Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 03 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sau vụ cán bộ kiểm lâm huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) bị lâm tặc tấn công, ông Nguyễn Xuân Thắng - Trưởng phòng Pháp chế thanh tra (Cục Kiểm lâm - Bộ NNPTNT) cho biết, hành vi chặt phá rừng trái phép và chống người thi hành công vụ đối với lực lượng kiểm lâm đang ngày càng gia tăng và rất phức tạp.
Ông Nguyễn Xuân Thắng cho biết: Theo báo cáo của các địa phương, từ đầu năm 2014 đến nay đã xảy ra 40 vụ chống người thi hành công vụ, làm bị thương 34 người, trong đó có 19 công chức kiểm lâm và 15 cán bộ bảo vệ rừng, làm chết 1 cán bộ bảo vệ rừng. Các vụ chống người thi hành công vụ xảy ra chủ yếu ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, điển hình như Bình Thuận 6 vụ; Lâm Đồng 5 vụ; Đăk Nông 8 vụ; Đăk Lăk 3 vụ; Hà Tĩnh 4 vụ; Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình) 4 vụ.
Đáng chú ý là thời gian gần đây, các vụ việc chống người thi hành công vụ diễn ra hết sức phức tạp và có tổ chức. Khi lực lượng thi hành công vụ tiến hành biện pháp ngăn chặn, các đối tượng thường không chấp hành, chống đối, lăng mạ, tập trung đông người hành hung lực lượng thực thi công vụ, cướp lại tài sản, tang vật vi phạm; thậm chí còn khống chế lực lượng thực thi pháp luật, cướp tài sản, đốt phá tài sản của Nhà nước...
Có điều này là do nhu cầu mưu sinh, lối sống đạo đức của một bộ phận bị thoái hóa, xuống cấp, thậm chí coi thường kỷ cương pháp luật, do đó khi bị đối tượng xấu lôi kéo, kích động, xúi giục dễ nảy sinh hành vi chống người thi hành công vụ. Ngoài ra, trình độ hiểu biết, nhận thức pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân cũng còn thấp, dẫn tới tình hình chống người thi hành công vụ diễn biến phức tạp, tội phạm hoạt động liều lĩnh với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.
Mặt khác, các hành vi chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng cũng chưa được các cơ quan chức ở địa phương quan tâm và xử lý nghiêm minh, dẫn tới tâm lý coi thường pháp luật, nhất là các phần tử xấu càng có cơ hội lôi kéo, kích động nhiều người tham gia chống người thi hành công vụ.
Thời gian vừa qua, được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ NNPTNT đã trang bị cho lực lượng kiểm lâm một số trang thiết bị phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn hạn chế nên không thể thay đổi, bổ sung các loại trang thiết bị hiện đại như ô tô, xe máy phân khối lớn, các phương tiện thông tin liên lạc...
Thực tế cho thấy, tình hình vi phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, nhất là hành vi phá rừng trái phép và chống người thi hành công vụ còn diễn ra ở nhiều địa phương, gây bức xúc trong xã hội; đời sống của người dân sống trong và gần rừng còn nhiều khó khăn nên đã có tác động tiêu cực đến công tác quản lý bảo vệ rừng.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên do tổ chức, năng lực của lực lượng kiểm lâm còn hạn chế, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị... chưa đáp ứng yêu cầu. Vì vậy Cục Kiểm lâm đã tham mưu cho Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng Đề án “Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của kiểm lâm giai đoạn 2014-2020”, báo cáo Bộ NNPTNT trình Chính phủ.
Đề án được phê duyệt sẽ góp phần kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan kiểm lâm các cấp; tăng cường nguồn nhân lực của kiểm lâm, tiêu chuẩn hóa công chức kiểm lâm; tăng cường trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động bảo vệ rừng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền bảo vệ rừng; đào tạo, tập huấn cho kiểm lâm và lực lượng bảo vệ rừng...
Theo Cục Kiểm lâm, năm 2013 trên cả nước đã xảy ra 36 vụ chống người thi hành công vụ; cơ quan công an đã ra quyết định khởi tố 8 vụ; bắt tạm giam 21 đối tượng. Đến hết tháng 9.2014, cả nước đã xảy ra 40 vụ chống người thi hành công vụ; cơ quan công an đã ra quyết định khởi tố 10 vụ, bắt tạm giam 28 đối tượng.  (Nông Thôn Ngày Nay 3/10) đầu trang(
Núi Lâm Động thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa dưới chân núi là hàng trăm công trình thủy lợi quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hàng vạn người dân sống trong vùng thuộc 2 huyện Tĩnh Gia và Như Thanh.
Hai chục năm qua, rừng được bảo quản tốt, các loại cây được tái sinh rậm rạp, có đa dạng sinh học với nhiều tầng cây và muông thú. Thế nhưng, mấy tháng gần đây, người dân thấy rừng bị chặt hạ, đốt phá tàn bạo, hàng nghìn héc-ta rừng bị thẳng tay càn quét, tính mạng người dân trong mùa mưa bão này trở nên mong manh hơn bao giờ hết.
Ông Nguyễn Bá Trang, người có mấy chục năm lăn lộn với nghiệp trồng rừng, là Giám đốc Công ty Trúc Vinh, có địa chỉ ở xã Trúc Lâm cho biết: “Theo các nguồn tin đáng tin cậy, từ năm 2011 đến nay họ chặt phá không dưới 3.000ha rừng, là thành quả của Dự án 327 và dự án 661 trước đây, tiểu khu 664 thuộc địa bàn xã Phú Sơn có diện tích tự nhiên 980ha rừng khoanh nuôi tái sinh bị chặt gần hết.
Hai tiểu khu 666 và 663 thuộc các xã Nguyên Bình, Phú Lâm có tổng diện tích tự nhiên 2.565ha hiện bị chặt phá hơn một nửa. Như vậy đủ biết là lớn đến mức độ nào. Đây là rừng phòng hộ xung yếu, với độ cao 561m, dốc 30 - 60 độ, là nóc nhà của huyện Tĩnh Gia, dưới chân núi có hàng vạn người dân sinh sống cùng các công trình phúc lợi đang bị đe dọa bởi hậu quả của nạn phá rừng, đau xót lắm!”.
Theo ông Trung, toàn bộ rừng ở núi Lâm Động thuộc các tiểu khu 663, 664, 666 từ trước đến nay có tới 4 dự án chồng lên nhau, trước đây là các Dự án 4304, 327, 661 và nay là JICA. Khi Lâm trường Tĩnh Gia chuyển đổi thành Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia (BQLRPH), thi họ tìm cách lấy lại những diện tích rừng trước đây đã giao khoán cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ.
Riêng Công ty Trúc Vinh nhận trông và khoanh nuôi, bảo vệ hơn 200ha cũng bị thu hồi, lấy lại mà không được đền bù, thanh toán đồng nào. Ông Trung kể, khi Công ty Trúc Vinh nhận đất, phần lớn là đất trống, đồi núi trọc. Sau 25 năm Công ty trồng cây phủ kín phát triển tốt thì BQLRPH Tĩnh Gia nhảy vào lấy không.
Để làm rõ những vấn đề này, PV chọn cách gặp trực tiếp những cán bộ quản lý địa phận thuộc khu vực núi Lâm Động. Ông Nguyễn Đức Hòa, Trưởng thôn Đại Thủy, xã Trúc Lâm cho biết: “Ngày trước tôi cũng tham gia trong cây ở trên núi nên nắm rất rõ, rừng ở đây có rất nhiều cây dẻ, phần lớn đã to bằng bắp đùi. Bây giờ họ phát đi trồng cây mới, thì đến bao giờ mới có được cây như thế? Tôi biết đây là lợi nhuận của nhóm người, là việc làm rất sai lầm. Tôi thấy đây là hành vi phá hoại”.
Không chút ngập ngừng, ông Hòa chỉ ngay ra những kẻ đã thâu tóm rừng Lâm Động, đó chính là một nhóm cán bộ thuộc Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia. Ông cho biết, ông Sỹ có 180ha rừng trên núi Lâm Động; phía bên Phú Lâm toàn bộ là của Phong “Xoan”.
Thông tin của ông Hòa phù hợp với những điều PV thu thập được, theo đó nhóm lợi ích thâu tóm diện tích lớn rừng trên núi Lâm Động có ít nhất 4 cán bộ Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia gồm: Ông Nguyễn Văn Thương, Giám đốc; ông Phan Xuân Phong, Phó Giám đốc; ông Nguyên Văn Sảo, Tiểu khu trưởng Tiểu khu 666; ông Lê Tiến Long, con trai ông Lê Tiến Sỹ, cựu Giám đốc Ban Quản lí Rừng phòng hộ Tĩnh Gia. Ông Hoa bức xúc: “Đất rừng là của Nhà nước chứ. Họ phá đi như thế mình không lên tiếng làm sao được”.
Ông Mai Công Gô, cựu Bí thư Đảng ủy xã Trúc Lâm tiếp lời: “Họ phá rừng như vậy, người dân thấy nó trái ngang. Giá như họ đốt những chỗ không có cây rồi trồng cây vào đó thì đi một nhẽ, đằng này rừng toàn cây to, họ lại phá đi, thử hỏi trồng đến khi nào được như vây?”. Ông Mai Công Gô cho biết, rừng ở đây có đủ các loại cây và các loại thú rừng: Nhím, hươu, nai, hoẵng... Tư tháng 4/2014 đến nay, dân bỗng thấy họ đốt rừng, thấy nhiều xe gỗ to cỡ bắp đùi người lớn ùn ùn chở đi đâu không rõ.
Đi đến đâu, gặp bất cứ ai từ cán bộ thôn, xã đến người dân các xã vùng ảnh hưởng của núi Lâm Động, đều được nghe những lời oán thán về việc đốt phá rừng phòng hộ, tất thảy họ đều nhắc đến nhân vật có tên Phong “Xoan” với vai trò như chủ rừng và là chủ mưu đốt phá rừng.
Người dân chỉ biết gọi như vậy, bởi tiếng tăm của nhân vật này nổi như cồn vì “thành tích bất hảo” với rừng. Phong “Xoan” còn là người mua thu gom nhiều điện tích rừng của núi Lâm Động nhất trong vùng. Vậy Phong “Xoan” là ai? Hành trình đi tìm ẩn số về nhân vật Phong “Xoan”, PV thu hoạch được nhiều điều khó tin mà thật.
Ông Nguyễn Bá Trung, Giám đốc Công ty Trúc Vinh cho biết, đó chính là ông Phan Xuân Phong, Phó Giám đốc Ban Quản lí Rừng phòng hộ (BQLRPH) Tĩnh Gia, con trai bà Phan Thị Xoan, cựu Giám đốc Lâm trường Tĩnh Gia, đơn vị tiền thân của BQLRPH Tĩnh Gia.
Vì vậy, nhân dân trong vùng mới đặt cho biệt danh là Phong “Xoan”. Trước năm 1993, ông Phong làm lái xe chở gỗ cho Trạm Nghiên cứu Ngọc Lặc, Thanh Hóa. Năm 1994 ông được nhận về làm bảo vệ cho Lâm trường Tĩnh Gia, sau đó được đi học tại chức lớp lâm nghiệp tại Ngã ba Bia, thành phố Thanh Hóa. Năm 1998 đến năm 2011 ông quay về lâm trường, tiếp tục làm bảo vệ. Đùng một cái, năm 2011 người ta thấy ông Phong xuất hiện với chức vụ Phó Giám đốc BQLRPH Tĩnh Gia.
Sau khi các cơ quan ngôn luận vào cuộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Thanh Hóa dưới sức ép dư luận đã phải vào cuộc. Ngày 15/7/2014, NN&PTNT Thanh Hóa có Báo cáo số 1690/ SNN&PTNT-LN gửi Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Thế nhưng, văn bản này cho thấy, Sở NN&PTNT Thanh Hóa có biểu hiện quan liêu, báo cáo không trung thực nhằm bao che cho cấp dưới. Theo đó, Sở này cho rằng BQLRPH Tĩnh Gia và các hộ gia đình được Nhà nước giao đất lâm nghiệp xử lí thực bì đất trồng, để trồng rừng theo Dự án JICA2.
Vậy Sở NN&PTNT Thanh Hóa quên (hoặc cố tình quên) rằng, tại Quyết định số 3222/ QĐ-UBND, ngày 7/11/2006 về việc chuyển Lâm trường Tĩnh Gia thành BQLRPH Tĩnh Gia, đơn vị này được giao quản lí 6.300,4ha, trong đó có 5.144,3ha rừng phòng hộ; 1.151,3ha rừng sản xuất và đất khác 4,8ha. Rõ ràng, diện tích rừng phòng hộ chiếm gần 5 lần trong tổng số rừng do BQLRPH Tĩnh Gia quản lí. Núi Lâm Động có độ cao nhất so với các dãy núi khu vực Tĩnh Gia, đương nhiên phải có diện tích lớn rừng phòng hộ đầu nguồn cần được bảo vệ.
Với những hành vi “tàn độc” với rừng chỉ để trục lợi cá nhân của các kẻ trên, cùng với sự bao che của các cơ quan công quyền, thì có lẽ những câu chuyện thương tâm mất nhà mất người thân vì bão vì lũ sẽ còn tiếp tục tái diễn. (Kinh Doanh & Pháp Luật 1/10, tr18) đầu trang(
Trưa 2.10, lực lượng kiểm lâm TP.Đà Nẵng thả 1 cá thể voọc, loài động vật được mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng” về Khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà TP.Đà Nẵng.
Trước đó, ông Phan Văn Quý (trú thôn Hòa Hải, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) trong lúc vào rừng keo của gia đình thì phát hiện một con voọc chà vá hoảng loạn, có thể do lạc bầy.
Sau đó, ông Quý bắt giữ và bàn giao con voọc trên (nặng khoảng 6 kg) cho Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang chăm sóc và thả về tự nhiên.
Trước đó, hôm 7.6, Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng đã phát hiện một cá thể voọc chà vá chân nâu đi lạc vào Khu du lịch Bãi Bụt của Công ty CP du lịch Hải Duy. Sau vài ngày nuôi dưỡng, lực lượng kiểm lâm đã thả con voọc này về Khu bảo tồn thiên nhiên bán đảo Sơn Trà.
Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng cho biết, từ năm 2005 đến nay đã cứu hộ và thả 9 cá thể voọc về thiên nhiên. (Thanh Niên 3/10) đầu trang(
30.9, sau gần 2 ngày xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh đã tuyên hủy bản án sơ thẩm hình sự số 05/2014 ngày 20.6.2014 của TAND huyện Khánh Sơn xét xử 4 cựu cán bộ công an và đồng phạm “ăn chặn” kỳ nam với tổng trị giá 4,15 tỉ đồng xảy ra tại huyện Khánh Sơn cuối tháng 9.2012; giao hồ sơ vụ án cho VKSND huyện Khánh Sơn điều tra, truy tố lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, TS - luật sư Lê Văn Minh - Giám đốc chi nhánh Công ty luật Kosy Hải Phòng - bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thành Trung (nguyên Trưởng Công an huyện Khánh Sơn) - khẳng định: “Vụ án này có liên quan đến hai nhân chứng là Viện trưởng VKSND huyện và Chánh án TAND huyện Khánh Sơn đối với bị cáo Nguyễn Thành Trung. Do vậy, để đảm bảo việc điều tra, truy tố khách quan, toàn diện, đúng pháp luật và tránh oan sai, chúng tôi sẽ có văn bản kiến nghị để VKSND tỉnh điều tra, truy tố lại, và TAND tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm vụ án này!”.
Trao đổi với PV Lao Động, luật sư Nguyễn Hồng Hà - Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa - cho biết, để làm rõ bản chất vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của ngành công an, cần điều tra làm rõ những bạn nhậu xác nhận của bị cáo Nguyễn Thành Trung là ai?
Nếu thật sự những bạn nhậu (nhân chứng) của bị cáo Trung là những người có chức vụ quyền hạn cao nhất trong tố tụng hình sự (lại là người làm chứng vụ án) ở huyện Khánh Sơn lại là cơ quan xử lý vụ án này, thì đương nhiên dư luận có căn cứ nghi ngại về tính khách quan, và có dấu vi phạm tố tụng của những người tiến hành tố tụng.
“Do vậy, việc giải quyết vụ án này phải thuộc thẩm quyền truy tố, xét xử của VKSND tỉnh, và TAND tỉnh Khánh Hòa theo thủ tục sơ thẩm” - LS Hà nói.
Chủ tọa phiên tòa xét xử phúc thẩm - ông Trần Văn Đông - cho rằng, đối với bị cáo Nguyễn Thành Trung, vì có một số tình tiết mới ngoại phạm phát sinh nên hủy bản án sơ thẩm hình sự số 05 và giao hồ sơ vụ án Viện KSND huyện Khánh Sơn điều tra truy tố lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, ngày 20.6.2014, HĐXX TAND huyện Khánh Sơn đã tuyên án bị cáo Nguyễn Thành Trung (nguyên Trưởng Công an huyện Khánh Sơn, nguyên Phó Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh) 10 năm tù giam về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; các bị cáo Nguyễn Hồng Hà (47 tuổi, nguyên Đội trưởng Đội CSGT Công an Khánh Sơn), Vũ Anh Trung (36 tuổi, nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát kinh tế - môi trường Công an Khánh Sơn) lãnh án 5 năm 6 tháng tù, Trần Lệ Kiên (30 tuổi, nguyên Phó đội trưởng Đội Cảnh sát thi hành án HS và hỗ trợ tư pháp Công an Khánh Sơn) 5 năm tù, Luân Văn Nam (lái xe, trú thôn Dốc Gạo, TT.Tô Hạp) 3 năm tù, cùng về tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
Sau phiên tòa này, bị cáo Luân Văn Nam đã kháng án, xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Nguyễn Thành Trung kháng cáo, kêu oan. (Lao Động 2/10) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập cho biết, hết tháng 9/2014 huyện Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã xử lý 29 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu gần 48.000 m3 gỗ tròn và 1.700 cây tre, nứa.
