|
Ngày 29 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 26-11, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai phối hợp với Sở NN&PTNT tổ chức tập huấn chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho 21 xã, thị trấn của 2 huyện Mang Yang và Đak Đoa.
Nội dung tập huấn tập trung giới thiệu tổng quan về chính sách chi trả DVMTR; quản lý sử dụng thanh-quyết toán chi tiền DVMTR; công tác đảm bảo số lượng, chất lượng rừng cung ứng DVMTR; tổ chức quản lý, sử dụng tiền DVMTR đúng mục đích, đúng quy định về chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã...
Được biết, Quỹ hiện quản lý thu 24 cơ sở thủy điện, 1 cơ sở sản xuất nước sạch với số thu hàng năm trên 65 tỷ đồng; quản lý chi trả cho 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước, 108 xã là tổ chức nhà nước không phải chủ rừng và 7 cộng đồng dân cư của 4 xã thuộc 3 huyện.
Theo kế hoạch, từ ngày 27-11 đến 11-12, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng sẽ tiếp tục tập huấn cho 87 xã của 14 huyện, thị xã còn lại có rừng tham gia cung ứng DVMTR rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Gia Lai 28/11) đầu trang(
Nghị định số 99/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã được triển khai thực hiện, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng và tạo ra tiềm năng mới, nguồn lực mới bền vững cho phát triển lâm nghiệp.
Là một tỉnh có tiềm năng, lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp, Thanh Hóa đã nhanh chóng thành lập và đi vào hoạt động Quỹ BV&PTR cấp tỉnh theo Nghị định 05/2008 và Nghị định 99. Đây là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh và ngành NN&PTNT triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR, đồng thời tiếp nhận các nguồn vốn khác theo quy định tại Nghị định 05 và thu hút các nguồn lực từ các chương trình, dự án, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác quản lý, BV&PTR trên phạm vi toàn tỉnh.
Ngay sau khi được thành lập (tháng 8-2012), Quỹ BV&PTR tỉnh đã rà soát, tham mưu cho UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách các đối tượng phải chi trả, mức chi trả, thời điểm chi trả tiền DVMTR trên địa bàn; tham mưu cho Sở NN&PTNT triển khai chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99. Đến nay, Quỹ BV&PTR tỉnh đã tham mưu đấu mối và tham gia ký hợp đồng chi trả DVMTR giữa Quỹ BV&PTR Việt Nam với Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt, Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2.
Quỹ đã đàm phán và trực tiếp ký hợp đồng với 6 cơ sở có sử dụng DVMTR, là những cơ sở có nguồn thu lớn, chiếm tới trên 90% tiềm năng thu DVMTR toàn tỉnh ở thời điểm hiện tại. Tổng số tiền dự kiến thu được trong năm 2013 (bao gồm lũy kế năm 2012 chuyển sang) đạt 7,6 tỷ đồng. Toàn bộ số tiền thu được nêu trên, sau khi trừ chi phí quản lý và trích lập quỹ dự phòng, sẽ được chi trả cho các tổ chức, người dân tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Đến nay, quỹ đã hoàn tất các bước nghiệp vụ kỹ thuật và giải ngân chi tạm ứng 2,9 tỷ đồng trên diện tích 43.274 ha cho 1.539 chủ rừng là tổ chức Nhà nước, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, bản. Thông qua việc chi trả, có thể nhận thấy các chủ rừng, đặc biệt là người dân rất phấn khởi, hào hứng khi thành quả lao động, kết quả công tác trồng rừng, bảo vệ rừng của mình lâu nay đã được xã hội ghi nhận và bước đầu được hưởng lợi từ những thành quả đó.
Tuy nhiên, trên bình diện chung toàn tỉnh, công tác chi trả DVMTR còn rất nhiều khó khăn, bất cập. Điển hình như một số cơ sở, doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc việc ký hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR, lý do chủ cơ sở, người đại diện doanh nghiệp đưa ra là chưa hạch toán phí chi trả tiền DVMTR vào giá thành sản xuất, thậm chí có một số cơ sở có biểu hiện trốn tránh việc thực hiện nộp phí theo quy định.
Việc giải ngân tiền chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh còn chậm, nguyên nhân chủ yếu là do một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã ký hợp đồng ủy thác nhưng chậm thực hiện việc chuyển tiền về quỹ. Công tác rà soát, thống kê, lập hồ sơ chi trả DVMTR đối với từng chủ rừng gặp nhiều khó khăn do những bất cập, tồn tại trước đây trong công tác giao đất lâm nghiệp và tình trạng tự ý chuyển đổi quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của người dân.
Thanh Hóa là tỉnh có rất ít các công trình thủy điện, nên nguồn thu từ dịch vụ này đạt rất thấp (thủy điện là nguồn thu chính của tiền DVMTR hiện nay). Theo sản lượng điện thương phẩm của các nhà máy thủy điện, Quỹ BV&PTR tỉnh dự kiến mức chi trả bình quân đối với phần diện tích thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt đạt khoảng 60.000 đồng/ha/năm; lưu vực của Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2, mức chi trả được xác định rất thấp (khoảng 5.000 đồng/ha/năm), trong khi đó mục tiêu phấn đấu do Trung ương đưa ra, có sự lồng ghép với các chính sách khác của Nhà nước ở mức tối thiểu khoảng 200.000 đồng/ha/năm.
Đây là một khó khăn lớn khi triển khai thực hiện chính sách vì mức chi trả thấp sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của người làm nghề rừng trong vùng. Bên cạnh đó, có những bất cập về cơ chế hưởng lợi: theo nguyên tắc, tiền DVMTR thu được chỉ thực hiện chi trả cho diện tích rừng nằm trong lưu vực, những diện tích nằm liền kề phía ngoài hoặc ngay bên dưới hạ lưu của lưu vực không được nhận tiền chi trả, việc này sẽ ảnh hưởng khi triển khai chính sách trên diện rộng.
Để khắc phục những khó khăn, bất cập nêu trên, về lâu dài đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương cần đề ra các giải pháp tháo gỡ, đó là đối với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh chây ỳ không ký kết hợp đồng chi trả DVMTR hoặc không thực hiện việc nộp tiền đúng hạn, cần có các biện pháp hành chính để bảo đảm việc thực thi pháp luật của các đơn vị này. Cần đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương giao rừng, cho thuê rừng, đồng thời chính quyền cơ sở phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước về đất lâm nghiệp.
Nhà nước cần có những điều chỉnh về mặt chính sách, xác định mức chi trả tối đa cho một đơn vị diện tích, từ đó cân đối phần kết dư từ các tỉnh có nguồn thu lớn cho các tỉnh có nguồn thu thấp. Bên cạnh đó, cần có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước và lồng ghép các chương trình, dự án để bảo đảm mức chi trả tối thiểu là 200.000 đồng/ha cho tất cả diện tích rừng đã giao quản lý, không phân biệt trong hay ngoài lưu vực chi trả.
Để gia tăng nguồn thu về quỹ BV&PTR, Nhà nước cần tiếp tục quy định mức thu, đối tượng thu, thời điểm thu đối với các loại hình dịch vụ đã được ghi nhận tại Nghị định 99 nhưng chưa có hướng dẫn thực hiện. Bên cạnh đó, các ngành, đơn vị liên quan và các địa phương có rừng cần quan tâm hơn nữa đến công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện chính sách và bố trí nguồn kinh phí phù hợp cho công tác này để chính sách chi trả DVMTR thực sự là một nguồn lực mới, bền vững cho phát triển lâm nghiệp của tỉnh Thanh Hóa. (Báo Thanh Hóa 29/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 28/11, tại Đại hội đại biểu Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) khóa VI (2013 - 2018), thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các đại biểu tham dự đã thống nhất trong nhiệm kỳ tới Hội tiếp tục tăng cường năng lực tư vấn, phản biện, thẩm định xã hội về tác động môi trường và phát triển bền vững. Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Sinh tiếp tục được giữ chức Chủ tịch Hội khóa VI.
Đại hội xác định, các thành viên trong Hội tích cực tham gia thực hiện tư vấn, phản biện quy hoạch, các chiến lược thích nghi với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. Đồng thời, huy động, tổ chức lực lượng toàn Hội vào việc tư vấn giải quyết các vấn đề bức xúc về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đang đặt ra ngày càng nhiều và phức tạp.
Trong công tác thông tin, tuyên truyền và giáo dục môi trường, Hội chú trọng phát triển các hình thức truyền thông môi trường thông qua các sự kiện như đạp xe truyền thông, các chương trình khảo sát và truy tặng danh hiệu, các Hội chợ - Triển lãm quốc tế…về môi trường.
Hội cũng tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại cả trong và ngoài nước; chú trọng mối quan hệ đặc biệt và mang tầm chiến lược giữa Hội và Bộ Tài nguyên và Môi trường, với Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam; tăng cường hợp tác với các Sở Tài nguyên và Môi trường các địa phương, các đối tác quốc tế truyền thống.
Trong nhiệm kỳ 2008-2013, Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường đã chủ động tiến hành các hoạt động phản biện xã hội đối với các vấn đề nóng” về môi trường. Hội chú trọng đến vấn đề nhập khẩu phế liệu, quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học, quy hoạch bảo vệ môi trường của một số tỉnh/ thành phố, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn và đặc biệt là tại dãy Trường Sơn như một hệ thống hoàn chỉnh.
Đặc biệt, sự kiện “ Bảo tồn cây di sản Việt Nam” được coi là hoạt động tiêu biểu của Hội trong nhiệm kỳ này. Đến nay, trên 600 cây thuộc 45 loài ở 35 tỉnh/thành phố đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Sự kiện đã nhận được sự ủng hộ, hưởng ứng của cộng đồng cả nước, được chính quyền các cấp hưởng ứng, tham gia. (Tin Tức 29/11) đầu trang(
Vượt lên những khó khăn của địa hình, đất đai, doanh nghiệp Doanh Sinh vừa trồng rừng, nhận khoán bảo vệ rừng vừa khai hoang phục hóa, vừa xây dựng mô hình nông lâm kết hợp theo hướng đa mục tiêu tạo thành Khu du lịch sinh thái Thung Nham - điểm du lịch sinh thái lý tưởng của đông đảo du khách trong và ngoài nước
Ông Phạm Công Chất, Giám đốc Công ty cổ phần Doanh Sinh cho biết: Với mục tiêu trồng và bảo vệ rừng để phục vụ du lịch sinh thái, lấy du lịch sinh thái làm công cụ để trồng và bảo vệ rừng, ngay từ những ngày đầu xây dựng, bằng nguồn vốn tự có, Doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư trồng mới 10 ha rừng với nhiều loài cây lấy gỗ có chất lượng cao như keo, xà cừ, sưa đỏ, gió bầu.
Đến nay đã có 3 ha rừng keo trồng thuần loại đến tuổi khai thác phục vụ một cách có hiệu quả cho nhu cầy xây dựng tại chỗ của Công ty. Bên cạnh việc đầu tư trồng rừng, Công ty đã tổ chức trồng 5 ha cây ăn quả các loại như chuối, ổi, xoài, vải, nhãn, chanh, thu hoạch hàng chục tấn/năm; ươm trồng 3.500 cây cảnh có giá trị như sanh, tùng la hán, lộc vừng, hàng ngàn khóm tre trúc,hàng ngàn m2 bồn hoa, thảm cỏ…
Công ty đã nhận khoán bảo vệ 100 ha rừng với Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư. Rừng nhận khoán của Công ty đã được bảo vệ tốt, gần như không có các vụ vi phạm xảy ra, 10 năm qua không để xảy ra cháy rừng. Doanh nghiệp Doanh Sinh đã thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng của xã, của Ban quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư Vân Long tuần tra bảo vệ, ngăn chặn nhiều hành vi khai thác rừng, săn bắt động vật rừng trái phép...
Do làm tốt công tác bảo vệ rừng “đất lành chim đậu” nhiều loài động vật hoang dã đã xuất hiện và phát triển như: khỉ vàng, gà rừng, đon, cầy… Đặc biệt tại Thung Nham một vườn chim tự nhiên với diện tích 3 ha đã được hình thành, với hàng ngàn con chim nước di cư như: cò, vạc… về trú ngụ sinh sôi và nảy nở Vườn chim cũng là tâm điểm tham quan của rất nhiều du khách khi đến với Khu du lịch sinh thái Thung Nham... (Báo Ninh Bình 29/11) đầu trang(
Ngày 26 - 27/11, Ban Quản lý Dự án Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng tỉnh Cao Bằng tổ chức thảo luận chuyên đề về nâng cao năng lực quản lý rừng cộng đồng và các vấn đề liên quan đến cộng đồng .
Nội dung thảo luận: Kỹ năng khuyến lâm cộng đồng, kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật trồng rừng thâm canh, nông lâm kết hợp. Qua đó, nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ rừng cộng đồng, kỹ thật trồng rừng, kỹ năng khuyến lâm đối với cán bộ làm công tác lâm nghiệp. (Báo Cao Bằng 27/11) đầu trang(
Hà Tĩnh có 364.801 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 60,2% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó có 174.364 ha quy hoạch sản xuất.
Trong những năm qua, diện tích rừng, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng định, giá trị sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh. Công tác bảo vệ, phát triển rừng ngày càng được xã hội hóa, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Năm 2013, sản xuất cây giống 8,1 triệu cây; công tác khoán bảo vệ rừng phòng hộ 10.700/10.700 ha theo kế hoạch của Bộ NN-PTNT giao, đạt 100%; bảo vệ rừng đặc dụng 51.571/51.571 ha đạt 100%. Rừng đã và đang giữ vai trò to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh.
Ông Hán Duy Anh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Hà Tĩnh cho biết: Thời gian qua, Chi cục đã phối hợp chặt chẽ với các BQL rừng đặc dụng, các huyện, xã tiến hành điều tra thu thập số liệu và xây dựng các quy hoạch, kế hoạch, đề án thuộc lĩnh vực lâm nghiệp như: Đề cương nhiệm vụ dự toán lập quy hoạch bảo tồn và phát triển khu rừng đặc dụng tỉnh; đề cương nhiệm vụ và dự toán Quy hoạch vùng nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến lâm sản giai đoạn 2013 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030; điều chỉnh quy hoạch phát triển cao su giai đoạn 2011 - 2020…
Công tác trồng rừng cũng được các địa phương, đơn vị và chủ rừng quan tâm. Nhờ đó đã có diện tích rừng phòng hộ cần được đầu tư khoán bảo vệ trên địa bàn các Ban quản lý và Công ty lâm nghiệp 100.347 ha, bảo vệ rừng đặc dụng 74.166,4 ha.
Năm nay ngành lâm nghiệp Hà Tĩnh cũng nhận được nguồn vốn đầu tư rất có hiệu quả, tổng vốn năm 2013 phân bổ 33,673 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn đầu tư phát triển 16,157 tỷ đồng, nguồn vốn sự nghiệp kinh tế 8,68 tỷ đồng và vốn bổ sung trả nợ một số hạng mục lâm sinh đã thực hiện hoàn thành từ năm 2012 trở về trước 8,836 tỷ đồng. Đến nay các đơn vị đã giải ngân được 11 tỷ đồng.
Để công tác BV&PTR tiếp tục đạt được kết quả cao hơn trong năm 2014, ông Đặng Ngọc Sơn, GĐ Sở NN-PTNT Hà Tĩnh cho rằng: Ngành lâm nghiệp cần xây dựng tốt đề án tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Trước mắt tập trung cải tiến và nâng cao chất lượng giống cây rừng bằng công nghệ sinh học để nâng cao năng suất rừng trồng.
Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa, tuyên truyền vận động nhân dân, các đoàn thể cùng tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt là các hộ dân sống gần rừng, trong rừng được tuyên truyền, tiếp cận và hiểu biết các chủ trương chính sách, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng... (Nông Nghiệp Việt Nam 28/11) đầu trang(
Nói đơn giản, đây là cách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng. Là hình thức bảo vệ rừng trong đó cộng đồng dân cư được nhà nước giao quyền sử dụng dài hạn nguồn tài nguyên rừng để quản lý, bảo vệ, chăm sóc và sử dụng lâu dài, bền vững, vừa làm giàu tài nguyên rừng bằng các biện pháp lâm sinh, góp phần tăng độ che phủ của rừng, vừa tạo ra nguồn thu nhập, bảo đảm các lợi ích xã hội và sự phát triển của cộng đồng dân cư.
Mô hình được triển khai thí điểm sau đó nhân rộng ra toàn bản Cổ Tràng thuộc xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh.
Khoảng 10 năm trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng sự đầu tư mạnh từ các chương trình, dự án, bản Cổ Tràng từng bước đổi thay. Những mô hình phát triển kinh tế được đồng bào quan tâm hơn, vì vậy cuộc sống của người dân có sự chuyển biến rõ nét, nhất là trên lĩnh vực quản lý, chăm sóc và bảo về rừng.
UBND huyện Quảng Ninh quyết định chọn bản Cổ Tràng triển khai thực hiện thí điểm mô hình quản lý bảo vệ rừng cộng đồng với diện tích gần 210 ha rừng tự nhiên (trữ lượng khoảng 32.600 m3 gỗ). Trong tổng diện tích rừng được giao cho bản có 91 ha rừng giàu, 38 ha rừng trung bình, 47 ha rừng nghèo và 31 ha đất chưa có rừng.
Theo ông Nguyễn Văn Sỹ, Chủ tịch UBND xã Trường Sơn, song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ tại khu vực biên giới thì công tác bảo vệ rừng cũng là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Chính việc giao đất, giao rừng cho đồng bào Vân Kiều chăm sóc, quản lý, bảo vệ là giải pháp hữu hiệu để giữ rừng, tăng độ che phủ của rừng. Các hộ gia đình trong bản nhận rừng, họ tự nhiên ý thức rằng đó là tài sản của mình, do cộng đồng làm chủ và hưởng lợi.
Hương ước bảo vệ rừng do chính đồng bào xây dựng, áp dụng giúp cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng tại bản Cổ Tràng bước đầu đem lại hiệu quả, chấm dứt hiện tượng người dân vào rừng khai thác gỗ, săn bắt động vật trái phép, chủ động tổ chức lượng lực tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng.
Cũng theo lời ông Nguyễn Văn Sỹ: “Với những kết quả thiết thực qua mô hình quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở bản Cổ Tràng, UBND xã tiếp tục kiến nghị với UBND huyện Quảng Ninh đẩy mạnh hơn nữa công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số; mở rộng mô hình này ở các bản: Sắt, Khe Cát, Bến Đường... vừa bảo vệ rừng bền vững, vừa ổn định cuộc sống cho bà con, tạo ra một hướng thoát nghèo đối với đồng bào Vân Kiều”.
Theo kế hoạch, trong thời gian tới, UBND huyện Quảng Ninh phối hợp với Dự án khu vực Phong Nha- Kẻ Bàng tiếp tục thực hiện quy trình để bàn giao rừng cộng đồng cho bà con dân tộc Vân Kiều ở các bản Khe Cát, bản Sắt... cho những cánh rừng đầu nguồn biên giới Việt- Lào ở xã Trường Sơn sớm phục hồi. (Báo Quảng Bình 29/11) đầu trang(
Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng huyện Bạch Thông đã tổ chức diễn tập phòng, chống cháy rừng năm 2013 tại xã Cao Sơn.
Cuộc diễn tập được chia thành 2 giai đoạn với 3 vấn đề huấn luyện. Giai đoạn I tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng, bao gồm các nội dung: Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; điều chỉnh, bổ sung, triển khai kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng; giao nhiệm vụ, hiệp đồng đảm bảo phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng cho các cơ quan, ban, ngành.
Giai đoạn II tổ chức diễn tập thực binh chữa cháy rừng tại khu đồi Khuổi Tôm, thôn Thôm Phụ với hiện trường diễn tập là 0,5 ha. Cuộc diễn tập được thực hiện theo phương châm 4 tại chỗ, lấy phòng ngừa cháy rừng là chính, công tác chữa cháy rừng phải được tiến hành khẩn trương, kịp thời ngăn chặn, hạn chế đám cháy, không để xảy ra cháy lớn, cháy lan kéo dài; đồng thời, cơ động lực lượng ứng cứu kịp thời làm giảm mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng cũng như tính mạng và tài sản của nhân dân.
Thông qua diễn tập, Ban Chỉ đạo diễn tập kịp thời điều chỉnh, bổ sung phương án phòng, chống cháy rừng sát với tình hình thực tế của địa phương cũng như tiếp tục nâng cao ý thức của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn từ huyện tới các thôn, bản về công tác phòng, chống cháy rừng, bảo vệ rừng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 29/11) đầu trang(
Từ đầu mùa hanh khô đến nay, các địa phương trên toàn tỉnh Quảng Ninh liên tục triển khai các hoạt động tăng cường phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).
Tại Quảng Yên, Hạt Kiểm lâm thị xã đã phối hợp với các địa phương làm việc với gần 500 hộ gia đình sống trong và ven rừng để ký cam kết bảo vệ, phòng cháy rừng. Lực lượng dân quân tự vệ một số xã, phường trọng điểm về rừng đều tổ chức diễn tập chữa cháy rừng. Các đơn vị chức năng khác cũng phối hợp kiểm tra công tác phòng cháy rừng ở tất cả chủ rừng có diện tích rừng lớn...
Ông Hoàng Văn Hiểu, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã cho biết: Diện tích rừng ở Quảng Yên tuy không lớn, song lại là vùng nhạy cảm, nguy cơ cháy cao. Đặc biệt là đối với diện tích rừng trồng, rừng thông nhựa, sau nhiều tháng luôn trong tình trạng khô nỏ, đặc trưng của cây thông nhựa lại dễ bắt cháy và cháy lan. Bởi vậy, nếu không chủ động triển khai sớm và triệt để các hoạt động phòng cháy thì nguy cơ xảy ra cháy cũng như hậu quả các vụ cháy sẽ lớn.
Có lẽ từ thực tế này, nên Quảng Yên đã đầu tư lớn cho công tác PCCCR. Mùa hanh khô vừa qua, thị xã đã chi gần 200 triệu đồng để phát dọn thực bì, sửa chữa các bản tin tuyên truyền. Ngoài ra các chủ rừng cũng chủ động huy động hàng trăm triệu đồng để xử lý thực bì, giảm vật liệu cháy, đặc biệt là các chủ rừng lớn như Công ty CP Thông Quảng Ninh, Trung tâm Khoa học và Sản xuất nông lâm nghiệp. Đến thời điểm này, toàn thị xã đã có hàng chục thiết bị chữa cháy dạng lớn, đáp ứng công tác chữa cháy rừng, trong đó có 7 máy thổi gió, 4 máy cắt thực bì...
Giống như Quảng Yên, TP Móng Cái hiện đã hoàn thành việc kiểm tra công tác PCCCR đối với các chủ rừng lớn, trong đó có 3 công ty TNHH là Ngân Hiền, Phú Lâm và Innogreen, cùng Lâm trường 42 và Ban Quản lý rừng phòng hộ Móng Cái, 6 đơn vị có diện tích rừng lớn nhất toàn địa bàn.
Qua kiểm tra cho thấy các đơn vị này có sự đầu tư tốt về thiết bị, nhân lực phòng chữa cháy, đã xây dựng phương án PCCCR hiệu quả; thành lập tổ, đội bảo vệ rừng; duy trì tuần tra gác lửa rừng trong mùa hanh khô. Riêng 3 doanh nghiệp Ngân Hiền, Phú Lâm và Innogreen nhiều năm qua chưa để xảy ra cháy rừng.
Đối với huyện Bình Liêu, đơn vị có diện tích rừng lớn của toàn tỉnh, ngay cuối tháng 9 đã tập trung kiện toàn các ban chỉ đạo PCCCR, các tổ, đội chữa cháy; tổ chức trực, tuần tra rừng 24/24 với quy mô sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ theo phương châm 4 tại chỗ; phổ biến rộng rãi kiến thức pháp luật về công tác bảo vệ rừng cho người dân... Riêng các chủ rừng lớn rất chú trọng công tác phát luống, giảm vật liệu cháy và đầu tư sửa chữa, thay mới thiết bị phòng chống cháy, tuyên truyền bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Thanh Khương, Phó Trưởng Phòng Quản lý và Bảo vệ rừng, Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh khẳng định: Có thể thấy, hiện hầu hết các địa phương đều có sự chuẩn bị tốt cho công tác phòng cháy rừng, sẵn sàng chống, cứu chữa rừng khi có cháy rừng xảy ra. Riêng về công tác đầu tư nhân lực, vật lực PCCCR, có thể nói thời gian qua bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, các địa phương, chủ rừng đã thực sự chủ động đầu tư.
