Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 29 tháng 09 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Cho đến thời điểm hiện tại, khi vụ án hình sự "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng", xảy ra tại Tiểu khu 465, Quế Lâm, Nông Sơn, Quảng Nam đã được khởi tố, nhưng vẫn chưa xác định được các đối tượng phạm tội.
Tất cả vẫn còn nằm trong diện nghi vấn, các cơ quan chức năng đang tiếp tục thu thập chứng cứ, xác minh làm rõ. Việc xác định các đối tượng không khó, nhưng đằng sau vụ án là những điều băn khoăn, liệu có giữ được những cánh rừng nguyên sinh?
Hai đêm ngủ lại khu rừng Nà Lau, Khe Mây, nơi xảy ra vụ án khai thác, vận chuyển lâm sản (gỗ lậu) trái phép, PV nghe được nhiều câu chuyện liên quan đến vụ án, từ chính những người dân đang ngày đêm bám cánh rừng này để sinh sống.
Họ đóng hàng chục những lán trại tạm bợ nằm rải rác theo triền con suối để hằng ngày bứt mây, kéo gỗ thuê kiếm tiền. Những người dân chân chất, thật thà cũng chẳng ngại ngần nói thẳng: "Mô có đâu xa, các đầu nậu khai thác gỗ toàn người địa phương cả,  có người ở Quế Sơn lên, còn lại người Nông Sơn và cả ngay chính trong xã Quế Lâm. Tụi tôi đi làm thuê cho họ, tụi tôi biết!".
Ông Phạm Cự, người thôn Cấm La, Quế Lâm, năm nay đã hơn 60 tuổi tâm sự: "Từ năm 1978, tôi đã bám rừng Nà Lau này để kiếm sống. Mình không ruộng vườn, lên đây ai thuê chi làm nấy, mà cũng chỉ có công việc là kéo gỗ thuê và bứt mây thôi chứ còn có việc chi khác...".
Những người đang "bám rừng" ở Nà Lau cũng cho biết rõ tên của từng "đầu nậu" khai thác gỗ và dẫn PV đến bãi gỗ đã thu gom tập kết, chỉ cho thấy từng ký hiệu mà các đầu nậu đã đánh dấu. Có đầu nậu đánh dấu gỗ của mình là "Ty", "2 lâm", rồi "D", "ĐH".
Gỗ lậu được khai thác và vận chuyển theo quy trình: đầu nậu bỏ tiền ra thuê thợ lên rừng tìm gỗ, xẻ thành phách, cho tập kết thành bãi riêng của mình, sau đó thuê người dân địa phương ở Quế Lâm, chủ yếu ở thôn Cấm La lên kéo gỗ từ rừng về. Khi gỗ đã xẻ xong, được đánh dấu như đã nêu trên, đầu nậu chỉ ung dung ngồi dưới chân núi uống rượu, gọi điện thuê người lên kéo với mức 200-400 nghìn đồng/phách, tùy khối lượng.
Nhận điện, người làm thuê lên địa điểm tập kết, tìm gỗ đã đánh dấu ký hiệu của đầu nậu kéo về nhận tiền công... Cứ thế năm này qua tháng khác, cây rừng cứ chặt phá, gỗ cứ cưa xẻ, đầu nậu cứ ung dung ngồi chờ người làm thuê mang gỗ về cho mình...
Qua tìm hiểu, PV nắm được, một khối gỗ gõ mật, loại quý hiếm đặc biệt, tại rừng nơi mới chặt hạ, cưa xẻ chỉ có giá chưa đầy 2 triệu đồng/m3, dổi hương (nhóm 3) chỉ trên dưới 1 triệu đồng, còn chò nâu, xoan đào... chỉ có giá 600-700 nghìn đồng/m3...
Thế nhưng, sau khoảng 3 tiếng đồng hồ được kéo xuống chân núi, giá gỗ đã nâng lên gấp 3-4 lần... Gỗ được chở hoặc kéo theo đường suối về Quế Lâm, một phần sẽ bí mật được chuyển về các cơ sở đóng đồ mộc ở ngay khu vực Nông Sơn, còn phần lớn được kết bè (5-10m3/bè) xuôi sông Thu Bồn chuyển về đồng bằng.
Nếu vượt qua mọi sự kiểm soát của ngành chức năng, về đến bến Câu Lâu, Điện Bàn, giá gỗ sẽ tăng gấp hàng chục lần: 30-50 triệu đồng/m3 gõ mật; dổi hương 17-22 triệu đồng; chò nâu, xoan đào 8-14 triệu đồng. Tính thế để thấy lợi nhuận "khủng" mà các tay trùm, đầu nậu thu được.
Một câu hỏi đặt ra, nếu không có người làm thuê, liệu đầu nậu có "khuân" được gỗ từ rừng sâu núi thẳm về ồ ạt như vậy không? Câu trả lời là không! Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Sơn - Trưởng CAX Quế Lâm trăn trở: Có thể khẳng định, những người kéo gỗ thuê cho các đầu nậu trong vụ án này chiếm đến 80% là người dân thôn Cấm La, Quế Lâm.
Thôn Cấm La có hơn 30 hộ dân, nguyên gốc họ từ các địa phương dưới đồng bằng được vận động lên xây dựng kinh tế mới từ cuối những năm 1970 của thế kỷ trước, thành lập nên thôn Nà Lau. Nhưng điều kiện quá khó khăn, giao thông cách trở, để ổn định cuộc sống, cuối những năm 80, người dân đã được chuyển về định cư tại khu vực thôn Cấm La hiện nay.
Gọi là định cư, nhưng mấy chục năm qua, không gia đình nào có đất vườn, ruộng để sản xuất, canh tác, tất cả chỉ biết bám vào việc khai thác lâm sản để kiếm sống. Ngay cả giao thông, điện sinh hoạt, Cấm La cũng mới chỉ có cách đây hơn 5 năm.
Không còn cách nào khác, người dân lại quay về nơi cũ này để kiếm sống, người lập trại chăn nuôi, người đi bứt mây... thu nhập khá nhất vẫn là đi kéo gỗ thuê. Năm 2013, UBND tỉnh đã có chủ trương chuyển đổi 300ha đất rừng từ rừng đặc dụng sang rừng sản xuất ở Quế Lâm để người dân có đất sản xuất. Tuy nhiên, đến thời điểm này, chưa hộ dân nào ở Cấm La được nhận quyết định cấp đất, giao rừng, cuộc sống vẫn vô cùng bế tắc.
Trở lại với vụ án phá rừng, khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản xảy ra tại Quế Lâm, đây là vụ án được đánh giá là rất nghiêm trọng trong thời gian gần đây. Trong các ngày 19 và 20-9, Cục Kiểm lâm khu vực 2 đã cử đoàn công tác vào hiện trường để xem xét, kiểm tra thực tế.
Hiện vụ án đã được cơ quan chức năng tiến hành điều tra làm rõ, dư luận ở Nông Sơn mong rằng, vụ án sẽ sớm được kết thúc, các đối tượng phạm tội sẽ phải được đưa ra xét xử trước pháp luật. Đây cũng là bài học cần rút kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của chính quyền và ngành chức năng tỉnh Quảng Nam. (Công An TP Đà Nẵng 26/9) đầu trang(
Rừng Khánh Vĩnh đang mùa mưa. Từng cơn mưa tí tách càng khiến cho những con đường mòn trong rừng trở nên trơn trượt. Mặc trời mưa, đường trơn, nhiều người dân ở xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh vẫn cặm cụi vượt núi Đá Tây, lội suối Sê Oóc để vào rừng nhặt trái ươi.
Bám theo một nhóm người bản địa, PV đến khu vực Km44 (trên đường đèo Khánh Lê - Lâm Đồng) nơi có nhiều ươi đang vào vụ nhất. Ở ngay cửa rừng, nhìn lên những vách núi mờ sương, cây ươi vẫn nổi bật nhờ thứ hoa nở bung màu đỏ thẫm.
Mấy năm gần đây, vào cuối mùa khô và đầu mùa mưa, thương lái nước ngoài thường đổ về Khánh Hòa tìm mua trái ươi với giá khá cao. Theo lời đồn thổi, trái ươi chữa được "bách bệnh" thế nên bỗng dưng nó trở thành "trái quý" được nhiều người săn lùng.
Hà R (thôn Bố Lang, xã Sơn Thái), người được xem là có kinh nghiệm hái ươi nhất trong nhóm cười khà khà, trầm trồ: "Ươi thế này thì tha hồ mà hái. Mỗi cây phải kiếm tiền triệu chứ chẳng chơi. Cách đây gần một tuần, bọn mình lên đây khai thác ươi ba ngày, mỗi ngày kiếm được mấy triệu đấy. Vào rừng nhìn thấy ươi mà ham. Có cây người ta hái bán được 20 triệu đồng. Giá cao thế bỏ rẫy lúa cũng được, hái ươi có tiền hơn...".
Mùa ươi trước, giá mỗi ký ươi tươi chỉ mấy ngàn đồng, năm nay bỗng dưng giá lên vùn vụt. Người khắp nơi đổ xô lên rừng săn tìm loại cây "triệu phú". Ngoài dân bản địa, người dân Ninh Hòa, Diên Khánh... thậm chí cả ở Lâm Đồng cũng tìm về những cánh rừng có cây ươi để mưu sinh. Mỗi người một ngày vào rừng cũng có thể hái được cả chục ký ươi. Chưa có lúc nào kiếm tiền của rừng lại dễ dàng đến thế. Từ chỗ là loại cây không được mấy người quan tâm, nay bỗng nhiên được giá, dân hay ví trái ươi là "vàng xanh của rừng".
Theo nhóm người hái ươi vượt qua hai con dốc cao, PV gặp cảnh nhiều tốp người vào rừng khai thác ươi. Nhìn thấy một nhóm người đang hái ươi ở gần lối đi, PV định ghé lại nhặt vài trái xem chơi.
Thấy vậy, Bo Bo Đ (người đi trong nhóm) ngăn lại: "Không được đâu. Khu vực đó người ta xí phần rồi, chỉ họ được hái thôi. Trước kia, ai muốn hái sao cũng được nhưng từ bữa giá cao, người ta giành nhau từng gốc. Tất cả đều được đánh dấu bằng ký hiệu riêng, ươi của ai người đó khai thác".
Chỉ tay về mấy chiếc chòi làm tạm bợ bằng cây rừng, Bo Bo Đ giải thích thêm: "Dù được đánh dấu, nhưng thỉnh thoảng vẫn có tình trạng nhóm khác đến hái trộm. Vì vậy để chắc ăn nhiều nhóm cắt cử người vào rừng, dựng lán để canh ươi. Từ đầu mùa đến giờ có mấy vụ đánh nhau vì ươi rồi...".
Trong hành trình đi tìm ươi, nhóm người bản địa kể vanh vách về cách hái loại trái này cho PV nghe. Theo họ, có nhiều cách thu hoạch loại quả này. Mỗi cây ươi có khoảng 30kg trái trở lên. Quả ươi được giá nhất khi chúng đã chín và rụng xuống đất, còn gọi là "ươi bay".
Đặc biệt, quả này khi ngâm vào nước sẽ trương lên khá to. Ươi khi chín, quả phát tán xuống đất trong chu vi chừng 100m. Người nhặt chỉ việc tìm cây ươi đã rụng quả, sau đó đi quanh gốc nhặt. Nếu trúng mánh chỉ cần nhặt một cây đã có chừng mấy chục ki lô gam quả, với giá hiện nay 300 nghìn đồng/kg ươi khô là đã thu được tiền triệu.
Câu chuyện về ươi cứ thế tiếp diễn, đến suối Sê Oóc, cả nhóm ngồi bệt xuống đất tăm tia. Thấy mấy cây ươi nổi bật giữa rừng, Bo Bo Đ nhanh chân mang ná đi bắn thử xem ươi đã già chưa. Ngồi chừng 10 phút, Bo Bo Đ đã quay lại bảo chỉ một cây ươi quả đã già, có thể hái bán được, mấy cây còn lại quả còn non.
Nghe vậy, cả nhóm bật dậy, đi vội về phía cây ươi già. Lên đến gốc ươi già, nhóm Hà R lập tức vác máy cưa ra để hạ cây, hái quả. Ngước mắt nhìn, Bo Bo Đ ước lượng: "Cây này không dưới 40kg ươi tươi". Nhìn cây ươi gốc lớn cỡ 2 người ôm sắp bị chặt hạ, chúng tôi không khỏi xót xa.
Hà R khởi động máy cưa, mất chừng 30 phút cây ươi gần đứt lìa. Hà R hô lớn "chạy đi, đổ rồi". PV vội vã chạy trong tiếng cây đổ ầm ầm; hàng chục cây lớn nhỏ quanh gốc ươi cũng bị đè gãy. Đốn hạ xong, cả nhóm của Hà R lao đến nhặt quả rụng và hái những quả còn trên cành. Vừa nhặt, Bo Bo Đ vừa hả hê nói: "Người ta chỉ mua những quả không bị dập. Nhìn cây ươi lớn vậy cũng chỉ thu hoạch được chừng 30kg, còn lại quả non và quả dập thì bỏ hết".
PV thắc mắc: "Hạ một cây ươi lớn thế này chỉ để hái được khoảng 30kg quả thì tiếc quá". Bo Bo Đ nói: "Mình không hạ thì người khác cũng hạ. Ươi đang được giá nên thấy cây có quả già, mình phải hạ ngay, chần chừ người khác giành mất".
Sau khi nhặt xong, cả nhóm lại tiếp tục đi tìm cây ươi khác. Khi lên đến lưng chừng núi Đá Tây, phát hiện một cây ươi quả già, cả nhóm lại xúm vào chuẩn bị máy cưa. Oái oăm, khởi động máy đến dăm bảy lần chả được, Hà R chặc lưỡi: "Máy hư rồi, phải về thôi. Đen đủi quá đi, chưa kiếm được bao nhiêu đã phải xuống núi".
Theo lời kể của nhóm Hà R, ở khắp các cánh rừng Gia Quế hay núi Đá Tây… mỗi ngày có hàng chục tốp người đi khai thác quả ươi, điều đó cũng đồng nghĩa với việc hàng chục gốc ươi bị "hạ sát".
Sau một ngày vào rừng nhặt ươi, PV trở về thôn Giang Biên, xã Sơn Thái với biết bao nỗi niềm. Ghé vào nhà một đầu nậu thu mua ươi, bà Dung chỉ vào mớ ươi còn non choẹt thở dài: "Ươi được giá, họ vào rừng chặt hạ cả cây. Quả non thế này thì bán sao nổi. Cứ khai thác kiểu này, đến đời con, đời cháu làm gì còn ươi mà hái".
Trao đổi với PV, ông Hà Liên, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thái cho biết, trước thực trạng khai thác ươi theo kiểu tận diệt, lãnh đạo xã Sơn Thái đã tuyên truyền, vận động bà con tận thu ươi theo cách chờ ươi rụng, bởi ươi "bay" vừa cho thu nhập cao vừa bảo vệ được rừng. Lãnh đạo xã cũng đã có văn bản kiến nghị lực lượng chức năng cần tăng cường xử lý các đối tượng sử dụng máy cưa để hạ ươi nhưng xem ra kết quả còn hạn chế.
Cũng về vấn đề này, ông Lê Thanh Hóa, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh cho biết: Qua nắm bắt tình hình giá ươi tăng cao, thương lái không chỉ thu mua ươi già rụng mà ươi già trên cây cũng thu mua nên khả năng bà con sẽ mang máy cưa vào rừng để hạ cây hái quả.
Chính bởi vậy, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh đã phối hợp với các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tăng cường lực lượng tuần tra, đặc biệt là các khu vực người dân tập trung khai thác cây ươi.
Mới đây, Hạt Kiểm lâm huyện đã phá dỡ 3 lán trại, thu giữ 1 máy cưa, 2 xe máy của người khai thác ươi bỏ lại hiện trường. Dù đã có kế hoạch bảo vệ cây ươi ngay từ đầu vụ nhưng do giá ươi tăng cao đột biến, cây ươi lại phân bố rải rác khắp các cánh rừng nên việc bảo vệ gặp rất nhiều khó khăn... (Hà Nội Mới 28/9) đầu trang(
28/9, Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Sân bay Tân Sơn Nhất thuộc Cục Hải quan Thành phố Hồ Chí Minh cho biết vừa phối hợp với lực lượng kiểm soát của Cục Hải quan thành phố và Tổng cục Hải quan kiểm tra, phát hiện lô hàng nhập khẩu trái phép 59 chiếc ngà voi, có trọng lượng hơn 40kg, với trị giá hơn 2,4 tỷ đồng.
Qua công tác điều tra, nắm tình hình, các cơ quan kiểm soát đã phát hiện lô hàng nghi vấn nhập từ châu Phi, vận chuyển trót lọt qua một số nước trước khi về tới sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, trên vận đơn người gửi là C.F, người nhận là Công ty V.T.T.H, tên hàng hóa kê khai là hạt điều.
Sau khi kiểm tra thực tế, cơ quan hải quan phát hiện 59 chiếc ngà voi được cất giấu tinh vi trong thùng hạt điều. Đây là một trong những thủ đoạn mới của các đối tượng buôn lậu nhằm qua mặt cơ quan kiểm soát trong nước và quốc tế.
Hiện Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đang tạm giữ lô hàng trên để tiến hành điều tra làm rõ.
Như vậy, từ đầu năm đến nay, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã phát hiện và bắt giữ 6 vụ vận chuyển trái phép ngà voi với trọng lượng hơn 300kg, với tổng trị giá ước tính trên thị trường hơn 18 tỷ đồng. (VOV 29/9; Kinh Tế & Đô Thị 29/9, tr5; Hải Quan 26/9) đầu trang(
UBND TP Hà Nội đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt "Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học TP Hà Nội đến năm 2030".
Theo đó, mục tiêu của quy hoạch phải đảm bảo các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù của Hà Nội, các loài và các nguồn gen quý hiếm, tài nguyên rừng được bảo tồn, phát triển, sử dụng hợp lý, góp phần phát triển kinh tế - xã hội TP Hà Nội theo hướng bền vững.
Một trong những chỉ tiêu của quy hoạch: tăng tỷ lệ cây xanh lên 10 - 12m2/người, ưu tiên trồng các loại cây bản địa có giá trị kinh tế, cảnh quan và cải tạo nâng cao chất lượng môi trường sống. (Kinh Tế & Đô Thị 27/9; Công An Nhân Dân 29/9, tr1) đầu trang(
Lúc 5h30’, ngày 26/9, tại Km 381 trên tuyến QL1A (đoạn qua địa phận huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa), lực lượng CSGT đã kiểm tra và phát hiện một xe khách chở đầy gỗ Cẩm Lai  trái phép.
Thông tin ban đầu cho biết, vào thời điểm trên, trong khi đang TTKS dọc tuyến QL1A, tổ TTKS của trạm CSGT QL1A (thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Thanh Hóa) phát hiện chiếc xe ô tô khách mang BKS  81B-003.27 trưng biển nhà xe Thuận Tiến chạy hướng Gia Lai – Hà Nội do Phan Văn Đoàn (SN 1970, trú tại 79 Chu Mạnh Trinh, P.Hội Phú, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai) điều khiển có dấu hiệu vi phạm giao thông.
Sau khi dừng xe để kiểm tra hành chính, tổ TTKS đã phát hiện ngay trong khoang chứa hành khách có một lượng gỗ lớn. Qua kiểm tra ban đầu thì lái xe không xuất trình được bất cứ loại giấy tờ gì liên quan đến số gỗ đang vận chuyển.
Trước tình hình trên, lực lượng CSGT đã yêu cầu lái xe điều khiển phương tiện trở về trụ sở của Trạm CSGT QL1A. Đồng thời thông báo tới lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa phối hợp để kiểm tra.
Qua kiểm kê tại chỗ, lực lượng chức năng phát hiện có 41 thanh gỗ xẻ (tương đương với 0,318m3), 8 khúc gỗ tròn (tương đương với 0,056m3) và gốc rễ đã thành phẩm cân nặng là 95kg.
Được biết, toàn bộ số gỗ trên đều là gỗ Cẩm Lai quý hiếm (thuộc nhóm 1). Ngay sau khi lập biên bản, lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa đã tiếp nhận số gỗ trên để tiếp tục xử lý theo thẩm quyền. (Giao Thông 28/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Thuận đã phát hiện, xử lý hơn 60 vụ vận chuyển, mua bán, kinh doanh trái phép lâm sản, tổng số tiền xử phạt hành chính và bán tang vật bị tịch thu gần 1,2 tỷ đồng. (Tin Tức 26/9, tr13) đầu trang(
Trên trục đường chính nối liền các xã Thanh Quân, Thanh Phong, Thanh Hòa, Thanh Lâm..., huyện Như Xuân vào một ngày cuối tháng 8, từ xã Thanh Quân, bám theo chiếc xe khách 24 chỗ, mang biển kiểm soát 19B – 005 28 (trên đầu xe có ghi nhà xe Duy Tân) xuôi về hướng trung tâm huyện.
Đến 6 giờ 30 phút sáng, chiếc xe dừng lại bên vệ đường, trước một nhà dân tại thôn Xuân Phong, xã Thanh Phong (phóng viên xác minh, được biết chủ nhà là Vi Văn H.).
Từ trên xe, 3 thanh niên to khỏe đi xuống rất nhanh và thay nhau vác những thanh gỗ đã xẻ thành phẩm, vuông vức lên xe. Có những khúc gỗ dài cả hai người oằn mình khiêng mới nổi. Trong chốc lát, chiếc xe đã chất đầy những thanh gỗ. Có một điều lạ, việc đưa gỗ lên xe diễn ra rất bình thường, ngay cả khi biết có người đang quay phim.
Những người dân ở đây cũng vậy, hình như họ đã quá quen với hình ảnh những chiếc xe khách chở gỗ lậu đi qua tuyến đường này. Việc một số xe “núp bóng” xe khách để vận chuyển gỗ lậu diễn ra như “cơm bữa” trên cung đường này, đây là cách thức của các “ông trùm”  để tuồn số gỗ sau khi “xẻ thịt” ở rừng già đem về bán cho các cơ sở thu mua trên địa bàn huyện Như Xuân.
Không chỉ có xe 24 chỗ, mà cả loại xe 16 chỗ màu trắng, rồi xe mang biển số 33H cũng thường xuyên vận chuyển gỗ theo hình thức trên – một người dân địa phương cho hay.
Một thực tế làm ngạc nhiên và cũng là thắc mắc của người dân đó là, án ngữ ngay trên tuyến đường này là Trạm Kiểm lâm Xuân Quỳ (thuộc Hạt Kiểm lâm Như Xuân) có cán bộ “canh gác” 24/24 giờ, nhưng không hiểu sao những chiếc xe khách kia vẫn “vô tư” vận chuyển gỗ đi qua mà không hề bị phát hiện, mặc dù sự việc trên diễn ra trong thời gian dài và công khai giữa ban ngày? Đó là không biết, hay cố tình làm ngơ?
Lý giải về vấn đề trên, ông Nguyễn Xuân Ái, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Xuân, thừa nhận: Trên địa bàn có tình trạng dùng xe khách để vận chuyển gỗ. Hiện, hạt đang chỉ đạo xử lý. Ông Ái cũng cho biết, thời gian qua đã nhận được nhiều ý kiến phản ánh, tuy nhiên cách thức vận chuyển của những chủ xe rất tinh vi, thông thường họ chỉ vận chuyển theo những cung đường ngắn và cho người đi trước “thám thính”, nếu phát hiện thấy lực lượng chức năng lập tức cho phi tang số gỗ trên xe.
Mặt khác, đơn vị cũng ít người, mà công việc lại nhiều, nên nhiều lúc cũng chưa kiểm soát được hết. Hạt cũng đã nhiều lần bắt giữ xe vận chuyển gỗ trên tuyến đường này.
Hiện nay, Hạt Kiểm lâm Như Xuân cũng đã quyết định điều chuyển trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Xuân Quỳ sang làm nhiệm vụ mới và chỉ đạo cán bộ kiểm lâm tăng cường công tác nắm bắt tình hình, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, cương quyết xử lý những đối tượng vi phạm trong việc buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn huyện. (Báo Thanh Hóa 26/9) đầu trang(
Từ nhiều năm nay, lực lượng Công an 3 huyện An Lão (Bình Định), Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kbang (Gia Lai) đã thực hiện tốt quy chế phối hợp nên tình hình ANTT ở vùng giáp ranh luôn được đảm bảo an toàn, phục vụ cho phát triển các mặt KT- XH của mỗi địa phương.
Vùng giáp ranh 3 huyện An Lão (Bình Định), Ba Tơ (Quảng Ngãi) và Kbang (Gia Lai) là địa bàn rừng núi, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, dân cư chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số như Hrê, Bana sinh sống có quan hệ huyết thống nên thường xuyên qua lại, giao lưu văn hóa, làm ăn với nhau.
Nhận thức về pháp luật của bà con còn hạn chế, các tập tục lạc hậu vẫn còn đè nặng trong đời sống của bà con. Vì vậy nhiều vấn đề như xâm canh, xâm cư lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép đã làm cho tình hình có nhiều phức tạp.
Công an 3 huyện đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai thực hiện Chỉ thị 09 của Ban bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với phong trào toàn dân BVANTQ trong tình hình mới", ban hành nhiều đề án, phối hợp với các ngành, đoàn thể giải quyết vấn nạn tự tử, nghi cầm đồ thuốc độc trong đời sống bà con dân tộc thiểu số. Tập trung kiện toàn các tổ chức, hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là lực lượng Công an xã, tranh thủ các vị già làng có uy tín làm nồng cốt cho các phong trào ở địa phương.
Vì vậy công tác trao đổi thông tin, nhất là các vụ tranh chấp đất rừng, xâm canh, xâm cư, phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép, các tin báo tội phạm, các vụ nghi ma lai, cầm đồ thuốc độc dẫn đến mâu thuẫn trong bà con các dân tộc đã được Công an 3 huyện chủ động phối hợp giải quyết nhanh chóng, kịp thời có hiệu quả, không để xảy ra điểm nóng.
Anh Đinh Văn Che, phó chủ tịch UBND xã An Hưng (An Lão) cho biết, với đặc điểm địa lý giáp với xã Ba Trang (Ba Tơ) nên người dân 2 xã có quan hệ huyết thống thường xuyên qua lại, tự do cư trú mà không biết vi phạm các quy định về Luật cư trú.
Tệ nghi kỵ cầm đồ, các hủ tục lạc hậu vẫn còn hiện diện trong đời sống của bà con. Tuy nhiên, xã đã huy động các thành viên của hệ thống chính trị cùng vào cuộc và phối hợp với xã giáp ranh giải quyết nên tình hình có phần ổn định. Công an xã đã vận động bà con giao nộp hơn 10 khẩu súng tự chế để săn bắt thú rừng.
Anh Phạm Văn Trinh, Trưởng Công an xã Ba Lế (Ba Tơ) cho biết, xã đã thường xuyên phối hợp với chính quyền xã An Vinh (An Lão) trao đổi thông tin tình hình về các đối tượng cư trú khai thác lâm sản trái phép để chủ động trong công tác truy quét. Các xã giáp ranh cũng đã có nhiều hoạt động phối hợp cùng nhau giải quyết các vấn đề nóng trên địa bàn.
Theo thống kê, từ giữa tháng 6.2013 đến nay, Công an 3 huyện đã giải quyết 29 vụ việc có liên quan đến vùng giáp ranh, trong đó khởi tố 8 vụ với 13 bị can, vận động nhân dân giao nộp 27 khẩu súng các loại.
Riêng Công an huyện An Lão đã phối hợp với các đơn vị chức năng trong huyện và Công an các huyện giáp ranh tổ chức 159 lượt truy quét các đối tượng khai thác lâm sản trái phép, thu giữ 106,5m3 gỗ các loại, 7 máy cưa, 42 xe mô tô, phá hủy 16 lò than.
Đồng thời, tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo cho các cấp ủy đảng, phân công các cơ quan, đơn vị tổ chức kết nghĩa với các thôn đặc biệt khó khăn để giúp đỡ bà con về đời sống vật chất, tinh thần, phục vụ tốt cho phát động phong trào "Thôn, xã không có tội phạm và tệ nạn xã hội", "Thôn, xã an toàn về ANTT".
Đại úy Lê Minh Cường, Trưởng Công an xã Sơn Lang (Kbang) bộc bạch "Do đặc điểm giáp ranh với 3 tỉnh Kon Tum, Bình Định, Quảng Ngãi nên xã đã quan tâm củng cố đưa các tổ kiểm tra liên ngành, tổ tự quản về ANTT và Công an viên hoạt động, từng bước làm giảm vấn nạn tự tử, nghi kỵ cầm đồ thuốc độc, truy quét các đối tượng cư trú trái phép để khai thác lâm sản".
Thượng tá Nguyễn Văn Minh, Trưởng Công an huyện Kbang cho biết, khu vực giáp ranh có nhiều khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ với nhiều loài gỗ quý cùng các loại lâm sản có giá trị nên tập trung rất nhiều người từ các tỉnh khác đến đây khai thác gỗ, vàng sa khoáng trái phép, thu mua các loại cây dược liệu.
Điều đó chẳng những làm cho tài nguyên rừng bị tàn phá mà còn gây ra nhiều vụ việc phức tạp như vụ án giết người xuất phát từ mâu thuẫn của 2 nhóm thanh niên đến từ 2 tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh khai thác gỗ trái phép xảy ra giữa tháng 6.2014 gây bất ổn về ANTT. Hiện tại vẫn còn nhiều nhóm khai thác lâm sản trái phép trong khu vực rừng đệm nhưng việc truy quét, đẩy đuổi gặp không ít khó khăn.
Để việc thực hiện quy chế mang lại hiệu quả cao, xây dựng vùng giáp ranh an toàn về ANTT trong thời gian đến, ông Bùi Tiến Dũng, phó chủ tịch UBND huyện An Lão cho rằng, quy chế phối hợp cần phải nâng tầm cao hơn đặt dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND 3 huyện thì mới huy động được sức mạnh của hệ thống chính trị từ huyện đến xã, các ban, ngành đưa phong trào toàn dân BVANTQ đi vào chiều rộng lẫn chiều sâu, tạo điều kiện để phát triển các mặt KT- XH của mỗi địa phương. (Công An Nhân Dân 26/9) đầu trang(
Chiều 26.9, ông Nguyễn Khắc Dũng, Trưởng phòng Quản lý công viên cây xanh - Sở GTVT TP.HCM cho biết sắp tới khi xây cầu Thủ Thiêm 2 sẽ có 272 cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng, Q.1 trong phạm vi dự án bị ảnh hưởng, trong đó 84 cây phải đốn hạ, 37 cây di dời và 151 cây được giữ lại.
Những cây xanh bị đốn hạ có đường kính thân trên 80 cm trở lên, nhiều cây thuộc dạng cổ thụ, khả năng chết rất cao nếu bứng dưỡng, chi phí lớn. Cây bị đốn hạ chủ yếu là cây sọ khỉ, rễ ăn ngang, thuộc danh mục cây cấm trồng của TP, lồi trên mặt đất gây hư hỏng vỉa hè mặt đường.
Sau khi hoàn thành cầu Thủ Thiêm 2, nhà đầu tư sẽ trồng thêm nhiều cây xanh, đảm bảo mỹ quan và tăng mảng xanh đô thị. Ngoài ra, Khu Quản lý giao thông đô thị số 2 vừa đề nghị đốn bỏ 215 cây sọ khỉ trên đường Nguyễn Văn Hưởng, Q.2 để mở rộng đường. (Thanh Niên 27/9) đầu trang(
25-9, tại Công an tỉnh, Ban Chỉ đạo (BCĐ) truy quét, bảo vệ rừng tỉnh đã triển khai kế hoạch kiểm tra, truy quét, bảo vệ rừng (BVR), quản lý lâm sản năm 2014.
Sau đợt kiểm tra, truy quét BVR, quản lý lâm sản năm 2013, tình hình vi phạm pháp luật về quản lý, BVR trên địa bàn tỉnh đã giảm; công tác quản lý, BVR được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn.
Cụ thể, trong 9 tháng đầu năm, lực lượng quản lý, BVR tỉnh Đồng Nai đã kiểm tra, kiểm soát, phát hiện 179 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, với các hành vi chủ yếu là: phá rừng; khai thác gỗ và lâm sản, quản lý bảo vệ động vật hoang dã, vận chuyển, mua bán lâm sản, chế biến gỗ và lâm sản trái phép; giảm 58 vụ so với cùng kỳ năm 2013.
Tang vật tịch thu 42,754m3 gỗ các loại; 82 kg động vật rừng. Lực lượng chức năng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 168 vụ, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 1 tỷ đồng ; xử lý hình sự 1 vụ.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng săn, bắt, bẫy, kinh doanh động vật rừng (ĐVR); khai thác, vận chuyển, tàng trữ lâm sản không rõ nguồn gốc có dấu hiệu phức tạp trở lại. Nổi lên là tình trạng cưa trộm gỗ quý, săn bắt ĐVR; mua bán ĐVR diễn ra công khai tại vùng giáp ranh rừng; một số đối tượng móc nối với trại nuôi động vật rừng để hợp pháp hóa nguồn gốc động vật hoang dã. Ngoài ra, còn phát hiện một số vụ vận chuyển động vật quý hiếm từ địa phương khác về Đồng Nai tiêu thụ.
Kết luận hội nghị, ông/bà Đặng Hồng Tăng ghi nhận lực lượng chức năng đã có nhiều cố gắng trong công tác BVR, quản lý lâm sản thời gian qua và yêu cầu tiếp tục phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương đẩy mạnh tuyên truyền BVR đúng đối tượng và địa bàn trọng điểm; nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm; liên kết chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia quản lý BVR; có chính sách đãi ngộ hợp lý đối với những người tham gia quản lý, BVR; đảm bảo yếu tố bí mật, bất ngờ khi đấu tranh với tội phạm xâm phạm tài nguyên rừng. (Báo Đồng Nai 27/9) đầu trang(
UBND huyện Xuân Lộc vừa có buổi làm việc với các đơn vị liên quan về dự án bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ núi Chứa Chan giai đoạn 2014-2020.
Di tích núi Chứa Chan nằm trên địa bàn 4 xã: Xuân Thọ, Xuân Trường, Xuân Hiệp, Suối Cát và thị trấn Gia Ray với diện tích 1.739 hécta. Năm 2012, núi Chứa Chan được Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch công nhận là di tích danh thắng cấp quốc gia. Mới đây, tổ chức kỷ lục Việt Nam công nhận núi Chứa Chan là một trong 5 ngọn núi hướng dẫn du khách khám phá.
Mục đích của dự án nhằm trồng lại rừng và phục hồi diện tích rừng bị phá hủy trước đây và góp phần phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển sản xuất đời sống, tham quan du lịch tại địa phương. Dự án sẽ được thực hiện trong vòng 8 tháng với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng. (Báo Đồng Nai 26/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên một số cơ quan báo chí phản ánh tình trạng rừng phòng hộ ở huyện Tĩnh Gia bị hành quyết, bị bức tử, dân chỉ biết kêu trời, gây bức xúc trong dư luận nhân dân và các cơ quan chức năng ở địa phương. Phóng viên Thời báo Làng nghề Việt đã về địa phương tìm hiểu thực hư, làm rõ vấn đề...
Trao đổi với Thời báo Làng nghề Việt, ông Nguyễn Hữu Thường - Giám đốc Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Tĩnh Gia bày tỏ tâm trạng rất buồn khi có những thông tin không đúng sự thật và sai thực tế về rừng ở Tĩnh Gia: “Phá rừng phòng hộ là việc tày trời, nếu chỉ phá mấy hécta là đã ghê gớm, ở đây họ dám nói là phá hàng ngàn hécta?”.
Ông Nguyễn Hữu Thường cho biết thêm: Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện chỉ được Nhà nước giao quản 16.163 ha trên tổng diện tích 17.000 ha  đất lâm nghiệp ở huyện Tĩnh Gia. Xung quanh dãy núi Lâm Động gồm có 5 xã gồm: Nguyên Bình, Xuân Lâm, Trúc Lâm, Phúc Lâm, Phú Lâm, Ban Quản lý Rừng phòng hộ (QLRPH) chỉ được giao quản lý phần của xã Nguyên Bình, Xuân Lâm.
Xã Trúc Lâm có rừng thông và xã Phú Lâm, xã Phú Sơn là đất rừng sản xuất giao theo Nghị định 02. Phần rừng ở xã Phú Lâm liên quan đến thông tin báo chí phản ánh thì không liên quan đến Ban QLRPH huyện Tĩnh Gia. Riêng xã Phú Sơn thì Ban QLRPH huyện hoàn toàn không được giao quản lý.
Khu vực núi Lâm Động có 157 ha rừng trong đó có 78 ha rừng đã cháy năm 2010, còn lại là diện tích khoanh nuôi, chủ yếu cây bụi, nứa, sặt... Từ năm 2005, Nhà nước quyết định không đầu tư vùng rừng này nữa. Sau khi rà soát theo Thông tư 24 là chuyển đổi để được quy hoạch vào dự án trồng mới theo dự án JICA.
Bên cạnh rừng của Ban QLRPH huyện quản lý, có 302 ha rừng sản xuất của dân. Toàn bộ diện tích rừng phía nam núi Lâm Động được quy hoạch rừng sản xuất, người dân xử lý thực bì nên một số báo bị nhầm, chúng tôi bị vạ lây.
Để làm rõ vấn đề, phóng viên Thời báo Làng nghề Việt tiếp tục đến Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia. Tiếp phóng viên là ông Nguyễn Hữu Hậu, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia, thẳng thắn trao đổi: “Tôi nói sự thật, trên địa bàn huyện Tĩnh Gia nếu có hoạt động phá rừng thì Kiểm lâm phải chịu trách nhiệm trước tiên, tất nhiên chủ rừng cũng phải chịu trách nhiệm, ở đây, nhiều nhà báo không biết đi chỗ nào mà nói vậy?.
Ở Tĩnh Gia, rừng khai thác lấy gỗ hầu như không có. Hoạt động lâm tặc là không có. Trước và sau khi báo chí viết bài phá rừng phòng hộ đầu nguồn, Hạt Kiểm lâm đã đi kiểm tra và có báo cáo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa. Câu chuyện ở đây là do không phân biệt được giữa rừng sản xuất và rừng phòng hộ. Quản lý rừng phòng hộ hầu như không có sai, vì kiểm lâm viên giám sát ứng dụng công nghệ định vị...”.
Tại Biên bản Kiểm tra hiện trường lập ngày 5/7/2014 ở khu vực Khe Dầu, Khe Nẹ (khu vực núi Lâm Động) thuộc địa phận các xã Phú Sơn, Nguyên Bình, Xuân Lâm gồm có đại diện Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Tĩnh Gia và UBND các xã: Nguyên Bình, Phú Sơn, Xuân Lâm, kết quả kiểm tra khu vực núi Lâm Động thuộc địa phận xã Phú Sơn cho thấy: Khu vực trên thuộc đối tượng rừng sản xuất, được quy hoạch theo dự án WB3 của huyện.
Việc các hộ gia đình phát dọn thực bì trên đất trống Ib (thuộc đối tượng đất quy hoạch chức năng sản xuất) là hoàn toàn phù hợp theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/2/2006 của Thủ tướng Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan.
Kết luận ở khu vực Khe Dầu thuộc địa phận xã Xuân Lâm: Việc Ban QLRPH Tĩnh Gia khai thác tận dụng, trồng lại rừng đều có cấp có thẩm quyền phê duyệt theo trình tự thủ tục Nhà nước quy định, không có việc lợi dụng khai thác chặt phá rừng trái phép và thu lợi bất chính như tin bài báo đưa.
Tại khu vực Khe Dầu, Khe Nẹ thuộc địa phận xã Nguyên Bình, kết luận của đoàn kiểm tra: Ban QLRPH Tĩnh Gia thực hiện phát dọn thực bì, trồng mới rừng phòng hộ tại khu vực Khe Dầu, Khe Nẹ (tiểu khu 666) thuộc địa phận xã Nguyên Bình là hoàn toàn phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thực hiện, không có việc đốt, chặt hạ lấy gỗ, củi để bán rồi trồng lại rừng như tin bài báo đưa.
Về việc xác minh thông tin do ông Trương Bá Sơn đã cung cấp cho báo chí trước đây, ông Sơn cho biết nội dung ông đã cung cấp cho phóng viên không giống như trên mặt báo nêu. Thông tin “Rừng do Ban QLRPH Tĩnh Gia quản lý, chặt phá là quyền của họ, dân không được biết, chính quyền xã cũng không hay, trong khi đất rừng nằm trong địa giới hành chính của xã” không phải do ông Trương Bá Sơn cung cấp; là người sinh sống ở đây, tất cả những việc từ khai thác tận dụng, phát dọn thực bì trong rừng của Ban QLRPH Tĩnh Gia đều được thông qua chính quyền địa phương và nhân dân trong khu vực biết, chính người dân trong thôn cũng được tham gia khai thác, tận dụng, phát dọn thực bì và trồng rừng cho Dự án.
Được biết, nhóm phóng viên viết loạt bài phản ánh về phá rừng phòng hộ ở huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa chưa một lần liên lạc làm việc với Ban QLRPH huyện Tĩnh Gia, Hạt Kiểm lâm hay UBND huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa?
“Chúng tôi thấy những bài báo đã đăng viết có tính cá nhân nhiều, không khách quan”, ông Nguyễn Hải Hậu, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa khẳng định.  (Thời Báo Làng Nghề Việt 25/9, tr14) đầu trang(
Với diện tích gần 4 tỷ hécta, rừng bao phủ khoảng 31% bề mặt trái đất, song tình trạng đốt rẫy làm nương, các vụ cháy rừng, chặt phá, khai thác rừng bừa bãi hay chiếm dụng đất rừng... chủ yếu do bàn tay con người, đã thực sự là mối lo ngại chung của nhân loại, vì nó tác động nghiêm trọng tới môi trường sống, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người.
Đó là một phần thông điệp mà Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon phát đi trong tuyên bố về rừng của Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về khí hậu hôm 23/9, tại New York (Mỹ).
Những cảnh báo là như vậy, và thực tiễn diễn ra ngay trước mắt cũng vô cùng khốc liệt, đang cho thấy không dễ gì ứng phó với diễn biến bất thường của thời tiết. Với Việt Nam, những ẩn họa do thiên tai đem tới cho con người là tiềm tàng. Năm nào chúng ta cũng đưa ra cảnh báo, có lúc đến gay gắt và rất nghiêm khắc.
Thế nhưng, tang thương do thiên tai đem đến vẫn cứ xảy ra. Có vẻ thời tiết không phải đang biến đổi, mà biến động, bất thường, có người đã nói đến dị thường, hay đang hỗn loạn?
Dường như, có những quy luật, những chu kỳ nào đó của tự nhiên mà con người còn chưa lần ra nổi; nhưng cũng chắc chắn không thể chối bỏ tác động của con người... Trong rất nhiều nguyên nhân mà các nhà khoa học đã chỉ ra, hầu hết đều ghi cùng một nguyên nhân: Đó là tình trạng phá rừng đến tàn khốc, đến cùng kiệt ở khắp nơi.
Ngày xưa chỉ có lụt, và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam bộ thuở nào. Nhưng bây giờ, không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ. Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng.
Nhà văn Nguyên Ngọc từng viết rằng: Rừng đơn giản là tất cả, bao trùm và thiết yếu, là sự sống, sự vĩnh hằng, là chốn nguyên lai bất tận của tâm linh, cội nguồn của văn hóa...Nhưng bây giờ, mỗi lần nghe đài báo có gió mùa hay áp thấp nhiệt đới là người dân vùng lũ lại nơm nớp lo. Bởi sau nó sẽ là núi sập, rừng trôi! Bởi, đứa con của tự nhiên là con người đang trở nên hỗn hào hơn bao giờ hết với mẹ tự nhiên của mình.
Điểm lại xem, bây giờ chúng ta còn bao nhiêu rừng nguyên sinh? Trên thế giới, nhiều nước đã đóng cửa rừng, không khai thác rừng. Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Nhưng, sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáỵ, đã và đang che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.
Biết đến bao giờ, con cháu chúng ta có thể được dạo chơi trong những cánh rừng, đứng trên non cao mà mát mắt với rừng thẳm? Để khi đó, chúng kể câu chuyện rằng, cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn! Bao giờ nhỉ?! (Tài Nguyên & Môi Trường 25/9, tr2) đầu trang(
26/9, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Trùng Khánh tổ chức lớp tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy (PCCC) rừng cho trên 90 trưởng xóm, công an viên, cán bộ các ban, ngành, đoàn thể của 2 xã Đình Phong, Chí Viễn.
Các học viên được tập huấn các chuyên đề: kiến thức chung về công tác PCCC rừng; hệ thống tổ chức PCCC rừng; một số biện pháp chủ yếu về phòng cháy rừng; nguyên nhân gây cháy rừng; các loại cháy rừng; mùa nào gây ra cháy rừng nhiều nhất và các phương châm chữa cháy rừng... (Báo Cao Bằng 27/9) đầu trang(
Đảo Cù Lao Chàm thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An (tỉnh Quảng Nam) là một trong những khu dự trữ sinh quyển lớn của thế giới đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận năm 2009.
Những năm qua, cùng với các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá những giá trị của khu dự trữ sinh quyển này, thành phố Hội An cũng đưa nội dung giáo dục kiến thức về bảo vệ môi trường biển trang bị cho học sinh trên đảo.
Nằm cách đất liền khoảng 20 km, đảo Cù Lao Chàm có 560 hộ dân với khoảng 3.000 người. Trên đảo có hai trường học gồm một trường tiểu học và một trường trung học cơ sở với hơn 220 học sinh. Năm 2007, hai trường này đã đưa vào giảng dạy môn “Đa dạng sinh học và môi trường biển”, thời lượng giảng dạy là 12 tiết cho học sinh từ lớp 3 đến lớp 6, với khối lượng kiến thức tăng dần qua các cấp học.
Tài liệu học tập này do Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm biên soạn và được Phòng Giáo dục thành phố Hội An thông qua đưa vào giảng dạy.
Nội dung của tài liệu gồm 12 chủ đề về “Tầm quan trọng của biển và tài nguyên nước”; “Thông tin về khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm và lợi ích”; “Đa dạng sinh học và đa dạng sinh học biển”; “Chuỗi thức ăn”; “Rừng ngập mặn”; “Thảm cỏ biển”; “Rạn san hô”; “Các mối đe dọa đối với hệ sinh thái tại khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm”; “Quy chế quản lý tạm thời khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm”; “Rác thải”; “Các hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm” và “Khám phá thiên nhiên”. Đây là một môn học tự chọn, được tính vào tổng điểm môn Sinh học của các em học sinh trên đảo do những giáo viên dạy Sinh học phụ trách.
Thầy giáo Nguyễn Như Tuấn, Hiệu phó Trường trung học cơ sở Quang Trung trên xã đảo cho biết: Khi môn học này được đưa vào giảng dạy ở trong trường đã nhận được nhiều sự quan tâm và hứng thú của các em học sinh. Những kiến thức trong môn học này đều được các thầy cô giáo bộ môn "mềm hóa" thông qua những trò chơi, những chuyến dã ngoại quanh đảo để các em có cái nhìn sinh động về thiên nhiên trên hòn đảo mình đang sống.
Theo cô giáo Nguyễn Thị Thuận, Hiệu phó Trường tiểu học Tân Hiệp: Thực ra, các em hàng ngày đều tiếp xúc gần gũi với thiên nhiên nhưng thông qua môn học này giúp các em có được cái nhìn tổng quan và hiểu được đầy đủ vai trò, vị trí của từng loài trong hệ động thực vật phong phú trên đảo. Chẳng hạn các em sẽ nắm được kiến thức về quá trình sinh sống của loài chim yến quý hiếm; xác định được những khu vực nào trên đảo có những bãi cỏ biển, các rạn san hô, rong biển; các loài cá, giáp xác đặc trưng quanh đảo…
Đến thăm Cù Lao Chàm hôm nay, nhiều người đã quen thuộc với hình ảnh các em nhỏ chủ động đi nhặt rác ở ven đường và trên bãi biển để vào những nơi quy định, hay có thể tự tin giới thiệu cho du khách về sự đa dạng của các loài động thực vật đặc trưng ở trên đảo.
Theo bà Trần Thị Hồng Thúy, Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm, thời gian qua, đơn vị này đã phối hợp chặt chẽ với các trường học trên đảo như tạo điều kiện về phương tiện tàu thuyền cũng như các thiết bị hiện đại để các em có thể quan sát các loài sinh vật dưới đáy biển; tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, thi tìm hiểu về bảo tồn biển và những cuộc thi làm túi xách bằng vật liệu thân thiện với môi trường sử dụng hàng ngày để thay thế cho túi nilong.
Trong thời gian tới, Ban quản lý Khu bảo tồn biển sẽ phối hợp với các trường học tập trung trang bị cho các em những kiến thức về bảo vệ loài rùa biển trên đảo đang bị xâm hại.
Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm có một hệ sinh thái rất đa dạng với hơn 311ha rạn san hô, khoảng 300 loài; 50ha thảm cỏ biển với 5 loài đặc trưng; 76 loài rong biển; hơn 270 loài cá; 97 loài thân mềm; 11 loài động vật da gai... Khu rừng đặc dụng Cù Lao Chàm có 499 loài thuộc 352 chi, 115 họ của 5/6 ngành thực vật bậc cao...
Chính vì vậy, việc trang bị những kiến thức về bảo tồn biển cho các em học sinh trên đảo có ý nghĩa rất quan trọng, giúp hình thành lên những lớp cư dân trên đảo biết trân trọng và sống hài hòa với thiên nhiên, qua đó góp phần vào việc bảo tồn và phát triển bền vững khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. (Đảng Cộng Sản 26/9) đầu trang(
26/9, tại xã San Sả Hồ (Sa Pa), Vườn Quốc gia Hoàng Liên tổ chức Hội nghị sơ kết công tác bảo vệ, phát triển rừng 9 tháng, triển khai nhiệm vụ 3 tháng cuối năm và thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho nhân dân các xã vùng lõi thuộc Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Vườn Quốc gia Hoàng Liên được giao quản lý với tổng diện tích trên 28 nghìn ha, trong đó diện tích đất có rừng trên 23 nghìn ha. Mục tiêu quản lý, bảo vệ, bảo tồn hệ sinh thái rừng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế, xã hội cho nhân dân các xã vùng lõi là nhiệm vụ quan trọng của đơn vị.
Theo báo cáo tại hội nghị, 9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức được 54 buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ, phát triển rừng với gần 4 nghìn lượt người tham gia. Hình thức chủ yếu là tuyên truyền miệng thông qua các buổi họp thôn, họp tổ bảo vệ rừng, các buổi lễ ăn thề, học ngoại khóa tại các trường học trên địa bàn.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được tuyên truyền, triển khai đến từng hộ gia đình. Hạt Kiểm lâm và các trạm kiểm lâm địa bàn thường xuyên đôn đốc các xã vùng lõi phân công lịch trực 24/24 giờ vào các ngày trọng điểm khô hanh, duy tu bảo dưỡng và quản lý các phương tiện, dụng cụ phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng hiện có luôn vận hành tốt.
Việc phối hợp giữa trạm kiểm lâm địa bàn với tổ bảo vệ rừng tại các thôn được thực hiện thường xuyên thông qua việc tuần tra, kiểm tra rừng tận gốc nhằm phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tăng so với cùng kỳ năm trước, vi phạm qui định về bảo vệ rừng, cất giấu lâm sản trái phép vẫn diễn ra, 9 tháng xảy ra 2 vụ cháy rừng với tổng diện tích rừng cháy trên 33 ha.
Nhiệm vụ từ nay đến hết năm 2014, Vườn Quốc gia Hoàng Liên tiếp tục chỉ đạo các trạm kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở, thường xuyên tuần tra, giám sát chặt chẽ các công trình đang thi công, các đoàn khách tham quan, thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại từng địa bàn quản lý.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án trồng 250 ha cây sơn tra trên địa bàn các xã; đối với diện tích thảo quả trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên cần xác định rõ vị trí trên bản đồ và tiến hành xác định ngoài thực địa để có kế hoạch khai thác hợp lý.
Tại Hội nghị, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phối hợp với Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các hộ dân thuộc xã San Sả Hồ. (Báo Lào Cai 27/9) đầu trang(
25.9, trong khi đang tuần tra tại thị trấn Tăng Bạt Hổ (huyện Hoài Ân), lực lượng kiểm lâm Hoài Ân đã phát hiện một đối tượng chở động vật hoang dã.
Đối tượng bỏ chạy, bỏ lại tang vật gồm 5kg rắn lãi, 1 con kỳ đà nặng 2kg. Hạt Kiểm lâm Hoài Ân đã tịch thu tang vật, lập biên bản; đồng thời, thả số động vật hoang dã trên về rừng.
Ngoài ra, 2 giờ sáng 26.9, lực lượng kiểm lâm Hoài Ân cũng phát hiện 2 vụ vận chuyển gỗ trái phép ở thị trấn Tăng Bạt Hổ. 2 đối tượng bỏ chạy, để lại tang vật là 2 chiếc mô tô không biển số cùng 1,1m3 gỗ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Hạt Kiểm lâm Hoài Ân đã lập biên bản, tịch thu tang vật để xử lý. (Báo Bình Định 26/9) đầu trang(
UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố; các Vườn Quốc gia Cư Yang Sin và Yok Đôn; các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, chủ dự án thuê rừng, chủ rừng thực hiện nghiêm biện pháp.
Theo đó, giao Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo đơn vị chức năng và UBND cấp xã rà soát diện tích rừng, đất lâm nghiệp đang quản lý để tổ chức giao, cho thuê theo quy định; rà soát, đánh giá các dự án đã đầu tư, diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác; đề xuất thu hồi những diện tích rừng và đất lâm nghiệp lấn chiếm trái phép hoặc đã giao nhưng sử dụng không hiệu quả, có dấu hiệu vi phạm pháp luật; thu hồi toàn bộ đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái pháp luật để tiến hành trồng lại rừng; chấm dứt tình trạng mua, bán và “hợp thức hóa” quyền sử dụng đất do phá rừng trái pháp luật.
Cùng với đó, quản lý chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên, đột xuất và xử lý nghiêm những cơ sở chế biến gỗ vi phạm; thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với các cơ sở chế biến gỗ không bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn; tập trung triệt phá những “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái phép...
Đối với các vườn quốc gia, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, UBND tỉnh yêu cầu phối hợp với chính quyền địa phương và cơ quan chức năng tiến hành rà soát diện tích rừng và đất lâm nghiệp do đơn vị quản lý, sử dụng để tiếp tục xây dựng phương án sắp xếp, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng, sản xuất kinh doanh, đề xuất cơ chế, chính sách quản lý.
Rà soát, thanh lý hợp đồng khoán bảo vệ rừng, khoán đất lâm nghiệp, liên doanh, liên kết sai đối tượng hoặc tổ chức, cá nhân nhận khoán, liên doanh liên kết thiếu trách nhiệm. Rà soát, thống kê phân loại các đối tượng phá, lấn chiếm, sang nhượng đất rừng trái phép, sống bất hợp pháp trong rừng để xử lý theo quy định... (Báo Đắc Lắc 26/9) đầu trang(
Cứ đến mùa thu, khi chim di cư cùng các loài cò, vạc tìm về những vùng đầm bãi hay các cánh đồng đã gặt ở các tỉnh phía Bắc để kiếm ăn, thì các loại cạm bẫy cũng được giăng lên ở khắp nơi.
Tại Nghệ An, Hà Tĩnh, bẫy chim dựng như “ma trận” ở các huyện Diễn Châu (Nghệ An), Nghi Xuân, Đức Thọ (Hà Tĩnh). Người dân ở đây dùng những con cò giả làm bằng xốp và một số con cò, vạc đang sống để dụ cò trắng, cò bợ, vạc… đáp xuống và dính bẫy, là những thanh tre quết đầy nhựa, cắm chi chít khắp cánh đồng.
Còn ở khu vực các tỉnh đồng bằng Bắc bộ, nơi có nhiều loài chim nước di trú và đi ăn đêm thì cách bắt chim là dùng lưới căng khắp các cánh đồng, một số nơi người ta còn dùng cả loa phát ra âm thanh để dụ chim… (Thanh Niên 27/9) đầu trang(
Nếu như trước đây, xã Mường Pồn (huyện Điện Biên) là một trong những địa bàn có nguy cơ cao xảy ra cháy rừng, phá rừng làm nương trái phép, xâm hại rừng, thì giờ đây nhiều cánh rừng xanh tốt nhờ được bảo vệ nghiêm ngặt.
Chuyển biến tích cực đó là nhờ chú trọng công tác tuyên truyền chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt là việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 của Chính phủ. Người dân Mường Pồn đều ý thức được việc giữ rừng để hưởng lợi từ rừng.
Theo rà soát, thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên: Xã Mường Pồn có 3.914,6ha rừng được giao cho 28 chủ rừng; trong đó 10 cộng đồng thôn bản và 18 hộ gia đình. Đây là cơ sở để Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả trên 1,35 tỷ đồng cho người dân trong năm 2011 và năm 2012.
Đảm bảo việc nghiệm thu chất lượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, đồng thời nâng cao nhận thức của chủ rừng trong công tác bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với chính quyền xã Mường Pồn tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng tới từng chủ rừng; xây dựng quy ước bảo vệ rừng; đặc biệt chất lượng rừng cung ứng dịch vụ được tổ chức nghiệm thu theo hướng dẫn Thông tư 20 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Ông Quàng Văn Phanh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên cho biết: Đối với diện tích rừng không bị tác động hoặc bị tác động nhưng đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng, căn cứ kết quả nghiệm thu hàng năm đạt yêu cầu, chủ rừng sẽ được thanh toán 100% giá trị.
Với diện tích rừng bị tác động (khai thác, chặt phá, xâm lấn, bị cháy, chuyển mục đích sử dụng trái phép, bị thiệt hại do thiên tai bất khả kháng...), không còn khả năng cung ứng dịch vụ môi trường rừng, thì chủ rừng sẽ không được thanh toán.
Xã Mường Pồn toàn bộ diện tích rừng chi trả theo Nghị định 99 của Chính phủ được giao cho cộng đồng bản và hộ gia đình, vì vậy, kết quả bảo vệ rừng đối với các chủ rừng trên do Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên xác nhận trên cơ sở kết quả kiểm tra, tổng hợp diện tích rừng chi trả dịch vụ môi trường rừng của UBND xã Mường Pồn. Hạt chỉ kiểm tra, nghiệm thu tại hiện trường trong trường hợp cần thiết.
Ông Hờ A Chư, Phó Chủ tịch UBND xã Mường Pồn cho biết: Để người dân thuận tiện cho việc theo dõi diện tích rừng được chi trả dịch vụ, các trưởng bản  công khai danh sách và diện tích rừng được chi trả dịch vụ, mức chi trả ngay tại cộng đồng. Trong trường hợp, các hộ gia đình, cá nhân có thắc mắc, kiến nghị, trưởng bản có trách nhiệm xem xét giải quyết.
Trường hợp không giải quyết được, báo cáo chính quyền xã giải quyết. Với cách làm này, sau hơn 1 năm được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, trên địa bàn xã không xảy ra tình trạng so bì, thắc mắc; bà con đều ý thức việc bảo vệ rừng để được hưởng lợi.
Người dân xã Mường Pồn sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, trong khi diện tích đất sản xuất lúa 2 vụ ít, nên cuộc sống còn nhiều khó khăn.
Nhờ tuyên truyền sâu rộng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 của Chính phủ nên bà con dần thay đổi tư duy chỉ có gieo hạt lúa, tra hạt ngô trên nương mới có lương thực, nay làm tốt việc bảo vệ, giữ rừng thì bà con được nhận tiền và mua được lương thực không lo còn thiếu đói.
Ông Lò Văn Phong, bản Mường Pồn 2 cho biết: Được cán bộ Hạt Kiểm lâm, cán bộ Quỹ Bảo vệ rừng tỉnh tuyên truyền mình và bà con trong bản đều hiểu khi giữ rừng tốt, chất lượng cung ứng dịch vụ cho các nhà máy thủy điện cao hơn, mức trả tiền sẽ tăng lên, cuộc sống sẽ dần được cải thiện.
Chính vì nhận thức được điều đó mà Mường Pồn 2 là bản điển hình của xã trong việc giữ rừng. Không chỉ xây dựng Quy ước bảo vệ rừng chặt chẽ, bản đã thành lập Tổ bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, phối hợp với kiểm lâm địa bàn, chính quyền xã tuần tra, bảo vệ rừng. Nhờ đó mà hơn 670ha rừng trên địa bàn được bảo vệ tốt. (Báo Điện Biên Phủ 26/9) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn lâm phần do Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Sê Rê Pốk quản lý, đã xảy ra 22 vụ phá rừng trái phép, gây thiệt hại 11.846ha.
Trong đó, có 7 vụ phá rừng phòng hộ với diện tích thiệt hại là 5.117ha, còn lại là diện tích rừng sản xuất và diện tích rừng quy hoạch đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp.
Nghiêm trọng nhất là 7 vụ người dân phá rừng trái phép tại tiểu khu 67, thuộc địa bàn xã Đạ Tông với diện tích 1,6ha rừng phòng hộ và 3,5ha rừng sản xuất. Cơ quan điều tra địa phương này đã phát hiện khởi tố hình sự 2 vụ và xử lý hành chính hàng chục vụ, buộc khắc phục hậu quả.
Nguyên nhân tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng, hủy hoại rừng, khai thác vận chuyển trái phép lâm sản còn xảy ra tại các tiểu khu 67, 176, 181, 183, chủ yếu do công tác tuần tra, kiểm soát của chủ rừng còn hạn chế.
Trước tình hình trên, ngày 22/9, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đã gửi văn bản kiến nghị đến ông Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk yêu cầu đơn vị này có biện pháp khẩn trương nhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm của các trạm trưởng, cán bộ tiểu khu và nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk trong công tác tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng.
Kịp thời phát hiện xử lý hành vi vi phạm; kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với cán bộ, nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng, hủy hoại rừng, khai thác vận chuyển trái phép lâm sản nhằm không ngừng bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. (Báo Lâm Đồng 26/9) đầu trang(
Huyện Lâm Bình có trên 63.000 ha đất có rừng, giàu trữ lượng gỗ, đa dạng sinh học với nhiều loại động thực vật quý hiếm.
Để rừng mãi xanh là mục tiêu của mỗi cán bộ, chiến sỹ kiểm lâm của Lâm Bình. Mỗi ngày họ vẫn âm thầm, lặng lẽ, bền bỉ khắc phục khó khăn, quyết tâm bám đất, bám rừng, bảo vệ màu xanh cho sự sống.
PV đã có dịp được theo các cán bộ kiểm lâm huyện Lâm Bình lách rừng, leo dốc trong những cánh rừng phòng hộ, nơi đầu nguồn cung cấp nguồn nước cho nhà máy thủy điện Tuyên Quang và thủy điện Chiêm Hóa để trải nghiệm những gian nan, vất vả của những con người ngày đêm bảo vệ những cánh rừng, bảo vệ những loài động thực vật hoang dã, quý hiếm bậc nhất thế giới đang tồn tại và phát triển ở nơi đây.
Mùa này, rừng núi Lâm Bình đẹp như một bức tranh. Những tán lá của nhiều loài cây cùng đan kín, tạo nên một màu xanh trải dài trong nắng thu dịu nhẹ. Màu xanh đó cũng chính là một mái nhà khổng lồ che chở cho muông thú...
So với những địa phương khác trong tỉnh, hoạt động của kiểm lâm huyện Lâm Bình có những đặc thù và khó khăn hơn cả, bởi Lâm Bình là địa phương có diện tích rừng tự nhiên lớn, địa hình hiểm trở chủ yếu là rừng núi đá, giao thông đi lại rất khó khăn.
Diện tích rừng phòng hộ nằm trong vùng ngập lòng hồ thủy điện Tuyên Quang lớn, lại tiếp giáp với huyện Nà Hang, Chiêm Hóa và huyện Bắc Mê (Hà Giang). Việc di chuyển đến những cánh rừng chỉ có thể bằng thuyền hoặc ca nô chuyên dụng nên công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng gặp nhiều khó khăn.
Nhiều đối tượng cũng lợi dụng vào những khó khăn đó mà lén lút vào rừng khai thác lâm sản trái phép. Tuy nhiên, các hoạt động đó đều không qua mắt được các cán bộ kiểm lâm nơi đây. Tình yêu rừng, sự gắn bó với bà con nhân dân bản địa đã giúp các anh bảo vệ an toàn rừng trên địa bàn.
Chuyến đi này, nhóm PV đi bằng chiếc ca nô chuyên dụng mới toanh vừa được tỉnh trang bị để thực hiện nhiệm vụ tuần tra rừng trên vùng lòng hồ. Sau hơn nửa giờ lênh đênh trên hồ, có mặt tại khu vực rừng Pác Chõm, xã Thượng Lâm. Đây là khu vực giáp ranh với huyện Nà Hang nên công tác bảo vệ rừng khu vực này có phần khó khăn hơn, bởi nơi đây nhiều cây nghiến hàng trăm năm tuổi là “mồi ngon” của nhiều đối tượng lâm tặc.
Anh Ngô Lê Đoàn là cán bộ kiểm lâm đã gắn bó với những cánh rừng nơi đây hằng chục năm nay nên thông thuộc từng ngóc ngách, từng gốc cây, ngọn cỏ cánh rừng này. Khi được hỏi vì sao các anh không mở một lối đi cố định để thuận tiện cho việc tuần tra, anh Đoàn bảo, nếu đi riêng một lối thì không thể tuần tra được. Mỗi đợt tuần tra là một lối khác nhau thì mới bao quát được cả cánh rừng rộng lớn như thế này.
Suốt ngày ăn ngủ với cây, với rừng, chắc các anh nhớ vợ con lắm?- Có chứ -  anh Đoàn trả lời, nhưng giờ có chiếc điện thoại, nhớ gia đình chỉ cần gọi điện hỏi thăm, nghe giọng nói của vợ con là mình ấm lòng và yên tâm rồi. Còn những cây gỗ quý thì khác, nếu không ăn, ngủ với nó thì dễ bị mất lắm! Gắn bó nhiều năm với cây, với rừng, hôm nào không đi lại thấy nhớ rừng, dù khó khăn đến mấy tôi cùng các đồng nghiệp cũng sẽ nỗ lực hết sức mình để bảo vệ rừng - anh Đoàn bộc bạch.
Câu chuyện của PV với những con người yêu rừng cứ rôm rả suốt cả chặng luồn rừng để tìm đến khu vực có hằng trăm cây nghiến cổ thụ còn tồn tại. Hiểu sâu sắc hơn về những khó khăn, vất vả mà bao lâu nay họ gánh vác. Gần 3 giờ đồng hồ luồn rừng, càng đi độ dốc càng cao, có nhiều đoạn phải bấu tay vào các thân cây để đi lên, cuối cùng PV đến vùng lõi của rừng Pác Chõm, nơi còn sót lại những cây gỗ nghiến hằng trăm năm tuổi, cùng những loài động vật quý hiếm như voọc mũi hếch, rắn, kỳ đà, gấu...
Dù nằm sâu trong vùng rừng phòng hộ Lâm Bình, địa hình hiểm trở nhưng những cây gỗ quý vẫn luôn là đối tượng để lâm tặc có thể đốn hạ bất kỳ lúc nào. Sự thật là những thân gỗ xù xì, với bộ rễ khổng lồ ôm chặt vào vách núi  ở trước mắt PV cũng đã nhiều lần bị các đối tượng lâm tặc xâm hại. Bằng chứng là những vết cưa máy vẫn còn in trên những thân gỗ. Có điều, trước sự bảo vệ nghiêm ngặt của cơ quan chức năng đặc biệt là lực lượng kiểm lâm, chúng đã không làm gì được.
Sau hơn nửa ngày trải nghiệm cùng cán bộ kiểm lâm huyện Lâm Bình PV quay trở lại Hạt kiểm lâm của huyện khi nắng đã ngả về chiều. Hạt trưởng Hoàng Văn Kiên giới thiệu với PV những tang chứng, vật chứng thu được của các đối tượng lâm tặc. Đó là những chiếc xe máy “chuyên dụng” của các đối tượng dùng để chuyên chở các loại gỗ đã được cưa dưới dạng thớt chuẩn bị chuyển về xuôi.
Tuy nhiên so với những đơn vị kiểm lâm tại các huyện khác như Chiêm Hóa, Nà Hang mà PV đã có lần chứng kiến thì khối lượng tang vật thủ giữ tại đây chỉ là một phần nhỏ so với các địa phương trên. Điều đó một phần minh chứng cho mục tiêu bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm huyện lâm bình là quyết tâm giữ rừng tận những gốc cây.
Hạt trưởng Hoàng Văn Kiên khẳng định, đến thời điểm này huyện Lâm Bình chưa để xảy ra điểm nóng về tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Song nhiều cánh rừng tự nhiên có nguy cơ bị xâm hại, bởi nhu cầu sử dụng lâm sản ngày càng cao, giá trị và lợi nhuận của những loài gỗ quý cộng với đời sống của một bộ phận người dân sống gần rừng, ven rừng còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều nơi, cuộc sống của người dân hầu như vẫn phụ thuộc vào rừng.
Để giữ bình yên cho những cánh rừng, cùng với việc tuần tra, canh gác, các cán bộ kiểm lâm của huyện vẫn hằng ngày bám dân, bám bản để vận động bà con chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, quyết tâm bảo vệ màu xanh cho rừng.
Chính sự có mặt của các anh sẽ huy động được sức mạnh của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng và giúp bà con có thêm niềm tin, động lực để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo từ chính lợi ích của công tác bảo vệ và phát triển rừng đem lại. (Báo Tuyên Quang 26/9) đầu trang(
“Trong thời gian qua, hoạt động gây nuôi sinh sản, sinh trưởng các loài động vật hoang dã (ĐVHD) trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã phát triển nhanh chóng cả về quy mô và số lượng, nhiều loài đã được các cơ sở gây nuôi thành công, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho một bộ phận người dân địa phương.
Thực hiện các chủ trương của Nhà nước về công tác quản lý các trại nuôi sinh sản, sinh trưởng ĐVHD, Chi cục Kiểm lâm Bình Phước đã tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện các quy định về điều kiện gây nuôi ĐVHD; cấp giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi ĐVHD đối với các loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm với các trại nuôi đủ điều kiện, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về công tác quản lý ĐVHD gây nuôi.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 308 trại nuôi bao gồm cả trại nuôi động vật hoang dã quý hiếm và động vật hoang dã thông thường. Trong đó: Trại nuôi ĐVHD quý hiếm là 42 trại với 9.230 cá thể, bao gồm các loài chủ yếu như Gấu (21cá thể), Cheo cheo, Rắn ráo trâu, Kỳ đà vân, Rùa đất lớn, Rùa núi vàng, Rùa răng, Trăn đất, Khỉ đuôi dài, Khỉ đuôi ngắn, Cầy giông, Công; Trại nuôi ĐVHD thông thường (Theo Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT) với 6.631 cá thể,  gồm chủ yếu là các loài: Nhím, Heo rừng, Heo rừng lai, Cầy vòi hương, Dúi mốc, Hươu sao, Nai, Trĩ đỏ, Rắn ráo thường, Thỏ nâu. Ngoài ra còn có 07 trại nuôi động vật hoang dã khác như Ba ba nam bộ, Ba ba trơn, Công xanh Ấn độ với 1.914 cá thể.
Nhìn chung các trại nuôi đều đảm bảo yêu cầu về tiêu chuẩn chuồng trại, vệ sinh sạch sẽ và không ảnh hưởng tới môi trường xung quanh; các trại nuôi được xây dựng xa nơi có dân ở hoặc được xây dựng trong các trang trại riêng; đồng thời các chủ nuôi nhốt ĐVHD đều thực hiện đúng các cam kết đăng ký gây nuôi ĐVHD. Điều đó cho thấy công tác quản lý động vật hoang dã thời gian qua đã đi đúng hướng và thật sự có hiệu quả.
Tuy nhiên, số lượng trại nuôi so với thời điểm trước khi ban hành Thông tư số 47/2012/TT-BNNPTNT ngày 25/9/2012 quy định về quản lý khai thác từ tự nhiên và nuôi động vật rừng thông thường thì số lượng các trại nuôi đã giảm đáng kể (133 trại).
Nguyên nhân chủ yếu là do giá trị động vật hoang dã một số loài nuôi bị rớt mạnh, người nuôi bị thua lỗ lớn, điển hình như Nhím giá giảm còn 1/10 so với thời điểm đầu tư giống; Heo rừng lai giá bán thịt chênh lệch không đáng kể so với Heo nhà nhưng thời gian nuôi kéo dài và tăng trưởng chậm; bên cạnh đó là nguyên nhân về thị trường tiêu thụ số lượng nhỏ, hạn chế như Trĩ đỏ khoang cổ hay một số loài như: Dúi, Rùa, Rắn thì khó hoặc sinh sản kém trong điều kiện nuôi nhốt.
Để công tác này ngày càng hoạt động tốt hơn nữa trong thời gian tới. Chi cục Kiểm lâm sẽ chỉ đạo các hạt Kiểm lâm trực thuộc và Đội Kiểm lâm cơ động &PCCCR số 01, số 2 tăng cường kiểm tra các hoạt động săn bắn, mua bán, vận chuyển, nuôi, giết, mổ, kinh doanh các loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm trên toàn tỉnh.
Đồng thời tiếp nhận và chuyển giao file dữ liệu về cập nhật dữ liệu các cơ sở nuôi ĐVHD và bản đồ số về quản lý các cơ sở nuôi từ dự án PREVENT trong khuôn khổ dự án “Khảo sát điều tra cập nhập dữ liệu về trang trại gây nuôi động vật hoang dã tại 12 tỉnh thí điểm” cho các địa phương để thuận tiện cho việc quản lý, tra cứu, cập nhật những thay đổi diễn biến có liên quan”. (Kiểm Lâm Bình Phước 25/9) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ 4.400 ha rừng trồng và rừng tự nhiên.
Để bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có, ban quản lý đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Như Thanh, chính quyền địa phương các xã có rừng thuộc ban quản lý, gồm: Xuân Thái, Xuân Phúc, Hải Vân, Mậu Lâm (Như Thanh) đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ dân tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng tận gốc, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đồng thời, giao khoán 3.400 ha rừng cho 480 hộ chăm sóc, bảo vệ và sản xuất  theo hướng nông - lâm kết hợp; hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức cho các hộ trồng mới rừng sản xuất theo hướng thâm canh, bảo vệ diện tích rừng được giao và khai thác rừng trồng đã cho sản phẩm theo quy định. Từ năm 2007 đến nay, ban quản lý đã hướng dẫn kỹ thuật; cung ứng cây giống, tổ chức cho các hộ nhận khoán trồng mới được gần 2.000 ha rừng.
Do làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ nên diện tích rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Xuân quản lý phát triển tốt, không xảy ra cháy rừng. Không có tình trạng tranh chấp đất rừng, an ninh rừng được giữ vững. (Báo Thanh Hóa 27/9) đầu trang(
27/9, UBND huyện Bình Sơn đã tổ chức lễ đón nhận bằng công nhận cây di sản VN cho cây kơ nia tại thôn An Điềm 1, xã Bình Chương, có tuổi đời trên 500 năm; chu vi gốc 4m, cao hơn 10m. (Thanh Niên 28/9, tr2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Báo Nông Thôn Ngày Nay có bài “Ngang nhiên bán rừng phòng hộ” với nội dung phản ánh việc chuyển đổi 200ha rừng phòng hộ sang rừng sản xuất, từ trồng cao su sang trồng keo và mua bán chuyển đất trái phép tại dự án này...
Sau khi báo đăng, ngày 19.9 UBND tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản số 8746 chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Như Thanh kiểm tra xác minh làm rõ nội dung báo nêu, báo cáo UBND tỉnh và trả lời báo Danviet.vn (báo Điện tử của Báo NTNN) trước ngày 5.10.
Báo NTNN hoan nghênh tinh thần tiếp thu và xử lý vụ việc của UBND tỉnh Thanh Hóa. PV sẽ tiếp tục thông tin đến độc giả vụ việc này sau khi có kết luận của cơ quan chức năng. (Nông Thôn Ngày Nay 29/9, tr6) đầu trang(
Cây keo lai với lợi thế dễ trồng, nhanh thu hoạch và giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần so với cây tràm, đang được người dân phát triển ở lâm phần U Minh Hạ (thuộc các huyện U Minh, Thới Bình, Trần Văn Thời).
Ông Lâm Văn Sơn, chủ hộ trồng rừng tại xã Khánh An (huyện U Minh) cho biết: Trồng tràm từ 7 - 8 năm mới có thể thu hoạch, mỗi ha được 30 triệu đồng. Trồng keo lai sau 5 năm đã có thể thu hoạch. Với giá bán hiện nay khoảng 800 đồng/kg, trung bình mỗi ha keo lai, có thể cho thu 200 triệu đồng.
Theo đánh giá của các ngành chức năng, keo lai sẽ là loài cây lâm nghiệp thế mạnh của Cà Mau trong thời gian tới. Ưu điểm của keo lai là chịu được khô hạn, phèn mặn, thích hợp với vùng đất rừng U Minh. Đặc biệt, loài cây này rất nhanh lớn, trồng từ 3 - 5 năm là đã có thể thu hoạch.
Ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN-PTNT Cà Mau cho biết, đến nay có khoảng 5.000 ha keo lai được trồng tập trung tại lâm phần U Minh Hạ. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/9, tr13) đầu trang(
28-9, kết luận tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về bố trí vốn cho các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ cho phép sử dụng 3000 tỷ đồng vốn vay ODA thông qua Chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC) để đầu tư các dự án ứng phó với biến đổi khí hậu trong năm 2015.
Theo đó, nguồn vốn này sẽ được đầu tư cho 16 dự án chuyển tiếp đã được bố trí vốn Chương trình SP-RCC từ các năm trước, tập trung cho các dự án trồng rừng ngập mặn ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn (trong đó bao gồm cả các hạng mục trồng rừng của các dự án thuộc danh mục Chương trình SP-RCC).
Thủ tướng lưu ý, cần ưu tiên cho các dự án trồng rừng ngập mặn ven biển; các dự án đê biển xung yếu ứng phó với biến đổi khí hậu, có tác động trực tiếp đến khu vực dân cư.
Theo yêu cầu của Thủ tướng, việc giải ngân chỉ được thực hiện khi các dự án bảo đảm đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật. Các địa phương triển khai phê duyệt dự án theo quy định quản lý về đầu tư và chỉ triển khai sau khi có ý kiến thẩm định của các bộ quản lý ngành về thiết kế kỹ thuật dự án.
Các bộ quản lý chuyên ngành phải xây dựng cơ chế để giám sát chặt chẽ, bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng một cách có hiệu quả, tránh lãng phí. (Quân Đội Nhân Dân 28/9; Nông Nghiệp Việt Nam 28/9) đầu trang(
Huyện Tân Phú (Đồng Nai) vừa có văn bản kiến nghị UBND tỉnh Đồng Nai không thu hồi đối với 26 sổ đỏ (26 thửa, tổng diện tích hơn 23 ha) đã cấp cho 13 hộ dân xã Phú An, Nam Cát Tiên (huyện Tân Phú) đã cấp nhầm trước đó.
Riêng đối với 14 giấy đỏ (14 thửa, tổng diện tích 11,9 ha) đã cấp cho 14 hộ dân xã Nam Cát Tiên thì UBND huyện Tân Phú sẽ tiến hành thu hồi vì khi đăng ký, các hộ dân khai nguồn gốc đất lâm nghiệp và đăng ký nhận khoán quản lý bảo vệ rừng với Lâm trường 600.
Theo huyện Tân Phú, không thu hồi 26 giấy đỏ vì diện tích đất này các hộ dân khai phá từ năm 1985 trước khi thành lập xã và thành lập Lâm trường 600 (nay là BQL rừng phòng hộ 600). Nếu thu hồi 26 giấy đỏ trên giao cho BQL rừng phòng hộ 600 thì các hộ dân không còn diện tích đất nào khác. Hơn nữa, hiện trên đất này đã trồng cây lâu năm, có nhà, công trình phụ… và người dân gắn bó từ năm 1985 đến giờ…
Như đã thông tin, sau khi phát hiện cấp nhầm giấy đỏ cho 46 hộ dân ở hai xã Phú An và Nam Cát Tiên, huyện Tân Phú ra quyết định thu hồi nhưng nhiều hộ dân phản ứng gay gắt… (Pháp Luật TPHCM 29/9) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) đang xây dựng Thông tư hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững đối với rừng tự nhiên, rừng trồng là rừng sản xuất và rừng phòng hộ, dự kiến ban hành trong năm 2014.
Theo đó, Bộ xác định nguyên tắc quản lý rừng bền vững bao gồm: (i)- chủ rừng chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật; thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là thành viên; (ii) – bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài, liên tục với hiệu quả kinh tế ngày càng cao bao gồm cả các sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; thực hiện các biện pháp tăng năng suất, chất lượng rừng; (iii)- bảo đảm hài hòa quyền sử dụng rừng và đất sản xuất của người dân, thực hiện tốt các nghĩa vụ an sinh xã hội; thu hút lao động, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người lao động; (iv)- bảo tồn, duy trì được giá trị sinh học, khả năng phòng hộ của rừng; không thực hiện các hoạt động gây ảnh hưởng xấu môi trường, cảnh quan và hệ sinh thái khác.
Cũng theo Bộ NN&PTNT, trong xây dựng phương án quản lý cần tính toán hiệu quả về kinh tế và xã hội – môi trường trong đó.
Về hiệu quả kinh tế, cần xác định tổng sản lượng gỗ tròn, lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng trong cả luân kỳ, các giai đoạn 5 năm và từng năm; tổng khối lượng sản phẩm gỗ và lâm sản chế biến cả luân kỳ; các giai đoạn 5 năm và từng năm; tổng số lượng hoặc khối lượng sản phẩm đạt được từ các hoạt động khác; tổng doanh thu và lợi nhuận trong cả luân kỳ, các giai đoạn 5 năm và từng năm; nộp ngân sách Nhà nước trong cả luân kỳ, các giai đoạn 5 năm và từng năm; tốc độ tăng trưởng, thu nhập bình quân người lao động và giá trị kinh tế khác đóng góp cho xã hội.
Về hiệu quả xã hội, cần đánh giá tổng số lao động có việc làm và có thu nhập ổn định, lợi ích kinh tế mà các hộ gia đình, cộng đồng dân cư được hưởng lợi từ kết quả sản xuất, kinh doanh của chủ rừng; công trình được xây dựng, nâng cấp, số công trình phúc lợi mà người dân, cộng đồng dân cư được hưởng lợi.
Về hiệu quả môi trường, cần thống kê tổng diện tích rừng tăng thêm, độ che phủ của rừng đạt được sau luân kỳ hoặc chu kỳ kinh doanh; kết quả các hoạt động đạt được đã góp phần nâng cao tính đa dạng sinh học, bảo vệ đất, nguồn nước và các nguồn lợi khác.
Bộ NN&PTNT còn quy định khá chi tiết về thẩm định, phê duyệt và kiểm tra giám sát thực hiện phương án cũng như các quy định về chứng chỉ quản lý rừng bền vững, coi đó là những nội dung bảo đảm việc quản lý rừng thực sự bền vững. (Đảng Cộng Sản VN 26/9) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Ngãi đề nghị Bộ Tài Nguyên & Môi Trường đầu tư dự án trồng mới và phục hồi rừng ngập mặn ven biển khu vực cửa sông Trà Bồng, huyện Bình Sơn, với quy mô 130ha, tổng mức đầu tư 30 tỷ đồng. (Thanh Niên 29/9, tr2) đầu trang(
Mới đây, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước đã tổ chức thành công Kế hoạch số 432/KH-KL ngày 04/6/2014 về việc tổ chức Hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi, năm 2014.
Đây là lần thứ 2 (lần đầu được tổ chức vào năm 2012), Hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi được tổ chức trong toàn lực lượng Kiểm lâm, nhằm mục tiêu tạo cơ hội để cán bộ, công chức Kiểm lâm trên toàn tỉnh có thể giao lưu, trao đổi, học tập chuyên môn nghiệp vụ cao hơn, sâu hơn; xử lý nhanh các tình huống nghiệp vụ chuyên ngành; nâng cao các khả năng nắm bắt, diễn đạt trong giao tiếp, góp phần vào việc  củng cố, học tập nâng cao kiến thức pháp luật cho bản thân, cho công tác hàng ngày tại các địa phương.
Đồng thời; qua đó, giúp lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm nắm được cơ bản về trình độ nghiệp vụ của cán bộ, công chức Kiểm lâm hiện nay để có giải pháp kiện toàn, nâng cao trình độ về chính trị, đạo đức, nghiệp vụ trong toàn lực lượng trong thời gian tới.
Tham gia Hội thi có 80 thí sinh là cán bộ, công chức thuộc 08 Hạt Kiểm lâm các huyện, thị, Vườn Quốc gia Bù Gia Mập và 02 Đội kiểm lâm cơ động & PCCCR thuộc Chi cục Kiểm lâm, được chia đều thành 05 Cụm thi (16 thí sinh/cụm) tại các huyện, thị là Chơn Thành, Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp và Đồng Xoài.
Tại mỗi Cụm, các thí sinh tham gia tranh tài với 03 phần thi là: Tự giới thiệu; Kiến thức (gồm trắc nghiệm và xử lý tình huống) và sáng kiến – kinh nghiệm trong công tác kiểm lâm tại cơ sở.
Đối với phần thi tự giới thiệu: Các thí sinh lần lượt lên và tự giới thiệu sơ lược về bản thân; cơ quan, đơn vị hoặc địa bàn quản lý. Nêu khái quát tình hình thực tế hoặc những điểm nổi bật của đơn vị hoặc địa bàn quản lý trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng trong khoảng thời gian là 05 phút và điểm tối đa cho phần thi này là 10 điểm.
Tại phần thi kiến thức, các thí sinh được chia thành 02 lượt thi, gồm: Phần thi trắc nghiệm với 10 câu hỏi; điểm tối đa cho phần thi này là 10 điểm và phần thi xử lý tình huống: Mỗi thí sinh bắt thăm lựa chọn tình huống trong bộ đề thi và trả lời trong khoảng thời gian 07 phút. Nếu còn thời gian thì các thí sinh khác được quyền đóng góp ý kiến xây dựng. Thí sinh trả lời chính được tối đa 20 điểm, còn các thí sinh đóng góp ý kiến tối đa là 04 điểm.
Phần thi sáng kiến – kinh nghiệm: Các thí sinh đánh máy bài viết về những sáng kiến – kinh nghiệm của bản thân trong các lĩnh vực công tác tại cơ sở và nộp cho Ban tổ chức. Ban tổ chức tổng hợp và công bố cho điểm từng bài và sau đó lựa chọn ra một số bài tiêu biểu để thuyết trình trước Hội thi.
Kết thúc phần thi tại mỗi cụm, Tổ thư ký Hội thi tổng hợp số điểm của Ban Giám khảo và báo cáo kết quả thi của các thí sinh. Ban tổ chức nhận xét chất lượng của từng Cụm thi và đã tiến hành trao giải thưởng cho các thí sinh đạt giải gồm 01 giải nhất, 01 giải nhì và 02 giải ba.
Hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi do Chi cục Kiểm lâm tổ chức đã kết thúc vào ngày 16/9 tại cụm thi huyện Bù Đốp.
Theo đánh giá Ban tổ chức, Hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi, năm 2014 đã được thực hiện thành công tốt đẹp. Các đơn vị đăng cai tổ chức 05 Cụm thi đã chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức Hội thi; các thí sinh đã tích cực học tập, nghiên cứu về nghiệp vụ Kiểm lâm, tích cực tham gia các phần thi trên tinh thần giao lưu học hỏi và đã hoàn thành tốt các phần thi của mình; Ban Giám khảo và Tổ Thư ký đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trên cơ sở công minh, khách quan.
Qua trao đổi, góp ý, các thí sinh tham gia Hội thi đều đánh giá cao chất lượng của Hội thi và mong muốn Hội thi Kiểm lâm địa bàn giỏi được Chi cục Kiểm lâm duy trì tổ chức trong thời gian tới. (Kiểm Lâm Bình Phước 26/9) đầu trang(
25-9, đoàn cán bộ Thanh tra Chính phủ do ông Nguyễn Đức Hương, Phó cục trưởng Cục 3 Thanh tra Chính phủ làm trưởng đoàn tiếp tục ngày làm việc thứ hai về thanh tra việc chấp hành pháp luật trong giao đất, giao rừng tại thị xã Đồng Xoài.
Báo cáo của UBND thị xã cho thấy: Từ năm 2011 đến nay, thị xã đã chuyển mục đích sử dụng 110,7 ha đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp, trong đó đất ở 25,68 ha, đất sản xuất - kinh doanh 30,67 ha, đất có mục đích công cộng 10,53 ha và một số loại đất khác.
Ngoài 32 dự án trong khu trung tâm hành chính thị xã được triển khai xong, UBND thị xã còn hỗ trợ tái định cư cho 33 dự án khác. Hiện trên địa bàn thị xã có 5 khu công nghiệp với tổng diện tích 717,4 ha, trong đó 2 khu công nghiệp đã hoạt động.
Việc giao đất, cho thuê đất đều được thị xã thực hiện đúng quy trình  thủ tục, đặc biệt sau khi thành lập bộ phận nhận hồ sơ và trả kết quả, đồng thời triển khai mô hình “một cửa điện tử”, các thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai được giải quyết nhanh chóng, chính xác và giảm bớt phiền hà cho người dân.
Đoàn thanh tra đã yêu cầu UBND thị xã làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến quy trình thực hiện các dự án bồi thường, giải phóng mặt bằng, xét giao đất tái định cư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Dự kiến đoàn sẽ làm việc tại thị xã Đồng Xoài từ 5 đến 6 ngày. (Báo Bình Phước 26/9)  đầu trang(
UBND tỉnh vừa đồng ý cho Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Nam Long đầu tư dự án Trồng rừng, bảo vệ và trồng xen cây dược liệu tại xã Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân).
Dự án có tổng vốn đầu tư hơn 5,4 tỉ đồng, triển khai trên diện tích khoảng 120ha; trong đó, trồng rừng sản xuất 30ha, trồng rừng phòng hộ xen cây dược liệu 86ha, còn lại dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ công tác lâm sinh.
Đây là dự án đầu tư trong lĩnh vực trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; trong đó, nhà đầu tư trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất bằng cây bản địa kết hợp với trồng xen các loại cây như keo lai, gió gạch và một số loại cây gỗ có giá trị kinh tế khác.
Dự án khi đi vào hoạt động sẽ góp phần bảo tồn nguồn gen một số cây dược liệu quý, tạo công ăn việc làm cho lao động địa phương, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sống và đa dạng sinh thái rừng… (Báo Phú Yên 27/9) đầu trang(
Hiện nay, các đơn vị quản lý và chủ rừng trong huyện U Minh đang đẩy nhanh công tác trồng rừng, phấn đấu hoàn thành đạt và vượt kế hoạch đã đề ra trong năm 2014.
Năm nay, trong chỉ tiêu trồng 2.640 ha rừng của huyện U Minh, thì diện tích trồng rừng tại Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ chiếm gần 60% với 1.500 ha. Trong đó, trồng mới là 650 ha, còn lại là trồng rừng sau khai thác.
Năm nay, các hộ trồng rừng chủ yếu thực hiện theo hình thức thâm canh. Mặc dù chi phí đầu tư ban đầu khá lớn, khoảng 12 triệu đồng/1 ha, nhưng bù lại cây tràm sẽ phát triển nhanh hơn, rút ngắn được chu kỳ khai thác xuống còn 5-6 năm và giảm chi phí trong công tác phòng chống cháy rừng. Đặc biệt, thu nhập của trồng rừng thâm canh cao hơn từ 30-50 triệu đồng/1 ha so với trồng rừng quảng canh truyền thống.
Để chủ động trong công tác trồng rừng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ đã tự sản xuất được tràm giống và keo lai giống, đảm bảo dùng trong nội bộ công ty và bán cho những hộ dân bên ngoài. (Đài PTTH Cà Mau 26/9) đầu trang(
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ba Bể lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đề ra chỉ tiêu đến năm 2015 toàn huyện trồng 10.248ha rừng. Bằng nhiều giải pháp,đến nay diện tích trồng rừng mới của toàn huyện đã đạt và vượt chỉ tiêu.
Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện Ba Bể lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2010 - 2015 đề ra chỉ tiêu đến năm 2015 toàn huyện trồng được 10. 248 ha rừng. Để đạt được kết quả đó, huyện đã  đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, tập huấn khoa học kỹ thuật, triển khai hỗ trợ người dân trồng rừng theo quy định.
Cùng với đó huyện cũng đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn, tạo điều kiện cho việc bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có và đẩy mạnh hoạt động trồng rừng trên đất lâm nghiệp.
Chính vì vậy, phong trào trồng rừng được triển khai rộng khắp. Từ năm 2010 - 2014 tổng diện tích rừng đã trồng được của huyện được  10.451ha, đạt 102% so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra đến năm 2015 và nâng  độ che phủ rừng toàn huyện lên 65%. Trong đó, một số địa phương phát triển mạnh kinh tế đồi rừng như: xã Mỹ Phương, Hà Hiệu, Chu Hương, Yến Dương…
Thực hiện Dự án trồng rừng theo Quyết định 147 của Chính phủ đã giúp cho công tác trồng rừng trong những năm qua tại xã Thượng Giáo, huyện Ba Bể  có sự chuyển biến mạnh mẽ. Xã đã tiến hành rà soát quỹ đất để đăng ký trồng rừng, dựa vào đó giao chỉ tiêu cho từng thôn và tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích của trồng rừng nhằm nâng cao nhận thức cho nhân dân để bà con nỗ lực, tâm  huyết với việc phát triển rừng.
Ông Hoàng Thăng Quân - Phó Chủ tịch UBND xã Thượng Giáo cho biết: "Xã Thượng Giáo trồng rừng trên cơ sở rà soát quỹ đất và nhu cầu trồng rừng của người dân để triển khai thực hiện. Để đảm bảo chất lượng rừng trồng và tránh lãng phí, chúng tôi tiến hành họp dân vận động các hộ dân có điều kiện tự nguyện đăng ký trồng".
Ông Hà Văn Trường, Chủ tịch UBND huyện Ba Bể cho biết: Trong thời gian qua, huyện Ba Bể luôn bám sát thuận lợi khó khăn của từng xã rồi giao chỉ tiêu. Huyện có thuận lợi khi 2 Ban quản lý và phát triển trồng rừng của huyện và của Vườn quốc gia Ba Bể phối hợp thực hiện tốt, phân chia theo từng khu. Huyện đã quy hoạch và quản lý được nhiều vườn ươm, thuận lợi cho việc cung ứng cây giống.
Nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, đúng hướng, hiệu quả mà công tác phát triển rừng trên địa bàn huyện Ba Bể trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.
Trong năm 2015, huyện dự kiến tiếp tục triển khai trồng mới 1.300ha rừng tại 9/16 xã, thị trấn. Việc trồng rừng và phát triển rừng không chỉ trở thành phong trào  mà còn là bước chuyển trong nhận thức của người dân nơi đây về phát triển kinh tế lâm nghiệp. (Đài PTTH Bắc Kạn 27/9) đầu trang(
Thực hiện Kết luận số 220-TB/HU, ngày 08/9/2014 của Ban Thường vụ Huyện ủy về lãnh đạo tiếp tục trồng rừng mới năm 2014, Nghị quyết Hội đồng nhân dân huyện đề ra chỉ tiêu kế hoạch trồng mới 1.000 ha.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng trong khung thời vụ, ngay từ khi được UBND huyện giao kế hoạch về diện tích thực hiện cho UBND các xã, thị trấn, chỉ đạo phòng Nông nghiệp và PTNT đã phối hợp với UBND các xã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động các hộ gia đình đăng ký trồng rừng.
Trong 9 tháng, tổ chức thực hiện trồng rừng được với tổng diện tích 868,2 ha, đạt 86,82% KH, cụ thể: Rừng sản xuất 134,92ha thực hiện tại xã Hoa Thám; trồng rừng phòng hộ 40,0 ha thực hiện tại xã Hồng Phong; trồng cây phân tán 509,29 ha; Tết trồng cây và nhân dân tự trồng thực hiện tại 20 xã, thị trấn thực hiện được 138,99 ha, Dự án Minh Hợp 45,0 ha.
Đánh giá về trồng rừng mới năm 2014 trên địa bàn huyện tiếp tục được các cấp ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm chỉ đạo, nhân dân các xã tích cực tham gia thực hiện. Tuy nhiên, so với vụ trồng rừng năm 2013, tiến độ vụ trồng rừng năm nay chậm hơn.
Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của thời tiết, phải kéo dài thời gian trồng rừng, dẫn đến tiến độ trồng rừng của các địa phương đã bị ảnh hưởng; nguồn vốn được phân bổ cho trồng rừng mới còn hạn chế;  bên cạnh đó do tăng suất đầu tư đối với dự án trồng rừng sản xuất từ 3 triệu đồng/ ha lên 4,5 triệu đồng/ha đối với dự án trồng rừng sản xuất theo Quyết định số 2000/QĐ-UBND ngày 17/12/2013 của UBND tỉnh đã làm giảm diện tích thực hiện.
Để chỉ đạo tiếp tục trồng rừng với diện tích là 131,8 ha để đạt chỉ tiêu kế hoạch năm 2014 là 1.000 ha. UBND huyện xây dựng kế hoạch chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh trồng rừng năm 2014 cụ thể như sau:  Thực hiện đạt mục tiêu Nghị quyết Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2010- 2015: trồng rừng mới 5.000 ha.
Tập trung chỉ đạo bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; chỉ đạo trồng rừng diện tích tối thiểu đạt 131,8 ha trở lên, để hoàn thành kế hoạch cả năm 1.000 ha và chuẩn bị tốt các điều kiện cho thực hiện kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2015.
Tiếp tục chỉ đạo quyết liệt, sự nhập cuộc của các cấp, các ngành và người dân nhằm hoàn thành tốt kế hoạch trồng rừng mới năm 2014; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền tới hộ gia đình, cá nhân tiếp tục đăng ký và tích cực tham gia trồng rừng. (Langson.gov.vn 26/9) đầu trang(
Huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận nằm trong khu vực khô hạn của vùng Nam Trung bộ, nhiệt độ cao, thường xuyên chịu tác động của bão, khu vực này càng trở nên khắc nghiệt do tác động của biến đổi khí hậu.
Những hiện tượng này đã tác động không nhỏ đến các lĩnh vực sản xuất, đời sống người dân trên đảo. Chính vì vậy, Phú Quý được chọn triển khai nhiều đề tài khoa học và công nghệ mang ý nghĩa rất thiết thực, nhằm mục tiêu góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo chức năng phòng hộ, chống biển đổi khí hậu tại đây.
Phú Quý có diện tích tự nhiên khoảng 17 km2 nằm về phía Đông Nam tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 120 km, dân số khoảng 27.000 người. Bên cạnh những điều kiện thiên nhiên ưu đãi cho việc khai thác, nuôi trồng và đánh bắt hải sản thì nền sản xuất nông nghiệp của người dân nơi đây gặp nhiều khó khăn, bất lợi như: đất đai kém dinh dưỡng; nước tưới thiếu hụt; vùng đồi cao ảnh hưởng bởi gió khắc nghiệt…
Tháng 8/2013, Bình Thuận triển khai 2 đề tài tại huyện đảo Phú Quý, gồm: “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng một số cây trồng cạn trên vùng đất cát Phú Quý” và “Thử nghiệm trồng rừng ngập mặn trong các điều kiện khác nhau trên địa bàn huyện Phú Quý”.
Đây là hai nhiệm vụ khoa học và công nghệ mang ý nghĩa rất thiết thực, nhằm mục tiêu góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo chức năng phòng hộ, chống biển đổi khí hậu cho huyện đảo này.
Qua một năm triển khai, các đề tài bước đầu đã mang lại một số kết quả thiết thực. Đối với đề tài “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất và chất lượng một số cây trồng cạn trên vùng đất cát Phú Quý”, Trung tâm khuyến nông - khuyến ngư tỉnh đã triển khai 2 mô hình thâm canh giống mới: giống lạc HL25 và giống sắn KM 98-1 với tổng diện tích 2.000 m2 tại hai xã Tam Thanh và Ngũ Phụng. Mô hình bước đầu cho kết quả khả quan, các giống cây điều thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên tại đảo và cho năng suất trung bình cao hơn sản xuất của người dân trước đây. Điều đáng mừng là giống mới này phát triển trên nền đất cát mà trước đây người dân sản xuất rất khó khăn.
Đối với đề tài “Thử nghiệm trồng rừng ngập mặn trong các điều kiện khác nhau trên địa bàn huyện Phú Quý” đã trồng được 8.000 cây Đưng và Đước tại những vùng ngập mặn ven biển của 3 xã Tam Thanh, Long Hải và Ngũ Phụng.
Tuy mới trồng thử nghiệm cây ngập mặn ở đảo, nhưng bước đầu đã có dấu hiệu khả thi, tỉ lệ cây sống và phát triển xanh tốt đạt trên 70%. Theo Trạm Nông lâm nghiệp Phú Quý, đây là tín hiệu khả thi cho việc phát triển rừng ngập mặn trên đảo.
Việc trồng cây ngập mặn đã được triển khai ở nhiều nơi, tuy nhiên, đó là trong các điều kiện bình thường; còn trong điều kiện trên nền cát, đá và tác động mạnh của sóng, gió… thì đây là lần đầu tiên được triển khai trồng trên đảo. Hiện những cây trồng ngập mặn đang phát triển đã tạo môi trường sinh thái trên các bãi đá ven biển, hình thành dãy cây xanh chắn sóng và đây cũng là nơi tạo điều kiện cho các loài sinh vật biển trú ngụ và sinh trưởng.
Hiện nay, Phú Quý cũng đang triển khai thực hiện các mô hình mới như: Nuôi lợn rừng lai, trồng rau trên cát, mô hình nuôi cua đá… Với những mô hình mới và các đề tài khoa học đang được triển khai đã mang lại cho đảo một sự đổi thay mạnh mẽ không những người dân phát triển kinh tế mà còn giúp đảo Phú Quý chống lại thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu gây ra. (Báo Điện Tử Quốc Phòng 28/9) đầu trang(
Xuất phát từ nhu cầu của thị trường, nhiều nông dân ở huyện Phước Long đã đầu tư vốn để phát triển mô hình chăn nuôi các loại động vật hoang dã.
Điều này không chỉ góp phần làm giảm áp lực từ việc săn bắt, khai thác động vật hoang dã trong tự nhiên, mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi.
Hiện nay, ở huyện Phước Long có hàng trăm hộ nuôi cá sấu theo mô hình trang trại từ 3.000 - 5.000 con trở lên, và rất nhiều hộ nuôi cá sấu thương phẩm với số lượng từ 50 - 100 con. Phần lớn những hộ nuôi cá sấu đều thu lợi nhuận cao.
Điển hình như hộ ông Nguyễn Hoàng Đấu (ngụ ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long), từ khi nuôi cá sấu, ông Đấu đã giàu lên nhanh chóng. Mỗi đợt ông Đấu nuôi từ 2.000 - 3.000 con cá sấu, mỗi lần xuất bán thu lời từ 200 - 300 triệu đồng. Hiện giá cá sấu thương phẩm ở mức trên 200.000 đồng/kg nên lợi nhuận mang lại cao gấp nhiều lần so với các hình thức chăn nuôi, trồng trọt khác.
Người nuôi cá sấu ít tốn công chăm sóc và cá ít nhiễm bệnh. Thêm vào đó, huyện Phước Long có diện tích đất nuôi trồng thủy sản lớn, nguồn cá phi tự nhiên trong ruộng, ao nuôi tôm khá dồi dào. Đây chính là nguồn thức ăn cho cá sấu.
Ngoài nuôi cá sấu, người dân huyện Phước Long còn nuôi các loại động vật hoang dã khác như: chim cu, ba ba, trăn, rắn, ếch… Tuy tổng đàn không nhiều, nhưng cũng phần nào đem lại nguồn thu khá ổn định cho người dân.
Huyện Phước Long hiện có 190.700 cá thể thuộc loại động vật hoang dã. Trong đó, cá sấu là 178.000 con; trăn, rắn, ba ba là 12.000 con. Ngoài ra, người dân còn phát triển thêm các loại động vật hoang dã khác cho lợi nhuận cao như: nuôi cua đinh (xã Phong Thạnh Tây B); le le, rắn hổ đất (xã Vĩnh Phú Tây); nuôi chim cu (xã Phước Long); thỏ, nhím (thị trấn Phước Long)…
Mô hình chăn nuôi động vật hoang dã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Song, để người dân an tâm phát triển, việc chăn nuôi không chạy theo phong trào, ngành quản lý cần có quy hoạch nhằm giúp người dân chủ động phòng tránh rủi ro.
Để đảm bảo an toàn trong sản xuất nông nghiệp và tránh tình trạng chăn nuôi vượt tầm kiểm soát, UBND huyện Phước Long đã chỉ đạo các ngành chức năng xây dựng quy hoạch, định hướng cho người dân về cây trồng - vật nuôi; nắm vững kỹ thuật sản xuất và gắn sản xuất với nhu cầu thị trường.
Đồng thời phải có sự liên kết giữa Nhà nước với doanh nghiệp và người chăn nuôi. Đối với việc gây nuôi các loại động vật hoang dã nguy hiểm như rắn, cá sấu thì hướng dẫn hộ nuôi thực hiện nghiêm ngặt quy trình nuôi để không gây nguy hiểm cho người nuôi cũng như cộng đồng dân cư. (Báo Bạc Liêu 26/9) đầu trang(
Được Phó Bí thư Huyện ủy Lạc Thủy Bùi Văn Trường cho biết diện tích đất rừng của huyện chiếm 67% diện tích tự nhiên; Lạc Thủy là địa phương có phong trào trồng rừng rất sớm và hiện đang là huyện dẫn đầu toàn tỉnh về nghề rừng…
Nghệ sỹ nhiếp ảnh Bùi Quyết Tiến đưa PV đến xã Đồng Môn cách thị trấn Chi Nê gần 20km để gặp “vua rừng” Nguyễn Đức Thái, người đang sở hữu và thâm canh gần 40ha rừng một cách đầy sáng tạo. Trên đường đi, ký ức tràn về, liên tưởng việc trồng rừng mà PV dính dáng từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước.
Đó là năm 1993, nhận nhiệm vụ Phó Giám thị Trại tạm giam, Công an tỉnh Hòa Bình, được tiếp quản hàng trăm hecta rừng trồng theo dự án 3352, rồi 327 tại 2 xã Bắc Phong và Thu Phong (huyện Cao Phong ngày nay) mà PV cứ ngơ ngác. Mang tiếng là rừng trồng mà phải tìm cây trong lau lách. Lại nữa diện tích từ đâu đến đâu cứ u u, minh minh. Năm tháng bao cấp đói kém, để có gạo ăn, không ít người phấn khởi tham gia dự án chứ không nghĩ rồi sau đó rừng sẽ như thế nào?
Đang chìm trong hồi tưởng, anh Bùi Quyết Tiến kéo PV về thực tại: “Vào đến rừng của ông Thái rồi đấy!”. PV giật mình bởi màu xanh, xanh ngút ngát, xanh miên man và tĩnh lặng đến thâm trầm. Con đường liên xã trải nhựa như con trăn khổng lồ mà hiền hòa uốn lượn giữa rừng xanh.
Đang trưa hè nóng như rang mà nhiều đoạn không có một bóng nắng lọt xuống mặt đường. Một khuôn viên khang trang với cổng sắt rộng mở giữa rừng, xe PV cứ thế tiến thẳng vào sân. Người đàn ông ngoài 60 tuổi, giản dị, nhanh nhẹn, săn chắc cứ để nguyên áo 3 lỗ đang mặc tiếp khách mà câu chuyện từ ông cứ như suối nguồn tỏa ra bao điều làm ngỡ ngàng.
Sau 20 làm anh bộ đội, bệnh binh Nguyễn Đức Thái ra quân về lại quê hương Phú Lão – Lạc Thủy. Đang loay hoay kiếm kế sinh nhai trong giai đoạn cuối thời bao cấp, đầu kỳ mở cửa thì ông gặp dự án 3352 – trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Tại Phú Lão quê ông không có diện tích lớn để trồng rừng, ông Thái khoác ba lô vào Đồng Môn – một xã vùng sâu, khó khăn của huyện Lạc Thủy để nhận đất.
Ngay năm 1990, ông đã nhận đến 20 ha đất trống và vay ngân hàng trên 60 triệu đồng để trồng rừng. Những người quen biết ông, thậm chí cũng nhận đất trồng rừng nhưng chỉ với mục đích lấy gạo thì cười bảo “ông này có vấn đề”.
Hằng ngày ông Thái cùng gần 30 con người lăn lộn trồng rừng, và phải hơn hai năm sau vợ ông mới vào Đồng Môn cùng ông. Nay vợ ông tâm sự: “Thực lòng lúc ấy tôi vào đây vì sợ ông ấy chết vì trồng rừng chứ tuyệt nhiên không hy vọng giàu có gì ở đây cả”. Vốn liếng đầu tư là thế, tinh thần quyết tâm là thế mà 6-7 năm sau những cây bạch đàn còi cọc dặt dẹo như đứng chịu tang trước mắt người.
Nhận ra thứ cây này không phù hợp, ông Thái quyết định chặt bỏ không thương tiếc dù phải chịu lỗ tiền vay ngân hàng. Lúc này, những người thân trong gia đình họp nhau lại, bàn đóng góp mỗi nhà một ít, giúp ông Thái để ông quay về quê cũ làm ăn. Thậm chí có cả người lãnh đạo huyện khuyên ông: “Hết dự án rồi thì ra chứ ở đấy ôm cây chờ đợi thì chết à?”.
Sau một tuần suy nghĩ, ông Thái quyết định không bỏ rừng. Năm 1999, ông Thái bắt đầu trồng 5ha cây keo. Thấy cây keo phát triển tốt, ông tăng diện tích trồng keo và đến 2004 lên đến 30ha. Năm 2006, lô keo đầu tiên đến kỳ khai thác thu 35 triệu đồng/ha, một trang mới về nghề rừng đã mở ra với ông.
Thấy ông Thái là đảng viên mà thuê người làm, không ít ý kiến cho thế là bóc lột, mà “đảng viên thì không được bóc lột”. Bị kiểm điểm, ông Thái “quật” lại: Nếu thuê người trồng rừng mà là bóc lột và đảng viên không được làm thì ông sẵn sàng xin ra khỏi Đảng chứ không bỏ rừng. Rất may tư duy ấu trĩ này sớm được tháo gỡ nên ông Thái vẫn còn là đảng viên và vinh dự nhận Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng gần đây.
Ông Thái khoe rừng một năm của ông bằng rừng hai năm của người khác là bởi cách trồng, cách chăm sóc và chặt tỉa không thương tiếc của ông. Nhớ lại thuở mới trồng cây keo, một vị lãnh đạo lâm trường lúc đó phản ứng gay gắt vì ông Thái không tuân thủ đúng kỹ thuật được hướng dẫn, hàng cách hàng 3m, cây cách cây 3m mà lại chỉ hàng cách hàng 3m còn cây cách cây chỉ 1,5m thôi.
Không biết ngay lúc đó ông Thái thanh minh với vị kỹ sư lâm nghiệp kia thế nào, chứ bây giờ, ngồi giữa rừng keo của ông, nghe ông giải thích tôi không thể diễn tả hết sự dễ hiểu, thú vị và hưng phấn của cả người nghe và người nói.
Theo ông Thái, cũng như những cây trồng khác, cây keo cần ba yếu tố là ánh sáng, độ ẩm và phân bón. Tạm thời nếu chưa mang phân lên bón thì tìm cách làm giàu đất của chính thứ cây này. Vậy ngay từ đầu phải chú ý đến ánh sáng và độ ẩm. Lúc mới trồng, cây còn nhỏ, ánh sáng dồi dào nên chưa cần phải cách nhau đến 3m vẫn thừa ánh sáng.
Nhưng còn độ ẩm, cây còn nhỏ như thế mà cách nhau những 3m là quá thưa, khoảng trống quá lớn, đất mất độ ẩm. Chính thế, ông Thái chỉ tuân thủ hàng cách hàng 3m còn cây cách cây chỉ 1,5m để giữ độ ẩm giai đoạn cây còn nhỏ này. Đến năm thứ hai, ông bắt đầu cứ cây cách cây để tỉa.
Đây là lúc mà mọi người thấy rất xót khi ông Thái chặt bỏ cây. Hai cây đứng cạnh nhau, cây nào kém hơn là ông loại dù cây đó to hơn, đẹp hơn cây 2 năm, 3 năm tuổi của người khác rất nhiều. Chặt tỉa xong, cây đã phát triển chiều cao, đã lớn, cần đủ ánh sáng để quang hợp thì lúc này đảm bảo cây cách cây 3m, hàng cách hàng 3m như kỹ thuật hướng dẫn lúc đầu. Còn độ ẩm, tuổi này cây đã khép tán, tự nó giữ được độ ẩm của đất.
Lại nói về công đoạn trồng cây keo, ông Thái cuốc hố sâu đến 45cm (sâu hơn hướng dẫn) rồi vun lá khô, mùn, rác đã được đốt trộn với đất xuống, phía đất dốc trên miệng hố, ông tạo vài rãnh nhỏ để nước mưa theo đó chảy vào hố. Nước giúp mùn, rác tiếp tục phân hủy, còn mùn rác lại giữ nước, giữ độ ẩm của hố.
Đến mùa trồng cây, người khác chỉ đợi mưa xuống mới trồng, còn ông, cứ ngày nắng ông cho gánh cây giống lên đồi. Cây trồng ngày mưa, đất sũng nước khi gặp nắng, đất khô nhanh nên rất bó, cây khó bén rễ. Hố trồng cây của ông Thái đất xốp lại được mùn giữ độ ẩm nên ông trồng cây vào ngày nắng, dồi dào ánh sáng, cây nhanh bén rễ nhanh và sinh trưởng tốt, đó là chưa kể đến lượng phân ông bón lót khi trồng.
Về chu kỳ sinh trưởng của cây keo, năm thứ 5, thứ 6 rễ keo mới có nốt sần, mới có tác dụng cải tạo đất. Đến năm thứ 7 thì cây keo chững lại, đây là lúc thu hoạch được. Thu hoạch đúng tuổi vừa đảm bảo năng suất vừa cải tạo được đất rừng. Bản thân đất đã được cải tạo, khi trồng biết tạo độ ẩm, ánh sáng, thêm phân bón… thì “rừng một năm của tôi bằng rừng hai năm của người khác” không có gì là lạ - ông Thái nói.
“Lý thuyết chỉ là màu xám còn cây đời mãi mãi xanh tươi” - chân lý ấy đang rì rào xanh nơi những cánh rừng xanh tít tắp của ông Thái. Chưa hết ngạc nhiên trước những sáng kiến trồng rừng, PV lại ngạc nhiên trong việc làm cỏ rừng keo của ông.
Ông Thái cũng là người đầu tiên trồng xen sắn trong diện tích keo mới trồng. Làm cỏ sắn cũng có nghĩa làm cỏ cho keo. Đất tốt, cây sắn cho năng suất cao. Hai năm sau, keo khép tán không trồng sắn nữa thì đồng thời cũng không phải làm cỏ cho keo nữa. Vừa trồng sắn theo kiểu này, ông Thái vừa cho các hộ trồng sắn trong diện tích keo mới trồng của ông mà không phải nộp phần trăm gì cho ông cả.
Vì ông xác định người ta trồng sắn thì ông đỡ công làm cỏ, vả lại cây sắn phát triển nhanh vừa là chỗ dựa, vừa giữ độ ẩm giúp cây keo phát triển thuận lợi khi còn trứng nước. Hiện nay, ông Thái phát triển đàn gà lên đến hàng ngàn con. Dưới tán rừng keo, côn trùng nhất là mối rất nhiều, gà ăn rất chóng lớn.
Bao nhiêu hiểu biết về nghề rừng, ông say sưa phổ biến cho mọi người. Ông bảo những người miền núi làm thuê cho ông chú ý học rồi về mà trồng lấy rừng của mình, chứ chỉ đi làm thuê thì suốt đời khổ trong khi mình có đất mà bỏ trọc thì vô lý lắm. Noi gương ông, nghe lời ông, không ít người từ chỗ làm thuê, nay kinh tế đã vững vàng với từ 5 đến 7ha rừng trồng.
Trong số đó phải kể đến anh Bùi Văn Thắng ở Kim Bôi từ người làm thuê cho ông Thái nay cũng có trên 3ha rừng và thu nhập ổn định. Hội nghị gần, diễn đàn xa mời ông phát biểu, ông cứ mộc mạc chia sẻ kinh nghiệm của mình. Người dân Đồng Môn yêu quý, đảng viên tín nhiệm bầu ông làm bí thư chi bộ gần cả chục năm.
Hiện nay, ông Thái và nhiều người say đắm nghề rừng giàu có về vật chất hẳn đương nhiên. Những nhà cao cửa rộng nơi quê chính, biệt thự giữa rừng xanh, còn đi lại thì dùng xe hơi như ông Thái không hiếm. Xã Đồng Môn trên một ngàn dân đa số là người dân tộc Mường vốn là vùng sâu, nghèo đói nay đã khá giả với một trăm phần trăm nhà xây, trong xã cũng đã có tới gần chục ôtô lớn nhỏ… tất cả đều nhờ nghề rừng mà ra.
Điều đáng chú ý là trong 43 chủ rừng có thu hoạch bình quân trên 700 triệu đồng/năm ở huyện Lạc Thủy hiện nay thì tốp đầu trong số ấy không ai khác mà chính là những người nông dân sinh ra và lớn lên ở Lạc Thủy. Đó là ông Nguyễn Đức Thái ở Đồng Môn, ông Bùi Quang Thể ở Phú Thành, ông Bạch Công Tin ở An Lạc và nhiều người nữa có từ 20ha rừng trở lên. Trong khi đó, tốp đầu của công nhân lâm trường trước đây và nay thuộc Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Lạc Thủy thì có không đầy 10ha.
Trở lại Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gặp Phó Trưởng phòng Ngọ Đình Tâm, càng rõ thêm khi 27.000/62.000 dân trong huyện đang làm nghề rừng và đang sống với rừng. Lấy bình quân 110 ste/ha (đơn vị đo cây tròn xếp thành khối) và theo chu kỳ khai thác thì sản lượng toàn huyện Lạc Thủy sẽ là khoảng 82.000ste/năm, nếu đem nhân với 820.000đ/ste hiện nay thì mỗi năm thu khoảng 65 tỷ đồng. Đấy là chưa kể hàng tỷ đồng công lao động và lợi nhuận chế biến tại huyện mang lại.
Tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình, chi nhánh Lạc Thủy, Phó Giám đốc Phạm Anh Thượng chia sẻ: Hiện tại giữa đất của người dân và đất do Chi nhánh quản lý nhiều nơi còn chồng chéo. Trước đây đất rừng bỏ hoang thì lâm trường quản lý. Nay người dân đã chủ tâm làm rừng và làm có hiệu quả thì rất mừng. Chủ trương của Công ty đang cùng với địa phương bàn cắt trên 1.000ha đất rừng giao lại cho dân.
Lâm trường Lạc Thủy trước đây nay thành Chi nhánh của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình. Tên gọi đó rõ là một bước chuyển đổi từ mô hình quản lý nhà nước sang mô hình kinh doanh.
Hỏi thêm về mối quan hệ kinh tế giữa Chi nhánh Công ty với người trồng rừng ở Lạc Thủy, Phó Giám đốc Thượng cho biết: Trước đây, người trồng rừng nhận đầu tư trong cả một chu kỳ là 7 năm, Chi nhánh đầu tư từng năm. Phần đầu tư tính ra tiền, đến hết chu kỳ người nhận đầu tư trả vốn đầu tư cộng cả tiền lãi. Ngoài ra, những hộ nhận đất còn phải giao nộp sản phẩm cho Chi nhánh.
Hiện nay, người trồng rừng không nhận đầu tư cả chu kỳ nữa, nhiều người chỉ nhận đầu tư một hai năm đầu, không ít người hoàn toàn không nhận đầu tư. Nguyên do là người trồng rừng đã có tích lũy về vốn liếng, kinh nghiệm, trong đó không ít kinh nghiệm quý hơn kỹ thuật hướng dẫn trong sách. Tự họ ươm lấy cây giống, phân bón tiện chỗ nào mua chỗ đấy.
Thậm chí, họ mua một lượng lớn từ nhà máy chở thẳng về rừng. Nhưng những diện tích đất mà Chi nhánh quản lý rồi giao khoán cho dân trồng rừng thì không lẽ không đầu tư. Nếu không đầu tư gì mà thu khoán thì chẳng khác gì ngồi đấy mà thu địa tô thì trái với Luật Đất đai. Chính vậy để ràng buộc, người nhận đất của Chi nhánh, không nhiều thì ít cứ phải nhận đầu tư của Chi nhánh.
Nghề rừng ở Lạc Thủy đã phát triển lên một trình độ mới, nhưng vai trò quản lý của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp (trước đây là Lâm trường Lạc Thủy) đã không theo kịp. Một số người thuê đất trồng rừng đã trả lại đất cho Chi nhánh bởi họ không chấp nhận những phức tạp có khi đến vô lý kéo dài. Không ai xa, người yêu nghề rừng, thèm đất trồng rừng như ông Thái cũng đã trả lại Chi nhánh khoảng 10ha đất rừng.
Thiển nghĩ, đối với những hộ tự lo được từ giống, vốn, nhân công, kỹ thuật… mà không cần nhận bất cứ sự đầu tư của Chi nhánh thì hãy cứ mạnh dạn giao đất cho họ. Thay bằng việc trả gốc, lãi và nộp sản phẩm cho Chi nhánh, cuối chu kỳ (hoặc hằng năm đối với hộ mạnh), họ nộp thẳng cho huyện dưới dạng thuế đất trồng rừng thì đúng hơn, hay hơn. Và từ đó, ngân sách sẽ trích lại cho xã sở tại một phần thuế thu từ đất rừng.
Hiện tại bên ngay bên bờ sông Bôi thuộc địa phận Lạc Thủy đã xuất hiện những doanh nghiệp chế biến gỗ băm xuất khẩu. Gỗ cây keo từ các nơi kể cả Lạc Sơn, Yên Thủy, nhất là Kim Bôi kìn kìn đổ về. Hệ thống máy băm rồi băng chuyền đưa thẳng gỗ băm xuống xà lan. Theo sông Bôi, chỉ 2 ngày sau số hàng này đã được giao tại cảng Cái Lân, Hải Phòng.
Anh Thẩm Bá Diễn người Đầm Đa đang điều hành Công ty TNHH một thành viên Huy Hoàng chuyên băm gỗ keo xuất khẩu ngay thị trấn Chi Nê cho biết: Dây chuyền của anh chưa phải lớn nhất trong huyện mà công suất bình quân từ 120 – 150 tấn/ngày, mỗi chuyến xà lan chở 500 tấn gỗ băm tương đương khoảng 8ha rừng thu hoạch.
Vậy, với vài dây chuyền băm gỗ như thế này thì cứ khoảng 4 ngày, hàng chục hecta rừng keo được chế biến tại huyện mang đi xuất khẩu. Riêng dây chuyền của anh Diễn thường xuyên có 26 lao động tại chỗ với mức lương 5 triệu đồng/tháng. Anh Diễn khẳng định: thóc gạo bây giờ có khi ế, nhưng gỗ keo thì khai thác đến đâu hết đến đó. Việc tiêu thụ sản phẩm rừng trồng thuận lợi càng thúc đẩy nghề rừng phát triển.
Điều băn khoăn của những người trồng rừng ở Lạc Thủy nói riêng và khu vực lân cận nói chung hiện nay là chưa có một tổ chức đứng ra tiêu thụ sản phẩm rừng trồng mà cụ thể là gỗ keo. Đúng là khai thác đến đâu tiêu thụ hết đến đấy nhưng giá cả lại không ổn định do mạnh ai người nấy mua.
Trong nền kinh tế thị trường giá cả nhạy cảm là đương nhiên. Nhưng ở khâu này rất cần vai trò của Nhà nước trong quản lý thị trường, trong biện pháp bình ổn giá... giúp cho người trồng rừng không bị thiệt thòi. Được như vậy những người đang thâm canh rừng sẽ phấn khởi và yên tâm với nghề rừng hơn. (Công An Nhân Dân 27/9) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện An Lão cho biết: 9 tháng đầu năm nay huyện An Lão đã tiến hành tổ chức đấu giá khai thác và tiêu thụ hơn 16 ngàn mét khối gỗ rừng trồng tại các tiểu khu 20, 29, 38 xã An Vinh.
Trong đó có hơn 15.700m3 gỗ rừng trồng phòng hộ và hơn 577m3 gỗ rừng trồng quy họach sản xuất. Việc khai thác gỗ rừng trồng tại xã An Vinh được thực hiện theo đúng hồ sơ thiết kế và quy trình kỹ thuật đã được Sở NN&PTNT Bình Định phê duyệt.
Tuy nhiên, trong quá trình khai thác các đơn vị trúng thầu đã có những sai phạm bị Ban Quản lý rừng phòng hộ An Lão phát hiện báo cáo UBND huyện chỉ đạo chấn chỉnh kịp thời.
Đi đôi với việc làm trên, Ban Quản lý rừng phòng hộ An Lão cũng đã cử cán bộ kỹ thuật đứng chân địa bàn, hướng dẫn người nhận khóan thực hiện các quy trình kỹ thuật để trồng lại rừng sau khai thác.
Đến nay, tại xã An Vinh có 86 ha rừng sau khai thác đã được phát dọn, thực bì, đào hố chuẩn bị trồng cây keo lai và cây sao đen theo quy trình kỹ thuật và đúng quy định của Nhà nước. (Báo Bình Định 26/9) đầu trang(
Theo danh sách chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn xã Pa Khoang và Nà Tấu vừa được UBND huyện Điện Biên phê duyệt, hai xã có hơn 3.820ha rừng được chi trả DVMTR.
Cụ thể, xã Pa Khoang có hơn 320,7ha rừng được chi trả dịch vụ thuộc địa bàn 17 bản (trong đó có hơn 303ha được giao cho cộng đồng dân cư); xã Nà Tấu có trên 3.500ha rừng thuộc địa bàn 23 bản được chi trả dịch vụ, cơ bản diện tích rừng được giao cho cộng đồng dân cư quản lý bảo vệ.
Người dân 2 xã có trách nhiệm bảo vệ diện tích rừng; quản lý, sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng hiệu quả và nâng cao chất lượng rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng theo quy định của Nhà nước. (Báo Điện Biên Phủ 26/9) đầu trang(
Tỉnh có diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp trên 934.000 ha, chiếm 65% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và chiếm 40% diện tích rừng của 4 tỉnh Tây Bắc (Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình).
Năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng áp dụng chung trong cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập.
Theo ông Lương Thái Hùng, Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Sơn La, sau 3 năm triển khai thực hiện tỉnh ta đã giải ngân hơn 183 tỷ đồng trên tổng số 189,743 tỷ đồng kinh phí phải chi trả cho các chủ rừng. Người dân đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng.
Chính quyền cơ sở thực sự vào cuộc, từ công tác vận động tuyên truyền, tổ chức, điều hành quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng chống cháy chữa cháy rừng; ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng ngày càng được nâng cao.
Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể về số vụ và mức độ thiệt hại, cụ thể năm 2013 giảm 382 vụ so với năm 2009. Tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, cùng với các thu nhập khác từ rừng đã góp phần tạo thêm việc làm, cải thiện sinh kế cho người dân gắn bó với rừng.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc chi trả vẫn còn những khó khăn, tồn tại. Nhận thức của một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng, trong đó có một số công ty thủy điện trách nhiệm chưa cao, chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền dịch vụ môi trường rừng từ năm 2011, 2012 và 2013 về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh. Đặc biệt là thủy điện Suối Sập (Bắc Yên) chưa thực hiện nghĩa vụ nộp tiền từ giai đoạn thí điểm năm 2009-2010.
Với diện tích rừng của tỉnh lớn, địa hình rộng, hiểm trở, chia cắt mạnh, độ dốc lớn, giao thông cách trở và gần 64 nghìn chủ rừng. Vì vậy, công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng đến các chủ rừng còn gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian. Ngoài nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, hiện nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chưa huy động được thêm từ các nguồn thu khác, đặc biệt chưa nhận được khoản hỗ trợ ban đầu từ ngân sách Nhà nước. Một số quy định, hướng dẫn thu, quản lý, sử dụng các khoản đóng góp bắt buộc của các đối tượng bắt buộc phải nộp theo quy định còn chưa được ban hành, gây khó khăn cho việc triển khai và huy động các nguồn thu.
Thực tế hiện nay, các chủ rừng thuộc lưu vực sông Đà trên địa bàn tỉnh được chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2011-2012 với đơn giá là 220.000 đồng/ha/năm, còn lưu vực sông Mã chưa có kinh phí chi trả do chưa thu được và có thu được thì số thu sẽ rất thấp. Mặt khác nguồn thu 20 đồng/kw giờ điện, hay 40 đồng/m3 nước thương phẩm được tính vào giá thành bán điện và nước sinh hoạt thì do hộ gia đình cá nhân sử dụng chi trả hằng tháng, những công ty thủy điện, nhà máy nước sạch chỉ thu và nộp hộ. Vì vậy việc chi trả theo lưu vực chưa đảm bảo sự công bằng cho những người cùng tham gia bảo vệ rừng.
Đến hết năm 2013, trên địa bàn tỉnh có 29 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng; trong đó Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã ký hợp đồng với 15 trong tổng số 21 đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nội tỉnh; phối hợp với Quỹ Trung ương ký 6 hợp đồng ủy thác trong tổng số 8 công ty thủy điện và cơ sở sản xuất nước sạch có lưu vực liên tỉnh.
Còn 6 đơn vị nhà máy thủy điện nội tỉnh chưa ký hợp đồng, nguyên nhân do một số Công ty chưa nghiêm túc trong việc thực hiện Nghị định của Chính phủ. Kế hoạch thu tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng trong 3 năm (2011 - 2013) trên 267 tỷ đồng, nhưng thực tế đến nay mới thu được 211 tỷ đồng...
Chi trả dịch vụ môi trường rừng là chính sách đúng đắn và phù hợp với thực tiễn công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Chính sách bước đầu đã đi vào cuộc sống, gắn kết lợi ích giữa người sử dụng dịch vụ môi trường rừng và người bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, đề nghị các cấp, các ngành sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện và chế tài xử lý đối với những đơn vị sử dụng dịch vụ không thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng để đảm bảo quyền lợi cho người dân làm nghề rừng. (Báo Sơn La 26/9) đầu trang(
Quá trình phát triển kinh tế - xã hội tác động lớn tới môi trường sống. Việc trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng là một trong những biện pháp quan trọng để cân bằng sinh thái bảo vệ môi trường.
Như vậy các hoạt động kinh tế hưởng lợi trực tiếp từ môi trường rừng có nghĩa vụ phải trả phí cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.
Tại hội nghị sơ kết 3 năm triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99, ngày 24/9/2010 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2011) của Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã gọi đây là sáng kiến chính sách.
Theo Nghị định 99, các loại dịch vụ môi trường rừng được xác định là: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các bon; bảo vệ cảnh quan tự nhiên của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên cho nuôi trồng thuỷ sản.
Từ khi Nghị định được ban hành đến nay, cả nước đã có 40 tỉnh, thành (trong đó có Lạng Sơn) thành lập ban chỉ đạo thực hiện chính sách. Đến nay cả nước đã thu được hơn 3,3 nghìn tỷ đồng phí dịch vụ môi trường rừng. Tạo ra nguồn tài chính ổn định, tăng thu nhập cho người trồng và bảo vệ rừng.
Mặc dù vậy ở nhiều địa phương, trong đó có Lạng Sơn còn gặp nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Khó khăn lớn nhất là có ít nguồn thu, nguồn thu thấp và không ổn định.
Các loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Nghị định số 99 là khá rộng. Tuy nhiên đến nay các bộ, ngành Trung ương cũng mới chỉ xác định được ba nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ là: thủy điện, du lịch và kinh doanh nước. Còn các loại hình dịch vụ khác như hấp thụ, lưu giữ các bon; cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên cho nuôi trồng thủy sản... chưa hướng dẫn được cách tính, xác định đối tượng sử dụng để thu phí.
Ông Hoàng Quang Chinh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết: trong ba nhóm đối tượng sử dụng dịch vụ đã được hướng dẫn thì Lạng Sơn chỉ có thể thu được thủy điện và các các nhà máy sản xuất nước. Còn du lịch sinh thái chưa phát triển nên chưa xác định được đối tượng sử dụng để thu.
Theo tính toán của ngành chuyên môn, thì từ hai đối tượng sử dụng dịch vụ trên, Lạng Sơn có thể thu được khoảng 500 triệu đồng/năm. Trong đó thu từ các nhà máy nước 200 triệu đồng và thủy điện 300 triệu đồng.
Thực tế, theo tính toán cách đây 2 năm, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 7 nhà máy thủy điện đang được đầu tư xây dựng với tổng công suất 60,3MW, sản lượng điện dự kiến là 229,4Kwh/năm. Theo quy định, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sản xuất điện là 20đ/Kwh điện thương phẩm. Như vậy dự kiến thu từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn khoảng 4,5 tỷ đồng/năm.
Tuy nhiên đây chỉ là những con số lý thuyết, bởi tới thời điểm này các dự án xây dựng thủy điện trên địa bàn tỉnh đang gặp rất nhiều khó khăn. Mới chỉ có thủy điện Bản Quyền (Văn Quan), công suất 1MW đưa vào khai thác từ quý IV/2013 và thủy điện Cấm Sơn (Hữu Lũng) công suất 4,5MW, ngừng hoạt động từ năm 1992, đến năm 2005 mới sửa chữa và hoạt động trở lại. Trong khi đó các nhà máy nước phân bố nhỏ lẻ, rải rác trên địa bàn tỉnh, nguồn thu thấp, do vậy từ khi triển khai chính sách đến nay Lạng Sơn chưa tổ chức thu được.
Với diện tích rừng lớn, khi xác định được hết, đầy đủ các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng, Lạng Sơn sẽ có thêm nguồn lực dồi dào cho bảo vệ và phát triển rừng. Việc có thêm nguồn thu là tương lai gần, bởi các dự án thủy điện đang có bước khởi động lại, trong khi đó vừa qua Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải cũng đã chỉ đạo các bộ, ngành khẩn trương hướng dẫn thu đối với các loại hình dịch vụ môi trường rừng còn lại.
Ông Hoàng Quang Chinh khẳng định: Trước mắt ngành sẽ tích cực tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng các phương án thu phí dịch vụ môi trường rừng đối với các loại hình dịch vụ đã được xác định, đồng thời cũng chủ động để khi trung ương hướng dẫn các loại hình dịch vụ tiếp theo, Lạng Sơn sẽ bắt nhịp triển khai được nhanh chóng.
Việc triển khai thực hiện tốt chính sách, Lạng Sơn sẽ có thêm nguồn lực quan trọng để phát triển lâm nghiệp, nâng cao đời sống của người trồng rừng. (Báo Lạng Sơn 26/9) đầu trang(
PV biết Phạm Hồng Thắng từ khi anh làm Đội trưởng Đội Khai thác Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn. Phần vì anh là một trong những “át chủ bài” của ban lãnh đạo công ty, phần vì “đọc” được trên gương mặt nét từng trải, nhiều bí ẩn có thể khám phá nên tôi bảo Thắng cho số điện thoại, để lúc nào rỗi rãi thì tìm hiểu thêm về nhân vật này.
Nuôi ý định ấy suốt mấy năm, mặc dù trước đó biết tin anh được đề bạt làm Phó giám đốc Công ty Lâm nghiệp Tam Sơn, rồi lãnh đạo Tổng công ty Giấy Việt Nam “điều” anh mang cái “ghế” ấy về Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng để về sau kế nhiệm Giám đốc Ngô Hữu Hậu đã cận kề tuổi 60.
Thế nên, trong chuyến vào Thanh Sơn cách đây không lâu, ghé vào thăm Phạm Hồng Thắng tại bản doanh của công ty ở khu Đa Đu xã Thục Luyện. Rời thị trấn về với núi, trụ sở Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng hiện giờ lưng tựa vào rừng, nhìn ra một dải rừng thấp, khởi thế cho dãy Lưỡi Hái cao ngất ở phía Tây. Những số liệu mà kế toán trưởng Lê Văn Ngọc cung cấp cho biết, tổng diện tích đất và rừng của Tam Thắng làm tròn là 2.000 ha, nằm trên địa bàn 13 xã của huyện Thanh Sơn.
Mỗi năm, kế hoạch khai thác của công ty chừng 200 ha với sản lượng 12- 13 nghìn tấn nguyên liệu giấy, và đó cũng là diện tích rừng phải trồng. Nhiệm vụ ấy đòi hỏi Giám đốc Phạm Hồng Thắng cùng ban lãnh đạo công ty có những biện pháp để duy trì và phát triển sản xuất- kinh doanh, đáp ứng nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng thời đảm bảo việc làm và đời sống cho cán bộ, công nhân và nông dân cùng công ty làm rừng. Đến bây giờ, khi đã gần kề “ngũ thập tri thiên mệnh”, sự gắn bó của anh với rừng không chỉ là câu chuyện của cá nhân mà lớn hơn thế là trách nhiệm trước Công ty và Tổng Công ty Giấy.
Đôi ba lần trò chuyện với Phạm Hồng Thắng trước đây, quê anh ở Thanh Uyên bên hữu ngạn sông Thao – là đất Ghẹo nối tiếng của huyện Tam Nông. Cha anh hy sinh ở mặt trận Quảng Trị từ năm 1971, gia cảnh khó khăn, năm 1984, Thắng xin đi công nhân. Những tưởng công việc đóng bè trên sông chẳng mấy liên quan đến nghề rừng nhưng lạ kỳ thay, cũng từ đây mà anh gắn bó với rừng.
Công việc của thợ đóng bè, thủ kho, thu mua lâm sản đã cho Thắng có cơ hội đến với người bạn gái đồng nghiệp quê ở Bảo Yên, huyện Thanh Thủy. Họ thành vợ thành chồng sau 5 năm vui buồn cùng lâm sản. Trong cái khó, cái thiếu của một gia đình trẻ thời chuyển đổi cơ chế quản lý, có những đận Phạm Hồng Thắng phải liều. Để có tiền nuôi vợ con, anh vay mượn, dồn tiền “đánh quả” nguyên liệu giấy. Không may, gặp năm lũ lớn, 3 mũi bè, mỗi mũi số lâm sản đáng giá 300 triệu đồng bị giặc nước đánh cho tan tác, sức vóc cường tráng của trai ven sông cũng đành bất lực.
Một lúc mất 900 triệu đồng, chủ bè trắng tay, xót của đến thẫn thờ. Từ đáy của thất bại trong kinh doanh, Thắng không chịu “chết chìm” mà cố ngoi lên bằng được. Mấy năm sau đó, gom góp được chút vốn, tích lũy được kinh nghiệm thương trường, Thắng lại đầu tư kinh doanh nguyên liệu giấy và may mắn từ đó phất lên. Khi đã có trong tay tiềm lực đủ lo cho vợ con, Phạm Hồng Thắng tính chuyện đi học đại học.
4 năm học kinh tế lâm nghiệp đã cho anh thêm nhiều kiến thức bổ sung cho những may mắn từ “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” gặp trên đường đời để vợ chồng anh yên tâm lấy “lâm” làm “nghiệp”, theo đuổi nghề rừng trong gần ba chục năm trời. Cả hai người cùng làm ở Công ty lâm nghiệp, nhưng cô vợ tuổi Ngọ của Thắng vẫn điều hành từ xa các hoạt động của Công ty TNHH Thương mại Hồng Nhung và dành thì giờ chăm lo chuyện học hành của hai đứa con. Bố mẹ làm ở Tân Sơn nhưng các cháu được đưa về học ở quê nhà - trường THPT Tam Nông - nên các cháu đều đỗ đạt.
Đứa lớn đang du học ở Anh, cô con gái nhỏ đang học năm thứ 3 đại học. Sản xuất và kinh doanh hỗ trợ cho nhau nên họ đã ít nhiều có những thành công. Khi Thắng được điều về đơn vị mới thì vợ anh vẫn ở lại Tam Sơn. Giờ chị vẫn làm công việc 5 năm trước chồng mình đã gánh vác: Đội trưởng đội khai thác lâm sản của Tam Sơn.
Gặp Phạm Hồng Thắng lần này, PV chủ động nhắc lại câu chuyện cũ khi anh còn làm đội trưởng ở Công ty lâm nghiệp Tam Sơn. Ấy là, sau cữ rét đậm, rét hại năm 2008, hàng trăm ha rừng bị chết. Từ đỉnh đèo Cón nhìn xuống, những vạt bồ đề xanh non mơn mởn hôm nào, bị héo khô, trắng phếch, ruột gan người trồng rừng như xát muối.
Những đợt rét hiếm thấy còn làm hàng trăm con trâu ở vùng cao bị chết. Trong số bảy chục trâu của vợ chồng Thắng dùng để kéo gỗ từ rừng ra bãi, có 18 con bị chết. Phần vì tiếc của, phần lo hoàn thành kế hoạch khai thác cuối năm, gương mặt Phạm Hồng Thắng khi ấy vốn đăm chiêu lại thêm nét khắc khổ, nước da càng sạm lại… Nhớ chuyện cũ, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng cười xởi lởi: - Chuyện cây héo, trâu chết dạo ấy cũng không khác mấy chuyện vỡ bè, trôi gỗ của em năm xưa. Đối với người làm kinh doanh, dù thế nào cũng không được nản lòng, thoái chí mà phải biết lấy thất bại, rủi ro làm bài học, làm động lực để mình vượt lên.
Nghe chia sẻ của Thắng, chợt nhớ đôi ba câu hát ngẫu hứng về doanh nhân: “Đời doanh nhân vốn bền lòng, không với không, không cho là không/ Đời doanh nhân vốn nhọc nhằn, đêm với đêm, không cho là đêm”. Chưa hẳn đã bằng lòng với ai đó gọi mình là doanh nhân, nhưng chính công việc của giám đốc một công ty lâm nghiệp là nội hàm của khái niệm doanh nhân.
Từ đầu năm đến giờ, sau chuyện sửa chữa cầu Phong Châu, các phương tiện phải qua sông Hồng bằng cầu phao, lại đến chuyện siết chặt kiểm soát tải trọng xe đã và đang khiến việc vận chuyển nguyên liệu giấy từ cửa rừng ra Bãi Bằng thêm khó khăn.
Thêm vào đó là tác động của suy thoái kinh tế, nhưng dù vậy, tân giám đốc Công ty Lâm nghiệp Tam Thắng cùng cộng sự đang nỗ lực thực hiện mục tiêu doanh thu 10,5 tỷ đồng, 13 nghìn tấn gỗ nguyên liệu, nộp ngân sách gần 2,5 tỷ đồng; thu nhập bình quân 4,1 triệu đồng/ người/ tháng của năm 2014.
Mưa gió,  không thể dẫn tôi đi thăm các đội sản xuất, giám đốc đành lôi chiếc Ipad, vừa mở file ảnh, vừa giới thiệu: Đây là rừng của đội 7 Suối Dòng Thục Luyện, đây là rừng khu Dịa Võ Miếu của đội 8, còn đây là cơ ngơi của đội 6 Tân Lập…
Trên màn hình tinh thể lỏng 7 inch, tôi thấy hiển hiện màu xanh tươi non những cánh rừng Tam Thắng đang khép tán. Đó là thành quả lao động của những người lấy “lâm” làm “nghiệp”, chọn nghề rừng để đóng góp cho xã hội, để mưu sinh. (Báo Phú Thọ 27/9) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 6906/UBND-NNMT ngày 23/9/2014, về việc đánh giá thực trạng rừng tại Dự án của Công ty TNHH đầu tư sản xuất thương mại dịch vụ XNK Phước Thành.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện Ea H’leo, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea H’leo, Công ty TNHH đầu tư sản xuất thương mại dịch vụ XNK Phước Thành và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, đánh giá cụ thể số liệu về rừng trước và sau khi bàn giao về địa phương quản lý và hiện trạng rừng thực tế hiện nay trên diện tích 730ha đất lâm nghiệp dự kiến giao cho Công ty TNHH đầu tư sản xuất thương mại dịch vụ XNK Phước Thành để thực hiện dự án; làm rõ trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị liên quan qua từng giai đoạn; tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh; đồng thời, tham mưu UBND tỉnh kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo Thủ tướng Chính phủ có giải pháp sớm tháo gỡ vướng mắc đối với Dự án này để Chủ đầu tư triển khai Dự án kịp tiến độ.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thủ trưởng các đơn vị liên quan triển khai thực hiện trước ngày 30/9. (Cổng Thông Tin Điện Tử Đắc Lắc 26/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Các nhà khoa học vừa phát hiện hóa thạch của một con voi ma mút ở khu vực gần sông Belaya của Siberia. Hóa thạch được chia thành ba nhóm khác nhau, gồm các phần xương nhỏ, hộp sọ bị vỡ, các phần xương khác và răng.
The Moscow Times cho hay, phát hiện này được ghi nhận ở khu vực gần sông Belaya của Siberia. Hóa thạch được chia thành ba nhóm khác nhau, gồm các phần xương nhỏ, hộp sọ bị vỡ, các phần xương khác và răng. Khi tập hợp lại, toàn bộ phần xương bao phủ khoảng 1,5 m2.
Theo giả thiết của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Irkutsk, đây là một con voi ma mút con, có thể đã bị con người săn bắt và ăn thịt. Nó trở thành mục tiêu của thợ săn khi bị bỏ lại phía sau đàn. Dựa trên kết quả phân tích mẫu xương, họ xác định con voi này sống cách đây khoảng 25.000 năm.
Việc tìm thấy các hóa thạch có thể giúp giới chuyên gia phục dựng lịch sử tiến hóa của voi ma mút - loài voi cổ đại đã tuyệt chủng.
Tại khu vực khai quật cổ ở làng Malta, thuộc vùng Irkutsk, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy xương của một con tê giác có lông, cùng nhiều hiện vật được làm từ đá và xương. (Tiền Phong 28/9; Đại Đoàn Kết 28/9, tr15) đầu trang(
26/9, nghi phạm người Canada bị bắt quả tang đang vận chuyển lậu 51 con rùa sống qua biên giới Mỹ bằng cách giấu chúng trong đũng quần đã không được phép trả tiền bảo lãnh để được tự do.
Sau khi bị đưa đến tòa án ở Detroit, người đàn ông 26 tuổi tên là Kai Xu đã bị quan tòa ra quyết định tạm giam, trong khi đồng phạm Lihua Lin đã được thả ra từ hồi đầu tuần sau khi nộp khoản tiền bảo lãnh 10.000 USD.
Theo hồ sơ tòa án, các nhân viên kiểm soát biên phòng Canada đã nghi ngờ dấu hiệu bất thường của Xu và ngăn chặn khi anh ta tìm cách trở về từ bên kia biên giới nước Mỹ.
Sau khi khám người Xu, họ thu được tổng cộng 51 con rùa sống, trong đó có 10 con giấu trong quần lót và 41 con được giắt xung quanh chân. Nhà chức trách Canada đã tịch thu toàn bộ số rùa này, trong đó có những loài rùa quý như rùa lưng kim cương, rùa vàng với giá trị mỗi con có thể lên tới 800 USD.
Cơ quan Bảo vệ Cá và Động vật hoang dã Mỹ đã tiếp nhận lại số rùa này và truy tố Xu với tội danh buôn lậu động vật qua biên giới và có thể đối mặt với mức án lên tới 10 năm tù.
Âm mưu buôn lậu rùa bằng phương thức “độc” trên của Xu bị phát giác sau khi một công ty bưu chính báo cho nhà chức trách về những gói hàng lạ được chuyển tới địa chỉ của Xu ở Alabama.
Nhà chức trách Mỹ đã phát hiện Xu mở những chiếc hộp lạ này phía sau xe, và cho những món đồ bên trong vào những chiếc túi nhựa rồi đi vào một nhà vệ sinh cùng với băng dính và kéo.
Các đặc vụ phát hiện ra rằng chiếc quần mà Xu đang mặc phồng lên một cách bất thường sau khi anh ta trở ra từ nhà vệ sinh, và họ bám sát đối tượng này tới tận biên giới. Xu bị chặn lại và bắt giữ khi đang tìm cách nhập cảnh trở lại vào Canada.
Theo nhà chức trách Mỹ, nếu được buôn lậu trót lọt, nhiều khả năng số rùa này sẽ được chuyển về Trung Quốc để phục vụ nhu cầu thịt rùa ngày càng cao tại quốc gia này. (Khám Phá 27/9) đầu trang(
Baldy, 6 tuần tuổi, được phát hiện khi đang dạo chơi quanh quẩn trong một khu vườn ở Duntocher, Dunbartonshire, Scotland.
Hình dạng bề ngoài của chú nhím này ngay lập tức khiến mọi người vô cùng sửng sốt, bởi lẽ nó không hề có gai. Những chiếc gai tuy nhỏ và thường được xem là “nguy hiểm” cho con người thật ra rất quan trọng với loài vật này. Theo lý thuyết, chúng không thể tồn tại trong môi trường tự nhiên nếu cơ thể không có gai.
Ngay lập tức, Baldy được đưa về Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hessilhead. Tại đây, các nhân viên đã chăm sóc và quan sát sinh hoạt của chú nhím. Một người cho biết: “Dù không có gai, Baldy vẫn sống rất tự tin và thoải mái”.
Đây được xem là một trường hợp khá hiếm đối với loài nhím. Thậm chí, cô Gay Christie, người điều hành Trung tâm cứu hộ đã phải thốt lên “Điều này thật sự quá bí ẩn”.
Tuy vẫn có thể sống, Baldy sẽ không thể quay về cuộc sống thiên nhiên để bảo vệ tính mạng. Nếu không có gai, làn da của loài nhím sẽ rất khô và  nhạy cảm nên Baldy được chăm sóc hàng ngày với dầu cây trà. (Đất Việt 26/9) đầu trang(
25/9, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho biết, Cộng hòa Czech là một trong những điểm trung chuyển của các đường dây buôn lậu sừng tê giác xuyên quốc gia.
Năm ngoái, cơ quan chức năng tại đây đã thu giữ được 24 chiếc sừng tê giác trắng và xử phạt 16 nghi can trong đường dây buôn bán quốc tế sừng tê giác sang châu Á.
Thực hiện cam kết chấm dứt việc thảm sát tê giác để lấy sừng, ngay trước ngày Tê giác Thế giới (22/9), Vườn thú Dvur Kralove (Cộng hòa Czech) đã tiến hành tiêu hủy hơn 50 kg sừng tê giác. Cùng thời điểm đó, Cộng hòa Slovakia cũng tiêu hủy kho sừng tê giác tại Vườn thú Bojnice.
Ông Premysl Rabas, Giám đốc Vườn thú Dvur Kralove nhấn mạnh, tiêu thụ sừng tê giác đồng nghĩa với việc tiếp tay cho mạng lưới tội phạm và những kẻ săn trộm. Hậu quả của nạn buôn bán sừng tê giác xuyên quốc gia đã làm cho không ít cán bộ kiểm lâm phải hi sinh và hàng nghìn cá thể tê giác bị giết hại dã man.
Giám đốc Vườn thú Dvur Kralove cũng khẳng định, sừng tê giác không có tác dụng như mọi người vẫn lầm tưởng. Và, cấu tạo của sừng tê giác cũng giống như móng tay và tóc của con người, không thể dùng để chữa bệnh. Do đó, mọi người cần xem xét hậu quả hành vi của mình. (VietnamPlus 26/9; An Ninh Thủ Đô 25/9) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng