|
Ngày 28 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 27/11, Nghị quyết về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện đã được đa số Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nhất trí thông qua với các yêu cầu về qui hoạch thủy điện, trồng rừng thay thế, đánh giá tác động môi trường đối với công trình thủy điện, di dân, tái định cư công trình thủy điện và an toàn đập, hồ chứa thủy điện.
Trong quá trình thảo luận, góp ý về qui hoạch thủy điện, có ý kiến ĐBQH đề nghị xem xét việc dừng phát triển thủy điện nhỏ, vì công suất phát điện đóng góp không đáng kể nhưng gây nhiều hệ lụy tiêu cực về môi trường và xã hội; đẩy mạnh khai thác nguồn năng lượng tái tạo khác thay thế.
Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, cho đến nay thủy điện nhỏ vẫn có vai trò đáng kể trong việc bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển kinh tế - xã hội khi đóng góp khoảng 26% công suất phát điện, góp phần tạo thêm việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng khu vực có dự án... mặc dù vẫn có nhiều công trình thủy điện đã gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực. Nhưng nếu được quy hoạch hợp lý, được thiết kế, xây dựng và vận hành khai thác đúng quy định, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với bảo vệ môi trường thì thủy điện nhỏ sẽ có nhiều ưu điểm của nguồn năng lượng tái tạo.
Vì thế, để hạn chế tối đa tác động tiêu cực của thủy điện nhỏ, Nghị quyết của Quốc hội yêu cầu Chính phủ “chỉ đạo tiếp tục rà soát, đánh giá quy hoạch thủy điện, kiên quyết loại bỏ, dừng các dự án, công trình thủy điện không hiệu quả, không bảo đảm an toàn, có ảnh hưởng xấu tới chế độ dòng chảy, môi trường và đời sống người dân”.
Quốc hội cũng yêu cầu trong năm 2014 tổ chức đánh giá tổng thể các đập, hồ chứa trong cả nước; có kế hoạch, giải pháp và bố trí đủ kinh phí sửa chữa, nâng cấp các đập, hồ chứa có nguy cơ gây mất an toàn; quy định cụ thể trách nhiệm các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du; tăng cường kiểm tra xử lý vi phạm về an toàn đập, hồ chứa.
Nghị quyết của Quốc hội cũng yêu cầu kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi lợi dụng hạ tầng kỹ thuật công trình thủy điện để chặt, phá rừng, khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép; thực hiện nghiêm túc chính sách pháp luật về dịch vụ môi trường rừng; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân trong quá trình chỉ đạo, điều hành; nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phục vụ, củng cố lực lượng cán bộ chuyên môn đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Bên cạnh đó, kiểm tra, giám sát, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm vi phạm trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành khai thác công trình thủy điện... Pháp Luật Việt Nam 28/11; Nông Nghiệp Việt Nam 28/11; An Ninh Thủ Đô 28/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, mặc dù được dự báo tình hình xuất khẩu năm 2013 sẽ gặp nhiều khó khăn nhưng trên thực tế, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ năm nay khá ấn tượng, đạt mức kỷ lục trong nhiều năm qua với 5,1 tỷ USD, tăng 18,6% so với kế hoạch và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2012.
Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (mây, tre, cói, thảm…) ước đạt 224 triệu USD, đạt 74,6% kế hoạch và tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2012. Đây là tín hiệu tốt đối với ngành chế biến gỗ Việt Nam, góp phần giúp ngành nông nghiệp khẳng định vị trí “trụ đỡ” của nền kinh tế trong gian khó.
Về công tác thực hiện phí môi trường rừng, đến nay, 36 tỉnh có nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã thành lập Ban chỉ đạo triển khai chính sách chi trả DVMTR, trong đó 31 tỉnh đã thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh để triển khai chính sách và tiếp nhận tiền DVMTR.
Ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp nhận định, lâm nghiệp là lĩnh vực đầu tiên trong ngành nông nghiệp hoàn thiện Đề án tái cơ cấu ngành. Theo đó, lâm nghiệp đang được kỳ vọng sẽ phát triển theo hướng bền vững và đem lại giá trị vật chất ngày càng cao cho người trồng và bảo vệ rừng. Trong năm 2013, đã có 4/7 chỉ tiêu về phát triển rừng bằng và vượt mức kế hoạch; 7/7 chỉ tiêu tăng so với cùng kỳ năm 2012.
Năm 2013, thời tiết diễn biến phức tạp, khô hạn ở nhiều nơi nên công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cũng được Tổng cục Lâm nghiệp xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
Theo đó, Tổng cục chủ động chỉ đạo xây dựng kế hoạch PCCCR năm 2013; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra tình hình bảo vệ rừng và PCCCR tại một số tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; củng cố, duy trì hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ báo cháy và trạm viễn thám, đáp ứng kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành...
Tính đến 31.10, cả nước đã phát hiện 21.718 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 2.292 vụ so với cùng kỳ; diện tích rừng bị phá trái phép là 734,27ha, giảm 244,51ha so với cùng kỳ. Cả nước cũng phát hiện 10.856 vụ vi phạm về mua bán vận chuyển lâm sản trái phép, giảm 944 vụ so cùng kỳ…
Đặc biệt, ngành đã chủ động phối hợp với các địa phương giải quyết các điểm nóng về phá rừng và tụ điểm cất trữ lâm sản trái phép ở Tà Xùa (Sơn La), Văn Bàn (Lào Cai), Sơn Động (Bắc Giang), Yên Tử (Quảng Ninh) và một số tụ điểm buôn bán lâm sản trái pháp luật tại các tỉnh Thái Nguyên, Sơn La, Bắc Kạn... Do vậy, các vụ vi phạm giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2012.
Công tác PCCCR cũng có nhiều chuyển biến tích cực, giảm nhiều về số vụ vi phạm cũng như diện tích thiệt hại so với cùng kỳ năm 2012. Tính đến hết tháng 10, cả nước xảy ra 230 vụ cháy rừng, giảm 153 vụ so với cùng kỳ năm 2012, thiệt hại 903ha (cùng kỳ năm 2012 là 1.321ha). Số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng giảm là do hầu hết các vụ cháy đều được phát hiện và dập tắt kịp thời.
Cũng theo ông Ngãi, mục tiêu trọng tâm năm 2014 của ngành là tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành, đảm bảo mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường; từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, trong đó nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, DVMTR; tăng giá trị sản xuất bình quân năm; góp phần xoá đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân... (Nông Thôn Ngày Nay 28/11) đầu trang(
Để chủ động và kịp thời tổ chức lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó khi có các tình huống cháy rừng xảy ra tại địa phương, huyện Đông Triều đã triển khai sớm các biện pháp phòng cháy chữa cháy (PCCC) rừng trong mùa khô năm 2013-2014.
Với diện tích lên đến 20.042ha rừng các loại, ngay từ đầu mùa khô huyện Đông Triều đã kiện toàn Ban Chỉ đạo PCCC rừng từ huyện đến cơ sở, xây dựng các phương án PCCC rừng. Đồng thời chuẩn bị các phương tiện như: Máy định vị toàn cầu, máy thổi gió, máy cát thực bì, loa phát, áo chống cháy và hàng trăm công cụ thủ công để PCCC rừng.
Việc tuyên truyền về bảo vệ và PCCC rừng được thực hiện thường xuyên, liên tục đến các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là với các xã có rừng. Tổ chức tốt lực lượng để chữa cháy rừng tại cơ sở để đảm bảo phòng cháy và chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
Cùng với đó, ký cam kết với các hộ dân trong việc bảo vệ rừng, đôn đốc chủ rừng làm tốt việc dọn thực bì và làm đường băng cản lửa… để chủ động ngăn ngừa các vụ cháy xảy ra. Chính việc chủ động như trên nên những năm gần đây, số vụ cháy rừng đã giảm hẳn so với trước.
Ông Ngô Đức Hậu, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đông Triều cho biết: “Hiện nay công tác PCCC và bảo vệ rừng cũng đang gặp phải một số khó khăn như: Địa hình rừng của huyện Đông Triều tương đối phức tạp, đa số là ở cao và xa khu dân cư, điều kiện thông tin liên lạc và đi lại rất khó khăn. Do đó khi xảy ra cháy rừng thường khó phát hiện nên việc huy động lực lượng đến nơi chữa cháy mất nhiều thời gian.
Khó khăn nhất trong khi triển khai phòng cháy, chữa cháy rừng đó là dụng cụ phòng cháy, chữa cháy rất thô sơ, kinh phí triển khai tuyên truyền rất ít, chủ yếu là phối hợp tuyên truyền lồng ghép nên hiệu quả tuyên truyền không được cao. Tuy vậy, với việc chủ động phòng ngừa cháy rừng, huyện Đông Triều đang quyết tâm hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn trong mùa khô năm nay”.
Bước vào thời gian có nguy cơ cháy rừng cao nhất trong năm, với phương châm “phòng cháy hơn chữa cháy”, huyện Đông Triều đã và đang đảm bảo thực hiện tốt công tác PCCC rừng, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn huyện trong mùa khô năm nay. (Báo Quảng Ninh 28/11) đầu trang(
Vừa qua, tại xã Cốc Ly, UBND huyện Bắc Hà tổ chức Hội nghị giao ban quy chế phối hợp bảo vệ rừng khu vực giáp danh 3 huyện: Bắc Hà - Bảo Thắng - Mường Khương.
Để bảo vệ rừng tại các xã nói trên, lực lượng kiểm lâm 03 huyện đã tham mưu cho UBND huyện kiện toàn , củng cố ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng các xã, lực lượng bảo vệ rừng tại các thôn bản.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, ký cam kết bảo vệ rừng, vận động nhân dân các thôn, bản thực hiện các quy định của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng, vận động nhân dân không tham gia khai thác, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, không đốt rừng lấn chiếm rừng để làm nương rẫy.
Trong năm đã tổ chức 16 hội nghị giao ban xã tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng; tổ chức tuyên truyền tại các thôn bản của các xã khu vực giáp ranh về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được 59 buổi với 2.500 người tham gia.; Ký cam kết bảo vệ rừng với 1.050 hộ gia đình.
Bên cạnh đó, Hạt kiểm lâm 03 huyện đã phân công cán bộ kiểm lâm địa bàn thường xuyên kiểm tra, truy quét phối hợp giải quyết các vụ việc vi phạm về bảo vệ rừng, kết quả sau một năm, hạt kiểm lâm 03 huyện đã phát hiện và lập hồ sơ 19 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng trong đó tại huyện Bắc Hà 10 vụ, Bảo Thắng 9 vụ, sử phạt được 14.950 nghìn đồng, tổng số lâm sản tịch thu sung công quỹ nhà nước là 7,359 m3 gỗ các loại từ nhóm 2 đến nhòm 7.
Các đại biểu tham dự hội nghị đã tập chung thảo luận đánh giá những mặt đã làm được và những mặt còn hạn chế, những khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ, đề ra biện pháp bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng hiệu quả hơn nữa trong công tác phối hợp bảo vệ rừng khu vực giáp danh thời gian tới. (Laocai.gov.vn 28/11) đầu trang(
Những năm gần đây, xã Bát Mọt (Thường Xuân) xác định công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy và phát triển rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng gắn với việc phát triển kinh tế. Xã đã tích cực áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đưa các cây, con mới vào sản xuất, phù hợp với điều kiện địa hình, thổ nhưỡng để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Từ sự quan tâm đầu tư của các chương trình, dự án, chính sách dân tộc, nhiều hộ gia đình trong xã đã thoát nghèo. Các tiềm năng về đất rừng, chăn nuôi đang được tập trung khai thác hiệu quả, giải quyết việc làm và cải thiện cuộc sống cho đồng bào các dân tộc sinh sống trên địa bàn.
