển khai và hướng dẫn thực hiện một số văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Phương pháp tổ chức, phối hợp thực thi pháp luật lâm nghiệp và một số hình thức tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đối với hộ dân cư vùng rừng.
Lớp tập huấn sẽ giúp cho những người trực tiếp làm công tác quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở và lãnh đạo UBND các xã có rừng trên địa bàn tỉnh nâng cao nhận thức về pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ rừng, để từ đó vận dụng những văn bản trên vào công tác chỉ đạo, xử lý vi phạm có hiệu quả, tránh sai sót.
Qua đó, còn biết cách thức truyền đạt và tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân sống trong và ven rừng hiểu và chấp hành tốt pháp luật về bảo vệ rừng, nhằm chung tay bảo vệ và duy trì tốt màu xanh của những cánh rừng trong tỉnh. (Đài PTTH Cà Mau 27/9) đầu trang(
Theo Đại biểu Quốc hội Danh Út (Đoàn ĐBQH tỉnh Kiên Giang), đất nông, lâm nghiệp là nguồn lực quốc gia, nhưng công tác quản lý, sử dụng đất đai này còn nhiều tồn tại.
Hiện cả nước có 653 nông, lâm trường quản lý hơn 7,670 triệu ha đất, chiếm 1/4 đất đai cả nước. Nhưng đến nay mới có 52,84% đất lâm trường được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi cả nước cấp đạt 83,2%.
Do đó, ông Út chất vấn Bộ trưởng Bộ TNMT Nguyễn Minh Quang về lý do tại sao đất nông, lâm trường lại có tỷ lệ được cấp chứng nhận thấp như vậy? Hơn nữa, ông Út còn đặt vấn đề, liệu có phải đất lâm trường chủ yếu nằm trên sổ sách là chính còn thực tế đã bị chiếm dụng?
Bộ trưởng TNMT Nguyễn Minh Quang cho rằng, về những tồn tại sau sắp xếp nông, lâm trường, Bộ biết chứ không phải không biết. Nhưng trách nhiệm của Bộ, chỉ là ở phần chậm trễ trong kiểm tra hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận... Tức là Bộ chưa thực sự quan tâm, quyết tâm cùng địa phương giải quyết việc này. Bộ trưởng Quang hứa sang năm 2015, Bộ TNMT sẽ quyết liệt giải quyết vấn đề này.
Về nguyên nhân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các nông, lâm trường còn thấp, ông Quang chỉ ra có mấy vấn đề: Thứ nhất, ranh giới chưa rõ ràng giữa nông, lâm trường với các tổ chức sử dụng đất khác chưa rõ ràng. Thứ hai, kinh phí để chuyển sang thuê đất của các nông, lâm trường rất khó khăn. (VOV 29/9) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT Kiên Giang, trong 1 năm qua (từ 9/2013 - 9/2014), trên địa bàn tỉnh đã có 203,1 ha rừng được chuyển đổi sang mục đích khác.
Cụ thể, đã có 196,8 ha rừng sản xuất được chuyển thành đất sản xuất nông nghiệp; 4,31 ha rừng phòng hộ chuyển sang du lịch và sân golf; chuyển đổi 2 ha rừng phòng hộ vì mục đích an ninh, quốc phòng.
Theo quy định, sau khi chuyển đổi đất rừng sang mục đích khác, đơn vị sử dụng và địa phương phải có trách nhiệm trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có đơn vị nào trên địa bàn tỉnh thực hiện.
Việc trồng rừng thay thế diện tích được chuyển đổi sang mục đích khác đã được UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo thực hiện từ giữa năm 2014, nhưng phải qua năm 2015 Sở NN-PTNT mới triển khai thực hiện được vì phải chờ chuẩn bị cây giống, khảo sát địa điểm trồng… (Nông Nghiệp Việt Nam 1/10) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ phí môi trường rừng, trong năm 2013, trên 9.000 lượt hộ gia đình ở huyện vùng cao Mù Cang Chải đã được nhận hơn 23 tỷ đồng từ tiền phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Chính sách này không chỉ góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội về giá trị phòng hộ của rừng mà còn cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng.
Mù Cang Chải là huyện đặc biệt khó khăn của tỉnh, có diện tích rừng nằm trên lưu vực sông Đà, sông Hồng và nhiều suối nhỏ khác. Do vậy, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ gìn nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất của nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái và có tiềm năng lớn về thủy điện. Chính sách chi trả DVMTR là chính sách mới cả về hình thức, quy mô, phương pháp chi trả, đối tượng thụ hưởng.
Xác định những khó khăn phát sinh trong giai đoạn đầu thực hiện chính sách, UBND huyện Mù Cang Chải chỉ đạo các chủ rừng, các ban, ngành có liên quan xem xét, nghiên cứu các nghị định, quy định hướng dẫn của Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND tỉnh, Quỹ Bảo vệ phát triển rừng của tỉnh.
Để chính sách DVMTR đi vào cuộc sống, các ban quản lý rừng trên địa bàn huyện đã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức hội nghị tuyên truyền về chính sách trả tiền DVMTR tại tất cả các xã, thị trấn và 115 bản tham gia nhận khoán bảo vệ rừng.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào nguyên tắc, hình thức chi trả DVMTR; tuyên truyền về trách nhiệm của hộ nhận khoán bảo vệ rừng; đồng thời tuyên truyền cho nhân dân hiểu về diện tích rừng của từng bản, nhóm hộ được chi trả tiền DVMTR, đơn giá được chi trả cho một hecta rừng của từng lưu vực.
Để bảo đảm việc chi trả DVMTR rừng đúng đối tượng, huyện, các ban quản lý rừng trên địa bàn đã điều tra xác định chi tiết diện tích rừng trong lưu vực có cung cấp DVMTR, số hộ và nhóm hộ được chi trả tiền DVMTR.
Qua rà soát năm 2013, toàn huyện có trên 62.036ha rừng được chi trả phí môi trường rừng, trong đó: diện tích rừng đặc dụng là 20.015ha, diện tích rừng phòng hộ là 38.837ha, còn lại là diện tích rừng sản xuất. Năm 2013, tổng số tiền chi trả DVMTR được Quỹ Bảo vệ phát triển rừng cấp trên 23 tỷ đồng. Toàn huyện có 9.543 lượt hộ gia đình được thụ hưởng chính sách.
Ông Lý Páo Chua, bản Tủa Mả Pán xã Khao Mang cho biết: “Cả bản có 70 hộ dân, năm 2013 được nhận trên 120 triệu đồng tiền DVMTR nên đồng bào phấn khởi lắm. Số tiền này đã giúp cho gia đình tôi cũng như các hộ khác trong bản vượt qua những khó khăn, có thêm vốn để phát triển sản xuất, giảm nghèo. Để diện tích rừng mà xã, bản nhận giao khoán luôn phát triển tốt, tôi và các hộ dân trong bản thường xuyên đi kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn những trường hợp xâm hại rừng. Đặc biệt, vào mùa khô, xã, bản bố trí lực lượng đi kiểm tra rừng nhiều hơn, quyết không để tình trạng cháy rừng diễn ra trên diện tích bản nhận bảo vệ”.