Hoành Bồ đã ký hợp đồng giao khoán 4.293,8 ha cho các nhóm hộ thuộc 4 xã thượng nguồn: Dân Chủ, Bằng Cả, Quảng La và Tân Dân với mức phí hỗ trợ 200.000 đồng/ha/năm. Nhờ vậy thực trạng chặt phá rừng đã giảm đáng kể, nhận thức bảo vệ rừng trong dân được nâng cao, cơ bản chấm dứt tình trạng xâm lấn đất rừng, môi trường sinh thái rừng ngày càng đa dạng và phong phú.
Được biết, Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập những năm qua đã chăm sóc được 347,8 ha rừng, bảo vệ trên 6.293,4 ha, thi công đường băng cản lửa… với kinh phí 1,3 tỷ đồng.
Góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, điều tiết dòng chảy và tạo điều kiện thuận lợi trong việc hình thành và xây dựng các điểm du lịch sinh thái rừng hấp dẫn trong tương lai của Hoành Bồ. (Tài Nguyên & Môi Trường 1/10) đầu trang(
Thượng tá Lê Hữu Hoa, Trưởng phòng Cảnh sát truy nã tội phạm Công an tỉnh Quảng Nam, cho biết cơ quan công an đang tạm giữ Huỳnh Hữu Dương (phường Chi Lăng, TP Pleiku, Gia Lai), người  bị truy nã về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Tháng 7-2014, Dương vận chuyển gần 70 m3 gỗ gõ từ Gia Lai đến ga Tam Kỳ, Quảng Nam bằng ô tô. Khi Dương đang chuẩn bị chuyển số gỗ trên lên tàu hỏa thì bị cơ quan chức năng phát hiện.
Trong khi Công an tỉnh Quảng Nam đang thụ lý vụ việc, Dương bỏ trốn qua Lào làm tài xế vận chuyển gỗ. Mới đây trở về Việt Nam, biết thông tin bị truy nã, Dương đã đến Công an phường Chi Lăng đầu thú. (Pháp Luật TPHCM 3/10) đầu trang(
Tin từ Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai cho biết, từ đầu năm đến nay, lực lượng bảo vệ rừng đã kiểm tra, kiểm soát phát hiện bắt giữ 179 vụ vi phạm về rừng, giảm 92 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Các trường hợp vi phạm nhiều là: khai thác, buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản, buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm... Tuy nhiên đa số các vụ vi phạm đều ở mức độ nhỏ không nghiêm trọng.
Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã tiến hành lập biên bản xử phạt hành chính 169 vụ vi phạm, 1 vụ mang tính chất nghiêm trọng đã chuyển qua xử lý hình sự. (Báo Đồng Nai 1/10) đầu trang(
Thống kê được các nhà khoa học ở Viện Địa lý tài nguyên đưa ra khi thực hiện chương trình trọng điểm cấp Nhà nước “Khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên giai đoạn 2011-2015” (chương trình Tây Nguyên 3).
Hiện tại, độ che phủ rừng ở Tây Nguyên chỉ là 52,3%, tương ứng với diện tích rừng 2,8 triệu ha. Các phân tích cho thấy, mất rừng do 3 nguyên nhân: do xây dựng thủy điện, thủy lợi; do chuyển đổi trồng cao su, cà phê và do chặt phá trái phép. Việc phát triển ồ ạt diện tích cà phê và cao su đã bộc lộ mâu thuẫn lớn trong sử dụng đất nông - lâm nghiệp.
Đối với cây cà phê, hiện tại vùng Tây Nguyên đã có đến 539.000 ha, vượt 80.000 ha so với quy hoạch. Đối với cao su, trong thực tế xảy ra tình trạng phá rừng không nghèo kiệt để trồng cao su. Các tỉnh Tây Nguyên buộc phải đình chỉ, thu hồi 124 dự án trồng cao su.
Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số, thiếu đất sản xuất ở vùng Tây Nguyên cũng là nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm tài nguyên rừng. Theo thống kê, hiện nay, Tây Nguyên còn đến 20.000 hộ thiếu đất sản xuất. Người dân ở nhiều khu dân cư đã canh tác lấn vào rừng. Chỉ tính riêng tỉnh Lâm Đồng, ít nhất 15.000 ha đất lâm nghiệp và rừng đã bị người dân lấn chiếm để sản xuất nông nghiệp tính trong vòng 10 năm trở lại đây.
Phát triển nóng kinh tế dẫn đến mất rừng được các nhà khoa học cho rằng là biểu hiện của xung đột môi trường và để ngăn chặn, phải thay đổi cách thức quản lý. (VTV 3/10) đầu trang(
Trong vòng một tháng qua, sau khi 200 ha đất rừng ở xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) được BQL Rừng phòng hộ Ninh Hòa thu hoạch keo, rất đông người dân địa phương đã kéo lên chiếm hơn phân nửa để trồng bắp, khiến đơn vị chủ rừng như ngồi trên đống lửa.
Nghiêm trọng hơn, quần thể cây căm xe (thuộc nhóm 2) phân bố tập trung trên gần 600 ha rừng phòng hộ ở xã này mà tỉnh Khánh Hòa đang nỗ lực bảo vệ, cũng đang từng ngày bị người dân nơi đây hủy hoại để chiếm đất làm rẫy.
Theo lãnh đạo BQL rừng phòng hộ Ninh Hòa, đầu tháng 9/2014, sau khi thu hoạch toàn bộ 200 ha keo ở tiểu khu 64 (thuộc xã Ninh Tây), đơn vị đang thuê nhân công phát dọn để chuẩn bị trồng mới thì nhiều người dân ở xã này kéo lên chiếm đất để trồng bắp.
Thống kê đến ngày 30/9, diện tích đất rừng tiểu khu này bị người dân chiếm và đã trồng bắp hoàn toàn là hơn 50 ha, nằm xen kẽ trong 120 ha trên tổng diện tích 200 ha nói trên.
Theo ghi nhận của PV, hiện tại ở những khu vực suối Dẽ, núi Ông Cai (tiểu khu 64) rất nhiều diện tích đất rừng của BQL Rừng phòng hộ Ninh Hòa, người dân đã trồng bắp lên cao hơn gang tay. Những khu vực khác xuất hiện không ít người dân ra sức phát đốt thực bì để chuận bị trĩa bắp và họ ngang nhiên dựng lều ngay trên đám đất chiếm nhằm ở lại dại ngày để làm việc đó.
Hỏi một người dân vì sao lại chiếm đất của chủ rừng, PV nhận được câu trả lời rất “vô tư”: “Nhà mình cũng không thiếu đất làm rẫy đâu. Nhưng lâm trường chặt hết keo rồi thì mình lên đây trồng bắp thôi. Vì đất ở đây tốt lắm”.
Theo ông Lê Xuân Tuyên – Chủ tịch UBND xã Ninh Tây, hiện tại có đã có khoảng 60 hộ dân (đều là người dân tộc ít người ở buôn Lác, buôn Sim của xã) chiếm đất, trồng bắp ở khu vực rừng nói trên, dù họ đều không thiếu đất để sản xuất và không phải là hộ nghèo.
Ông Nguyễn Công Hà – Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Ninh Hòa bức xúc: “Vì người dân chiếm đất làm rẫy trên đất của chúng tôi với diện tích lớn nên hiện tại chúng tôi không thể trồng keo trên 120 ha có bắp của người dân vì nếu trồng thì cũng sẽ bị họ nhổ bỏ. Nếu vấn đề này không sớm được giải quyết thì chúng tôi sẽ thiệt hại hàng tỷ đồng tiền giống và thuê nhân công phát dọn thực bì”.
Được biết, toàn bộ diện tích đất rừng nói trên được UBND tỉnh Khánh Hòa giao cho BQL Rừng phòng hộ Ninh Hòa từ năm 1998. Ngay khi mới xảy ra hiện tượng người dân lấn chiếm, UBND thị xã Ninh Hòa đã thành lập tổ công tác xác minh hiện trạng, phối hợp với xã Ninh Tây mời các hộ vi phạm lên tuyên truyền, vận động. Tuy nhiên người dân đã không chấp hành và hiện tại sự việc vẫn chưa lắng, khi mà người dân lên rừng chiếm đất ngày càng nhiều thêm.
Xã Ninh Tây có diện tích rừng căm xe tự nhiên lớn nhất tỉnh Khánh Hòa. Đây là loại gỗ quy thuộc nhóm 2, lại nằm trên khu vực rừng phòng hộ nên từ trước đến nay nó luôn được quan tâm bảo vệ. Vậy nhưng, hầu như toàn bộ diện tích rừng này lại phân bố trên địa hình khá bằng phẳng, thổ nhưỡng phì nhiêu nên khoảng 5 năm trở lại, khi cây mía đường cho thu nhập cao, người dân ở gần bìa rừng liên tục tìm cách làm cho cây căm xe chết để chiếm đất trồng mía. Để đối phó với cơ quan chức năng, họ không hạ cây ồ ạt mà dùng cách lóc vỏ, đốt gốc để cây chết từ từ.
Để bảo vệ rừng căm xe, UBND xã Ninh Tây đã vận động 600 hộ dân k‎y cam kết không xâm hại rừng, cơ quan chức năng và đơn vị chủ rừng (BQL Rừng phòng hộ Ninh Hòa) cũng đã xử ly hàng trăm trường hợp vi phạm, trong đó nhiều vụ xử ly hình sự.
Tuy nhiên tình trạng trên vẫn chưa chấm dứt. Hiện nay những rẫy mía hình thành trái phép ở khu vực Bến Lễ, xã Ninh Tây đều xen kẽ những gốc căm xe hay những cây căm xe chết đứng. Đó là bằng chứng về sự xâm hại của con người đối với rừng cây đang cần được bảo vệ này. Đó cũng là nguyên nhân khiến diện tích rừng căm xe ở Ninh Tây từ 600 ha trước đây, nay chỉ còn trên dưới 300 ha.
Rừng căm xe bị xâm hại dai dẳng hay việc đất rừng của QBL Rừng phòng hộ Ninh Hòa bị xâm chiếm hiện nay do nhiều nguyên nhân; trong đó cơ bản là y thức bảo vệ rừng của người dân bản địa chủ yếu là người dân tộc ít người còn nhiều hạn chế.
Do vậy để giải quyết những vấn đề trên, ngoài những biện pháp mạnh, đơn vị chủ rừng, chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác vận động, tuyên truyền để nâng cao y thức cho người dân. (Tài Nguyên & Môi Trường 2/10) đầu trang(
TP Móng Cái có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, gần 29.000ha, chiếm gần 55% tổng diện tích đất tự nhiên.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay kinh tế lâm nghiệp luôn chiếm tỷ lệ rất thấp trong cơ cấu phát triển kinh tế chung của thành phố. Kết quả công tác trồng mới diện tích rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc cũng còn hạn chế.
Hiện toàn thành phố còn đến trên 9.100ha đất lâm nghiệp chưa có rừng, độ che phủ mới đạt 38%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của toàn tỉnh.
Trao đổi cùng PV, ông Lê Văn Thạnh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP Móng Cái cho biết: Thực tế trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ yếu là do chưa có sự đầu tư một cách tương xứng cho việc phát triển cũng như bảo vệ rừng.
Từ đầu năm tới nay, các chủ rừng đã trồng mới gần 500ha rừng, con số tuy còn nhỏ bé so với các địa phương khác, song cũng đã là phấn khởi so với kết quả trồng rừng của những năm trước trên địa bàn thành phố.
Thực tế trong những năm gần đây, việc trồng mới diện tích rừng của Móng Cái ít. Công tác chăm sóc, bảo vệ và khai thác rừng cũng chưa thực sự được chú trọng. Qua khảo sát mới đây của TP Móng Cái, hiện không ít diện tích rừng keo trên địa bàn đã đạt trên dưới 10 tuổi, song người dân vẫn không khai thác để trồng mới.
Một trong những nguyên nhân là do cây rừng ít được chăm sóc nên phát triển chậm, dẫn đến giá trị kinh tế thấp, người dân chưa muốn thu hoạch. Chị Nguyễn Thanh Vân, xã Hải Sơn cho biết: Hải Sơn tuy không phải là vùng gần trung tâm để có thể buôn bán được, song lại có nguồn thu từ nuôi trồng hải sản, có cơ hội việc làm tại các khu công nghiệp lân cận, nên nguồn thu từ rừng không phải nguồn thu chính. Nhiều nhà trong xã, mặc dù có rừng trồng từ những năm 2000, đến tuổi thu hoạch rồi, song họ vẫn để vậy coi như của để dành khi nào cần thì mới thu hoạch.
Cùng với công tác phát triển rừng thì các hoạt động bảo vệ rừng trên địa bàn TP Móng Cái cũng còn gặp nhiều khó khăn. Theo đánh giá của Phòng Kinh tế TP Móng Cái, hiện nay ngoài 5 đơn vị doanh nghiệp được giao đất rừng và một số hộ gia đình đã dành nguồn kinh phí đầu tư cho công tác phòng, chống cháy rừng thì phần lớn diện tích rừng còn lại, đặc biệt là diện tích rừng thuộc quyền quản lý của các xã, phường dường như không có hoạt động phòng, chống cháy rừng.
Cụ thể, hiện toàn thành phố có 14/17 đơn vị xã, phường có rừng, trong đó 8 đơn vị có diện tích rừng lớn nhưng hàng năm đều không bố trí kinh phí triển khai các hoạt động phòng, chống cháy rừng như phát băng cản lửa, tỉa cành, thu dọn thực bì, xây dựng các công trình bể chứa nước phòng, chữa cháy, hệ thống biển cảnh báo cháy, mua sắm trang thiết bị chống cháy… Có thể thấy thực trạng trên dẫn đến nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn thành phố.
Được biết, từ đầu năm tới nay do thời tiết khá thuận lợi, mưa nhiều, độ ẩm cao nên mặc dù Móng Cái xảy ra một số vụ cháy, song mức độ nhỏ và trên diện tích rừng có mật độ cây thấp nên thiệt hại không đáng kể.
Tuy nhiên, với tình trạng công tác phòng, chống cháy rừng chưa được triển khai đồng bộ, mạnh mẽ như trên thì nhiều khả năng có thể xảy ra các vụ cháy lớn, thiệt hại nhiều. Bởi vậy thiết nghĩ công tác bảo vệ và phát triển rừng ở TP Móng Cái cần phải được quan tâm, đầu tư đúng mức hơn, tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của lĩnh vực này trên địa bàn. (Báo Quảng Ninh 3/10) đầu trang(
Dọc theo bờ biển tỉnh ta có hàng chục ngàn ha rừng phòng hộ ven biển, với đủ các loại cây như phi lao, bạch đàn, keo, tràm...
Nó được nhiều người ví như là một tấm "lá chắn xanh", có tác dụng rất lớn trong việc chắn gió, chắn sóng, cố định các nguồn cát nhằm ngăn chặn nạn cát bay, cát chảy, hạn chế sạt lở bờ biển, tình trạng sa mạc hoá.
Xác định được tầm quan trọng đó, những năm qua, Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình đã có nhiều nỗ lực để bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ ven biển. Tuy nhiên, công tác này vẫn đang gặp phải không ít khó khăn, thử thách...
Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình có nhiệm vụ quản lý rừng, đất rừng phòng hộ phân bố quanh 11 xã vùng cát của hai huyện Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Hiện nay, nhiều diện tích rừng phòng hộ ven biển đang trong giai đoạn khép tán, lớp thực bì dày (chủ yếu lớp lá khô và cỏ rười)... nên rất dễ xảy ra cháy rừng vào mùa khô. Đến mùa mưa, hệ thống rừng nói trên lại phải đối mặt với những trận bão lũ tương đối khắc nghiệt, rất dễ bị gãy đổ, vùi lấp vì gió thổi mạnh...
Những năm gần đây, thời tiết trên địa bàn tỉnh ta thường xuyên có những diễn biến phức tạp, khó lường, nắng hạn xuất hiện sớm và kéo dài; bão lũ dồn dập với cường độ ngày càng khốc liệt hơn...
Thêm vào đó, nhu cầu sử dụng rừng và đất lâm nghiệp ven biển vào mục đích phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, nuôi trồng thuỷ sản, khai thác khoáng sản (titan), kinh doanh dịch vụ, du lịch ngày càng gia tăng đã khiến cho công tác bảo vệ rừng (BVR) và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) phòng hộ ven biển gặp không ít khó khăn, thử thách.
Với trách nhiệm được giao quản lý, bảo vệ khoảng 15.000 ha rừng phòng hộ ven biển, thời gian qua, Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo vệ, phát triển rừng phòng hộ, góp phần hình thành nên tấm "lá chắn xanh" tương đối vững chắc dọc theo vùng biển phía Nam hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ, để ứng phó với mọi diễn biến bất thường của thời tiết...
Ông Nguyễn Quang Thụỵ, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình cho biết, do đặc thù về địa lý, địa chất... của vùng cát ven biển tỉnh ta rất khắc nghiệt nên việc trồng, chăm sóc và phát triển rừng phòng hộ ven biển gặp rất nhiều khó khăn.
Ông Thụy đưa ra một ví dụ để minh chứng về sự gian nan phát triển rừng phòng hộ ven biển: "Với một giống cây keo hoặc tràm... và cùng một cách thức, điều kiện chăm sóc tương tự nhau, nếu những loài cây đó được trồng ở vùng đồng bằng hay vùng miền Tây huyện Quảng Ninh, Lệ Thuỷ, chỉ sau 5-7 năm là thân cây phát triển to hơn phích nước, cao khoảng 10 mét, có thể khai thác để bán được; nhưng nếu những loài cây đó trồng ở vùng cát của đơn vị quản lý, sau 5-7 năm thân cây chỉ lớn bằng bắp tay và "may mắn" lắm mới có vài cây "trội" hơn một chút...
Đó là chưa nói tới chuyện chiều cao của thân cây phát triển rất hạn chế, nhiều cây chưa cao quá đầu người lớn là phân nhánh tua tủa... Với đặc điểm vùng cát vào mùa mưa thường tích nước, dễ xói mòn, mùa nắng khô khốc, nguồn dinh dưỡng hạn chế..., dù đã có nhiều năm kinh nghiệm về việc bảo vệ, chăm sóc, phát triển rừng phòng hộ ven biển, nhưng đơn vị chúng tôi vẫn rất khó để nghiên cứu, tìm ra được một loại cây nào phát triển nhanh như ở các vùng đất khác... ".
