Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 27 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt hơn 203.000 ha rừng có cung ứng dịch vụ môi trường rừng năm 2014 trên địa bàn tỉnh.
Trong đó, hơn 168ha do chủ rừng là các tổ chức quản lý, gồm Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ A Vương, BQL Khu bảo tồn loài Sao la, BQL rừng phòng hộ Sông Kôn, BQL rừng phòng hộ Sông Tranh, BQL rừng phòng hộ Đăk Mi, BQL Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, BQL rừng phòng hộ Phú Ninh, Vườn quốc gia Bạch Mã; còn lại là do các tổ chức không phải chủ rừng được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý (gồm Hạt Kiểm lâm các huyện Nam Trà My, Đại Lộc, Nông Sơn, Nam Giang).
Diện tích rừng nêu trên tập trung ở các lưu vực: A Vương - Za Hung, Sông Kôn 2, An Điềm 1 - An Điềm 2, Khe Diên, Sông Tranh 2 - Trà Linh 3 - Tà Vi, Phú Ninh, Đăk Mi 4, Sông Bung.
UBND tỉnh cũng giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh triển khai thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng theo đúng quy định hiện hành. (Báo Quảng Nam 27/11) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Các khu dự trữ sinh quyển không chỉ chứa đựng giá trị đa dạng sinh học mà còn hàm chứa những giá trị văn hóa phong phú. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, để bảo tồn và phát triển bền vững, cần hài hòa các mối quan hệ kinh tế, môi trường và xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như đa dạng sinh học, đặc biệt tại các khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Chỉ trong vòng 10 năm, Việt Nam đã được thế giới công nhận 8 khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) trên hầu hết các vùng sinh thái của cả nước, gồm: khu DTSQ rừng ngập mặn Cần Giờ, khu DTSQ Đồng Nai, quần đảo Cát Bà, đất ngập nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng, khu DTSQ Kiên Giang, khu DTSQ Tây Nghệ An, khu DTSQ Cù Lao Chàm - Hội An và khu DTSQ Mũi Cà Mau.
Về giá trị đa dạng sinh học, các khu DTSQ của Việt Nam chứa đựng hầu hết các loại hệ sinh thái chủ yếu của quốc gia và có lẽ hầu hết các loài mang tính biểu tượng của đất nước. Không chỉ vậy, nhiều khu DTSQ còn hàm chứa các giá trị văn hóa phong phú. Đây là quê hương của các nhóm dân tộc thiểu số như Mông, Thái, Chơ Ro, Tày và Nùng, là nơi sinh sống quan trọng của các nhóm dân tộc thiểu số như Khmer, Mạ và S’tieng. Một số khu DTSQ lưu giữ những di tích nổi tiếng, minh chứng cho lịch sử hào hùng của dân tộc…
Việc tham gia hội nhập trong một mạng lưới toàn cầu các khu DTSQ (610 khu DTSQ thuộc 117 quốc gia, tính đến tháng 10.2012) đã góp phần tạo nên một hình ảnh Việt Nam năng động, sáng tạo và nhân bản. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, việc bắt kịp trí tuệ của nhân loại trong sử dụng các khu DTSQ như một cách thể hiện sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên để phát triển bền vững, là một thách thức lớn mà Việt Nam phải vượt qua.
Về vấn đề này, Gs, Ts Nguyễn Hoàng Trí - Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia Chương trình Con người và Sinh quyển Việt Nam (MAB Việt Nam) nhấn mạnh phương châm “bảo tồn cho phát triển và phát triển để bảo tồn”.
Ông phân tích: một trong những nguyên tắc phát triển của khu DTSQ là thực hiện đầy đủ 3 chức năng cơ bản: bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế thân thiện với môi trường và hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, giám sát, giáo dục và gìn giữ giá trị truyền thống. Các khuyến nghị của UNESCO cũng tập trung vào việc xây dựng các hành động bảo tồn cho phát triển và phát triển cho bảo tồn, trong đó bảo tồn làm cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội.
Bài học thành công từ các quốc gia cho thấy, bảo tồn đa dạng sinh học tạo nên sự nổi tiếng cho một địa phương và quốc gia, đặc biệt là các loài quý hiếm sẽ được khai thác khôn khéo từ sự nổi tiếng đó để vừa phát triển du lịch sinh thái vừa tạo việc làm, thu nhập cho cộng đồng địa phương, nhất là các địa phương nghèo khó, ở vùng sâu, vùng xa.
Mặt khác, phát triển kinh tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn. Khi kinh tế phát triển, cuộc sống sẽ được cải thiện, phần lớn dân cư có cuộc sống ổn định và nâng cao trình độ nhận thức, dân trí tăng theo, các doanh nghiệp và nhân dân sẵn sàng tự nguyện chi trả cho các dịch vụ như phí sử dụng nước sạch, nguồn tài nguyên, các dịch vụ sinh thái... Các nguồn thu từ thuế, phí dịch vụ sẽ được tái đầu tư cho các hoạt động bảo tồn. Đặc biệt, khi chất lượng cuộc sống, ý thức người dân được nâng cao, áp lực đối với khu di sản và sinh quyển sẽ giảm.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cần phát triển hài hòa các mối quan hệ kinh tế, môi trường và xã hội, bảo tồn văn hóa truyền thống cũng như bảo tồn đa dạng sinh học… tại các khu DTSQ. Tại Việt Nam, 8 khu DTSQ thế giới cũng là ngôi nhà chung của khoảng 1,5 triệu người, gồm hàng ngàn người thuộc các nhóm dân tộc thiểu số.
Mỗi nhóm có những cách thức sinh sống riêng, phản ánh những hiểu biết và diễn giải độc đáo của họ về tự nhiên đã được tích lũy qua hàng trăm năm cư trú trên mảnh đất của họ.
Trong khi các nhóm thiểu số thường dễ bị tổn thương trước áp lực của phát triển từ bên ngoài, bản sắc và những giá trị văn hóa của họ cùng với vốn kiến thức giàu có về tự nhiên chính là nền tảng vững chắc không chỉ cho sự phát triển nội lực của những nhóm này mà còn cả với việc bảo vệ các khu DTSQ. Bởi vậy, cần tạo cơ hội để cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa và thiên nhiên, như: phát triển du lịch sinh thái, phát triển các đặc sản của khu DTSQ…
Theo bà Trần Thị Huệ, Ban Thư ký Ủy ban Quốc gia MAB Việt Nam: trong xây dựng và quản lý bền vững các khu DTSQ, cần sử dụng văn hóa như một công cụ để giải quyết các mối liên hệ giữa con người với nhau và giữa con người với thiên nhiên: nếu trong tư duy hệ thống cần có văn hóa tư duy tổng thể, quảng đại thì trong quy hoạch cảnh quan, cần tôn trọng bản sắc truyền thống, tôn trọng cộng đồng địa phương, sự tham gia của họ là nhân tố sống còn cho việc thực hiện quy hoạch.
Trong điều phối liên ngành cần tôn trọng cá nhân, nhóm lợi ích, đối thoại. Trong kinh tế chất lượng, cần có niềm tin và tự hào, bởi chất lượng sản phẩm và sự nổi tiếng về bảo tồn là hai yếu tố nâng đỡ lẫn nhau.
Bà Trần Thị Huệ khẳng định: “Bảo tồn khu DTSQ nhờ các công cụ văn hóa để đạt được sự hài hòa. Chúng ta đang học tập từ thiên nhiên chứ không phải mang ý chí của mình áp đặt vào nó. Đó chính là sự phát triển bền vững cho địa phương, quốc gia và nhân loại”. (Đại Biểu Nhân Dân 26/11) đầu trang(
UBND tỉnh Kon Tum vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum năm 2014.
Theo đó, UBND tỉnh Kon Tum yêu cầu các ngành, các cấp triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để bảo vệ rừng, giảm thiểu tối đa các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm tổ chức tuần tra, truy quét tại những điểm nóng về phá rừng, khai thác rừng trái phép. Kiểm tra, giám sát trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của các đơn vị chủ rừng.
UBND tỉnh Kon Tum cũng yêu cầu Ban chỉ đạo công tác bảo vệ và phát triển rừng các huyện, thành phố chú trọng việc tuyên truyền trực tiếp đến người dân sống gần rừng, những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với phong tục, tập quán địa phương.
Đồng thời giải quyết các điểm nóng về vi phạm quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, đảm bảo giảm thiểu số vụ, mức độ thiệt hại; rà soát số hộ thiếu đất sản xuất để có giải pháp bố trí đất sản xuất cho nhân dân một cách hợp lý nhằm ổn định cuộc sống.
Các sở, ban, ngành liên quan rà soát và có giải pháp xử lý, triệt phá những đầu nậu buôn bán lâm sản trái phép. Kiểm tra, lập hồ sơ và xử lý vi phạm đối với tố chức, cá nhân lấn chiếm đất trái phép; tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ người, phương tiện, ngăn chặn việc khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép trong khu vực biên giới
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho biết, trong năm 2013 toàn tỉnh Kon Tum phát hiện 724 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng (giảm 181 vụ so với cùng kỳ năm 2012), trong đó, cơ quan Kiểm lâm phát hiện 211 vụ, Công an phát hiện 18 vụ, liên ngành phát hiện 369 vụ, chính quyền cấp xã phát hiện 21 vụ, chủ rừng phát hiện 98 vụ, các cơ quan khác phát hiện 7 vụ.
Các vi phạm tập trung vào những hành vi vi phạm quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng, vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; phá rừng, khai thác rừng trái phép; vận chuyển lâm sản trái phép; mua bán, chế biến, cất dấu, kinh doanh gỗ và lâm sản khác trái phép... (Chinhphu.vn 26/11) đầu trang(
Ngày 26-11, Chi cục kiểm lâm tỉnh phối hợp với Ban quản lý Dự án Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch hành động tăng cường thực thi pháp luật quản lý bảo vệ rừng và động vật hoang dã khu vực Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng và trên địa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2013-2015.
Hội nghị đã đánh giá lại công tác thực thi pháp luật tại khu vực Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ trong những năm qua và xác định đây là một nhiệm vụ rất quan trọng mang tính bền vững.
Cụ thể, các ngành chức năng đã tăng cường năng lực và hiệu quả thực thi pháp luật tại khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng, trong đó Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng giữ vai trò trung tâm; nâng cao hoạt động của Ban chỉ đạo thực thi pháp luật do Sở NN-PTNT thành lập và Ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh ưu tiên công tác thực thi pháp luật đối với Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Hội nghị cũng đã thống nhất kế hoạch hành động nhằm tăng cường hiệu quả của công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng và quản lý động vật hoang dã tại khu vực Phong Nha-Kẻ nói riêng và trên địa bàn tỉnh nói chung.