Theo ông Vàng A Lử - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mù Cang Chải: “Ban Quản lý Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải quản lý 20.108ha rừng đặc dụng, tính riêng năm 2013, được nhận trên 9,4 tỷ đồng tiền DVMTR. Đây là nguồn thu nhập đáng kể, cải thiện một phần đời sống của người dân, góp phần nâng cao nhận thức của người dân về giá trị to lớn của rừng, khuyến khích người dân phát triển nghề rừng. Nhờ đó, việc tuyên truyền bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn sẽ có nhiều thuận lợi hơn. Bà con có thêm thu nhập từ rừng nên chắc chắn sẽ giữ rừng tốt hơn”.
Với phương châm “lấy rừng để nuôi rừng”, chính sách chi trả DVMTR đang là bước ngoặt quan trọng đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về vai trò của rừng đối với con người. Chính sách không chỉ nâng cao nhận thức về giá trị phòng hộ của rừng mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập, góp phần tích cực ổn định đời sống của người làm nghề rừng. (Báo Yên Bái 30/9) đầu trang(
30/9, Đoàn Giám sát của HĐND tỉnh do ông Đinh Khắc Hiếu – Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn đã có buổi giám sát tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh từ năm 2012 – 2013.
Trong 2 năm qua, công tác quản lý bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR bước đầu đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối hợp với Sở Công thương tổ chức rà soát các đối tượng sử dụng DVMTR trên địa bàn tỉnh; đàm phán và ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đối với các nhà máy thủy điện: Hòa Bình, Sơn La, Nậm Lùng, Nậm Cát, Chu Va 12, Nậm Mở và Bản Chát.
Công tác tuần tra bảo vệ rừng đã được thực hiện 1 cách thường xuyên và liên tục, nhiều bản đã xây dựng được hương ước, quy ước bảo vệ rừng. Ban Quản lý Rừng phòng hộ các huyện, Hạt Kiểm lâm thành phố đã sử dụng một phần kinh phí quản lý để chi cho các đội xung kích; chi hoạt động chữa cháy rừng, mua sắm các dụng cụ: dao phát, quần áo bảo hộ, giầy, tất... phục vụ công tác tuần tra, bảo vệ rừng.
Tại những nơi có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao đã chủ động làm đường băng cản lửa (với tổng diện tích 408,9 ha tương đương với 300km) trước mùa khô để phòng cháy rừng và lập 26 chốt gác tại những nơi có nguy cơ cháy cao.
Bên cạnh đó, thông qua công tác hỗ trợ cây giống trồng rừng từ nguồn chi phí quản lý của Qũy Bảo vệ và Phát triển rừng, năm 2013 trồng mới được hơn 34ha, dự kiến năm 2014 trồng trên 400ha tại huyện Tân Uyên, Tam Đường. Từ đó, góp phần tăng độ che phủ rừng năm 2013 lên 43,82%.
Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh bước đầu đã làm thay đổi nhận thức của người dân về rừng, đồng thời nâng cao thu nhập của các chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng đã được nâng lên, đời sống của đại bộ phận Nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng tăng từ 2,1 triệu đồng/hộ/năm (năm 2012) lên 2,4 triệu đồng/hộ/năm (năm 2013).
Tại buổi giám sát, các thành viên của Đoàn đã thực hiện kiểm tra và nghe giải trình của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; một số ban, ngành liên quan về một số văn bản, kế hoạch, dự toán thu chi; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; sự phối hợp của các sở, ban, ngành, các cấp chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện chính sách; danh sách rà soát, thống kê của các chủ rừng...
Kết luận tại buổi giám sát, ông Đinh Khắc Hiếu - Ủy viên Thường trực HĐND tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong 2 năm 2012 - 2013. Đồng thời, đề nghị Sở khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong quá trình triển khai chính sách; tiếp thu và tổng hợp các ý kiến, kiến nghị để trình lên cấp trên.
Trong 8 ngày tới (từ 1 – 8/10), Đoàn sẽ giám sát thực tế tại 2 huyện Mường Tè và Sìn Hồ.
Năm 2013, tổng diện tích rừng trên địa bàn toàn tỉnh được hưởng chính sách chi trả DVMTR là 424.053,31 ha. Với 10 đơn vị tổ chức nhà nước (không phải là chủ rừng nhưng được giao trách nhiệm quản lý rừng), 9 doanh nghiệp và 189 hộ gia đình cá nhân có diện tích rừng quản lý. Tổng số hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tăng từ 54.145 hộ (năm 2012) lên 57.277 hộ (năm 2013). (Báo Lai Châu 30/9) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, đến hết năm 2013, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR) tỉnh đã chi trả nguồn vốn ủy thác của Quỹ BVPTR Việt Nam đối với lưu vực của 2 nhà máy thủy điện: Tuyên Quang, Chiêm Hóa cho 33 xã của 3 huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm.
Kết quả, đã chi trả hơn 7,4 tỷ đồng cho các chủ rừng, đạt 61,5% kế hoạch. Trong đó, chi hơn 3 tỷ đồng cho 4.611 hộ gia đình; hơn 1,5 tỷ đồng cho 439 nhóm hộ; hơn 2,5 tỷ đồng cho 268 cộng đồng xóm.
Đến nay, 100% hộ có rừng tại 33 xã của 3 huyện: Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm là chủ rừng đã đăng ký cam kết bảo vệ rừng với Quỹ BVPTR tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang hướng dẫn các chủ rừng là tổ chức và các tổ chức không phải là chủ rừng (UBND xã) xây dựng phương án quản lý, bảo vệ rừng để thẩm định, làm cơ sở thực hiện công tác chi trả năm 2014. (Báo Cao Bằng 30/9) đầu trang(
Lúc 1 giờ ngày 30.9, lực lượng tuần tra thuộc Trạm CSGT Hải Lăng (Phòng CSGT, Công an tỉnh Quảng Trị) phát hiện đoàn xe 3 chiếc chở gỗ quá tải đang di chuyển trên QL1 theo hướng nam - bắc, liền mời về trụ sở.
Qua kiểm tra cho thấy cả 3 xe đều chở vượt hơn 3 lần tải trọng cho phép. Cụ thể, xe đầu kéo BKS 82C-019.85 kéo theo rơ moóc BKS 82R-000.67 chở vượt 81/23 tấn. Xe đầu kéo BKS 81M-3590 kéo theo rơ moóc BKS 81R-000.10 chở vượt 77/23 tấn. Xe đầu kéo BKS 82C-007.99 kéo theo rơ moóc BKS 82R-000.34 chở vượt 88/24 tấn.
Phía Trạm CSGT Hải Lăng cho hay đơn vị đã lập biên bản xử phạt cả lái xe lẫn chủ xe, đồng thời bắt buộc nhà xe phải hạ tải đúng quy định thì mới cho tiếp tục lưu thông.
Đáng nói, theo lộ trình, 3 chiếc xe này di chuyển từ Kon Tum ra Hải Phòng và trước khi bị Trạm CSGT Hải Lăng “thổi còi”, 3 xe đã đi qua nhiều tỉnh thành nhưng không hề bị cơ quan chức năng phát hiện. (Thanh Niên 1/10) đầu trang(
UBND tỉnh có Công văn số 6950/UBND-NNMT gửi UBND huyện Krông Năng và Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng phối hợp với UBND huyện Krông Năng và các đơn vị liên quan tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp thuộc lâm phần của đơn vị quản lý; UBND huyện Krông Năng chỉ đạo Hạt kiểm lâm, các phòng, ban chức năng của huyện và UBND các xã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện.
Đồng thời tiến hành kiểm tra, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đã thực hiện việc hỗ trợ các hộ dân trồng cà phê trên diện tích đất quy hoạch cho mục tiêu lâm nghiệp theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Công văn số 1419/SNNNT-CCLN ngày 10/9/2014, báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh trước ngày 10/10/2014. (Cổng thông Tin Điện Tử Đắc Lắc 30/9) đầu trang(
Qua khảo sát sơ bộ, trên địa bàn tỉnh hiện có hàng trăm cơ sở thu mua, chế biến gỗ. Bình quân, 1 xưởng làm ván bóc mỗi tháng thu mua, chế biến trên 300 m3 gỗ. Mỗi tháng, các cơ sở trên thu mua, chế biến trên dưới 3.000 m3 gỗ, tương đương khoảng 550- 600 ha rừng trồng.
Trên thực tế, trồng 1 ha rừng phải mất ít nhất 6 năm trở lên mới cho thu hoạch (nếu trồng cây Keo). Cứ đà sản xuất gỗ từ nguyên liệu rừng trồng như thế này thì mỗi năm chúng ta đã khai thác ít nhất là 30.000 ha rừng trồng. Vài năm sản xuất như vậy thì lấy đâu ra rừng để khai thác.
Năng lực trồng rừng hiện nay là hết sức yếu kém. Tại sao vậy? Theo con số báo cáo của Sở NN & PTNT cho biết: Kế hoạch trồng rừng sản xuất năm 2014 được Sở NN & PTNT đề ra là 1.580 ha. Trong 6 tháng đầu năm mới trồng được 991,5 ha, đạt trên 63% kế hoạch giao. Còn thực tiễn công tác trồng rừng tại một số huyện trọng điểm như: Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên... trong 6 tháng đầu năm còn rất nhiều hạn chế.
Cụ thể: Tại Bắc Quang qua 6 tháng mới trồng được 452,5 ha. Trong đó, 3 Công ty Lâm nghiệp đóng trên địa bàn trồng được 232,2 ha; Dự án Phát triển rừng trồng được 125 ha, các thành phần khác trồng 95,6 ha (kế hoạch trồng rừng năm 2014 huyện Bắc Quang đề ra là 1.000 ha).
Tại huyện Quang Bình, kế hoạch trồng rừng năm 2014 là 350 ha, trong đó có 50 ha trồng rừng phòng hộ, còn lại 300 ha là rừng sản xuất. Ở một số huyện khác như: Xín Mần, Hoàng Su Phì, trong nửa năm qua, công tác trồng rừng cũng còn nhiều hạn chế, chủ yếu là thời tiết khô hạn làm chậm tiến độ.
Tuy nhiên, theo những đánh giá gần đây là còn nhiều khó khăn trong công tác phát triển rừng, nhất là trồng rừng kinh tế. Nguyên nhân của những hạn chế thì có nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan. Trong đó nguyên nhân quan trọng nhất chính là người trồng rừng "chưa sống được" từ rừng. Theo khảo sát mới đây cho thấy: Mỗi ha rừng trồng Keo phải chăm lo trông coi ít nhất từ 6 - 8 năm mới cho thu hoạch.
Và mỗi ha rừng trồng ngần ấy năm cũng chỉ thu được khoảng 35 - 40 triệu đồng. Tính bình quân mỗi năm trồng rừng người làm rừng mới thu được khoảng 5 triệu đồng/ha, không đủ đảm bảo cuộc sống. Trong khi đó, diện tích đất rừng được giao tới tay các hộ còn nhỏ hẹp, bình quân trên dưới 1 ha/hộ. Nguyên nhân trên đã phần nào làm chậm, làm giảm năng lực đầu tư trồng rừng trong suốt thời gian dài.
Một nguyên nhân nữa làm giảm khả năng phát triển rừng đó là việc quy hoạch chuyển đổi, phân loại rừng vì mục tiêu phát triển kinh tế còn nhiều điểm bất hợp lý. Tại các huyện: Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Bắc Mê... là những huyện có diện tích rừng, đất trồng rừng thuận lợi nhất, ưu đãi nhất lại chuyển trồng cây trồng khác khiến diện tích dành cho trồng rừng bị thu hẹp.
Còn lại là các huyện vùng cao phía Bắc, phía Tây thổ nhưỡng đất đai, khí hậu không thuận lợi cho trồng rừng. Từ công tác quy hoạch vùng phát triển đến kế hoạch phát triển trồng rừng làm chưa hợp lý. Thực tiễn đó đã dẫn đến hạn chế trong công tác chỉ đạo phát triển rừng yếu kém trong cả thời gian dài. Nếu đem con số khai thác, chế biến gỗ rừng trồng hiện nay so với khả năng trồng rừng trong 6 tháng qua, hay so với kế hoạch trồng rừng mà Sở NN & PTNT đưa ra cho cả năm 2014, thì rõ ràng quá bất cập.
Bất cập nữa cũng cần được đề cập đó là công tác quản lý, cấp phép khai thác và chế biến gỗ hiện nay chưa nhìn nhận vào thực tế diện tích rừng cần khai thác để trồng lại. Trồng rừng quá ít nhưng khai thác, chế biến thì quá nhiều, dẫn đến mất cân đối, làm giảm giá trị gia tăng của kinh tế rừng.
Hiện tượng giảm giá, cạnh tranh thiếu lành mạnh diễn ra không kiểm soát được. Điều đó, cũng đồng nghĩa với việc chúng ta không thể khuyến khích được người dân trồng rừng vì giá thu mua gỗ bấp bênh. Và hệ lụy của nó là lãng phí nguồn tài nguyên về đất đai, sức lao động, chưa phát huy được thế mạnh giàu tiềm năng như đã nêu trên.
Hơn lúc nào hết, đã đến lúc tỉnh cần phải xem xét lại toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế rừng cho hợp lý, hợp với thực tiễn hiện nay. Trong đó, phải quy hoạch lại vùng trồng rừng, kế hoạch lại việc trồng và cấp phép thu mua, sản xuất nghề rừng càng sớm càng tốt.
Nếu không được sớm quy hoạch lại thì hệ lụy của nó để lại cho nền kinh tế và công tác an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo và tác động xấu đến môi trường sống sẽ không hề nhỏ. (Báo Hà Giang 30/9) đầu trang(
Thời điểm hiện nay, người trồng rừng tại các địa phương trong tỉnh đang tất bật bước vào vụ trồng rừng Thu Đông 2014.
Theo Chi cục Lâm nghiệp thuộc Sở NN-PTNT, trong niên vụ trồng rừng năm nay, toàn tỉnh sẽ trồng mới 8.500 ha rừng tập trung, bao gồm, rừng phòng hộ, môi trường cảnh quan 1.240 ha; rừng ngập mặn 30 ha và rừng sản xuất 7.230 ha.
Đến giữa tháng 9, các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tổ chức gieo ươm được 120 triệu cây giống các loại, đáp ứng đủ nhu cầu cây giống phục vụ trồng rừng năm nay.
Năm nay, người trồng rừng trên địa bàn tỉnh có xu hướng sử dụng các giống lâm nghiệp chất lượng cao được sản xuất bằng phương pháp cấy mô, thay cho các giống cây được sản xuất bằng phương pháp giâm hom. Ưu điểm của cây giống cấy mô là sạch bệnh, cây sinh trưởng, phát triển nhanh, chu kỳ khai thác ngắn; cây ít bị đổ ngã khi gặp thời tiết bất lợi, hiệu quả kinh tế cao.
Bà Phan Thị Hạnh, Giám đốc DNTN Dịch vụ giống cây trồng Nguyên Hạnh, có cơ sở sản xuất giống tại xã Phước Thành (huyện Tuy Phước), cho biết: Qua thực tế sản xuất, các giống cây cấy mô có sức chống chịu trước gió bão tốt hơn các giống giâm hom nên được người trồng rừng lựa chọn nhiều dù giá chênh lệch khá nhiều. Thời điểm này, giá cây giống cấy mô cung cấp tại vườn ở mức 1.400 đồng/cây; cây giống giâm hom 600 đồng/cây.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, cho biết: Từ đầu tháng 9 đến nay, thời tiết thường xuyên có mưa vào buổi chiều và ban đêm, người dân trên địa bàn tỉnh đã tập trung xử lý thực bì, cuốc hố (đến nay đã được 5.000 ha/8.500 ha) để triển khai trồng rừng.
Chi cục đã phối hợp với các địa phương tiến hành hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật trồng rừng cho các hộ dân, nhất là các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh; đồng thời đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình tập trung trồng rừng từ đầu tháng 10 tới để đảm bảo đạt và vượt kế hoạch trồng 8.500 ha rừng trong vụ trồng rừng này.
Hiện tổng số đơn vị có đăng ký sản xuất kinh doanh cây giống trên địa bàn tỉnh là 106 đơn vị. Qua kiểm tra của ngành chức năng, vẫn còn một số hộ gia đình không đủ điều kiện vẫn tham gia sản xuất, kinh doanh cây giống lâm nghiệp và sử dụng nguồn giống không được công nhận để cung ứng cho người trồng rừng.
Nhằm chấn chỉnh tình trạng trên, từ đầu tháng 9 đến nay, Thanh tra Sở NN-PTNT, Chi cục Lâm nghiệp đã phối hợp với các địa phương tổ chức nhiều đợt thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp, qua đó yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định của Bộ NN-PTNT về quy trình sản xuất, đảm bảo chất lượng cây giống, đáp ứng nhu cầu trồng rừng của người dân trong tỉnh. (Nông Thôn Ngày Nay 1/10, tr10) đầu trang(
Với thế mạnh về đất lâm nghiệp, chương trình trồng rừng nguyên liệu và trồng rừng sản xuất ở huyện Chợ Mới đã được triển khai một cách đồng bộ và bài bản từ hơn 10 năm nay. Nghề trồng rừng đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, giúp người dân các địa phương trong huyện giảm nghèo bền vững.
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm phần lớn tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Chợ Mới, trong đó diện tích có rừng là 46.000ha, chiếm 30% diện tích đất tự nhiên. Mỗi năm, huyện trồng mới được trên 1.300ha và là một trong những địa phương dẫn đầu tỉnh về công tác trồng rừng.
80% người dân của huyện Chợ Mới sống bằng nghề sản xuất nông-lâm nghiệp, trong đó lâm nghiệp chiếm vị trí chủ lực. Xác định được lợi thế đó, trong những năm trở lại đây Đảng bộ, chính quyền Chợ Mới đã tập trung chỉ đạo quyết liệt đối với việc phát triển lâm nghiệp theo hướng trọng tâm, trọng điểm, có hiệu quả. Chính vì thế tổng diện tích rừng trồng mới ngày càng tăng đạt và vượt kế hoạch tỉnh giao, đưa lâm nghiệp chiếm vị trí vai trò chủ đạo, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế của huyện.
Đến nay, nhận thức của bà con nhân dân về nghề trồng rừng đã có chuyển biến tích cực. Mỗi vụ trồng rừng, đa số người dân đã chủ động đăng ký để được trồng rừng theo dự án. Tình trạng đăng ký rồi bỏ không trồng rừng rất ít xảy ra. Cùng với đó hệ thống pháp luật về quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ngày càng hoàn thiện phù hợp với thực tiễn, chế độ, chính sách lâm nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người trồng rừng.
Dưới sự chỉ đạo quyết liệt của UBND huyện, hiệu quả công tác quản lý rừng, nhất là quản lý quy hoạch, chuyển mục đích sử dụng rừng, giao đất, giao rừng, kiểm kê, thống kê rừng đã được nâng cao một bước. Một trong những yếu tố tác động rất lớn đến việc triển khai chương trình trồng rừng ở Chợ Mới đạt kết quả cao là do huyện đã tích cực đẩy nhanh tiến độ cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài đến các chủ rừng. Điều này giúp người dân thêm yên tâm bám đất, bám rừng.
Trong 3 năm triển khai thực hiện Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng, huyện Chợ Mới đã trồng mới được trên 4.000ha với diện tích tăng dần qua các năm (năm 2011 đạt trên 1.300ha; năm 2012 đạt gần 1.400ha; năm 2013; 2014 đạt trên 1.400ha). Để đảm bảo tiến độ đề ra, Ban Quản lý Dự án đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc bà con đẩy nhanh tiến độ trồng rừng đồng thời kiểm tra sát sao các khâu trồng rừng. Đến nay, toàn huyện đã có trên 1.300 hộ tham gia công tác trồng rừng theo Dự án. Bên cạnh đó, công tác trồng rừng của Lâm trường Quốc doanh cũng phát triển mạnh với khoảng trên 200ha mỗi năm.
Trên địa bàn huyện đã xuất hiện nhiều gương điển hình trong công tác trồng rừng, tiêu biểu như ông Nguyễn Đình Đồng ở thôn Nà Pẻn, xã Thanh Mai. Hơn 30 năm gắn bó với rừng, giờ đây ông sở hữu 40ha rừng trồng trong đó có gần 20ha cây mỡ, keo đã bước vào tuổi khai thác. Để phát triển nghề rừng, ông đã tự bỏ tiền mở đường lâm sinh để thuận tiện cho quá trình trồng, chăm sóc, khai thác và vận chuyển. Nhờ phát triển nghề rừng, gia đình ông Đồng đã có cuộc sống sung túc hơn.
Ông Bế Ngọc Hùng- Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ Mới cho biết: Nhằm đảm bảo thực hiện tốt chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với công tác trồng rừng, đồng thời duy trì nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhà máy chế biến lâm sản, huyện đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn của các chương trình, dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông - lâm nghiệp, đồng thời dành một khoản ngân sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng có giá trị kinh tế cao.
Tùy vào điều kiện tự nhiên từng vùng, huyện bố trí trồng các loại cây lâm nghiệp khác nhau như: Vùng các xã phía Đông trồng hồi, quế, keo; vùng phía Tây trồng cây mỡ, keo, lát; vùng Trung tâm trồng keo, mỡ, trúc. Dự kiến huyện trong năm 2015 phấn đấu tiếp tục trồng mới hơn 1.300ha rừng.
Đầu ra cho rừng trồng là điều kiện quan trọng để phát triển nghề rừng. Hiện nhu cầu nguyên liệu phục vụ cho dây chuyền chế biến gỗ của Công ty Cổ phần Sahabak đóng trên địa bàn huyện khoảng 230.000m3 gỗ, tương đương với giá trị 200 tỷ đồng/năm cho người trồng rừng. Bên cạnh đó còn có hàng chục cơ sở tư nhân tham gia vào thị trường thu mua gỗ để chế biến gỗ bóc, tập trung tại các xã, Thanh Mai, Nông Hạ, Như Cố.
Bà Bùi Thị Khuy Nhung- doanh nghiệp tư nhân Đạt Tiến, xã Nông Hạ cho biết: Sản phẩm gỗ bóc của các xưởng trên địa bàn hầu hết được các doanh nghiệp ngoài tỉnh đến thu mua. Ngoài cơ sở của bà Nhung, còn nhiều cơ sở chế biến trên địa bàn huyện đang hoạt động có hiệu quả như: Cơ sở ông Ma Văn Lợi (Quảng Chu); Phạm Văn Hoạt (Thôn Bản Quất, xã Như Cố); Bế Hà Báo (thôn Nà Làng, xã Yên Hân)…
Ưu điểm của nghề bóc gỗ là có thể tận dụng được mọi loại gỗ với nhiều kích thước khác nhau. Loại gỗ được lựa chọn để sản xuất chủ yếu là gỗ keo và mỡ, nhưng cây gỗ keo là thích hợp hơn cả. Trung bình, một dàn máy mỗi ngày cần khoảng 10m3 gỗ nguyên liệu để chế biến. Giá gỗ nguyên liệu hiện dao động từ 650.000 - 950.000 đồng/ 1m3 gỗ tròn; đối với loại gỗ bóc thành phẩm, giá xuất bán tại cơ sở là 1.850.000đồng/khối.
Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, huyện Chợ Mới đã xác định phải đảm bảo cả lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường sinh thái, trồng rừng, bảo vệ rừng đi đôi với khai thác sản phẩm từ rừng, tạo sản phẩm hàng hoá, tăng thu nhập cho người lao động.
Một trong những giải pháp quan trọng để công tác trồng rừng đạt kế hoạch hàng năm mà huyện chỉ đạo đó là: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân về vai trò, lợi ích và trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng; hoàn thiện cơ chế, bộ máy quản lý, bảo vệ rừng tận gốc, ổn định rừng đặc dụng, giữ vững diện tích rừng phòng hộ.
Tận dụng đất rừng nghèo kiệt triển khai trồng rừng mới để tăng nhanh diện tích rừng sản xuất, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc giao đất giao rừng ổn định và lâu dài cho tổ chức và cá nhân, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư kinh doanh rừng, làm giàu bằng nghề rừng. Gắn phát triển công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu ổn định lâu dài, thực hiện quy hoạch vùng cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn huyện.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học và kỹ thuật thâm canh tiên tiến trong sản xuất giống cây lâm nghiệp, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện quy trình kỹ thuật lâm nghiệp và các biện pháp lâm sinh hữu hiệu nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập, đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh nghề rừng. (Báo Bắc Kạn 29/9) đầu trang(
Với việc phát triển cao su ở Mô Rai, các doanh nghiệp đã tạo việc làm cho gần 4.000 lao động (trong đó có gần 1.500 lao động là người DTTS), đầu tư xây dựng 563,7 km đường giao thông, 73,4 km đường điện, 1.311 nhà ở cho công nhân, 27 nhà trẻ…
Đến với Mô Rai (huyện Sa Thầy) nhiều lần, nhưng mỗi lần đến trong tôi đều cảm nhận thêm nhiều điều mới mẻ khởi phát ở địa phương này. Bên kia là rừng cao su chạy dài tít tắp, xanh tốt ôm lấy làng công nhân; bên này là những tuyến đường mới mở, là nhà trẻ, là ngôi trường mái ngói đỏ tươi mới mọc lên giữa rừng cao su trong tiếng trẻ i a học vần. Biên giới hoang vu ngày nào, nay là một “thị tứ xanh” tràn đầy sức sống…
Có được sự đổi thay này là nhờ chủ trương sáng suốt của tỉnh trong việc chuyển đổi đất rừng nghèo sang trồng cao su và việc kêu gọi, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào Mô Rai phát triển cao su, xây dựng tiền đồn bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc.
Theo ông Nguyễn Hữu Hải- Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, thực hiện chủ trương phát triển 100.000 ha cao su vùng Tây Nguyên của Chính phủ, từ năm 2007 đến nay, UBND tỉnh đã cho triển khai thực hiện 56 dự án của 10 doanh nghiệp chuyển đổi 39.132,9 ha rừng nghèo và đất lâm nghiệp sang trồng cao su ở xã Mô Rai. Theo đó, các doanh nghiệp đã đi vào thực hiện dự án và trồng 27.456 ha cao su; dự kiến đến năm 2015 sẽ trồng hết diện tích đất đã chuyển đổi.
Báo cáo của các đơn vị trồng cao su và kết quả kiểm tra của các đoàn công tác Trung ương, khu vực đất trồng cao su trên địa bàn xã Mô Rai có độ cao khá lý tưởng (250-300m so với mặt nước biển), khí hậu nóng ẩm, số ngày nóng trên 200 ngày/năm, đất ferralit có tầng dày trên 1mét… là điều kiện rất phù hợp với viêc phát triển cây cao su. Đất mới, lòng người hòa hợp, cây cao su sinh trưởng tốt vượt các chỉ tiêu sinh trưởng theo quy định của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.
Trung tá Trần Đức Niên- Giám đốc Công ty TNHH MTV cao su 78 (Công ty TNHH MTV TCT 15) khẳng định, việc phát triển cao su ở Mô Rai khá lý tưởng và ít có nơi nào sánh bằng. Công ty có 3.000 ha cao su ở Mô Rai, trong đó có hơn 2.000 ha cao su đi vào kinh doanh cho năng suất mủ quy khô đạt bình quân 2,134 tấn/ha, cao nhất ở Tây Nguyên.
Năm 2013, mặc dù giá cao su xuống thấp, nhưng Công ty đã đạt doanh thu gần 120 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước trên 35 tỷ đồng và người lao động vẫn có thu nhập bình quân 6,41 triệu đồng/tháng. Không chỉ khẳng định được thương hiệu trên vùng đất khó, Công ty còn giúp chính quyền phương và người dân phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Điển hình, Công ty đã giúp người dân phát triển 68 ha cao su tiểu điền, hướng dẫn kỹ thuật trồng 28 ha lúa nước, giúp gần vạn ngày công để phát triển sản xuất, khắc phục thiên tai; trích 8 tỷ đồng ủng hộ quỹ từ thiện, nhân đạo do địa phương phát động, 32 tấn gạo cho quỹ “hũ gạo tình thương” cấp cho gia đình chính sách, hộ nghèo; điều trị gần 4.000 người dân đến khám và chữa bệnh tại Bệnh xá quân y. Điều đó khẳng định, việc phát triển kinh tế, xây dựng vùng chuyên canh cây cao su ở Mô Rai kết hợp củng cố quốc phòng là một chủ trương đúng đắn của tỉnh.
Với việc phát triển cao su ở Mô Rai, các doanh nghiệp đã tạo việc làm cho gần 4.000 lao động (trong đó có gần 1.500 lao động là người DTTS), đầu tư xây dựng 563,7 km đường giao thông, 73,4 km đường điện, 1.311 nhà ở cho công nhân, 27 nhà trẻ…Việc phát triển cây cao su đã góp phần sử dụng có hiệu quả quỹ đất hiện có, tạo việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân, hình thành vùng chuyên canh gắn với chế biến nguyên liệu, tạo ra hàng hóa có giá trị kinh tế cao, tăng nguồn thu cho ngân sách, thúc đẩy kinh tế-xã hội ở địa phương phát triển.
Trong chuyến giám sát mới đây, ông Trần Việt Hùng- Phó ban chỉ đạo Tây Nguyên đã đánh giá cao việc phát triển cây cao su ở xã Mô Rai và sự tham gia của doanh nghiệp trong việc góp phần chuyển đổi cây trồng, chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cho người dân địa phương. Bên cạnh đó cây cao su cùng với người lao động sẽ là hành lang góp phần tích cực trong bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền của tổ quốc.
Với việc chuyển đổi đất rừng nghèo kiệt sang trồng cao su, các doanh nghiệp đã khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, góp phần cùng với sự đầu tư của Nhà nước hình thành các điểm dân cư và tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thành lập huyện mới ở khu vực Nam Sa Thầy vào năm 2015 theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV đã đề ra. (Báo Kom Tum 29/9) đầu trang(
Hiện nay, cây thông đang được đánh giá là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao và khai thác bền vững. Khác với các loại cây khác, cây thông có thể cho thu hoạch liên tục và lâu dài vài chục năm đến gần 100 năm và phù hợp với thổ nhưỡng nhiều vùng trên địa bàn tỉnh.
Đặc biệt, giống thông bản địa Quảng Ninh có nhiều đặc tính ưu thế vượt trội về sức sống và cho lượng nhựa cao hơn 1,7 lần so với các giống thông khác. Đã từng có thời kỳ diện tích thông gần như phủ kín các cánh rừng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là khu vực miền Đông.
Tuy nhiên, từ hơn chục năm trở lại đây, khi phong trào trồng keo phát triển, người dân ồ ạt chuyển đổi cây thông sang cây keo để rút ngắn thời gian thu hoạch thì diện tích thông ngày càng giảm. Hiện nay, diện tích cây thông chỉ chiếm phần nhỏ trong cơ cấu cây lâm nghiệp của tỉnh, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Thực tế để tăng diện tích thông, tỉnh đã khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp trong diện phải trồng rừng thay thế do đã sử dụng đất rừng vào mục đích khác lựa chọn cây thông để trồng, tuy nhiên diện tích này không lớn. Tỉnh cũng vận động các đơn vị ngành Than trồng thông trên diện tích hoàn nguyên môi trường ở các lò thôi khai thác, bãi thải mỏ, song chất đất ở đây cho thấy không phù hợp với các loại cây trồng, trong đó có cây thông, dẫn đến cây thông sinh trưởng và phát triển chậm.
Theo ông Mạc Văn Xuyên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để nâng cao diện tích trồng cây thông thì chỉ có người dân và các doanh nghiệp lâm nghiệp là có tiềm năng nhất, nhưng cả hai chủ thể này đều gặp những khó khăn nhất định.
Chị Nguyễn Thị Khuyên, một chủ rừng ở xã Tràng Lương, huyện Đông Triều cho biết: Thường thời gian sinh trưởng của thông kéo dài từ 15-20 năm mới được thu hoạch. Cứ cho là sau 10 năm thì việc chăm sóc cây giảm đi, đầu tư giảm đi thì chúng tôi cũng không dám làm bởi trong suốt khoảng thời gian dài đó gia đình lấy nguồn thu ở đâu để trang trải cuộc sống, chăm sóc con cái. Bởi vậy nên chị Khuyên cũng như nhiều người dân khác mới lựa chọn trồng keo, vốn là loại cây có thể cho thu hoạch trong khoảng 7 năm, ngắn hơn cây thông từ 2-3 lần, mặc dù là mức thu không cao.
Đối với các công ty lâm nghiệp, mặc dù hiện nguồn thu chính của nhiều đơn vị là nhựa thông thế nhưng việc đầu tư cho trồng mới, nhân rộng diện tích thông của các đơn vị này thì lại chưa được quan tâm đúng mức. Trong nhiều năm qua, diện tích trồng mới cây thông của các doanh nghiệp lâm nghiệp rất nhỏ giọt, không tương xứng với quỹ đất hiện có và giá trị của cây thông mang lại.
Ngay như việc chăm sóc diện tích thông đã được Nhà nước trồng cách đây 5-10 năm trước theo dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (còn gọi là dự án 661) cũng còn khó khăn. Theo quy định đối với diện tích này, Nhà nước sẽ cấp kinh phí chăm sóc trong 4 năm đầu, đến khi nhựa thông được thu hoạch sẽ do những đơn vị được giao nhận rừng có trách nhiệm thực hiện.
Tuy nhiên, qua đợt khảo sát mới đây của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, rất nhiều diện tích thông non thuộc diện rừng trồng 661 đang bị các loại cây rừng khác lấn át, nhất là các loại cây bụi. Tình trạng này không chỉ hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây mà còn dễ xảy ra cháy rừng, làm thiệt hại hoàn toàn diện tích thông đã trồng. Một số doanh nghiệp cho rằng kinh phí cho việc chăm sóc, bảo vệ cây thông khá lớn trong khi nguồn lực của các doanh nghiệp có hạn. Tuy nhiên, đây là lý do chưa chính đáng bởi cây thông chính là lợi nhuận lâu dài, bền vững của doanh nghiệp.
Phải khẳng định cây thông đang mang lại giá trị kinh tế cao, nhất là trong xu thế nhựa thông trở thành thứ nguyên liệu cần thiết không thể thiếu trong nhiều hoạt động sản xuất công nghiệp, dược liệu… do đó nhu cầu thị trường sẽ ngày càng lớn. Bởi vậy, tỉnh và các đơn vị chức năng cần phải có những chính sách phù hợp để nhân rộng diện tích thông, nhất là hai đối tượng chủ thể là người dân và các doanh nghiệp.
Có thể khẳng định việc chuyển dịch cơ cấu cây rừng theo hướng những loại cây trồng lâu năm, bền vững là cần thiết và ai cũng nhận thấy rõ lợi ích. Thế nhưng với chu kỳ phát triển từ 15-25 năm mới được khai thác thì không phải người dân nào cũng thực hiện được. Bởi vậy, Nhà nước cần phải có một chính sách, sự hỗ trợ đủ mạnh, đủ thiết thực để tiếp sức cho người dân. (Báo Quảng Ninh 29/9) đầu trang(
Được sự tài trợ của Công ty TNHH sản xuất nguyên liệu giấy Việt Nhật, bước vào vụ trồng rừng năm 2014, Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung bộ hỗ trợ 45 vạn cây giống lâm nghiệp cho nông dân trên địa bàn toàn tỉnh, nâng tổng số cây giống được Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung bộ hỗ trợ trong 10 năm qua lên 3,5 triệu cây.
Số lượng cây giống lâm nghiệp này chủ yếu là cây keo lai để phục vụ cho việc trồng rừng kinh tế tạo ra rừng trồng có khả năng sinh khối nhanh, cho năng suất cao, góp phần tăng hiệu quả sản xuất.
Sự hỗ trợ này của Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp Bắc Trung bộ đã giúp cho người dân chủ động được một phần lượng giống phục vụ tốt công tác trồng rừng năm 2014. (Báo Quảng Trị 29/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) ngày 29/9 kêu gọi các nước và các tổ chức tài trợ quốc tế thành lập "Quỹ trồng đước toàn cầu" vì đây là loài cây đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học và có thể tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người dân.
UNEP kêu gọi thiết lập các chương trình quốc tế khuyến khích bảo tồn rừng và cây đước, bao gồm các cam kết cắt giảm lượng khí thải cácbon và tài trợ cho các dự án khuyến khích cộng đồng bảo tồn và phát triển loài cây này.
Theo đề xuất của UNEP, "Quỹ trồng đước toàn cầu" sẽ được sự tài trợ và đóng góp của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF), chính phủ các nước và Liên hợp quốc.
Ngoài ra, còn có các sáng kiến hỗ trợ về kinh tế khác giúp bảo tồn và khôi phục giống cây đước, như cung cấp việc làm, tạo cơ hội tăng thu nhập từ việc phát triển ngư nghiệp và canh tác tôm bền vững, phát triển các sản phẩm từ đước (gỗ ép, thuốc nhuộm và dược thảo), du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng.
Báo cáo của UNEP đã chỉ ra những lợi ích đặc biệt của loài cây đang dần biến mất này. Các hệ đước rậm rạp sinh sôi trong nước lợ không chỉ là nơi cư trú của rất nhiều loài sinh vật đang bị đe dọa mà còn là nguồn cung cấp hoa lợi trực tiếp hoặc gián tiếp. Không những thế, chúng còn đóng vai trò như tấm chắn bão và nước biển dâng bảo vệ bờ biển khỏi các đợt sóng mạnh.
Các nghiên cứu về thảm họa sóng thần xảy ra tại Nam Á cho thấy hàng nghìn người đã được cứu sống tại những nơi mà hệ đước vẫn còn được duy trì thay vì bị tàn phá để nuôi trồng hải sản và xây dựng khách sạn.
Tổng giám đốc điều hành UNEP Achim Steiner cho biết cứ một hécta đước sẽ tạo ra được lợi nhuận từ 33.000 đến 57.000 USD mỗi năm từ dịch vụ sinh thái, đồng thời nhấn mạnh khả năng hấp thu CO2 vượt trội của loài cây này.
Tuy nhiên, cũng theo UNEP, hiện hơn 1/4 diện tích đước đã biến mất, tốc độ tàn phá loài cây này đang diễn ra ở mức gấp ba lần tốc độ phá rừng, đồng nghĩa với sự gia tăng khí nhà kính như Methane và CO2 phát thải từ thảm thực vật và lớp trầm tích khi loại cây bị tàn phá bởi có tới khoảng 1/5 lượng thải CO2 từ các cánh rừng có nguồn gốc từ cây đước.
Bản báo cáo đưa ra con số ước đoán thiệt hại kinh tế hằng năm rơi vào khoảng từ 6 đến 42 tỷ USD. (VietnamPlus 30/9) đầu trang(
Khi phát hiện ra hai con voi lớn đang cố gắng đưa một chú voi con lên bờ, hai cán bộ kiểm lâm đã dũng cảm nhảy xuống nước để đưa voi con lên bờ.
Corney Coetzee, người đã tình cờ ghi lại được khoảnh khắc đặc biệt trên cho biết: "Những con voi trưởng thành đã cố gắng phá vỡ đất đá gần bờ sông để con voi con có thể dễ dàng trèo lên bờ. Tuy nhiên các con voi đã bị lúng túng trong suốt hơn 20 phút trước khi hai cán bộ kiểm lâm xuất hiện".
"Rất may là những con voi lớn không tức giận khi thấy có người đưa con voi nhỏ lên bờ. Hai cán bộ kiểm lâm này đã phải dùng hết sức lực để đẩy voi con lên bờ. Cả hai đều tỏ ra mệt mỏi và tôi lo họ có thể ngã xuống nước. Thật may mắn là những cán bộ kiểm lâm ở trên bờ cũng giúp đỡ để kéo chú voi lên", Coetzee cho biết thêm.
Lực lượng kiểm lâm phải lên xe đi ngay trước khi con voi mẹ có thể gây nguy hiểm cho họ. (Lao Động 1/10) đầu trang(
Trong báo cáo "Chỉ số hành tinh sống" mới được công bố ngày 29-9, Hội động vật London (ZSL) cho biết trong 40 năm qua, “dân số” các loài động vật có vú, chim, bò sát, lưỡng cư và cá đã giảm trung bình 52%. Trong đó, “dân số” các loài cá nước ngọt giảm đến 76%.
Báo cáo - được thực hiện với sự hợp tác của Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã thế giới (WWF), nói con người đang chặt phá rừng với tốc độ nhanh hơn rừng kịp mọc lại, khai thác cá với số lượng nhiều hơn cá mới được sinh ra… và phát thải khí carbon nhiều hơn khả năng hấp thụ của rừng và các đại dương.
Tại Ghana, dân số sư tử trong một khu bảo tồn đã giảm xuống 90% trong vòng 40 năm qua. Tại Tây Phi, chặt phá rừng khiến voi rừng chỉ còn lại 6-7% môi trường sống quen thuộc. Tại Nepal, do nạn săn bắn và bị mất môi trường sống, “dân số” loài hổ đã giảm từ 100.000 con xuống còn chỉ 3.000 con trong vòng một1 thế kỷ.
Theo BBC, dù là con số nào, có một sự thật hiển nhiên là động vật hoang dã đang tiếp tục biến mất do các hoạt động của con người.
"Quy mô của sự hủy diệt được nhấn mạnh trong báo cáo này là một tiếng chuông cảnh tỉnh tất cả chúng ta. Chúng ta cần phải quan tâm và có trách nhiệm, hành động để đảm bảo một tương lai lành mạnh cho cả con người và thiên nhiên”, David Nussbaum - giám đốc điều hành của WWF Anh nói, Daily Mail ngày 30-9 trích đăng.
Ông cũng nói người tiêu dùng có thể làm giảm tác động lên động vật hoang dã bằng cách chọn các sản phẩm bền vững, chẳng hạn chỉ mua cá, gỗ… có xác nhận của các đơn vị quản lý. Ông cũng cho rằng người tiêu dùng có thể xem xét giảm tiêu thụ thịt và sữa.
Giáo sư Jonathan Baillie - giám đốc chương trình bảo tồn ZSL, nói mọi người nên suy nghĩ về tất cả mọi thứ mình làm, từ việc tái chế đến gây áp lực lên các nhà lãnh đạo chính trị và công nghiệp, và đưa con cái ra bên ngoài để các em kết nối lại với thiên nhiên, từ đó có ý thức giữ gìn, bảo vệ thiên nhiên… (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Tầng đất bị đóng băng vĩnh cửu khiến diện tích rừng bị suy giảm ở Canađa, trong khi hạn hán khiến cây rừng bị chết trên diện rộng ở Panama, miền Nam Ấn Độ và Borneo.
Tại Mỹ, ở Virginia, số lượng hươu tăng cao cũng làm các cây rừng bị suy giảm trước khi trưởng thành, trong khi ô nhiễm nitơ đã thay đổi thành phần hóa học của đất rừng ở Canađa và Panama. Những thay đổi này đều được Trung tâm Rừng nhiệt đới Smithsonian quan sát ghi nhận, từ đó đưa ra một báo cáo mới cho thấy các khu rừng trên toàn thế giới đang thay đổi như thế nào.
Nhà sinh thái học Kristina Anderson-Teixeira thuộc Viện Bảo tồn Sinh học Smithsonian, tác giả đầu tiên của báo cáo cho biết: “Chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về 59 khu rừng tại 24 quốc gia, nơi chúng tôi theo dõi gần 6 triệu cây rừng để từ đó tìm ra những thay đổi của các khu rừng dưới tác động của những thay đổi toàn cầu”. Nhiều thay đổi xảy ra trong các khu rừng trên toàn thế giới là do tác động của con người đối với khí hậu, những thay đổi trong việc sử dụng đất và các quần thể động vật.
CTFS-ForestGEO là mạng lưới giám sát các khu rừng trải dài trên toàn thế giới. Kể từ khi cuộc tổng điều tra về rừng bắt đầu tại đảo Barro Colorado, Panama năm 1981, lượng khí các-bon điôxit trong khí quyển đã tăng 16%. Tại các khu rừng được theo dõi, nhiệt độ trung bình đã tăng trên 1 độ F (0,6 độ C) và sự thay đổi về lượng mưa lên đến 30%. Hiện tượng chặt phá rừng vẫn diễn ra tại các khu vực này.
Mạng lưới rừng được giám sát hiện nay bao gồm các khu rừng từ Braxin đến miền Bắc Canađa, từ Gabon đến Anh và từ Papua Niu Ghi-nê đến Trung Quốc. Ngoài việc xác định, lập bản đồ, đo lường và giám sát cây rừng, các nhà nghiên cứu còn đưa ra các thông tin liên quan đến cây rừng, theo dõi hoa và sản xuất giống, thu thập côn trùng, nghiên cứu các loài động vật có vú, xác định trữ lượng các bon và dòng chảy trong hệ sinh thái, lấy mẫu đất và đo lường các biến khí hậu như lượng mưa và nhiệt độ.
Các nghiên cứu kỹ lưỡng các khu rừng cung cấp thông tin không chỉ về các khu rừng đang thay đổi như thế nào mà còn lý do tại sao rừng thay đổi như vậy.
Các kịch bản biến đổi khí hậu dự đoán rằng hầu hết các khu rừng này sẽ phải đối mặt với điều kiện thời tiết ấm và khô hơn bình thường trong tương lai. Các khu rừng đang thay đổi nhanh hơn dự kiến và sự thay đổi về thành phần các loài trong khu rừng có liên quan với thay đổi môi trường. Sinh khối tăng lên tại nhiều khu rừng nhiệt đới trong Mạng lưới Giám sát rừng.
Một đội ngũ các nhà khoa học về rừng từ 78 viện nghiên cứu trên toàn thế giới đã tham gia mạng lưới CTFS-ForestGEO, đơn vị tiên phong trong các nỗ lực hợp tác cần thiết nhằm nắm bắt được rừng trên toàn thế giới đang thay đổi như thế nào.
Các nhà khoa học hy vọng mạng lưới CTFS-ForestGEO sẽ tiếp tục đưa ra các thông tin về rừng đang thay đổi như thế nào và tại sao, điều này rất có ý nghĩa đối với khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học và sức khỏe con người. (Bộ NNPTNT 29/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||