Hằng năm, ngoài trồng mới, mở rộng diện tích rừng, xã Bát Mọt thường xuyên phối hợp với Đồn Biên phòng Bát Mọt, Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên bảo vệ tốt 16.390 ha rừng tự nhiên. Phần lớn các gia đình trong xã đều có rừng nhận khoán chăm sóc, bảo vệ và trồng mới rừng. Việc giao rừng cho các hộ dân bảo vệ đã hạn chế tối đa việc phá rừng, cháy rừng. Xã luôn chủ động đưa ra các biện pháp quản lý và bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng để tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đúng quy định.
Đặc biệt, trong công tác quản lý cưa xăng và sử dụng cưa xăng, xã đã chủ động phối hợp với lực lượng kiểm lâm viên địa bàn, công an, quân sự, điều tra thống kê, nắm chắc những hộ đang xử dụng cưa xăng. Tổ chức họp dân tuyên truyền, phát hiện tố giác người sử dụng cưa xăng không khai báo, đồng thời yêu cầu các hộ gia đình đang sử dụng cưa xăng làm bản cam kết, sử dụng đúng mục đích.
Để bà con trong xã ổn định lương thực, không thiếu ăn dẫn đến phải phá rừng, chính quyền xã luôn chú trọng nâng cao năng suất cây trồng. Hiện tại, xã có 214,8 ha trồng lúa nước, năng suất lúa đạt khoảng 39 tạ/ha. Ngoài ra, bà con trong xã còn khai hoang những diện tích đất dốc để trồng sắn, ngô, đậu tương và rau màu các loại phục vụ đời sống. Chăn nuôi cũng đang là hướng đi được người dân quan tâm đầu tư. Tổng đàn gia súc toàn xã hiện nay là 1.692 con trâu, 872 con bò, 650 con dê và 6.955 con gia cầm...
Ông Lang Đình Long, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết: thời gian tới lãnh đạo xã tiếp tục chỉ đạo đầu tư cho sản xuất nông, lâm nghiệp, tăng cường đầu tư phân bón, áp dụng khoa học - kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để đưa giống mới vào sản xuất. Mặt khác, tiếp tục phát triển chăn nuôi, xây dựng mô hình chăn nuôi theo hướng hàng hóa, phát triển đàn gia súc, gia cầm.
Cùng với đó, xã tiếp tục thực hiện tốt công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng, tuyên truyền nhân dân trồng rừng mới, phấn đấu nâng độ che phủ của rừng lên 85%. Khai thác và bảo vệ rừng đúng quy định, từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng nông thôn mới ở địa phương. (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Hoàn thành nhiệm vụ trong Quân đội, ông Nguyễn Văn Hưởng trở về xóm đạo Trà Sơn, thôn Chè, xã Liên Bảo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tích cực tham gia nhiều công tác ở địa phương.
Từ năm 2003 đến nay, ông được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh tin tưởng giao tổ chức trồng, chăm sóc và bảo vệ 14 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên Núi Chè. 13 năm qua, dưới sự chỉ dẫn của ông, 27 hộ nhận khoán trồng rừng theo Chương trình 327 đã trồng thông, keo tai tượng xanh tốt.
Để bảo vệ rừng, ông tăng cường công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ rừng và công tác phòng, chống cháy rừng qua hệ thống loa truyền thanh của thôn và trong các hội nghị, nâng cao nhận thức cho người dân; xử lí nghiêm các trường hợp vi phạm...Gia đình ông còn có hơn 2.200m2 vườn nhà trồng chè, trám, mít bưởi, hồng xiêm, vải thiều, đem lại nguồn thu nhập khá.
Cùng với việc bảo vệ, chăm sóc rừng Núi Chè, với vai trò Trùm họ đạo, ông đã chỉ dẫn 50 gia đình giáo dân với hơn 300 nhân khẩu thực hiện lương giáo đoàn kết; chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tích cực làm kinh tế. Các gia đình giáo dân đã cải tạo, xây dựng được mô hình trồng cây đặc sản như vải thiều, nhãn, chè, cam, đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều gia đình thu hoạch từ 50 - 70 triệu đồng mỗi năm.
Do có những đóng góp trong trồng và bảo vệ rừng, ông Nguyễn Văn Hưởng được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Ninh, UBND huyện Tiên Du tặng nhiều giấy khen, chính quyền và nhân dân tin tưởng, kính trọng. (Người Cao Tuổi 27/11) đầu trang(
Anh Bạc Cầm Nga, Phó Chủ tịch UBND xã Na Son (huyện Điện Biên Đông) cho biết: Trong những năm gần đây, công tác bảo vệ rừng trên địa bàn xã Na Son có nhiều chuyển biến tích cực. Na Son là một trong những xã đi đầu trong việc giữ rừng của huyện Điện Biên Đông.
Công tác tuyên truyền được chú trọng từ cấp xã đến cấp bản nên ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng cao, lực lượng kiểm lâm địa bàn, bảo lâm xã hoàn thành nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát rừng nên tình trạng phá rừng làm nương được hạn chế. Hiện nay, toàn xã Na Son có 1.919,28ha đất có rừng. Trong đó, rừng phòng hộ 1.870,79ha; rừng sản xuất 48,49ha. Độ che phủ rừng đạt 34%.
Hàng năm, UBND xã Na Son tổ chức hội nghị triển khai công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tới các trưởng bản. Đồng thời, giao trách nhiệm cho các trưởng bản tổ chức họp bản để tuyên truyền, giáo dục và vận động người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng và ký cam kết phòng cháy, chữa cháy rừng. Vào mùa khô hanh, kểm lâm địa bàn phối hợp với các ban ngành đoàn thể, tổ chức hội của xã xuống từng bản hướng dẫn người dân chọn thời điểm thích hợp để đốt nương, phát đường băng cản lửa, cắm biển báo phòng cháy chữa cháy rừng...
Ngoài ra, UBND xã Na Son phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện Điện Biên Đông mở các lớp đào tạo nghề về phát triển lâm nghiệp cho các hộ gia đình có nhu cầu. Hằng năm, xã Na Son tổ chức đánh giá tình hình sử dụng đất lâm nghiệp, đặc biệt là đối với diện tích được quy hoạch cho sản xuất và có kế hoạch thu hồi hoặc chuyển đối tượng sử dụng nếu thấy không hiệu quả.
Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục thì công tác tuần tra, kiểm soát rừng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Lực lượng bảo lâm xã Na Son đều là người trẻ, nhiệt huyết và có trình độ chuyên môn; tại mỗi thôn bản đều thành lập 1 tổ, đội xung kích bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Lực lượng bảo lâm xã phối hợp với kiểm lâm địa bàn thường xuyên đi tuần tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các đối tượng vi phạm về lâm luật; nt là, tại các điểm nóng như điểm giáp ranh với các xã Pú Nhi, Noong U, Keo Lôm. Đồng thời, động viên, khuyến khích người dân cùng phối hợp với lực lượng bảo lâm, kiểm lâm trong công tác kiểm tra, kiểm soát rừng. Do đó, trên địa bàn xã Na Son những năm gần đây không để xảy ra cháy rừng, tình trạng phá rừng làm nương được kiểm soát.
Ông Lò Văn Thanh, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông đánh giá: Thời gian gần đây, tình trạng phá rừng, cháy rừng trên địa bàn huyện Điện Biên Đông luôn diễn ra phức tạp gây nhiều khó khăn cho các lực lượng chức năng trong việc giữ rừng. Song, công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn xã Na Son vẫn đạt được những kết quả tích cực, tình trạng phá rừng làm nương được hạn chế, không để xảy ra cháy rừng hay các điểm nóng gây bức xúc cho người dân... (Báo Điện Biên 28/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhân dịp kỉ niệm 54 năm ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 - 28/11/2013), phóng viên báo Tin Tức đã có cuộc trao đổi với ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT về những giải pháp phát triển nghề rừng.
Ông Tuấn cho biết: Trong suốt hơn 50 năm qua, nhất là từ khi đổi mới, các kỳ đại hội của Đảng đều dành những thời lượng thích đáng chỉ đạo phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, nâng cao thu nhập cho người dân và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng và môi trường.
Hệ thống chính sách pháp luật về lâm nghiệp đến nay đã tương đối đầy đủ. Khởi nguồn từ năm 1972, chúng ta có Pháp lệnh quy định về bảo vệ rừng, sau đó là Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, sửa đổi, bổ sung năm 2004. Cùng với đó là một hệ thống các văn bản pháp quy và những chính sách đầu tư ngày càng cụ thể hóa, đồng bộ và phù hợp với thực tiễn cũng như xu hướng phát triển của thế giới.
Đồng thời, trước những vấn đề bức xúc trong công tác bảo vệ rừng, Chính phủ, Quốc hội thường xuyên xem xét và chỉ đạo kịp thời; triển khai giải pháp xã hội hóa công tác bảo vệ rừng.
Thứ trưởng Tuấn cho biết những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ và phát triển rừng những năm gần đây: Mặc dù còn nhiều bức xúc, nhưng có thể nói dòng chủ lưu là ngành lâm nghiệp đang phát triển, thể hiện rất rõ ở những kết quả cụ thể như: độ che phủ rừng tăng từ 28% năm 1991 lên 40% năm 2012. Nỗ lực này của Việt Nam được thế giới đánh giá rất cao.
Sản xuất lâm nghiệp phát triển tương đối toàn diện. Cách đây 10 năm, sản lượng gỗ cung cấp cho thị trường mới đạt 2 triệu m3, đến nay là 13 triệu m3. Đạt được kết quả trên là do chúng ta phát triển mạnh rừng trồng; trong khi đó vẫn đảm bảo giảm khai thác rừng tự nhiên từ 1 triệu m3 xuống 111.000 m3. Kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên nhanh chóng. Bình quân trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu tăng trên 15%/năm. Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt trên 5 tỷ USD.
Bên cạnh đó, có những chuyển biến căn bản về quản lý, từ nền lâm nghiệp nhà nước với các lâm trường quốc doanh và các HTX lâm nghiệp sang xã hội hóa. Hiện nay, trên 3 triệu ha rừng đã được giao cho bà con nông dân. Đồng thời, ngành sẽ tiếp tục cơ cấu lại các lâm trường quốc doanh, thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho lâm nghiệp. Đến nay, cơ cấu đầu tư cho lâm nghiệp khoảng 6.000 tỉ đồng, trong đó 75 % là đầu tư xã hội.
Cũng theo Thứ trưởng Tuấn: Chúng ta hiện có trên 16 triệu ha đất lâm nghiệp được quy hoạch, trong đó hơn 13 triệu ha là có rừng, hơn 3 triệu ha diện tích còn lại phải phát triển thành rừng trải dài ở cả đất liền và hải đảo. Trên diện tích đất lâm nghiệp có khoảng 20 triệu người dân sinh sống, hầu hết là những đối tượng khó khăn. Do vậy, tại những địa bàn này thường xuyên xảy ra tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất.
Bên cạnh đó, trước những yêu cầu của phát triển kinh tế xã hội, chúng ta phải chuyển một phần diện tích đất lâm nghiệp cho xây dựng cơ sở hạ tầng, thủy lợi, thủy điện,… chúng tôi phải gọi đây là “đánh đổi”. Chúng ta phải tính toán rất kỹ, để làm sao giữ được đa dạng sinh học, nhưng vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước.
Tình hình chung của ngành lâm nghiệp hiện nay là thiếu vốn; rất nhiều chương trình, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng hiện mới chỉ nhận được 50 - 70% số vốn được duyệt. Công nghệ trong lâm nghiệp còn rất yếu, năng suất vào hàng thấp của thế giới, bình quân 75 m3/ha. Ngành đang cố gắng đưa năng suất rừng trồng lên 120 - 150 m3/ha năm 2020.
Hiện nay, mặc dù xã hội đã có những chuyển biến trong nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng, nhưng trước những yêu cầu cấp bách thì giữa mong muốn, hiểu biết và những hành động cụ thể đôi khi không tương đồng với nhau. Tình trạng phá rừng lấy gỗ, lấy đất trái pháp luật vẫn còn xảy ra, thậm chí có cả những cán bộ, công chức trong ngành lâm nghiệp cũng có những hành động tiếp tay, làm ngơ cho các đối tượng xấu.
Trước thực trạng này, rất cần những hành động chung của cả cộng đồng và cả hệ thống chính trị trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Trong thời gian tới, ngành tập trung vào tái cơ cấu để nâng cao giá trị của chuỗi sản xuất; nâng cao năng suất rừng trồng là rừng sản xuất; tổ chức lại hệ thống rừng gắn với chế biến và thị trường để nâng cao giá trị,... (Tin Tức 28/11) đầu trang(
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, tính đến ngày 20/11, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt gần 202,8 nghìn ha, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 22,7 nghìn ha, tăng 43,7% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới rừng sản xuất đạt 180,1 nghìn ha, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước; Sản lượng gỗ khai thác đạt 4.800 nghìn m3, tăng 6,4 % so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, tại các tỉnh miền Bắc, đến nay, các địa phương đã cơ bản kết thúc vụ trồng rừng. Ước tính đến 20/11 các địa phương miền Bắc đã trồng được 154,8 nghìn ha rừng, tăng8,4% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vùng Đồng bằng sông Hồng trồng đạt 18,6 nghìn ha ( tăng 26,9%); Trung du miền núi phía Bắc trồng đạt 103,3 nghìn ha (tăng 22,8%); vùng Bắc Trung bộ trồng đạt 32,8 nghìn ha ( giảm 25,3%).
Còn tại các tỉnh miền Nam đang tiến hành trồng rừng chính vụ. Tính đến 20/11 các địa phương miền Nam đã trồng được 47,4 nghìn ha, tăng 51,6% so với cùng kỳ năm trước.
Ngoài việc trồng rừng, các địa phương tiếp tục triển khai trồng cây phân tán, chăm sóc cây giống phục vụ cho kế hoạch trồng rừng 2013. (Dangcongsan.vn 27/11) đầu trang(
UBND TP HCM vừa ban hành danh mục 28 loài cây cấm trồng trên vỉa hè và dải phân cách đường phố như: cây bã đậu, bàng, bồ kết, da (sung), dừa, điệp phèo heo, đủng đỉnh, gòn, keo lá tràm, lọ nồi (đại phong tử), lòng mức, mã tiền, me keo, sọ khỉ (xà cừ), thông thiên, trứng cá, trúc đào, xiro...
Theo đánh giá của UBND TP, đây là các cây có độc tố gây nguy hiểm cho người hoặc có thể ảnh hưởng tới sức khỏe và môi trường. Vì vậy, thành phố yêu cầu các tổ chức, cá nhân không trồng mới các loài cây thuộc danh mục này. Đồng thời giao các cơ quan, đơn vị quản lý cây xanh đô thị sẽ thay thế dần những cây hiện có trên đường phố.
Trước đó, hồi giữa tháng 10, UBND TP đã ban hành danh mục các loại cây cấm và hạn chế trồng trên vỉa hè, dải phân cách tại các tuyến đường trên địa bàn thành phố. Theo đó, chỉ có 5 loại cây là bã đậu, cô ca cảnh, mã tiền, thông thiên và trúc đào bị cấm trồng vì trong thân, lá, vỏ cây hoặc hoa, hạt của chúng có chứa độc tố hoặc chất gây nghiện, gây nguy hiểm cho con người. Còn 23 loại cây còn lại chỉ hạn chế trồng vì có thể gây ảnh hưởng không tốt, nhánh giòn dễ gãy, có gai nhọn, hoa có mùi... (Vnexpress.net 28/11; Nông Nghiệp Việt Nam 28/11) đầu trang(
Ngày 25.11, Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam cho biết, các nhà khoa học Việt Nam và Đức vừa công bố một loài thằn lằn mới cho lĩnh vực khoa học thế giới. Phát hiện được công bố trên Tạp chí Zootaxa, New Zealand (số 3736, tháng 11.2013).
Theo bài báo, dựa trên các mẫu vật thu thập được ở tỉnh Cao Bằng, loài thằn lằn mới có tên là Thạch sùng dẹp zug Hemiphyllodactylus zugi Nguyen, Lehmann, Le, Duong, Bonkowski & Ziegler, 2013; được đặt theo tên của một nhà nghiên cứu người Mỹ, GS. George Zug thuộc Viện nghiên cứu Smithsonian, người có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về các loài bò sát ở khu vực châu Á.
Đặc điểm nhận dạng của loài thạch sùng này là thân dẹt, có kích cỡ rất nhỏ (chiều dài đầu và thân khoảng 41-47 mm); đuôi ngắn và dẹt; ngón thứ nhất của chi trước và chi sau đều không có vuốt; mặt trên đầu và thân màu xám vàng với hoa văn màu nâu đen tạo thành hình mạng lưới ở vùng cổ hoặc các vạch ngang ở thân và gốc đuôi; hai bên sườn có nhiều đốm lớn, sáng màu, xếp liền nhau tạo thành hàng dọc giữa chi trước và chi sau; gốc đuôi có vệt sáng màu hình chữ U hoặc chữ V; mặt bụng màu vàng nhạt…
Đây là loài thằn lằn mới thứ hai được phát hiện ở tỉnh Cao Bằng trong năm 2013. Trước đó, loài tắc kè ad-lơ Gekko adleri cũng đã được công bố vào tháng 5. (Thanh Niên 26/11; Khoa Học&Đời Sống 27/11) đầu trang(
Ông Hoàng Văn Tân, Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Bình, cho biết, những năm gần đây, tình trạng thiếu đất sản xuất dẫn đến tranh chấp, lấn chiếm đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đang ngày “nóng” lên tại nhiều xã miền núi, giáp ranh biên giới.
“Mặc dù UBND tỉnh Quảng Bình đã tổ chức nhiều cuộc họp chuyên đề với các Sở, ngành, địa phương để giải ‘cơn đói’ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Thế nhưng, tiến độ giao đất, trao 'cần câu' cho bà con thoát nghèo trên thực tế còn rất chậm,” ông Tân nhìn nhận.
Thông tin trên được ông Tân đưa ra tại hội thảo “Thực trạng và nhu cầu sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình,” do Ban dân tộc tỉnh phối hợp với Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh tổ chức ngày 26/11.
Theo báo cáo của Ban dân tộc tỉnh Quảng Bình, tính đến ngày 31/12/2012, toàn tỉnh có 4.876 hộ dân tộc thiểu số, với 21.641 nhân khẩu. Đồng bào dân tộc thiểu số ở đây sinh sống chủ yếu tại các khu vực miền núi khó khăn, giáp ranh biên giới.
Hiện nay, thực trạng thiếu đất sản xuất, diện tích đất chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp, bấp bênh. Cũng do thiếu đất sản xuất đã nảy sinh tình trạng xâm chiếm, tranh chấp đất đai giữa người dân với các công ty lâm nghiệp trên địa bàn ngày càng phổ biến.
Kết quả khảo sát của Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh thực hiện trong năm 2013 tại 7 xã của 4 huyện miền núi, biên giới, khó khăn cho thấy: Mặc dù các xã miền núi có diện tích tự nhiên rất lớn nhưng việc tiếp cận đất, bao gồm cả đất ở và đất sản xuất của người dân hiện vẫn còn khó khăn.
Cụ thể, có tới 93% người dân (thuộc 4 huyện) đều có nhu cầu được cấp thêm đất sản xuất, bình quân mỗi hộ cần thêm 7,93 ha đất các loại; trong đó nhu cầu về đất rừng là 4,72 ha/hộ. Ngoài ra, có 3/6 xã người dân thiếu đất ở và 6/6 xã thiếu đất rừng sản xuất. Trong đó, một số xã thiếu đất trầm trọng như xã Trường Sơn (huyện Quảng Ninh), xã Lâm Thủy và Ngân Thủy (huyện Lệ Thủy) có tới 28-75% diện tích đất lâm nghiệp thuộc quyền sử dụng của các đơn vị, tổ chức.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Ban Dân tộc tỉnh với Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh cũng cho thấy, có khoảng 4-96% đất thuộc quyền sử dụng của các tổ chức kinh tế, trong khi đó chỉ có 2-25% thuộc quản lý của Ủy ban nhân dân xã và hộ gia đình. Cùng với đó, Quỹ đất do Ủy ban Nhân dân xã quản lý hầu hết đều không có hoặc có với tỷ lệ rất thấp.
Ông Nguyễn Sơn Hải, Phó chủ tịch UBND xã Trường Sơn (một trong những xã có tỷ lệ hộ dân dân thiếu đất sản xuất cao nhất ở huyện Quảng Ninh) cho biết trong số hơn 74.000 ha đất lâm nghiệp thuộc ranh giới của xã thì các lâm trường, Ban quản lý rừng đã "ôm" trên 70.000ha. Trong khi đó, xã có tới gần 900/1.025 hộ dân thiếu đất sản xuất, thiếu công ăn việc làm, tỷ lệ hộ nghèo đói rất cao, với 508 hộ (chiếm hơn 50%).
“Cũng chính vì bất cập trong việc giao đất giao rừng, ranh giới không rõ ràng nên nhiều năm qua tình trạng tranh chấp, xâm lấn đất lâm nghiệp giữa các hộ dân trong xã với các lâm trường đóng trên địa bàn vẫn diễn ra rất nóng bỏng,” ông Hải thở dài nói.
Tại hội thảo, các đại biểu đến từ Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở NN&PTNT cùng với các huyện, xã miền núi cũng thừa nhận: Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh là quyền lợi tất yếu và ngày càng trở nên cấp thiết. Tuy nhiên, vấn đề giao đất cho người dân vẫn đang là bài toán khó, chưa tìm được sự đồng thuận giữa các bên, đặc biệt là các Công ty Lâm trường.
Theo nhiều đại biểu, nguyên nhân cơ bản là do diện tích đất được giao sau khi thu hồi chưa phù hợp với đề xuất của Ủy ban Nhân dân các xã như: Diện tích đất bóc tách giao cho người dân sử dụng, quản lý là rừng đặc dụng không khai thác được; hoặc phần diện tích đất được giao nằm xa khu dân cư, xa đường giao thông, diện tích đất trên núi cao, khe suối...
Thực hiện Nghị định 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 và Nghị định 200/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo rà soát đất lâm nghiệp của các nông-lâm trường đồng thời tiếp tục giao cho các nông, lâm trường diện tích mà đơn vị đang quản lý, sử dụng hiệu quả, có khả năng phát triển sản xuất.
Phần diện tích đất còn lại, Ủy ban Nhân dân tỉnh thu hồi giao cho các địa phương quản lý để tổ chức giao cho các hộ gia đình sản xuất, ưu tiên các hộ đồng bào dân tộc thiểu số và người dân gần rừng để có đất sản xuất. Tuy vậy, gần chục năm qua, vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp đất tại các xã, huyện miền núi tỉnh Quảng Bình vẫn còn phức tạp.
Ông Hoàng Văn Tân, Phó Trưởng Ban tộc tỉnh Quảng Bình cho biết, tuy đã đạt những kết quả nhất định, nhưng việc sử dụng và quản lý sử dụng đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn phức tạp, tình trạng xâm canh, lấn chiếm vẫn còn xảy ra tại một số huyện như: Quảng Ninh, Lệ Thủy, Minh Hóa...
Đề cập đến giải pháp tháo gỡ những khó khăn nêu trên, ông Tân cho rằng các sở, ngành, địa phương có liên quan tiếp tục rà soát, tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông-lâm nghiệp trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số đồng thời cân đối giao và cấp đất đủ cho các hộ thiếu đất sản xuất theo mức bình quân của địa phương nhất là các cụm dân cư, các hộ gia đình sinh sống trong vùng có các lâm trường.
Ngoài ra, ông Tân cũng đề xuất các UBND tỉnh và các huyện cần hỗ trợ bà con khai hoang, cải tạo đất sản xuất ở những nơi có khả năng khai hoang, nâng định mức hỗ trợ khai hoang từ 10 triệu đồng/ha lên 15 triệu đồng/ha. Mặt khác, các địa phương cần rà soát, cân đối đất rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân tộc thiểu số tham gia bảo vệ và trồng rừng mới theo quy định của pháp luật.
“Cùng với các giải pháp trên, Ủy ban Nhân dân tỉnh và các địa phương cần giao trách nhiệm cho lực lượng kiểm lâm hoặc các tổ chức có năng lực hướng dẫn và giúp đồng bào tổ chức bảo vệ rừng,” ông Tân cho biết thêm.
Ở một góc độ khác, ông Phạm Mậu Tài, Giám đốc Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, cho rằng giải pháp cốt lõi để "giả bài toán" nghèo đói, lấn chiếm đất đai là cần đảm bảo đủ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo ông Tài, giao đất cho đồng bào dân tộc thiểu số đang thiếu đất là cơ sở để người dân sản xuất và ổn định cuộc sống bền vững. Do đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh và các huyện cần tạo điều kiện cho người dân tham gia quản lý và sử dụng đất rừng tại địa phương, để người dân vừa tạo thu nhập, vừa góp phần bảo vệ hiệu quả đất rừng tự nhiên. Đối với các xã không còn quỹ đất, cần có giải pháp thu hồi đất từ các công ty lâm nghiệp và từ Ban quản lý rừng phòng hộ đang quản lý.
“Ngoài ra, để thúc đẩy sớm việc thu hồi, trước mắt, chính quyền các xã cần chủ động rà soát lại các diện tích đất đề xuất thu hồi, xây dựng phương án giao đất đồng thời vận động tích cực, thường xuyên để người dân tổ chức sản xuất trên diện tích đã có và hạn chế việc mua bán sang chuyển nhượng đất rừng,” ông Tài khuyến nghị. (VietnamPlus.vn 27/11) đầu trang(
Thực hiện Nghị quyết số 28 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, tỉnh Nghệ An đã đạt được những kết quả nhất định, trong đó đã chuyển đổi, nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại các nông, lâm trường, đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.
Trong công tác sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh tỉnh đã sắp xếp lại năm nông trường và ba công ty thành tám công ty nông nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, sắp xếp sáu lâm trường và một công ty thành bảy công ty lâm nghiệp.
Theo Phó Chánh văn phòng UBND tỉnh Nghệ An Võ Hồng Dương, tính đến giữa năm 2012, toàn tỉnh đã có 13 công ty nông, lâm nghiệp và 14 Ban quản lý các rừng phòng hộ. Cùng với việc chuyển đổi các nông, lâm trường thành các công ty theo Luật Doanh nghiệp, tỉnh cũng đã chỉ đạo quyết liệt công tác đổi mới quản lý, sử dụng đất.
Trước khi sắp xếp lại, toàn tỉnh có hơn 223 nghìn ha đất nông, lâm trường, hiện nay có hơn 504 nghìn ha, tăng 281 nghìn ha. Các Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trước khi sắp xếp có 128 nghìn ha, hiện nay là 427 nghìn ha, tăng 299 nghìn ha, trong số diện tích trên có 122 ha đất đã chuyển sang ký hợp đồng thuê đất.
Ðánh giá những kết quả cũng như hạn chế của công tác sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh của tỉnh Nghệ An cho thấy, hệ thống các công ty nông, lâm nghiệp đã được chuyển đổi và sắp xếp phù hợp với yêu cầu phát triển, hoàn thiện việc quy hoạch sử dụng đất; các công ty phần lớn thực hiện tốt chức năng cung ứng, tiêu thụ và dịch vụ kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, đồng thời thực hiện tốt các dự án như: Dự án trồng rừng Việt - Ðức, Dự án 661, 147...
Hằng năm, bình quân toàn tỉnh trồng mới hơn 10 nghìn ha rừng tập trung, góp phần cải tạo vùng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến, nâng độ che phủ của rừng từ 45% năm 2002 lên 53,3% năm 2011.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng xác định còn nhiều hạn chế từ công tác rà soát quỹ đất được giao, trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định mốc giới. Ðặc biệt, tại nhiều nơi, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất, cho thuê, cho mượn, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật trong các nông, lâm trường còn diễn ra trong thời gian dài nhưng chưa được giải quyết dứt điểm.
Phó Trưởng phòng kinh tế tổng hợp thuộc UBND tỉnh Nghệ An Nguyễn Quang Thiềm cho biết, hiện nay các công ty nông, lâm nghiệp đang được tỉnh cấp đất với hình thức không thu tiền sử dụng đất. Thu nhập của người lao động tại các doanh nghiệp sau khi sắp xếp lại còn thấp, nhiều nơi diễn ra tình trạng nợ bảo hiểm xã hội người lao động.
Ðây chính là những hạn chế mà tỉnh đã chỉ ra, cần tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại hoạt động của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp trong thời gian trước mắt và lâu dài nhằm phát huy cao nhất hiệu quả sử dụng đất đai, không ngừng nâng cao thu nhập cho người lao động, thúc đẩy kinh tế địa phương, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước phát triển. (Nhân Dân 28/11) đầu trang(
Dự án phát triển lâm nghiệp do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, Ngân hàng Chính sách xã hội (CSXH) quản lý đã tạo sinh kế lâu dài cho hàng ngàn hộ khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam.
Màu xanh của rừng nguyên liệu giấy phủ kín đồi, núi tại các huyện Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức và Quế Sơn. Nông dân (ND) ở đây đang được hưởng nhiều lợi ích, trong đó có lợi ích kinh tế từ chương trình vay vốn ưu đãi trồng rừng.
Gia đình chị Lê Thị Học ở thôn 3, xã Trà Giang (Bắc Trà My) nhờ được vay vốn hộ nghèo và vốn ưu đãi cách đây mấy năm đã trồng được 10ha keo nguyên liệu giấy. Tới nay, gia đình chị đã có đời sống khấm khá nhờ 40% diện tích keo đã cho thu hoạch. Cùng xã Trà Giang, hộ ông Triệu Khánh Hòa ở thôn 5 cũng vừa thu hoạch 3ha keo, đạt 60 triệu đồng/ha, 4ha khác sẽ cho thu hoạch vào những năm tới.
Chị Y Nong (dân tộc KDong) ở thôn 2 cũng mạnh dạn vay 76 triệu đồng vốn ưu đãi, trong đó riêng vốn trồng rừng là 48 triệu đồng. “Trước đây, cứ 1ha rừng trồng nhà tôi được vay 10 triệu đồng vốn ưu đãi, năm 2012 nâng lên 15 triệu đồng/ha…” - chị Y Nong cho hay.
Toàn xã Trà Giang hiện có hơn 2.000ha đất lâm nghiệp, trong đó riêng đất rừng sản xuất đã phủ xanh cây là 850ha. Năm 2013, nhờ được vay vốn ưu đãi nên đã có 157 hộ trồng hơn 250ha rừng kinh tế. Ông Nguyễn Ngọc Bích - Phó Chủ tịch UBND xã nói: “Có vốn ưu đãi nên bà con đã mạnh dạn trồng rừng. Dù trồng trước hay trồng sau thì chắc chắn đời sống, thu nhập của bà con trong xã sẽ được cải thiện theo hướng bền vững, lâu dài…”.
Dự án không những mang lại lợi ích kinh tế, kiến thức lâm nghiệp cho ND mà còn góp phần cải thiện môi trường sinh thái, thúc đẩy nâng cao chất lượng quản lý đất rừng một cách minh bạch và khoa học. Bà Nguyễn Thị Kim Vinh ở xã Bắc Trà My cho hay: “Không có chuyện nói vay vốn là vay được ngay. Hộ vay vốn phải được xác định rõ về vị trí, diện tích đất rừng và phải được cấp sổ đỏ thì ngân hàng mới giải ngân... Việc này rất hay là giúp bà con chúng tôi rất yên tâm vì đất rừng là đúng của mình”.
Ông Nguyễn Ngọc Bích - Phó Chủ tịch UBND xã Trà Giang thừa nhận, cách triển khai dự án đã thúc đẩy các cơ quan chức năng vào cuộc đo đạc, xác định mốc giới và cấp sổ đỏ cho các hộ trồng rừng. Ông Nguyễn Văn Hiền - Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng CSXH huyện Tiên Phước cho biết, tổng dư nợ cho vay ưu đãi trồng rừng trên địa bàn huyện hiện là hơn 50 tỷ đồng. Vốn ưu đãi trồng rừng đã về với ND 10/15 xã trên địa bàn huyện, góp phần giúp bà con phát triển kinh tế…(Nông Thôn Ngày Nay 27/11) đầu trang(
Là địa phương có nhiều dân tộc cùng sinh sống, dân cư sống xen kẽ với rừng, nếu không giác ngộ và vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ, phát triển rừng, thì những cánh rừng ở huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình khó giữ được màu xanh.
Nho Quan có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 17.292,9 ha, chiếm 3/5 diện tích rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh, phân bố rộng trên 17/27 xã, thị trấn, trong đó có 3 xã vùng cao là vùng đệm của Vườn Quốc gia Cúc Phương.
Nếu mất rừng Nho Quan, toàn bộ khu vực Tam Điệp, Gia Viễn, Hoa Lư sẽ có nguy cơ cạn kiệt nguồn nước, gây khó khăn cho đời sống dân sinh và đẩy ngành du lịch của tỉnh trở nên điêu đứng. Bởi thế, công tác bảo vệ và phát triển rừng luôn được chính quyền và Hạt Kiểm lâm huyện Nho Quan coi trọng.
Ông Trần Viết Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nho Quan cho biết: Với đặc thù là một huyện miền núi, có nhiều dân tộc cùng sinh sống, điều kiện kinh tế còn khó khăn (đặc biệt là 3 xã Kỳ Phú, Phú Phương, Phú Long), những năm 1990 trở về trước, rừng Nho Quan bị tàn phá nặng nề.
Người dân đua nhau lên rừng xẻ gỗ dựng nhà sàn, chặt củi lấy chất đốt và làm nương rẫy. Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm khi ấy quá mỏng, chưa có kiểm lâm phụ trách địa bàn nên dù có “ba đầu sáu tay”, xoay như chong chóng cũng không quản lý xuể.
Để làm tốt công tác bảo vệ rừng, giảm thiểu hiểm hoạ cháy rừng có thể xảy ra, Hạt đã phối hợp chặt chẽ với UBND huyện Nho Quan và chính quyền các xã thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi phá rừng làm gương cho những người khác, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết của người dân về tầm quan trọng của rừng đối với đời sống dân sinh.
Bước ngoặt có ý nghĩa quyết định nhất đối với việc bảo vệ và phát triển rừng là năm 1994, khi Nghị định 02/CP của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp được ban hành. Đến cuối năm 2008, huyện đã giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho 2.552 hộ gia đình với tổng diện tích 2.382,836 ha. Hiện nay, 100% diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã có chủ, có sự quản lý của Nhà nước.
“Khi người dân được tự chủ trên mảnh đất của mình, họ sẽ phát huy tối đa khả năng sáng tạo để làm giàu cho đất. Nhiều mô hình trang trại vườn rừng cho hiệu quả kinh tế cao đã được hình thành, tiêu biểu như mô hình trồng bạch đàn thuần ở xã Thạch Bình; mô hình trồng cây hỗn giao xã Xích Thổ, mô hình trồng luồng ven chân núi đá của xã Phú Long…
Trong tổng số hơn 17.000 ha đất lâm nghiệp, chỉ có 1.077 ha đất trống, chủ yếu là đất núi đá lộ đầu, cây rừng không thể phát triển. Diện tích rừng trồng 2.190 ha rừng, hàng năm đã cung cấp hàng nghìn m3 gỗ củi cho nhu cầu dân dụng, tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Kết quả đó đã đóng góp một phần tích cực trong việc xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân vùng nông thôn, miền núi”, ông Hùng nói.
Anh Ngô Minh Tân, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Phú Long cho biết: “Năm 2009, toàn bộ khu rừng trồng keo ở các xã Phú Long, Kỳ Phú, Phú Lộc, Quỳnh Lưu, Sơn Lai, Quảng Lạc, Sơn Hải đã được 5 năm tuổi rồi. Nay đã có thể cho thu hoạch để làm nguyên liệu giấy cho nhà máy Bãi Bằng (Phú Thọ) với doanh thu khoảng 60 - 70 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, vì thời hạn giao đất của nhà nước kéo dài 7 năm nên nhiều hộ dân chưa vội bán, chờ cây to hơn để xuất gỗ cho các xưởng mộc”.
Anh Ngô Minh Tân cũng là chủ một khu rừng keo rộng 10 ha nên hiểu được giá trị kinh tế rất lớn mà cây keo lai mang lại. “Với 1 ha, chủ rừng chỉ mất từ 3,5 đến 4 triệu đồng để mua giống, thuê người trồng. Đến năm thứ 3, cây keo bắt đầu cho thu nhập từ việc phát dọn, tỉa thưa với giá 900.000 đ/tấn gỗ nguyên liệu. Đó là một biện pháp để lấy ngắn nuôi dài chờ ngày gỗ lớn”, anh Tân chia sẻ. (Nông Nghiệp Việt Nam 27/11) đầu trang(
Chiều 27-11, UBND tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật Dự án bảo vệ và phát triển rừng khu vực ven hồ chứa nước thủy lợi Phú Ninh.
Dự án do Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh làm chủ đầu tư. Theo đó, trong năm 2013, Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh sẽ tổ chức trồng 75ha cây keo tai tượng thuần tại Tiểu khu 582 thuộc xã Tam Dân (huyện Phú Ninh), với tổng mức đầu tư hơn 731 triệu đồng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang cho biết: Việc trồng 75 ha rừng lần này nhằm tăng độ che phủ rừng, bảo đảm và duy trì lượng nước cho hồ chứa nước Phú Ninh để phục vụ tưới cho hàng chục nghìn ha lúa, rau màu trên địa bàn tỉnh; đồng thời chống xói mòn, hạn chế lũ lụt cho vùng hạ du trong mùa mưa lũ… (Nhân Dân 27/11) đầu trang(
Ngày 27/11, ông Trần Duy Tấn - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên cho biết, vừa thả 56,7 kg động vật hoang dã là rùa, rắn, nhím, chồn vào Khu bảo tổn thiên Ea Sô thuộc huyện Ea Kar, tỉnh Đăk Lăk trong đêm 26/11.
Toàn bộ số động vật hoang dã nêu trên được tổ kiểm lâm cơ động của Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh phát hiện, bắt giữ khi ông Nguyễn Văn Lực, 44 tuổi, trú ở thôn Mỹ Hòa, xã Hòa Thịnh, huyện Tây Hòa vận chuyển trái phép trên xe máy tại địa bàn thôn Bình Sơn, xã Sông Hinh, huyện Sông Hinh.
Trong thời gian gần đây, trên địa bàn tiếp giáp giữa Phú Yên với hai tỉnh Gia Lai, Đăk Lăk thường tái diễn nạn mua bán, vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã quý hiếm. Lực lượng kiểm lâm Phú Yên đang tăng cường các biện pháp truy chặn. (Công An Nhân Dân 28/11; Chinhphu.vn 27/11; An Ninh Thủ Đô 27/11; Nông Thôn Ngày Nay 28/11 Lao Động 28/11) đầu trang(
Chi hội câu lạc bộ Lâm Nghiệp Bắc Kạn phối hợp với Chi cục Lâm Nghiệp tỉnh vừa tổ chức buổi gặp mặt các cán bộ đã và đang tham gia công tác trong ngành Lâm Nghiệp nhân dịp kỷ niệm ngày Lâm Nghiệp Việt Nam 28/11/1959 – 28/11/2013.
Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã chia sẻ những thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và những nội dung liên quan đến hoạt động của ngành Lâm Nghiệp như: Làm sao để huy động được sức dân tham gia phát triển rừng, làm thế nào để công tác trồng rừng luôn đạt và vượt kế hoạch; các cơ hội phát triển và những thách thức cho ngành Lâm nghiệp trong thời gian tới..... Qua đó các đại biểu cùng rút ra những kinh nghiệm, những bài học tốt về phát triển rừng để áp dụng tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình công tác.
Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm ngày Lâm Nghiệp Việt Nam nhằm giáo dục ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường trong toàn dân; giáo dục tình yêu ngành, yêu quê hương, đất nước trong cán bộ, công nhân viên chức và người lao động ngành lâm nghiệp. Động viên phong trào thi đua lao động sản xuất, phát triển rừng với năng suất, chất lượng cao; sử dụng tài nguyên rừng hợp lý, tiết kiệm, phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội của địa phương. (Đài PT - TH Bắc Kạn 27/11) đầu trang(
Ngày 26/11, tại T.P Huế, Cục Lâm nghiệp tổ chức hội thảo đánh giá thực trạng các công ty lâm nghiệp Nhà nước (lâm trường quốc doanh) nhằm đề xuất định hướng phát triển, phương thức quản lý và chính sách phù hợp.
Sau thực hiện Nghị quyết số 28 của Trung ương và Nghị định số 200 của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, đến cuối năm 2012, cả nước còn 134 công ty lâm nghiệp (CTLN), 91 ban quản lý rừng phòng hộ.
Trong 134 CTLN được chia thành 4 nhóm chính, gồm: nhóm CTLN chủ yếu quản lý rừng sản xuất là rừng trồng với 58 công ty; nhóm CTLN chủ yếu quản lý rừng sản xuất là rừng tự nhiên có 68 công ty; nhóm CTLN quản lý trên 90% diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có 5 công ty và nhóm CTLN có diện tích dưới 1.000 ha chủ yếu làm dịch vụ về lâm nghiệp có 3 công ty.
Trước sắp xếp, diện tích đất lâm nghiệp của các CTLN là 3,828 triệu ha, đến cuối năm 2012 còn trên 1,903 triệu ha; trong đó đất rừng sản xuất chiếm 82,4%, đất rừng phòng hộ chiếm 17,1% và đất rừng đặc dụng chiếm 0,5% diện tích đất lâm nghiệp. Diện tích đã chuyển sang thuê đất chiếm 18,5% diện tích các công ty quản lý. Có 55,6% diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 2005-2012, các CTLN đã bàn giao về địa phương khoảng 13,4% diện tích đất các công ty quản lý.
Hội thảo đã phân tích, đánh giá thực trạng các CTLN sau đổi mới sắp xếp; đồng thời trên cơ sở những tồn tại, khó khăn, thách thức, hội thảo cũng đã báo cáo đề xuất tiếp tục đổi mới, sắp xếp và đưa ra những cơ chế, chính sách cần thiết để giúp cho việc quản lý sử dụng có hiệu quả đất đai tài nguyên rừng trong các CTLN.
Trong đó đề xuất cơ chế, chính sách liên quan đến việc cơ cấu lại hệ thống các CTLN; giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chính sách tài chính, đầu tư, thuế, tín dụng; đề xuất các mô hình CTLN; đề xuất cơ chế chính sách về định biên, phương án khai thác đối với rừng tự nhiên; thuê đất, trồng cây gỗ lớn, định giá khi chuyển chủ sở hữu đối với rừng trồng... (Báo TT- Huế 27/11) đầu trang(
Từ lâu người dân sinh sống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã khai thác các nguồn thực vật, động vật từ rừng để phục vụ cho cuộc sống, song qua quá trình khai thác thiếu khoa học, quy hoạch, nhất là giai đoạn từ 1976 đến 1990 đã làm độ che phủ của rừng giảm sút, hệ sinh thái rừng ngày càng nghèo kiệt.
Nếu trước năm 1970, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh còn chiếm tới trên 50%, trong đó tỷ lệ rừng nguyên sinh, rừng giàu chiếm 2/3 thì đến năm 1990 tỷ lệ che phủ rừng chỉ còn 13%, đồng nghĩa với việc diện tích đất trống, đồi núi trọc tăng lên một cách đáng kể. Từ một địa phương giàu tài nguyên rừng, trên rừng có nhiều loại lâm sản quý, như lim xanh, dổi, chò chỉ, lát hoa… cùng hàng ngàn loại động vật hoang dã, Phú Thọ mau chóng trở thành tỉnh đa dạng sinh học bị giảm sút nghiêm trọng.
Sau mấy chục năm đổi mới phát triển, đặc biệt từ năm 1997 tái lập tỉnh đến nay thông qua chính sách giao đất, giao rừng, tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, huy động các nguồn lực phát triển trồng mới, tỷ lệ phủ xanh trên đất lâm nghiệp của tỉnh ngày một nâng lên từ 30,8% năm 2000 lên trên 50% vào năm 2012. Tỉnh đã quy hoạch ba loại rừng, giao đất giao rừng đến chủ hộ cá nhân, doanh nghiệp, đơn vị, đưa lâm nghiệp thành chương trình nông nghiệp trọng điểm, là mũi nhọn phát triển kinh tế.
Năm 2012 giá trị sản xuất toàn ngành đạt 3.328,6 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2011, trong đó lâm nghiệp tăng 8,2%; với sản lượng gỗ khai thác đạt gần 356 nghìn m3, từ đó đã đóng góp tích cực vào phát triển các lĩnh vực kinh tế, trong đó có nhiều lĩnh vực hàng đầu cả nước như công nghiệp giấy, đặc biệt là bảo vệ các hệ sinh thái, môi trường và đa dạng sinh học tại các vùng nông thôn, miền núi. Tuy đã tăng nhanh diện tích phủ xanh, đưa lâm nghiệp ngày càng có vị thế lớn trong kinh tế nhưng nhìn lại phát triển lâm nghiệp mấy chục năm qua cũng bộc lộ hạn chế.
Thứ nhất, tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc nhanh nhưng chất lượng rừng hạn chế. Từ năm 1990 đến nay thông qua các chương trình, dự án như 327, 661, trồng rừng nguyên liệu giấy, chương trình lâm nghiệp xã hội... để đẩy mạnh trồng rừng. Do đặc thù thị trường và yêu cầu đầu tư nhanh mấy chục năm qua, ưu tiên số một là trồng các cây nguyên liệu giấy như bạch đàn, mỡ, keo, bồ đề... còn cây phục vụ cho chương trình kinh tế khác như cây gỗ lớn, cây lấy gỗ quý, cây dược liệu ít được quan tâm…
Phần lớn nông dân sống trong khu vực nông thôn miền núi - nơi có nhiều rừng, đất rừng thiếu vốn, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh, nhất là thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn lao động chủ yếu là giản đơn, bất cập cho việc phát triển một nền sản xuất lâm nghiệp hàng hóa nên khi tham gia khai thác kinh tế lâm nghiệp khó khăn, thiếu ổn định, chỉ quan tâm đến cái lợi nhất thời, từ đó dẫn đến năng suất và hiệu quả rừng trồng thấp các hệ sinh thái rừng, tính đa dạng sinh học của rừng chưa được nâng cao.
Các loại lâm sản ngoài gỗ chưa được chú trọng. Do áp dụng kỹ thuật trồng rừng coi trọng cây trồng chính, qua quá trình xử lý thực bì, chăm sóc phục vụ trồng rừng mới chủ yếu quan tâm cây lâm nghiệp chủ đạo, các loại cây lương thực ngắn ngày, cây lâm sản ngoài gỗ như dươc liệu, mây, tre, nứa... vật nuôi dưới tán rừng chưa được quan tâm phát triển, thậm chí còn bị triệt hạ.
Thứ hai, ngành công nghiệp chế biến của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng lâm nghiệp, làm cho việc trồng rừng bị mất cân đối. Hiện nay ngoài công nghiệp chế biến giấy là tương đối phát triển, còn các ngành công nghiệp chế biến lâm sản khác của tỉnh chưa thực sự chú trọng nên không tạo cơ hội cho người trồng rừng đa dạng sinh học. Một ví dụ nhiều người biết, có thời kỳ một số địa phương rộ rạt trồng quế, nhưng kết quả bán làm dược liệu rất hạn chế, từ đó dẫn đến bán nguyên liệu và sản phẩm sơ chế buộc người trồng phải chặt bỏ!
Thứ ba, các tiềm năng khác như dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái chưa được đẩy mạnh phát triển. Hiện nay trong gần 200 ngàn ha rừng, đất rừng, tỉnh Phú Thọ có trên 60 ngàn ha rừng đặc dụng và rừng phòng hộ gắn với một số khu du lịch, danh lam thắng cảnh, di tích như Đền Hùng, Xuân Sơn, Núi Nả, Khu di tích Phục Cổ...
Thực tế tiềm năng rừng ở những nơi này chưa được khai thác hợp lý để góp phần phát triển kinh tế, xã hội. Thực trạng trên cho thấy để phát triển lâm nghiệp theo hướng đa dạng đi đôi với việc bảo vệ các hệ sinh thái, môi trường và tại các vùng nông thôn, miền núi, là một yêu cầu rất lớn để khai thác hiệu quả hơn tiềm năng lâm nghiệp .
Để thực hiện tốt yêu cầu này cần tập trung chỉ đạo theo hướng: Thực hiện tốt công tác quản lý đất đai tạo cơ hội nhiều thành phần tham gia phát triển vốn rừng. Trước hết tiếp tục duy trì kết quả giao đất, giao rừng và tiếp tục tăng cường hiệu quả công tác quản lý đất rừng theo nội dung mới của Luật Đất đai để người sản xuất yên tâm, mạnh dạn đầu tư phát triển.
Trước mắt ổn định diện tích giao khoán cho đơn vị, cá nhân khai thác, quản lý tốt đất rừng, đồng thời rà soát sắp xếp lại diện tích đã giao khai thác không hiệu quả, tạo cơ hội cho tổ chức, cá nhân có điều kiện tham gia phát triển lâm nghiệp.
Phát triển lâm nghiệp theo đúng định hướng quy hoạch bảo vệ và phát triển các loại rừng đã được phê duyệt. Đối với rừng đặc dụng, phòng hộ cần bảo vệ diện tích hiện có, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học của rừng, trồng các loài cây bản địa, cây dược liệu dưới tán rừng phòng hộ; khai thác phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường, phát huy tốt nhất khả năng phòng hộ đầu nguồn.
Đối với rừng sản xuất tập trung có chọn lọc loại cây đa mục tiêu, hiệu quả kinh tế cao, quy hoạch phát triển rừng gắn với chế biến công nghệ cao, chế biến với tiêu thụ. Trong đó ưu tiên tiếp tục thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu giấy đã cam kết với Chính phủ tạo điều kiện để Nhà máy giấy Bãi Bằng phát triển ổn định, đồng thời tạo cơ hội mở rộng trồng các loại rừng khác phục vụ yêu cầu dân sinh… (Báo Phú Thọ 27/11) đầu trang(
Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đã hoàn thành công tác bàn giao hiện trường khoán bảo vệ 1.320ha rừng thuộc các tiểu khu 3,5 và 39 cho các hộ dân là đồng bào người Cơ Tu tại 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí quản lý.
Đây là khu vực giáp ranh với Quảng Nam và TT-Huế, được đánh giá vùng dễ xảy ra việc chặt phá rừng, săn bắt động vật trái phép.
Theo cơ quan chức năng, thời gian tới, bằng các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu, TP Đà Nẵng sẽ tiếp tục ưu tiên công tác giao khoán rừng cho nhân dân địa phương, đặc biệt là cộng đồng dân cư vùng giáp ranh, vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi này. (Báo Công an TP Đà Nẵng 27/11) đầu trang(
Trong những năm gần đây, công tác trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Chiêm Hóa được quan tâm, chú trọng. Đặc biệt là việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn giống cây lâm nghiệp phù hợp với điều kiện đất đai, tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao hiệu quả kinh tế từ diện tích đất vườn rừng đã giúp cho nhiều hộ gia đình có thêm nguồn thu nhập, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Rời quê hương Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lên định cư tại thôn An Phú, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa, năm 2003, ông Đoàn Văn Pha được chính quyền xã tín nhiệm, giao khoán chăm sóc 12 ha đất trồng chè của hợp tác xã. Thực hiện chủ trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sau khi tìm hiểu thị trường, năm 2005, ông Pha mạnh dạn đầu tư vốn để đưa cây sơn vào trồng xen với cây chè trên diện tích 5 ha.
Nhờ được chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, chỉ sau hơn 2 năm, cây sơn đã cho thu hoạch. Nhựa sơn thu về đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Chưa kể thu nhập từ cây chè, kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm, trong 5 năm đầu tiên, mỗi năm, gia đình ông Pha có nguồn thu từ rừng sơn trên 300 triệu đồng. Không chỉ đảm bảo việc làm và thu nhập cho các thành viên trong gia đình, ông Pha còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở địa phương. Bình quân một người thợ khai thác nhựa sơn có thu nhập từ 100– 120.000đồng/ngày.
Có mặt ở hầu khắp các xã, thị trấn trên địa bàn 4 huyện Chiêm Hóa, Na hang, Lâm Bình, Hàm Yên để cung ứng cây giống lâm nghiệp và tư vấn kỹ thuật cho người trồng rừng, hơn ai hết, kỹ sư Hà Văn Điệt là người hiểu sâu sắc giá trị của rừng cũng như tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp ở địa bàn huyện vùng cao. Giờ đây đã nghỉ hưu, ông dành toàn bộ thời gian, tâm huyết hướng về rừng, chắt chiu từng khoảng thời gian, công sức để gieo ươm những hạt mầm xanh cho rừng.
Từ khi thành lập cơ sở năm 2004 đến nay, bình quân mỗi năm, cơ sở của ông cung ứng ra thị trường từ 1,5 đến 2 triệu cây giống lâm nghiệp và cây cảnh, thu nhập từ 200 đến 250 triệu đồng. Ông vinh dự là doanh nghiệp đầu tiên ở Chiêm Hoá được Bộ NN&PTNT tặng thưởng Cúp "Thần nông", được Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam tặng thưởng Cúp "Diên Hồng", trở thành một tấm gương sáng, một điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, kinh doanh nghề rừng ở Tuyên Quang. (Đài PT - TH Tuyên Quang 28/11) đầu trang(
Ngày 24/11, tại Công ty cổ phần giấy An Hòa, UBND huyện Hàm Yên đã phối hợp tổ chức hội nghị phát triển vùng nguyên liệu giấy năm 2014. Đây là huyện đầu tiên trong tỉnh tổ chức cho cán bộ xã đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương, phát triển bền vững vùng nguyên liệu giấy trên địa bàn.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe lãnh đạo Công ty cổ phần giấy An Hòa thông báo cơ chế chính sách của Công ty trong việc đầu tư hỗ trợ, liên doanh, liên kết trồng rừng nguyên liệu giấy trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Công ty sẽ đầu tư cây giống chất lượng cao, có nguồn gốc, có xuất xứ rõ ràng cho các hộ gia đình. Với mỗi cá nhân, hộ gia đình tham gia trồng rừng với mật độ 1.826 cây/ha bằng giống keo tai tượng, được Công ty hỗ trợ 1.240.000 đồng/ha; đối với cá nhân tham gia trồng rừng mật độ 1.463 cây/ha bằng giống keo lai giâm hom, được Công ty hỗ trợ 1.400.000 đồng/ha.
Công ty sẽ đầu tư ứng trước một phần vốn bằng cây giống, phân bón theo định mức. Các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, chăm sóc, bảo vệ đến khi rừng đủ tuổi khai thác; đối với trồng rừng bằng keo lai hom được hỗ trợ là 3.300.000 đồng/ha; trồng rừng bằng keo tai tượng được hỗ trợ 2.750.000 đồng/ha.
Về cơ chế đầu tư đối với doanh nghiệp, mức đầu tư không vượt quá 8 triệu đồng/ha; đối với hộ gia đình mức đầu tư không vượt quá 5 triệu đồng/ha. Ngoài ra, Công ty còn hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các Ban Chỉ đạo trồng rừng nguyên liệu giấy cấp huyện, cấp xã, hỗ trợ kinh phí vận chuyển cây giống từ vườn ươm của Công ty đến địa điểm giao nhận; hỗ trợ 100% chi phí lập hồ sơ thiết kế trồng rừng…
Công ty cũng cam kết giá thu mua gỗ nguyên liệu giấy được tính theo giá của Công ty tại thời điểm bán. Từ đầu năm đến nay, Công ty cổ phần giấy An Hòa đã tiêu thụ trên 460.000 tấn gỗ nguyên liệu, bình quân mỗi tháng tiêu thụ 45.000 tấn gỗ nguyên liệu, trong đó nguyên liệu do huyện Hàm Yên cung cấp chiếm tỷ lệ từ 30 đến 40%. (Đài PT - TH Tuyên Quang 26/11) đầu trang(
“Rừng chết” chính là từ mà nhiều người dân ở thôn Hảo Sơn, xã Hòa Xuân Nam nói về khu rừng Sông Hàn bởi những cánh rừng hàng trăm năm tuổi đang ngày đêm bị chặt phá.
Nhìn từ điểm du lịch Đập Hàn, xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, khu rừng hiện ra với một màu xanh ngút mắt. Nhưng không ai nghĩ rằng phía sau màu xanh đó, khu rừng đặc dụng này đang bị “bức tử” bởi sự tàn phá của lâm tặc.
Đi sâu vào rừng, đâu đâu cũng nhìn thấy dấu vết nham nhở của những vạt rừng bị khai phá đốt than. Người dân ở đây cho biết, cứ khoảng 11 -12h trưa, những người hầm than xuống núi mang theo 2 - 4 bao than lớn. Hoạt động này diễn ra một cách công khai đến mức nhiều người dân ở thôn Hảo Sơn đã xem đó là chuyện bình thường.
Khu rừng bạt ngàn mà cách đây vài năm với rất nhiều loài cây rừng cổ thụ nhưng giờ đây đã trở nên trơ trọi. Cây lớn đã đành, cây nhỏ cũng không tha.
Đối với cây lớn, lâm tặc dùng cưa lốc phân thành từng đoạn khoảng 2,5m; xẻ thành những khúc gỗ vuông từ 10 - 15cm để đưa xuống hầm làm than. Hầm than hiện diện khắp nơi trong cánh rừng này, cứ đi khoảng chục mét lại thấy một hầm than. Xung quanh hầm than là cảnh tan hoang của rừng… (VOV 27/11) đầu trang(
Ngày 27.11, thượng tá Phạm Văn An, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Công an Hà Tĩnh, cho biết cơ quan này vừa hoàn tất điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện KSND cùng cấp, đề nghị truy tố bốn nghi phạm trong vụ phá rừng nghiêm trọng xảy ra tại Vườn quốc gia Vũ Quang.
Hai nghi phạm bị công an đề nghị truy tố về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là Nguyễn Đình Lê (41 tuổi, nguyên Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Hòa Hải, đóng tại xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh), Lê Văn Vĩnh (47 tuổi, nguyên Hạt phó Hạt kiểm lâm Vũ Quang).
Hai nghi phạm còn lại bị đề nghị truy tố về hành vi “vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng” là Nguyễn Văn Thanh (32 tuổi, trú xã Thanh Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình), Trần Đình Phú (26 tuổi, trú xã Phúc Đồng, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh).
Theo tài liệu điều tra PC46 Công an Hà Tĩnh, chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 10.2012 đến tháng 2.2013, đã có hơn 689 m3 gỗ Pơ Mu (464 cây, loại gỗ có giá trị kinh tế cao, thuộc nhóm IIA), tại tiểu khu 204 (thuộc xã Hòa Hải, huyện Hương Khê) và tiểu khu 198 (xã Hương Quang, huyện Vũ Quang, cả hai tiểu khu đều thuộc lâm phận của Vườn quốc gia Vũ Quang), bị đốn hạ.
Sau khi phát hiện vụ việc, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Vũ Quang điều tra, làm rõ. (Nông Thôn Ngày Nay 28/11; Pháp Luật TPHCM 28/11; Thanh Niên 27/11; Vietnamnet.vn 28/11) đầu trang(
Làm thế nào để nâng tỷ lệ độ che phủ rừng xấp xỉ 60% đến năm 2020 với chất lượng ổn định và đảm bảo đúng quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cũng như tạo điều kiện phát triển sinh kế cho người dân là yêu cầu đặt ra hiện nay. Cơ chế, chính sách để quản lý tốt tài nguyên rừng và loại đất này một cách bền vững cần sớm được xây dựng.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm, năm 2011 có gần 50 ha rừng tự nhiên và rừng trồng bị phá, lấn chiếm, tăng gấp 5 lần năm 2010. Năm 2012, con số này cũng tăng lên đáng kể ở các địa phương có rừng. Từ đầu năm 2013 đến nay, có 39 vụ phá rừng với diện tích 16,194 ha của các chủ rừng là BQL RPH Nam Đông, A Lưới, Khu BTTN Phong Điền, UBND các xã Hương Phú, Hương Sơn (Nam Đông), Hồng Vân, Hồng Hạ (A Lưới) và các nhóm hộ, cộng đồng, hộ gia đình quản lý. Mục đích phá rừng chủ yếu để lấy đất sản xuất, đặc biệt để trồng cao su, keo lai, rồi mua bán, sang nhượng trái pháp luật.
Những con số vi phạm này chỉ là phần nổi của tảng băng, chưa kể tích lũy và kéo dài trong suốt mấy năm qua nhưng vẫn chưa bị phát hiện hoặc bị phát giác nhưng chưa có cơ sở xử lý.
Theo phân tích của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng thời gian qua diễn biến phức tạp, tăng về quy mô và mức độ vi phạm, trước hết là do đời sống của người dân còn nghèo khó, sống gần rừng, phụ thuộc vào rừng nhưng lại thiếu đất rừng để sản xuất, trong khi các mô hình sản xuất khác cho năng suất thấp.
Mặt khác, do thi công các công trình thủy điện và các công trình an ninh quốc phòng, làm thu hẹp đất sản xuất của người dân; hoặc nảy sinh tình trạng phá rừng giành đất canh tác để được đền bù. Tại một số địa phương, việc “ưu ái” giao đất hoặc cho cá nhân, doanh nghiệp thuê đất với diện tích khá lớn để trồng rừng sản xuất, trong khi đó, việc quy hoạch đất sản xuất cho người dân chưa có, hoặc có nhưng chưa rõ ràng, khiến nhiều hộ dân không có đất sản xuất.
Trao đổi về việc làm thế nào để quản lý đất lâm nghiệp có hiệu quả, ông Hồ Đắc Trường, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ ra một số giải pháp cần sớm thực hiện.
Trước hết là tiến hành đo đạc, xác định ranh giới, cắm mốc, tiến đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, chủ rừng. Riêng đối với các công ty lâm nghiệp, cần phân biệt rõ diện tích rừng phòng hộ, diện tích rừng sản xuất gồm là rừng tự nhiên và rừng trồng để dễ quản lý, đồng thời thực hiện cơ chế giao đất (đối với rừng tự nhiên) và cho thuê đất (đối với rừng trồng) cho phù hợp.
Qua cắm mốc ranh giới sẽ kiểm soát và ngăn chặn được tình trạng lấn chiếm đất rừng. Ngoài cắm mốc như truyền thống đã làm, việc phân định ranh giới bằng trồng “rừng chỉ thị” hay “cây chỉ thị” để nhận biết và phân biệt giữa rừng cá nhân với tổ chức cũng là giải pháp hữu hiệu. Phương pháp này đã được Vườn quốc gia Bạch Mã áp dụng trồng và đã kiểm soát được hành vi lấn phá rừng khá thuận lợi, hiệu quả.
Trên địa bàn tỉnh cần hình thành trung tâm phát triển giống và nuôi cấy mô để phục vụ giống có chất lượng, giống cây bản địa, cho năng suất cao, mang giá trị đặc sản. Bởi hiện nay, đối tượng được chọn trồng đại trà vẫn là cây keo lai với chu kỳ ngắn, mang tính “ăn xổi”. Tương lai cần tính toán đưa vào trồng rừng gỗ lớn, chu kỳ dài hoặc trồng xen các giống bản địa trên rừng trồng kinh tế.
Để quản lý nguồn tài nguyên rừng hiệu quả, theo quan điểm của ông Nguyễn Đại Anh Tuấn, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh, bên cạnh trách nhiệm chính là lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương cũng đóng vai trò quan trọng không kém và đã được phân công, phân cấp cụ thể trách nhiệm trong công tác này. Vai trò của UBND cấp xã, chủ đại diện trực tiếp sử dụng đất cần phối hợp tốt, chặt chẽ với các BQL, công ty lâm nghiệp là chủ sử dụng đất rừng để giải quyết đến nơi đến chốn tình trạng người dân vi phạm phá rừng, lấn chiếm đất rừng.
Các đơn vị chủ rừng phải biết chia sẻ lợi ích với cộng đồng sống gần rừng, hỗ trợ mô hình, phương pháp, kỹ thuật phát triển sinh kế dưới tán rừng để những hộ sống gần rừng khai thác những lâm sản ngoài gỗ mà không nhất thiết phải dựa vào gỗ rừng và trồng rừng như tư tưởng lâu nay, góp phần tăng giá trị thành phẩm trên một diện tích canh tác. Trong tương lai, các khu bảo tồn và Vườn quốc gia Bạch Mã cần kết hợp phát triển du lịch sinh thái dưới tán rừng để khai thác hết tiềm năng, lợi thế; đồng thời mở rộng chia sẻ lợi ích rừng ra các vùng đệm.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả đề án giao rừng, cho thuê rừng với diện tích quy hoạch đến năm 2014 hoàn thành giao, cho thuê khoảng 195.660 ha rừng và đất lâm nghiệp đến các chủ rừng thuộc mọi thành phần kinh tế trên cơ sở đồng hưởng lợi để quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Việc chi trả dịch vụ môi trường rừng từ các đơn vị thủy điện, cấp nước cho các tổ chức chủ rừng cần sớm được áp dụng để các đơn vị tái đầu tư trồng rừng và khoán bảo vệ rừng. (Báo TT- Huế 27/11) đầu trang(
Ngày 27-11, CATP Bắc Ninh cho biết, ngày 24-11, tại P.Đại Phúc, TP Bắc Ninh, lực lượng CA tuần tra, phát hiện 3 đối tượng khả nghi gồm: Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Mậu và Nguyễn Kim Việt, cùng ở tỉnh Bắc Ninh đang vận chuyển trái phép 25 thanh gỗ sưa và 45 triệu đồng.
Bị kiểm tra, Dũng và Mậu đưa hối lộ cho tổ công tác 35 triệu đồng, mong được "cho qua" nhưng bị các anh kiên quyết từ chối, đồng thời lập biên bản, đưa các đối tượng cùng tang vật về trụ sở.
Hiện CATP Bắc Ninh tạm giữ hình sự Dũng và Mậu để tiếp tục điểu tra làm rõ. (Công an TPHCM 27/11) đầu trang(
Tháng 11/2013, tại các địa phương trên địa bàn TP Hà Nội không xảy ra cháy rừng và phá rừng.
Chi cục kiểm lâm Hà Nội đã phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện, xử lý 20 vi phạm Luật bảo vệ và phát triển ừng, tịch thu 136 cá thể động vật hoang dã thông thường; 17,89m3 gỗ. (Hà Nội Mới 27/11) đầu trang(
Ngày 25-11, Phó chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, ông Lê Văn Trúc ra quyết định xử phạt ông Ngô Quang Hạ (trú ở tỉnh Đắk Nông) 30.250.000 đồng và ông Vũ Xuân Thùy (trú ở tỉnh Đắk Nông) 31,5 triệu đồng, do mua, vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo các ngành chức năng, ông Thùy tổ chức mua trái phép 84kg gỗ hương thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIA và 4 khúc gỗ hộp từ nhóm 5 đến nhóm 6 (2,519m3); ông Hạ điều khiển xe ô tô mang BKS: 16L-1374 vận chuyển số gỗ trên. (Nông Thôn Ngày Nay 28/11; An Ninh Thủ Đô 28/11) đầu trang(
Chiều 26/11, trả lời PV Tiền Phong trong cuộc họp báo định kỳ năm 2013 do UBND tỉnh Gia Lai tổ chức, ông Ngô Ngọc Sinh- Chánh Văn phòng UBND tỉnh cho biết: Liên quan vấn đề lũ gây thiệt hại nghiêm trọng ở nhiều huyện phía đông Gia Lai, UBND đã có chỉ đạo và đang tích cực kiểm tra quy trình xả lũ của thủy điện An Khê - Ka Nak.
Hiện chưa có kết luận cụ thể nên chưa thể quy kết trách nhiệm trong vấn đề xả lũ gây thiệt hại. UBND tỉnh đã có công văn đề nghị Bộ Công Thương xem xét việc thủy điện thông báo xả lũ cho địa phương 2 tiếng trước lúc xả lũ là chưa hợp lý và đề nghị nâng thời gian thông báo lên 24 giờ để địa phương chủ động đề phòng lũ. Sau cơn bão số 15, toàn tỉnh bị thiệt hại trên 41 tỷ đồng (trong đó, có 2 người chết do lũ cuốn).
Liên quan vụ việc mà Tiền Phong đã có bài: “Trồng cao su nhưng lại xâm hại rừng” ngày 26/11, phản ánh việc Cty TNHH MTV Bình Dương (thuộc Binh đoàn 15) phá hàng nghìn hécta rừng để trồng cao su. Ông Sinh cho biết: UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo cơ quan Công an tỉnh phối hợp với Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 điều tra, làm rõ các sai phạm trồng rừng ngoài dự án để có các biện pháp xử lý. (Tiền Phong 28/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, dư luận “dậy sóng” về việc UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 1195/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất, rừng của bà Lê Thị Phượng ở thị trấn Kỳ Anh để bàn giao cho một doanh nghiệp tư nhân. Quyết định này đã tước đoạt quyền lợi chính đáng của người trồng rừng, bảo vệ rừng.
Nghiên cứu hồ sơ cho thấy, trong bản Hợp đồng kinh tế số 29/HĐKT về việc khoán đất - trồng - chăm sóc - bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn (hộ gia đình tự bỏ vốn) thời gian 40 năm của bà Lê Thị Phượng được ký kết bằng giấy trắng mực đen với Cty Cổ phần Rau quả Hà Tĩnh kiêm Ban Quản lý Dự án (D.A) phòng hộ Kỳ Anh ghi rõ:
“Hai bên cam kết thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ nội dung các điều khoản đã ghi trong hợp đồng. Quá trình thực hiện có gì vướng mắc 2 bên cùng nhau bàn bạc, tìm biện pháp giải quyết. Nếu một trong 2 bên cố tình vi phạm hợp đồng thì bên đó phải chịu bồi hoàn thiệt hại kinh tế cho bên kia theo pháp luật hiện hành quy định”.
Sau khi hợp đồng được ký kết, bà Phượng đã vay vốn đầu tư cải tạo hơn 8,5ha đất dưới sự giám sát chặt chẽ của Cty Rau quả Hà Tĩnh. Qua nhiều năm trồng rừng, sắp đến mùa thu hoạch, bỗng dưng có Quyết định 1195, ngày 8/4/2011 của UBND tỉnh Hà Tĩnh, thu hồi hơn 83.000m2 đất tại khu vực núi Đá Mài, xã Kỳ Liên (trong đó có diện tích đất bà Phượng) của Cty Rau quả Hà Tĩnh và giao toàn bộ diện tích đất thu hồi trên cho Ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng cho Cty Cổ phần Việt Gia - Song Hui thuê lại để khai thác đá xây dựng.
Nhiều lần huyện Kỳ Anh đứng ra tổ chức để bà Phượng và Cty Việt Gia - Song Hui họp bàn đưa ra mức giá đền bù, nhưng bà Phượng không chấp nhận. Theo bà Phượng, nguyên nhân chính là cho đến thời điểm này, hợp đồng kinh tế giữa bà và Cty Rau quả Hà Tĩnh còn hiệu lực và chưa được giải quyết dứt điểm nên bà Phượng chưa đồng ý nhượng đất, rừng cho Cty Việt Gia - Song Hui.
Trước đó, ngày 22/9/2010, Cty Rau quả Hà Tĩnh đã có Tờ trình số 459/TTr-NLS trả lại 11,54ha đất rừng tại khoảnh 2, tiểu khu 389A, tại xã Kỳ Liên để cho Cty Việt Gia - Sông Hui lấy đất làm mỏ đá xây dựng. Qua đó cho thấy, Cty Rau quả Hà Tĩnh đã đơn phương phá hủy hợp đồng, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế đối với gia đình bà Phượng.
Ông Đinh Thế Hùng, Trưởng Văn phòng Luật sư Bách Sự Thuận (quận Đống Đa, Hà Nội) cho rằng: “Việc Cty Rau quả Hà Tĩnh tự ý chấm dứt hợp đồng, không có sự bàn bạc, thỏa thuận giữa 2 bên gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với bà Phượng là vi phạm pháp luật. Bà Phượng có quyền kiện Cty ra tòa án”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 và Điều 40 Luật Đất đai, việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế là trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các D.A đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ.
Tại khoản 2 Điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định: Sử dụng đất để thực hiện các D.A đầu tư có nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); sử dụng đất để thực hiện D.A có 100% (vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cho phép đầu tư mà D.A đó không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Và, tại Điều 34 Nghị định 84/2007/NĐ-CP cũng quy định chặt chẽ: Khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện các D.A phát triển kinh tế quan trọng trong các trường hợp sau đây: a) D.A quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; b) D.A quan trọng do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư.
Như vậy, UBND tỉnh Hà Tĩnh chỉ được phép thực hiện theo khoản 2 Điều 40 Luật Đất đai năm 2003: “Đối với D.A sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất”.
Việc UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quyết định số 1195 để thu hồi hơn 83.000m2 đất rừng là trái với Luật Đất đai bởi không có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ về chủ trương đầu tư D.A chế biến đá xây dựng. Đồng thời, Cty Việt Gia - Song Hui muốn thực hiện D.A thì phải được sự đồng ý của bà Phượng.
Ngoài ra, ngày 8/10/2013, ông Nguyễn Văn Bổng, Chủ tịch UBND huyện Kỳ Anh ra Quyết định số 2504/QĐ-UB để “điều động lực lượng bảo vệ thi công đường vào mỏ đá Việt Gia - Song Hui”.
Quyết định đã làm xôn xao dư luận bởi không có căn cứ pháp lý cho việc Chủ tịch UBND huyện huy động lực lượng lớn (100 người) và điều nghịch lý ở đây là 100% kinh phí do Cty Việt Gia - Song Hui tự bỏ ra. Trả lời về vấn đề này tại cuộc họp ngày 7/11/2013, ông Bổng khẳng định: “Đó là việc làm cần thiết để bảo đảm tính mạng và tài sản cho 2 bên”.
Theo lý giải, Quyết định 2504 điều động lực lượng “bảo vệ thi công” của UBND huyện Kỳ Anh “căn cứ Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Trên thực tế, trong các qui định của pháp luật đất đai hiện hành của Nhà nước, không hề có khái niệm “bảo vệ thi công” và trong Nghị định 38 cũng không hề có qui định nào nói về trách nhiệm, khái niệm “bảo vệ thi công”.
Tại Điều 10 Nghị định 38 quy định về “thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm trật tự công cộng” thì Chủ tịch UBND cấp huyện không có thẩm quyền tổ chức thực hiện các biện pháp để bảo đảm trật tự công cộng. (Thanh Tra 28/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Hai con báo hoa mai Amur, loài động vật thuộc nhóm gặp nguy hiểm nhất thế giới, vừa được ghi hình ở Trung Quốc.
Theo Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS), hình ảnh đôi báo hoa mai Amur (Panthera pardus orientalis) được ghi lại qua một máy camera ở Khu bảo tồn Thiên nhiên Uông Thanh, thuộc tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc. Đây là nơi nằm cách biên giới Trung Quốc-Nga, khu vực tập trung chủ yếu loài báo này, khoảng 30 km.
Joe Walston, giám đốc điều hành các chương trình châu Á của WCS, cho biết đây là một phát hiện quan trọng vì nó cho thấy Trung Quốc có thể không còn đứng ngoài cuộc trong công tác bảo vệ động vật hoang dã, mà trở thành khu vực quyết định đến số phận của loài báo hoa mai Amur và loài hổ. Nếu chính phủ Trung Quốc ra quyết định, quốc gia châu Á này có thể phát triển một khu bảo tồn lớn dành cho các loài động vật hoang dã.
Báo hoa mai Amur là loài động vật ăn thịt có nguồn gốc ở khu vực miền núi của rừng taiga cũng như rừng ôn đới khác ở Triều Tiên, đông bắc Trung quốc và Viễn Đông của Nga.
Theo Live Science, báo hoa mai Amur là loài báo cực kỳ nguy cấp trên thế giới, có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao. Theo ước tính của các nhà khoa học, hiện chỉ còn khoảng từ 30 đến 50 cá thể còn sống trong thế giới hoang dã.
Nạn săn bắn trái phép và tình trạng mất dần môi trường sống đang gần như xóa sổ loài báo này ở Trung Quốc và Hàn Quốc, trong khi nhiệt độ băng giá và tuyết rơi ngăn chặn chúng phát triển số lượng loài về phía bắc. Khu vực dọc biên giới Nga-Trung Quốc, từ biển Nhật Bản đến tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, hiện có một số lượng nhỏ báo hoa mai sinh sống.
Các máy ảnh được đặt trong rừng là một trong những nỗ lực nhằm bảo vệ các loài báo hoang dã và hạn chế nguy cơ tuyệt chủng của chúng trong môi trường tự nhiên. Lần đầu tiên một con báo Amur được phát hiện qua máy ảnh ở Trung Quốc là vào năm ngoái.
Các nhóm bảo tồn động vật hoang dã đang cố gắng cải thiện việc thực thi pháp luật nhằm bảo vệ các loài động vật, cũng như giúp người dân địa phương biết cách bảo vệ vật nuôi của họ an toàn khỏi nguy cơ tấn công của những kẻ săn bắn. Năm 2012, Công viên quốc gia Leopard, một khu vực bảo tồn đảm bảo khoảng 60% môi trường sống cho các loài động vật họ mèo, đã đi vào hoạt động ở vùng Viễn Đông của Nga. (Vnexpress.net 28/11) đầu trang(
Hai phụ nữ người Mỹ Olivia Nalos Opre, 36 tuổi và Mindy Arthurs, 39 tuổi, được mệnh danh là những “nữ hoàng sát thủ” vì họ đã bắn hơn 70 loài gồm cả sư tử, tê giác, gấu.
Cả hai người phụ nữ này đều sử dụng một khẩu súng trường, một cây cung và những mũi tên để săn bắn những con thú rừng. Cả hai đều thích sự thử thách. Họ “hạ gục” bất cứ loài động vật nào gặp trên đường đi săn.
Arthurs bắt đầu đi săn từ năm 16 tuổi. Trong thời gian đó, cô đã giết chết hơn 65 loài trên 6 lục địa và giành được danh hiệu uy tín nhất của thế giới dành cho một nữ thợ săn - giải thưởng quốc tế Diana Safari Club.
Cô đã đi săn bắn ở 8 quốc gia trên khắp châu Phi và giết chết một con hà mã, một chú bò rừng và phóng chết một con tê giác đen.
Trong khi đó, Opre cũng nhận được những giải thưởng dành cho các nữ thợ săn như Extreme Huntress 2013. Cô từng hạ gục một con tê giác trắng khổng lồ bằng một mũi tên và cây cung.
Sau khi săn được những con thú rừng khổng lồ, hai nữ thợ săn này còn chụp lại những bức ảnh lưu niệm cùng “nạn nhân của họ. (Nông Thôn Ngày Nay 28/11) đầu trang(
Đó là loài đặc hữu trong những cánh rừng nhiều mưa, nhiệt đới của miền Bắc và miền Trung Madagascar. Tắc kè quỷ sa tăng có tên khoa học là là Uroplatus phantasticus.
Chúng được mệnh danh là "quỷ sa tăng” bởi hình dạng bên ngoài khá dị hợm và khả năng tàng hình, biến đổi màu sắc đến không ngờ. Tắc kè quỷ sống trên cây và có nhiều màu sắc khác nhau như tím, nâu, cam, vàng…
Trọng lượng của một con tắc kè quỷ bé nhất trong họ hàng của chúng. Khi trưởng thành tắc kè quỷ chỉ dài khoảng 6,3–16cm và nặng 35–50g. Khả năng thay đổi màu sắc là vũ khí hiệu quả giúp tắc kè quỷ vô tư nằm nghỉ ngơi, phơi nắng trên các cành cây, tán lá mà không sợ bị phát hiện.
Tuy được gọi là tắc kè quỷ song chúng là loài động vật khá ôn hòa. Nếu bị đe dọa, quấy rầy, tắc kè quỷ thường chỉ ngóc đầu lên và há to miệng kêu "xuỵt, xuỵt, xuỵt”. Hiện tắc kè quỷ đang được Quỹ Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên WWF liệt vào danh sách những động vật bị săn lùng và tìm mua nhiều nhất thế giới. (Đại Đoàn Kết 27/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||