Theo đó, tăng cường hệ thống bảo vệ của VQG, nâng cao năng lực kiểm lâm VQG và các đơn vị, cơ quan thực thi pháp luật trong vùng đệm của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ; xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp liên ngành trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng giữa VQG, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương các cấp, huy động cộng đồng địa phương vùng đệm tham gia bảo vệ Di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. (Báo Quảng Bình 27/11) đầu trang(
Để tăng cường việc thực thi nghiêm túc pháp luật Nhà nước trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, ngày 26/11/2013, UBND tỉnh có văn bản số 6324 yêu cầu:
Các Ban Quản lý Rừng phòng hộ, các Công ty TNHH Nhà nước 1 thành viên Lâm nghiệp, Khu Bảo tồn Sao La, Khu Bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, các Hạt Kiểm lâm, Đội KLCĐ-PCCCR; các Trạm kiểm tra, kiểm soát lâm sản La Hy và Bình Điền tiếp tục triển khai theo Phương án 42/PA-UBND ngày 17/4/2013 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế.
Các chốt chặn tại khu vực Bến Lội (Ban QLRPH Nam Đông), Trạm Kiểm lâm Cha Linh - Mụ Nú (Hạt Kiểm lâm A Lưới), Trạm Kiểm lâm La Ma (Hạt Kiểm lâm Nam Đông), Trạm Kiểm lâm lòng hồ Hương Điền (Hạt Kiểm lâm Phong Điền) phải đảm bảo lực lượng đủ mạnh, phương tiện cần thiết cho công tác chốt chặn, truy quét tại rừng tự nhiên.
Ban chỉ huy BVR- PCCCR các huyện, thị xã, thành phố Huế tăng cường công tác kiểm tra và có phương án, kế hoạch cụ thể, chỉ đạo các đơn vị chủ rừng; Hạt Kiểm lâm và các cơ quan chức năng trên địa bàn đảm bảo cho việc triển khai truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, ngăn chặn và xử lý kịp thời, đúng pháp luật các hành vi, vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm, Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tăng cường chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện ở các đơn vị, tổng hợp báo cáo kết quả về Ban chỉ đạo tổng hợp kế hoach vảo vệ và phát triển rừng và UBND tỉnh.
UBND tỉnh cũng đề nghị Công an tỉnh, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh, Tòa án Nhân dân tỉnh có kế hoạch chỉ đạo, hỗ trợ nghiệp vụ để các đơn vị Công an, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các huyện, thị xã, thành phố điều tra, xử lý nghiêm vụ việc đúng người, đúng tội, các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng theo đúng quy định pháp luật. (Đài PT - TH Thừa Thiên Huế 27/11) đầu trang(
“Cuộc chiến” bảo vệ rừng ngày một nóng bỏng, nhất là khi các vụ phá rừng, hành hung kiểm lâm vẫn xảy ra ở những vùng rừng trọng điểm, đe dọa đến an nguy của tài nguyên rừng. Để thiết lập lại trật tự, quản lý bảo vệ rừng bền vững, những năm qua Đắk Lắk tăng cường nhiều biện pháp, và bảo vệ rừng tại gốc và đây được xác định là một trong những giải pháp căn cơ.
Theo thống kê từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng kiểm lâm và các cơ quan chức năng đã phát hiện xử lý khoảng gần 2.000 vụ vi phạm, trong đó có 20 vụ khởi tố hình sự, lâm sản tịch thu 3.991,8 m3 gỗ các loại, xử lý tịch thu 946 phương tiện, tiền thu sau xử lý 24,1 tỷ đồng.
Trước thực trạng trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương, đặc biệt là ở những địa bàn trọng điểm, thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm ngăn chặn không để tình trạng khai thác rừng trái phép tái diễn. Ngành Kiểm lâm cũng đã tăng cường lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn tại những vùng rừng trọng yếu, đồng thời thành lập thêm các chốt kiểm tra tại các khu vực được coi là trọng điểm.
Dù các ngành chức năng đã tăng cường nhiều biện pháp tuần tra, kiểm soát nhưng tình hình vi phạm lâm luật vẫn còn diễn ra phổ biến, công tác quản lý bảo vệ rừng vẫn còn nhiều kẽ hở.
Như nhận định của ông Y Ngun, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ea Kar, để tăng cường hiệu quả quản lý bảo vệ rừng chỉ có thể bằng cách bảo vệ rừng tại gốc. Lực lượng có thể tham gia quản lý bảo vệ rừng tại gốc không ai khác đó chính là kiểm lâm địa bàn, chính quyền cơ sở, chủ rừng và người dân sống gần rừng.
Tuy nhiên, hoạt động của kiểm lâm địa bàn vẫn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn bởi mỏng về quân số (mỗi xã có rừng chỉ có 1 kiểm lâm địa bàn phụ trách) lại thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ sở và chủ rừng. Phần lớn các vụ vi phạm lâm luật xảy ra trên địa bàn đều do lực lượng kiểm lâm cơ động phát hiện và bắt giữ.
Để bảo vệ rừng tại gốc, trước hết, cần nâng cao năng lực của kiểm lâm địa bàn; vai trò, chức năng của địa phương; tinh thần trách nhiệm của chủ rừng và người dân sống gần rừng. “Cuộc chiến” giữ rừng của lực lượng kiểm lâm địa bàn sẽ trở nên đơn độc nếu thiếu sự hỗ trợ cần thiết của các tổ chức, đoàn thể tại cơ sở như công an, xã đội và người dân địa phương.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đang triển khai thực hiện Đề án nâng cao năng lực kiểm lâm địa bàn: tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, đầu tư xây dựng các trạm địa bàn liên xã, nhà làm việc cho kiểm lâm địa bàn… cũng chính là với mục đích để lực lượng này tinh nhạy hơn trong bám cơ sở, bám rừng.
Bên cạnh đó, ngoài nhiệm vụ bảo vệ rừng, lực lượng này cũng được trang bị đầy đủ các kiến thức về khuyến nông khuyến lâm, hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn, bản xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời cũng là tuyên truyền viên về pháp luật quản lý bảo vệ rừng cho người dân tại địa phương. (Báo Đắk Lắk 27/11) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Sinh vật ngoại lai là một trong những nguyên nhân chính gây mất đa dạng sinh học toàn cầu, ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và cả tới sức khỏe con người.
Nhận định trên được đưa ra tại Hội thảo Tư vấn, góp ý quy trình phân tích nguy cơ xâm hại của sinh vật ngoại lai tại Việt Nam.
Theo báo cáo của Công ước Đa dạng sinh học, sinh vật ngoại lai đã xâm lấn và gây ảnh hưởng tới hầu hết các kiểu hệ sinh thái trên trái đất. Sinh vật ngoại lai gây tổn thất có thể ước tính lên tới hàng trăm tỷ đô la mỗi năm. Đó là chưa kể đến sự mất mát của các loài, các hệ sinh thái và đa dạng sinh học nói chung do sinh vật ngoại lai xâm hại gây nên trên Trái đất.
Phó cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) Hoàng Thị Thanh Nhàn cho hay, tại Việt Nam, sinh vật ngoại lai xâm hại xâm nhập bằng nhiều con đường khác nhau như theo con đường nhập khẩu có chủ đích phục vụ công tác nuôi, trồng, sản xuất, kinh doanh hoặc du nhập theo con đường tự nhiên và không chủ đích của con người.
Một trong những bài học đắt giá về sinh vật ngoại lai chính là ốc bươu vàng. Ngoài ra, còn có rất nhiều đối tượng khác thuộc danh mục được quốc tế cảnh báo như rùa tai đỏ, tôm càng đỏ… đã xuất hiện tại Việt Nam. Các sinh vật ngoại lai này có những tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học, sự phát triển kinh tế, sức khỏe con người thời gian qua ở nước ta.
Do vậy, việc xây dựng và hoàn thiện quy trình phân tích nguy cơ xâm hại của sinh vật ngoại lai với quy trình rõ ràng, đầy đủ các tiêu chí sẽ giúp các cơ quan quản lý đánh giá toàn diện về sinh vật ngoại lai, các nguy cơ xâm hại của những sinh vật này đến môi trường, phát triển nông nghiệp, kinh tế và sức khỏe con người là hết sức cần thiết.
“Theo đó, bản dự thảo Quy trình phân tích nguy cơ xâm hại của sinh vật ngoại lại tại Việt Nam được xây dựng gồm ba giai đoạn chính là: Giai đoạn thu thập thông tin; giai đoạn đánh giá; giai đoạn quản lý các nguy cơ xâm hại của sinh vật ngoại lai”, bà Hoàng Thị Thanh Nhàn cho biết thêm.
Thời gian qua, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Luật Đa dạng sinh học; Quyết định số 1896/QĐ -TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020. Qua đó, từng bước góp phần hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại. (Nhân Dân 27/11) đầu trang(
Chiều 25/11, Sở NN&PTNT Lào Cai tổ chức Hội nghị đánh giá Phong trào thi đua bảo vệ, phát triển rừng, trồng cây xanh theo Chương trình xây dựng nông thôn mới.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, việc đẩy mạnh phát động phong trào sâu, rộng đã được thực hiện ngay từ đầu năm 2013 và nhanh chóng tạo không khí khích lệ, phấn khởi trong toàn xã hội. Tính đến trung tuần tháng 11/2013, toàn tỉnh đã trồng mới được 7.760 ha rừng, đạt 115% kế hoạch giao, diện tích rừng được chăm sóc và bảo vệ tốt, tỷ lệ che phủ tự nhiên của rừng trên phạm vi toàn tỉnh đạt 51,8%.
Công tác giải quyết, xử lý các vụ vi phạm quy định về bảo vệ và phát triển rừng được xử lý nghiêm, ý thức của cộng đồng đối với công tác trồng mới, chăm sóc và bảo vệ rừng có nhiều thay đổi tích cực. Đối với nhiều cơ quan, công sở, đơn vị, hộ dân việc trồng cây xanh đã bước đầu tạo cảnh quan xanh - sạch - đẹp, góp phần chống xói mòn và giảm nhẹ thiên tai.
Kế hoạch của ngành nông, lâm nghiệp trong thời gian tới là tiếp tục tập trung phát triển rừng, tăng cường các biện pháp chuyên môn nhằm hạn chế các vụ phá rừng trái phép xảy ra. Đối với một số địa phương đẩy mạnh phong trào trồng cây xanh, nhất là việc trồng cây xanh tại các trụ sở, trường học và sớm thanh quyết toán vốn hàng năm cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Lào Cai 26/11) đầu trang(
25/11, ngành nông, lâm nghiệp Lào Cai đã tổ chức gặp mặt nhân kỷ niệm 54 năm Ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 - 28/11/2013).
Ngày 28/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Pháp lệnh trồng rừng trong cả nước, đến năm 1995, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định lấy ngày 28/11 hàng năm là ngày truyền thống ngành lâm nghiệp Việt Nam.
Với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của ngành lâm nghiệp và của toàn xã hội, đến nay độ che phủ tự nhiên của rừng tại Lào Cai đạt 51,8%, tăng 2,5 lần so với năm 1991 (đạt 21,3%), đưa Lào Cai vào danh sách 1 trong 7 tỉnh có độ che phủ rừng lớn nhất.
Mục tiêu trong giai đoạn hiện nay về công tác trồng rừng là cung ứng nguồn nguyên liệu cho sản xuất, chế biến lâm sản trên quy mô công nghiệp lớn, trồng rừng có năng suất cao, đem lại hiệu quả bền vững.
Khai thác thế mạnh các sản phẩm lâm sản phụ như quế, thông, trẩu, sơn tra, cây thuốc nam… triển khai các hình thức bảo vệ rừng phù hợp với tập quán, văn hóa các dân tộc, địa phương. Tích cực hỗ trợ các mô hình sản xuất như trồng rừng thay thế nương rẫy, mô hình trồng thảo quả, mô hình trồng tre lấy măng, trồng chè trong rừng phòng hộ, trồng cây dược liệu. (Báo Lào Cai 26/11) đầu trang(
Sáng 26-11, Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Sông Đằn tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm thành lập và đón nhận bằng công nhận cơ quan văn hóa.
BQL rừng phòng hộ Sông Đằn có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trên địa bàn 6 xã phía nam huyện Thường Xuân. Từ năm 1999 đến nay, BQL đã tổ chức cho nhân dân các xã thực hiện các dự án lâm nghiệp như, trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất; chăm sóc rừng, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng... đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng cây giống, tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trồng mới rừng. Vì vậy, độ che phủ của rừng thuộc BQL đến nay đạt 87%.
Cùng với làm tốt công tác BV&PTR đầu nguồn hiệu quả, BQL đã củng cố, sắp xếp lại lao động theo hướng gọn nhẹ, tăng năng suất lao động; tổ chức tuyên truyền cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp tham gia các dự án trồng và bảo vệ rừng ký các cam kết không vi phạm Luật BV&PTR; tăng cường dịch vụ kỹ thuật, cây giống, tổ chức tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp cho đồng bào địa phương. Xây dựng dự án phát triển giống cây đặc sản rừng có giá trị kinh tế cao…
Với những thành tích đã đạt được, BQL rừng phòng hộ Sông Đằn được Chủ tịch UBND tỉnh tặng Bằng khen và công nhận cơ quan văn hóa. (Báo Thanh Hóa 27/11) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi vừa tổ chức tập huấn nghiệp vụ theo dõi diễn biến rừng, giao và cho thuê rừng. Khóa tập huấn nhằm từng bước khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong công tác này của lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng.
Nội dung tập huấn giúp học viên nắm bắt được các phương pháp, biện pháp kỹ thuật cập nhật theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, các thao tác về sử dụng các phần mềm ứng dụng trong công tác quản lý bảo vệ rừng như mapsource, Mapinfo, diễn biến tài nguyên rừng; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp... (Nông Nghiệp Việt Nam 26/11) đầu trang(
Sau 10 năm đi vào hoạt động, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng đã trả lại cho tự nhiên 500 cá thể động vật hoang dã và chuyển giao cho các đơn vị cứu hộ khác trên 110 cá thể động vật hoang dã khác, đạt tỷ lệ cứu hộ thành công trên 80%.
Trong 10 năm qua, trung tâm đã thực hiện cứu hộ được 800 cá thể động vật hoang dã thuộc 46 loài; trong đó, có 20 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 25 loài nằm trong danh mục Nghị định 32/NĐ-CP như Voọc, gấu ngựa, rùa hộp trán vàng, cầy vằn bắc, rồng đất…
Ông Đinh Huy Trí, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng cho biết dù trực thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình) nhưng hoạt động cứu trợ của đơn vị lại rộng khắp các tỉnh miền Trung.
Hiện nay, điều kiện nhân lực thiếu, kinh phí hạn hẹp, cơ sở hạ tầng chưa tương xứng chính là những khó khăn, trở ngại lớn nhất để đơn vị đẩy mạnh hoạt động cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật.
Trung tâm cứu cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng hiện mới có 2 chuồng nuôi thú lớn, 14 ô chuồng đa năng dùng để tiếp nhận, cứu hộ các loại thú nhỏ, linh trưởng, 1 khu cứu hộ rùa và 1 phòng thú y phục vụ công tác sơ cứu chứ chưa thể tiến hành đại phẫu cho động vật được.
Vì vậy, theo ông Trí, nếu xảy ra tình huống bắt buộc phải cứu hộ động, thực vật với số lượng lớn thì Trung tâm sẽ không đủ khả năng để đáp ứng yêu cầu. (VietnamPlus.vn 27/11; Dangcongsan.vn 26/11) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Quảng Ninh, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 11.650 ha rừng tập trung, tăng 17% so với kế hoạch, bằng 85,7% so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 882ha, rừng sản xuất chiếm 10.768ha.
Ngoài ra, đã trồng thêm mới 515.000 cây phân tán; sản xuất được 24,6 triệu cây giống các loại như: Keo, thông, sa mộc, hồi, quế… Bên cạnh đó, các ngành chức năng đã tiến hành kiểm tra chất lượng ở các đơn vị sản xuất cây giống, đồng thời tăng cường chỉ đạo các đơn vị, cá nhân đẩy mạnh chăm sóc diện tích rừng trồng, bảo vệ những diện tích rừng hiện có, độ che phủ rừng hiện nay đạt trên 52,8%, tăng 3% so với kế hoạch. (Báo Quảng Ninh 27/11) đầu trang(
Chiều 25-11, tại thành phố Quý Cảng (Trung Quốc) đã diễn ra hai hoạt động chính của đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam, đó là trồng rừng hữu nghị thanh niên Việt – Trung và "Đến thăm nhà bạn”. Hơn 500 đại biểu và thanh niên hai nước đã tham dự buổi lễ.
Phó Thị trưởng UBND thành phố Quý Cảng - Sầm Uyển Dư đã nhấn mạnh, các đại biểu thanh niên hai nước Việt - Trung tham gia trồng cây hữu nghị, xây dựng nhịp cầu hữu nghị bằng văn minh màu xanh và lấy đá kỷ niệm "rừng hữu nghị thanh niên Việt - Trung” làm vật chứng. Bà Sầm Uyển Dư khẳng định: "Hoạt động này đã thể hiện đầy đủ quyết tâm của thanh niên hai nước Việt – Trung trong việc chuyển tiếp mối tình hữu nghị tốt đẹp của nhân dân hai nước”.
Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, Bí thư Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh, Trưởng đoàn thanh niên hoạt động tại thành phố Quý Cảng - Nguyễn Xuân Hùng nhấn mạnh: "Trong không khí vui tươi, phấn khởi của Liên hoan Thanh niên Việt – Trung lần thứ II, trồng rừng thanh niên hôm nay của các đại biểu thanh niên là hoạt động có ý nghĩa cho tình hữu nghị hai nước mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững”. Tại Lễ trồng rừng thanh niên, 63 cây xanh đã được thanh niên hai nước trồng và chăm sóc. (Đại Đoàn Kết 26/11) đầu trang(
Với trên 70% người dân sinh sống trên đất rừng và có rừng thì việc đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân gắn với phát triển và bảo vệ rừng được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách của các cấp chính quyền nhân dân tỉnh Hà Giang.
Những năm qua, nhờ chính sách đầu tư phát triển rừng của trung ương và những định hướng trong công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng của tỉnh Hà Giang, đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tình trạng đốt rừng làm nương rẫy chấm dứt và các cánh rừng được bảo vệ tốt hơn. Đời sống của người dân cũng dần cải thiện và nâng cao. Độ che phủ của rừng tại Hà Giang không ngừng tăng từ 39,9% năm 2000 cho tới nay đã là 52,1%.
Ông Vũ Ngọc Hùng - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết: Hiện trên địa bàn Hà Giang có trên 40 nghìn ha rừng tự nhiên với trữ lượng lâm sản lớn và đa dạng về chủng loại đang được triển khai bảo vệ nghiêm ngặt; trên 21 nghìn ha rừng tái sinh được khoanh nuôi, phục hồi và phát triển; trên 1.600ha các loại cây bản địa, đặc biệt các cánh rừng của Hà Giang còn có nhiều loại cây nguyên liệu phục vụ cho sản xuất giấy như mỡ, tre, nứa và các loại song mây phục vụ cho xuất khẩu thông qua đẩy mạnh phát triển các cơ sở chế biến lâm sản”.
Dựa trên những thế mạnh sẵn có, Hà Giang đã và đang đầu tư một nhà máy chế biến gỗ MDF nhằm tiêu thụ các sản phẩm rừng trồng cũng như có chính sách đầu tư cho phát triển giống cây trồng lâm nghiệp thông qua phát triển rừng sản xuất và cải tạo vườn tạp trên địa bàn tỉnh đến năm 2015.
Ngoài ra, do diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng còn khá lớn (vào khoảng 58.230ha), tỉnh chủ trương khuyến khích hộ và nhóm hộ, các doanh nghiệp đầu tư phát triển trồng rừng theo mô hình nông - lâm kết hợp, khuyến khích các cá nhân và tập thể phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại nhất là trang trại trồng rừng cây nguyên liệu.
Tuy nhiên theo ông Hùng thì vẫn còn một bộ phận người dân sống trên đất rừng và rừng tại Hà Giang chưa thực sự gắn bó với rừng, đủ sống nhờ rừng. Thêm đó, tại địa phương còn thiếu các cơ sở chế biến lâm sản với quy mô lớn, tập trung. Các cơ sở hiện có vẫn nhỏ lẻ và manh mún chưa có chiến lược phát triển dài hạn phù hợp với chương trình, chính sách phát triển trồng rừng phục vụ cho sản xuất của địa phương.
Muốn tất cả mọi người dân đều gắn bó với rừng thì cần có thêm những chính sách hỗ trợ thiết thực hơn như cho dân được hưởng chính sách hỗ trợ khoanh nuôi, bảo vệ rừng trên toàn bộ diện tích rừng hiện có của tỉnh, đồng thời những huyện nghèo (huyện thuộc diện 30A) thì cần được hỗ trợ thêm gạo theo chương trình khoanh nuôi bảo vệ rừng.
Sau hơn 13 năm phục hồi và phát triển rừng (từ năm 2000 đến nay), độ che phủ của rừng trên địa bàn Hà Giang không ngừng được nâng lên; tài nguyên rừng ngày càng đa dạng về chủng loại, trữ lượng lâm sản ngày càng lớn.
Để công cuộc xóa đói giảm nghèo tại địa phương đạt kết quả cao, chiến lược bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng bền vững, bên cạnh những nỗ lực tự thân của chính quyền địa phương và người dân, Hà Giang mong tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của trung ương và các tổ chức quốc tế về nguồn tài chính và có thêm nhiều chính sách hỗ trợ dài hơi cho người dân tại vùng địa đầu biên cương của tổ quốc. (Kinh Tế Việt Nam 26/11) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định phê duyệt Báo cáo kinh tế - kỹ thuật “Dự án bảo vệ và phát triển rừng, Hạng mục: Trồng rừng kế hoạch năm 2013” do Ban quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh làm chủ đầu tư với tổng mức đầu tư 731,25 triệu đồng từ vốn kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2013.
Mục tiêu đầu tư nhằm tăng độ che phủ rừng đảm bảo và duy trì lượng nước phục vụ tưới tiêu trên địa bàn tỉnh cũng như chống xói mòn, hạn chế lũ lụt trong mùa mưa. Quy mô trồng rừng trên diện tích 75ha tại Tiểu khu 582 xã Tam Dân, huyện Phú Ninh với chủng loại cây: Keo tai tượng thuần, với mật độ 1.666 cây/ha. Thời gian thực hiện trong năm 2013.
Theo phân công trách nhiệm của UBND tỉnh, Chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục theo đúng các quy định của nhà nước về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và chịu trách nhiệm trước pháp luật trong quá trình triển khai thực hiện. Sở KH&DDT, Sở Tài chính, Sở NN&PTNT có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, giám sát chủ đầu tư trong quá trình triển khai thực hiện. (Quangnam.gov.vn 27/11) đầu trang(
Sau khi kết thúc Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, tỉnh Thanh Hóa đã trồng mới được 88.324 ha rừng (rừng phòng hộ, đặc dụng là 34.826 ha, rừng sản xuất 53.498 ha), bình quân mỗi năm trồng được 7.360 ha rừng các loại; khoán bảo vệ rừng 276.707 ha; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 50.721 ha; khoanh nuôi có trồng bổ sung 5.197 ha.
Sau 12 năm thực hiện dự án, diện tích rừng tăng so với trước khi thực hiện dự án là 144.242 ha, đưa độ che phủ rừng đạt 49% (năm 2010), bình quân mỗi năm độ che phủ rừng tăng 1%. Đặc biệt, dự án đã tạo ra bước chuyển mạnh từ lâm nghiệp Nhà nước sang lâm nghiệp xã hội và phát triển nghề rừng bền vững.
Kế thừa thành quả, kinh nghiệm từ thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Thanh Hóa tiếp tục triển khai trồng rừng sản xuất theo Quyết định số 147/2007. Đây chính là bước tiến quan trọng trong kinh tế lâm nghiệp và nghề rừng của tỉnh, nhằm bảo đảm an ninh rừng, bảo vệ môi trường, tạo ra những khu rừng kinh doanh gỗ nguyên liệu tập trung và rừng kinh doanh gỗ lớn nhằm đáp ứng khả năng cung cấp lâm sản phục vụ nhu cầu dân sinh.
Công tác trồng rừng kinh tế phát triển mạnh, là giai đoạn có diện tích trồng rừng sản xuất lớn nhất từ trước đến nay. Trong 5 năm (2008 – 2013), toàn tỉnh đã trồng được 60.904 ha rừng, bình quân mỗi năm trồng 12.180 ha và là tỉnh có diện tích trồng rừng bình quân hàng năm lớn nhất.
Nhờ vậy, độ che phủ rừng tăng nhanh, từ 46,1% năm 2008 lên 50,5% năm 2012, bình quân 0,9%/năm, cao hơn độ che phủ rừng cả nước 10,6% (độ che phủ rừng toàn quốc năm 2012 là 39,9%), góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, cung cấp nguồn nước, hạn chế thiên tai, lũ lụt, chống biến đổi khí hậu, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Từ những cánh rừng sản xuất được trồng, trong giai đoạn từ năm 2012 ngành lâm nghiệp đã phát triển vùng kinh doanh rừng gỗ lớn, với mục tiêu đến năm 2020 tổng diện tích rừng gỗ lớn toàn tỉnh là 55.932 ha; đến chu kỳ khai thác trữ lượng gỗ lớn đạt 20,99 triệu m3, phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Trước mắt, trong giai đoạn từ năm 2012-2015, với diện tích 22.865 ha và từ năm 2016-2020, diện tích 33.067 ha.
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế lâm nghiệp, công tác thu hút các nguồn vốn vay đầu tư cho phát triển lâm nghiệp cũng được xúc tiến. Các nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ cho phát triển lâm nghiệp từ năm 2008 - 2013 đạt 259,5 tỷ đồng; trong đó, dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) 186,9 tỷ đồng; Dự án “Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ tỉnh Thanh Hóa” của Chính phủ Nhật Bản 199,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện 10 năm (từ 2012-2021).
Ngoài ra, còn một số dự án đang trong thời gian xây dựng, như: Dự án phát triển rừng phòng hộ ven biển (WB4), dự án rừng và đồng bằng do chính phủ Mỹ tài trợ. Nổi bật trong các chương trình trồng rừng từ nguồn vốn vay của các nhà tài trợ chính là Dự án WB3.
Mục tiêu của dự án là từ 2012 - 2015 cung cấp tín dụng ưu đãi cho các hộ dân để trồng rừng thương mại trên diện tích đất trống và trồng lại rừng khoảng 6.000 ha. Đến nay đã trồng được 3.317 ha/6.000 ha, đạt 55,7% (cả giai đoạn), với 3.219 hộ dân ở các huyện Thạch Thành, Ngọc Lặc, Hà Trung, Như Thanh, Tĩnh Gia, Triệu Sơn được hưởng lợi.. (Báo Thanh Hóa 27/11) đầu trang(
Lợn rừng nuôi trên cát phèn, điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng của vùng biển. Nghe có vẻ trái khoáy nhưng đây là mô hình đang phát huy hiệu quả trên địa bàn thôn Thâm Khê, xã vùng biển Hải Khê, huyện Hải Lăng (Quảng Trị).
Trang trại lợn rừng của bà Trần Thị Đông, thôn Thâm Khê, xã Hải Khê nuôi 30 con lợn rừng, trong đó 6 con lợn giống. Khác với nhiều trang trại, nơi đây vẫn giữ nguyên vẻ hoang sơ của thiên nhiên. Trang trại của bà như một mảnh rừng còn nguyên sinh, chim chóc, động vật rừng quần tụ sinh sống. Thấy chúng tôi có vẻ tò mò, bà Đông giải thích: “Bí quyết nuôi lợn rừng của vợ chồng tui đó. Nói nôm na là gia đình tui “bứng” lợn và rừng về với vùng biển”.
Bà Đông cho biết: Nuôi lợn rừng đầu tư rất thấp, không hơn con gà là mấy. Như trang trại của tôi đây, một ngày chi phí thức ăn cho 30 con lợn khoảng 20 nghìn tiền cám. Thức ăn còn lại chủ yếu cỏ non và rau xanh các loại. Chúng tôi quy hoạch các vùng trồng cỏ voi, cỏ lau và rau quanh trang trại. Loại cỏ này phát triển rất nhanh, lợn mặc sức ăn không hết.
Đầu ra lợn thịt khá ổn định. Tư thương đến tận nơi mua 1 kg lợn hơi giá 100 nghìn đồng. Lợn nái đẻ một lứa từ 8-10 con, 2 năm đẻ 5 lứa. Lợn con nuôi khoảng 7 tháng thì xuất chuồng. Tổng thu nhập mỗi năm lãi 120 triệu đồng. Báo Quảng Trị 26/11) đầu trang(
Bà Đỗ Thị Thanh, ngụ thôn Cây Da, xã Phú Văn, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, khiếu nại (KN) việc UBND huyện Phước Long (cũ) nay là thị xã Phước Long cưỡng chế, thu hồi 1,5ha đất lâm nghiệp của gia đình giao cho Công ty TNHH MTV Cao su Phước Long để thực hiện dự án trồng cao su nhưng không hỗ trợ cây trồng trên đất.
Thửa đất 1,5ha bà Thanh KN có nguồn gốc thuộc khoảnh 07, tiểu khu 111 do Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Bù Gia Phúc quản lý theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 18 của UBND tỉnh Bình Phước cấp ngày 19/3/2003 với diện tích 193.553.673m2. Năm 2002, gia đình bà Thanh khai phá, lấn chiếm đất lâm nghiệp để làm rẫy.
Sau khi bị thu hồi, bà Thanh có đơn KN và được UBND huyện Phước Long giải quyết tại Quyết định số 781 ngày 23/6/2006 về việc giải quyết đơn KN của ông Nguyễn Văn Thủy và các hộ (trong đó có hộ bà Thanh), với kết quả bác đơn. Không đồng ý với kết quả giải quyết trên, bà Thanh và các hộ tiếp tục KN đến UBND tỉnh Bình Phước.
Ngày 7/5/2007 UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 731 giải quyết đơn KN của ông Triệu Minh Sơn và các hộ (trong đó có hộ bà Thanh) ngụ tại thôn Cây Da, xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập, với nội dung bác đơn. Không đồng ý, bà Thanh và các hộ tiếp tục KN.
Ngày 28/10/2009, UBND tỉnh thành lập đoàn thanh tra theo Quyết định số 3050 về việc thẩm tra xác minh theo kết luận chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại buổi đối thoại với công dân huyện Phước Long. Sau khi thẩm tra, xác minh, đoàn thanh tra kết luận việc KN của bà Thanh và các hộ không có cơ sở xem xét. Không đồng ý, bà Thanh tiếp tục KN đến Thanh tra Chính phủ.
Ngày 3/1/2012, Thanh tra Chính phủ có Báo cáo số 13/BC-TTCP về kết quả kiểm tra, xác minh nội dung đơn KN, phản ánh của công dân các huyện Bù Đốp, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài (trong đó có đơn KN của hộ bà Thanh). Theo đó, Thanh tra Chính phủ giao UBND tỉnh rà soát lại KN của các hộ để giải quyết theo quy định.
Kết quả rà soát, xác minh của Đoàn Công tác 2277 của UBND tỉnh nhận thấy: Vị trí đất bà Thanh chỉ dẫn cho Đoàn Công tác 2277 được xác định tại Lô b, khoảng 7, tiểu khu 111 do BQLRPH Bù Gia Phúc quản lý với diện tích 1,5ha.
Ngày 8/1/2002, BQLRPH Bù Gia Phúc ký hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng và đất số 14/BVR với ông Nguyễn Đức Hoàng và Vũ Đức Toàn, với tổng diện tích là 31ha tại khoảnh 7, tiểu khu 111. Năm 2003, do diện tích đất rừng tự nhiên bị tác động mạnh nên BQLRPH Bù Gia Phúc tạm ngưng với đồng giao khoán đối với các hộ, trong đó có hộ ông Nguyễn Đức Hoàng và ông Vũ Đức Toàn.
Theo báo cáo diễn biến tài nguyên rừng vào tháng 6/2003 thì vị trí đất bà Thanh KN có trạng thái là lồ ô, gỗ (LIIa). Căn cứ Biểu 1b diễn biến tài nguyên rừng vào tháng 6/2003 thì khoảnh 7 có 10 hộ xâm canh từ năm 1999 - 2003 với tổng diện tích 10,1ha, trong đó không có hộ bà Thanh. Ngoài ra, bà Thanh không có tên trong danh sách những hộ rừng làm rẫy năm 2003.
Ngày 31/7/2013, Đoàn Công tác 2277 đã phối hợp với UBND huyện Bù Gia Mập và BQLRPH Bù Gia Phúc tổ chức đối thoại trực tiếp với các hộ KN (trong đó có hộ bà Thanh). Kết quả, đơn KN của bà Thanh đã được Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước giải quyết đúng quy định của pháp luật.
Từ kết quả trên, UBND tỉnh Bình Phước ban hành Quyết định số 2003 về việc giải quyết đơn KN của bà Đỗ Thị Thanh, với nội dung bác đơn do không có cơ sở để xem xét, giải quyết. Quyết định này thay thế Quyết định số 731 ngày 7/5/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước về việc giải quyết đơn KN của ông Triệu Minh Sơn và các hộ ngụ thôn Cây Da, xã Đức Hạnh, huyện Bù Gia Mập. (Thanh Tra 26/11) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều xe ô tô chở gỗ lậu lưu thông qua thị xã Hương Thủy. (Nhân Dân 26/11, tr7) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Bình đã 2 lần gửi công văn yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa chỉ đạo giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Tuyên Hóa, Minh Hóa khẩn trương thu hồi các sổ đỏ. Nhưng hiện vẫn chưa thu hồi được, sự việc gây xôn xao dư luận.
Sự việc được phát hiện sau khi các cơ quan chức năng tại tỉnh Thái Bình điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa phương. Theo đó, ngày 29.8 tại cơ quan CSĐT - CA tỉnh Thái Bình, dưới sự chứng kiến của ông Đinh Văn Đối - Giám đốc BQL RPH Minh Hóa - tỉnh Quảng Bình - cơ quan CA đã lập biên bản về vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại tỉnh Thái Bình do bị can Nông Xuân Hùng và Vũ Thị Mùa (tức Minh) gây ra.
Khám xét nơi ở của Vũ Thị Mùa, cơ quan CA thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến hồ sơ xin vốn trồng rừng của các đơn vị địa phương trong cả nước (tổng số 72 hồ sơ). Trong đó có hồ sơ của BQL RPH Minh Hóa gồm 33 sổ đỏ (GCNQSDĐ).
Theo ông Đối, tháng 6.2011, BQL RPH Minh Hóa được sự giới thiệu của ông Trần Bách Việt - nguyên Phó Chủ tịch UBND H.Minh Hóa - đến gặp bà Nguyễn Thị Hương - GĐ Cty TNHH trồng rừng Hưng Thịnh, (trụ sở tại thị trấn Quy Đạt, H.Minh Hóa) - để được tư vấn, hướng dẫn làm hồ sơ xin tham gia dự án bảo vệ, trồng rừng của Nhà nước.
Ngày 18.6.2011, BQL RPH Minh Hóa cùng ông Việt ra Hà Nội gặp bà Hương và ông Phạm Khắc Vỹ - được giới thiệu là người của ban dự án - để tiếp nhận hồ sơ, gồm 23 bộ hồ sơ bao gồm thủ tục pháp lý của BQL RPH Minh Hóa và 33 sổ đỏ (bản gốc). Số hồ sơ trên được giao cho ông Vỹ để đối chiếu, kiểm tra, với lời hứa sau khi kiểm tra xong sẽ trả lại cho đơn vị.
Ngày 20.6.2011, ông Vỹ giao lại một quyết định của Ban Chỉ đạo nhà nước về việc tiếp nhận hồ sơ xin tham gia dự án của đơn vị do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký. Ông Đối đòi lại 33 sổ đỏ nhưng ông Vỹ nói là chưa đối chiếu xong, đợi thêm thời gian nữa.
Ngày 26.11.2011, bà Hương yêu cầu ông Đối ra Hà Nội để hoàn thiện hồ sơ dự án. Tại đây, bà Hương giới thiệu ông Nguyễn Viết Quý - GĐ Cty CP đầu tư phát triển lâm nghiệp Quý Nhân (trụ sở tại TP.Vinh, Nghệ An) - và ký các hồ sơ, thủ tục xin vốn của dự án theo yêu cầu của ông Quý.
Sau khi ký xong, ông Đối yêu cầu trả lại 33 sổ đỏ nhưng ông Quý nói rằng sau khi giải ngân đợt đầu sẽ trả lại hồ sơ gốc cho đơn vị. Sau đó, BQL RPH Minh Hóa đã nhiều lần liên hệ với ông Quý để “xin lại” sổ đỏ nhưng đều bị trì hoãn với các lý do khác nhau. Tương tự như ở H.Minh Hóa, 32 sổ đỏ của BQL RPH Tuyên Hóa với tổng diện tích hơn 26.700ha cũng được cơ quan CSĐT - CA tỉnh Thái Bình phát hiện trong vụ án trên.
Báo cáo về sự việc, ông Lê Nam Giang - Phó Chủ tịch UBND H.Tuyên Hóa - cho biết, những người thu gom và giữ GCNQSDĐ của các đơn vị đã tham gia vào một vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại tỉnh Thái Bình.
Ngày 10.9, ông Nguyễn Hoài Nam - GĐ BQL RPH Tuyên Hóa - đã làm việc với cơ quan CSĐT-CA tỉnh Thái Bình. Theo trình bày, 32 sổ đỏ trên được giao cho bà Trần Thị Trường (trú P.Nam Lý, TP.Đồng Hới, Quảng Bình) để xin vốn dự án.
Sau khi có báo cáo về sự việc, ngày 22.8, UBND tỉnh đã có công văn về việc kiểm tra việc sử dụng GCNQSDĐ tại BQL RPH Minh Hóa, BQL RPH Tuyên Hóa và yêu cầu chủ tịch UBND các huyện trên chỉ đạo thu hồi lại các GCNQSDĐ, giao lại cho các BQL RPH quản lý.
Tuy nhiên, do vẫn chưa thu hồi được nên ngày 17.9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Xuân Quang tiếp tục có công văn chỉ đạo thu hồi số sổ đỏ trên. Đồng thời yêu cầu UBND các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa chỉ đạo các GĐ BQL RPH trên địa bàn giao điều hành công việc cho một phó GĐ quản lý kể từ ngày 10.9 để tập trung thời gian thu hồi số sổ đỏ đã giao cho các tổ chức, cá nhân sai quy định.
Hiện, dư luận địa phương đang rất bức xúc trước sự việc “biến mất” số sổ đỏ trên và đặt câu hỏi, rằng có hay không sự buông lỏng trong quản lý khiến 65 sổ đỏ chạy “lòng vòng” rồi rơi vào tay các đối tượng lừa đảo. Hay đằng sau sự việc trên có sự khuất tất và không minh bạch để lãnh đạo các BQL RPH “tự ý” đem sổ đỏ “chạy vốn” rồi dẫn đến việc vi phạm pháp luật? (Lao Động 27/11; Thanh Niên 27/11) đầu trang(
Ngày 26-11, TAND tỉnh Đắk Nông đã mở phiên xét xử sơ thẩm 8 cán bộ Công ty TNHH - MTV Lâm nghiệp Quảng Tín (trụ sở tại xã Quảng Tín, huyện Đắk R’Lấp, Đắk Nông) về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
8 cán bộ trên gồm: Thân Văn Minh (69 tuổi, nguyên giám đốc), Thân Văn Hòa (38 tuổi, nguyên phó giám đốc, kiêm Trưởng phòng kế hoạch, khai thác quản lý bảo vệ rừng) và Trần Văn Lợi (48 tuổi, nguyên phó giám đốc) cùng các nhân viên Đặng Quốc Hởi (49 tuổi), Đặng Bá Long (55 tuổi), Ngô Đức Tuấn (35 tuổi), Phan Trọng Chân (51 tuổi) và Nguyễn Trọng Kim (57 tuổi).
Theo cáo trạng, vào năm 2007, Công ty lâm nghiệp Quảng Tín do Thân Văn Minh làm Giám đốc, Thân Văn Hòa và Trần Văn Lợi làm phó giám đốc được UBND tỉnh Đắk Nông giao hơn 9.853ha rừng và đất rừng. Đến năm 2011, công ty đã liên doanh, liên kết với 9 doanh nghiệp tư nhân với gần 3.000ha rừng và đất rừng. Nhưng do không làm hết chức năng quản lý bảo vệ rừng, khoảng 1.328,31ha rừng khoanh nuôi bảo vệ thuộc các hợp đồng liên doanh liên kết đã bị phá với tổng giá trị thiệt hại hơn 198 tỷ đồng.
Kết thúc phiên toà, HĐXX đã tuyên phạt Thân Văn Minh 3 năm tù giam; Thân Văn Hoà, Trần Văn Lợi mỗi bị cáo 3 năm tù treo; Phan Trọng Chân, Đặng Quốc Hởi mỗi bị cáo 18 tháng tù treo; Đặng Bá Long, Ngô Đức Tuấn mỗi bị cáo 12 tháng tù treo và Nguyễn Trọng Kim 18 tháng tù giam. (Sài Gòn Giải Phóng 27/11; VietnamPlus.vn 27/11; Nhân Dân 27/11; Tuổi Trẻ 27/11; An Ninh Thủ Đô 26/11) đầu trang(
Sáng 26.11, ông Nguyễn Thành Vĩnh - Hạt phó hạt kiểm lâm huyện Đức Cơ cho biết, ngày 26.11, tại thị trấn Chư Ty, tổ kiểm lâm cơ động đã phát hiện xe loại 12 chỗ, BKS 81D-00021 (đã tháo ghế) chạy từ hướng Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh về TP. Pleiku.
Kiểm tra, phát hiện trên xe chở gần 3m3 gỗ lậu bao gồm gỗ hương và bằng lăng. Bị truy đuổi lái xe đã bỏ trốn để lại tang vật. (Nông Thôn Ngày Nay 27/11; Lao Động 27/11) đầu trang(
Ngày 26-11, lực lượng Công an huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) đã phát hiện và bắt giữ 2 vụ buôn lậu gỗ quý hiếm tại địa bàn thị trấn Lao Bảo và Khe Sanh với tổng trị giá gần 300 triệu đồng.
Tại nhà Nguyễn Ngọc Định, lực lượng chức năng phát hiện hơn 4 mét khối gỗ cẩm lai được tập kết tại sân và chuẩn bị đưa đi tiêu thụ. Nguyễn Ngọc Định khai nhận toàn bộ số gỗ trên đã được một số đối tượng trên địa bàn dùng xe máy chở từ nước ngoài về Việt Nam tiêu thụ.
Cùng ngày, Đội cảnh sát giao thông, Đội cảnh sát kinh tế Công an huyện Hướng Hóa đã phát hiện một xe ô tô đang vận chuyển 1,2 mét khối gỗ hương đi tiêu thụ. Xe ô tô biển kiếm soát 74C 004.72 do đối tượng Lê Văn Phan Vương trú tại thị trấn Khe Sanh điều khiển. (Lao Động 27/11; Quân Đội Nhân Dân 26/11; Nhân Dân 27/111; VOV 26/11; An Ninh Thủ Đô 27/11) đầu trang(
Sau hơn 10 năm kể từ ngày thực hiện Nghị định 200 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới mô hình các lâm trường quốc doanh, nhiều đơn vị quản lý rừng của Thừa Thiên Huế đã được cơ cấu lại và thay tên đổi chủ.
Gồm: 4 công ty lâm nghiệp, 8 ban quản lý rừng đang quản lý gần 170.500 ha rừng và Vườn quốc gia Bạch Mã đang quản lý khoảng 34.300 ha trong tổng diện tích 294.665 ha rừng toàn tỉnh. Bên cạnh mặt được, vẫn tồn tại tình trạng lâm phần được giao quản lý chưa hiệu quả, để rừng, đất rừng bị xâm hại...
Sau sắp xếp, chuyển đổi mô hình các lâm trường quốc doanh, diện tích đất rừng của các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, các công ty lâm nghiệp đang sử dụng được điều chỉnh phù hợp với quy mô năng lực quản lý và sản xuất. Hầu hết, diện tích đất lâm nghiệp các đơn vị đều giảm xuống. Qua rà soát đến cuối năm 2011, diện tích quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp trước đây đến năm 2010 của 8 BQL và 4 công ty lâm nghiệp giảm gần 15.500 ha (từ 184.687 ha xuống gần 169.200 ha).
Theo quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp năm 2011- 2020, diện tích quản lý của 12 tổ chức này giảm còn 168.605 ha, với quy hoạch 3 loại rừng gồm, rừng phòng hộ gần 68.300 ha, rừng sản xuất gần 46.660 ha và rừng đặc dụng hơn 53.673 ha. Như vậy, diện tích giảm trong quy hoạch được giao cho cấp huyện, các đơn vị khác trong ngành, xây dựng cơ sở hạ tầng và một phần bị dân lấn chiếm.
Mới đây, qua đợt kiểm tra rà soát đất lâm nghiệp của Sở Tài nguyên và Môi trường, bên cạnh một số lâm trường quốc doanh sau chuyển đổi quản lý, sử dụng đất và trồng rừng có hiệu quả, vẫn tồn tại những sai phạm, hạn chế.
Nguyên nhân do quản lý lỏng lẻo, yếu kém, lực lượng chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm trên lâm phần quản lý, nên diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị người dân xâm canh, lấn chiếm, sử dụng trái phép kéo dài qua nhiều năm với quy mô ngày càng tăng. Có nơi xảy ra tình trạng giao khoán rừng cho cán bộ công ty trái quy định.
Ngoài 2 công ty lâm nghiệp (CTLN) Phong Điền và Nam Hòa được đánh giá quản lý và sản xuất lâm nghiệp hiệu quả, thì CTLN Phú Lộc và Tiền Phong lại vấp phải những tồn tại, nhất là tình trạng lấn phá rừng diễn tiến phức tạp. CTLN Phú Lộc quản lý chỉ hơn 2.200 ha rừng, nhưng diện tích này trải dài trên 7 xã, thị trấn thuộc huyện Phú Lộc. Với diện tích trải dài, manh mún trong dân, thời gian qua đã xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm để trồng rừng.
Theo kết quả bước đầu rà soát, Sở Tài nguyên và Môi trường cho rằng diện tích bị xâm lấn lên hơn 200 ha. Còn tại CTLN Tiền Phong, vừa qua do sai phạm trong việc bán rừng thuộc nguồn vốn ngân sách nhưng không thực hiện nghĩa vụ thuế; quản lý, sử dụng tiền thu được từ khai thác rừng trồng và thanh lý hợp đồng bán đấu giá rừng trái quy định; giao khoán đất lâm nghiệp không đúng đối tượng…, nên công ty này đã bị Thanh tra tỉnh đề nghị nộp lại 365 triệu đồng.
Thời gian qua cũng rộ lên tình trạng đất công biến thành đất tư tại một số BQL rừng. Sau khi tiến hành kiểm tra rà soát, Phòng Tài nguyên và Môi trường Hương Thủy phát hiện BQL RPH Hương Thủy trước đây là Lâm trường Hương Thủy đã để xảy ra tình trạng một số cá nhân lấy danh nghĩa là “tập thể cán bộ” lâm trường cũ chiếm dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng sản xuất tại hai tiểu khu thuộc xã Phú Sơn và Dương Hòa trong một thời gian dài kể từ năm 2002.
Căn cứ theo luật định, toàn bộ diện tích vi phạm này phải thu hồi về cho Nhà nước do không đủ điều kiện công nhận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất.
Việc tổ chức giao đất rừng cho các đơn vị lâm nghiệp quản lý trước đây chỉ giao trên giấy tờ mà không phải trên thực địa, không có cắm mốc ranh giới nên khi đối chiếu với thực tế hiện trạng thường không đúng, chênh lệch và có nơi chồng lấn trên diện tích đất canh tác sản xuất truyền thống của người dân bản địa. Tình trạng này đã xảy ra ở xã Dương Hòa (Hương Thủy).
Theo lãnh đạo địa phương, diện tích xã quản lý trên 6 tiểu khu, nhưng hiện nay cán bộ tập thể Lâm trường Hương Thủy cũ vẫn đang canh tác sản xuất trong phạm vi đất này. Trước đây, xã Dương Hòa tiến hành giao rừng cho cộng đồng quản lý tại tiểu khu 162. Lúc đó, diện tích này do một đoàn khảo sát của tỉnh, thị xã hợp đồng khảo sát rồi “chốt” con số là 113 ha và địa phương chỉ biết là có 113 ha.
Nhưng đến năm 2012, xã tiến hành kiểm tra thực địa thì diện tích giao cho cộng đồng chỉ có 66 ha, diện tích còn lại xã không biết nằm ở vị trí nào. Đến nay, địa phương vẫn không thể khẳng định được diện tích còn thiếu là do đâu, tại lúc giao nhận ban đầu hay trong quá trình cộng đồng quản lý, diện tích này đã bị “xà xẻo”.
Do nhập nhằng trong giao nhận, quản lý, xác định ranh giới thiếu chặt chẽ và việc cấp quyền sử dụng đất chậm thực hiện khiến nhiều người dân lợi dụng vi phạm như trường hợp 18 hộ dân chiếm đất rừng, phá rừng ở Khu BTTN Phong Điền và hàng trăm vụ phá rừng, lấn rừng của đủ thành phần chủ rừng tại nhiều địa phương Nam Đông, A Lưới, Phong Điền, Hương Trà, Phú Lộc. Đã có không ít vụ việc do diện tích rừng được giao chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, nên khi xảy ra sự việc bị lấn chiếm, các chủ rừng thiếu cơ sở đấu tranh với những người cố tình xâm lấn.
Điều đáng nói là sự bất bình đẳng trong quyền nhận khoán trồng rừng dẫn đến mâu thuẫn giữa một bên là người dân địa phương thiếu đất sản xuất, có nhu cầu nhận khoán trồng, bảo vệ rừng với một bên là người dân bên ngoài cộng đồng được quyền nhận khoán với diện tích lớn.
Thực tế, nhiều xã, đất rừng được giao tập trung vào tay một cá nhân chứ không phải vào tay những người dân thực sự có nhu cầu sản xuất. Có người tuy là người ngoài địa phương, nhưng đang nắm giữ diện tích đất rừng ở nhiều nơi lên đến 600 ha rừng. Có người sống trong địa phương cũng sở hữu trong tay hơn 150 ha rừng nhờ “đội lốt” dưới tên của những người thân, họ hàng... (Báo TT - Huế 27/11) đầu trang(
Tối 24/11, Hạt kiểm lâm Quế Phong phối hợp với Đồn Biên Phòng xã Thông Thụ tiến hành kiểm xe ô tô mang BKS 37C - 077.33 do lái xe Cao Thịnh Bắc (SN 1978, trú tại xóm Nông Trang, xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, Nghệ An điều khiển.
Qua kiểm tra, trên xe chở hơn 2m3 gỗ xẻ các loại đang trên đường vận chuyển chuẩn bị ra khỏi địa bàn. Số gỗ trên thuộc nhóm 4, không có số hiệu, không có dấu búa kiểm lâm. Lái xe Cao Thịnh Bắc không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc lâm sản hợp pháp.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản đưa số gỗ trên về Hạt kiểm lâm Quế Phong tiến hành điều tra, xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tiếp đó, ngày 25/11, Hạt kiểm lâm Quế Phong phối hợp với Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 03 tiến hành kiểm tra trên địa bàn xã này, phát hiện hơn 2m3 gỗ xẻ vô chủ được tập kết trên địa bàn Bản Mường Phú, xã Thông Thụ.
Tổ công tác lập biên bản đưa toàn bộ số gỗ trên về kho Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 03 tạm giữ và điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (VOV 27/11) đầu trang(
Nhờ thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nên từ đầu năm đến nay, tình trạng lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực. Diện tích đất rừng bị lấn chiếm và tái lấn chiếm đã giảm. Dù vậy, trong thực hiện công tác này vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn đòi hỏi các cơ quan chức năng và địa phương cần tập trung chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt hơn trong thời gian tới.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng bảo vệ rừng của các đơn vị chủ rừng đã phát hiện lập hồ sơ vi phạm về hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép 117 vụ, với tổng diện tích hơn 121 ha. Tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép diễn ra chủ yếu trên địa bàn các huyện phía nam, nơi có điều kiện thổ nhưỡng tốt để canh tác cây nông nghiệp ngắn ngày.
Qua đó, đã chuyển giao hồ sơ cho Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện và UBND các xã xử lý 112 vụ, với diện tích 118,226 ha. Đối với các trường hợp lấn chiếm đất tại Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, sau khi nhận được sự phản ánh của người dân, Sở NN&PTNT đã thành lập đoàn kiểm tra xác minh.
Để khắc phục tình trạng trên, mới đây Chủ tịch UBND tỉnh Lê Tiến Phương đã chỉ đạo Sở NN&PTNT cùng các địa phương phải quyết liệt thực hiện các giải pháp, kiên quyết không để xảy ra tình trạng lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp. Song song đó, trong thời gian tới Sở sẽ tập trung chỉ đạo tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời tình trạng phá rừng, lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp ngay đầu mùa mưa năm 2014.
Kiên quyết phá bỏ cây trồng trên đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng bị phá, lấn chiếm, sử dụng trái pháp luật theo tinh thần Chỉ thị 17 của UBND tỉnh. Bên cạnh đó, tổ chức nắm chắc tình hình diễn biến phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại các khu vực trọng điểm hiện nay như: Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, Sông Móng-Capét… và khu vực giáp ranh với các tỉnh Lâm Đồng để tổ chức lực lượng kiểm tra, truy quét, ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả.
Bên cạnh đó, phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh tiến độ, khẩn trương tổ chức kiểm tra, nghiệm thu thực địa, thẩm định, trình UBND tỉnh phê duyệt kết quả cắm mốc ranh giới lâm phận và 3 loại rừng của những đơn vị còn lại trong năm 2013. (Báo Bình Thuận 27/11) đầu trang(
Thiếu tá Trần Quốc Chinh, Đội phó Đội chống buôn lậu và gian lận thương mại, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Ninh Thuận cho biết: Ngày 25/11, sau khi kiểm tra xe khách chạy tuyến Hà Nội - TPHCM đã phát hiện trên xe có vận chuyển một bộ xương nghi thuộc nhóm động vật quý hiếm do một hành khách tỉnh Nghệ An làm chủ bộ xương này.
Để có cơ sở xử lý đối tượng vận chuyển, hiện bộ xương này đã được bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm Ninh Thuận bảo quản và phối hợp xác minh làm rõ thuộc loài động vật gì. (Nông Nghiệp Việt Nam 27/11) đầu trang(
Từ thông tin ông Trần Văn Khanh, nguyên Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Bình Dương ngang nhiên triệt hạ hàng nghìn ha rừng tại các xã Ia Puch, Ia Me... huyện Chư Prông chỉ trong 2 năm 2010, 2011, ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đang tích cực chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra việc thực hiện chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của tất cả các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
UBND tỉnh Gia Lai vừa ra Quyết định số 1184 thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành cùng phối hợp với UBND huyện Chư Prông, Đức Cơ, Ia Grai… tiến hành kiểm tra công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng tại các địa phương, kiểm tra việc thực hiện chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của tất cả các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15 (Bình đoàn 15) như: Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Công ty 715, 710…
Trước tình trạng lợi dụng chủ trương của Chính phủ cho phép chuyển đổi 100.000ha rừng nghèo tại khu vực Tây Nguyên sang trồng cao su phục vụ an sinh xã hội nhưng chỉ trong thời gian 2 năm 2010, 2011, trên cương vị Giám đốc Công ty TNHH nhà nước một thành viên Bình Dương ngang nhiên triệt hạ hàng nghìn ha rừng ngoài vùng dự án để trồng cao su, Quyết định số 1184 của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo kịp thời, yêu cầu các cơ quan ban ngành xác định rõ mức độ thiệt hại không chỉ hàng nghìn ha rừng mà còn làm rõ những hành vi vi phạm Luật đất đai, hiệu quả sử dụng diện tích đất được giao; hàng trăm nghìn m3 gỗ bị thất thoát…
Để thực hiện được chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, đoàn kiểm tra liên ngành bao gồm bà Lý Kim Thoa, Chánh Thanh tra tỉnh làm trưởng đoàn; ông Vũ Ngọc An, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT; ông Trần Xuân Hùng, Phó Giám đốc Sở TN&MT cùng làm phó đoàn cùng thành viên là cán bộ chuyên trách từ các Sở Tài chính, Kế hoạch & Đầu tư, Lao động – Thương binh & Xã hội, Ban Dân tộc, Cục thuế và UBND các huyện triển khai dự án trồng cao su của Binh đoàn 15.
Có thể nói, chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai rất kịp thời trong việc quản lý bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia trên địa bàn tỉnh. Để đảm bảo tính công khai, minh bạch, Quyết định 1184 yêu cầu đoàn kiểm tra liên ngành xây dựng đề cương, kế hoạch kiểm tra trong đó tập trung vào những nội dung xung quanh công tác quy hoạch, khảo sát, lập dự án; hiệu quả sử dụng đất chuyển đổi để trồng cao su; thực hiện trồng cao su theo quy định về ranh giới; về khu vực quy hoạch...
Ngoài Công ty TNHH một thành viên Bình Dương xâm hại hàng nghìn ha rừng mà chúng tôi đề cập trong loạt bài trước, Công ty 710 (Trung đoàn 710) - doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15, cũng có dấu hiệu… “chung tay” phá nhiều ha rừng ngoài diện tích UBND tỉnh giao tại các tiểu khu 976, 1002, 1007… xã Ia Mơr, huyện Chư Prông!?
Không thể nắm bắt sự việc hời hợt, thiếu trách nhiệm như báo cáo 90 của ông Hoàng Đình Chung, Giám đốc Sở Tài Nguyên & Môi trường, báo cáo 987 của ông Kpar Thuyên, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai cũng như việc dấu nhẹm không báo cáo tỉnh của lãnh đạo UBND huyện Chư Prông, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu đoàn liên ngành kiểm tra việc thực hiện trồng cao su theo quy định về ranh giới, khu vực quy hoạch của tất cả doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) được xem là cơ hội để các cơ quan chức năng chứng minh tinh thần trách nhiệm, năng lực của họ trong công tác chuyên môn.
Thiết nghĩ, đối với việc khai thác, tận thu gỗ của các doanh nghiệp trực thuộc Tổng Công ty 15, trước mắt Sở NN&PTNT tỉnh Gia Lai phải có trách nhiệm kiểm tra cụ thể hàng nghìn ha rừng mà Công ty TNHH một thành viên Bình Dương xâm lấn tại huyện Chư Prông có phải là rừng nghèo hay không?
Theo hướng dẫn của Bộ NN&PTNT: Rừng gỗ lá rộng thường xanh và nửa rụng lá có trữ lượng gỗ bình quân theo lô nhỏ hơn 110m3/ha; Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa có trữ lượng gỗ bình quân theo lô nhỏ hơn 65m3/ha; Rừng khộp (rừng rụng lá) có trữ lượng gỗ bình quân theo lô nhỏ hơn 50m3/ha. Vậy, nếu diện tích rừng này là rừng nghèo thuộc loại nào theo Thông tư 127 và Thông tư 10 của Bộ NN&PTNT về việc định lại các tiêu chí định tính, định lượng, xác định lại diện tích rừng nghèo để chuyển sang trồng cao su?
Thử đặt giả thiết, nếu hơn 1 nghìn ha rừng do Công ty TNHH một thành viên Bình Dương phá tại huyện Chư Prông là rừng nghèo thì lượng gỗ thất thoát lên đến hàng trăm nghìn m3! Vậy ai sẽ là người chịu trách nhiệm?
Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu khi kết thúc thời gian kiểm tra trong 45 ngày, đoàn kiểm tra liên ngành phải làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân vi phạm (nếu có) đồng thời đề xuất UBND tỉnh Gia Lai hướng xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Trước những sai phạm kéo dài của Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Công ty 710… cho đến hiện nay chỉ là phát hiện ban đầu của báo chí trong quá trình điều tra nên sau khi có kết quả kiểm tra đảm bảo tính minh bạch, khách quan của đoàn liên ngành thì có thể khẳng định Tổng Công ty 15 không thể phủ nhận trách nhiệm của mình trong việc xâm phạm tài nguyên rừng của doanh nghiệp nghiệp trực thuộc.
Bên cạnh đó, báo cáo số 517/BC-KH của phòng Kinh tế - Kế hoạch, Binh đoàn 15 thể hiện sự việc đã kéo dài gần 3 năm qua nhưng Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 vẫn chưa thống nhất số liệu với chính quyền địa phương là UBND huyện Chư Prông. Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến lãnh đạo các Sở NN&PTNT, Sở TN&MT tỉnh Gia Lai nắm bắt mức độ thiệt hại hời hợt, thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia trên địa bàn. (Tamnhin.net 27/11) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Đước là một trong những loài cây bụi mọc ở các vùng nước mặn, đầm lầy. Loài này có khả năng đứng vững trước những đợt sóng lớn, tạo lá chắn tự nhiên cho các vùng ven biển. Các khu rừng đước còn có tác dụng ngăn chặn sự xói mòn bờ biển, tạo môi trường nuôi dưỡng sinh vật biển, đóng vai trò như những bồn carbon chống lại hiện tượng trái đất ấm lên.
Sau khi siêu bão Haiyan đi qua để lại thiệt hại nặng nề, người dân chưa hết đau thương do cơn bão kinh hoàng gây ra, Chính phủ Philippines quyết định tiến hành trồng thêm nhiều vùng rừng đước đề phòng hậu quả nghiêm trọng của những cơn bão về sau. Họ cũng sẽ thiết lập những "khu vực không xây dựng” ở ven biển, kể cả phải di dời dân tại các địa điểm này, đồng thời lập bản đồ rủi ro địa lý nhận diện những khu vực dễ bị tổn thương do thiên tai, bão lũ.
Đây là những biện pháp của chương trình bảo vệ môi trường toàn diện của Philippines sau bão Haiyan. Việc trồng đước sẽ sớm bắt đầu, do nhiều vùng rừng đước ở quốc gia này đã mất do bị chuyển đổi thành khu nuôi thả cá hoặc khai thác lấy gỗ.
Trông người lại ngẫm đến ta. Rừng ngập mặn - bức tường xanh chắn sóng của nước ta với sú, vẹt, đước…, có giá trị rất khổng lồ cả về kinh tế và bảo vệ môi trường, nhưng hệ sinh thái đặc sắc này ở vùng ven biển gần các cửa sông vẫn đang bị hủy diệt. Theo số liệu mới nhất, rừng ngập mặn nước ta hiện chỉ còn khoảng 155.000ha, giảm khoảng 60% so với cách đây 70 năm. Phong trào nuôi tôm và các dự án phát triển khu công nghiệp và đô thị là nguyên nhân chính phá rừng ngập mặn.
Đáng lo hơn khi đánh giá tác động môi trường - một công cụ đảm bảo cơ quan thẩm quyền xem xét đầy đủ các yếu tố môi trường và xã hội trước khi ra quyết định triển khai các dự án phát triển, ở ta lâu nay vẫn là thông tin định tính, thông tin không hiệu quả, thành ra môi trường vẫn bị "ăn quỵt”.
Nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT GS Đặng Hùng Võ cho rằng: "Tình trạng ăn quỵt môi trường là một kiểu tham nhũng rất nghiêm trọng”. Cần phải "phơi” thông tin đánh giá tác động môi trường trên một phương tiện nhất định, để cộng đồng có thể biết và có sự tham gia chung.
Trở lại câu chuyện rừng ngập mặn, theo báo cáo của Ban điều hành Sáng kiến rừng ngập mặn cho tương lai, vùng bờ biển, các hệ sinh thái cũng như cộng đồng dân cư ven biển Việt Nam là những đối tượng dễ bị tổn thương trước đe đọa của thiên tai, đặc biệt là biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bão lũ và sóng thần.
Các mô hình phát triển rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng do các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ lâu nay, ở Giao Thủy (Nam Định), Cát Bà (Hải Phòng), Cần Giờ (TP.HCM), Hậu Lộc (Thanh Hóa)..., là điều kiện cần chứ chưa đủ. Muốn đủ, việc quản lý và phát triển rừng ngập mặn phải thể chế hóa vào các chương trình của địa phương và chính phủ. Chứ như Philippines trồng rừng chắn sóng sau tan nát kinh hoàng vì bão tố thì có trồng nhanh đến mấy cũng đành đi sau bão tố, ít ra trong vài năm tới. (Đại Đoàn Kết 26/11) đầu trang(
Nhiều địa phương thuộc khu vực miền Trung đang trở thành "nạn nhân” bởi không ít diện tích trồng cao su bị xóa sổ do bão lũ liên tục ập đến. Chỉ tính riêng cơn bão số 10, các địa phương khu vực miền Trung có gần 20 ngàn ha cây cao su bị gãy đổ, tổng mức thiệt hại lên đến hơn 2.400 tỉ đồng.
Nguyên nhân gây ra thiệt hại đối với cây cao su ở khu vực miền Trung được phản ánh khá đậm đặc trên phương tiện thông tin đại chúng cũng như một số hội nghị và hội thảo. Tuy nhiên còn có "ẩn số” rất quan trọng chưa được đề cập, đó là chu kì của bão và chu kì khai thác sản phẩm cây cao su tại khu vực miền Trung.
Yếu tố thổ nhưỡng cũng như điều kiện thời tiết miền Trung rất khắc nghiệt, do đó từ khi trồng cho đến lúc khai thác mủ, cây cao su phải trải qua hơn 10 năm (từ 10-12 năm). Trong khi đó chu kì xuất hiện trận bão lớn chưa đến 10 năm (khoảng từ 8-10 năm).
Đó là đặc điểm nổi bật, mang tính đặc thù của miền Trung. Bởi vậy trước đây cũng như hiện nay và kể cả sau này, cây cao su ở miền Trung chưa đến kì khai thác đã trở thành "nạn nhân” của chu kì xuất hiện trận bão cực lớn. Điều đó lí giải vì sao, sau những trận bão vừa qua (nhất là bão số 10) cây cao su ở miền Trung bị thiệt hại nặng nề.
Từ xưa, bà con nông dân có kinh nghiệm chống bão lụt cực kì hiệu nghiệm: tìm cách né tránh, chứ không phải trực diện đứng ra chống chọi. Mở rộng trồng cao su ở miền Trung là đi ngược lại kinh nghiệm truyền thống nói trên. Gia tăng diện tích cao su ở miền Trung khác nào bắt cây trồng này phải đứng ra hứng chịu bão tố trong khi sức chống đỡ của nó rất yếu ớt.
Khi còn đô hộ nước ta, mặc dù lúc đó thời tiết ôn hòa nhưng người Pháp đã "loại” miền Trung ra khỏi khu vực chuyên canh cây cao su. Các chuyên gia canh nông người Pháp khẳng định, tại Việt Nam, cây cao su chỉ nên trồng trong phạm vi từ vĩ độ 10 độ Bắc và 10 độ Nam so với đường xích đạo.
Cây cao su bị gãy đổ khi gặp bão tố còn có nguyên nhân chủ quan, do con người tạo ra. Khai thác mủ cao su phải dựa vào kĩ thuật mang tính nguyên tắc: 2 ngày khai thác, 1 ngày nghỉ. Đó là chu kì khai thác vừa bảo đảm sự sống cho cây trồng, vừa tạo ra sản phẩm (mủ cao su) đạt yêu cầu cả về số lượng và chất lượng.
Nhưng trên thực tế, nguyên tắc này đang bị vi phạm nghiêm trọng, mủ cao su đang bị khai thác theo kiểu … vắt kiệt. Thay vì 2 ngày khai thác 1 ngày nghỉ, cây cao su đang bị " bóc lột” theo tần suất 6 ngày khai thác liên tục mới có 1 ngày nghỉ. Khả năng chống chịu bão tố đã kém, khi bị vắt kiệt kiểu đó làm cho cây cao su càng dễ gãy đổ khi gặp bão lớn.
Cao su được coi là vàng trắng. Sau khi bão tố xảy ra, các tỉnh miền Trung trở nên "trắng tay” chỉ vì diện tích trồng cao su bị gãy đổ quá lớn. Nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả nặng nề là do bão lụt, tuy nhiên nguồn gốc sâu xa có phần không nhỏ thuộc về chủ quan. Bão tố sẽ còn ập đến (thậm chí còn dữ dội hơn) nếu tiếp tục lặp lại sai lầm do chủ quan gây ra, thiệt hại từ cây cao su ở khu vực miền Trung sẽ còn nặng nề hơn nữa. (Đại Đoàn Kết 25/11) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Nhiều năm qua, bọn săn cọp thường lẻn tới khu vực 18.000km2 của vùng rừng phía tây (Wefcom). Bốn kiểm lâm bị giết, sáu người khác bị thương. Nơi đây có 11 công viên quốc gia và sáu khu dự trữ thiên nhiên.
6.400km2 thuộc khu dự trữ thiên nhiên Thung Yai Naresuan và Huay Kha Kheng là nơi đầu tiên trên cả nước được xếp hạng Di sản thế giới của Nhân loại. Thượng sĩ Sompong Thongsikhem chỉ huy nhóm kiểm lâm nói: “Vấn đề săn trộm rất nghiêm trọng. Chúng tôi phải vất vả bảo vệ toàn vùng”.
Đầu năm 2010, có ba con cọp bị giết tại Huay Kha Kheng, chỉ cách căn cứ của ông 10km. Đó là một con cái và hai cọp con. Chúng bị đầu độc và bọn buôn lậu đã lột da cọp mẹ. Nhiều thú rừng bị đầu độc kể cả những con hoẵng và đại bàng sau khi ăn xác thối. Cuối năm 2010, hai con voi chết vì ăn phải bả độc dành cho cọp.
Sau khi điều tra, kiểm lâm bắt giữ một băng buôn lậu vào giữa năm 2011. Hai tên bị kết án 5 và 4 năm tù. Từ đó họ dùng chiến thuật tuần tra thông minh, trang bị máy định vị vệ tinh GPS và nhiều thiết bị điện tử khác cho phép phát hiện nhanh và chính xác mọi hiện tượng bất thường. Bằng cách đó, bọn buôn lậu biến mất được 18 tháng.
Cho đến khi kiểm lâm đụng phải một nhóm người Mong vào đầu tháng 9-2013. Sau một tuần theo dõi, họ định bắt giữ khi chúng đột nhập Umphang. Lúc đó là ban đêm nên không hề biết chúng có súng. Cuộc đụng độ khiến cho Anthong và Boonsin Inthapanyawere (51 tuổi) thiệt mạng, hai người bị thương. Một tên săn cọp chết. Mấy ngày sau, hai tên còn lại bị bắt giữ.
Cọp là loài phải được bảo vệ mới có thể sống sót. Anak Pattanavibool đứng đầu Hiệp hội bảo tồn đời sống hoang dã Thái Lan (WCS), cho biết: có khoảng 100 - 120 con cọp trong khu vực Wefcom, chiếm số lượng cao nhất tại Đông Nam Á. Từ đầu những năm 2000, có đến chín nhóm kiểm lâm thường xuyên tuần tra rừng ở Thung Yai Naresuan. Nhưng quân số vẫn còn quá ít, 100 người cho một diện tích 1.520km2.
Bình quân mỗi kiểm lâm phải giám sát một khu vực rộng 15km2. Quá yếu so với Ấn Độ. Chẳng hạn, công viên Kaziranga, thuộc bang Assam, có 600 kiểm lâm, bảo vệ diện tích 1.000km2. Theo ông Anak, tại công viên quốc gia Chitwan ở Nepal, quân đội còn tham gia bảo vệ rừng.
Theerapat Prayurasiddhi, phó Cục Công viên quốc gia & bảo vệ, cũng nghĩ như Anak, phải tăng cường lực lượng và thiết bị cho kiểm lâm. Ông lập ra kế hoạch hành động cho đến năm 2022, trong đó có giáo dục ý thức cho các cộng đồng dân cư lân cận. Buôn lậu ăn sâu gốc rễ qua khỏi biên giới và ông sẽ hợp tác với các nước khác để tiêu diệt các băng đảng săn trộm. Nhưng về lâu dài, đó là vấn đề ý thức của công chúng. Khi người ta biết lo bảo vệ rừng, sẽ không còn nạn bắt trộm nữa. (Công an TPHCM 27/11) đầu trang(
Một làn gió thoảng bay qua điếu thuốc của người đàn ông, hắn vứt tàn thuốc đi rồi chợt cầm đuôi một con cáo trắng giơ lên lủng lẳng, sau đó dùng gậy đánh cho đến khi nó chết đi. Đó chính là công việc thường ngày của những người nuôi cáo lấy da ở Trung Quốc.
Phương pháp đơn giản nhưng thực sự tàn bạo vô cùng. Thật ra, đây chỉ là một trong số nhiều cách làm độc ác của họ, trên thực tế còn những cách khác như lấy chân dẫm gãy cổ hoặc đập vỡ đầu… Những con cáo "ngoan ngoãn" hơn sẽ được xếp sang một bên rồi bị lột da sống để tiết kiệm thời gian và sức lực.
Khi những phần lông cuối cùng ở trên đầu cũng bị lột ra, thân xác trần trụi đẫm máu của nó bị ném vào một đống với những con trước bị giết. Thực tế ngay cả khi bị lột hết da, một số con vẫn còn sống, thở hổn hển và nhấp nháy từ từ trong khoảng mười phút trước khi đến với cái chết. Những mảng lông đẫm máu này sau đó được vận chuyển đi rồi làm thành mũ hoặc áo khoác thời trang trên toàn thế giới.
Các nhà hoạt động bảo vệ động vật đang kêu gọi hành động ngăn chặn giết mổ buôn bán hàng ngàn con cáo cho ngành công nghiệp thời trang trên toàn cầu mỗi năm. Tuy nhiên, chủ sở hữu của những trang trại cáo nói rằng lợi nhuận của họ rất ít nên họ không thể hành động nhân đạo.
Quản lý trang trại nói rằng họ nuôi khoảng 200 đến 300 con. Trung bình họ tốn khoảng 1 triệu đồng tiền thực phẩm để nuôi một con cáo trong chín tháng. Cho đến khi con cáo hoàn toàn trưởng thành để lột da, họ sẽ thu về khoảng 2 triệu đồng. Số tiền lãi được dùng để duy trì cho cả năm tiếp theo nên điều kiện sống của họ vẫn ở mức thấp.
Các chết của những con cáo diễn ra ngay trước mắt đồng loại khiến chúng lồng lộn, điên cuồng kêu la và cố gắng trốn thoát. Thực tế, chỉ một số ít được tha để làm giống cho năm tới.
Các loài động vật trong trang trại bao gồm các cáo màu xanh, cáo màu đỏ và gấu trúc. Hàng ngày chúng bị nhốt trong lồng nhỏ tận đến khi mùa thu tới. Sau đó bị lôi ra và bị đánh đến chết để phục vụ những bộ sưu tập thời trang mùa đông.
Trang trại Lanhu, gần thành phố Tây An, tỉnh Cát Lâm là một trong những lò mổ ở vùng nông thôn phía đông bắc Trung Quốc. Người dân địa phương phàn nàn rằng tiếng la hét và tiếng kêu khi những con thú bị giết đặc biệt gây ám ảnh cho trẻ con xung quanh đó. (Người Đưa Tin 27/11) đầu trang(
Một người đàn ông Australia đã phải nhập viện trong tình trạng khẩn cấp sau khi bị chính con hổ mà ông huấn luyện tấn công với hai vết cắn ở cổ.
Theo một số nhân chứng, “con mèo lớn” đã xông vào người huấn luyện và cắn vào cổ. Bốn người khác đã dùng gậy để đánh con hổ này song nó vẫn cố giữ người huấn luyện. Trong lúc tức giận vì có sự tham gia của nhiều người, con hổ này tiếp tục ngoạm lần thứ hai lên cổ người huấn luyện này.
Giám đốc Sở thú Australia, ông Wes Mannion cho biết: Vụ tấn công chỉ là một tai nạn chứ không phải là tập tính hàng ngày của chú hổ”.
Hiện nay, người huấn luyện này đang được điều trị tại bệnh viện Royal Brisbane. Các bác sĩ cho biết, vết thương do hổ tấn công người này rất nghiêm trọng. Nếu chậm cấp cứu trong vài phút, người này có thể đã tử vong. (Tiền Phong 27/11; Người Lao Động 26/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa