|
Ngày 02 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chiều 1/10, tại Hà Tĩnh, Chương trình UN - REDD (Chương trình hợp tác của LHQ về Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển) phối hợp Sở NN-PTNT 3 tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, tổ chức lễ ký kết Quy chế phối hợp bảo vệ rừng giáp ranh.
Mục tiêu Lễ ký kết phối hợp nhằm tuyên truyền phổ biến xuống tận từng người dân nơi vùng giáp ranh, thường xuyên tổ chức tuần tra bảo vệ rừng, kiểm tra truy quét lâm tặc, kiểm soát lâm sản, ngăn chặn, bắt giữ, điều tra, xác minh và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, các hành vi chống người thi hành công vụ, PCCCR và phòng trừ sâu bệnh hại rừng…
Đặc biệt trao đổi kinh nghiệm những việc làm được và chưa làm được giữa thôn, xã, huyện, tỉnh trong công tác bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 2/10) đầu trang(
Nằm dọc biên giới Việt Nam - Lào ở huyện Tây Giang, Quảng Nam là khu rừng pơmu nguyên sinh duy nhất còn sót lại ở Việt Nam sau những cuộc chăt phá tận diệt rừng xanh.
Dẫn đoàn đi tham quan, Bí thư huyện ủy Tây Giang Bh'riu Liếc - người con Cơ tu của miền rừng biên viễn Tây Giang - kể rằng, “vương quốc” pơ mu nơi đỉnh Zi'liêng cao hơn 1.500 m so với mặt nước biển. Quanh đỉnh Zi'liêng, trên một diện tích hơn 300 ha là khu rừng nguyên sinh toàn cây gỗ Pơ mu còn sót lại sau bao cuộc tàn phá, tận diệt.
Để đến được “vương quốc” pơmu còn sót lại duy nhất trên dãy Trường Sơn sát biên giới Việt - Lào phải cuốc bộ hơn 1 tuần lể xuyên qua rừng già mới đến được khu vực tiểu khu 94, 97 của xã Axan và tiểu khu 101 của xã Tr’hy, huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam.
Qua kiểm đếm của Kiểm lâm, rừng nguyên sinh Zi'liêng còn tồn tại một quần thể pơ mu hơn 1.037 cây có đường kính từ 20 cm đến 250cm. Bình quân chiều cao cây đứng 35-40 mét.
Trong đó, có một “cụ” cây pơ mu to nhất đường kính 2,5 mét (tầm 6 người ôm), cao 22 mét, khối lượng cây đứng ước tính 48,597 m3. Theo Bí thư huyện ủy Tây Giang Bh'riu Liếc, “cụ” cây pơ mu lớn nhất mang số hiệu 477.
Còn lại 5 cây có đường kính 2 mét, 17 cây có đường kính từ 1,5-1,9 mét, 150 cây có đường kính từ 1,1-1,4mét, còn lại dưới một mét đường kính trở xuống. Bh'riu Liếc còn cho biết, trong 1.037 cây pơ mu nơi khu rừng nguyên sinh này là có 2 “cụ” cây độc và lạ lần đầu tiên ông nhìn thấy và được đặt tên là Phụ Mẫu.
Đó là cây Pơmu mẹ (mẫu), mang số hiệu cây 168, mọc trên đỉnh Zi'liêng về hướng tây có hình thù ở gốc cây giống hệt con voi đang đứng, vòi thả xuống đất âu yếm với đôi mắt mở to, tai vểnh phía trước, đứng hiền hoà, sừng sững, hiên ngang trước bao phong ba bão tố. Tên cây này chính xác hơn là cây Voi Pơmu, vì có hình thù giống như con voi.
Cây thứ hai, ông tạm đặt tên cây Pơmu cha (phụ), mang số hiệu cây thứ 477, to nhất trong vương quốc Pơmu ở Tây Giang.
“Cụ” cây pơ mu này toạ lạc ở chính hướng đông của đỉnh Zi'liêng. Thân gồ ghề ôm những u nần to nhỏ trên thân mình đầy rêu phong, cành lá sum suê che phủ một góc núi giống như ông “vua” ở “vương quốc” pơ mu này.
Đây là rừng pơ mu vô giá mà theo đánh giá của các nhà lâm sinh, lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương, là rừng pơ mu nguyên sinh duy nhất còn lại của Việt Nam trên bản đồ lâm sinh.
Hiện huyện Tây Giang, Quảng Nam đang khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt rừng pơ mu nguyên sinh này phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn nguồn gien quí hiếm của loài gỗ quí này. (VietnamNet 2/10) đầu trang(
1/10, UBND huyện Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) cho biết lực lượng chức năng huyện sẽ xử lý, làm sạch đất và phần mục gốc sưa khủng được tìm thấy tại bến Troóc vào 23/2.
Sau đó, gốc cây trị giá hàng tỷ đồng này sẽ được đưa vào bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Bình để trưng bày cho người dân và du khách tham quan. Nhiệm vụ làm sạch gốc sưa được giao cho lực lượng kiểm lâm huyện thực hiện dưới sự giám sát của các cơ quan ban ngành liên quan, dự kiến tiến hành từ 6/10.
Trước đó, ông Nguyễn Văn Thời và con trai là Nguyễn Quang Huy trong khi thả lưới đánh cá thì phát hiện khối lượng lớn gỗ nằm dưới dòng suối vào 23/2. Sau khi xác định là cây sưa, ông Thời gọi thêm bạn bè đến chặn dòng, đào lấy gốc sưa. Đến 26/2, cơ quan chức năng địa phương phát hiện sự việc nên triển khai lực lượng trục vớt.
Sau khi đưa lên bờ, kiểm lâm huyện xác định gốc sưa dài khoảng 1,8 m, nặng gần 2 tấn, đường kính 1,5 m, bị rỗng ruột, thuộc họ sưa mộc vàng (tên khoa học là Dalbergia Tonkinensis Prain).
Do ngâm sâu dưới nước hàng chục năm nên bên ngoài gốc sưa bị mục nát, vì vậy giá trị thực của nó còn là ẩn số. Tuy nhiên, cơ quan chức năng tỉnh cũng đã định giá gốc cây này vào khoảng 17 tỷ đồng.
Vấn đề chia phần trăm cho người phát hiện (cha con ông Thời) cũng đã được chính quyền tính đến, nhưng trên thực tế việc này vẫn chưa giải quyết xong. (Theo Zing.vn 1/10) đầu trang(
30.9, ông Đoàn Xuân Thanh - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Nông Sơn cho biết: trong lúc tiến hành kiểm tra tại khu vực Cua Chào thuộc xã Phước Ninh, Tổ công tác kiểm tra, truy quét của Hạt kiểm lâm huyện phát hiện hơn 1,75m3 gỗ không có nguồn gốc đã được xẻ thành 39 thanh tròn.
Qua xác định, đây là gỗ thuộc chủng loại kiền kiền (nhóm II) và vẩy ốc (nhóm VI). Toàn bộ số gỗ trên đã đưa về Trạm kiểm lâm quản lý và Bộ phận Thanh tra - pháp chế Hạt kiểm lâm huyện tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc.
Từ nguồn tin báo của nhân dân, vào lúc 0 giờ 45 phút ngày 30.9, tại địa bàn thôn 5 xã Tiên Hiệp, Hạt kiểm lâm huyện Tiên Phước đã phát hiện, bắt giữ ô tô tải BKS 92C-03408 do Phạm Hiếu Uyên (SN1982, trú tại thôn 5 xã Tiên Cảnh, Tiên Phước) điều khiển theo hướng thôn 5 xã Tiên Hiệp đi quốc lộ 40B vận chuyển hơn 4,5m3 gỗ chò (nhóm VI).
Khi kiểm tra, lái xe không xuất trình được giấy tờ, hồ sơ chứng minh gỗ hợp pháp, lực lượng kiểm lâm huyện đã lập biên bản đưa toàn bộ tang vật và phương tiện về tạm giữ tại Hạt kiểm lâm để tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Quảng Nam 1/10; Đời Sống & Pháp Luật 1/10) đầu trang(
Ba lóng gỗ quý hiếm do lực lượng Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) thu giữ, tại số nhà 22, đường Nguyễn Trung Trực, TP. Buôn Ma Thuột hôm 30-9, là từ tố giác của người dân.
Theo cán bộ kiểm lâm làm nhiệm vụ thu giữ số gỗ trên, ba lóng gỗ đều là gỗ cà te, không có búa bài của kiểm lâm.
Điều đáng nói trong vụ việc này là ông Lý Kiều (trú tại xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar) đã trực tiếp theo dõi một nhóm người cắt hạ cây gỗ cà te quý hiếm tại khu rừng thực nghiệm thuộc địa phận thôn 2 xã Ea Kiết, huyện Cư Mgar (Đắk Lắk) đêm 19-9.
Đến ngày 30-9, ông phát hiện trong sân của số nhà 22 đường Nguyễn Trung Trực có ba lóng gỗ trắc nên đóng vai người đi mua gỗ lấy cớ vào xem.
Sau khi xem xong ba lóng gỗ và đối chiếu với những hình ảnh đã ghi trước đó thấy giống nhau, ông Lý Kiều điện thoại cho Hạt kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột đến kiểm tra.
Trao đổi với Tuổi Trẻ chiều 1-10, ông Y Ngọc - hạt trưởng hạt kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột - cho biết người nhận chủ của lâm sản nói trên là ông Phạm Văn Tiệp. Hiện cơ quan chức năng đang làm rõ vụ việc. (Tuổi Trẻ 2/10) đầu trang(
Gỗ vẫn âm thầm đổ về xuôi theo những con đường đầy “máu và nước mắt”, UBND huyện phải cho lập chốt trước nguy cơ rừng bị xóa sổ. Phóng viên báo Đời sống & Pháp luật đã có cuộc xâm nhập vào “thánh địa” gỗ lậu để điều tra về tình trạng này.
Lâm trường Trường Sơn đang là đơn vị phụ trách quản lý rừng ở khu vực huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) từ phía tuyến đường Trường Sơn Đông đến Trường Sơn Tây, giáp với nước bạn Lào, tổng diện tích hơn 40.000ha. Khu vực này được cho là nơi lưu trữ và bảo tồn nhiều loại gỗ, là “thánh địa” của nhiều loại gỗ quý như lim, táu, gụ, hương…
Trên thực tế, con số này, ngày một suy giảm trầm trọng theo thời gian. Nạn khai thác gỗ ở rừng phòng hộ Long Đại thuộc tỉnh Quảng Bình, trước đây đã hoành hành theo đường sông và những con đường đất hoang sơ. Kể từ khi có con đường bộ đưa miền núi của huyện Quảng Ninh gần hơn với đồng bằng, cũng là lúc mức độ tàn phá rừng trở nên khốc liệt.
Nhờ một vài mối thân tình, phóng viên đã cải trang thành lâm tặc, đầu nậu để được vào tận những khu “rừng trắng” sau những đợt tàn phá. Con đường từ UBND xã Trường Sơn lên nhánh đường Hồ Chí Minh Tây, qua Cổ Tràng, chính là địa điểm tập kết hàng để gỗ được đóng bè xuôi dòng. Người dẫn đường cũng khái quát đôi nét cho PV biết về tình hình hiện nay.
“Trước đây, đường làm ăn còn dễ, cách đây khoảng một tháng tình hình căng hơn. Đường vào rừng nay đã bị các chốt kiểm lâm chặn lại. Nghe nói, ông chủ tịch huyện đang rất bức xúc nên trực tiếp chỉ đạo quyết liệt”, người chỉ đường nói.
Theo nhiều con đường vận chuyển tiểu ngạch, gỗ có thể được các móc xích trang bị máy kéo, máy tời đưa từ nơi hóc hiểm lên địa điểm tập kết an toàn. Nếu cần thiết, các nhóm lâm tặc có thể dùng mìn phá lèn, phá đá để tạo không gian khai thác rộng hơn, thuận lợi cho việc di chuyển.
Sau khi khai thác, gỗ được đưa lên địa điểm thuận lợi để tập kết, cũng là nơi đóng lán, trú ngụ nhiều ngày của các nhóm lâm tặc. Tại đây, các thớt gỗ sẽ được đặt lẻ tẻ từng đoạn, cách xa nhau, tránh sự “đánh úp” của các cơ quan chức năng.
Con đường thu mua gián tiếp được thực hiện bằng việc mua bán được thực hiện qua điện thoại và đặt cọc trước. Đây là những mối quan hệ thân tình và làm ăn lâu dài. Người thu mua gỗ thường là những ông lớn, có kinh nghiệm trong việc mua bán gỗ và trải qua thời gian dài làm lâm tặc và được gọi là “Sếp lái”.
Sếp lái là người trực tiếp chỉ đạo cho các “con cưng” thu gom hàng. Người thu gom hàng thường là những người hay lui tới địa bàn. Một mặt là để dò la đường, móc nối với bộ phận bảo vệ rừng để tránh sự để ý của cơ quan chức năng.
Khi hỏi về giá của gỗ lim, được biết, nếu mua tại rừng, nó có giá 10 - 14 triệu đồng/m 3 . Nhưng khi đưa về xuôi an toàn, con số đó đã tăng gấp đôi (vào khoảng 22 - 27 triệu/m 3 ).
Trước sự tàn phá rừng tàn khốc như vậy, ông Nguyễn Viết Ánh, Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) đã đưa ra nhiều biện pháp cấp bách, chỉ đạo, đấu tranh, bảo vệ những cánh rừng nguyên sinh còn sót lại ở khu vực rừng phòng hộ Long Đại.
Mọi chốt kiểm lâm ở những cánh rừng đầu nguồn thắt chặt kiểm soát, những nhưng đó chỉ là giải pháp tạm thời. Nhiều người cho rằng, sự quyết liệt ông Ánh đang “đơn thương độc mã” khi các ban ngành khác của tỉnh nhà, vẫn chưa chịu vào cuộc một cách đồng bộ, quyết liệt. (Đời Sống & Pháp Luật 1/10) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan, điều hoà khí hậu, chống xói mòn, sạt lở đất; đồng thời điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, hồ chứa nước để cung cấp nước sản xuất và nước sinh hoạt cho người dân.
Xác định rõ điều này, thời gian qua, huyện Hoành Bồ đã tích cực triển khai nhiều giải pháp nhằm góp phần bảo vệ và phát triển hệ thống rừng có khả năng tham gia bảo vệ môi trường một cách bền vững.
Huyện đã chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng và các xã bao quanh khu vực rừng phòng hộ đầu nguồn (Tân Dân, Bằng Cả, Dân Chủ, Quảng La) thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường sinh thái của hệ thống rừng phòng hộ, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xâm hại tài nguyên rừng.
Bên cạnh việc tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng cho người dân, nhất là cộng đồng dân tộc thiểu số sống trong lưu vực rừng phòng hộ, huyện tập trung trồng mới rừng bằng cây bản địa, khoanh nuôi tái sinh rừng; xây dựng, tu bổ đường băng cản lửa; sửa chữa trạm bảo vệ rừng, xây dựng bảng tin v.v..
Không những vậy, các xã thuộc lưu vực rừng phòng hộ cũng chủ động thành lập các tổ bảo vệ rừng (mỗi tổ gồm 10 thành viên), thường xuyên phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập tuần tra, phát hiện và xử lý các hành vi xâm hại rừng, như: Lấn chiếm đất rừng; san ủi, phá rừng trái pháp luật; khai thác và vận chuyển khoáng sản, lâm sản trái phép…
Riêng 9 tháng, huyện đã phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra, bắt giữ và xử lý 29 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu gần 48.000m3 gỗ tròn và 1.700 cây tre, nứa.
Cùng với đó, từ năm 2011, huyện còn thực hiện việc giao khoán đất rừng cho người dân sống gần rừng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và trồng rừng, góp phần đáng kể trong việc ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng.
Đến nay, huyện đã ký hợp đồng giao khoán 4.293,8 lượt ha cho các nhóm hộ thuộc 4 xã thượng nguồn là Dân Chủ, Bằng Cả, Quảng La và Tân Dân với mức phí hỗ trợ 200.000 đồng/ha/năm.
Ông Nguyễn Văn Trường (thôn 3, xã Quảng La), một trong số những hộ dân nhận khoán bảo vệ 250ha rừng thuộc địa phận xã Quảng La, cho biết: “Trước đây, khu vực rừng phòng hộ thuộc địa phận Quảng La vẫn còn tồn tại tình trạng người dân khai thác gỗ trái phép, phát rừng để phát triển sản xuất… Điều này khiến môi trường và tài nguyên rừng bị xâm hại một cách nghiêm trọng.
Tuy nhiên, nhiều năm trở lại đây, nhóm hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng đã tích cực tuyên truyền, vận động bà con thay đổi nhận thức bảo vệ rừng; đồng thời tổ chức đi kiểm tra, tuần tra luân phiên khu vực rừng phòng hộ hàng ngày, hàng tuần. Nhờ đó đến nay đã cơ bản chấm dứt tình trạng chặt phá và xâm lấn đất; môi trường sinh thái rừng ngày càng đa dạng và phong phú”.
Ông Nguyễn Văn Khuyên, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, cho biết: Nhờ có sự vào cuộc của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương cùng với quyết tâm bám đất, bám rừng của người dân trong lưu vực rừng phòng hộ, những năm qua, huyện đã chăm sóc được 347,8ha rừng, bảo vệ 6.293,4 lượt ha rừng, thi công đường băng cản lửa 3,14ha… với tổng kinh phí thực hiện 1,3 tỷ đồng.
Hệ thống rừng phòng hộ ngày thêm xanh hơn, tình trạng chặt phá cây rừng giảm đi đáng kể. Điều này góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, điều tiết dòng chảy và tạo điều kiện thuận lợi trong việc hình thành và xây dựng các điểm du lịch sinh thái rừng hấp dẫn trong tương lai. (Báo Quảng Ninh 1/10) đầu trang(
Quảng Ninh là nơi có nhiều cửa sông, bãi sú vẹt, các cánh đồng lúa và các cánh rừng rậm rạp nên là điểm đến của nhiều loại chim di cư tránh rét trong mùa đông.
Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hàng năm số lượng chim di cư về Quảng Ninh khá lớn. Hiện nay, mới đầu mùa chim di cư nhưng tại một số vùng trọng điểm như Quảng Yên, Hoành Bồ, Đầm Hà, Hải Hà đã xuất hiện hiện tượng người dân bắt, bẫy các loại chim hoang dã.
Để săn bắt chim, người dân đã giăng mắc lưới và dùng loa đài phát ra tiếng chim giả để dụ chim hoang dã mắc vào lưới. Cách bắt, bẫy bằng lưới, loa đài này tuy thủ công song lại mang tính tận diệt cao, số chim bị mắc bẫy lớn, có khi cả đàn. Chính vì thế nên lượng chim hoang dã được bán trên thị trường khá nhiều.
Dạo qua một số chợ, nhà hàng ăn uống ở các địa phương này không khó để bắt gặp những lồng, túi chim hoang dã đang được mời bán hoặc sẵn sàng trở thành nguyên liệu chế biến món ăn phục vụ các thực khách. Việc làm trên là vi phạm pháp luật, bởi sẽ làm giảm số lượng các loại chim hoang dã, trong đó có những loại chim quý hiếm cần được bảo vệ dẫn đến giảm sự đa dạng sinh học, mất cân bằng sinh thái.
Để hạn chế tình trạng này, thời gian vừa qua, các đơn vị chức năng đã tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng săn, bắt chim hoang dã; tiến hành tuyên truyền vận động và ký cam kết với người dân trong việc chung tay bảo vệ chim hoang dã.
Tính đến trung tuần tháng 9 vừa qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp thu giữ, tiêu huỷ được 20.000m lưới, 700 cây sào, đài loa phát tiếng chim… Đồng thời, Chi cục đã tuyên truyền và vận động gần 1.000 hộ dân sinh sống tại các khu vực thường có chim di cư cư trú cam kết không bắt, bẫy chim hoang dã.
Ông Hoàng Văn Hiểu, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm TX Quảng Yên cho biết: Ngay từ đầu mùa chim di cư, đơn vị đã tăng cường kiểm lâm viên bám sát địa bàn, nắm tình hình, phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng bắt bẫy chim hoang dã. Đặc biệt là tại các vị trí có nhiều nguồn thức ăn như thóc lúa, hải sản thường thu hút các đàn chim di cư kéo về như ở các xã Sông Khoai, Hoàng Tân, Tân An… thì luôn có tổ kiểm lâm thường trực để tăng cường kiểm tra, kiểm soát.
Tuy nhiên, có thể thấy các giải pháp của các đơn vị chức năng nói trên mới chỉ mang tính tình thế, giải quyết trước mắt chứ chưa bền vững. Công tác bảo vệ chim hoang dã trong mỗi mùa chim di cư cần sự vào cuộc tích cực của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã.
Anh Nguyễn Phạm Thái Ninh, cán bộ Phòng Bảo tồn thiên nhiên Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Qua thực tế kiểm tra chúng tôi thấy rằng, việc tăng cường tuyên truyền vận động để người dân hiểu, nâng cao nhận thức, không bẫy bắt, không tiêu dùng chim trời mới là giải pháp bảo vệ chim di cư một cách lâu dài và hiệu quả nhất. Trong khi đó lực lượng làm tốt nhiệm vụ này phải là chính quyền địa phương, nhất là hệ thống chính trị ở xã, thôn, sát dân, hiểu dân của mình nhất.
Họ cũng chính là người tuyên truyền vận động hiệu quả đến người dân của mình trong việc bảo vệ các loại động vật hoang dã, trong đó có chim di cư, đồng thời có thể tổ chức các hoạt động kiểm tra, xử lý một cách tổng thể các hoạt động mua bán, tàng trữ chim hoang dã tại các chợ, nhà hàng…
Tuy nhiên có thể nói, thời gian qua sự vào cuộc của chính quyền cơ sở đối với việc bảo vệ chim hoang dã chưa thực sự tích cực, nhiều nơi còn phó mặc cho lực lượng kiểm lâm.
Trong đó có địa phương để tình trạng bắt bẫy chim di cư và bày bán công khai trên địa bàn tái diễn nhiều lần. Thiết nghĩ, đã đến lúc cần sự chung tay mạnh mẽ của các đơn vị liên quan, trong đó đặc biệt là vai trò của chính quyền địa phương trong việc bảo vệ chim hoang dã. (Báo Quảng Ninh 1/10) đầu trang(
Dù biết những rủi ro từ bản tính hoang dã của loài thú dữ có thể xảy đến bất cứ lúc nào, nhưng nhiều người vẫn âm thầm bám trụ với nghề quản thú vì mưu sinh và cả thỏa chí đam mê với nghề.
Phải qua nhiều “cửa” giới thiệu, mới tiếp xúc được một số người có thâm niên trong nghề chăm sóc thú dữ tại Thảo cầm viên (TP.HCM), bởi họ rụt rè và không muốn… lên báo.
Trái với những hình dung ban đầu, ông Trần Minh Tâm (55 tuổi, ngụ TP.HCM) điềm tĩnh, tận tình chia sẻ với những vui buồn trong suốt 25 năm chăm sóc chúa sơn lâm.
Ông Tâm kể, sau khi xuất ngũ về TP.HCM, tình cờ vào Thảo cầm viên chơi, gặp người bạn đang làm ở đây và xin vào cùng rồi gắn bó cho tới tận bây giờ. “Ban đầu cũng hoang mang lắm vì đã hoang dã thì con nào cũng hung dữ. Chỉ cần một tiếng gầm của nó mình cũng sợ khiếp vía. Khi nó gầm gừ phát ra âm thanh lớn lắm”, ông Tâm bộc bạch.
Đến nay, hầu như mọi thế hệ cọp Đông Dương, cọp trắng ở đây đều qua bàn tay chăm sóc của ông Tâm. Hiện tại, ở Thảo cầm viên có 4 cọp vàng, 7 cọp con và 2 cọp trắng trưởng thành. Trong đó, hai con cọp trắng được nhốt riêng; bao bọc chuồng cọp là bức tường bằng kính dày cộp. Phía trong có một chuồng nhỏ (gọi là chuồng ép) dùng để nhốt cọp vào mỗi sáng để người quản thú dọn dẹp vệ sinh. Mỗi con đều được ông Tâm đặt cho những cái tên rất “con người”: cọp Tuấn, cọp Nhất, cọp Nhị, cọp Xám…
Buổi sáng, ông Tâm trực tiếp vào chuồng cọp quét dọn vệ sinh, chiều cho cọp ăn thịt bò, gà. Cọp trưởng thành ăn mỗi ngày 5 - 6 kg, còn cọp con khoảng 2 kg. Cũng theo ông Tâm, khi chăm sóc cọp người nuôi cần phải làm đúng quy trình, nếu không sẽ dễ bị cọp vồ trúng.
“Trước khi vô chuồng làm việc thì mình phải kêu tên hoặc tạo tiếng động ao, ao, ao na ná như tiếng kêu của nó để gọi nó vào chuồng ép rồi đóng cửa lại. Phải gài chốt và xem cho kỹ 2 - 3 lần, chừng nào thấy chắc ăn rồi mới vô dọn dẹp”, ông Tâm nói.
Dù rất kỹ tính nhưng cũng không ít lần ông Tâm bị cọp vồ trầy xước mình mẩy. Ông bảo: “Ai làm mà chẳng sơ suất. Khi mình không để ý ngồi quét dọn gần chuồng ép thì bị nó với chân ra cào xước tay chân là chuyện thường. Còn người lạ mà chỉ cần lảng vảng gần chuồng là nó chồm tới chồm lui, gầm gừ dữ lắm. Vì nó ngửi được mùi của người lạ đang xâm phạm lãnh thổ của nó”.
Cách khu vực nuôi cọp khoảng chừng 200 m là nơi ông Trần Văn Tư (58 tuổi, ngụ TP.HCM), Tổ trưởng tổ chăm sóc voi ở Thảo cầm viên, đang lúi húi đưa từng miếng cỏ sữa cho voi ăn. Suốt 38 năm gắn bó với nghề quản tượng, ông Tư hiểu từng cử chỉ, ánh mắt của đàn voi. Dẫu vậy, không ít lần ông bị những con vật khổng lồ hất văng vào vách tường.
“Lần đó, khi đang tập cho voi các tiết mục đá banh, đi qua cầu, thổi kèn… thì 3 con voi cái nổi hứng tranh đầu đàn nên chúng đánh nhau hất văng mình vào vách tường, còn chân thì bị chúng giẫm chảy máu phải đi khâu lại”, ông Tư kể.
Ngoài ra, những lúc xảy ra sự cố voi phá cửa ra khỏi chuồng ép, đích thân ông Tư phải gọi chúng vào vì “người lạ không thể tiếp cận”. “Nó đang giận dữ nên khi can thiệp mình phải thật khéo léo, chứ không nó đánh mình chết. Còn người lạ thì tốt nhất tránh xa. Ngay cả những người huấn luyện mà ít kinh nghiệm cũng phải dè chừng”, ông Tư chia sẻ.
Để thuần hóa được voi phải trải qua một quá trình rất gian nan và nguy hiểm nên những người làm nghề này phải có đam mê và lòng dũng cảm. “Khi mới đem voi từ rừng về để huấn luyện, vừa thả ra là nó dùng vòi “đánh” mình tới tấp. Nếu bị quật ngã thì mình phải bình tĩnh và dùng những con voi đã thuần hóa trước đó ép chặt con voi này rồi dùng xích cột chân lại để huấn luyện từ từ. Ở đây nhân viên kinh nghiệm chừng 1 năm thì tôi chỉ cho phụ chăm sóc vòng ngoài chứ chưa thể tiếp cận gần voi được”, ông Tư chia sẻ và cho biết: “Voi tính khí rất thất thường nên nếu không can đảm và có phương pháp thuần hóa bài bản thì rất dễ xảy ra tai nạn. Hằng ngày, khi đi kiểm tra nếu voi đi tới đi lui thì bình thường. Còn nếu nó đứng tại chỗ, mắt lim dim lườm lườm, hai tai dựng đứng, vòi để yên là phải tránh xa vì lúc đó nó đang giận dữ”.
Không chỉ có ông Tâm, ông Tư mà ở đây còn có rất nhiều người khác đang âm thầm làm nghề quản thú. Tuy vất vả và đầy hiểm nguy nhưng với họ công việc này đâu chỉ để mưu sinh, như lời tâm sự của ông Tư: “Để có được tiết mục bắt mắt thu hút khách tham quan thì cả người quản thú và voi phải tập luyện cả năm”; hay trăn trở của ông Tâm về những rủi ro của nghiệp chăm sóc thú dữ: “Đã hoang dã thì con nào cũng hung dữ, chủ yếu là mình đam mê và muốn gắn bó với nghề. Vì chỉ cần nhìn thấy cọp đẻ là mọi lo lắng, bất an đều tan biến”.
Ngày 23.12.2013, khi anh Đoàn Hữu Tài (27 tuổi, quê Vĩnh Long), nhân viên vườn thú của khu du lịch Đại Nam (P.Hiệp An, TP.Thủ Dầu Một, Bình Dương) đi ngang qua chuồng voi thì bất ngờ bị con voi này vươn vòi quấn ngang người, nhấc bổng lên rồi quật mạnh vào cột bê tông khiến anh Tài vỡ sọ não và tử vong sau đó.
Trước đó, ngày 10.9.2009, một con hổ trong vườn thú này nhảy ra khỏi chuồng vồ chết nhân viên của vườn thú là ông Nguyễn Công Danh (47 tuổi) và làm nhân viên khác là anh Nguyễn Văn Giàu (21 tuổi) bị thương nặng. (Thanh Niên 2/10) đầu trang(
1-10, tại Hà Nội, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) tổ chức hội nghị "Xây dựng quan hệ đối tác nhằm huy động nguồn lực hỗ trợ cho bảo tồn đa dạng sinh học” do Thứ trưởng, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Bùi Cách Tuyến chủ trì.
Sự gia tăng dân số, áp lực phát triển KTXH và biến đổi khí hậu đã làm cho đa dạng sinh học VN tiếp tục bị suy giảm và đối mặt với nhiều đe dọa. Cần tối ưu việc huy động nguồn lực cho đa dạng sinh học, phát huy sức mạnh tổng hợp, nỗ lực của các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, khu vực tư nhân, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức quốc tế, các tổ chức tài trợ song phương và đa phương cho công tác này.
Trước đó ngày 29-9 Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) kêu gọi các nước và các tổ chức tài trợ quốc tế thành lập "Quỹ trồng đước toàn cầu” vì đây là loài cây đóng vai trò quan trọng trong đa dạng sinh học và có thể tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. (Đại Đoàn Kết 2/10) đầu trang(
Trong khi những cánh rừng già ngày ít dần, do bị tàn phá lấy gỗ, đất trồng cao su, canh tác nông nghiệp, …thì tại tiểu khu 379 Mã Đà, xã Tân Hoà, huyện Đồng Phú, Bình Phước, bằng quyết tâm của người lính và không ngại khó khăn, hàng chục năm qua, nữ cựu chiến binh Lê Thị Hồng Tươi đã bảo vệ, quản lý tốt 512ha rừng.
“Choáng ngợp và bất ngờ” khi vào thăm khu rừng già, lại tận mắt thấy những cây gỗ lim xẹt, cây kơnia, cây dầu... cao 20-30 mét, có cây phải ba, bốn người ôm mới xuể. Đi dưới những tán lá của cây rừng nhiều tầng, trùng trùng, lớp lớp mới thấy công sức của những người giữ rừng - nơi đã một thời che bộ đội, vây quân thù.
Khi hỏi “bí quyết” để giữ được 512ha rừng, trong bối cảnh đất rừng Bình Phước ngày càng thu hẹp, nhất là khu rừng có nhiều gỗ quý. Bà Lê Thị Hồng Tươi, thương binh 4/4 khiêm tốn cho biết đã học Bác Hồ “coi rừng là vàng, nếu biết bảo vệ, thì rừng rất quý”.
Từ lời dạy của Bác, người nữ cựu chiến binh đã quy tụ các cựu chiến binh yêu rừng, quyết tâm bảo vệ rừng nguyên vẹn, không nghe lời dụ dỗ của kẻ gạ mua gỗ. “Nhưng điều cốt lõi là chăm lo tốt đời sống cho hàng chục bảo vệ, để họ vừa nuôi được bản thân, vừa giúp đỡ được gia đình. Tạo điều kiện để các bảo vệ trồng khoai mì (sắn), trồng rau tại vài khu đất trống để cải thiện kinh tế, vừa gắn bó và yên tâm bảo vệ rừng”.
Thành quả giữ hơn 512ha rừng này của nữ cựu chiến binh Lê Thị Hồng Tươi đã được UBND tỉnh và các cơ quan chức năng Bình Phước đánh giá, “đây là khu rừng nguyên sinh đươc bảo vệ tốt. Diện tích rừng này cần được giữ lại làm khu sinh thái và bảo tồn di tích lịch sử”.
Trước đó, bà Lê Thị Hồng Tươi được Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khen công tác quản lý, khoanh nuôi, bảo vệ rừng tốt. Ngoài ra, nhiều tổ chức khác như: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), MTTQ Việt Nam... cũng vinh danh cá nhân bà Tươi cùng tập thể các cựu chiến binh, trong công tác bảo vệ và giữ nguyên trạng 512ha rừng nguyên sinh.
Trao đổi với PV, cựu chiến binh Phạm Công Trường, gần 70 tuổi đời, hơn 40 năm tuổi Đảng khẳng định, khu rừng này một thời từng là trụ sở của Bộ Tư lệnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, nó có giá trị lịch sử. Để có cánh rừng còn nguyên sơ như ngày nay, suốt 10 năm qua, trung bình mỗi năm gia đình bà Tươi bỏ ra hàng tỷ đồng để trả lương cho 20 bảo vệ - đều là cựu chiến binh để giữ rừng.
Bà Lê Hồng Tươi cũng xác nhận, đến nay chưa nhận được sự hỗ trợ nào, dù nhỏ từ Nhà nước cũng chưa khai thác bất cứ nguồn lợi gì từ rừng. Mục đích chỉ nhằm bảo vệ khu rừng còn nguyên vẹn, để con cháu hiểu về nơi các thế hệ ông cha thời kháng chiến.
Bà Tươi cho rằng, về lâu dài rất cần sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh Bình Phước hỗ trợ kinh phí, bảo vệ khỏi lâm tặc phá rừng và người dân xâm canh, lấn chiếm đất; các cơ quan chuyên môn hỗ trợ nghiên cứu hệ sinh thái rừng và có biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học.
Nói về điều này, ông Bùi Phó Vĩnh, Phó Chủ tịch Hội doanh nghiệp Cựu chiến binh Bình Phước cho rằng, những năm qua trong khi diện tích rừng của tỉnh Bình Phước liên tục bị lấn chiếm, xâm canh và ngày càng thu hẹp thì công tác quản lý, bảo vệ rừng của nữ cựu chiến binh Lê Thị Hồng Tươi cần được biểu dương, tiếp tục duy trì và nhân rộng. (Nhân Dân 2/10) đầu trang(
29/9, đại diện Chi cục Kiểm lâm cho biết, đang hoàn tất thủ tục thanh lý 5.616kg trái ươi với giá hơn 359 triệu đồng, do có nguồn gốc, vận chuyển trái phép.
Trước đó, khoảng 23 giờ 30 ngày 26/7, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR thuộc Chi cục Kiểm lâm phát hiện ông Đinh Xuân Dương (SN 1986, trú thôn Đình, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) điều khiển ô tô tải BKS 29C-009.26 vận chuyển 5.616kg trái ươi có nguồn gốc trái phép trên quốc lộ 25 theo hướng tây - đông, đến ngã 4 quốc lộ 25 và quốc lộ 1 thì bị bắt.
Ngày 17/9, ông Dương bị UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 250 triệu đồng, tịch thu tang vật và tạm giữ phương tiện vận chuyển. (Báo Phú Yên 30/9) đầu trang(
Nhằm góp phần kêu gọi cộng đồng tham gia bảo vệ động vật quý hiếm, Thủy cung Vinpearlland Times City vừa chính thức phát động chiến dịch “Chung tay bảo vệ động vật quý hiếm”, thông qua việc tạo dựng “Bức tranh ghép hình bảo vệ động vật lớn nhất Việt Nam”.
Theo đó, từ nay đến hết 4-10, các khách hàng tới tham quan Thủy cung chụp lại hình ảnh vui chơi của bản thân, gia đình, bạn bè và gửi đến Ban Tổ chức sẽ được Thủy cung Vinpearlland Times City trích ra 5.000 đồng vào quỹ CSR của doanh nghiệp nhằm phục vụ các hoạt động giáo dục môi trường.
Bên cạnh việc đóng góp thiết thực cho Quỹ WWF, mỗi bức hình cá nhân được chụp tại Thủy cung Vinpearlland Times City cũng sẽ trở thành một phần của “Bức tranh ghép hình bảo vệ động vật lớn nhất Việt Nam”.
Với diện tích dự kiến lên tới 24m2, bức tranh ghép hình sẽ cần tới 7.000 bức hình để ghép nên thông điệp “bảo vệ động vật” trong chiến dịch do Thủy cung Vinpearlland Times City phát động.
Dự kiến, bức tranh sẽ được công bố vào đúng ngày Động vật thế giới 4-10-2014, đồng thời xác lập kỷ lục Việt Nam về bức tranh ghép hình bảo vệ động vật lớn nhất cả nước. (An Ninh Thủ Đô 2/10, tr11) đầu trang(
Trong những năm gần đây, Lâm Đồng là địa phương được đánh giá tốt trên lĩnh vực bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học.
Theo số liệu báo cáo, Lâm Đồng đang duy trì tốt tỷ lệ độ che phủ rừng ở mức 60,4%; cùng đó, tỉnh cũng đang triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình bảo vệ môi trường lưu vực sông Đồng Nai giai đoạn 2011 - 2015, kế hoạch hành động Chiến lược “Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, chương trình hành động “Bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2008 - 2020”...
Ở lĩnh vực bảo tồn sự đa dạng sinh học, điều đáng ghi nhận là ngoài việc phục hồi rừng bằng biện pháp tái sinh tự nhiên, tỉnh cũng đã quan tâm thích đáng việc làm thế nào để hạn chế đến mức thấp nhất nạn chặt phá rừng, làm nương rẫy; cùng đó là giáo dục và phổ biến kiến thức về sự đa dạng sinh học cho mọi tầng lớp nhân dân trong tỉnh; đào tạo cán bộ, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ quản lý bảo vệ rừng...
Hiện ở Lâm Đồng đang có nhiều hình thức quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học được các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện từ nhiều nguồn vốn nên đã hình thành được hệ thống dịch vụ môi trường ngoài công ích, bao gồm một số lĩnh vực phát triển mạnh như thu gom, vận chuyển rác thải, cơ sở xử lý rác thải; xử lý nước thải tập trung, nước thải sinh hoạt; những điểm nóng về môi trường đã được xử lý một cách có hiệu quả, phong trào quần chúng bảo vệ môi trường đã được nâng cao.
Có thể nhìn vấn đề môi trường và sự đa dạng sinh học dưới góc độ thanh tra và xử phạt hành chính ở Lâm Đồng trong vài năm gần đây: Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Lâm Đồng, từ 2011 đến nay, Sở đã tiến hành 126 cuộc thanh tra chuyên ngành; về phạm vi thanh tra và kiểm tra cũng đã được tiến hành rộng hơn và kết quả của những cuộc thanh tra hoặc kiểm tra đó cũng đã có giá trị tác động đến lĩnh vực môi trường và đời sống cao hơn.
Cũng từ 2011 đến nay, cơ quan chức năng đã tiến hành xử lý 2.640 đơn thư khiếu nại liên quan đến lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Điều đáng nói, hầu hết các đơn thư này đều được xử lý, giải quyết một cách hợp tình, hợp lý, đúng thời gian quy định; được các tổ chức và cá nhân đồng tình, ủng hộ, góp phần đáng kể vào việc ổn định tình hình trật tự và an ninh của địa phương.
Tuy nhiên, theo lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường thì “Tổ chức bộ máy của ngành dần được hoàn thiện song chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, nên gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai thiếu ổn định; năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai, môi trường cấp xã, cấp huyện chưa đáp ứng được yêu cầu công việc”.
Vấn đề đặt ra cho ngành tài nguyên và môi trường tỉnh Lâm Đồng từ nay đến năm 2020 là: “Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quy hoạch, quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Lâm Đồng; góp phần ngăn ngừa suy thoái kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, tạo đà phát triển bền vững cho giai đoạn tiếp theo; nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân, góp phần vào việc thực hiện thành công chiến lược phát triển chiến lược kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020...”.
Theo đó, ở lĩnh vực môi trường và đa dạng sinh học, tỉnh sẽ tập trung nguồn lực để thực hiện tốt các chính sách về bảo vệ môi trường, nhất là Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua vào tháng 6.2014; hoàn thiện và triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Đồng thời, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bảo tồn sự đa dạng sinh học đến năm 2030, kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2016 - 2020; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, thực hiện tốt công tác kiểm tra, xác nhận sau thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; điều tra, nghiên cứu, khảo sát hậu quả về mặt môi trường do thiên tai gây ra, đặt biệt là lũ lụt...
Về tổ chức bộ máy và cải cách hành chính, ngành tài nguyên và môi trường của tỉnh cũng đặt ra vấn đề: Tiếp tục thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính của Chính phủ và của tỉnh, tập trung chỉ đạo đẩy mạnh cải các hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ, tạo chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong giải quyết các thủ tục hành chính với các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân. (Báo Lâm Đồng 30/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Mới đây, PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý Giao thông vận tải đã đề xuất với Bộ trưởng Đinh La Thăng một kế sách mới góp phần hạn chế tai nạn thảm khốc ở các khu vực đèo dốc nguy hiểm đó là... trồng rừng.
Bình luận về đề xuất này, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Hồng Trường nói rằng, trồng rừng là tốt, nhưng nếu trồng rừng với mong muốn ngăn cản các xe gặp nạn thì rất bị động.
“Nói cách khác, trồng rừng không phải là giải pháp giải quyết được căn bản các vụ tai nạn giao thông thảm khốc. Một khi đã xảy ra tai nạn giao thông thì dù có cây cản, vẫn chết người”, Thứ trưởng bày tỏ.
Theo Thứ trưởng Trường, muốn giảm số vụ tai nạn giao thông ở các khu vực đèo dốc nguy hiểm, phải xây dựng cơ sở hạ tầng tốt hơn nữa để đáp ứng được vấn đề an toàn cho các loại xe.
Theo ông Trường, nên chủ động về cơ sở hạ tầng, đặc biệt hệ thống an toàn, không để xe gặp nguy hiểm khi đi vào đèo dốc. Ông cho rằng: “Có thể xây hộ lan bằng bê tông để xe không bị lăn lóc xuống vực khi xảy ra va chạm.
Cùng với đó, phương tiện cũng phải đáp ứng đủ chất lượng mới được cho phép lưu thông ở các đoạn đường xấu, đèo dốc, nguy hiểm. Ngoài ra phải quy định, kiểm soát tốc độ xe đi qua các đoạn đường đó, không được để tài xế “phi” với tốc độ quá lớn.
Nói về chất lượng tài xế, ông Trường cho rằng, trong quy định về điều kiện kinh doanh vận tải hành khách đã có khá đầy đủ, chặt chẽ. Hiện tại, vấn đề đặt ra là việc tổ chức thực hiện, ý thức chấp hành luật của một số doanh nghiệp vận tải chưa tốt.
Do vậy, tuyên truyền cho họ hiểu tính mạng con người là trên hết chứ không phải lợi nhuận kinh doanh. Thời gian tới, cần phải chủ động ở nhiều yếu tố chứ không thể để tai nạn thảm khốc xảy ra rồi mới làm.
“Nếu người ta thực hiện tốt theo các quy định hiện hành, tôi nghĩ đã giải quyết căn bản được vấn đề giảm thiểu tai nạn giao thông ở vùng đèo dốc”, ông Trường khẳng định.
Có cùng quan điểm với Thứ trưởng Trường, ông Mai Văn Thanh – Phó chủ tịch Hiệp hội vận tải ô tô Việt Nam cho rằng trồng rừng có tác dụng khác như chống xói mòn, cải tạo môi trường chứ không có tác dụng giảm thiểu thiệt hại về người và của trong các vụ tai nạn giao thông.
“Hẳn ông Thụ đang muốn đề cập tới việc trồng các cây to lớn để cản, không cho xe lao xuống vực sâu. Thế nhưng, tôi nghĩ giải pháp đó không ổn. Khi xe đang trên đà lao xuống vực, nếu bị cản lại cũng nguy hiểm không khác gì khi nó lăn tự do”, ông Thanh nói.
Theo ông Thanh, muốn giảm tai nạn giao thông ở khu vực đèo dốc, cần phải gắn các giải pháp theo 3 nhóm nguyên nhân sau: về con người, về hạ tầng, về các phương tiện giao thông vận tải.
Nếu nguyên nhân là do con người, phải chọn những lái xe quen đường, thạo lối. Nên nhớ hầu hết các vụ tai nạn lớn xảy ra đều do lái xe không quen đường, chủ quan với tay nghề.
Ông Thanh cho rằng đến giờ Bộ Giao thông vận tải chưa làm tròn trách nhiệm của mình. Họ chưa cung cấp đủ các biển cảnh báo cho lái xe khi vào khúc cua, đoạn đường cong, dốc nguy hiểm. Hiện nay nhiều đèo dốc cao, nhiều khúc cua nguy hiểm chưa có biển cảnh báo trước.
“Thế nhưng, Bộ Giao thông đang làm khá tốt việc giám sát kỹ thuật của các xe thường xuyên lưu thông qua các đoạn đèo dốc nguy hiểm. Bằng chứng là ít xe xảy ra tai nạn do lỗi kỹ thuật. Tuy vậy, các doanh nghiệp vận tải vẫn cần nâng cao trách nhiệm bảo trì cho các xe đó trong quá trình sử dụng”, ông Thanh nhận định.
Ngày 29/9, khampha.vn đăng tải ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Thụ, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý Giao thông vận tải đề nghị ông Cao Đức Phát - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ông Đinh La Thăng - Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải cùng tham gia vào hạn chế tai nạn giao thông bằng việc trồng rừng.
Theo ông Thụ, lan can phòng hộ hiện nay chỉ có chức năng cảnh báo và chỉ chặn được những cú va chạm nhẹ. Còn với một ô tô cỡ trung bình và lớn lao vào với vận tốc trên 20 km/h thì lan can không thể cản ô tô dừng lại được.
Ông đề xuất là ngoài việc làm lan can như hiện nay, nên trồng cây để chắn xe không lăn xuống vực đến vài trăm mét. Nhờ thế sẽ giảm mức độ thảm khốc của các vụ tai nạn ở khu vực đèo dốc nguy hiểm như ở Lào Cai vừa qua. (Khám Phá 2/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Trà Vinh (Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã triển khai trồng thử nghiệm 16.000 cây bần trên diện tích 4,2ha tại bờ biển xã Hiệp Thạnh (huyện Duyên Hải).
Theo cán bộ kỹ thuật Chi cục Kiểm lâm Trà Vinh, kỹ thuật trồng bần được thực hiện theo quy trình cây giống được chọn trồng có chiều cao từ 1,5m trở lên, được đào nguyên đất và rễ cho vào sọt tre rồi đem trồng cả sọt đất xuống bãi bùn.
Chiếc sọt đất sẽ giữ gốc bần cố định tại chỗ, thân và ngọn tự do ngả nghiêng theo sóng biển. Sau hơn hai tháng trồng, cây bần hiện đã bén rễ, tỷ lệ sống chiếm hơn 90% và có khả năng chống chọi với sóng biển.
Nếu thành công, Trà Vinh sẽ tiếp tục đầu tư trồng khoảng 700ha ở bờ biển xã Hiệp Thạnh có chiều dài khoảng 8km đang trong tình trạng bị sóng biển xâm thực gây sạt lở.
Cây bần rất thích nghi với vùng đất bãi bồi ven biển ở Trà Vinh. Địa phương đã thành công trong việc trồng cây bần gây rừng phòng hộ ở bờ biển xã Mỹ Long (huyện Cầu Ngang).
Từ trồng 100m bề ngang và 7.000m chiều dài của hơn 20 năm về trước, nay cây bần đã bám trụ, sinh sôi nẩy nở lấn ra biển, có nơi rộng ra hơn 500m, chạy dọc suốt 15km bờ biển, tạo “bức tường” xanh bảo vệ cư dân ven biển ở xã Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam và thị trấn Mỹ Long. (VietnamPlus 1/10) đầu trang(
30-9, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh đã chủ trì buổi làm việc với các sở ngành, huyện Định Quán và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà về việc quản lý đất rừng nằm trên địa bàn tỉnh.
Theo quy định của Chính phủ, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà phải tiến hành cổ phần hóa xong trong năm 2014. Vì vậy, để việc quản lý rừng tự nhiên hiệu quả, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà chỉ giữ lại trên 6 ngàn hécta rừng sản xuất; còn lại hơn 13 ngàn hécta rừng tự nhiên, công ty đề nghị giao hơn 11.200 hécta cho Vườn Quốc gia Cát Tiên và giao gần 1.900 hécta cho tỉnh quản lý.
Diện tích đất rừng tự nhiên giao cho tỉnh chủ yếu nằm trên địa bàn 3 xã: Thanh Sơn, Ngọc Định (huyện Định Quán) và Đắc Lua (huyện Tân Phú).
Tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh yêu cầu Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà rà soát lại đất rừng tự nhiên để khi bàn giao cho tỉnh nên bàn giao đất rừng liền khoảnh để dễ quản lý. (Báo Đồng Nai 30/9) đầu trang(
Trong đợt tiếp xúc cử trước kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII của đại biểu Quốc hội tỉnh, nhiều cử tri phản ánh: Hiện nay đơn giá khoán bảo vệ rừng, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, đặc dụng còn thấp.
Mặc dù năm 2011 đã được điều chỉnh với đơn giá trồng rừng và chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng là 15 triệu đồng/ha (gồm 01 năm trồng và 03 năm chăm sóc), khoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha nhưng so với thực tế vẫn còn thấp.
Cử tri đề nghị tăng suất đầu tư, hỗ trợ trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, tăng mức khoán quản lý, bảo vệ rừng để đảm bảo mức sống cho người nhận khoán. Vấn đề này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trả lời như sau:
Ngày 30/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2015; theo đó, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng tối đa 15 triệu đồng/ha; mức khoán bảo vệ rừng bình quân 200.000 đồng/ha/năm (mức cụ thể do UBND tỉnh, thành phố quyết định).
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất với kiến nghị của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Yên đã nêu và có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị sửa đổi định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp (số 2265/TTr-BNN-TCLN ngày 23/7/2012; số 4426/BNN-TCLN ngày 27/12/2012).
Tại cuộc họp ngày 18/6/2013 của Ban chỉ đạo nhà nước về Kế hoạch Bảo vệ rừng và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Trưởng ban chỉ đạo nhà nước đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương rà soát, dự thảo sửa đổi Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg.
Để tháo gỡ khó khăn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh có thể cân đối từ nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và huy động các nguồn vốn khác để hỗ trợ người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. (Phuyen.gov.vn 30/9) đầu trang(
Bộ Tài chính đang đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép áp dụng phương thức quản lý hoạt động NK từ Campuchia của cơ quan Hải quan như đối với hoạt động NK gỗ và các loại hàng hóa khác từ các nước khác.
Cơ sở để Bộ Tài chính đưa ra kiến nghị là dựa trên yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ đặt ra đối với việc quản lý gỗ nguyên liệu từ Campuchia, phải đơn giản, tương tự như trình tự thủ tục NK gỗ từ các nước khác; đồng thời, thương nhân NK gỗ nguyên liệu từ Campuchia phải tuân thủ pháp luật của Campuchia và pháp luật của Việt Nam.
Hiện nay, việc NK gỗ nguyên liệu từ Campuchia đang được thực hiện theo Thông tư 01/2014/TT-BCT. Theo đó, Thông tư 01 quy định, thương nhân NK gỗ nguyên liệu từ Campuchia phải tuân thủ pháp luật của Campuchia và pháp luật của Việt Nam.
Tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng, cụ thể việc pháp luật Campuchia gồm những quy định gì mà DN Việt Nam phải tuân thủ chưa rõ ràng. Mặt khác, cơ quan quản lý không có cơ sở để kiểm tra việc tuân thủ pháp luật Campuchia của DN Việt Nam và cũng không có chế tài xử lý khi DN Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật Campuchia.
Hơn nữa, trong hoạt động thương mại cũng như thông lệ kinh doanh NK hàng hóa thì DN Việt Nam hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam phải thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như chịu sự quản lý và chế tài xử lý vi phạm (nếu có) của các cơ quan chức năng tại Việt Nam.
Nếu hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Campuchia thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật Campuchia và chịu sự quản lý và chế tài xử lý vi phạm (nếu có) của cơ quan chức năng tại Campuchia.
Do vậy, để thống nhất thực hiện, Bộ Tài chính kiến nghị Thủ tướng Chính phủ phương thức quản lý hoạt động NK gỗ từ Campuchia của cơ quan Hải quan cũng như đối với hoạt động NK mặt hàng gỗ và các loại hàng hóa khác từ các nước khác.
Việc tuân thủ pháp luật Campuchia là trách nhiệm DN tự thực hiện và không trái với quy định của Việt Nam. (Hải Quan 30/9; Đại Biểu Nhân Dân 1/10, tr2) đầu trang(
Báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy, 9 tháng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 4,41 tỷ USD, tăng 13,5% so với cùng kỳ năm 2013.
Xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 8 tháng đầu năm sang hầu hết các thị trường chính đều tăng, ngoại trừ thị trường Trung Quốc giảm 1,69%. Hoa Kỳ và Nhật Bản có mức tăng trưởng lần lượt là 14,41% và 23,71% so với cùng kỳ năm 2013.
Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường nhập khẩu gỗ lớn nhất của Việt Nam tính đến hết tháng 8/2014, chiếm 62,33% tổng giá trị xuất khẩu của mặt hàng này. 9 tháng, các doanh nghiệp đã nhập khẩu gần 1,74 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, nhập khẩu gỗ từ thị trường Lào chiếm 30,1%, Campuchia chiếm 13,4%, Hoa Kỳ chiếm 10,2%.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu gỗ lớn thứ 4 của Việt Nam, chiếm 9,6% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tổng kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ thị trường này trong 8 tháng năm 2014 đã tăng 20,1% so với cùng kỳ năm 2013. (VOV 30/9; Đại Biểu Nhân Dân 1/10, tr2) đầu trang(
Hiệu quả từ triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) những năm qua không chỉ góp phần nâng cao đời sống cho bà con huyện Mường Tè mà còn nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Tống Văn Hoàn – Trưởng Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện cho biết: Cùng với sự nỗ lực của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện và UBND các xã, thị trấn, chính sách chi trả DVMTR được triển khai tới các thôn, bản, hộ dân. Công tác quản lý, chi trả nguồn kinh phí tới đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả.
Việc chi trả DVMTR đã và đang tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội; góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động địa phương, giúp bà con thêm gắn bó với rừng.
Tìm hiểu được biết, để thực thiện chính sách chi trả DVMTR đạt hiệu quả cao, công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Nghị định số: 99/NĐ-CP và các văn bản của Trung ương, của tỉnh được tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ và nhân dân các dân tộc trong toàn huyện; vận động nhân dân bảo vệ rừng không để xảy ra cháy rừng, phát rừng làm nương rẫy; quyền lợi và trách nhiệm của nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Điểm nổi bật là, đã phát huy vai trò của các ban, ngành, đoàn thể xã, các già làng, trưởng bản để nhân dân hiểu được mục đích, ý nghĩa của chính sách bằng ngôn ngữ địa phương. Nhiều địa phương đãxây dựng quy ước, hương ước bảo vệ rừng tại các bản trong xã, thành lập các tổ, đội xung kích phòng, chống cháy rừng, khoanh vùng làm nương rẫy và là lực lượng nòng cốt trong việc ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng.
Công tác rà soát, đánh giá, thống kê diện tích đủ điều kiện để chi trả DVMTR, xác định đối tượng được hưởng tiền từ DVMTR trên địa bàn các xã, thị trấn được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo tiến độ, triển khai kịp thời vốn kinh phí đã giải ngân đến các chủ hộ nhận khoán theo quy định.
Hiện tại trên địa bàn huyện, các Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đang áp dụng lập hợp đồng theo hình thức khoán cho các tổ chức, nhóm hộ, cộng đồng thôn, bản để quản lý, bảo vệ rừng. Tính đến hết năm 2013 đã có 100% diện tích rừng được quản lý, bảo vệ và được hưởng tiền chi trả DVMTR.
Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn huyện đã dần thay đổi nhận thức của người dân về rừng, các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ với các chủ rừng và chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng; đồng thời huy động hình thành một nguồn tài chính lớn và bền vững cho công tác bảo vệ rừng, góp phần việc ổn định đời sống người dân, hạn chế những tiêu cực, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
Diện tích rừng ở nhiều xã cũng nhờ đó mà tăng lên đáng kể so với trước khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Hoạt động tuần tra canh gác rừng được làm thường xuyên, chặt chẽ hơn. Hiện nay, toàn huyện có gần 7.000 hộ được nhận tiền chi trả DVMTR, bình quân 1 hộ nhận được trên 16 triệu đồng/năm. Khoản thu nhập này đã góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần đáng kể cho bà con.
Nhiều hộ đã sử dụng tiền chi trả DVMTR để tái sản xuất như: Mua cây giống, con giống, đầu tư cho con ăn học, mua xe máy, tivi, tủ lạnh, máy xay xát... Năm 2012, do nạn chuột phá hoại cây trồng, nhiều diện tích lúa nương, hoa màu trên địa bàn huyện bị mất trắng dẫn đến tình trạng thiếu lương thực, huyện đã chỉ đạo các xã hướng dẫn bà con sử dụng tiền chi trả DVMTR mua lương thực để sử dụng và dự trữ cho thời điểm giáp hạt; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 38,34%.
Số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy cũng như các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng cũng giảm đáng kể, năm 2013 giảm 9 vụ so với năm 2011. Trên địa bàn huyện không có tụ điểm lớn về phá rừng, kinh doanh lâm sản trái pháp luật. Hiện nay, độ che phủ rừng của huyện cao nhất tỉnh, đạt 60,76%
Đến hết năm 2013 toàn huyện có 162.826,8 ha đất có rừng (rừng đặc dụng 22.231,6 ha, rừng phòng hộ 65.760,5 ha, rừng sản xuất 74.744,6 ha). Diện tích được chi trả DVMTR đến hết tháng 12 năm 2013 là 174.750,2 ha (rừng đặc dụng 22.455,3 ha, rừng phòng hộ 69.904 ha, rừng sản xuất 82.390,9 ha). (Báo Lai Châu 1/10) đầu trang(
Sau hơn 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lào Cai đã thu được gần 30 tỷ đồng từ chính sách này; trong đó, tổng số tiền Qũy đã giải ngân, tính đến hết năm 2013 là trên 15 tỷ đồng.
Xã Tả Van là địa phương có diện tích và số tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả nhiều nhất với 2007 ha, số tiền được nhận chi trả trong hai năm là trên 590 triệu đồng. Đứng thứ 2 là xã San Sả Hồ, có 5 hộ nhận khoán bảo vệ hơn 2000 ha rừng; số tiền được nhận chi trả là trên 590 triệu đồng. Riêng xã Bản Hồ chỉ có 1 hộ nhận khoán bảo vệ, diện tích lên tới 643 ha; số tiền nhận chi trả trong 2 năm là 189 triệu đồng.
Trước khi chủ trương chi trả dịch vụ môi trường rừng của Chính phủ được thực hiện, người dân chưa có ý thức bảo vệ rừng, thường xuyên để xảy ra tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đốt nương làm rẫy. Nhưng từ năm 2012 trở lại đây, khi rừng có chủ, việc bảo vệ đã được nhân dân tự giác phối hợp với Kiểm lâm làm tốt; số vụ cháy rừng giảm hẳn.
Từ ngày thực hiện giao khoán bảo vệ rừng có dịch vụ chi trả, công tác bảo vệ rừng đã đi vào nền nếp và quy củ hơn, nhân dân và chính quyền địa phương đã hợp tác chặt chẽ với cơ quan chức năng bảo vệ rừng, chủ động tố cáo và đấu tranh có hiệu quả, đẩy lùi tình trạng phá rừng diễn ra từ nhiều năm qua.
Có thể khẳng định, dịch vụ môi trường rừng đã có tác động rất lớn đến việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chỉ trong 2 năm chính sách này được triển khai, diện tích rừng của Lào Cai đã tăng thêm hơn 9.410 ha, tổng số vụ vi phạm giảm từ 238 vụ năm 2012, xuống còn 127 vụ năm 2013; chỉ xảy ra 2 vụ cháy rừng, so với năm 2012 giảm 35 vụ.
Trong thời gian tới, Lào Cai sẽ tiếp tục triển khai sâu rộng hơn chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm khuyến khích người dân bảo vệ rừng ngày càng hiệu quả và bền vững. (Đài PTTH Lâm Đồng 1/10) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Quảng Ngãi (gọi tắt là Quỹ) đã được thành lập và đi vào hoạt động từ tháng 10.2013, bước đầu thu được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách này vẫn còn nhiều hạn chế.
Thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 và chủ trương xã hội hóa nghề rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24.9.2010 về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.1.2011.
Đây là một chính sách mới, nhằm huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là sự đóng góp từ các cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ môi trường rừng, tạo nguồn tài chính quan trọng để phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Triển khai chính sách này, Ban lãnh đạo Quỹ đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành một số văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp, UBND các huyện, các tổ chức sử dụng dịch vụ môi trường rừng triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Ngày 12.3.2014, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 325/QĐ-UBND về việc phê duyệt danh sách các tổ chức sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, trước mắt tỉnh ta xác định chỉ có hai đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Đó là các cơ sản xuất thủy điện và các cơ sở sản xuất, cung ứng nước sạch. Đến nay, Quỹ đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các Đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng cho từng đơn vị có sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh để làm cơ sở cho việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng. Dự kiến, đầu năm 2015, Quỹ sẽ tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng.
Tính đến ngày 31.8, Quỹ này đã thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các nhà máy sản xuất thủy điện đăng ký kế hoạch năm 2013 gần 2,2 tỷ đồng. Theo kế hoạch năm 2014, các nhà máy sản xuất thủy điện phải đóng Quỹ trên 4 tỷ đồng, dù vậy đến nay Quỹ chỉ thu được trên 465 triệu đồng. Số tiền còn lại phải thu gần 3,4 tỷ đồng.
Đáng chú ý, một số tổ chức sử dụng dịch vụ môi trường rừng nhưng chưa thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho Quỹ là Thủy điện Hà Nang, Thủy điện Cà Đú. Ngoài ra, còn có một số tổ chức sản xuất và cung ứng nước sạch cũng chưa ký hợp đồng trả tiền dịch vụ môi trường rừng vì đang chờ điều chỉnh giá nước.
Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ngày 18.12.2013 thì các đơn vị còn nợ tiền dịch vụ môi trường rừng của các năm từ 2011-2012 phải khẩn trương ký hợp đồng ủy thác bổ sung và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng ở các địa phương.
Tuy nhiên, đến nay các nhà máy thủy điện vẫn chưa chịu ký hợp đồng bổ sung để chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2011-2012 cho Quỹ nên cần phải có chế tài để xử lý các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng chậm nộp hoặc cố tình chiếm dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Có như vậy, mới thực hiện nghiêm chính sách này, qua đó, tạo điều kiện cho các chủ rừng trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Quảng Ngãi 2/10) đầu trang(
Vừa qua, Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã tổ chức Hội thao kỷ niệm 40 năm thành lập lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình (9/10/1974 – 9/10/2014).
Với phương châm, hoạt động thể dục - thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, xây dựng lối sống lành mạnh cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành, thời gian qua.
Chi cục Kiểm lâm Quảng Bình đã phát động phong trào thể dục - thể thao với khẩu hiệu “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại – Rèn luyện sức khỏe để bảo vệ rừng”. Hội thao trong toàn lực lượng Kiểm lâm được tổ chức 2 năm 1 lần và đợt này được tổ chức đúng vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Kiểm lâm Quảng Bình.
Hội thao không chỉ là nơi để các vận động viên đua sức, tranh tài mà còn là dịp để các đơn vị gặp gỡ, giao lưu, học hỏi kinh nghiệm, tạo nên khí thế mới để ra sức thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng.
Tham dự Hội thao kỷ niệm 40 năm thành lập lực lượng Kiểm lâm Quảng Bình lần này có 145 vận động viên là cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của 11 đơn vị trực thuộc Chi cục và Hạt Kiểm lâm Phong Nha thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. (Đài PTTH Quảng Bình 29/9) đầu trang(
Được sự đồng ý của tỉnh, BQL Rừng phòng hộ huyện Vân Canh đã triển khai dự án trồng thử nghiệm cây sa nhân dưới tán rừng phòng hộ tại làng Canh Tiến, xã Canh Liên.
Đợt 1 bắt đầu trồng từ giữa tháng 10/2014 với diện tích 0,5 ha, đợt 2 sẽ trồng thêm 0,5 ha trong năm 2015.
Hiện những chiếc hố đã được đào và ủ phân, khoảng 10 ngày sau, khi phân đã hoai, việc xuống giống sa nhân sẽ bắt đầu được tiến hành. Trong đợt 1 này, BQL Rừng phòng hộ huyện Vân Canh sẽ thực hiện trồng bằng cây giống thu lượm trong tự nhiên và cây giống giâm hom ươm trong túi bầu. Loại cây giống nào cho tỷ lệ sống cao, phát triển tốt sẽ được nhân rộng trong thời gian tới.
Sau khi thí điểm thành công mô hình, BQL sẽ mở rộng diện tích nhằm phát huy tính hiệu quả của mô hình, tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế, tăng thu nhập, tích cực bảo vệ rừng và giúp người dân gắn bó với rừng hơn.
Cây sa nhân có tên khoa học là Amomum longiligulare T.L.Wu, thuộc họ gừng, sống dưới tán rừng, là một loại cây thuốc dùng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa... (Nông Nghiệp Việt Nam 2/10, tr18) đầu trang(
Nhờ sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương, sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh trong việc tuyên truyền, hướng dẫn, tạo điều kiện và hỗ trợ gạo để đồng bào các dân tộc trên địa bàn, nhất là đồng bào Mông, Dao, Khơ Mú... đã thay đổi tập quán canh tác làm nương rẫy sang trồng rừng sản xuất để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc mang lại hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội.
Từ đầu năm 2014 đến nay, huyện Mường Lát đã trồng 3.300/3.990 ha, đạt 83% kế hoạch. Hiện tại huyện đang tập trung chăm sóc cây giống, chỉ đạo các xã, đến từng bản vận động người dân tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ trồng mới, trồng dặm bảo đảm chất lượng và kế hoạch năm. (Báo Thanh Hóa 27/9) đầu trang(
Sau khi đấu thầu bãi đất hoang hoá với diện tích 5ha, ông Nguyễn Kiên Hùng, ở xóm Bá Vân 1, xã Bình Sơn (T.X Sông Công) đã đầu tư cho việc trồng rừng. Nhờ quyết tâm cải tạo vùng đất khó và bàn tay lao động cần cù, ông Hùng đã trồng nên những cánh rừng bạt ngàn với nguồn thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm.
Đến nhà ông Hùng đúng dịp ông đang thuê thợ xẻ gỗ để làm nhà cho con trai, trong sân nhà, ông xếp đầy những cây gỗ keo to gần chục năm tuổi. Tốp thợ nói vui: Ông Hùng là “trùm gỗ” của xóm này nên muốn làm nhà thì chỉ cần lên rừng đem gỗ về là có nhà.
Ngược dòng thời gian, ông Hùng tâm sự về những tháng ngày gian khó để có được thành quả như hôm nay: Trước đây, gia đình ông chủ yếu sống nhờ việc cấy lúa, trồng chè, tuy lao động vất vả nhưng cuộc sống cũng chỉ đủ ăn. Đến năm 2007, khi xóm Bá Vân 1 tổ chức đấu thầu bãi đất ven sông Công, ông liền nghĩ đến chuyện thử vận may với việc đầu tư trồng rừng.
Biết ý định của ông, người trong xóm ai cũng nghĩ ông “liều” vì người ta thường trồng rừng ở đồi, núi, chứ mấy ai trồng rừng ở soi, bãi như ông, nhất là khi bãi đất đó lại toàn cây cỏ rậm rạp và hố, thùng, vũng sâu do việc khai thác cát, sỏi trước đó. Vợ con ông cũng ra sức ngăn cản khi thấy việc làm của ông quá mạo hiểm, ai cũng nghĩ rồi ông sẽ thất bại là cái chắc. Bỏ qua những lo lắng, khuyên can của mọi người, ông Hùng vẫn quyết định thầu đất để trồng rừng trong thời gian 15 năm.
Sau khi nhận đất, ông vay tiền ở ngân hàng và anh em, bạn bè để thuê máy xúc, máy ủi về san bằng các thùng, vũng. Làm đến đâu, ông mua cây keo về trồng đến đó, do thời gian đầu rễ cây còn yếu, lại trồng trên vùng đất cát nên diện tích keo ông trồng cứ còi cọc, kém phát triển khiến ông cũng cảm thấy hoang mang, nhưng với suy nghĩ “đâm lao phải theo lao” ông mày mò tìm hiểu các cách chăm sóc keo bằng nhiều hình thức, cuối cùng ông chọn cách tăng lượng phân bón cho keo vừa để cải tạo đất, vừa cung cấp thêm nguồn dinh dưỡng cho cây phát triển.
May mắn là cách làm của ông đã đem lại hiệu quả bất ngờ, sau một thời gian được chăm bón cẩn thận, cây keo trở nên cứng cáp hơn, rễ keo đâm sâu vào lòng đất và vươn mình xanh tốt.
Theo ông Hùng thì trồng keo ở soi, bãi khiến cho cây phát triển nhanh hơn so với trồng ở đồi, núi rất nhiều bởi hàng năm đất ở đó được phù sa bồi đắp, có nhiều chất dinh dưỡng. Vậy nên rừng keo của ông trồng được 6 năm tuổi đã to bằng cây keo gần 7 năm tuổi trồng ở vùng đồi, núi.
Năm 2013, ông Hùng bán được lứa keo đầu tiên với giá 200 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, ông vẫn lãi khoảng hơn 100 triệu đồng. Ngoài ra, từ năm thứ 3, khi cây chưa đến tuổi thu hoạch, ông còn được tỉa cành bán làm chất đốt, 5ha rừng đã giúp ông có thêm nguồn thu nhập hơn 50 triệu đồng từ việc tỉa cành, cây bị còi cọc, sâu bệnh.
Theo chân ông Hùng “mục sở thị” rừng keo của gia đình, PV được thoả mắt ngắm nhìn màu xanh non mỡ màng, đầy sức sống của những cây keo gần 1 năm tuổi, đây là lứa keo thứ 2 ông Hùng trồng sau khi cho thu hoạch đồng loạt lứa thứ nhất.
Nhìn thành quả lao động của mình, ông Hùng cho biết: Trồng rừng để phủ xanh đất trống, khi được thu hoạch gỗ thì rừng mang lại nguồn thu nhập cao. Tuy nhiên cũng cần phải nắm vững được đặc tính của cây để có mật độ trồng thích hợp, áp dụng đúng kỹ thuật trồng và chăm sóc cây.
Ngoài ra, phải thường xuyên dọn thực bì để đảm bảo cây phát triển tốt và phòng, chống cháy rừng. Trung bình 1ha rừng trồng khoảng 1.600 cây, sau 5 đến 6 năm thì bắt đầu được thu hoạch. Hiện nay, việc chăm sóc 5ha rừng đều do 2 vợ chồng tôi làm, nhờ có rừng, gia đình tôi không những lo được cuộc sống đầy đủ mà còn có một khoản nhất định để dành.
Ngoài trồng rừng, hằng năm, gia đình tôi còn có thêm nguồn thu nhập từ việc trồng chè và chăn nuôi. Với 3 sào chè và hơn chục con lợn thịt nuôi gối lứa, mỗi năm tôi cũng được thu từ 60 đến 70 triệu đồng. (Báo Thái Nguyên 29/9) đầu trang(
Hình thành vùng thâm canh cho năng suất, chất lượng cao, tăng giá trị sản phẩm đầu ra để đủ sức cạnh tranh trên thị trường là những giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh từ rừng.
Từ bao đời nay, luồng là loại cây gắn bó mật thiết với đời sống của bà con nông dân ở nhiều huyện miền núi. Đây cũng là loại cây lâm nghiệp chủ lực của tỉnh ta. Với 71.000 ha rừng luồng, chiếm tới 40,7% diện tích rừng trồng của tỉnh, cây luồng đang từng bước giúp khoảng 35.000 hộ dân xóa đói, giảm nghèo và tạo việc làm cho hàng vạn lao động tham gia khai thác, chế biến sản phẩm từ luồng.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chất lượng rừng luồng sinh trưởng phát triển tốt chỉ có 18,8%; rừng luồng chất lượng trung bình, cần tác động các biện pháp kỹ thuật để đạt tiêu chí kinh doanh là 30,12%; diện tích còn lại là rừng luồng sinh trưởng, phát triển kém cần phục tráng.
Để rừng luồng phát triển bền vững, năm 2012, UBND tỉnh đã phê duyệt “Quy hoạch vùng thâm canh luồng tập trung tỉnh Thanh Hóa, thời kỳ 2011-2020”. Theo đó, thực hiện đồng bộ từ việc quản lý, bảo vệ, trồng mới, phục tráng, khai thác, chế biến sản phẩm... để xây dựng, phát triển vùng luồng từ sản xuất quảng canh truyền thống sang sản xuất thâm canh tập trung tăng năng suất và chất lượng. Trong đó, chú trọng tới việc huy động sự tham gia của các thành phần kinh tế trong việc liên kết trồng, bao tiêu, chế biến sản phẩm để tăng thu nhập cho bà con nông dân.
Anh Nguyễn Phi Hùng, Phó phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Quan Hóa, cho biết: Qua khảo sát, huyện có 6.517 ha luồng ở 15 xã bị suy kiệt cần phục tráng.
Để phục tráng hiệu quả, cần nhiều yếu tố như con người, phương tiện, kỹ thuật và đặc biệt là nguồn vốn. Hiện tại, nguồn vốn cho phục tráng, cải tạo rừng luồng của huyện vẫn trông chờ vào ngân sách Nhà nước phân bổ hàng năm từ các chương trình, dự án; mà chưa huy động được nguồn vốn xã hội hóa. Vì vậy, tính đến hết tháng 8-2014, toàn huyện mới phục tráng được 983,5 ha luồng, đạt 15% kế hoạch.
Ngoài cây luồng, tỉnh ta hiện nay có hơn 10.000 ha rừng gỗ lớn, theo đề án tái cơ cấu lâm nghiệp, đến năm 2015 toàn tỉnh phát triển 27.800 ha rừng trồng kinh doanh gỗ lớn và con số này đến năm 2020 là 55.932 ha. Tuy nhiên, việc “nuôi” rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn đối với người nông dân là quá sức.
Đến thăm gia đình anh Lương Văn Trường, thôn Đồng Ván, xã Thanh Kỳ (Như Thanh) vào đúng thời điểm gia đình đang khai thác 6 ha keo 5 tuổi. Anh chia sẻ: Cán bộ lâm nghiệp cũng có tuyên truyền cho gia đình mô hình phát triển rừng keo gỗ lớn cho lợi nhuận cao hơn. Nhưng đầu tư đến đây là “kiệt sức” nên gia đình đành phải khai thác để thu hồi vốn.
Anh Lê Võ, cán bộ lâm nghiệp huyện Như Thanh, cho biết: Hiện nay, huyện đang xây dựng thí điểm mô hình kinh doanh rừng gỗ lớn, lợi nhuận theo tính toán có thể lên tới 800 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, đa phần tiềm lực kinh tế của người dân không cho phép, trong khi nguồn vốn vay theo các chương trình, dự án lại quá ít ỏi.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 639 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản, trong đó có 534 cơ sở đã được cấp phép. Tuy nhiên, hầu như các cơ sở đều chưa chủ động được nguyên liệu.
Ông Trịnh Văn Lịch, Giám đốc Nhà máy Chế biến gỗ công nghiệp Thành Nam, đóng trên địa bàn xã Xuân Bình (Như Xuân), chia sẻ: Là một nhà máy chế biến gỗ có dây chuyền công nghệ hiện đại với tổng vốn đầu tư hơn 400 tỷ đồng, tuy nhiên từ đầu năm 2014 đến nay, nhà máy mới chỉ vận hành được 1/8 công suất, nguyên nhân là do thiếu nguyên liệu.
Huyện Quan Hóa hiện có 24 cơ sở chế biến lâm sản; tuy nhiên, do đường lâm sinh chưa được đầu tư nên việc khai thác nguyên liệu rất khó khăn và phải thực hiện bằng thủ công. Do đó, 90% hộ dân bán luồng cho thương lái, các cơ sở chế biến rất khó cạnh tranh được nguyên liệu luồng để phục vụ sản xuất. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp đều có tư tưởng trông chờ, ỷ lại Nhà nước trong việc đầu tư phát triển vùng nguyên liệu.
Đại diện Công ty TNHH Duyệt Cường, xã Xuân Phú (Quan Hóa), chia sẻ: Tháng 6, tháng 7 hàng năm là thời điểm công ty có lượng đơn hàng nhiều, nhưng nguồn nguyên liệu lại phụ thuộc phần lớn vào các đơn vị khai thác với giá cao hơn.
Còn ông Chu Văn Sáu, Giám đốc Công ty TNHH Tre xứ Thanh, cho biết: Ngoài việc sản xuất than hoạt tính xuất khẩu, hiện nay công ty còn xuất khẩu cây luồng sấy khô sang Pháp. Tuy nhiên, khách hàng các thị trường khó tính thường yêu cầu về lý lịch của cây nguyên liệu, kỹ thuật khai thác cũng phải bảo đảm. Vì vậy, mặc dù nằm giữa vùng nguyên liệu nhưng mỗi tháng đơn vị chỉ chọn được 600 cây luồng để làm nguyên liệu chế biến sản phẩm xuất khẩu.
Để giải quyết những khó khăn trên, mô hình liên kết đầu tư trồng rừng, bao tiêu sản phẩm, chế biến và tiêu thụ được coi là giải pháp tối ưu. Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở chế biến khi được hỏi về điều này đều chưa sẵn sàng.
Theo ông Nguyễn Văn Bính, Giám đốc Công ty CP Sản xuất thương mại Tân Nhật Thanks: Không như cây mía, cây sắn chu kỳ ngắn và ít nhà máy chế biến. Với cây keo, hiện tại trên địa bàn tỉnh có nhiều nhà máy chế biến, đặc biệt là gỗ dăm. Với các loại cây lâm nghiệp, chu kỳ kinh doanh dài (5-7 năm đối với kinh doanh gỗ nhỏ; hơn 10 năm đối với kinh doanh gỗ lớn), doanh nghiệp có đầu tư vốn cũng không đủ sức để bảo vệ vùng nguyên liệu.
Ngoài một vài cơ sở chế biến lớn, đa số quy mô chế biến nhỏ lẻ, do đó hạn chế về tài chính, cũng như khả năng lập dự án nên khó đáp ứng được điều kiện vay vốn từ các ngân hàng thương mại. Để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực phát triển rừng, rất cần Nhà nước, các cơ quan liên quan nghiên cứu các chính sách tín dụng phù hợp để doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận vốn vay, yên tâm đầu tư vào sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh những chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực lâm sản, các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc tái đầu tư vùng nguyên liệu theo hình thức hộ gia đình góp vốn bằng quyền sử dụng đất, doanh nghiệp đầu tư vốn phát triển sản xuất, khi có sản phẩm phân chia theo tỷ lệ đóng góp. (Báo Thanh Hóa 1/10) đầu trang(
Theo Quyết định số 1391/ QĐ- UBND ngày 20/8/2014 của UBND tỉnh về phân bổ chỉ tiêu trồng rừng năm 2015, huyện Pác Nặm được giao trồng 820ha rừng trong năm tới.
Trong đó, rừng sản xuất là 700ha, rừng phân tán là 100ha và rừng phòng hộ là 20ha. Để chuẩn bị cho công tác trồng rừng của năm tới, với mục tiêu đạt kết quả cao nhất, Ban Quản lý Dự án bảo vệ và phát triển rừng của huyện Pác Nặm đã tiến hành giao cho các xã triển khai đăng ký trồng rừng và cơ cấu giống rừng.
Hướng dẫn các xã thực hiện các bước về trồng rừng sản xuất đến từng hộ gia đình; tổ chức họp thôn để phổ biến kế hoạch, địa điểm, cơ chế, chính sách của Nhà nước cho các hộ dân có quỹ đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch trồng rừng sản xuất để bà con đăng ký. Ngoài ra huyện cũng đã xây dựng kế hoạch rà soát đất trồng rừng, chủ động chuẩn bị nguồn giống để gieo ươm. (Đài PTTH Bắc Kạn 29/9) đầu trang(
Chỉ trong vòng nửa tháng, hơn 50ha đất rừng sản xuất của Ban quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Ninh Hòa bị 53 hộ dân ở buôn Lác, buôn Sim (xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa) chiếm dụng.
Dọc theo triền núi Chơ Hích ở buôn Lác, gần 200ha rừng keo mới được thu hoạch, phần đất này vừa được phát dọn các loại thực bì nên lộ ra những khoảnh đất màu mỡ. Tuy ai cũng biết đây là đất của BQLRPH Ninh Hòa, nhưng hàng chục hộ dân của buôn Lác, buôn Sim vẫn đến chiếm những vạt đất đẹp ở đây để trỉa bắp. Mỗi hộ tự tạo mốc giới, chiếm dụng đất bất hợp pháp.
Men theo con đường mòn đến những khu vực rừng bị chiếm đầu tiên, bắt gặp gia đình bà H’ Biên (người Ê Đê) đang nhổ cỏ cho vạt bắp đã mọc lên khoảng 1 gang tay. Thấy người lạ, bà H’ Biên đảo mắt nhìn, rồi nói: “Ơ, đất nhà mình trồng bắp, đến đây làm gì? Đi chỗ khác để cho mình còn làm”.
Nói đoạn, bà H’ Biên tiếp tục vung dao chặt những chồi keo đang nhú lên trên vạt bắp, nhưng mắt vẫn nhìn với vẻ đầy nghi ngại. Khi được hỏi, đất của BQLRPH sao lại chiếm, bà H’ Biên nói những lời bất cần: “Đất lâm trường (ý nói đất của BQLRPH) thì kệ. Hồi trước, mấy ông trồng keo, nay keo chặt rồi thì mình trồng bắp. Phải làm vậy mới có ăn, chứ lâu nay làm được bao nhiêu ăn hết bấy nhiêu. Khu này, nhà mình mới làm được 2,6ha, đợi vài ngày nữa có bắp sẽ trỉa tiếp”.
Trò chuyện với ông Nguyễn Kỷ - nhân viên của BQLRPH Ninh Hòa, ông cho biết: “Trường hợp như gia đình bà H’ Biên không phải là cá biệt. Hiện nay, cả khu vực này đã có tới 53 hộ chiếm đất rừng phòng hộ. Chỉ trong vòng nửa tháng, hơn 50ha đất rừng keo vừa thu hoạch đã bị người dân buôn Lác và buôn Sim chiếm dụng”.
Chỉ tay về phía bạt ngàn đất rừng đã bị chiếm, ông Kỷ nói thêm: “Trước năm 2000, khu vực này lô nhô đá, cỏ tranh khắp nơi. Khi UBND tỉnh giao cho BQLRPH Ninh Hòa, ít ai nghĩ khu vực này sẽ thành rừng, có cho chắc cũng không người dân nào dám làm. Sau nhiều cố gắng của BQLRPH, toàn bộ gần 200ha đất rừng đã được cây keo bao phủ. Đầu năm 2014, cây keo cho thu hoạch; sau đó, BQLRPH đã cho phát đốt để chuẩn bị trồng lại vụ keo mới trên toàn bộ diện tích này. Vậy mà...”.
Nói đến đây, ông Kỷ thở dài ngao ngán. Bởi giờ đây, làm sao có thể trồng được rừng khi những nơi đẹp nhất đã bị người dân chiếm hết. Số diện tích đất rừng bị chiếm dụng nằm xen trong khoảng 90ha đất trồng rừng, tạo thành những vệt loang lỗ da beo. Nếu bây giờ trồng keo chắc chắn sẽ bị người dân lén nhổ bỏ đi. Thậm chí, nếu không có sự chuẩn bị, rất dễ xảy ra xung đột giữa người chiếm đất với công nhân trồng rừng.
Được biết, tình trạng người dân chiếm đất bắt đầu vào cuối tháng 8. Khi đó, chỉ có vài gia đình nên chủ rừng còn vận động được. Nhưng từ đầu tháng 9, mấy chục hộ dân cùng tràn vào chiếm đất, trỉa bắp. Tính đến ngày 29-9, BQLRPH thống kê được 53 hộ dân chiếm đất rừng. Tuy nhiên, có mặt tại thực địa, nhận thấy tình trạng chiếm đất rừng chưa có dấu hiệu dừng lại.
Dọc khu vực suối Dẽ, vòng qua núi Ông Cai, giữa bạt ngàn đất rừng của Tiểu khu 64, đi tới đâu cũng có sự hiện diện của người dân buôn Lác, buôn Sim ngang nhiên chiếm đất rừng. Phía dưới những gốc keo còn sót lại lô nhô trên đất, những vạt bắp đã bắt đầu vươn cao.
Bên cạnh những khoảng đất đã trỉa bắp, người dân tiếp tục chiếm thêm những khoảnh đất khác cũng trong phạm vi đất rừng của BQLRPH Ninh Hòa. Thấy người này làm được, người khác cũng làm theo. Rừng phát quang đến đâu, người dân ra chiếm đến đó.
Thấy một tốp người đang nghỉ ngơi sau khi tạo đường ranh để chiếm đất trỉa bắp, ghé vào tìm hiểu. Y Bùi (ở buôn Sim) người còn đẫm mồ hôi tỏ ra khó chịu: “Hỏi làm gì, người ta làm được thì mình làm được. Anh em mình làm 5ha rồi. Nhà nước đã thu hoạch keo nên mình lấy đất để trồng bắp, làm mía…”. Anh trai Y Bùi là Y Tới cũng nói chen vào: “Lâm trường ăn một vụ keo rồi, giờ để bọn mình làm. Xã đã họp tuyên truyền không được chiếm đất rừng, nhưng bọn mình không đồng ý”.
Trong số hơn 10 hộ được hỏi, hộ nào cũng nói “đây là đất của cha ông mình”; có khi, họ lại nói không có đất sản xuất thì lấy đất rừng làm rẫy, lâm trường làm được thì người dân làm được…
Đem chuyện này trao đổi với Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Ninh Hòa, ông Đặng Cửu - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã khẳng định: “Diện tích đất này đã được UBND tỉnh ra quyết định giao cho BQLRPH Ninh Hòa từ năm 1998 và cấp quyền sử dụng đất năm 1999. Chúng tôi đã đề nghị người dân phải dừng mọi hoạt động phát dọn, sản xuất trong khu vực đất do BQLRPH quản lý”.
Ngay sau khi sự việc xảy ra, UBND thị xã đã thành lập tổ công tác đến hiện trường tìm hiểu sự việc, đồng thời mời các hộ dân lên UBND xã Ninh Tây để tuyên truyền, vận động; thế nhưng, người dân vẫn không chấp nhận, tiếp tục lấn chiếm trái phép. Khi đoàn công tác đến vận động, họ đưa ra những lý lẽ rất khó chấp nhận và không tuân thủ quy định của pháp luật. Thậm chí, đoàn công tác còn bị những người chiếm đất ngăn cản, mắng chửi khi khảo sát thực địa.
Ông Lê Xuân Tuyên - Chủ tịch UBND xã Ninh Tây không đồng tình với ý kiến người dân cho rằng vì thiếu đất nên họ chiếm đất: “Hiện nay, có 53 hộ đã trỉa bắp trên đất của BQLRPH Ninh Hòa quản lý. Trong số đó, chỉ có 8 hộ cận nghèo, còn lại là các hộ có cuộc sống trung bình và khá. Tất cả các hộ này không thiếu đất sản xuất.
Chính quyền địa phương đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân phải tuân thủ các quy định của pháp luật, dừng mọi hoạt động đốt, phát dọn trên phần đất BQLRPH Ninh Hòa quản lý. Hiện nay, địa phương chỉ có 36 hộ thiếu đất sản xuất. UBND thị xã đã lên phương án thu hồi đất tại khu vực thùng Cửa Sổ với tổng diện tích 18ha để giao cho 36 hộ này”.
Mấy tuần qua, BQLRPH Ninh Hòa như ngồi trên đống lửa. Theo kế hoạch, có gần 200ha đất chuẩn bị trồng rừng, nhưng do người dân chiếm đất nên có đến 120ha không thể thực hiện. Được biết, số tiền đầu tư để phát dọn, mua cây giống khoảng hơn 9 triệu đồng/ha. Nếu không xuống giống được trên diện tích này thì thiệt hại sẽ lên đến hàng tỷ đồng.
Ông Nguyễn Công Hà - Giám đốc BQLRPH Ninh Hòa bức xúc: “Phần đất bị người dân lấn chiếm là phần đất UBND tỉnh giao, cấp sổ cho BQLRPH. Vì vậy, không thể coi đây là phần diện tích đất đang tranh chấp giữa Ban với các hộ dân được. Chúng tôi kiến nghị cấp trên có chủ trương xử lý rõ ràng. Để triển khai trồng rừng trên diện tích đã trồng bắp, cần vận động người dân trả lại đất để Ban trồng rừng; hoặc người dân phải ký cam kết để Ban trồng rừng xen với phần trồng bắp, đến khi thu hoạch bắp xong, người dân phải trả lại diện tích đất này để chúng tôi chăm sóc rừng trồng”.
Theo ông Hà, trong trường hợp các hộ này thực sự thiếu đất sản xuất, UBND thị xã Ninh Hòa cần kiến nghị UBND tỉnh Khánh Hòa có chủ trương thu hồi đất của Ban, lập phương án phân chia đất sản xuất cho các hộ thiếu đất.
“Tình trạng người dân lấn chiếm đất của BQLRPH ngày càng nghiêm trọng. Chúng tôi không loại trừ khả năng có kẻ xấu đứng sau xúi giục người dân những việc làm sai trái. Vì vậy, bên cạnh việc tuyên truyền, vận động người dân chấp hành pháp luật, cơ quan chức năng cần phải điều tra nhằm ổn định tình hình” - ông Hà nói.
Được biết, mới đây, UBND thị xã Ninh Hòa đã tổ chức họp các ban, ngành liên quan để tìm phương án tháo gỡ. UBND thị xã chọn 2 phương án: Phương án thứ nhất là yêu cầu người dân trả lại đất để BQLRPH tiếp tục trồng rừng; phương án thứ hai là vẫn để người dân trỉa bắp và chủ rừng vẫn trồng rừng theo thiết kế, đồng thời thuê người dân chăm sóc diện tích keo này, khi keo lớn, người dân trả lại đất cho chủ rừng.
Tuy nhiên, trong số những hộ dân gặp, dường như không ai đồng ý với các phương án mà UBND thị xã đưa ra. Bởi thực tế, những hộ này không thiếu đất sản xuất. Khi chiếm đất, họ đã nghĩ tới giá trị mấy chục triệu đồng/ha đất hơn là việc trồng trọt trên mảnh đất ấy…
Chưa bao giờ tình trạng người dân ngang nhiên chiếm đất rừng ở Ninh Tây lại trở nên nóng như lúc này. Nếu không xử lý dứt điểm tình trạng này, không chỉ rừng sản xuất, mà ngay cả rừng nguyên sinh cũng sẽ bị xâm chiếm. Việc dùng dằng trong cách giải quyết sẽ tạo ra những hệ lụy vô cùng lớn. (Báo Khánh Hòa 30/9) đầu trang(
Thái Nguyên: Chăn nuôi lợn rừng dưới tán rừng trồng phòng hộ Hồ Núi Cốc
Căn cứ Quyết định số Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 09/5/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt dự án “Ứng dụng quy trình kỹ thuật phát triển chăn nuôi lợn rừng dưới tán rừng trồng phòng hộ Hồ Núi Cốc, giai đoạn 2014-2015”.
Mục tiêu của dự án Ứng dụng khoa học và công nghệ trong nuôi lơn rừng dưới tán rừng, gắn kết giữa công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp và thu nhập cho người dân tham gia đồng quản lý rừng và xây dựng nông thôn mới.
Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn rừng dưới tán rừng nhằm tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân địa phương và khách du lịch tại khu du lịch Hồ Núi Cốc. Dự án tạo công ăn việc làm với thu nhập ổn định cho người dân khu vực Hồ Núi Cốc.
Tạo mô hình chăn nuôi lợn rừng điển hình để tuyên truyền nhân rộng phát triển chăn nuôi lợn rừng có hiệu quả kinh tế cao. Nâng cao nhận thức và kỹ thuật chăn nuôi, tạo điều kiện để người dân tiếp cận với quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng dưới tán rừng. Để triển khai dự án, ngày 23/9/2014 Chi cục Kiểm lâm phối hợp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tổ chức lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng.
Tham dự lớp tập huấn có đại diện của các tổ chức và hộ gia đình tham gia thực hiện dự án thuộc 04 xã Phúc Trìu, Phúc Xuân – Thành phố Thái Nguyên, xã Phúc Tân - huyện Phổ Yên, xã Tân Thái - huyện Đại Từ đã được Chi cục Kiểm lâm lựa chọn có đủ các điều kiện: Có hộ khẩu thường trú tại các xã khu vực rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc; Có diện tích rừng và đất lâm nghiệp được quy hoạch là rừng phòng hộ; Có nhân lực và kinh nghiệm chăn nuôi; Có khả năng tiếp thu khoa học, kỹ thuật.
Tham gia lớp tập huấn các tổ chức, hộ gia đình được hướng dẫn quy trình kỹ thuật chăn sóc, phòng trừ dịch bệnh, kỹ thuật chăn nuôi từng giai đoạn phát triển của lợn rừng, đây là quy trình chăn nuôi đã được áp dụng từ thực tế và đã mang lại hiệu quả kinh tế cao để các hộ áp dụng tổ chức thực hiện, bố trí chuồng trại, thức ăn, cách chăn nuôi…theo từng giai đoạn phát triển của lợn rừng.
Kết thúc lớp tập huấn các học viên rất phấn khởi tiếp thu được những kiến thức quý báu để áp dụng và chăn nuôi và đây sẽ là những mô hình chăn nuôi điển hình để thăm quan học tập và nhân rộng trong thời gian tiếp theo. (Kiểm Lâm Thái Nguyên 23/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Thông tin được đăng tải trên Global Post cho hay, Tây Ban Nha đang trở thành cửa ngõ buôn bán động vật hoang dã từ Châu Phi, Châu Mỹ La tinh vào châu Âu.
Tội phạm buôn bán động vật hoang dã cho rằng, những giao dịch bất hợp pháp này "ít rủi ro hơn so với buôn lậu ma túy và phụ nữ".
Chỉ cách Morocco một bãi biển nhỏ, Tây Ban Nha nổi lên như là cửa ngõ buôn bán động vật từ châu Phi sang châu Âu, đặc biệt là thông qua cảng miền nam Algeciras, gần Gibraltar.
Gần đây, cảnh sát Tây Ban Nha phát hiện một chú khỉ nhỏ bên trong túi xách của khách du lịch. Khi mở túi xách của người phụ nữ khi làm thủ tục ký gửi tại sân bay, cảnh sát "tá hỏa" khi thấy chú khỉ với chân bị bó chặt trong túi nhựa. Trước đó không lâu, cảnh sát cũng phát hiện hai con tinh tinh bị nhốt trong tầng hầm tồi tàn hơn 10 năm. Đây chỉ là hai, trong số hàng trăm vụ vận chuyển động vật hoang dã mà cảnh sát Tây Ban Nha phát hiện trong những năm gần đây.
Theo cảnh sát Tây Ban Nha thì động vật buôn bán trái phép có nguồn gốc từ các quốc gia Châu Phi thường là nhóm động vật linh trưởng. Loài khỉ nhỏ Barbary là một ví dụ. Loài khỉ này đã được tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới đưa vào sách đỏ năm 2008 vì số lượng giảm đến hơn ½ trong vòng 30 năm qua.
Ước tính, có khoảng 300 khỉ Barbary bị đánh cắp và buôn bán bất hợp pháp tại thị trường Morocco và Algeria. Trong nhiều vụ bắt giữ của cảnh sát đã phát hiện, những chú khỉ bị nhốt trong với điều kiện khủng khiếp.
Những chú khỉ không thể sống trong môi trường thuần hóa. Khi lớn lên, chúng bắt đầu thể hiện bản năng tự nhiên, rất thông minh và mạnh mẽ. Các "chủ sở hữu" không biết làm thế nào để "xử lý" chúng, vì vậy, họ nhốt những chú khỉ vào cái lồng nhỏ".
Cảnh sát Tây Ban Nha cho hay, tội phạm liên buôn lậu các loài động vật hoang dã từ Mỹ Latinh vào Tây Ban Nha đang sử dụng các tuyến đường như buôn lậu ma túy. Cảnh sát Tây Ban Nha đang tiến hành huấn luyện chó nghiệp vụ để phát hiện động vật bị buôn bán bất hợp pháp qua bán đảo Iberia.
"Một số kẻ buôn bán ma túy đã chuyển sang kinh doanh động vật lạ. Tây Ban Nha là một trong những điểm chính được sử dụng để buôn lậu động vật từ châu Mỹ La tinh đến thị trường châu Âu", Salvador Ortega, đại diện cơ quan dịch vụ bảo vệ động vật Tây Ban Nha nói.
Một quả trứng vẹt nhỏ có thể dễ dàng được nhập lậu qua biên giới quốc tế, sau được bán với giá hơn 15.000 euro. Bò sát, lưỡng cư, rùa nhập lậu từ Ma-rốc và vẹt là những động vật lạ phổ biến được vận chuyển trái phép vào Tây Ban Nha. Cảnh sát cho biết thêm, những tên buôn lậu cũng đang nhắm đến mục tiêu kinh doanh chó thuần chủng.
Chó chủ yếu được vận chuyển từ "nhà máy chó con" ở Slovakia, Cộng hòa Séc và Hungary. Giá mua "buôn" từ những quốc gia này chỉ từ 30 - 40 euro nhưng sau được bán với giá cao gấp nhiều lần. "Nhiều động vật chết trong quá trình vận chuyển", Ortega nói.
Việc buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp đang bùng nổ trên toàn cầu. Một báo cáo của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới công bố năm 2012 ước tính rằng, buôn lậu động vật hoang dã có giá trị vào khoảng 7,8 tỷ USD đến đến 10 tỷ đồng mỗi năm.
Cô Alzaga Berta nói rằng, có hai lý do chính khiến việc buôn bán động vật hoang dã "bùng nổ". Thứ nhất, khách du lịch nhìn thấy những con vật ở các nước châu Phi, họ cảm thấy thương hại và muốn cứu chúng. "Hoặc có thể, họ là những người nhập cư châu Phi sống ở châu Âu và muốn có con vật cưng từ quê nhà. Vì vậy, họ đưa vào châu Âu, thường là trên phà đến Tây Ban Nha", Alzaga Berta nói. Thứ hai, là mafia - những người nhận ra rằng, buôn lậu động vật dễ dàng hơn và ít rủi ro hơn so với buôn lậu ma túy và phụ nữ.
Cùng với việc buôn bán thủy sản, gỗ bất hợp pháp, buôn bán động vật hoang dã "hợp" thành lĩnh vực buôn bán bất hợp pháp lớn thứ tư trên thế giới sau ma tuý, buôn người và hàng giả. (Công An Nhân Dân 1/10) đầu trang(
Theo phóng viên TTXVN tại Lào, 30/9-1/10 tại Vientiane đã diễn ra kỳ họp thứ tư giữa 10 nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với Hàn Quốc và một số nước châu Á khác nhằm hướng tới việc thành lập Đối thoại Hợp tác Lâm nghiệp châu Á (Dialogue-AFoCO) vào năm 2015.
Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Nông-Lâm nghiệp Lào Vilayvanh Phomkhe đánh giá cao tầm quan trọng của rừng cũng như lâm nghiệp trong khu vực châu Á và trên thế giới.
Ông đề nghị các đại biểu ủng hộ đề nghị của Hàn Quốc với việc thành lập Dialogue-AFoCO nhằm thực hiện hiệu quả các chương trình hợp tác lâm nghiệp và tin tưởng Dialogue-AFoCO sẽ tạo cơ hội cho các nước Đông Nam Á cũng như châu Á tăng cường chia sẻ và học hỏi lẫn nhau trong việc khôi phục và quản lý rừng bền vững, góp phần giải quyết các vấn đề môi trường toàn cầu.
Tại kỳ họp, các bên nhất trí tăng cường quản lý rừng bền vững, nâng cao nhận thức công chúng, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển rừng thông qua chuyển giao công nghệ và chia sẻ thông tin kỹ thuật về các sản phẩm gỗ và lâm nghiệp; đối phó với tác động của biến đổi khí hậu; thảo luận đưa ra dự thảo cuối cùng về việc thành lập Dialogue-AFoCO để trình lên Chính phủ, dự kiến ký vào giữa năm 2015.
Các đại biểu đã đánh giá cao kết quả hợp tác với Hàn Quốc trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
ASEAN và Hàn Quốc cam kết tiếp tục ký kết gia hạn Hiệp định Hợp tác Lâm nghiệp giữa ASEAN và Hàn Quốc (AFoCO); cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác để góp phần mở rộng độ che phủ của rừng, đẩy mạnh nghiên cứu về rừng và phục hồi rừng trong khối ASEAN.
Trả lời phóng viên TTXVN, đại diện của Việt Nam cho rằng chương trình hợp tác bảo vệ và phát triển rừng giữa Hàn Quốc với ASEAN rất hiệu quả. Hàn Quốc cũng đã và đang tài trợ cho Việt Nam hơn 1 triệu USD bảo vệ và phát triển rừng từ 2002 đến nay. (VietnamPlus 1/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||