Theo thống kê của tỉnh, hiện trên địa bàn có gần 2.300 phương tiện chữa cháy, trong đó có trên 300 phương tiện cơ giới có công năng chữa cháy rừng hiệu quả. Đặc biệt là gần 100 máy thông gió và các máy bơm nước cỡ lớn. Trong đó TP Hạ Long là đơn vị chịu khó đầu tư thiết bị máy thổi gió nhất tỉnh, với tổng số gần 30 chiếc. Các đơn vị Quảng Yên, Tiên Yên và Kiểm lâm Đội 1 sử dụng rất hiệu quả thiết bị máy bơm nước lớn, hiện đại, góp phần quan trọng trong việc dập, chống cháy rừng. (Báo Quảng Ninh 30/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 28/11, tại TP Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đã tổ chức hội nghị bổ sung quy trình kỹ thuật cho việc phát triển cây cao su ở khu vực các tỉnh Bắc Trung bộ.
Ông Lê Minh Châu, Phó TGĐ VRG chủ trì hội nghị khẳng định không thể có giống cây cao su nào chống được bão, mà chỉ có quy trình kỹ thuật để hạn chế thiệt hại thấp nhất ở vùng bão đi qua.
Trước thiệt hại do bão số 10 và 11 vừa gây ra ở miền Trung, với vai trò, vị thế và chức năng của mình, Tập đoàn đã kịp thời bổ sung quy trình kỹ thuật cho cây cao su ở khu vực bị ảnh hưởng bão, đặc biệt là vùng Bắc Trung bộ, áp dụng cho cao su đại điền và tiểu điền.
Sau hai cơn bão số 10 và 11, 5 tỉnh Bắc Trung bộ gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế và Quảng Nam có đến gần 22.000 ha cao su thiệt hại. Phần diện tích cao su của Tập đoàn thiệt hại chỉ hơn 1.700 ha. Trong tổng số 80.000 ha cao su đã phát triển ở Bắc Trung bộ chủ yếu là tiểu điền. Diện tích cao su của Tập đoàn chỉ có 18.000 ha.
Tập đoàn xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến cây cao su ở Bắc Trung bộ gồm bão tố, rét hại mùa đông, gió Lào khô hạn và mưa dầm. Bắc Trung bộ là vùng ngoài truyền thống đối với cây cao su của Tập đoàn.
Ông Lại Văn Lâm, Trưởng ban Kỹ thuật của VRG khẳng định quy trình kỹ thuật được công bố hôm nay nhằm bổ sung cho quy trình kỹ thuật cây cao su được Tập đoàn ban hành năm 2012. Quy trình bổ sung này nhấn mạnh đến các yếu tố giống, mật độ trồng, thiết lập đai chắn gió và tạo tán, tỉa cành.
Theo đó về giống cây, do có nguy cơ ảnh hưởng bão thường xuyên nên các Cty, người dân trồng cần sử dụng các giống chịu gió đã trải qua thử thách trong vùng như RRIC 100, RRIC 121, RRIM 712, GT1 và RRIM 600. Việc sử dụng các giống khác cần phải có sự chấp thuận của Tập đoàn. Phương pháp trồng nên sử dụng cây con có trên hai tầng lá. Cách trồng âm so với mặt đất từ 15 đến 20 cm.
Với mật độ khoảng cách trồng trên đất dốc. Mật độ trồng mới 666 cây/ha, khoảng cách 6m x 2,5m, theo đường đồng mức. Trồng tái canh cũng vậy, từ 649 đến 666 cây/ha, khoảng cách 6m x 2,5 m và 7 m x 2,2m, theo đường đồng mức có sẵn.
Mật độ khoảng cách trồng trên đất bằng thì với hàng đơn, ở mật độ 649 cây/ha, trồng có khoảng cách 7m x 2,2m. Với mật độ 666 cây/ha có khoảng cách 6m x 2,5m.
Với hàng kép (dùng để trồng xen cây ngắn ngày, cây lâm nghiệp có chu kỳ tương đương cây cao su ở giữa hai hàng kép) mật độ 500 cây/ha, khoảng cách 15m x 5m x 2 m. Với mật độ 588 cây/ha, có khoảng cách 12m x 5m x 2m. Tất cả đều trồng theo hướng đông - tây để hạn chế gió từ biển vào.
Cùng trồng cao su là thiết lập đai rừng chắn gió. Sau khi chỉ ra tác dụng không thể thiếu của đai chắn gió cho cao su, ông Lại Văn Lâm phân tích cho thấy ở khu vực đất bằng nên ưu tiên trồng cao su thực sinh hoặc cao su ghép gỗ - mủ, có thể kết hợp tràm hoa vàng và phi lao, các loại cây bụi tầng thấp để tạo đai chắn gió nhiều tầng.
Trồng từ 4 đến 6 hàng đầu lô, vuông góc với hướng gió, hàng theo hướng bắc - nam với khoảng cách từ 1,5 đến 2m x 1 m, dạng nanh sấu cùng thời điểm trồng mới. Lập đai dài từ 150m đến 200 m thùy theo địa hình.
Ở các khu vực đất dốc, có địa hình chia cắt thiết lập đai chắn gió dọc theo các khe gió (bờ sông, hợp thủy lớn) tận dụng đất trồng từ 4 đến 6 hàng tràm và cây lâm nghiệp khác thành đai chắn gió.
Có thể chuyển hai hàng cao su cặp ranh hợp thủy, sông thành ba hàng cao su theo khoảng cách 3m đến 3,5m x 4m, dạng nanh sấu làm đai cao su hạn chế gió đồng thời có thể khai thác mủ. Đai chắn gió theo hướng thiết kế này có thể lặp lại khoảng cách 150m đến 200m theo đường đồng mức trong trường hợp sườn đồi đủ lớn.
Sau khi cao su phát triển, công đoạn tạo tán cao su kiến thiết cơ bản được xác định rất quan trọng. Tạo tán ở độ cao 2,2m đến 2,5m, năm thứ hai vào thời điểm khi cây đủ độ cao, tiến hành cắt ngọn để tạo tán, không cắt ngọn tạo tán vào mùa đông. Cắt ngọn ở độ cao từ 2 m đến 2,5 m trở lên, vị trí cắt nằm ở tầng lá trên cùng.
Số chồi để lại trên ngọn để tạo tán mới ít nhất ba chồi, khoảng cách giữa các chồi tối thiểu đạt 15 cm và được phân bố đều các bên để tán lá cân đối, hạn chế gãy cành, gãy tán do gió.
Quy trình kỹ thuật này được áp dụng đồng bộ từ khi chọn giống làm đất trồng cho đến khi khai thác mủ cao su. Ông Lâm nhấn mạnh không được khai thác mủ cao su sớm hơn quy định, khi cây chưa đến tuổi. Việc cao su tiểu điền ở Bắc Trung bộ bị gãy nhiều vừa rồi một phần do bà con khai thác mủ quá sớm và vắt cạn kiệt sức lực của cây.
Trong quy trình này cũng chỉ rõ các kỹ thuật xử lý vườn cây bị hại sau bão với vườn cây kinh doanh và vườn cây kiến thiết cơ bản.
Lãnh đạo các Cty Cao su các tỉnh Bắc Trung bộ và vùng duyên hải miền Trung có mặt tại hội nghị nhất trí cao quy trình kỹ thuật bổ sung này của Tập đoàn, xem đây là việc làm có ý nghĩa, hết sức cần thiết cho việc phục hồi và phát triển lại cao su sau bão. Các ý kiến cũng cho rằng vụ trồng cao su mới nên bắt đầu từ mùa xuân, khi có tiết trời ấm áp hơn.
Ông Lê Minh Châu, Phó TGĐ VRG cho biết quy trình bổ sung này tuy áp dụng cho cả cao su đại điền và tiểu điền nhưng Tập đoàn cũng không buộc người dân Bắc Trung bộ trồng lại cao su ở những vùng vừa bị bão làm gãy, mà trồng hay không đó là chủ trương của các địa phương. Tuy nhiên, ông Châu đề nghị khi trồng thì phải hết sức chú ý thực hiện tốt quy trình bổ sung mà Tập đoàn công bố hôm 28/11. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/11) đầu trang(
Sử dụng không bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển vùng ven biển đang đe dọa rừng phòng hộ là các nội dung được đề cập tại hội thảo “Thích ứng với biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Sóc Trăng” vừa diễn ra tại TP HCM
Biến đổi khí hậu ảnh hưởng nghiêm trọng môi trường và cuộc sống người dân. Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới bị tác động nhiều nhất, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long. Theo giới chuyên môn, mỗi năm đồng bằng sông Cửu Long bị biển lấn sâu vào đất liền khoảng 50 m. Trước thực trạng trên, Cơ quan Hợp tác phát triển Đức (GIZ) đã hỗ trợ Sóc Trăng quản lý, bảo vệ và khai thác vùng bờ biển để hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.
Dự án bảo vệ và khai thác vùng bờ, vùng ven biển tại Sóc Trăng có ý nghĩa lớn, hiện đã làm thay đổi khá nhiều về môi trường, đời sống của người dân. Ông Jochem Lange, Trưởng đại diện GIZ tại Việt Nam, cho biết Việt Nam là đối tác quan trọng của Đức để hợp tác trong lĩnh vực môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinh thái ven biển.
TS Klaus Schmitt, cố vấn Trưởng dự án GIZ Sóc Trăng, cho biết dự án về môi trường thực hiện tại Sóc Trăng từ năm 2007 đến năm 2014 (giai đoạn 1) với kinh phí 5 triệu euro (trong đó có 10% từ vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam).
Sau khi chương trình này kết thúc vào tháng 3-2014 sẽ triển khai tiếp đến năm 2017 về bảo vệ và sử dụng bền vững - khôi phục và tái tạo với phần chính là khôi phục rừng ngập mặn. Trong đó có việc trồng mới rừng ngập mặn với biện pháp bảo vệ chặt chẽ. Việc quản lý này có người dân tham gia bằng hình thức hợp tác xã, chỉ cho phép dân vào khai thác thủy sản khi thủy triều xuống để bảo vệ cây con không bị tổn hại.
Sắp tới sẽ có thêm dự án toàn diện để hỗ trợ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như các giải pháp phát triển đô thị bền vững. Sóc Trăng là địa phương đầu tiên thực hiện trước dự án, sau đó sẽ áp dụng mô hình này cho 5 tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long.
Dự án đang thử nghiệm các phương pháp bảo vệ bờ biển khỏi bị xói lở, trong đó có việc khôi phục rừng ngập mặn, sử dụng rào chắn sóng, hạn chế xói lở và gia tăng bồi lắng. Dự án cũng đang thiết kế các tường phá sóng để giảm xói lở, tăng bồi lắng và giúp tránh xói lở cuối dòng.
Ông Lê Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng, cho biết dự án này không chỉ giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu mà còn giúp địa phương phát triển kinh tế bền vững, trong đó nông dân là đối tượng chính tham gia bảo vệ rừng và khai thác thủy - hải sản tại địa phương. Đê chống sóng bằng tre bước đầu đã đạt được kết quả tốt. Khôi phục rừng ngập mặn đang tiến triển khả quan. Tuy nhiên, ông Trí cho rằng để đạt được kết quả tốt cần có sự quản lý toàn diện.
Còn theo ông Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy lợi, hiện tượng suy thoái rừng, thiếu nước xuất hiện nhiều nơi. Giải pháp hiệu quả là tiếp cận phù hợp tiến bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết tốt nhu cầu dân sinh.
Ông Nguyễn Đức Hoàng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sóc Trăng, cảnh báo quá trình hình thành và phát triển diện tích rừng ngập mặn luôn biến đổi nên phải có biện pháp bảo vệ rừng hiệu quả, nhất là khả năng phục hồi. Hiện độ trồng rừng chỉ khoảng 50 m, có nơi hẹp hơn nên khi chuyển đổi làm mất rừng ở nhiều nơi. Nếu chỉ trồng rừng không thôi thì cũng không hiệu quả mà phải kết hợp bảo vệ, quản lý rừng. (Người Lao Động 28/11) đầu trang(
Thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2012 – 2015, đến nay, Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất cấp huyện đã được xây dựng và hoàn thiện trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt.
Công tác giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất ở 2 xã điểm của tỉnh là xã Y Can, huyện Trấn Yên và xã Vũ Linh, huyện Yên Bình được tăng cường chỉ đạo; Ban chỉ đạo tỉnh đã thành lập tổ công tác liên ngành trực tiếp cùng huyện, xã thực hiện rà soát hiện trạng rừng trên thực địa, đối chiếu với đề án được duyệt và phương án của xã đã xây dựng để tiếp tục hoàn thiện phương án nhằm thực hiện được trong thực tế.
UBND các huyện đã triển khai và bước đầu xây dựng hoàn thiện phương án giao rừng của các xã đã được tỉnh phân bổ kinh phí giao rừng, cho thuê rừng. Các đơn vị đã xây dựng xong dự toán chi tiết thực hiện công tác giao rừng, cho thuê rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư gửi các ngành chức năng cho ý kiến thẩm định để chủ đầu tư phê duyệt.
Về kết quả giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức, đến nay đã xác định được khung giá rừng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên để phục vụ Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2012-2015 tỉnh Yên Bái.
Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp được giao tiếp nhận và sử dụng kinh phí giao rừng, cho thuê rừng năm 2013, đã tổ chức xây dựng đề cương kỹ thuật và dự toán chi tiết thực hiện hạng mục cho thuê rừng, gắn liền với thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp và hạng mục kiểm tra, rà soát thực trạng quản lý, sử dụng rừng tự nhiên sản xuất do lực lượng kiểm lâm giao khoán và rừng phòng hộ chuyển sang sản xuất sau khi điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng.
Qua kiểm tra, rà soát diện tích rừng phòng hộ chuyển sang sản xuất và rừng tự nhiên sản xuất do lực lượng kiểm lâm giao khoán trên địa bàn 4 huyện đã xác định được diện tích đất, diện tích rừng có khả năng cho tổ chức và doanh nghiệp thuê là trên 35.033 ha; trong đó: Rừng tự nhiên trên 31.233 ha, rừng trồng 331 ha, đất trống trên 3.465 ha.
Sở NN&PTNT, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các huyện: Văn Chấn, Lục Yên, Yên Bình đã giới thiệu, chỉ rõ địa điểm cho thuê đợt I là 5.350 ha rừng trên địa bàn 19 xã để Công ty Cổ phần công nghiệp giấy miền Bắc và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Lâm nghiệp Yên Bái xem xét, tổ chức thực hiện thuê đất, thuê rừng theo quy định hiện hành. Đã giới thiệu cho Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn xem xét diện tích rừng trên địa bàn 9 xã của huyện Yên Bình và Lục Yên trong đợt II.
Thời gian tới, tỉnh Yên Bái tiếp tục chỉ đạo các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền về thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng, có phương án giải quyết, cùng với ngành nông nghiệp và chính quyền các cấp đảm bảo tiến độ triển khai Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2015 tỉnh Yên Bái theo đúng kế hoạch. (Yenbai.gov.vn 29/11) đầu trang(
Ngày 28.11, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Sao La thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trụ sở đặt tại xã Bha Lêê (huyện Tây Giang).
Hạt Kiểm lâm có trách nhiệm tham mưu, giúp Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng; kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về rừng trong lâm phận Khu Bảo tồn loài Sao La.
Ngoài ra, xây dựng chương trình, kế hoạch bảo vệ rừng, phương án phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; phòng, trừ sâu bệnh hại rừng trong lâm phận Khu Bảo tồn loài Sao La; phổ biến, tuyên truyền vận động nhân dân tham gia bảo vệ rừng; tổ chức tuần tra, truy quét các tổ chức, cá nhân phá hoại rừng, khai thác, tàng trữ, mua bán, vận chuyển lâm sản, săn bắt động vật rừng trái phép trên địa bàn... (Báo Quảng Nam 29/11) đầu trang(
Thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo và xã hội hóa nghề rừng của Chính phủ, tỉnh Lào Cai chỉ đạo ngành lâm nghiệp và các ngành có liên quan một mặt ra sức vận động nhân dân tích cực bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cây; thực hiện có hiệu quả Chương trình 327 phủ xanh đất trống, đồi trọc và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng.
Đồng thời cơ cấu lại tổ chức ngành lâm nghiệp phù hợp với tình hình mới, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất lâm nghiệp bằng việc chuyển đổi một số lâm trường thành Ban quản lý rừng phòng hộ và chuyển đổi một số lâm trường thành công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp, tạo tiền đề cho việc xã hội hóa ngành lâm nghiệp, huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế lâm nghiệp phát triển bền vững, kịp thời ứng phó với sự biến đổi của khí hậu toàn cầu.
Năm 2013, là năm bản lề thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai khóa XIV, nhiệm kỳ 2010 – 2015, chỉ tiêu kế hoạch của ngành lâm nghiệp trồng mới 5.900 ha rừng phòng hộ và rừng sản xuất, tăng gần gấp hai lần so với năm 2012. Để đạt mục tiêu trên, UBND tỉnh đã phát động ba phong trào thi đua, trong đó có Phong trào bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cây xanh đã nhanh chóng tạo không khí khích lệ, phấn khởi trong toàn xã hội.
Đến nay, toàn tỉnh đã trồng mới được 6.881,6 ha/5.900 ha, vượt 16,6% kế hoạch giao, trồng được 337,32 ngàn cây xanh tại các vườn hộ, trường học, trạm xá, trụ sở các cơ quan, đơn vị. Trong quá trình thực hiện đã xuất hiện những cách làm hay, hiệu quả; những gương điển hình tiên tiến trong phong trào ngày càng nhiều. Riêng 9 tháng năm 2013 đã có 25 tập thể, đơn vị và 57 cá nhân, hộ gia đình được nêu gương điển hình tiên tiến.
Tuy nhiên, việc bảo vệ và phát triển rừng cần quan tâm khắc phục như: năng suất, chất lượng rừng còn thấp; tình trạng phá rừng, cháy rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra. Các sản phẩm lâm sản vẫn ở dạng thô, giá trị sản phẩm thấp, người dân chưa có thu nhập cao từ nghề rừng.
Để phát triển kinh tế hộ gia đình từ sản xuất lâm nghiệp, những năm tới tỉnh Lào Cai sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền về lợi ích của rừng để người dân nhận thức đúng về giá trị, từ đó tích cực tham gia trồng rừng. Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững và nâng cao giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích lâm nghiệp.
Tập trung tổ chức trồng rừng sản xuất ở những huyện vùng thấp; thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu gắn với các cơ sở chế biến, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của các cơ sở chế biến, sản xuất các sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Mở rộng diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng đối với các huyện vùng cao, biên giới để tạo thành những dải rừng rộng lớn vừa có chức năng phòng hộ, bảo tồn nguồn gen, chống biến đổi khí hậu, góp phần tạo thành vành đai xanh bảo vệ biên giới.
Bên canh đó, triển khai các mô hình quản lý bảo vệ rừng bền vững, tăng thu nhập từ rừng thông qua việc phát triển cây lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu dưới tán rừng để người dân bảo vệ rừng có thu nhập cao từ rừng, từ đó người dân mới yên tâm bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời triển khai các hình thức bảo vệ rừng phù hợp với tập quán, văn hoá của từng dân tộc. (Báo Lào Cai 28/11) đầu trang(
Năm 2013, thực hiện trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147, toàn xã Côn Minh, huyện Na Rì đã thực hiện được 48,41 ha đạt 100%, trong đó trồng rừng phân tán được trên 61.000 cây.
Trong năm UBND xã đã cấp 27 giấy phép khai thác gỗ rừng tự trồng, cây vườn nhà và lâm sản ngoài gỗ với khối lượng 119,545 m3 gỗ mỡ, soan, lát, sao vườn nhà. Khối lượng lâm sản đã khai thác, ngiệm thu và tiêu thụ hơn 110 m3, ngoài ra UBND xã còn chỉ đạo cán bộ giám sát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng cưa xăng trong quá trình khai thác gỗ. (Báo Bắc Kạn 29/11) đầu trang(
Ngày 28.11, tại trường THCS Lý Thường Kiệt (Tam Phú, TP.Tam Kỳ), Sở NN&PTNT tổ chức phát động trồng cây gây rừng năm 2013. Sự kiện tổ chức nhân kỷ niệm ngày Lâm nghiệp Việt Nam 28.11.
Sau lễ phát động, cán bộ công nhân viên Sở NN&PTNT, các cơ quan đơn vị trên địa bàn tỉnh, cán bộ, người dân xã Tam Phú (TP.Tam Kỳ) và hàng trăm em học sinh trường THCS Lý Thường Kiệt đã trồng 4.000 cây keo lưỡi liềm và cây phi lao trong khuôn viên nhà trường và trên đất lâm nghiệp đã được cấp phép cho các hộ dân xã Tam Phú.
Được biết, nhờ tích cực trồng cây gây rừng, đến nay Quảng Nam đã đạt độ che phủ rừng chiếm 49% diện tích. Năm 2013 này, toàn tỉnh đã trồng được 12.000ha trong kế hoạch trồng 14.500ha rừng tập trung. Ngành lâm nghiệp đã chuẩn bị được 12,2 triệu cây con đạt tiêu chuẩn phục vụ cho kế hoạch trồng rừng năm nay. (Báo Quảng Nam 29/11) đầu trang(
Ngày 27-11, Huyện ủy Quan Sơn đã tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 06 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về phát triển kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2008 – 2015.
Xác định sản xuất lâm nghiệp là ngành chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của huyện và tạo đà cho các ngành kinh tế khác phát triển, trong 5 năm qua, huyện đã đẩy mạnh phát triển lâm nghiệp bằng nhiều giải pháp thiết thực.
Nhờ đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2008–2013 của huyện bình quân hàng năm đạt 11,55%/năm, tỷ trọng lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp bình quân đạt 51%/năm; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 50 tỷ đồng năm 2008, lên 84 tỷ đồng năm 2013; tỷ lệ số hộ gia đình, cá nhân, tổ chức thực hiện hiệu quả các mô hình phát triển lâm nghiệp đạt 50-55%...
Trong giai đoạn 2013-2015, huyện sẽ thực hiện các giải pháp như tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về quản lý bảo vệ rừng; tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện có hiệu quả chính sách giao đất, giao rừng và sử dụng kinh doanh rừng; quy hoạch chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 240.000 cây phân tán trở lên, trồng rừng tập trung từ 200 ha/năm trở lên; khoanh nuôi, tái sinh rừng nghèo tự nhiên từ 200 ha/năm trở lên; độ che phủ rừng đạt 80% trở lên... (Báo Thanh Hóa 28/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, tại huyện Chợ Mới, một số hộ gia đình đã đầu tư máy móc để chế biến gỗ ván bóc, tạo thêm đầu ra cho gỗ rừng trồng và việc làm cho lao động địa phương...
Các xưởng tư nhân chế biến gỗ rừng trồng thành ván bóc này chủ yếu nằm tại các xã, Thanh Mai, Nông Hạ, Như Cố, từ nguồn rừng trồng của các gia đình, cơ sở chế biến gỗ bóc mua về, các xưởng tạo thành những tấm gỗ bóc sau đó phơi khô xuất bán.
Sản phẩm gỗ bóc của các xưởng này được các doanh nghiệp ngoài tỉnh đến thu mua. Ưu điểm của nghề bóc gỗ là có thể tận dụng được mọi loại gỗ với nhiều kích thước khác nhau Loại gỗ được lựa trọn để sản xuất chủ yếu là gỗ keo và mỡ, nhưng cây gỗ keo là thích hợp hơn cả.
Anh Đoàn Văn Chiến chủ cơ sở chế biến gỗ tại thôn Bản Tết 1 xã Nông Hạ cho biết, cơ sở sản xuất của ảnh đầu tư hơn 400 triệu đồng và đã đi vào sản xuất được hơn 3 tháng, hiện nay cơ sở của anh đang tạo công ăn việc làm cho 20 lao động địa phương, lương bình quân của người lao động từ 2 đến hơn 3 triệu đồng/tháng.
Trung bình, một dàn máy mỗi ngày sản cần khoảng 10m3 gỗ nguyên liệu để chế biến, giá gỗ nguyên liệu anh đang mua tuỳ vào kích cỡ, từ 650-950 nghìn đồng một mét khối gỗ tròn. Bình quân mỗi tháng cơ sở ảnh xuất hàng hai lần, mỗi lần 60m3 gỗ bóc thành phẩm, với giá xuất bán tại cơ sở anh chiến là 1.850.000đ/khối.
Quy trình vận hành máy ở các xưởng đơn giản nên tận dụng được nguồn lao động địa phương. Tuy nhiên, cần chú ý nghiên cứu thị trường kẻo dẫn đến rủi ro. (Báo Bắc Kạn 28/11) đầu trang(
Ông Huỳnh Văn Ân (ấp Phú Bình, xã Phú An, Phú Tân) cho biết, ông đang nuôi 180 con trăn thịt, sau hơn 8 tháng chăm sóc, trăn đạt trọng lượng 5-6 kg/con là có thể xuất chuồng.
Bán cho thương lái với giá 280.000-310.000 đồng/kg, trừ chi phí, ông Ân còn lời hơn 180 triệu đồng. Ngoài ra, ông Ân còn nuôi thêm 15 con trăn nái, mỗi năm trăn nái đẻ 1 lứa khoảng 40 trứng. Sau 2 tháng ấp trứng, ông Ân bán trăn giống giá 400.000 đồng/con.
Anh Lương Hữu Nghị, ngụ cùng ấp chia sẻ, trăn rất dễ nuôi, dễ chăm sóc, lại không cần diện tích nuôi lớn, mà đầu ra và giá trăn thịt tương đối ổn định. (Báo An Giang 29/11) đầu trang(
Nguồn vốn hoạt động hạn chế nhưng sản phẩm của Tổ hợp tác Gỗ mỹ nghệ Hồng Quang (THT Hồng Quang) ở thị trấn La Hai (Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên ) vẫn có giá trị kinh tế cao nhờ vào sự độc đáo trong tạo hình tác phẩm và kỹ thuật chế tác.
Ra đời từ năm 1985 với 4 thành viên, THT Hồng Quang hoạt động về xẻ gỗ, chế biến và kinh doanh gỗ. Đến nay, THT Hồng Quang chuyên làm hàng gỗ mỹ nghệ.
Năm 1993, THT Hồng Quang gặp nhiều khó khăn, đứng trước nguy cơ giải thể do không có vốn, trong khi đó kinh doanh và chế biến gỗ đòi hỏi vốn lớn, còn xẻ gỗ thuê cho dân thì chỉ lấy công làm vốn, không thể phát triển được. Để khắc phục khó khăn, THT đã mua lại phần gốc và phần gỗ vụn tạp trong dân với giá rẻ, rồi về chế tác tạo hình, biến những thứ vô tri đó thành tác phẩm nghệ thuật.
Nhờ không ngừng học hỏi sáng tạo, đến năm 2005, sản phẩm bình hoa bằng gỗ trắc đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) cấp bằng độc quyền về kiểu dáng công nghiệp. Mỗi gốc trắc có chiều cao từ 30cm đến 40cm và chiều rộng từ 9cm đến 11cm mua của người đi rừng với giá từ 50.000 đồng đến 70.000 đồng. Khi hoàn thành một chiếc bình hoa, bán được từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng”.
Nhờ có sự tìm tòi cải tiến này mà những sản phẩm mỹ nghệ của THT Hồng Quang không chỉ đẹp về hình thức, tiết kiệm chi phí sản xuất mà còn có tính ứng dụng cao trong thực tế. (Thời Báo Kinh Doanh 29/11) đầu trang(
Trường ĐH Lâm nghiệp Hà Nội vừa chế tạo thành công máy uốn gỗ tự động hiệu quả và năng suất cao. Hệ thống này có thể uốn các thanh gỗ theo hình chữ C, U, S, L, O nhằm tạo ra các sản phẩm giá trị cao về thẩm mỹ và kinh tế.
Hiện nay, hầu hết các sản phẩm gỗ như các loại bàn, ghế, đồ nội thất đều có các chi tiết cong nhằm tăng giá trị thẩm mỹ, thuận tiện, thoải mái trong sử dụng. Nhưng nếu làm theo phương pháp truyền thống (dùng cưa cắt theo các đường cong vạch sẵn) sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc gỗ, làm giảm chất lượng bề mặt, lãng phí đến 50% nguyên liệu, lại không thể tạo ra chi tiết cong bán kính nhỏ...
Thấy rõ điểm bất lợi này, TS. Vũ Huy Đại (ĐH Lâm nghiệp) và các cộng sự đã triển khai nghiên cứu một loại máy có thể cho ra đời các sản phẩm gỗ uốn cong như ý muốn. Sau một thời gian thực hiện, họ đã trình làng loại máy uốn gỗ UG-HD.
Để gỗ có thể uốn được, công đoạn quan trọng nhất là xử lý dẻo hóa các thanh gỗ. Theo đó, gỗ sẽ được làm dẻo bằng cách hấp trong nồi hơi (nhiệt độ từ 100-150 độ C), rồi phải uốn ngay để gỗ không bị khô, gẫy, nứt.
Nhóm đã thiết kế đã chế tạo được nồi hấp gỗ dung tích 0,3m3 có thể hấp thanh gỗ có chiều dài 1,5m. Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn chế tạo được máy uốn gỗ UG-HD, có thể gia công 300 chi tiết/ca để chế tạo các chi tiết cong, lượn.
Những thanh gỗ sau khi uốn xong sẽ được sấy định hình trong khoảng 2 ngày sau đó được gia công thành các sản phẩm trang trí nội thất hay gỗ mỹ nghệ, dân dụng như tựa lưng ghế, tay vịn, chân bàn. Công nghệ này đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm và tỷ lệ tận dụng tối đa nguyên liệu.
Thiết bị uốn gỗ nói trên có thể uốn được các chi tiết gỗ dày 5mm, bán kính uốn cong từ 150-750mm chỉ mất từ 3 đến 5 phút cho mỗi chi tiết. Hệ thống này có thể uốn được 300 chi tiết/ca, năng suất cao gấp nhiều so với phương pháp thủ công.
Chỉ với giá 200 triệu đồng cho một hệ thống thiết bị, máy uốn gỗ rất phù hợp với xưởng sản xuất tại nhiều vùng địa phương, đặc biệt là các làng nghề. (Thời Báo Kinh Doanh 29/11; Chinhphu.vn 28/11) đầu trang(
Suốt hành trình đi thực tế tại Nam Phi, điều luôn khiến PV âm ỉ hổ thẹn là hầu hết các đồng nghiệp đều hỏi: “Làm gì để người Việt Nam thôi buôn bán và sử dụng sừng tê giác?” PV không đủ thẩm quyền để đưa ra câu trả lời thoả mãn những người Nam Phi đáng mến ấy. Điều PV có thể làm là chia sẻ những hiểu biết của mình về chiếc sừng tê giác để đừng ai mê muội tin vào công dụng diệu kỳ của nó.
Thuộc bộ ngón lẻ Perissodactyla, nhưng sừng tê giác không phát triển từ xương mà hình thành hoàn toàn từ các lớp biểu bì do quá trình keratin hoá. Keratin được tạo nên từ các phân tử protein gọi là alpha keratin, có trong móng, vuốt của tất cả các loài động vật có vú và các loài lông vũ. Những thành phần khác trong sừng tê giác đều có trong thức ăn của con người, bao gồm các chất phổ biến như carbon và nitrogen.
Trong quá trình keratin hoá, các tế bào da chết đi, dừng nhận dưỡng chất từ cơ thể tê giác. Do vậy, về bản chất, chiếc sừng đã chết giống như lông, tóc và móng tay, móng chân con người. Các enzyme phân giải protein trong dạ dày (như pepsin) và ruột non (trypsin) của con người gần như không thể hoà tan keratin cứng hoặc chỉ tiêu hoá một lượng không đáng kể, dù người sử dụng có mài mịn trước khi dùng.
Trên thế giới chưa có bằng chứng y học đáng tin cậy nào chứng minh được giá trị của sừng tê giác trong điều trị bệnh, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo. Mới đây, một số nghiên cứu, chủ yếu được thực hiện tại Trung Quốc, cho rằng sừng tê giác có thể hạ sốt. Nhưng chính những nghiên cứu này cũng thừa nhận, các chất kháng viêm thông dụng có trong aspirin và thảo dược rẻ hơn và hiệu quả hạ sốt cao hơn sừng tê rất nhiều!
TS Simon Naylor – giám đốc khu bảo tồn Phinda Private Game Reserve cho biết: “Nếu chứng minh được sừng tê giác chữa được ung thư, các bạn có thể xây dựng trang trại nuôi nhốt ở Việt Nam để chúng tôi cung cấp giống tê giác cho các bạn nuôi và phát triển để lấy sừng chữa bệnh! Đừng mù quáng buôn bán, sử dụng sừng tê khi không chắc chắn về hiệu quả y dược của nó, vì điều đó sẽ khiến những kẻ săn trộm thảm sát tê giác của chúng tôi để chặt sừng bán”.
Trong những năm gần đây, do môi trường không khí, nguồn nước bị ô nhiễm, nhiều thực phẩm bị nhiễm độc hoá chất… đã khiến số lượng bệnh nhân ung thư ở Việt Nam tăng bất thường. Nhiều bệnh nhân hoảng loạn vì không có thuốc đặc trị chứng bệnh này và tìm đến những vị thuốc được đồn thổi thành tiên dược, trong đó có sừng tê. Niềm tin mê muội này đã khiến nhu cầu sử dụng sừng tê giác tăng vọt một cách đáng sợ, đe doạ nghiêm trọng đến sự tồn tại của loài này.
Chưa kể lợi bất cập hại nếu ai đó mua phải chiếc sừng tê giác đã được tiêm chất thuốc kịch độc cô đông, do các chuyên gia bảo tồn Nam Phi khoan và bơm vào thân sừng. Những chiếc sừng có thuốc độc được đánh dấu bằng sơn đỏ để cảnh báo, tuy nhiên, vì khoản lợi nhuận khổng lồ, bọn buôn lậu sừng tê ngại gì mà không cạo bỏ phần sơn đỏ này để bán kiếm lời.
Dù Nam Phi vẫn đối mặt với rất nhiều áp lực xã hội nhưng họ sẵn sàng chỉ ra những khoản tiền khổng lồ để bảo tồn đa dạng sinh học, mà đặc biệt là bảo tồn các loài động vật quý hiếm… Ở Nam Phi, ngoài các khu bảo tồn, vườn quốc gia do nhà nước tổ chức quản lý và bảo vệ, còn có rất nhiều các khu bảo tồn tư nhân. Đây là mô hình không mới nhưng kết quả hết sức khả quan. Bất cứ cá nhân hay nhóm cá nhân nào đủ tiền đều có thể thuê một khu đất rừng nguyên sinh để bảo tồn.
Một khu bảo tồn tư nhân thường có diện tích 7.000 – 10.000ha trở lên, và các khu bảo tồn tư nhân thường liên kết với nhau để khai thác tối đa hiệu quả sử dụng trên khu vực mình quản lý, cũng như tạo ra sinh cảnh đủ lớn để các loài động vật hoang dã tìm kiếm thức ăn.
Việc Chính phủ Nam Phi cho phép tư nhân khai thác bảo tồn đã đem đến hiệu quả rõ rệt: khai thác được nguồn vốn tư nhân thúc đẩy bảo tồn, giảm bớt gánh nặng tài chính để tập trung vào các mục tiêu lớn của đất nước như xoá đói giàm nghèo, tái định cư cho dân các khu nhà ổ chuột. Mặt khác, mô hình này thúc đẩy ý thức toàn dân tham gia bảo vệ thiên nhiên, đồng thời tạo công ăn việc làm cho chính người bản địa để họ không khai thác tài nguyên rừng, săn bắn bừa bãi.
Riêng đối với loài tê giác, vì là tài sản quốc gia nên các khu bảo tồn tư nhân được phép “mượn” con giống để thả vào khu bảo tồn của họ. Sau 5 – 10 năm, những con non sinh ra thuộc sở hữu tư nhân và họ được toàn quyền sử dụng như bán lại cho các khu bảo tồn khác trong và ngoài nước để thu hồi vốn, còn con bố mẹ được trả về các khu bảo tồn của nhà nước để cho các khu bảo tồn khác mượn lại.
Đây là một biện pháp mở hay phải nói là rất mở, được quản lý với chế tài chặt chẽ, pháp luật nghiêm minh. Hầu hết các khu bảo tồn mà nhóm PV tới tham quan đều hợp tác chặt chẽ với người bản địa. Họ buộc phải tạo công ăn việc làm cho dân sống quanh khu vực, có cuộc sống ổn định để yên tâm dành hết tâm huyết cho công việc bảo tồn. Mặt khác, người bản địa hiểu rõ nhất về đường đi, hướng di chuyển cũng như số lượng các loài động vật hoang dã… nên khi họ làm công tác bảo vệ thì không gì tốt hơn.
TS Simon Naylor cho biết: “Chúng tôi có sáu khu bảo tồn trên khắp châu Phi và đây là một trong những khu bảo tồn tốt nhất của chúng tôi. Kể từ khi thành lập từ năm 1991 đến nay, chúng tôi mới chỉ bị bọn săn trộm bắn chết duy nhất một con tê giác. Tuy nhiên, chúng chưa kịp cắt sừng thì đã bị chúng tôi phát hiện”.
Việc thu hút đầu tư và quản lý chặt chẽ, bảo tồn tốt sẽ đem lại nguồn lợi khổng lồ. Khách du lịch quốc tế, đặc biệt là khách châu Âu, Nam Mỹ ngày càng ưa chuộng loại hình tham quan, nghỉ dưỡng tại các khu bảo tồn, với các dịch vụ bao gồm ăn nghỉ tại khách sạn năm sao giữa hoang mạc, đi xem thú ban ngày, ban đêm… Hầu hết các phòng nghỉ đều được đặt kín quanh năm và nhiều khách hàng thường xuyên quay lại các khu bảo tồn.
Trong quá trình tìm hiểu vùng phân bố của các khu bảo tồn ở Nam Phi, PV nhận thấy các khu bảo tồn được trải dài và rộng hàng trăm cây số vuông trên các kiểu địa hình khác nhau mà chủ yếu là rừng hoang mạc với một số vùng núi thấp. Thực vật ở đây chủ yếu là trảng cỏ, cây bụi và hầu hết các khu vực bảo tồn trước đây đều là khu vực săn bắn, nguồn sống của các bộ lạc người da đen với bản sắc văn hoá, lịch sử lâu đời.
Vì lý do này mà bảo tồn đa dạng sinh học chính là gắn liền bảo tồn văn hoá bản địa với bảo tồn các loài sinh vật nơi đây. Nếu trong chuỗi mắt xích sinh học, loài tê giác bị tuyệt chủng thì sẽ dẫn đến những thảm hoạ khó lường cho nhiều loài khác, vì tất cả các loài buộc phải thay đổi để thích nghi với sự biến mất của mắt xích đã gắn kết chúng hàng triệu năm qua.
Cùng với những áp lực không nhỏ từ các tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới, sự quan tâm kịp thời của Chính phủ Nam Phi đối với bảo tồn đa dạng sinh học thể hiện tầm nhìn xa và bền vững. Họ không muốn công dân Nam Phi trong tương lai phải trả giá cho sự trì trệ của họ ngày hôm nay trong việc bảo vệ một di sản lớn lao, mà biết bao thế hệ người Nam Phi trước kia đã gìn giữ rồi trao cho họ… (Sài Gòn Tiếp Thị 27/11) đầu trang(
Nhiều năm qua, những cánh rừng thông đẹp nhất Tây Nguyên như dọc các tuyến quốc lộ 14, 19 và đường Hồ Chí Minh đã bị tàn phá nghiêm trọng. Hằng ngày, những cánh rừng thông ở đây liên tục bị xâm hại nhưng các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương dường như bất lực…
Khu rừng thông lớn nằm dọc trên địa bàn ở xã Cư Né, huyện Krông Buk, Đắk Lắk đã nhanh chóng biến mất sau một thời gian ngắn. Hiện trường còn lại ngổn ngang những gốc thông bị hạ sát tại Tiểu khu 356, bên quốc lộ 14 thuộc địa bàn xã Cư Né. Nhiều cây thông già ứa nhựa có đường kính lên tới 80cm.
Được biết, đã có hàng trăm người dân các buôn Mùi 1, Mùi 2, Mùi 3, xã Cư Né, huyện Krông Buk, Đắk Lắk đến đây tàn phá rừng để chiếm đất. Nhiều cánh rừng thông xung quanh địa bàn Krông Buk, Đắk Lắk, người dân đã ken gốc, cho chết từng ngày để chiếm đất. Theo lãnh đạo chính quyền huyện Krông Buk, Đắk Lắk thì tình trạng phá thông ở địa bàn đã xảy ra từ lâu nhưng các giải pháp xử lý chưa thể ngăn chặn dứt điểm.
Tại địa bàn huyện Đăk Glei, Kon Tum, lâm tặc phá rừng thông hàng chục năm tuổi với quy mô lớn. Đây là khu rừng sản xuất tại Tiểu khu 96, thuộc xã Đak Pét, huyện Đăk Glei, do Lâm trường Đak Pô Kô quản lý. Tại hiện trường, ngổn ngang những cây thông to, có đường kính từ 30cm đến 50cm bị chặt hạ.
Theo điều tra, tình trạng phá rừng thông ở đây rộ lên từ đầu năm đến nay do một số đối tượng thực hiện theo phương thức ken cây ở gốc chờ thông chết dần để chiếm đất làm nương rẫy trái phép... Đã có hàng chục hécta rừng thông tại huyện Đak Glei bị phá mà Lâm trường Đak Pô Kô không thể ngăn chặn được.
Giải thích về sự bất lực của việc để mất rừng, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Đăk Glei, đơn vị quản lý Lâm trường Đak Pô Kô cho rằng, do có thông tin tại Tiểu khu 96 được UBND huyện Đăk Glei, Kon Tum đưa vào vùng quy hoạch khu vực các cơ quan hành chính của huyện Đăk Glei trong tương lai, nên nhân dân thôn Đông Thượng, xã Đak Pét đã phát gốc cây thông để trồng mì và bời lời nhằm mục đích sau này khi UBND tỉnh thu hồi đất chuyển mục đích sử dụng sẽ được bồi thường…
Còn rừng thông ở quốc lộ 19 thuộc địa phận huyện Mang Yang, Gia Lai cũng tan nát từng ngày. Báo chí đã phản ánh nhiều về tình trạng phá rừng ở đây nhưng xem ra công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương vẫn chưa đem lại hiệu quả. Những ngày gần đây, đi tìm hiểu thực tế những cánh rừng thông ở Mang Yang, vẫn còn thấy liên tiếp diễn ra cảnh những cây thông to bị ken gốc chặt phá dần để chiếm đất.
Theo Chủ tịch UBND huyện Mang Yang, Gia Lai, Nguyễn Như Phi, tình trạng phá rừng ở đây rất khó phát hiện nên huyện đã chỉ đạo thành lập tổ công tác đột xuất để có kế hoạch xử lý nạn phá rừng thông, chiếm đất ở địa phương. Đáng chú ý là nạn phá rừng thông, chiếm đất ở Mang Yang (Gia Lai) có liên quan đến một số cán bộ địa phương và cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa nên việc xử lý càng rất phức tạp.
Cụ thể như lợi dụng việc giao khoán trồng rừng, ông Phạm Đức Linh, kế toán Ban Quản lý rừng phòng hộ Đăk Đoa đã phá rừng trồng tiêu và xây nhà tạm trên diện tích 0,9ha… nhưng chưa được xử lý nghiêm minh. Có những diện tích rừng bị phá nhưng sau đó đã hợp lý hóa thành đất ở, đất sản xuất nên những kẻ phá rừng càng coi thường kỷ cương phép nước và rừng thông ở đây vẫn tiếp tục bị tàn phá. (Công An Nhân Dân 28/11) đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông vừa có văn bản đề nghị UBND tỉnh cho tạm ngưng thực hiện giao khoán rừng theo Nghị định 135/NĐ-CP tại các Cty lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh, đánh giá lại kết quả thực hiện và xử lý nghiêm các tổ chức cá nhân cố ý làm trái.
Lý do: Hiệu quả của cách giao khoán này quá kém, không kiểm soát được, dẫn đến phần lớn diện tích rừng đã giao cho người dân bảo vệ hoặc trồng rừng mới bị tàn phá nghiêm trọng, không làm đúng các điều khoản hợp đồng. Trong tổng số hơn 2.600 ha rừng đã giao có tới gần 2.000 ha bị chặt phá. Trong 1.793 ha đất được giao để trồng rừng chỉ có 573 ha được trồng rừng, phần còn lại bị biến thành nông trại hoặc mua bán sang nhượng trái phép. (Tiền Phong 29/11) đầu trang(
Chiều 28/11, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bù Gia Mập, cho biết: Vừa tạm giữ Bùi Văn Nam (35 tuổi, quê quán Hòa Bình) về hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm.
Theo điều tra ban đầu: Ngày 21/11, tổ công tác của Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng vườn quốc gia Bù Gia Mập (thuộc địa bàn huyện Bù Gia Mập) trên đường tuần tra truy quét bảo vệ rừng tại Tiểu khu 9, thuộc lâm phần Vườn quốc gia thì phát hiện 3 đối tượng đang săn bắn động vật tại đây.
Tổ công tác truy đuổi, bắt giữ được Nam, 2 đối tượng đi cùng Nam trốn thoát. Tang vật thu giữ gồm 1 cá thể voọc Chà Vá chân đen (đã bị bắn chết) và 1 túi mật động vật hoang dã (đã bị vỡ). Đề nghị hai đối tượng còn lại sớm đến cơ quan Công an đầu thú để nhận sự khoan hồng của pháp luật. (Công An Nhân Dân 29/11) đầu trang(
Trong tháng 10-2013, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ đã phối hợp với Đội Kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container thuộc Phòng Quản lý rủi ro - Cục Hải quan TP Hải Phòng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ 21 chiếc ngà voi trong lô hàng nhập khẩu của Công ty TNHH xuất nhập khẩu Quảng Đạt.
Theo thông tin khai báo ban đầu, hàng hóa là sừng bò nuôi (Bos taurus), không nằm trong danh mục Cites, xuất xứ Nigeria, được áp mã 05079090, lượng hàng là 7.260 kg, đóng trong 1 container 40 feet.
Với thông tin khai báo trên, bằng kinh nghiệm thực tiễn của cán bộ công chức tiếp nhận và sự chỉ đạo sâu sát, am hiểu nghiệp vụ cũng như khả năng dự đoán rủi ro phát sinh của lãnh đạo Chi cục, lô hàng trên đã được kiểm tra thực tế hành hóa bằng máy soi container, tỷ lệ 100%.
Khi tiến hành kiểm tra thực tế hàng hóa bằng máy soi container đã phát hiện lô hàng trên có dấu hiệu hình ảnh nghi vấn. Để xác định và làm rõ nghi vấn trên, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Đình Vũ kết hợp với Đội Kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container - Phòng QLRR tiến hành mở kiểm tra thực tế hàng hóa bằng phương pháp thủ công. Sau khi 2 đơn vị phối hợp mở kiểm tra tại Trung tâm máy soi container phát hiện tại điểm nghi vấn có hàng hóa nghi là ngà voi được cất giấu trong các sừng động vật cỡ lớn.
Để đánh lừa việc kiểm tra hải quan đối tượng đã chọn mặt hàng có đặc điểm gần giống, có thể gây nhầm lẫn là sừng bò, lồng ngà voi vào trong những chiếc sừng bò cỡ lớn xếp trà trộn cùng sừng bò được lồng vào từng cặp đóng trong các bao dứa và phân tán ở phía gần cuối container.
Đây là thủ đoạn cất giấu tinh vi chưa từng được phát hiện. Tuy thủ đoạn của bọn buôn lậu rất tinh vi nhưng vẫn không lọt qua được sự tài tình, sắc sảo, nhạy bén nghiệp vụ của CBCC Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ cũng như con mắt giàu kinh nghiệm của cán bộ phân tích hình ảnh của Đội kiểm tra hàng hóa bằng máy soi container.
Kết quả giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã xác định: 21 chiếc ngà voi có tên khoa học Loxodonta africana. Số hàng hóa còn lại là sừng của loài bò nuôi, có tên khoa học là Bos taurus, là loài động vật nuôi thông thường, không có tên trong các phụ lục của Công ước Cites. Kết quả giám định của Chi nhánh Công ty cổ phần tập đoàn Vinacontrol Hải Phòng xác định 21 chiếc ngà voi có khối lượng là 74kg. (Hải Quan 29/11) đầu trang(
Dù tình trạng lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp tại Bình Thuận đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn rất phức tạp…
Nhờ thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nên từ đầu năm đến nay, tình trạng lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những chuyển biến tích cực. Diện tích đất rừng bị lấn chiếm và tái lấn chiếm đã giảm. Dù vậy, trong thực hiện công tác này vẫn còn không ít hạn chế, khó khăn đòi hỏi các cơ quan chức năng và địa phương cần tập trung chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt hơn trong thời gian tới.
Theo báo cáo của Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố, thị xã trong tỉnh, từ đầu năm đến nay lực lượng bảo vệ rừng của các đơn vị chủ rừng đã phát hiện lập hồ sơ vi phạm về hành vi lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép 117 vụ, với tổng diện tích hơn 121 ha… (VOV Giao thông 27/11) đầu trang(
Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên vừa quyết định thi hành kỷ luật khai trừ Đản đối với ông Võ Trọng Bình, Phó Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ sông Hinh.
Ông Bình bị khai trừ Đảng vì có nhiều sai phạm, gây thiệt hại nhiêm trọng tài sản của Nhà nước. (Tuổi Trẻ 29/11) đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết, trong tháng 11/2013, cả nước có 12,2 ha rừng bị chặt phá, chủ yếu do tình trạng đốt nương làm rẫy rải rác ở các địa phưowng. Như vậy, từ đầu năm đến nay, cả nước có 601,5 ha rừng bị chặt phá. (Kinh Tế&Đô Thị 29/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Trồng rừng thay thế là một trong những giải pháp nhằm đảm bảo độ che phủ của rừng khi xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình thủy điện. Tuy nhiên, không phải địa phương nào cũng có đủ điều kiện để trồng rừng thay thế khi triển khai các công trình và dự án làm ảnh hưởng không tốt đến tài nguyên rừng.
Đơn giản chỉ vì quỹ đất trống lâm nghiệp của địa phương đó không quá dồi dào để trồng rừng thay thế. Bởi vậy, một trong những giải pháp “kèm theo” đó là các chủ dự án phải làm nghĩa vụ nộp tiền bồi thường rừng cho Nhà nước, rồi sau đó ngành lâm nghiệp có trách nhiệm trồng lại diện tích rừng tương đương ở đâu đó theo quy hoạch.
Thực tế ở Lâm Đồng trong thời gian gần đây, việc trồng rừng thay thế không những gặp phải không ít khó khăn như trên vừa nêu (quỹ đất trống lâm nghiệp hạn hẹp) mà còn gặp trở ngại do các chủ dự án chậm thực hiện nghĩa vụ nộp tiền bồi thường rừng.
Một vài số liệu thống kê được cơ quan chức năng tổng hợp ở phạm vi cả nước rất đáng quan tâm: “Từ năm 2006 – 2012, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.792ha. Cho đến nay, diện tích trồng rừng thay thế được 735ha, đạt 3,7% tổng diện tích theo yêu cầu”.
Tại Lâm Đồng, theo kế hoạch vừa được phê duyệt, trong năm 2014, sẽ có 130ha rừng được trồng mới theo chương trình trồng rừng thay thế cho diện tích đất lâm nghiệp đã được chuyển đổi sang mục đích phi lâm nghiệp.
Cụ thể hơn, tại 6 đơn vị chủ rừng có diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế là Công ty TNHH một thành viên Lộc Bắc trồng 50ha; hai ban quản lý rừng phòng hộ Serepok và Nam Ban cùng Hạt Kiểm lâm Bảo Lộc trồng 20ha/đơn vị; và, hai ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Gia và Tân Thượng mỗi đơn vị trồng 10ha. Con số này hẳn là quá nhỏ so với diện tích rừng đã được chuyển đổi để xây dựng các công trình.
Trong một diễn đàn về bảo vệ lưu vực sông Đồng Nai, cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng công bố con số: Từ 2006 đến nay, tỉnh Lâm Đồng đã xóa 1.886ha rừng tự nhiên để xây dựng các thủy điện trên sông Đồng Nai thuộc địa bàn tỉnh này.
Cũng cần nói thêm, con số 130ha chưa hẳn là con số cuối cùng về diện tích trồng rừng thay thế trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2014. Tuy nhiên, nó lại là con số rất đáng suy ngẫm trước mục tiêu đặt ra cho Lâm Đồng là phấn đấu đưa tỉ lệ độ che phủ của rừng từ 60,4% hiện nay lên 61% vào năm 2020. (Lao Động 29/11) đầu trang(
Không phải ngẫu nhiên mà người ta nhận xét, không có thủy điện vẫn có giải pháp khác thay thế, còn khi mất rừng là mất tất cả! Ước tính mỗi MW thủy điện, ngốn hết hơn 10 ha rừng.
Chưa bao giờ dân ta lại thấy thấm thía như bây giờ câu nói đúc kết kinh nghiệm ngàn đời của ông cha ta khi xếp thứ tự bốn loại tai họa: Thủy, hỏa, đạo, tặc. Năm nay, đang nổi lên vấn đề thời sự là miền Trung dù đã được chuẩn bị ứng phó vẫn bị thiệt hại về người và của do ảnh hưởng của bão lũ và việc xả lũ của các nhà máy thủy điện.
Lũ chồng lên lũ, người dân phải gồng mình chống “lũ kép”- thiên tai và nhân tai.
Theo báo Tuổi Trẻ, Phó TT Hoàng Trung Hải đã nói: “Theo thống kê của các địa phương, thiệt hại rất đau xót khi có tới 43 người chết, 04 người mất tích, 70 người bị thương, trên 400 căn nhà bị sập, hàng trăm nghìn căn nhà bị ngập, 400.000 gia cầm chết, 30.000 gia súc chết. Diện tích lúa và hoa màu bị ngập rất lớn.”
Chia sẻ với đau thương mất mát của đồng bào miền Trung nhưng trên mạng xã hội, nhiều ý kiến không đồng tình với phát biểu của Phó TT cho rằng: “Đến nay, chưa có báo cáo nào nói có hồ nào đó xả lũ sai quy trình và các địa phương có hồ chứa đều khẳng định như vậy"!
Khách quan nhận xét, nếu chỉ căn cứ vào các báo cáo thì phát biểu của Phó TT không sai nhưng thực tế có đúng như vậy không, cần được giải đáp. Trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi cố gắng lý giải dưới góc nhìn khách quan và khoa học trên nguyên tắc, là dù quy trình vận hành xả lũ đã được phê duyệt, nhưng thực tế gây thảm họa cho người dân ở hạ du thì vẫn cần phải xem xét, đánh giá lại quy trình.
Để phát triển kinh tế xã hội bền vững, ngành điện cần đi trước một bước. Nguồn năng lượng điện ở Việt Nam từ trước đến bây giờ vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn nhiên liệu chính là than đá, khí (nhiệt điện) và nước ở các dòng sông (thủy điện), trong đó nguồn thủy điện luôn duy trì tỉ trọng lớn khoảng gần 40% trong cơ cấu nguồn điện ở Việt Nam từ trước đến nay.
Trong bài toán năng lượng của nước ta, thủy điện luôn được đánh giá cao vì giá thành tương đối rẻ, năng lượng sạch có khả năng tái tạo, dễ điều chỉnh nên thường được sử dụng để phủ đỉnh trong sơ đồ phát điện. Bởi thế, hầu hết các công trình thủy điện lớn và vừa, đã và đang được khai thác triệt để là điều dễ hiểu.
Trong lưới điện của bất cứ quốc gia nào, người ta đều phải tính toán để có nhiều chủng loại các nhà máy điện khác nhau, đề phòng sự cố và quá lệ thuộc vào một loại nguyên nhiên liệu đầu vào nào đó. Cụ thể là phải có thủy điện để phòng khi giá dầu biến động, có nhiệt điện phòng khi khô hạn.
Ở Việt Nam, trước đây chỉ phổ biến nhiệt điện chạy than, nhiệt điện chạy dầu, sau đó, có thêm các nhà máy turbine khí hỗn hợp, đặc biệt là thủy điện chiếm khoảng gần 40%. Nguyên tắc khi thiết kế các nhà máy thủy điện lớn nằm trong hệ thống điện quốc gia thường chọn tần suất thiết kế đảm bảo 95%. Có nghĩa là 20 năm bình quân mới có 01 lần thiếu nước so với công suất được đưa vào cân bằng hệ thống điện.
Bởi vậy, không thể đổ thừa mỗi khi không đủ nguồn nước là do ông Trời. Do khâu tổ chức thiếu nhất quán, chưa định lượng hóa lợi ích mang lại cho các ngành theo phương án vận hành điều tiết, cấp điện, cấp nước cho nông nghiệp, công nghiệp, và duy trì dòng chảy tối thiểu. Cho đến nay mới phê duyệt được quy trình vận hành liên hồ chứa về xả lũ của một số lưu vực quan trọng. Ngay liên hồ chứa Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang (chưa kể thêm hồ chứa Sơn La) đến nay, vẫn chưa phê duyệt quy trình vận hành cho bài toán mùa cạn.
Hiện nay công suất đỉnh khoảng hơn 18000 MW, tức là chưa tới 20000 MW. Mỗi năm nếu EVN chỉ đưa vào được khoảng 2000 MW, tức 10%, thì chắc chắn thiếu điện, do tốc độ tăng trưởng thương phẩm khoảng 15%/năm.
Muốn có an ninh năng lượng, hay nói cách cụ thể hơn là an ninh điện năng, cần phải đẩy mạnh tiến độ xây dựng và chất lượng của các nhà máy điện. Thời gian vừa qua, công luận bức xúc về thiếu điện còn do nguyên nhân nhiều dự án dàn trải, tốc độ xây dựng chậm trễ, một số chủ đầu tư không đủ năng lực tài chính, sự yếu kém và thiếu kinh nghiệm trong các khâu thủ tục đấu thầu vv…
Nhiều dự án kinh tế trọng điểm liên quan đến tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng phần lớn do Trung Quốc thắng thầu thực hiện theo EPC bao gồm toàn bộ từ thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư xây lắp. Các nhà máy nhiệt điện ở Cẩm Phả, Hải Phòng do Trung Quốc thi công chậm trễ so với kế hoạch đến hơn 20 tháng lại thường xuyên gặp sự cố kỹ thuật! Chi phí khâu phát điện thường chiếm đến 72% lại chưa có khung giá phát điện chuẩn nhiều nhà máy nhiệt điện xây xong chưa ký được hợp đồng mua bán với EVN.
Nhìn chung cả nước, quy hoạch ngành năng lượng rất nhiều nhưng lại rất thiếu: Ngành điện, than và dầu khí đều có quy hoạch riêng nhưng thiếu một quy hoạch tổng thể cho toàn ngành năng lượng. Ở cấp độ địa phương, quy hoạch lại bị chồng chéo, đăc biệt ở thủy điện nhỏ, các địa phương cấp phép xây dựng vô tội vạ nhằm thu hút vốn đầu tư và thu thuế cho địa phương.
Sự chậm trễ trong tiến độ đưa vào vận hành các công trình điện (nhà máy, đường dây, trạm...), theo các thống kê trong những năm gần đây gần như 100% các nhà máy điện đưa vào hệ thống chậm hơn một vài năm so với kế hoạch.
Chúng ta đều biết điện sử dụng bằng điện sản xuất cộng điện nhập khẩu trừ đi điện tiết kiệm. Phương trình này đơn giản nhưng không phải là bài toán dễ giải. Thủy điện là nguồn điện rẻ, sạch, có khả năng tái tạo nên các quốc gia có tiềm năng về thủy thế, nguồn nước đều ưu tiên coi trọng thủy điện.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể bài toán cơ cấu nguồn điện năng của nước ta thì thủy điện chiếm tỉ lệ quá cao trong tổng sơ đồ điện. Thủy điện đòi hỏi đầu tư rất lớn nhưng tác động đến môi trường cũng không nhỏ, phải di dân tái định cư, thay đổi dòng chảy tự nhiên, môi trường sinh thái động thực vật, đa dạng sinh học, đặc biệt tàn phá rừng.
Tiềm năng lý thuyết thủy điện Việt Nam khoảng 75.000 MW, tiềm năng kỹ thuật khoảng 31.000 MW và tiềm năng kinh tế - kỹ thuật khoảng 20.000 MW. Năm 2001, công suất max hệ thống khoảng 6.000 MW nhưng đến năm 2009 con số này đã là khoảng 14.000 MW (trung bình tăng 1.000 MW/năm với tỉ lệ tăng khoảng 12%/năm), trong đó thủy điện chiếm 6.500 MW.
Hiện tại, công suất thủy điện trong hệ thống khoảng 11.000 MW. Dự báo đến các năm 2020 và 2030, tổng công suất hệ thống là khoảng 75.000 MW và 150.000 MW, trong đó thủy điện tương ứng là 17.000 MW (23%) và 18.000 MW (12%).
Như vậy, rõ ràng là trong giai đoạn 2001-2010, một thập niên bùng nổ thủy điện, gần như tiềm năng kinh tế - kỹ thuật nguồn thủy điện đã được khai thác rất lớn. Trong những năm tiếp sau 2010, chỉ còn một vài dự án lớn như Sơn La 2.400 MW, Lai Châu 1.200 MW cùng một số thủy điện vừa và nhỏ khoảng 2.100 MW sẽ được khai thác đến năm 2015 là gần như hết tiềm năng thủy điện Việt Nam. Chỉ còn lại một ít dự án thủy điện tích năng sẽ được tiếp tục khai thác sau năm 2020.
Mặc dù vai trò nguồn thủy điện trong cơ cấu nguồn điện chiếm tỉ trọng lớn nhưng việc đầu tư cho công tác quy hoạch chưa tương xứng với tiềm năng. Đối với quy hoạch tổng sơ đồ điện, từ trước đến nay đã qua 07 kỳ quy hoạch và nhiều lần hiệu chỉnh quy hoạch, việc quy hoạch chủ yếu dựa trên tiêu chí tối ưu chi phí đầu tư và vận hành hệ thống điện, theo nhu cầu năng lượng của quốc gia song lại không chú trọng tiêu chí ảnh hưởng đến môi trường.
Chi phí cho một kỳ quy hoạch tổng sơ đồ phát triển điện quốc gia (5 năm/lần) rất hạn chế nên khó đáp ứng cho việc đánh giá tác động môi trường từ các dự án nguồn, trong đó có thủy điện. Việc đánh giá tác động môi trường lại được “lồng ghép” cho quy hoạch từng dự án cụ thể hoặc đánh giá chung chung khi lập quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch cấp tỉnh nên chất lượng rất hạn chế.
Đối với quy hoạch thủy điện theo lưu vực sông, chỉ một số ít có quy hoạch cụ thể và cũng chỉ có các dự án trên 30 MW mới được xem xét. Một số lưu vực trước đây khi lập quy hoạch, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có thuê tư vấn nước ngoài lập với chi phí đáng kể, thì vấn đề môi trường được đánh giá khá chi tiết và có khuyến cáo cụ thể khi xếp hạng ưu tiên khai thác.
Nói cách khác là các dự án được xếp hạng theo tiêu chí kinh tế, kỹ thuật, môi trường. Đối với quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ thì được cấp tỉnh phê duyệt, nội dung nghiên cứu quy hoạch cũng chưa chú trọng nhiều đến vấn đề môi trường.
Các tác động của thủy điện thì ai cũng nhìn thấy, cả mặt lợi và hại. Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc gia, nhu cầu năng lượng quốc gia, việc khai thác thủy điện để cung cấp năng lượng là tốt vì đây là nguồn năng lượng tái sinh. Vấn đề của Việt Nam là con người, kể cả người thực hiện, chủ đầu tư và người quản lý.
Có một lỗ hổng trong quy trình quản lý nên việc quản lý, cấp phép và giám sát môi trường chưa chặt chẽ dẫn đến các tác động ngoài mong muốn mà một bên không thể dễ dàng nhận trách nhiệm. Một số tác động gần đây như lũ tăng bất thường, động đất kích thích, vỡ đập, phá rừng, biến đổi sinh thái và hình thái hạ lưu sông… là kết cục tất yếu của một quá trình lâu dài hơn 10 năm khai thác thủy điện nhưng các chế tài chưa phù hợp với phong trào “nhà nhà làm thủy điện, người người làm thủy điện”.
Nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại môi trường quá mức từ các dự án thủy điện, là do chúng ta chưa có tiêu chí đánh giá lựa chọn dự án khai thác tổng thể theo sự tiến bộ về nhận thức của xã hội. Nghĩa là chỉ có tiêu chí kinh tế - kỹ thuật mà chưa có tiêu chí kinh tế - môi trường - kỹ thuật.
Dự án để được triển khai phải có tên trong quy hoạch (tổng sơ đồ điện quốc gia và quy hoạch thủy điện tỉnh). Trong thực tế, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) có chất lượng chưa tốt do hạn chế ở khâu kinh phí, nguồn nhân lực (kể cả những người lập báo cáo lẫn hội đồng xét duyệt). Chính sự dễ dãi, thậm chí lơi lỏng trong giám sát, đã bắt môi trường tự nhiên và người dân phải hứng chịu mọi hậu quả.
Có câu “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, ngẫm suy thật chuẩn xác vì đó là cái giá phải trả do đối xử tệ hại với môi trường sinh thái tự nhiên. Ngoài nguyên nhân do lâm tặc hoành hành, sự tiếp tay của những phần tử thoái hóa trong chính quyền, thì việc phát triển thủy điện tràn lan, tàn phá rừng đầu nguồn, kể cả vườn quốc gia, chính là tác nhân gây nên các hiện tượng lũ quét, lũ ống, sạt lở núi đồi…, phá hủy các cơ sở hạ tầng, làm nhiều người bị rơi vào cảnh màn trời chiếu đất, đặc biệt là cướp đi biết bao sinh mạng của người dân vô tội.
Rừng là bộ phận kết cấu hạ tầng sinh thái của đất nước. Không phải ngẫu nhiên mà người ta nhận xét, không có thủy điện vẫn có giải pháp khác thay thế, còn khi mất rừng là mất tất cả! Ước tính mỗi MW thủy điện, ngốn hết hơn 10 ha rừng. (Vietnamnet.vn 29/11) đầu trang(
Kính thưa các nhà “thủy điện học”! Những người dân như chúng tôi tuyệt nhiên không biết và không cần biết về cái gọi là “qui trình”, “qui treo” của các vị. Chúng tôi chỉ biết một điều, cái mà “tiếp sức” cho lũ để người chết, nhà chìm thì đích thị là qui trình của… Hà Bá, phải không các bạn?
Hiện nay, thủy điện đã và đang là mối kinh hoàng của người dân không chỉ vùng chân đập. Nó thật sự đã biến thành “thủy quái” sẵn sàng bắt tay với thiên tai cuốn trôi người, nhà cửa, tài sản, hoa màu của cả một vùng rộng lớn trong chớp mắt.
Vì sao vậy? Nguyên nhân thì nhiều và đã có quá nhiều những bài phân tích sâu sắc. Tóm lại là đáng lý, nó phải là một chiến lược kinh tế được thực hiện từng bước, có thí điểm, phân loại và có tổng chỉ huy.
Thế nhưng tiếc thay những năm qua, nó đã biến thành một… "phong trào rộng lớn". Người người làm thủy điện, nhà nhà làm thủy điện, huyện, tỉnh đua nhau làm thủy điện…
Thế là tất cả các con sông, con suối bất kể to nhỏ, bất kể hậu quả gây ra cho môi sinh như thế nào đều được “đắp đập, be bờ” làm thủy điện.
Môi sinh bị tàn phá. Những dòng sông, con suối trước đây dù mùa khô vẫn đầy ắp nước thì bây giờ luôn trong tình trạng khô cạn khiến cả một vùng hạ lưu trù phú thường xuyên hạn hán. Lúa mất mùa, hoa màu cằn cỗi, đời sống người dân đã khó khăn lại càng khó khăn.
Rừng thì bị tàn phá không thương tiếc. Phá để xây dựng các nhà máy thủy điện, rừng còn bị phá bởi trò “thừa gió bẻ măng” nên những nơi có dự án thủy điện, về cơ bản, rừng đã phá xong.
Rừng mất thì sinh ra lũ lụt. Các hồ chứa trên lý thuyết là để điều hòa nhưng giờ đây là quả bom nước đặt lơ lửng trên đầu dân chúng.
Đáng lý khi có mưa lớn, các hồ này phải trữ nước để điều hòa thì ngược lại, nó lại tiếp tay cho Hà Bá bằng cách… đổ thêm lũ vào mưa.
Thế là trên trời thì Thiên Lôi hoành hành. Ngoài biển thì Hà Bá dâng nước. Dưới đất thì “thủy quái điện” xả lũ đã đẩy người dân xả thân, xả phận vào chốn đói nghèo vì nhà cửa, tài sản mất hết.
Thế mà đau xót thay là không ai chịu trách nhiệm cả.
Câu nói “mơ hồ” đến mức nghe xong chả mấy ai hiểu (kể cả một số đại biểu Quốc hội) và có lẽ sẽ trở thành “kinh điển” của Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng tại kỳ họp Quốc hội vừa qua đã nói lên cái bản chất “rối rắm”, “cha chung không ai khóc”, lỗi chung không ai nhận: “Quy hoạch thủy điện trải qua nhiều thời kỳ là quy hoạch chung của cả nước chứ không phải quy hoạch riêng của Chính phủ hay Bộ Công thương... Chúng ta nói về chúng ta chứ không phải chúng ta nói về Chính phủ, cũng không phải chúng ta chỉ nói về bộ, ngành này hay bộ, ngành khác mà chúng ta nói về chúng ta”.
Thế nhưng trơ tráo là trong vụ đại hồng thủy kinh hoàng ỏ Đại Lộc (Quảng Nam) vừa qua, các chủ hồ đều tuyên bố xanh rờn rằng họ đã… xả lũ đúng qui trình!?.
Qui trình do họ hoặc những người cùng phía với họ là tác giả nên nói thẳng thừng như ông Nguyễn Văn Ngũ - Bí thư Huyện ủy Đại Lộc tại Hội nghị Tỉnh ủy Quảng Nam lần thứ 17, khóa XX (bài Quy trình xả lũ bị mắng “xối xả” – Việt Nam Nét ngày 28/11):”Hồ chứa thủy điện xả lũ đúng qui trình. Nhưng chỉ là đúng qui trình với chính… chủ hồ thủy điện”.
Còn GĐ Sở NN&PTNN Quảng Nam, ông Nguyễn Thanh Quang thì ví von:“Thủy điện không gây ra lũ lụt, thiên tai tạo ra nước. Nhưng chính thủy điện tiếp sức gây ra lũ lụt! Quy trình xả lũ do chính thủy điện đề ra! Nói xả lũ đúng quy trình? Nó chỉ đúng với chủ hồ, nhưng nó không đúng với cuộc sống người dân!”.
Còn người dân như cụ Nguyễn Văn Minh, Đại Cường - Đại Lộc thì chỉ biết ngậm ngùi: "… bà con tui ở vùng rốn lũ ni biết chi mấy cái qui trình của các ông! Hồi chưa có thủy điện, mỗi khi trên nguồn mưa lớn là lũ về. Nhưng lũ không tàn khốc và gây thiệt hại lớn như bây giờ".
Kính thưa các nhà “thủy điện học”, những người dân như chúng tôi tuyệt nhiên không biết và không cần biết về cái gọi là “qui trình”, “qui treo” của các vị. Chúng tôi chỉ biết một điều, cái mà “tiếp sức” cho lũ để người chết, nhà chìm thì đích thị là qui trình của… Hà Bá, phải không các bạn? (Dân Trí 28/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Một vụ giải cứu hy hữu vừa xảy ra tại bến cảng Bắc Norris Arm ở Canada. Được cứu sống là một con cá mập bị nghẹt thở vì vướng mảnh sừng nai ở họng.
Trên đường lái xe tới bến cảng Bắc Norris Arm trên đảo Newfoundland hồi cuối tuần trước, ông Derrick Chaulk nghĩ mình đã nhìn thấy một con cá voi mắc cạn. Nhưng khi đến gần hơn, ông phát hiện đó là một con cá mập Greenland đang bị nghẹt thở.
Con cá còn sống, dài chừng 2,5 m và nặng cỡ 115 kg. “Mảnh sừng nai vướng trong họng con cá dài khoảng 0,6 m” – ông Chaulk cho biết.
Sau khi thấy cảnh tượng lạ lùng đó, ông Chaulk và người bạn Jeremy Ball bắt đầu kéo mảnh sừng ra để giải thoát cho con cá mập. Phải mất vài cú kéo mạnh mảnh sừng mới bung ra và hai người đàn ông gắng sức đưa con cá mập trở lại biển. Ông Ball buộc thừng vào đuôi con cá kéo đi trong khi ông Chaulk ra sức đẩy.
Con cá nằm im trong mực nước khoảng 30 cm một lúc. Rồi đột ngột mang nó động đậy, đuôi quẫy lên và con cá bơi ra xa bờ. “Cảm giác nhìn thấy con cá bơi đi thật tuyệt. Những người chứng kiên vỗ tay không ngớt” - ông Chaulk kể.
Theo báo chí địa phương, cả mập Greenland hiếm khi xuất hiện ở bờ biển đông bắc đảo Newfoundland. (Người Lao Động 29/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||