Theo ông Nguyễn Quang Thụỵ, để trồng được cây sống trên vùng cát đã khó, thế nhưng công tác chăm sóc, bảo vệ lại khó hơn gấp bội. Những năm qua, mặc dù đơn vị đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ, phục hồi, tái sinh rừng, nhưng tấm "lá chắn xanh" này vẫn chưa thực sự "khoẻ mạnh" như đơn vị mong muốn, do sự biến đổi khí hậu ngày càng khắc nghiệt, sự xâm thực của biển, tác động của con người...
Năm 2013, bão số 10 đã làm trên 2 vạn cây giống, hàng ngàn ha rừng phòng hộ ven biển trong địa bàn quản lý của đơn vị bị gãy đổ, bốc lấp. Từ đầu năm 2014 đến nay, mặc dù đơn vị đã phát hiện sớm và kịp thời dập tắt, khống chế được nhiều điểm phát lửa ở rừng phòng hộ ven biển, nhưng mới đây vẫn để xảy ra một vụ cháy rừng tương đối lớn ở huyện Quảng Ninh gây thiệt hại nhiều ha...
Bên cạnh đó, tình trạng người dân trồng cây xâm lấn đất lâm nghiệp ven biển vẫn còn xảy ra tại một số nơi ở địa bàn Sen Thuỷ, Ngư Thuỷ Trung, Ngư Thuỷ Bắc (huyện Lệ Thuỷ); tiếp đến là tình trạng người dân chăn thả gia súc dẫm đạp lên những vùng rừng mới trồng, vùng trồng dặm đã khiến việc chăm sóc, bảo vệ, phát triển rừng gặp không ít khó khăn...
Trước những khó khăn ấy, thời gian qua, Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc triển khai các biện pháp, giải pháp để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ quan trọng được giao.
Chẳng hạn, định kỳ hàng tháng, quý, năm..., đơn vị đều tổ chức các buổi họp để đúc rút kinh nghiệm, triển khai nhiệm vụ cho thời gian tiếp theo; chú trọng thực hiện tốt kế hoạch, chỉ tiêu được giao khoán bảo vệ, trồng, chăm sóc rừng...; tăng cường phối kết hợp với chính quyền các xã có rừng phòng hộ ven biển để làm tốt công tác tuyên truyền bảo vệ rừng, PCCCR cũng như thống nhất chọn hộ để tiến hành ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng...
Năm 2013, được cấp trên giao kế hoạch sớm, tăng thêm diện tích giao khoán để bảo vệ, nên ngay từ đầu năm đơn vị đã chủ động bố trí lực lượng, cây giống, phương tiện, vật tư, chọn hộ để tiến hành giao khoán, thực hiện kế hoạch đề ra. Trong năm, đơn vị đã tiến hành giao khoán bảo vệ rừng được 5.000 ha, đạt 100% kế hoạch; trồng 50 ha rừng phòng hộ ven biển, đạt 100% kế hoạch. Ngoài ra, đơn vị còn tiến hành chăm sóc cho gần 100 ha rừng từ 1-2 năm tuổi...
Riêng 6 tháng đầu năm 2014,  Ban quản lý rừng phòng hộ ven biển Nam Quảng Bình thực hiện giao khoán bảo vệ rừng được 6.000 ha, đạt 100% kế hoạch; thực hiện chăm sóc cho 90 ha rừng trồng năm thứ nhất và năm thứ hai; triển khai gieo ươm thành công 35 vạn cây keo lá tràm để phục vụ cho kế hoạch trồng rừng trong năm. (Báo Quảng Bình 1/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng đầu năm công tác bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng được thực hiện tốt, cơ bản hạn chế nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng.
Đến nay tổng diện tích rừng được khoán bảo vệ và bảo vệ trảng cỏ trên địa bàn tỉnh là 49.570 ha, đạt 100% so với kế hoạch, tăng 3,6% so cùng kỳ năm 2013 (SCK), trong đó diện tích ở các huyện và ngoài các Ban quản lý Khu rừng là 4.826 ha. Khoanh nuôi rừng tái sinh tự nhiên 6.966 ha, đạt 100% kế hoạch và tăng 1,5% SCK.
Tổng diện tích rừng đã được trồng là 387,4 ha, đạt 45,9% kế hoạch và bằng 77% SCK. Trong đó rừng phòng hộ đặc dụng 212,1 ha, rừng sản xuất 175,3 ha. Ngành chức năng đã cung cấp hơn 210.800 cây giống phục vụ trồng cây phân tán, đạt 87,8% kế hoạch.
Trong 9 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 184 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 16 vụ SCK. Riêng công tác giải quyết bao lấn chiếm, sử dụng đất lâm nghiệp không đúng mục đích, ngành Nông nghiệp đã phối hợp giải quyết các vụ tồn đọng được 4,9 ha và hiện còn tồn đọng 5,8 ha.
Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy rừng, tăng 8 vụ SCK. Tuy số vụ cháy tăng cao, nhưng diện tích cháy chỉ có hơn 10,85 ha, giảm 8,75% ha SCK. Nguyên nhân chủ yếu do cháy lan từ Campuchia sang, hoặc người dân sử dụng lửa bất cẩn.
Ngoài ra, một số nơi còn xảy ra tình trạng người dân cố ý đốt trảng cỏ nhưng đã được lực lượng bảo vệ rừng kịp thời phát hiện dập tắt, không gây thiệt hại đến rừng. (Báo Tây Ninh 1/10) đầu trang(
1-10, Đoàn kiểm tra liên ngành thành phố do ông Nguyễn Xuân Bình, Phó chủ tịch UBND thành phố làm trưởng đoàn, kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) theo Công điện 967 của Thủ tướng Chính phủ tại UBND huyện Cát Hải và Vườn Quốc gia Cát Bà.
Tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Xuân Bình đánh giá cao những kết quả mà UBND huyện Cát Hải, Vườn Quốc gia Cát Bà đạt được trong công tác PCCC thời gian qua, đồng thời lưu ý lãnh đạo huyện, Vườn quốc gia Cát Bà cần tăng cường công tác tuyên truyền một cách sâu rộng với nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức người dân, nhất là người đứng đầu các địa phương, đơn vị trong công PCCC, tập trung vào đúng đối tượng, đúng thời điểm, ưu tiên tại những điểm nóng dễ xảy ra cháy, như: rừng, tàu, thuyền, cơ sở lưu trú...
Cơ quan chức năng và chính quyền các cấp chủ động xây dựng phương án chữa cháy rừng phù hợp, sát với thực tiễn, theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để bố trí các nguồn lực phù hợp theo phương châm "Bốn tại chỗ", bảo đảm ngăn chặn và xử lý kịp thời các tình huống phát sinh không để xảy ra cháy rừng và cháy lớn…, quyết tâm bảo vệ và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về cháy rừng, tạo tiền đề bảo tồn và phát triển rừng mang tính bền vững, lâu dài.
Thực hiện nghiêm Công điện 967 của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch 5258 của UBND thành phố về việc tăng cường công tác PCCC, UBND huyện Cát Hải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt công tác PCCC và đạt được những kết quả tích cực; hiệu lực, hiệu quả, quản lý nhà nước và công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về PCCC được tăng cường, góp phần quan trọng bảo đảm quốc gia- an ninh, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của thành phố. (Báo Hải Phòng 1/10) đầu trang(
Là loài động vật rừng hoang dã, sau 6 năm lạc bầy xuống núi thuộc tiểu khu 20 khu rừng Vườn quốc gia Phước Bình, xã Phước Bình, huyện Bác Ái (Ninh Thuận), con bò tót đực đã nhanh chóng nhập đàn và giao phối với bò nhà chăn thả của đồng bào Raglai, đến nay đã cho ra đời gần 20 con bò tót lai.
Sự ra đời của bò tót lai là hiện tượng sinh học tự nhiên rất đặc biệt mà con người không thể tác động vào được, đây là nguồn gen rất quý hiếm.
Để duy trì và phát triển nguồn gen này, Sở Khoa học và Công nghệ hai tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng đã thực hiện đề tài khoa học nghiên cứu, giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò tót lai F1 và bò nhà đang được nuôi theo hướng trang trại ở Vườn quốc gia Phước Bình.
Tại trang trại nuôi, 10 con bò tót lai trông không khác gì bò tót rừng bởi thân hình to cao vạm vỡ, còn mang tính hung hăng. Với kiểu nuôi quảng canh khép kín trên diện tích hơn 2 ha, những chú bò tót lai được Vườn quốc gia Phước Bình chăm sóc, bảo vệ khá nghiêm ngặt, nhờ đó chúng dễ dàng thích nghi và phát triển nhanh.
Ông Não Ngọc El, người được giao chăm sóc đàn bò tót lai cho biết: Mặc dù là con lai F1, nhưng nó vẫn còn tính của bò tót rừng hoang dã, rất hung hăng khi thấy người lạ tiếp cận. Hiện nay con bò tót đực và bò tót cái lai F1 đang trong giai đoạn giao phối, động đực, nhưng chưa thấy con bò cái có dấu hiệu đậu thai.
Vườn đang tìm hiểu và có kế hoạch mua bò cái lai Sind để bò tót F1 giao phối, tạo nguồn con lai F2. Ngoài thức ăn tự nhiên ra, Vườn còn trồng thêm cỏ voi, mua thêm thức ăn tinh để bò tót lai ăn dặm.
Lúc đầu chăm sóc và tiếp cận rất khó, lâu sau nó quen dần nhưng chỉ gần gũi với người thường chăm sóc, nếu thấy người lạ đến gần là nó nổi tính hoang dã, húc ngay.
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò tót lai F1 (Bos gaurus) và bò nhà (Bos taurus) , S ở Khoa học và Công nghệ hai tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng đã thống nhất mua lại số bò tót lai của đồng bào và tạo vùng khoanh nuôi phù hợp với môi trường sống của bò tót ngay tại Vườn quốc gia Phước Bình.
Qua gần 3 năm đưa về nuôi, do có 50% máu bò tót (ước tính tương đối), những chú bò tót lai F1 đã thể hiện khả năng tăng trọng nhanh, chịu đựng tốt các điều kiện nuôi dưỡng theo kiểu nuôi quảng canh và đề kháng tốt một số bệnh hay xảy ra trên đàn bò nhập nội và bò nhà .
Ông Nguyễn Công Vân , Giám đốc Vườn quốc gia Phước Bình cho biết: Sau thời gian quan sát cá thể bò tót, thấy có dấu hiệu thân thiện với bò nhà và sản sinh ra nghé lai, Vườn đã có ý tưởng làm đề tài nghiên cứu, giám định di truyền để xác định có đúng bò tót lai, đồng thời theo dõi khả năng sinh trưởng của nó.
Qua theo dõi, Vườn quốc gia Phước Bình đã mua 10 con nghé lai, trong đó có 5 nghé lai bò tót đực và 5 con nghé cái lai để chăm sóc.
Những con bò tót lai phát triển rất nhanh so với bò nhà, khả năng chống chịu bệnh tốt, thích ứng và nhạy cảm với tự nhiên. Hiện nay Vườn đang nghiên cứu, xác định công thức lai để kỳ vọng cho ra thế hệ con lai F2, thể hiện đầy đủ tính trạng ban đầu của “bò tót cha”.
Theo ông Vân, khó khăn hiện nay của đề tài là kinh phí đã vượt tầm đối với hai tỉnh. Sở Khoa học và Công nghệ hai tỉnh đang đề xuất với tỉnh trình Bộ Khoa học và Công nghệ xin nguồn kinh phí Trung ương để cấp cho Vườn quốc gia Phước Bình tiếp tục thực hiện đề tài giai đoạn hai.
Đó là nghiên cứu, xác định công thức lai kỳ vọng cho ra thế hệ con lai F2, qua đó tạo ra giống mới thể hiện tương đối tính trạng tốt của bò tót. Từ đó có nguồn giống mới cho hai tỉnh Ninh Thuận và Lâm Đồng, đồng thời tạo nguồn giống cho cả nước.
Đề tài nghiên cứu, giám định di truyền bò tót lai rất thực tế, có khả năng ứng dụng cao, kỳ vọng tạo ra nguồn giống mới rất khả quan. Đây là cơ hội hiếm có để hội tụ các nguồn gen quí, hướng tới giá trị thương hiệu bò lai cho hai tỉnh Ninh Thuận - Lâm Đồng nói riêng và cả nước nói chung. (Một thế Giới 3/10) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Người dân Cà Mau từng xầm xì và đặt câu hỏi này. Có người nói trước khi được phân công làm Phó ban Dân vận Huyện ủy Thới Bình (Cà Mau), ông Giám đốc Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm Nguyễn Ngọc Tuấn có đến hàng chục thửa đất, với tổng diện tích lên tới vài chục ha, trong khi nhiều hộ dân dù rất muốn có đất để sản xuất, ổn định đời sống, thoát nghèo thì lại không được hợp đồng giao khoán.
Vấn đề gây bức xúc trong nhiều hộ dân chỉ được làm sáng tỏ khi Thanh tra tỉnh Cà Mau lập đoàn vào cuộc và kết luận.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - nguyên Giám đốc LNT Sông Trẹm được giao khoán 2 phần đất với diện tích 22,5ha trong khi phần lớn nhân dân trong vùng chỉ được giao khoán một phần diện tích khoảng từ 4-5ha; ông không sử dụng phần đất vừa nêu mà chuyển nhượng cho ông Nhã 17ha, ông Nguyễn Văn Tuấn 5,5ha nhưng lại đối phó bằng cách lập hợp đồng liên doanh, liên kết với ông Nhã, nhằm che giấu bút tích việc chuyển nhượng, sau đó lại tiếp tục giao khoán cho 3 người con của ông 27,3ha.
Đây là dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng (vụ lợi cho cá nhân và gia đình). Nội dung công dân tố cáo ông Nguyễn Ngọc Tuấn có 10 thửa đất thuộc Phân trường Sông Trẹm, xã Khánh Thuận, tuy không đúng về số lượng nhưng ông Tuấn và gia đình ông Tuấn được LNT Sông Trẹm giao khoán nhiều phần đất không đúng quy định pháp luật là có cơ sở - theo kết luận của Chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau.
Chiều 29/9, nguồn tin riêng của PV Báo CAND cho biết, kết thúc thanh tra, Chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau Đinh Phước Thọ đã kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau đề nghị Ban Thường vụ Huyện ủy Thới Bình kiểm tra việc kê khai tài sản, thu nhập của ông Nguyễn Ngọc Tuấn, thông báo kết quả cho UBND tỉnh và Thanh tra tỉnh.
Liên quan đến việc giao khoán, chuyển nhượng đất rừng trái pháp luật tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ, nguồn tin của PV Báo CAND chiều 29/9 cho biết, Chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau cũng vừa có kết luận, đồng thời đề nghị thanh lý hợp đồng đối với 18 người, trong đó có 12 cán bộ, liên quan đến hàng chục ha rừng do những người này đã nhận khoán xong lại chuyển nhượng cho người khác, hoặc nhận khoán sai đối tượng hoặc dù đã nhận khoán rồi lại tiếp tục nhận khoán. (Công An Nhân Dân 1/10, tr7) đầu trang(
Trong đợt tiếp xúc cử tri tại trước Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII của ĐBQH tỉnh, nhiều cử tri phản ánh: Hiện nay đơn giá khoán bảo vệ rừng, suất đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, đặc dụng còn thấp; mặc dù năm 2011 đã được điều chỉnh với đơn giá trồng rừng và chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng là 15 triệu đồng/ha (gồm 1 năm trồng và 3 năm chăm sóc), khoán quản lý bảo vệ rừng là 200.000 đồng/ha nhưng so với thực tế vẫn còn thấp.
Đề nghị tăng suất đầu tư, hỗ trợ trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, tăng mức khoán quản lý, bảo vệ rừng để đảm bảo mức sống cho người nhận khoán.
Trên cơ sở ý kiến phản ánh của cử tri, Đoàn ĐBQH tỉnh đã có văn bản đề nghị Bộ NN-PTNT xem xét giải quyết. Bộ NN-PTNT đã có Công văn số 6004 ngày 29/7/2014 trả lời như sau:
Ngày 30/9/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2015, theo đó, trồng rừng phòng hộ, đặc dụng tối đa 15 triệu đồng/ha; mức khoán bảo vệ rừng bình quân 200.000đồng/ha/năm (mức cụ thể do UBND tỉnh, thành phố quyết định).
Bộ NN-PTNT thống nhất với kiến nghị của Đoàn ĐBQH đã nêu và có văn bản trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị sửa đổi định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp (số 2265/TTr-BNN-TCLN ngày 23/7/2012; số 4426/BNN-TCLN ngày 27/12/2012).
Tại cuộc họp ngày 18/6/2013 của Ban chỉ đạo nhà nước về Kế hoạch Bảo vệ rừng và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Phó thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Trưởng ban chỉ đạo nhà nước đã giao Bộ KH-ĐT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, dự thảo sửa đổi Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg.
Để tháo gỡ khó khăn, đề nghị UBND các tỉnh có thể cân đối từ nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng và huy động các nguồn vốn khác để hỗ trợ người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. (Báo Phú Yên 2/10) đầu trang(
Mới đây, ông Nguyễn Trung Hiếu - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng cùng lãnh đạo các sở ngành có liên quan đã có cuộc họp với đại diện Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ thương mại Tài Nguyên Xanh để bàn về Dự án trồng rừng phòng hộ tại tỉnh Sóc Trăng.
Theo báo cáo, trong thời gian 4 năm (từ 2015 – 2018) công ty sẽ thực hiện trồng rừng phòng hộ trên bãi bồi ven biển thuộc huyện Trần Đề tỉnh Sóc Trăng, với diện tích khoảng 2.000ha.
Nguồn kinh phí thực hiện tổng cộng 50 tỷ, trong đó 35 tỷ tranh thủ vốn hỗ trợ của Chính phủ, 15 tỷ do vốn tự có của công ty. Sau 4 năm, công ty đề nghị tỉnh cho thuê lại khu vực rừng đã trồng để tiếp tục bảo vệ, chăm sóc và phát triển kinh tế, thời gian thuê không quá 50 năm đúng theo quy định hiện hành.
Ông Nguyễn Trung Hiếu - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng diện tích bãi bồi ven biển của huyện Trần Đề thực tế không đủ để đáp ứng yêu cầu của dự án, còn nhiều vấn đề cần xem xét lại, tránh làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên môi trường và cuộc sống dân cư ven biển bãi bồi.
Công ty TNHH sản xuất và dịch vụ thương mại Tài Nguyên Xanh cần khảo sát thực tế kỹ càng, viết kế hoạch chi tiết rõ ràng và trình UBND tỉnh xem xét lại. (Đài PTTH Sóc Trăng 1/10) đầu trang(
Hà Tĩnh: Chính quyền cấp đất chồng chéo, dân rơi vào vòng lao lý (kỳ 1)
Vừa qua, báo BVPL nhận dược đơn cầu cứu của 7 hộ dân ở thôn 5, xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) phản ánh về việc, năm 1980 họ từ xuôi lên đây khai hoang, phát rẫy xây dựng vùng kinh tế mới.
Tuy nhiên, không hiểu vì sao năm 1998, UBND huyện Hương Khê lại cấp diện tích đất đã khai hoang của họ cho ông Phan Vặn Hiến cùng thôn. Được biết, hộ gia đình các ông Đặng Hữu Thìn, Hồ Trường, Đặng Văn Toàn, Nguyễn Hương, Nguyễn Bình, Thái Sỹ lên vùng đất tại xã Hòa Hải khai hoang từ những năm 1980. Từ đó cho tới đầu năm 2006, những hộ gia đình này đã cải tạo, canh tác ổn định không có tranh chấp gì xảy ra.
Thế nhưng, đến tháng 6 năm 2006, các hộ gia đình này rất bất ngờ khi nhận được thông báo từ UBND xã Hòa Hải (Hương Khê) rằng, toàn bộ diện tích đất ở và đất vườn mà họ đã khai hoang từ những năm 1980 lại trở thành đất của hộ ông Phan Văn Hiến ở thôn 6, xã Hòa Hải, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh).
Theo tìm hiểu, số diện tích đất của 7 hộ dân ở thôn 5, xã Hòa Hải đã được UBND huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) cấp cho ông Phan Văn Hiến theo Quyết định số 91/QĐ-UBND ngaỵ 22/4/1998.
Mặc dù được cấp đất từ năm 1998, nhưng đến năm 2005 gia đình ông Phan Văn Hiến mới lên đây canh tác trồng rừng. Sau khi tiến hành mở rộng diện tích, ông Hiến mới biết diện tích đất rừng của mình được UBND huyện cấp trùng lên đất vườn của 7 hộ gia đình khác trong thôn.
Phát hiện sự việc, ông Hiến đã làm đơn khiếu nại gửi UBND xã để nhằm đòi lại diện tích đất mình được cấp. Tuy nhiên, đây là một vụ tranh chấp đất có tính chất phức tạp nên UBND xã Hòa Hải đã chuyển toàn bộ hồ sơ lên UBND huyện Hương Khê để cùng phối hợp giải quyết.
Sau một thời gian giải quyết, ngày 13/11/2006 UBND huyện Hương Khê đã ra Quyết định số 1776/QĐ-UBND với nội dung: “Thu hồi và bãi bỏ Quyết định số 91/QĐ-UB ngày 22/4/1998 của UBND huyện Hương Khê về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình ông Phan Văn Hiến với diện tích là 19ha”. Vì khi giao đất cán bộ địa phương đã thiếu kiểm tra, dẫn đến giao đất lâm nghiệp trùng lên đất vườn và đất ở của 7 hộ đã sử dụng ổn định từ trước năm 1993.
Không đồng tình với Quyết định số 1776/QĐ-UBND của UBND huyện Hương Khê, ông Phan Văn Hiến tiếp tục làm đơn khiếu nại gửi lên UBND tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 19/11/2007, UBND tỉnh Hà Tĩnh có Quyết định số 3012/QĐ-UBND với nội dung: “Không công nhận Quyết định số 1776/QĐ-UBND của UBND huyện Hương Khê về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của ông Phan Văn Hiến và giao UBND huyện Hương Khê điều tra, xác minh lại từ đầu”.
Thực hiện Quyết định giải quyết khiếu nại số 3012/QĐ-UBND ngày 19/11/2007 của UBND tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện Hương Khê đã ban hành Quyết định số 803/QĐ-UBND ngày 28/3/2008 về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 1776/QĐ-UBND ngày 13/11/2006 và chỉ đạo tổ chức thực hiện Quyết định của UBND tỉnh.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Quyết định số 3012/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Tĩnh, UBND huyện Hương Khê đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc nên trong một thời gian dài vẫn không thu được kết quả khả quan nào.
Năm 2013, trên cơ sở đề nghị của UBND huyện Hương Khê, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã thành lập Tổ công tác để tiến hành rà soát, xử lý vụ việc. Qua quá trình soát xét lại hồ sơ vụ việc, căn cứ các quy định của pháp luật, cho thấy bản chất vụ việc tranh chấp về tài sản gắn liền với đất của ông Phan Văn Hiến với 7 hộ dân ở xã Hòa Hải là do TAND thụ lý, giải quyết.
Từ kết quả kiểm tra, soát xét và ý kiến của Thanh tra Chính phủ tại Văn bản số 841/TTCP-CII ngày 17/4/2014, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-UBND ngày 15/7/2014 thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 3012/QĐ-UBND ngày 19/11/2007 của UBND tỉnh về giải quyết đơn khiếu nại của ông Phan Văn Hiến. Đồng thời, hủy bỏ các Quyết định của UBND huyện Hương Khê trước đó.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn, Chánh Thanh tra huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) cho biết: “Đây là vụ việc tranh chấp đất đai rất phức tạp, sau khi xin ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh và Thanh tra Chính phủ, chúng tôi đã đề nghị ông Phan Văn Hiến tự thỏa thuận, hòa giải tranh chấp với các hộ có liên quan. Nếu việc hòa giải không thành thì hộ ông Hiến có thể làm đơn nộp cơ quan Tòa án Nhân dân huyện Hương Khê để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền, quy định của pháp luật”. (Bảo Vệ Pháp Luật 3/10, tr10) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 9 tháng năm 2014, tiến độ trồng rừng tăng so với cùng kỳ năm trước do thời tiết tại miền Bắc tương đối thuận lợi, thêm vào đó là một số chính sách phát triển lâm nghiệp được triển khai, điển hình là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Bên cạnh đó, công tác giao khoán bảo vệ rừng và khai thác các loại lâm sản chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Tính đến 24/9, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 165,1 nghìn ha, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 11,9 nghìn ha, giảm 11,5% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới rừng sản xuất đạt 153,2 nghìn ha, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.939 nghìn m3, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tính đến ngày 20/9, các tỉnh miền Bắc đã trồng được 138,6 nghìn ha rừng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó Bắc Trung Bộ là vùng có tiến độ trồng rừng nhanh nhất, đạt 33,9 nghìn ha tăng 54,6% so với cùng kỳ năm trước, tiếp đến là Đồng bằng sông Hồng đạt 16,9 nghìn ha ( tăng 32,5%), Trung du và miền núi phía Bắc đạt 87,9 nghìn ha (giảm 6%).
Còn tại miền Nam, đến ngày 20/9 các địa phương trồng được 26 nghìn ha. Trong đó: Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ trồng đạt 13,9 nghìn ha, Đông Nam Bộ đạt 1,87 nghìn ha, Tây Nguyên đạt hơn 10 nghìn ha và Đồng bằng sông Cửu Long đạt 0,3 nghìn ha. Một số địa phương có diện tích trồng rừng khá là Bình Định đạt 8,5 nghìn ha, Lâm Đồng 3,5 nghìn ha, Đắk Lắk 3 nghìn ha.
Bên cạnh việc trồng rừng mới tập trung, các địa phương tiếp tục chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng mới tập trung năm 2014. (Đảng Cộng Sản VN 2/10) đầu trang(
Từ đầu năm 2014 đến nay, lượng dăm gỗ xuất khẩu giảm mạnh do quá lệ thuộc thị trường Trung Quốc. Hệ lụy từ việc phát triển nhà máy chế biến dăm gỗ ồ ạt, thiếu quy hoạch bài bản đã đẩy DN lâm vào bế tắc.
Việt Nam trở thành quốc gia XK dăm gỗ lớn nhất thế giới đã 4 năm nay, với lượng XK tăng mạnh qua từng năm: năm 2010 XK 4,13 triệu tấn, thu về 459,5 triệu USD; năm 2011 XK 5,4 triệu tấn, trị giá 703,3 triệu USD; năm 2012 XK đạt 6,1 triệu tấn, đem về 827,6 triệu USD; năm 2013 đạt 6,3 triệu tấn, giá trị hơn 810 triệu USD. Thế nhưng từ năm 2013 đến nay, ngành chế biến dăm gỗ rơi vào cảnh suy thoái nghiêm trọng.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, trong 9 tháng, cả nước chỉ XK được 2,9 triệu tấn dăm gỗ, giảm tới 34% so với cùng kỳ năm trước. Giá dăm gỗ XK cũng giảm mạnh, nếu năm 2013 có giá bình quân 138 USD/tấn thì từ đầu năm 2014 chỉ dao động ở 122-128 USD/tấn.
Tỉnh Bình Định có 20 nhà máy sản xuất dăm gỗ, trong 3 quý đầu năm nay chỉ sản xuất 760.000 tấn, kim ngạch XK chỉ được 470 triệu USD, giảm tới 29% so với năm trước.
Theo UBND tỉnh Quảng Ngãi, trong 3 quý đầu năm, địa phương này XK dăm gỗ khoảng 150.000 tấn mới chỉ đạt 44% kế hoạch năm. Nguyên nhân sự sụt giảm này là giá dăm gỗ quá thấp và thị trường tiêu thụ hạn chế khiến nhiều nhà máy chế biến lâm sản hoạt động cầm chừng.
Tại Quảng Ninh, trong 8 tháng đầu năm, các DN xuất được 133.511 tấn dăm gỗ khô, giá trị đạt 16,86 triệu USD; giá xuất tại cảng chỉ bằng 76% so với cùng kỳ, với mức 126 USD/tấn.
Phần lớn các nhà máy chế biến dăm gỗ hiện phải sản xuất cầm chừng, một số nhà máy đã phải ngừng hoạt động. Các nhà máy chế biến dăm gỗ XK ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khác trong thời gian tới có thể dẫn ngành này vào “cửa tử” nếu không tìm được cách vượt qua.
Theo Bộ NN-PTNT, số DN chế biến và XK dăm gỗ phát triển quá nhanh, không có quy hoạch, chưa gần với vùng nguyên liệu. Ngành công nghiệp dăm gỗ phát triển bùng nổ trong những năm qua do các DN thu lợi nhuận nhanh, trong khi vốn đầu tư nhà máy không lớn, nguyên liệu đầu vào đảm bảo, được hưởng nhiều chính sách ưu tiên của Nhà nước. Nếu năm 2009, cả nước có 47 nhà máy dăm gỗ với lượng dăm xuất khẩu khoảng 2,3 triệu tấn thì đến nay cả nước đã có gần 100 công ty dăm gỗ, với trên 112 nhà máy.
TS. Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Tổ chức Forest Trens nhận định, các nhà máy chế biến dăm gỗ XK mọc lên tràn lan ở một số địa phương đã dẫn tới tranh giành nguyên liệu. Do thiếu trầm trọng nguyên liệu, nhiều nhà máy chế biến dăm gỗ XK áp dụng chính sách thu mua gỗ rừng trồng theo kiểu “mua tất tần tật”, cả rừng non cũng thu mua.
Thậm chí, những thời điểm cạnh tranh căng thẳng quá, để có nguyên liệu duy trì hoạt động cho nhà máy, nhiều DN sẵn sàng nâng giá thu mua vô tội vạ. Trong khi đó, đa số hộ gia đình tham gia trồng rừng luôn thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, thiếu tiền cho những sinh hoạt của gia đình, nên nếu có ai đặt vấn đề mua rừng non họ liền bán ngay. Chất lượng dăm gỗ XK giảm mạnh, khiến các đối tác bắt đầu quay lưng, ép giá.
Trước thực trạng tê liệt hoạt động chế biến, XK dăm gỗ tại tỉnh Bình Định, mới đây UBND tỉnh này thông báo chủ trương là không sản xuất dăm gỗ nữa mà chuyển dần sang chế biến sâu như sợi phục vụ ngành dệt may, chế biến bột giấy để sản xuất ván ép, gỗ ép tiêu dùng trong nước và XK. Từ nay đến 2015, tỉnh khuyến khích các DN sản xuất dăm gỗ liên kết làm nhà máy sản xuất ván ép, sợi.
Còn ở Quảng Ngãi, chính quyền tỉnh đang tạo điều kiện cho liên danh hai nhà đầu tư Sojitz (Nhật Bản) và JK (Ấn Độ) đầu tư nhà máy bột giấy với công suất chế biến 200.000 tấn mỗi năm. Các dự án này sẽ xây dựng tại Khu kinh tế Dung Quất nhằm chế biến sâu nguyên liệu dăm gỗ.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản VN (Vietfores) cho rằng: muốn mở lối thoát cho ngành chế biến dăm gỗ XK, trước mắt các địa phương cần bỏ ngay tính dễ dãi trong việc cấp giấy phép cho nhà máy mới để giảm bớt áp lực rủi ro của ngành này. Các DN cần phải mở rộng thêm thị trường XK ổn định như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, chứ không chỉ lệ thuộc phần lớn vào thị trường Trung Quốc. (Thời Báo Kinh Tế VN 2/10, tr9) đầu trang(
Xung quanh những bức xúc của doanh nghiệp du lịch về áp dụng thu phí dịch vụ môi trường rừng tại Lào Cai mà Du lịch đã phản ánh, để rộng đường dư luận, PV đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thanh Lĩnh, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lào Cai (BV&PTR).
Theo ông Lĩnh, khi  Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ áp dụng trên địa bàn tỉnh Lào Cai thì UBND tỉnh đa có Quyết định số 1938/QĐ-UBND ngày 3/8/2012 Quy định tạm thời mức chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng, theo đó mức thu đối với các đơn vị du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Lào Cai là 1,5% thời điểm thu là từ 1/1/2011. Tính đến nay, đã có 25/80 đơn vị nằm trong đối tượng phải nộp khoản phí này, còn hơn 50 đơn vị vẫn chưa thực hiện nộp theo quy định.
Căn cứ theo quy hoạch của Tổng cục Du lịch (TCDL) thì Sa Pa và Bắc Hà là khu du lịch trọng điểm của TCDL, là khu du lịch sinh thái (?) nên các đơn vị kinh doanh du lịch đều nằm trong đối tượng phải chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chính vì vậy mặc dù quy hoạch hiện nay cũng mới đang là định hướng và đương nhiên sẽ là như thế vì toàn bộ huyện Sa Pa nằm trọn trong vườn quốc gia Hoàng Liên (?).
Có thể nói đối tượng Quỹ BV&PTR thực hiện không có gì sai so với Nghị định của Chính phủ. Việc này hoàn toàn là trên cơ sở Nghị định 99, những đối tượng hưởng lợi trực tiếp từ dịch vụ môi trường rừng. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ lưu trú lữ hành đều nằm trong đối tượng phải chi trả dịch vụ này, những khu nằm trong khu du lịch sinh thái đều nằm trong đối tượng phải chi trả.
Chắc chắn căn cứ theo quyết định của TCDL nó là khu du lịch sinh thái (?) Hiện nay có thể nói là Sa Pa đã là một khu du lịch sinh thái. Còn quy hoạch là cái định hướng để có thể hoàn thiện hơn mà ở đây ví dụ như làm thêm những khu vực rừng cảnh quan tạo thêm, tăng thêm cảnh quan sinh thái của Sa Pa. Khách du lịch đến với Sa Pa có hai yếu tố: một là du lịch văn hóa lên đây du lịch để tham quan khám phá tìm hiểu về sinh hoạt đời sống của các dân tộc thiểu số.
Thứ hai, huyện Sa Pa nằm trong dãy Phan Xi Păng nó là nơi cung ứng dịch vụ môi trường rừng rất là tốt vì cảnh quan thiên nhiên. Sa Pa là vùng lõi của Vườn quốc gia Hoàng Liên. Chúng ta là những người hưởng lợi rất nhiều từ môi trường rừng. Nói nôm na, Sa Pa nằm trong dãy Phan Xi Păng thì đương nhiên có thể hiểu khu du lịch này vẫn nằm trong Vườn quốc gia Hoàng Liên.
Theo số liệu thống kê từ hai nguồn là tổ liên ngành và từ cơ quan công an thì lượng khách đến với Sa Pa là không giảm sút. Kêu thì kêu thế thôi nhưng để chứng minh thì vừa qua, làm việc với một đơn vị thì có thể nói là hiện nay cạnh tranh về du lịch của Sa Pa dẫn đến các đơn vị giảm giá vô tội vạ.
Giảm giá so với giá niêm yết mà đã đăng ký với các cơ quan quản lý nhà nước. Thứ hai nữa là giảm giá để mà cạnh tranh thu hút khách chứ không tính toán đến hiệu quả kinh tế của đơn vị. Giảm giá thì giá niêm yết đối với một đơn vị công bố hoặc thực hiện thì phải theo quy trình, quy định của Luật Doanh nghiệp. Khi đơn vị giảm giá thì phải có một lộ trình đăng ký với các cơ quan quản lý nhà nước về việc điều chỉnh mức giá.
Vấn đề ở đây một là số lượng, hai là chất lượng dịch vụ không thay đổi nhưng giá các đơn vị tự giảm xuống thì các đơn vị tự phải chịu thiệt thòi về hiệu quả. Ví dụ khách sạn Công Đoàn giá thu là 520 nghìn đồng/ 1 phòng bao gồm có cả ăn sáng thế nhưng giá công bố tại đơn vị là từ 700 nghìn đồng đến 1 triệu đồng.
Thế là do tự đơn vị điều chỉnh giá xuống để cạnh tranh thu hút khách là trường hợp cá biệt. Các đơn vị đăng ký giá với cơ quan quản lý nhà nước nhưng khi đã niêm yết thì phải cam kết thực hiện đúng giá để thực hiện hiệu quả của doanh nghiệp. Thu thấp phải chịu.
Việc đơn vị phải chấp hành khi mà điều chỉnh giá thì phải báo cáo với các cơ quan chức năng để biết được việc khó khăn đó nhưng mà anh kêu mà không tuân thủ theo các quy định trình tự lộ trình về việc điều chỉnh giá.
Tự các đơn vị hạ giá xuống thì việc đấy là cái việc quyền lợi của đơn vị. Nhưng do việc cạnh tranh không lành mạnh, các đơn vị đua nhau cạnh tranh ngầm, đua nhau hạ giá bán phòng xuống thì đấy là quyền lợi của đơn vị bị thiệt thòi chứ không phải là do chính sách.
Đối với những đơn vị hưởng lợi trực tiếp từ rừng ví dụ như là khu Du lịch Hàm Rồng, khu Du lịch Cát Cát... thì vẫn áp dụng thu theo đúng thời điểm của Quyết định 1938 là từ ngày 1/1/2011. Còn tới đây nếu Quyết định 15/2014/QĐ-UBND thay đổi về mức thu dự kiến là từ 1,5% xuống còn 1% thì số dư 0,5% của hai năm 2011, 2012 sẽ được trừ dần vào những năm tiếp theo.Các đơn vị thực hiện trước sẽ bị thiệt thòi chúng tôi sẽ trừ lùi vào cái phần số phải thu.
Ông Nguyễn Ngọc Hinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Sa Pa cho biết: Ủng hộ theo chương trình kích cầu của UBND tỉnh Lào Cai, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ trên địa bàn thị trấn Sa Pa đã tích cực tham gia và giảm giá các sản phẩm dịch vụ du lịch.
Việc này đã đem lại kết quả không nhỏ trong việc thu hút du khách trong thời gian qua. Đặc biệt sau sự việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển Việt Nam, số lượng khách đến với Sa Pa đã có dấu hiệu giảm. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp du lịch chủ động giảm giá thành, thay đổi thị trường khách nên lượng khách đến với Sa Pa trong thời điểm vẫn tương đương cùng kỳ năm ngoái.
Ông Nguyễn Ngọc Hinh cũng cho biết thêm, cho đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có quyết định chính thức  của cấp có thẩm quyền nào công nhận Sa Pa là Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. (Du Lịch VN 2/10, tr11) đầu trang(
Năm 2013, thị trấn Đăk Tô đã nhận bàn giao diện tích rừng tại 2 tiểu khu 296, 297 với diện tích hơn 244ha từ UBND huyện Đăk Tô để quản lý. Phần đất thuộc 2 tiểu khu này gồm rừng trồng và rừng tự nhiên, nhưng qua rà soát, kiểm tra sau bàn giao, rừng chỉ còn lại ở phần diện tích thuộc tiểu khu 297.
Nhìn những dãy nhà cấp 4 được xây cất đã lâu, những diện tích cao su, cà phê, bời lời, mỳ lên xanh tốt và đã đến kỳ cho thu hoạch xen lẫn dưới những  vạt rừng thông trên những triền dốc ở khối 5, thị trấn Đăk Tô (huyện Đăk Tô), ít ai nghĩ rằng đây là những phần diện tích đất rừng tự nhiên và rừng trồng của Nhà nước bị người dân lấn chiếm sử dụng đã nhiều năm nay.
Đây chính là thực trạng đang diễn ra tại 2 tiểu khu 296, 297 trải dọc trên địa bàn thị trấn Đăk Tô – phần diện tích đất rừng vừa mới được bàn giao về cho địa phương quản lý. Tình trạng này cần được chính quyền địa phương có giải pháp xử lý cương quyết, dứt điểm để bảo vệ rừng, bảo đảm kỷ cương, phép nước…
Theo chính quyền thị trấn Đăk Tô, trước khi diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tiểu khu 296, 297 giao về cho thị trấn quản lý, việc tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực trên của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô còn khá lỏng lẻo; công tác tuyên truyền, tuần tra, truy quét chưa được đơn vị triển khai thường xuyên, liên tục; việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm chưa kịp thời nên tình trạng vi phạm về khai thác gỗ và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật để lấy đất sản xuất diễn ra thường xuyên và phức tạp, làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng kéo dài hàng chục năm nay.
Hậu quả là, tại tiểu khu 296 đã có đến 134 hộ dân lấn chiếm diện tích đất rừng trồng với diện tích 107,59ha (trong đó có 99 hộ dân đã xác định được danh tính với diện tích lấn chiếm 92,97ha). Tình trạng lấn chiếm diện tích rừng để sản xuất tại tiểu khu này đã xảy ra từ nhiều năm trước đây.
Hiện nay, nhiều diện tích đất rừng đã được các hộ dân chuyển sang trồng cà phê, cao su, bời lời, mỳ và đều đã đến kỳ cho thu hoạch. Đối với diện tích rừng còn lại chủ yếu ở tiểu khu 297, hiện cũng không bình yên khi tình hình khai thác gỗ trái pháp luật, chặt thông và đào bới gốc để lấy đất sản xuất vẫn tiếp tục diễn ra với nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi.
Năm 2013, sau khi có Quyết định của huyện Đăk Tô tiến hành giao rừng gắn với đất lâm nghiệp cho UBND thị trấn Đăk Tô quản lý; chính quyền thị trấn đã tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng, không tiếp tay cho các đối tượng vi phạm; tăng cường huy động lực lượng phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các đợt tuần tra, kiểm tra tại các khu vực trọng điểm.
Tuy nhiên, do khu vực này nằm ở vị trí đường sá đi lại tương đối thuận lợi, nằm gần khu dân cư nên tình trạng lấn chiếm đất trồng rừng, khai thác gỗ trái pháp luật vẫn diễn ra; trong khi lực lượng làm công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phương quá mỏng, kinh phí tổ chức thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng có hạn.
Hiện nay, đối với diện tích đất còn rừng tại tiểu khu 297, thị trấn đã phối hợp với ngành chức năng của huyện tiến hành thống kê, lập danh sách các hộ lấn chiếm đất rừng làm nhà ở, phát triển sản xuất.
Qua đó, UBND thị trấn Đăk Tô yêu cầu các hộ dân lấn chiếm đất rừng làm nhà ở và canh tác giữ nguyên hiện trạng, không được tiếp tục cơi nới, mở rộng diện tích, trồng cây dài ngày; đối với phần diện tích đất trồng rừng bị lấn chiếm để trồng cây ngắn ngày, thị trấn cũng đã thông báo cho các hộ dân biết là sẽ thu hồi vào cuối năm 2014, sau khi bà con thu hoạch cây trồng.
Về lâu dài, thị trấn Đăk Tô đã xây dựng phương án tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng tại 2 tiểu khu 296, 297 (chờ phê duyệt) nhằm quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, phát triển rừng mới; xác định rõ nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm cụ thể của các ngành, các cấp, các tổ chức đoàn thể của địa phương.
Phương án được chính quyền thị trấn Đăk Tô gắn với việc triển khai các giải pháp: tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền thị trấn trong triển khai, thực hiện các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng; gắn trách nhiệm quản lý Nhà nước trên địa bàn thị trấn, đề cao trách nhiệm cá nhân trong bảo vệ rừng, dựa vào dân để thực hiện các biện pháp nghiệp vụ liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng; xây dựng, duy trì các hoạt động của các tổ, đội quần chúng trong công tác bảo vệ rừng tại địa phương…
Ông Bùi Tiến Lý - Chủ tịch UBND thị trấn Đăk Tô cho biết, nếu phương án được phê duyệt, thị trấn Đăk Tô sẽ tiến hành tổ chức rà soát, xác định và yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân có diện tích đất sản xuất giáp ranh với diện tích đất rừng tại 2 tiểu khu và các hộ dân hiện đang canh tác nương rẫy trong và giáp ranh khu vực rừng trồng do thị trấn quản lý ký cam kết, thực hiện nội dung QLBVR.
Bên cạnh đó, thị trấn cũng sẽ thành lập các tổ công tác đặc biệt làm lực lượng nòng cốt, tổ xung kích bảo vệ rừng, phân công địa bàn cho từng tổ cụ thể để chủ động xây dựng kế hoạch tuần tra, bảo vệ rừng… (Báo Kon Tum 2/10) đầu trang(
Hiện nay, đang vào chính vụ trồng rừng, các đơn vị quản lý và chủ rừng đang đẩy nhanh tiến độ trồng rừng theo kế hoạch đã được phê duyệt.
Tuy nhiên, hiện các đơn vị quản lý và chủ rừng đang gặp khó khăn về vốn, nguồn cây giống phải đặt mua từ các tỉnh khác nên tiến độ trồng rừng gặp nhiều trở ngại.
Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau Nguyễn Như Ðộ cho biết, theo kế hoạch khảo sát và thiết kế khai thác và trồng rừng, năm nay toàn tỉnh trồng mới 510 ha và trồng sau khai thác trên 2.500 ha. Trong đó, trồng mới và sau khai thác khu vực rừng đước khoảng 700 ha, còn lại rừng tràm trên 2.300 ha.
Theo đó, đến thời điểm này, các đơn vị quản lý và các hộ nhận khoán đất rừng đã trồng mới được 389 ha, trồng sau khai thác 1.232 ha, đạt 50% kế hoạch. Tuy nhiên, hiện công tác trồng rừng đang gặp khó khăn về vốn.
Kế hoạch phát triển, bảo vệ và chăm sóc rừng năm 2014 đã được UBND tỉnh phê duyệt trên 24 tỷ đồng, trong đó vốn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước gần 9 tỷ đồng, còn lại vốn trong dân và các nguồn khác. Thế nhưng, đến nay tuy vào cuối vụ trồng rừng đước và đang vào chính vụ trồng rừng tràm nhưng ngân sách mới cấp được hơn 5 tỷ đồng.
Cũng theo ông Nguyễn Như Ðộ, do còn nhiều hạn chế trong công tác chuyên môn và kinh nghiệm, cộng với đặc điểm về địa lý, thổ nhưỡng và nguồn nước, đến nay tỉnh chưa sản xuất được cây tràm giống mà hằng năm phải hợp đồng mua từ các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng khoảng 15 triệu cây giống. Công việc này hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình cung cấp của thị trường và nguồn vốn để mua.
Theo kế hoạch, năm 2014, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ trồng mới và sau khai thác 1.500 ha, trong đó trồng mới 650 ha. Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết, năm nay công ty và các hộ trồng rừng chủ yếu thực hiện theo hình thức thâm canh.
Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, khoảng 15 triệu đồng/ha đối với trồng tràm thâm canh và khoảng từ 35-38 triệu đồng/ha đối với trồng cây keo lai. Nhưng bù lại cây phát triển nhanh hơn, rút ngắn được chu kỳ khai thác xuống còn 5-6 năm. Công tác phòng, chống cháy rừng vào mùa khô thuận lợi hơn. Ðặc biệt, thu nhập của trồng rừng thâm canh cao gấp đôi so với trồng rừng quảng canh truyền thống.
Ông Phạm Văn Ðấu, người nhận khoán đất rừng ở xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, cho biết, trồng rừng thâm canh, đào mương, kê liếp tuy chi phí ban đầu cao nhưng thời gian khai thác rút ngắn từ 5-6 năm, sản lượng gỗ tăng hơn gấp đôi so với trồng theo kiểu quảng canh truyền thống. Hiện người dân chỉ giữ một phần diện tích trồng tràm truyền thống theo quy định, còn lại chuyển sang trồng cây keo lai, giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần.
Tuy nhiên, hiện nay cây tràm giống và cây keo giống người dân chưa sản xuất được mà phải mua từ bên ngoài nên chi phí cao và phụ thuộc rất nhiều về thời gian.
Ðể đảm bảo cho công tác trồng rừng đạt kế hoạch năm 2014, từ đầu năm, Sở NN&PTNT chỉ đạo cho Chi cục Phát triển lâm nghiệp phối hợp với các địa phương có rừng và các công ty lâm nghiệp đẩy nhanh tiến độ rừng trồng theo kế hoạch được phê duyệt. (Báo Cà Mau 2/10) đầu trang(
Quản lý rừng cộng đồng tại Quảng Bình là hình thức cộng đồng dân cư được giao quyền sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng để quản lý, bảo vệ và sử dụng lâu dài.
Ðiều đó góp phần tăng độ che phủ của rừng và tạo ra nguồn thu nhập để bảo đảm đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sống trong khu vực rừng.
Quảng Bình có tổng diện tích rừng và đất rừng khá lớn (621.056 ha) chiếm 77% diện tích tự nhiên và đứng đầu cả nước về độ che phủ rừng. Ðể bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng, những năm qua bên cạnh các hình thức truyền thống, tỉnh Quảng Bình đẩy mạnh việc giao rừng cho cộng đồng.
Bản Cổ Tràng thuộc xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, có 67 hộ với 280 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Từ bao đời nay, bà con sống chủ yếu dựa vào rừng, chặt, đốt, cốt, trỉa. Mặc dù một số hộ đã biết trồng lúa nước và phát triển kinh tế nhưng về cơ bản đời sống của người dân vẫn rất khó khăn.
Ðược sự hỗ trợ của Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, bà con ở bản Cổ Tràng được UBND huyện Quảng Ninh cấp gần 210 ha rừng tự nhiên có trữ lượng gần 33 nghìn m3 gỗ để quản lý, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng. Bản Cổ Tràng thành lập ban quản lý rừng cộng đồng gồm bảy thành viên do trưởng bản làm trưởng ban, có nhiệm vụ cùng với các đoàn thể tuyên truyền, vận động dân bản không chặt phá rừng trái phép.
Số tiền bảo vệ rừng 200 nghìn đồng/ha (hỗ trợ trong sáu năm liền) được dự án gửi vào một tài khoản ngân hàng để ban quản lý rừng cộng đồng bản chi trả cho hoạt động bảo vệ rừng. Mỗi chuyến tuần tra rừng, mỗi thành viên được trả 100-200 nghìn đồng.
Anh Hồ Văn Giáo nói: "Ðược Nhà nước giao rừng cộng đồng, dân bản phấn khởi lắm. Bà con Vân Kiều chúng tôi vận động nhau không phá rừng làm nương rẫy và không cho người lạ vào rừng khai thác bừa bãi... Cứ mỗi tháng tham gia tuần tra bảo vệ rừng, mình được trả lương gần hai triệu đồng để mua lương thực, thực phẩm cho gia đình".
Sau hai năm giao rừng cho cộng đồng bản Cổ Tràng, khu vực rừng này không xảy ra nạn khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép như trước. Chủ tịch UBND xã Trường Sơn Nguyễn Văn Sỹ cho biết: "Việc giao rừng theo mô hình cộng đồng cho bản Cổ Tràng giúp cho người dân trong bản có kế sinh nhai lâu dài. Mặt khác, dân bản quản lý rừng ngay tại nơi mình cư trú nên rất dễ phát hiện lâm tặc cùng với chính quyền địa phương và kiểm lâm địa bàn tạo thành ba lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả".
Bí thư chi bộ bản Phú Minh kiêm Phó trưởng ban bảo vệ rừng của bản Ðinh Tiến Hùng nói: "Bà con ở bản Phú Minh, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa được giao quản lý, bảo vệ 804 ha rừng khu vực đèo Ðá Ðẽo. Khu rừng này có nhiều gỗ quý nên lâm tặc hay đến khai thác. Có lần, tôi cùng các thành viên trong ban bảo vệ rừng đi tuần tra thì phát hiện một nhóm lâm tặc đang chặt gỗ. Số lượng lâm tặc khá đông, thái độ hung hăng nên tôi gọi thêm dân bản và chính quyền địa phương đến ngăn chặn. Nhờ cách giải thích "mềm dẻo", có lý có tình nên nhóm lâm tặc phải rút lui. Từ đó, không còn đối tượng nào ngoài bản vào rừng cộng đồng của chúng tôi phá nữa".
Giám đốc Ban quản lý Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng Nguyễn Trung Thực cho biết, nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa UBND tỉnh Quảng Bình và Ngân hàng Tái thiết Ðức (KFW), từ năm 2012 đến 2017, Quảng Bình giao khoảng 12 nghìn ha rừng ở khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho cộng đồng dân cư tại 13 xã. Từ năm 2012 đến nay đã giao hơn 5.200 ha rừng cho cộng đồng dân cư ở các huyện Minh Hóa, Bố Trạch và Quảng Ninh. Phấn đấu đến năm 2015, tỉnh Quảng Bình giao hết toàn bộ diện tích rừng mà tỉnh đã ký cam kết cho cộng đồng quản lý, bảo vệ.
Cùng với nguồn thu nhập hằng tháng từ công việc bảo vệ rừng, người dân tại các thôn, bản nhận quản lý, bảo vệ rừng được khai thác gỗ và các loại lâm sản khác dùng vào mục đích làm nhà và các vật dụng gia đình, với sự đồng ý của Ban quản lý và phải khai thác đúng kỹ thuật, không được ảnh hưởng đến những cây chung quanh.
Về lâu dài, cộng đồng được giao rừng có quyền lợi được tận dụng và hưởng lợi nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng, nuôi động vật rừng, thu phí từ hoạt động tham quan du lịch, dịch vụ nghiên cứu khoa học...
Theo ông Nguyễn Trung Thực, thành công lớn nhất qua hai năm giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý là nhận thức về vấn đề bảo vệ rừng của người dân được nâng lên.
Tuy nhiên, điều đáng lo nhất là đời sống của người dân ở những khu vực được giao rừng còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, khả năng sử dụng nguồn tài chính để duy trì đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng chưa cao.
Mặt khác, năng lực quản lý bảo vệ rừng của cộng đồng không dễ tạo lập ngay được mà phải có thời gian, do vậy việc hỗ trợ, giám sát thường xuyên của chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm là rất cần thiết. (Đài PTTH Quảng Bình 1/10) đầu trang(
Chỉ trong 1 tháng, hơn 50 ha đất rừng sản xuất của Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Ninh Hòa đã bị 53 hộ dân ở Buôn Lác, Buôn Sim thuộc xã Ninh Tây, thị xã Ninh Hòa chiếm dụng trái phép.
Thị xã Ninh Hòa cũng đã tìm giải pháp giải quyết tình trạng này, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả. Trong khi đó, hành vi lấn chiếm trái phép vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Nếu không sớm có biện pháp quyết liệt thì hàng trăm ha đất rừng còn lại tiếp tục bị đe dọa.
Theo báo cáo của Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa, tình trạng người dân chiếm đất bắt đầu xuất hiện vào cuối tháng 8. Khi đó, toàn bộ hơn 200 ha rừng keo của BQL tại xã Ninh Tây vừa được thu hoạch xong.
Trong quá trình BQL rừng tiến hành dọn thực bì để chuẩn bị vào vụ trồng rừng tiếp theo, thì nhiều hộ dân trong xã đã ngang nhiên lên ranh, chiếm đất. Ban đầu chỉ có vài hộ tham gia trỉa bắp.
Nhưng kể từ đầu tháng 9, số hộ tham gia chiếm đất đã tăng nhanh, khiến cho tình hình trở nên mất kiểm soát. Tính đến ngày 29/9, BQL rừng phòng hộ thống kê được 53 hộ dân chiếm, tổng diện tích đã trồng bắp là 50 ha, song diện tích đất rừng mà mà bà con đang chiếm giữ lên đến 120 ha. Như vậy, nếu vụ trồng rừng năm nay không thực hiện được, BQL sẽ chịu thiệt hại hàng tỷ đồng đầu tư.
UBND thị xã cùng chính quyền địa phương đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân tuân thủ các quy định của pháp luật; dừng mọi hoạt động đốt, phát dọn trên phần đất nhà nước đã giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa quản lý. Song đến nay mọi nỗ lực vẫn chưa đạt được kết quả. (Đài PTTH Khánh Hòa 30/9) đầu trang(
Dám nghĩ, dám làm với một hướng đi táo bạo đã giúp chị Nguyễn Thị Nam - hội viên phụ nữ chi hội 10 xã Võ Lao (huyện Thanh Ba) trở thành bà chủ xưởng chế biến gỗ ván ép lớn và 20 ha đồi rừng đang cho thu hoạch, ước tính mỗi năm cho thu nhập trên 1 tỷ đồng.
Chị Nam sinh ra và lớn lên ở vùng ven chân núi Thắm. Nơi đây, địa hình đồi núi mấp mô, khó canh tác, người nông dân rất khó khăn trong phát triển kinh tế gia đình. Nhiều người đã phải rời quê hương đi làm ăn xa hoặc đi xuất khẩu lao động. Nhưng chị Nam vẫn nung nấu quyết tâm làm giàu trên chính vùng đất đồi rừng dưới chân núi Thắm.
Nhớ lại buổi đầu, do nguồn vốn ít, chị thu mua gỗ về chế biến và đem bán với số lượng nhỏ, càng làm chị càng có kinh nghiệm và hiểu được giá trị của gỗ mang lại. Sau vài năm khi có được số vốn kha khá, chị mạnh dạn đầu tư vào rừng.
Chị mua lại từng khoảnh đồi rừng của những người dân trong vùng, cải tạo đất, đầu tư cây giống, phân bón, học kỹ thuật trồng rừng, mở đường vào các khu rừng để thuận tiện cho việc chuyên chở phân bón, chăm sóc cây và thu hoạch gỗ.
Chị trồng chủ yếu là keo và bạch đàn. Đây là loại cây nguyên liệu làm ván ép rất tốt, nhanh cho thu hoạch; chỉ phải đầu tư trồng mới những năm đầu; khi cho thu hoạch, chặt đi, cây lại trồi lên, chỉ việc chăm bón là cho thu hoạch tiếp.
Giờ đây với chị “Rừng là vàng” bởi chỉ việc quản lý, chăm bón mỗi năm với 20 ha rừng tái sinh cũng cho thu đến gần 1 tỷ đồng. Năm 2012 chị lại đầu tư mở xưởng chế biến gỗ ván ép với công suất 20 tấn ván ép /1 ngày; mua 2 chiếc ô tô  tải để chuyên chở gỗ, chở sản phẩm đi bán tại Xưởng ván ép Hà Nội.
Hiện nay xưởng chế biến gỗ của gia đình chị đang trên đà phát triển, tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 20 lao động với thu nhập trung bình là 4,5 triệu đồng/tháng.
Ngoài ra, một số lao động nhàn rỗi ở địa phương - chủ yếu là chị em phụ nữ, có thêm việc làm, từ phơi ván, bó quy cách, đến bốc xếp; nhiều chị em tích cực làm việc đã có  thu nhập lên tới 5-6 triệu đồng/tháng.
Trò chyện với PV, chị Nam cởi mở tâm sự: Để có được những khu rừng đẹp như thế này, vợ chồng tôi đã trải qua bao nỗi vất vả. Bao sức người, sức của đã đổ vào đây. Ngày trước, vùng đồi này heo hút, rậm rạp, không có đường đi.
Không ai nghĩ chúng tôi có thể tạo được khu rừng trù phú, con đường rộng rãi như hiện nay. Có được cơ ngơi này ngoài sự nỗ lực không ngừng nghỉ của cả gia đình là sự giúp đỡ của anh em, bạn bè, sự quan tâm tạo điều kiện của Đảng ủy, UBND xã Võ Lao và sự động viên chia sẻ của chị em trong tổ, hội phụ nữ xã.
Chị Nguyễn Thị Nhung - Chủ tịch Hội LHPN xã Võ Lao chia sẻ: Mô hình làm kinh tế  của Chị Nam là một “điểm sáng” cần nhân rộng trong phụ nữ toàn huyện. Ngoài phát triển đổi rừng và chế biến gỗ, chị Nam vẫn duy trì canh tác 8 sào ruộng và chăn nuôi gần chục con lợn, tạo nền tảng kinh tế vững chắc để xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng và hạnh phúc.
Không chỉ biết làm giàu, chị Nam luôn chăm lo giáo dục con cái. Cháu gái đã lập gia đình có cuộc sống ổn định, 2 cháu trai đều rất ngoan, chăm chỉ, chịu khó rất trách nhiệm cùng gánh vác mọi công việc với bố mẹ. (Báo Phú Thọ 2/10) đầu trang(
Rừng luôn đóng vai trò quan trọng đối với môi trường và sự sống của nhân loại. Đối với cộng đồng dân tộc thiểu số ở một huyện miền núi nghèo nhưA Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế, rừng còn quan trọng hơn, bời nó gắn nền với sình kế của hơn 80% cư dân của địa phương.
Những năm qua A Lưới luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp thông qua các chương trình, chính sách quản lý bảo vệ rừng và xóa đói giảm nghèo cho người dân đìa phương, tuy nhiên, rừng ở đây vẫn bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng khiến đời sống của người dân ngày càng khó khăn.
Thông qua quá trình khảo sát thực địa trong vòng 2 năm tại 6 xã (Hương Nguyên, Hồng Hạ, Hồng Vân, Hồng Trung, A Ngó và Phú Vinh) thuộc 4 tộc người (Cơ Tu, Tà ôi, Ra Cô, Kình), nhóm nghiên cứu đã chỉ ra những bất cập trong quản lý rừng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân.
A Lưới là một huyện miền núi nghèo của tỉnh Thừa Thiên - Huế, nằm ở phía Tây, cách TP. Huế khoảng 70 km. Là huyện có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất của tỉnh, hơn 83% diện tích đất của A Lưới là đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 5%.
Với hơn 70% diện tích đất lâm nghiệp của huyện A Lưới là rừng tự nhiên và diện tích đất rừng này hiện do 8 chủ thể quản lý, gồm: Ban Quản lý rừng phòng hộ A Lưới, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Bồ, Khu bảo tổn Sao La, Khu bảo tổn Phong Điển, Công ty Lâm nghiệp Nam Hòa, UBND xã, cộng đồng và hộ gia đình.
Trong 8 chủ thể trên, UBND các xã đang quản lý số lượng rừng lớn nhất (chiếm 35,7%). Tuy nhiên, UBND xã chỉ quản lý vế mặt hành chính, chứ không phải là chủ rừng. Tiếp đến, khoảng 30% diện tích rừng tự nhiên ở A Lưới do các Ban quản lý rừng quản lý. Trong khi diện tích rừng tự nhiên giao cho cộng đổng chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, hiện cộng đống chỉ được quản lý 7,24% rừng tự nhiên.
Nhận thức được tẩm quan trọng của cộng đồng trong việc quản lý rừng, từ năm 2003, A Lưới bắt đầu tiến hành giao rừng tự nhiên cho cộng đổng quản lý, dưới ba hình thức: giao cho cộng đồng thôn, cho hộ gia đình và cho nhóm hộ. Các chương trình được triển khai rộng rãi ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, mỗi xã dược tiến hành với những phương thức và thời gian hoàn toàn khác nhau, tùy theo nội dung của các chương trình đưa về địa phương.
Giao rừng cho hộ gia đình: Rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình quản lý lần đẩu tiên được tiến hành thí điểm tại A Lưới theo Quyết định sỗ 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó 15 hộ gia đình thuộc 2 thôn Ta Lo và A Hố của xã Hổng Vân được giao vào năm 2003, với tổng diện tích là 20ỉ,5ha.
Rừng được giao là rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn thuộc Khu bảo tổn Phong Điền. Hiện tại rừng giao cho các hộ gia đình vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất, chỉ có Quyết định giao đất của UBND huyện A Lưới và bản khế ước giao kèo về việc nhận đất rừng được ký giữa 2 bên: Một bên là ƯBND huyện A Lưới - người đại diện là chủ tịch huyện và một bên là chủ hộ - đại diện cho hộ gia đình. Thời hạn của khế ước là 25 năm.
Giao rừng cho cộng đồng thôn quản lý: Tính đến cuối năm 2011, A Lưới đã giao 6.940,20 ha rừng tự nhiên cho 23 cộng đống thôn thuộc 7 xã trên địa bàn quản lý. Một sổ cộng đồng thôn đã có Quyết định giao đất giao rừng do UBND huyện cấp, một số cộng đổng đã được cấp Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất (Thẻ đỏ).
Các cộng đồng thôn khác đang được tiên hành đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Rừng được giao thuộc rừng phòng hộ. Giấy chứng nhận quyển sử dụng đất do UBND huyện A Lưới cấp cho người sử dụng là Cộng đồng thôn với thời hạn sử dụng là 50 năm nhưng không có khế ước.
Giao rùng cho nhóm hộ gia đình quản lý: Theo đánh giá của cán bộ kiểm lâm tại địa bàn thì hình thức giao rừng cho nhóm hộ quản lý được xem là hiệu quả nhất hiện nay. Do nhóm hộ nhỏ hơn cộng đồng nhưng gồm nhiều hộ gia đình, họ có chung sở thích, tập hợp với nhau cùng làm thì sẽ hiệu quả hơn là giao cho từng hộ hoặc giao cho cộng đổng. Chính vì vậy năm 2012, Kiểm lâm huyện đã tiến hành giao rừng cho 75 nhóm hộ/6 xã.
Mặc dù A Lưới đã triển khai giao rừng cho các chủ thể quản lý từ 10 năm nay nhưng diện tích và chất lượng rừng tự nhiên vẫn đang trên đà đi xuống. Kết quả khảo sát cho thấy 45% người được hỏi cho rằng, diện tích rừng tự nhiên đã bị suy giảm; 71,4% cho rằng chất lượng đất rừng đang bị xấu đi.
Từ kết quả khảo sát thực địa tại 6 xã, nhóm nghiên cứu đã phát hiện một sổ bất cập và các nguyên nhân khiến cho việc quản lý tài nguyên rừng ở địa phương đã không đạt được kết quả như mong muốn.
Không rõ ràng về quyền hưởng lợi từ rừng được giao: Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Chính phủ được ban hành nhằm tạo động lực kinh tế khuyến khích người dân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, tàng nguồn thu nhập từ rừng. Người dân được hưởng lợi từ rừng được giao hay không phụ thuộc vào việc xác định trữ lượng rừng từ các cơ quan lâm nghiệp.
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia thì hệ thống phần loại rừng và xác định hiện trạng rừng của nhà nước rất phức tạp, chỉ có những người được đào tạo chuyên môn lâm nghiệp mới hiểu được. Cách phân loại rừng của nhà nước cũng hoàn toàn khác với cộng đồng, do vậy người đàn cũng như chính quyên địa phương hoàn toàn đứng ngoài cuộc, không thể tham gia ý kiến.
Ngoài chuyên môn thì việc xác định trữ lượng rừng củng cẩn phải có các khoản kinh phí để thực hiện. Khi chưa có kinh phí thì chưa thể tổ chức đánh giá trữ lượng rừng và cũng vì thế người dân cũng chưa được hưởng lợi.
Số liệu khảo sát cho thấy, sự hưởng lợi của người dân từ rừng được giao vẫn còn rất hạn chế. Sau 10 năm nhận rừng, đến nay người dân hấu như chưa hố được hưởng lợi (chiếm đến 67,8% người trả lời) bất kể dưới loại hình thức giao nào.
Lý giải tại sao các hộ gia đình chưa được hưởng lợi, một cán bộ kiểm lâm cho biết: "Những hộ dân được giao rừng theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg vẫn chưa được hưởng lợi vì cần phải thuê người đánh giá lại xem trữ lượng rừng sau khi bảo vệ có tốt hơn không, nếu tốt hơn thì người dân mới được hưởng lợi nhưng hiện nay chưa đánh giá được nên người dân chưa được hưởng lợi".
Người dân thì không biết về việc đánh giá trữ lượng của các cơ quan lâm nghiệp, họ chỉ biết chờ đợi. Tuy nhiên, sự chờ đợi của người dân cũng có hạn do bởi người dân sổng chủ yếu dựa vào rừng, nhưng việc bảo vệ rừng không đem lại lợi ích cho họ, thì liệu rừng có được quản lý bến vững hay không?
Về nguyên tắc, rừng tự nhiên được giao với mục tiêu phòng hộ thì người dân không được phép khai thác mà chỉ được hưởng lợi từ các lâm sản phi gỗ, tuy nhiên nêu việc quản lý bảo vệ rừng không gắn liền với cải thiện sinh kế cho người nhận rừng thì việc khai thác bất hợp pháp là điều không thể tránh khỏi, như lời khẳng định của một người dân ở xã Hồng Vân "... nếu trong vài năm tới chúng tôi không được hỗ trợ gì thì chúng tôi sẽ khai thác rừng để bán, bởi vì rừng này là của gia đình chúng tôi".
Đối với loại rừng giao cho cộng đồng quản lý cũng cho kết quả tương tự. Như vậy, cả ba hình thức giao rừng tự nhiên cho dân quản lý chỉ mới dừng lại ở khâu tập huấn cho người dân và chỉ chú trọng đến công tác giao rừng theo chủ trương từ trên đưa xuống, chứ chưa quan tâm đến việc chăm lo đời sống cho người nhận rừng.
Thiếu sự phối hợp với chính quyền địa phương: Theo quy định của pháp luật hiện hành, chính quyền địa phương cấp xã phải chịu trách nhiệm quản lý diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn xã, nhưng chính quyền cấp xã không phải là chủ rừng. Do vậy, diện tích đất rừng mà các xã đang quản lý chỉ là tạm thời, có thể thay đổi, tùy theo kế hoạch của tỉnh và huyện.
Điều này làm cho chính quyến địa phương bị động trong quản lý đất đai, đồng thời nảy sinh mâu thuẫn giữa chính quyền địa phương với các cơ quan quản lý lâm nghiệp trên địa bàn. Theo nhận định của lãnh đạo UBND xã Hồng Hạ "...Trước đây, xã đã nhiều lần làm đơn kiến nghị với huyện, tỉnh để giao rừng cho dân quản lý, nhưng không được giao. Đến nay, khi rừng đã nghèo kiệt thì Nhà nước tiến hành giao cho dân. Dân chúng tôi sống gân rừng, nhưng không được hưởng lợi từ rừng, khiến cho rừng ngày càng cạn kiệt".
Cũng tương tự như ở xã Hồng Hạ, chính quyền địa phương xã Hương Nguyên cũng bị động khi tiếp nhận chính sách.
Thiếu sự tin tưởng vào cộng đồng địa phương: Theo cách phân loại rừng của các cơ quan lâm nghiệp, những khu rừng xung yếu và rất xung yếu thường dược giao cho các cơ quan lâm nghiệp quản lý. Tại A Lưới, những khu rừng gần cụm dân cư và dọc theo Quốc lộ 49 được xác định là rừng xung yêu, nên được cơ quan lâm nghiệp quản lý nghiêm ngặt.
Các nhà quản lý cho rằng, người dân không hề có ý thức về việc bảo vệ rừng, chỉ biết chặt phá rừng để làm nương rẫy, từ đó họ tăng cường công tác giám sát và quản lý nghiêm ngặt những khu rừng được cho là xung yếu này. Người dân bức xúc khi cho rằng, Nhà nước không tin tưởng dân: "Cán bộ kiểm lâm chỉ có 5 người, nhưng quản lý 40.000 ha rừng trên địa bàn 2 xã (Hồng Hạ, Hương Nguyên), làm sao quản lý nổi? Rừng ở đây không phải là rừng của dân mà là rừng của kiểm lâm". Chính vì việc đánh giá thấp ý thức bảo vệ rừng của người dân, thậm chí thành kiến với người dân, đã khiến cho tình trạng xâm lấn rừng ngày càng phổ biến.
Lịch sử đã chứng minh rằng, rừng chỉ được quản lý hiệu quả khi nhận được sự đổng thuận, có sự tham gia của người dân và chính quyền địa phương. Điều này không chỉ thấy rõ ở các cộng đồng ở miến núi Việt Nam, mà ở nhiều nước trên thế giới.
Kết quả khảo sát về sự hiểu biết của người dân đối với các chính sách quản lý rừng của nhà nước trên địa bàn 6 xã cho thấy, hơn 41% người dân không biết và cũng không nhớ là mình có ký hợp đồng khi tham gia bảo vệ rừng hay không; trong số 58,9% người dân trả lời "có ký hợp đổng", có đến 75,6% không biết gì về các quyền của người nhận rừng, 59,3% không biết gì về trách nhiệm của mình khi tham gia. Đặc biệt, có đến 81,4% người trả lời không biết gì về sự hưởng lợi từ chương trình và 84,9% không nắm rõ các quy định liên quan đến hợp đồng.
Sự hạn chế này một mặt là do trình độ, nhận thức của chính người dân, nhưng mặt khác, cũng do cách thức truyền tải thông tin của các cán bộ hướng dẫn chưa phù hợp với trình độ và sự hiểu biết của đồng bào dân tộc thiểu số. Theo phản ánh của người dân thôn A Diên, xã A Ngó: "...nhiều tổ chức như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Kiểm lâm... về tập huấn cho bà con cách trông, chăm sóc cây, bảo vệ rừng..., nhưng tập huấn chỉ là đi cho biết thê thôi, chứ mình không làm được như họ dạy. Họ chỉ nói, nên nghe xong là quên".
Giao rừng tự nhiên cho người dân quản lý và sử dụng lâu dài là một trong những hình thức trao quyền hưởng dụng hợp pháp tài nguyên rừng cho người dân. Trong mô hình quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam, cộng đồng nhận rừng được trao 4 quyền cơ bản đó là quyền tiếp cận, khai thác, quản lý và loại trừ.
Nếu người nhận rừng có được 4 quyền trên thì họ mới có động cơ và trách nhiệm để quản lý và bảo vệ rừng. Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số ở huyện A Lưới, quản lý rừng cộng đồng không hề mới mẻ đối với họ, mà đó là một hình thức quản lý truyền thống.
Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng suy giảm rừng ở A Lưới, nhưng trong đó nổi bật nhất là do sự hiểu biết của người dân về chính sách bị hạn chế; hưởng lợi không rõ ràng, không minh bạch; Thiếu sự phối hợp với chính quyền địa phương và quan trọng nhất là chưa đánh giá đúng vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương trong quản lý rừng.
Từ thực tế đó, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị: Tổ chức các chương trình tập huấn, nâng cao nhận thức thông qua các hình thức truyền thông đơn giản, dễ hiểu, để giúp người dân nắm được các thông tin và có cơ hội được tham gia, hưởng lợi từ chương trình.
Giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý, chú trọng đến quyền lợi của người dân. Nâng cao vai trò của chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư thôn bản trong các hoạt động quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn. (Tin Môi Trường 30/9) đầu trang(
Toà soạn Báo Quảng Ninh có nhận được đơn của gia đình bà Đặng Thị Nhật, hộ khẩu thường trú tổ 5, khu 1, thị trấn Trới (Hoành Bồ) kiến nghị một số nội dung liên quan đến việc tranh chấp đất rừng giữa gia đình bà với gia đình ông Phạm Văn Bàng ở khu Đồng Tâm, xã Lê Lợi (Hoành Bồ).
Sự việc tranh chấp này đã kéo dài từ nhiều năm nay nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Bà Nhật bức xúc cho biết: Mảnh đất gia đình tôi khai hoang từ những năm 1985; trên đó, trồng cây và đặt một ngôi mộ của người chị dâu. Thế mà tháng 12-2013, khi chúng tôi tiến hành xây lại mộ cho chị dâu, khai thác một số cây keo quanh mộ thì ông Phạm Văn Bàng và con gái là Phạm Thị Hằng đã lên nhận đất, nhận cây đó là của họ.
Ra đến chính quyền để giải quyết tranh chấp, ông Bàng đưa ra tới 2 cuốn sổ giao đất, giao rừng. Đáng nói là 2 cuốn sổ này được cấp trên cùng một thửa đất nhưng lại khác về diện tích. Một cuốn sổ mang tên Nguyễn Văn Bàng cấp năm 1992 với diện tích được cấp là 3ha và một cuốn sổ mang tên Phạm Văn Bàng cấp năm 1994 với diện tích được cấp là 2ha.
Chỉ vào đống keo nằm chỏng chơ trên đất, bà Nhật rầu rầu chia sẻ: Sau hoà giải của xã, đống keo khai thác vẫn nằm đây chịu mưa nắng, mối mọt vì gia đình bà Hằng yêu cầu để nguyên tại chỗ, trong khi đó, gia đình tôi đề nghị xã cho bán theo giá hiện tại; tiền thu được sẽ giao UBND xã giữ và trả lại gia đình nào thắng kiện. Nhưng cũng không được chấp thuận.
Cũng theo phản ánh của bà Nhật và một số hộ dân ở tổ 3, thôn Đồng Tâm, xã Lê Lợi, với cuốn sổ cấp năm 1992, phần diện tích đất gia đình ông Bàng được cấp đã nằm bao trùm gần như toàn bộ phần diện tích đất khai hoang của nhiều hộ gia đình xung quanh.
Vì vậy, đã xảy ra không ít các cuộc tranh chấp đất đai giữa các hộ với gia đình ông Bàng kéo dài hơn chục năm nay. Điển hình như: Vụ tranh chấp giữa gia đình ông Bàng với hộ bà Đặng Thị Trình (từ năm 2002), hộ ông Đặng Quốc Thắng (từ năm 2003), hộ bà Đặng Thị Nhật (từ năm 2013).
Hệ lụy từ những cuộc tranh chấp này là mất tình đoàn kết xóm làng; khiến nhiều hộ gia đình đã không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù đất đều được khai hoang từ những năm 1970, 1982, 1983.
Qua phản ánh của gia đình bà Nhật, PV đã đi tìm hiểu thực tế, được biết, từ những năm 1970, ông Đặng Văn Điệp (bố bà Nhật) và gia đình ông Phạm Văn Bàng đã vào khu Đồng Tâm, xã Lê Lợi khai hoang dựng nhà, trồng sắn.
Bà Nguyễn Thị Thu, một trong những hộ dân vào khu Đồng Tâm khai hoang từ năm 1978 khẳng định: Gia đình ông Điệp có khai hoang đất trồng sắn, trồng cây; thậm chí, ông Điệp còn cho gia đình tôi cái ao và cho gia đình anh Thanh (cùng xóm) một phần đất.
Năm 1985, sau khi đi học về, bà Nhật có khai hoang mảnh đất chừng 1.000m2, giáp với mảnh đất của bố mẹ bà để trồng cây. Thời gian đầu, bà Nhật trồng sắn, sau trồng bạch đàn trắng, vải, keo… Hiện, số cây trồng đó vẫn còn trên mảnh đất của bà. Cũng trên mảnh đất này, năm 1985, gia đình bà Nhật có đặt ngôi mộ của người chị dâu.
Bà Nhật cho biết: Phần đất của bố mẹ tôi được ông bà giao lại cho anh trai tôi là ông Đặng Văn Cảnh tiếp nhận trồng trọt, quản lý. Năm 1996, anh tôi bán nhà, đất lại cho em gái tôi là Đặng Thị Trình. Diện tích gia đình tôi nhỏ hơn phần đất của em gái lại ở giáp ranh nên chị em tôi có thống nhất khi làm sổ đỏ thì làm chung. Còn tài sản của ai vẫn là của người đó. Năm 2003, em tôi bán phần nhà và đất của em tôi cho ông Đặng Hồng Quang. Phần đất của gia đình tôi vẫn giữ nguyên và tôi đã trồng cây, chăm sóc đến tận hôm nay.
Tìm hiểu, PV cũng được biết thêm, sau khi xảy ra tranh chấp giữa các hộ dân với hộ ông Bàng, chính quyền đã vào cuộc giải quyết nhưng không dứt điểm. Cụ thể năm 2002, giải quyết tranh chấp giữa hộ bà Trình với ông Bàng, ông Nguyễn Xuân Dục, Chánh thanh tra huyện Hoành Bồ cũng chỉ đưa ra kết luận: Diện tích giao đất, giao rừng cho gia đình ông Bàng chưa hề sử dụng. Hiện tại, ai có cây trồng trên đất vẫn được tiếp tục sử dụng nguyên canh.
Năm 2003, khi giải quyết vụ tranh chấp giữa hộ ông Thắng và hộ ông Bàng, bà Nguyễn Thị Loan, Trưởng phòng địa chính huyện lúc bấy giờ trực tiếp vào xóm hoà giải. Khi biết ông Bàng có 2 cuốn sổ giao đất, giao rừng, bà Loan có thu cuốn sổ cấp cho ông Nguyễn Văn Bàng năm 1992, nhưng không hiểu lý do gì, đến thời điểm này cuốn sổ đó vẫn trong tay ông Bàng để ông ấy lợi dụng đưa ra toà tranh chấp với gia đình tôi - bà Nhật cho biết thêm.
Riêng về vụ việc tranh chấp đất rừng giữa gia đình bà Nhật và ông Bàng, UBND xã Lê Lợi đã tổ chức hoà giải nhưng không thành. Đến ngày 24-2-2014, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện đã có công văn trả lời gia đình bà Nhật với nội dung: “Thẩm quyền tranh chấp đất đai và cây trồng giữa ông Cầm (chồng bà Nhật - PV) và ông Bàng do Toà án Nhân dân huyện giải quyết”.
Theo các hộ dân ở tổ 3, khu Đồng Tâm, xã Lê Lợi, các hộ không biết gia đình ông Bàng được cấp sổ từ bao giờ chỉ đến khi các hộ xin cấp đất rừng thì mới biết phần diện tích họ đang sử dụng đã giao cho gia đình ông Bàng, theo quyển sổ giao đất giao rừng năm 1992. Hơn nữa, hộ ông Bàng chỉ vin vào cuốn sổ này để tranh chấp với các hộ nhưng trên thực tế, cuốn sổ cấp cho ông Phạm Văn Bàng năm 1994 với 2ha đất rừng mới đúng là phần đất mà gia đình ông Bàng đã khai hoang sử dụng.
Trao đổi với PV, ông Trần Xuân Tới, cán bộ tư pháp xã (được uỷ quyền của Chủ tịch UBND xã Lê Lợi) cho biết: Việc giao đất rừng, xác định sổ giao đất giao rừng hợp pháp hay không thuộc thẩm quyền của UBND huyện. Với chức trách nhiệm vụ được giao, khi xảy ra tranh chấp đất, tài sản trên đất, xã đã tổ chức hoà giải nhưng các hộ đều không đồng tình.
Còn ông Vũ Công Mười, Phó Chánh Toà án Nhân dân huyện Hoành Bồ nhấn mạnh: Việc xác định nguồn gốc đất là do UBND huyện. Toà cũng đã thụ lý hồ sơ của gia đình bà Nhật về tranh chấp tài sản trên đất nhưng sau đó bà Nhật rút đơn kiện nên Toà không giải quyết tiếp.
Tuy nhiên, theo ông Mười, để kiện về đất, trước hết, bà Nhật phải xác định rõ chủ thể kiện là ai: Ông Nguyễn Văn Bàng hay Phạm Văn Bàng?
Trả lời cho câu hỏi, vụ việc bao giờ được giải quyết dứt điểm, ông Nguyễn Đức Minh, Phó Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện cho biết: Năm 1992, 1994, việc cấp sổ giao đất, giao rừng là do Hạt Kiểm lâm huyện thực hiện, do đó Phòng cũng không biết lý do vì sao có 2 cuốn sổ trên cùng một thửa đất.
Tuy nhiên, Phòng đã tham mưu cho huyện giao Thanh tra xem xét lại cuốn sổ mang tên Nguyễn Văn Bàng có hợp pháp hay không. Và tại thời điểm cấp, trên địa bàn xã có ông Nguyễn Văn Bàng hay không. Nếu quyển sổ không hợp pháp sẽ bị thu hồi.
Việc đo đạc giao đất ngày trước, diện tích thường không chính xác nên cũng có thể xảy ra tình trạng sai số. Tuy nhiên, đúng, sai thế nào, chúng tôi tiếp tục kiểm tra, làm rõ. (Báo Quảng Ninh 2/10) đầu trang(
Sai đối tượng, trái thẩm quyền, cấp quá hạn mức, mua bán, chuyển nhượng trái phép... Sự tùy tiện trong quản lý đất rừng nhiều năm qua đang tạo nên những mâu thuẫn tồn tại dai dẳng tại nhiều địa phương.
Lộ trình thực hiện giao đất, giao rừng theo Đề án 3592 của UBND tỉnh cũng vì vậy đang gặp nhiều khó khăn. Thách thức đặt ra từ thực tế đã gây nên sự lúng túng cho các địa phương, đơn vị.
Theo kế hoạch, trong 2 năm 2014-2015, Hà Tĩnh sẽ phải giao 68.000 ha đất rừng cho các hộ dân sống gần rừng. Đây là khối lượng công việc lớn, liên quan đến quyền và lợi ích của hàng ngàn hộ dân, nhiều chủ rừng nhà nước và một số doanh nghiệp.
Quá trình thực hiện đề án nảy sinh hàng loạt vướng mắc, khi nhiều diện tích đất rừng trước đây được giao sai đối tượng, quá hạn mức; nhiều diện tích thuộc diện tranh chấp kéo dài, thậm chí được chuyển nhượng, mua bán trái phép với hồ sơ tài liệu không rõ ràng...
Tại huyện Hương Khê, có những đơn vị như Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ Ngàn Sâu giao tới 152,79 ha cho 7 trường hợp; BQL Rừng phòng hộ Sông Tiêm giao 568 ha cho 18 trường hợp.
Cá biệt, ông Phạm Mạnh Tường - Giám đốc Công ty TNHH Vạn Thành (thị trấn Hương Khê) được giao 105,6 ha; ông Phạm Lê Huân - Giám đốc Công ty TNHH Thành Tâm (thị trấn Hương Khê) 133,2 ha - lớn hơn mức bình quân 4-5 lần. Có thời kỳ, đây được xem là những mô hình lớn về phát triển kinh tế vườn rừng thì nay lại là "điểm nghẽn" trong thực hiện lộ trình giao đất, giao rừng.
Ông Nguyễn Huy Lợi - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, cơ quan thường trực thực hiện đề án giao đất, giao rừng của UBND tỉnh khẳng định, đây là những sai sót thuộc về lịch sử, việc thu hồi được xem là điều kiện bắt buộc để thực hiện lộ trình giao đất, giao rừng cho các hộ dân sống gần rừng. Thế nhưng, việc thu hồi không đơn giản, khi các hộ nhận khoán trước đây đã đầu tư lớn về công sức lẫn tiền bạc cho mục tiêu kinh doanh dài hạn.
Một ví dụ: cánh rừng rộng hơn 100 ha của ông Phạm Lê Huân được BQL Rừng phòng hộ Sông Tiêm giao theo Nghị định 135 cách đây 7 năm, nay đã được phủ kín keo lá tràm. Một phần diện tích có cây rừng tự nhiên được khoanh nuôi, bảo vệ. Hiện nay, nếu thực hiện theo Đề án 3592 của UBND tỉnh thì phần lớn diện tích đất rừng của ông Huân sẽ bị thu hồi để giao lại cho các hộ dân xã Phú Gia.
Ông Huân cho rằng, với chủ trương thu hồi của Nhà nước, ông không thể không chấp hành. Thế nhưng, việc thu hồi chỉ có thể được thực hiện khi tài sản đầu tư trên đất phải được tính toán đền bù đầy đủ, đúng quy định pháp luật.
"Trong quá trình nhận khoán, Công ty TNHH Thành Tâm đã đầu tư tiền tỷ xây dựng kế hoạch sản xuất cho hàng chục năm. Ngoài thống kê cụ thể về tiền bạc, còn có hàng loạt chi phí cơ hội và chi phí vô hình rất khó đong đếm" - ông Huân cho biết thêm.
Tính toán phương án đền bù đã khó, việc thực hiện đền bù lại còn khó hơn khi đối tượng được giao là người dân sống gần rừng. Đây chủ yếu là những lao động có điều kiện kinh tế bình thường, thậm chí, hoàn cảnh hết sức khó khăn.
Số tiền đền bù có thể lên đến hàng trăm triệu đồng là thách thức quá lớn. Người dân chưa kịp bám đất, bám rừng thì lại kiệt quệ vì rừng. Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nguyễn Huy Lợi thì đất rừng cấp sai trước đây sẽ được thu hồi và giao lại cho các hộ dân.
Nếu không thỏa thuận được mức giá đền bù tài sản trên đất cho chủ rừng cũ, hoặc không đủ năng lực chi trả thì phần đất thu hồi vẫn thuộc về chủ rừng cũ nhưng với điều kiện chủ rừng cũ sẽ phải thuê lại đất rừng. Như vậy, thay vì nhận giao khoán từ các BQL rừng phòng hộ như trước đây thì nay, các chủ rừng sẽ phải thuê lại đất từ người dân, cho dù đối tượng canh tác vẫn không thay đổi.
Tuy nhiên, đề xuất này gây không ít băn khoăn cho chính quyền địa phương và cả những người trong cuộc. Ông Phạm Lê Huân khẳng định: Không lý do gì cá nhân ông phải thuê lại đất rừng vốn đã được giao cho mình. Nếu việc giao khoán trước đây sai thì người giao phải chịu trách nhiệm chứ không thể đổ cái sai của các BQL rừng phòng hộ lên đầu doanh nghiệp.
Cùng chung quan điểm, ông Ngô Xuân Ninh - Phó Chủ tịch UBND huyện Hương Khê cho rằng: Cần làm rõ trách nhiệm của các BQL rừng phòng hộ trước đây, thậm chí, nếu có dấu hiệu cố ý làm trái, tư lợi cá nhân trong việc giao khoán thì phải chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra. Cũng theo ông Ninh, không thể bắt những người dân sống gần rừng phải làm thuê cho những người sống xa rừng vì không có đất, trong khi trên danh nghĩa, họ là những ông chủ.
Đến thời điểm hiện tại, 86% diện tích rừng và đất lâm nghiệp ở Hương Khê đang thuộc về 8 chủ rừng. Phần ít ỏi còn lại hoặc là do chính quyền địa phương tạm thời quản lý, hoặc là giao cho các hộ dân. Trong số đó, rất nhiều người vẫn chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều đó cho thấy, đang có sự bất công cho những người dân sống gần rừng và nhu cầu có đất để sản xuất là một nhu cầu chính đáng của họ.
Trong bối cảnh đất rừng ngày càng tăng giá thì những mâu thuẫn nảy sinh từ đất rừng cũng đang gia tăng. Ở Hương Khê, những tiểu khu: 226, 227 (Lộc Yên); 241B (Hương Xuân); 192 (Hòa Hải)... nhiều năm qua tranh chấp đã tồn tại dai dẳng. Những vụ xô xát, đâm chém vì tranh chấp đất rừng đã xảy ra; nhiều vụ cháy rừng, cơ quan điều tra không loại trừ nguyên nhân phá hoại. Thậm chí, có những vụ cháy, lực lượng tại chỗ là nhân dân địa phương hoàn toàn đứng ngoài cuộc.
Qua đó cho thấy, việc quản lý đất rừng phải được rà soát, tính toán căn cơ, bài bản. Thực hiện đề án giao đất, giao rừng chính là cơ hội để tổng rà soát lại đất rừng, sửa sai cho những quyết định giao khoán tùy tiện của các địa phương, đơn vị trước đây.
Quá trình rà soát, thu hồi sẽ phải tính đến những phương án cụ thể cho từng trường hợp, trên cơ sở hài hòa lợi ích giữa cộng đồng với doanh nghiệp, nếu không sẽ phát sinh mâu thuẫn mới trong khi mâu thuẫn cũ vẫn chưa được giải quyết. (Báo Hà Tĩnh 2/10) đầu trang(
Để nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ rừng và phát triển vốn rừng cũng như làm giàu từ nghề trồng rừng, ngày 26/9, Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp với UBND xã Nà Tấu, huyện Điện Biên tổ chức hội thảo mô hình trồng cây gỗ lớn thâm canh giổi xanh.
Mô hình được triển khai trên diện tích 26ha, thuộc 3 bản của xã Nà Tấu, gồm: Nà Tấu 6, Lán Yên, Co Đứa, với tổng số 26 hộ tham gia; trong đó, 4 hộ trồng trên 2ha vườn đồi. Các hộ tham gia mô hình được Nhà nước hỗ trợ giống và 50% lượng phân bón cho một năm đầu triển khai.
Ngoài ra, các hộ được cán bộ kỹ thuât của Trung tâm Khuyến nông tỉnh tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, cách chăm sóc và bảo vệ cây sau trồng, như: cách làm cỏ kết hợp với xới gốc, cách bón phân và điều chỉnh dinh dưỡng hợp lý cho từng thời kỳ sinh trưởng của cây.
Sau 3 tháng triển khai mô hình cho thấy: cây giổi xanh sinh trưởng và phát triển tốt, không có biểu hiện về sâu bệnh; tỷ lệ cây sống đạt trên 95%, chiều cao cây đạt từ 30cm – 45cm.
Thành công bước đầu của mô hình đã và đang mở ra một hướng canh tác mới cho nông dân, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ rừng, giữ gìn và phát triển vốn rừng mở hướng cho người dân làm giàu từ nghề trồng rừng.
Phát triển rừng còn góp phần gìn giữ nguồn nước, chống xói mòn và rửa trôi đất, đảm bảo sự bền vững cho việc canh tác các cây màu trên đất dốc. (Báo Điện Biên Phủ 1/10) đầu trang(
Có thằng bạn đi xuất khẩu lao động đã mười mấy năm trời, nay trở về quê. Tận sâu thẳm trong lòng gã là một nỗi sợ mơ hồ nhưng chắc chắn: cảnh núi đồi trơ trụi ở quê hương với những quả núi, hòn đồi bị cạo đến trắng hếu.
Ấy vậy mà khi đặt chân xuống quê nhà, gã ngợp cả người khi nhìn lên đỉnh Động Thờ. Từ đỉnh núi mượt xuống chân đồi, cả một vùng tràn ngập màu xanh. Sự kinh ngạc được hóa giải khi gã nghe kể về cựu trung tá Ngô Trực Nhuần “người dã lạ hóa” vùng tây đỉnh Động Thờ, được nhân dân xã Viên Thành - Yên Thành - Nghệ An khen ngợi như một chiến công.
Trung tá Ngô Trực Nhuần là anh ruột Phó giáo sư sinh học Ngô Trực Nhã; Giám đốc Trung tâm môi trường sinh học, Đại học Vinh. Ông sinh ra trong một gia đình bề thế thời phong kiến; dòng dõi với nhà nho Ngô Xuân Hàm - nguyên Chủ tịch huyện Yên Thành - Nghệ An những ngày đầu sau tổng khởi nghĩa.
Ông, năm 1955, là một trong số những thanh niên hiếm hoi của vùng đất Yên Thành này bước chân vào trường đại học nhân dân Việt Nam mà lúc đó đích thân cụ Phạm Văn Đồng được mời làm hiệu trưởng danh dự; để rồi năm 1956 về công tác tại Bộ Văn hóa; Tháng 3/1960 được kết nạp Đảng, đến 1960 ông lại vào đại học Bách khoa - khoa điện; rồi 1965 vào quân đội, lại học sĩ quan thông tin, về Bộ tổng Tham mưu; tháng 12/1969 xung phong đi chiến trường Bình-Trị-Thiên khói lửa: Một ông kĩ sư như vậy, thời ấy vào trong bom đạn là của hiếm, ông cống hiến hết mình, kết quả được thưởng Huân chương Chiến công.
Thế là ổn rồi; chú Nhuần về hưu; lương cao (có cháu, à con) để bế bồng; họ hàng ta thế là vui rồi! Chú Nhuần giỏi điện tử lắm; lần này nghe đâu chú ấy hùn vốn mua đồ điện tử tận trong Cửa Lò về tân trang lại rồi bán, một vốn bốn năm lời nhé; chú ấy lại có cả máy làm kem nữa; rồi thì giàu phải biết… Các cụ trong họ hàng thường đem ông ra làn gương cho bọn trẻ, tưởng ông sẽ an nhiên hưởng cái danh thơm; ai ngờ, ông lại làm một chuyện động trời, nghe ra ai cũng sửng sốt…
Không: ông Nhuần không bỏ vốn vào buôn bán nghề điện tử; mà ông vay vốn để trồng rừng. Trời ơi… gần sáu mươi tuổi; lẽ ra “Lão gia an chi rồi” sao hay bày vẽ thế. Mặc cho các ông bạn già, bàn bạc cãi nhau, ông Nhuần cứ làm; vợ con ông thì méo cả mặt. Ủng hộ ông lúc này may ra chỉ có người em trai - nhà sinh học Ngô Trực Nhã.
Tháng 7/1993, cựu trung tá Ngô Trực Nhuần, dẫn bầu đoàn thê tử cùng anh em họ hàng nhằm phía Tây Nam “Long can đại liễu sơn” thẳng tiến…” Trước đó một năm ông đã tập trung nhân lực học ươm cây; làm bầu; và chạy ngược chạy xuôi vay vốn từ anh em, bầu bạn, cho đến cầm cố ngân hàng… và ông nhận 100 ha đất đồi trọc để trồng rừng.
Về lý thuyết khi cây lên, cây cổ thụ hoặc rừng dày, rậm sẽ kéo hơi nước về hội tụ, cộng với gió ẩm từ phía biển vào; lượng mưa vùng này sẽ tăng lên; giải quyết khô hạn. Rừng sẽ giữ nước lại chống xói mòn, hàng trăm ha đất ven đồi sẽ chấm dứt nạn cát sỏi hóa; các hồ đập quanh vùng sẽ tái tạo nguồn nước phục vụ sản xuất; trung lưu sông Bùng sẽ giảm hẳn tình trạng lưu vực sông bị bồi lấp hoặc đầm lầy hóa, rừng trở lại chim chóc sẽ ùa về, sinh khí trong vùng tăng lên, lượng ôxi nhả ra càng lớn, sức khỏe con người càng tăng lên… tóm lại là vô số cái lợi trước mắt và lâu dài…
Nhưng đó là lý tưởng, khi đứng trên sườn núi lạnh tanh, khô khốc ông vẫn cảm thấy ớn lạnh… sáu mươi tuổi rồi còn gì; đêm sâu, sương ẩm, đom đóm bay rợp bụi cây; rắn bò qua kẻ đá; ông sốt, cơn sốt từ Trường Sơn ập về… khát, sườn núi khô khát, cả sườn núi đỏ như than sắp tàn…
Nhưng ông vẫn trở lại sườn núi. Và sự thật lại vô cùng nghiệt ngã; những trận phản công của số phận quật ông tới số: Đào ao thả cá: bị mất trộm, trồng dưa hấu, tốt, quả mới to bằng cái bát: trẻ chăn trâu đã thu hoạch hết. Trồng mây phục vụ nghề đan, đất cằn, mây chết.
Mua nhãn Hưng Yên về trồng, bị hỏng. Trồng sắn cao sản, củ to nhưng quá rẻ... Chỉ còn nước khóc. Sau ông chợt nghĩ lại; mình vào đây, mục đích chính là trồng rừng vì môi trường sinh thái, chứ không phải là đa canh. Cây ông trồng chủ yếu là cây thông; bạch đàn. Thông thì được, bén đất, tốt vùn vụt, như từng đàn trẻ em xòe hàng ngàn cái ô xanh lên trời, nhưng bạch đàn thì sao mà chậm lớn.
Giữa lúc ấy có ý kiến rất mạnh mẽ của Phó Thủ tướng Đồng Sĩ Nguyên, kêu gọi các cựu chiến binh trồng rừng và các chủ rừng hãy lưu ý, bạch đàn phá đất, nếu xen trồng theo kiểu bạch đàn 50%; thì thắng lợi, mười mấy năm sau, keo lá tràm đã to bằng thân người mà bạch đàn có chỗ vẫn bằng cổ tay... ông thán phục: cụ Đồng Sĩ Nguyên tài thật, đánh giặc nổi tiếng mà chỉ đạo trồng rừng cũng khiếp; vị tư lệnh đường 559 khi xưa này ghê gớm thật.
Hồi ấy đang lao đao vì vốn liếng trồng rừng, bỗng có dự án PAM “4324”, cứ 1 ha rừng được trồng sẽ có 1 tạ gạo (khi khai thác gỗ thì trả lại vốn cho trên); thế là ông thở phào nhẹ nhõm. Nhưng có một điều khiến ông xót dạ là ngoài thói đố kỵ, phá trộm của người đời, người nông dân đi trồng rừng thuê vẫn có tệ làm dối. Cầm cây lên núi, chỗ nào dễ thì trồng nhiều, chỗ đất đá thì bỏ, hoặc ném bớt cây đi; kê thêm công, báo cáo dối, lấy thêm tiền công.
Ông cho mua cả trăm mét dây thừng; cứ ba điểm thẳng hàng thì thành một đường thẳng; kéo dây ra và dùng vôi đánh dấu, cứ cách nhau 3 mét đào 1 ô; cứng cũng đào, gặp đá đào đá, tóe máu cũng phải đào đúng tỷ lệ vậy. Chỉ sau ít ngày cả óc núi chi chít những hố trồng cây đều tăm tắp, bọn khai gian làm dối chỉ có việc bó tay ngồi khóc. Khi đi báo cáo điển hình ở huyện, ông đưa ra sáng kiến chống tiêu cực này; cả hội nghị vỗ tay rầm rầm, từ cổ chí kim chưa ai có cách làm lạ đến vậy.
Hai mươi năm đã trôi qua; Ngô trưởng lão đã già, nhưng người vẫn đứng vững trên dốc núi. Động Thờ trơ trụi, nay đã hồi sinh; một màu xanh ngợp mắt kéo dài từ chân núi lên tận đỉnh, từ Viên Thành quê ông đã tiếp sang Sơn Thành, Nghi Văn (Nghi Lộc) xuống Diễn Lợi, Diễn Thắng, kéo tận vùng Diễn Phú, Diễn An; cả dãy núi đồ sộ ấy đã rợp bóng keo, thông, bạch đàn, tràm, chim cò từng đàn đã tìm về; sim mua nở như thuở hồng hoang đại ngàn đã thức giấc, những cánh đồng quanh núi đã hồi sinh, nạn sa mạc hóa, cát hóa, sỏi hóa bị đẩy lùi, mưa thuận, gió hòa rồi; nếu đứng từ đường 7, hoặc đường 34 nhìn lên người ta sẽ kinh ngạc vì màu xanh của núi rừng, của ruộng lúa; một đập nước lớn ở tây nam núi sẽ được chính phủ đầu tư, môi trường sinh thái đã hồi sinh đến kỳ lạ.
Có người đề nghị ông Nhuần nên khai thác các vùng nước khoáng mới được phát hiện, xây dựng thủy điện nhỏ trên khe suối, làm nhà nghỉ sinh thái hai tầng; tôn tạo lại đền thờ trên đỉnh núi. Người ta bảo rằng: giàu to rồi ông cựu chiến binh ạ; giàu đến cả đời con cháu chứ không phải chơi đâu.
Hiện nay, với gần 100 ha rừng thông, keo, tràm, bạch đàn đã đang thu hoạch; hàng năm ông Nhuần kiếm cả trăm triệu đồng tiền lãi không khó. Nhưng quan trọng, noi gương ông, hàng chục hộ dân huyện Yên Thành, Diễn Châu, Nghi Lộc đã lên núi trồng rừng; kẻ ít thì 5 -7 ha, người nhiều thì cả trăm ha, rồi con cháu, anh em gia tộc ông cùng lên rừng; tạo công ăn việc làm cho hàng chục người.
Và cái được lớn nhất là ông đã trả được món nợ với rừng Trường Sơn; làm xanh lại đỉnh núi, tái tạo lại sinh thái cho cả quê nhà; em ruột ông một đời nghiên cứu môi trường; còn ông với bàn tay cầm súng, giờ lại cầm cuốc tôn tạo những mầm xanh...
Ở tuổi 80, ông vẫn còn lo cho người trồng rừng: Trong khi Trung ương yêu cầu cấp trên hỗ trợ kinh phí cho người trồng rừng yên tâm, thì địa phương lại yêu cầu người trồng rừng đóng góp, nộp thuế; Ông cùng đề nghị các địa phương hỗ trợ các chủ trồng rừng tăng cường bảo vệ chống moi cát, chặt trộm, chống cháy rừng... để chủ rừng yên tâm; gắn bó với rừng... (Tin Tức 2/10) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Việc chặt phá rừng đang diễn biến nhanh ngoài tầm kiểm soát, ngay cả tại nước phát triển đã áp dụng công nghệ bảo vệ và giám sát rừng hiện đại như Canada.
Các chuyên gia của Hòa bình xanh cho biết, thế giới đang phải đối mặt với nạn phá rừng nghiêm trọng, đặc biệt tại Canada, Brazil và Nga. Tốc độ hủy hoại rừng ở Canada đang diễn biến nhanh nhất thế giới: 21% diện tích các khu rừng trù phú ở nước này đã biến mất so với năm 2000.
Theo Tổ chức Giám sát rừng toàn cầu, một tổ chức phi chính phủ của Canada, nguyên nhân làm rừng biến mất ở quốc gia Bắc Mỹ này là do quá trình khai thác dầu ồ ạt, nhu cầu mở rộng các tuyến giao thông hay cháy rừng liên tiếp xảy ra. Tình trạng Trái đất ấm dần cũng khiến các cánh rừng khô hạn hơn và dễ bắt cháy. Năm 2013, phần lớn diện tích rừng ở miền bắc Canada đã bị thiêu rụi và chưa được trồng lại.
Bên cạnh đó, các dự án khai thác dầu và làm đường có thể mở rộng gấp hai, thậm chí ba lần trong mười năm tới được dự báo sẽ "khai tử" nhiều cánh rừng. Được ví như "lá phổi xanh" của Trái đất, rừng đóng vai trò sống còn đối với quá trình điều hòa khí hậu. Việc chặt phá rừng khiến lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính (CO2) trong khí quyển tăng lên nhiều hơn tất cả lượng C02 từ các phương tiện đường bộ, đường thủy và hàng không trên thế giới cộng lại.
Kết quả nghiên cứu trên nằm trong Dự án "Quang cảnh rừng" do Hòa bình xanh cùng Trường đại học Maryland (Mỹ), Viện Tài nguyên thế giới và Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp thực hiện. Từ quá trình dùng công nghệ hình ảnh để tổng hợp các cánh rừng bị tàn phá nằm rải rác trên Trái đất, các nhà khoa học thu thập được số liệu chính xác hơn số thống kê thực địa.
Hình ảnh chụp được từ vệ tinh cho thấy tình trạng phá rừng đang diễn ra một cách rõ ràng. Khi so sánh hình ảnh Trái đất chụp năm 2000 và năm 2013, một khu vực rừng rộng lớn đã biến mất.
Từ năm 2000 tới nay, hơn 104 triệu ha rừng trên thế giới bị đốn hạ, gấp ba lần diện tích nước Đức. Số liệu từ vệ tinh cho thấy một phần tư diện tích cánh rừng lớn nhất còn lại của châu Âu nằm ở Nga đã bị chặt phá để phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ.
Còn tại những khu rừng rộng lớn ở Congo, 17% diện tích đã biên mất do tình trạng khai thác gỗ, khai khoáng và làm đường. Tại Paraguay, chỉ trong 13 năm đã có 78% diện tích rừng hoang dã bị chuyển đổi hoàn toàn thành đất nông nghiệp hoặc hoang hóa.
Trên thế giới, hàng trăm triệu ha rừng đã bị tàn phá để dành chỗ trồng các loại cây nguyên liệu. Chuyên gia Christoph Thies của Hòa bình xanh cho rằng, việc chuyển đổi rừng thành đất sử dụng cho các mục đích khác như trồng cây công nghiệp hoặc tạo quỹ đất để đô thị hóa có thể đem lại lợi ích về kinh tế trước mắt, nhưng không thể bù đắp những thiệt hại do hệ sinh thái bị phá hoại gây ra.
Phải mất hàng trăm năm mới khôi phục được một khu rừng, nhưng cứ mỗi bốn giây "hành tinh xanh" lại mất đi một diện tích rừng tương đương một sân bóng đá. Chuyên gia Christoph Thies cảnh báo, tốc độ trồng rừng không thể đuổi kịp tốc độ phá rừng khiến các nỗ lực khôi phục hệ sinh thái rừng, bảo vệ "lá phổi xanh" trên thế giới ngày càng khó khăn hơn. (Thời Nay 2/10, tr22) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng