|
Ngày 27 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Điện Biên đã xác định rõ ranh giới, diện tích đất có rừng thuộc lưu vực sông Đà cho chủ rừng là các tổ chức, cá nhân, cộng đồng thôn bản với tổng diện tích đất có rừng của lưu vực nhà máy Thủy điện Sơn La là 242.304ha làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tuy nhiên hiện nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chưa xác định rõ chủ rừng và nhiều chủ rừng cũng không nắm rõ được vị trí, diện tích đất, rừng, trạng thái rừng và trữ lượng rừng được giao. Bởi khi các chủ hộ nhận khoanh nuôi và bảo vệ rừng lại không nhận ngoài thực địa mà chỉ nhận rừng trên... giấy.
Ngày 6/12/2012, sau khi Sở NN&PTNT tỉnh Điện Biên nhận được Quyết định số: 3003 ngày 29/11/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về việc công bố diện tích rừng thuộc lưu vực sông Đà trong phạm vi từ hai tỉnh trở lên làm cơ sở cho việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hội đồng quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã tổ chức họp bàn vấn đề chi trả phí dịch vụ môi trường rừng cho các tổ chức, cá nhân được giao quản lý rừng.
Hiện nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Điện Biên được ủy thác chi trả tiền cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho các loại hình dịch vụ cung ứng, bao gồm: bảo vệ, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng suối để điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện. Tổng diện tích đất có rừng của lưu vực nhà máy Thủy điện Sơn La là 242.304ha.
Bà Đinh Thị Thu Hà, Giám đốc Quỹ bảo vệ & phát triển rừng Điện Biên cho biết, Công ty Thủy điện Sơn La ủy thác, chuyển hơn 70 tỷ đồng (trong 2 năm 2011 và 2012) để Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng Điện Biên chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn Điện Biên.
Hiện nay, Quỹ bảo vệ & phát triển rừng Điện Biên đang thực hiện thí điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé, tổng diện tích 31.211,1ha của 11 xã bản và khu vực thị xã Mường Lay.
Bà Đinh Thị Thu Hà cho biết thêm: Trong khi chờ UBND tỉnh ra quyết định, Quỹ bảo vệ & phát triển rừng đã lên phương án ứng trước cho Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé 10 tỷ đồng. Dự kiến trong thời gian tới sẽ hoàn tất các thủ tục để các ban quản lý rừng phòng hộ ứng tiền chi trả cho các hộ nhận khoán, định mức chi trả dịch vụ phí môi trường rừng giao 200 nghìn đồng/ha.
UBND tỉnh giao cho Sở NN&PTNT, Sở Tài nguyên & Môi trường cùng phối hợp rà soát việc giao đất, giao rừng đã được cấp cho các cá nhân, tập thể là chủ rừng và xác định lại mốc giới, theo lô, khoảnh, trạng thái rừng và trữ lượng rừng của 6 huyện, thị thuộc vùng lưu vực sông Đà hoàn thành trong quý I/2013.
Như vậy, việc tiến hành chi trả dịch vụ phí môi trường rừng cho các cá nhân, tập thể là chủ rừng tại các huyện, thị trên địa bàn tỉnh vẫn chưa thể thực hiện trong năm nay vì còn phải mất nhiều thời gian cho việc rà soát, xác định mốc giới thực tế của chủ rừng. (Báo Điện Biên 26/12)đầu trang(
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, đến nay, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp gần 30.000ha đất cho trên 71.470 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu hoặc không có đất sản xuất, đất ở, trong đó, giải quyết đất sản xuất 29.200ha cho 56.000 hộ và diện tích còn lại giải quyết đất ở cho 15.470 hộ.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng đã hoàn thành việc xây dựng đề án giao rừng, khoán bảo vệ 109.324ha rừng cho trên 4.770 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ quản lý, bảo vệ. Tỉnh Đắk Lắk đã thực hiện thí điểm giao khoán rừng tự nhiên theo Quyết định 304 của Thủ tướng Chính phủ cho 945 hộ và 31 nhóm hộ, cộng đồng buôn, với tổng diện tích trên 9.108ha. Các công ty càphê, cao su cũng đã tuyển dụng gần 15.570 lao động là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân ở các đơn vị.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, việc hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, tuyển dụng đồng bào vào làm công nhân ở các công ty cà phê, cao su, lâm nghiệp... không những thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào mà còn góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn trên 20.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn thiếu hoặc không có đất sản xuất. Nguyên nhân là do các tỉnh Tây Nguyên tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn lúng túng, nhất là công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tài nguyên, môi trường. Các tỉnh Tây Nguyên còn bị nhiều áp lực gia tăng dân số cơ học, chủ yếu là đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch nên phá vỡ các quy hoạch về đất đai, phát triển kinh tế, xã hội...
Thêm vào đó, một số bộ, ngành, địa phương chưa thật sự quan tâm đến vấn đề bức xúc hiện nay của vùng Tây Nguyên đó là khó khăn trong công tác quản lý, điều chỉnh lại đất rừng; chưa nhận thức được hết ý nghĩa, tầm quan trọng của các chủ trương, chính sách giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số...
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành liên quan và các tỉnh Tây Nguyên sớm thực hiện quy hoạch lại đất đai cho các buôn làng Tây Nguyên gắn với xây dựng nông thôn mới trên cơ sở tôn trọng cách thức sử dụng đất rừng của buôn, làng truyền thống ở Tây Nguyên nhằm đảm bảo để người dân có đủ đất sản xuất, đất ở và đất dân sinh khác.
Thêm vào đó, cần nâng cao vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý Nhà nước của chính quyền đối với các chương trình, chính sách dân tộc-miền núi, trong đó có chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào thực hiện tốt việc quản lý, sử dụng có hiệu quả đất đai đã được Nhà nước giao, đồng thời, triển khai công tác khuyến nông, khuyến lâm, hướng dẫn kỹ thuật thâm canh cây trồng, vật nuôi cho đồng bào để tăng năng suất lao động, hệ số sử dụng đất, tăng thu nhập cho đồng bào.
Các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục rà soát, thu hồi diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả để tạo quỹ đất giao cho địa phương quản lý hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ thiếu đất sản xuất... (VietnamPlus.vn 27/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo dự toán, năm 2013 Lâm Đồng sẽ đầu tư hơn 540 tỷ đồng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, trong đó nguồn vốn từ ngân sách dành riêng cho công tác này chiếm phần lớn với trên 54% tổng dự toán.
Cụ thể, nguồn vốn từ ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng là hơn 290 tỷ đồng, nguồn vốn từ chi trả dịch vụ môi trường rừng là hơn 120 tỷ đồng, còn lại là nguồn vốn huy động từ các đơn vị doanh nghiệp với gần 63 tỷ đồng, nguồn vốn tín dụng thương mại hơn 33 tỷ đồng và nguồn vốn ODA là hơn 28 tỷ đồng.
Từ các nguồn vốn này, trong năm 2013 Lâm Đồng sẽ triển khai thực hiện một số hạng mục chủ yếu như: Giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích gần 430.000ha; khoanh nuôi bảo vệ rừng hơn 1.870 ha; làm giàu rừng 630ha; trồng mới và chăm sóc rừng trồng với hơn 6.400 ha. (Đài PT – TH Lâm Đồng 26/12) đầu trang(
Trong năm 2012, ngành chức năng và các địa phương đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR), song vẫn còn nhiều diện tích rừng trên địa bàn tỉnh bị xâm hại. Vào dịp cuối năm, tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép càng diễn biến phức tạp hơn. Đế đối phó với vấn nạn này, ngành Nông nghiệp tỉnh đã triển khai nhiều biện pháp QLBVR.
Theo Sở NN-PTNT, năm 2012, các Hạt Kiểm lâm (KL) trong tỉnh đã tăng cường cán bộ đứng chân địa bàn, tham mưu cho chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch và thực hiện công tác QLBVR; phối hợp với các ngành chức năng, các hội-đoàn thể tổ chức 406 đợt tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BVPTR) thu hút 31.295 chủ rừng, các doanh nghiệp kinh doanh chế biến gỗ, nhà hàng, dịch vụ và nông dân các địa phương có rừng tham gia.
Bên cạnh đó, lực lượng KL và các ngành chức năng đã điều tra thu thập danh sách các đối tượng phá rừng ở một số địa phương có điểm nóng khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản và động vật rừng trái phép, vận động 2.465 hộ và 1.348 cá nhân cam kết không tái phạm.
Các lực lượng chức năng cũng đã tổ chức 596 đợt tuần tra, truy quét tại các khu rừng trọng điểm trong tỉnh và những vùng rừng giáp ranh với các tỉnh: Gia Lai, Quảng Ngãi, Phú Yên nhằm xóa bỏ các tụ điểm mua bán, khai thác, vận chuyển lâm sản và động vật rừng tại các khu vực này. Qua đó đã phát hiện lập biên bản 557 vụ vi phạm Luật BVPTR, xử lý hành chính 504 vụ, khởi tố và chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra 11 vụ. Các Hạt KL cũng đã tạm giữ 163,754 m3 gỗ các loại; 41.608 kg than hầm; 68 ste củi; 46 mô tô; 15 máy cưa và phá hủy trên 1.225 bẫy thú, lán trại…
Những con số nói trên chứng tỏ tình trạng phá rừng, săn bắt động vật rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương trong tỉnh. Đáng lo ngại là các đối tượng tham gia phá rừng với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, sẵn sàng manh động, chống đối người thi hành công vụ. Thực tế cho thấy, trong năm 2012 đã xảy ra 5 vụ chống người thi hành công vụ tại các huyện Vĩnh Thạnh, An Lão, Phù Cát, Phù Mỹ, gây thương tích cho 2 cán bộ KL và làm hư hỏng hoàn toàn 2 mô tô của lực lượng KL.
Theo đánh giá của ngành Nông nghiệp tỉnh, nguyên nhân dẫn đến tình trạng nói trên là do đời sống sản xuất của người dân gần rừng gặp nhiều khó khăn, thiếu việc làm. Bên cạnh đó, lợi ích của việc trồng rừng nguyên liệu giấy là rất lớn và nhu cầu về đất canh tác, sản xuất nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số tăng trong khi đất sản xuất ở một số địa phương bị thu hẹp bởi các dự án thủy điện, nên người dân đã lấn chiếm đất và chặt phá cây rừng để trồng rừng sản xuất.
Hơn nữa, chính quyền một số địa phương còn buông lỏng công tác QLBVR, chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Các chủ rừng chưa đủ năng lực để quản lý, bảo vệ diện tích được giao khoán; các cơ quan quản lý nhà nước chưa quản lý hiệu quả việc sử dụng, sang nhượng, lấn chiếm trái phép đất lâm nghiệp. Việc tổ chức giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân ở một số nơi chưa tốt, người nhận khoán vẫn nhận tiền, nhưng không thực hiện các hoạt động QLBVR, rừng vẫn bị phá nhưng chưa quy được trách nhiệm cụ thể….
Ông Lê Đình Thanh, Chi cục phó Chi cục KL tỉnh, cho biết: “Chúng tôi đã xây dựng kế hoạch kiểm tra, truy quét ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật rừng trái phép trong thời gian trước, trong và sau Tết Nguyên đán.
Cụ thể: Chi cục đã chỉ đạo lực lượng KL phối hợp với các ngành, hội, đoàn thể, các chủ rừng, chính quyền các xã, thôn, làng, tăng cường công tác tuyên truyền vận động nhân dân sống gần rừng và ven rừng về các quy định trong công tác QLBVR, phòng cháy, chữa cháy rừng bằng nhiều hình thức, để người dân hiểu và tham gia QLBVR, mạnh dạn tố giác các đối tượng có hành vi vi phạm.
Hạt KL các huyện, thành phố, các đội KL cơ động phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành và chính quyền các địa phương, các chủ rừng triển khai lực lượng tuần tra, truy quét tại các “điểm nóng” phá rừng và chốt chặn các tuyến đường ra vào rừng để ngăn chặn có hiệu quả các hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật trái phép.
Chi cục đã chỉ đạo các Hạt KL trên địa bàn xác lập, điều tra, xác minh, củng cố hồ sơ, làm rõ các hành vi vi phạm, nhanh chóng xử lý hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Riêng tại địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, Chi cục đã cử một tổ KL cơ động gồm 5 đồng chí để hỗ trợ Hạt KL Vĩnh Thạnh thực hiện nhiệm vụ được giao”.
Cũng theo ông Lê Đình Thanh, để công tác QLBVR đạt hiệu quả, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp, chính quyền các địa phương cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho mỗi người dân, từng bước xã hội hóa công tác QLBVR, chứ không chỉ mỗi ngành KL làm việc này.
Mặt khác, mỗi địa phương phải thực hiện thật tốt việc giao đất, giao rừng, có chính sách khuyến khích người dân trồng rừng; quy hoạch lại vùng nương rẫy cấp cho người dân sản xuất lâu dài; nâng cao hơn nữa định mức phí khoán QLBVR để người dân có điều kiện sống được nhờ nhận khoán bảo vệ rừng và gắn bó với rừng. Một khi đời sống của người dân được cải thiện, rừng đã có chủ sẽ hạn chế được tình trạng rừng bị xâm hại. (Báo Bình Định 26/12)đầu trang(
Theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2015 UBND tỉnh Bình Thuận vừa phê duyệt, số tiền này được sử dụng để nâng tỉ lệ che phủ của rừng đạt 41%. (Tuổi Trẻ 26/12) đầu trang(
25/12, tại Nha Trang, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã tổ chức hội thảo thông qua đề án "Bảo tồn nguồn gien cấp tỉnh giai đoạn 2013-2020".
Tham gia hội thảo có các nhà khoa học sinh học đầu ngành đến từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Hội thảo nhằm đưa ra giải pháp hữu hiệu trong việc bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm.
Theo các báo cáo khoa học, Khánh Hòa có địa hình, khí hậu, điều kiện tự nhiên ưu đãi, có nhiều loại động, thực vật quý hiếm. Về gien thực vật có 27.888 loài, các loài động vật quý hiếm đặc hữu có 427 loài. Khánh Hòa còn có rừng đặc dụng Hòn Bà, Khu bảo tồn biển Hòn Mun, có nhiều loài động - thực vật, có những loài hết sức quý hiếm đang có nguy cơ bị tiệt chủng; ngoài ra có một số loài có giá trị kinh tế cao trong dược phẩm như: sáo tam phân, Hà thủ ô trắng…
Các đại biểu đã trao đổi, xác định ưu tiên các danh mục về hệ thực - động vật quý hiếm cần bảo tồn, gìn giữ, xây dựng đề án để từ đó có kế hoạch bảo tồn nguồn gen đạt hiệu quả cao nhất. Trên cơ sở đó, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh sẽ hoàn thiện đề án trình Bộ Khoa học và Công nghệ xem xét, phê duyệt. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 26/12) đầu trang(
Cũng giống như cá cóc Tam Đảo, cá cóc Việt Nam (tên khoa học: Tylototriton vietnamensis)là loài động vật đặc biệt quý hiếm, hiện chỉ có duy nhất ở Việt Nam, đang cần được bảo tồn trước nguy cơ tuyệt chủng do sinh cảnh sống đang dần bị suy thoái.
Nếu cá cóc Tam Đảo đã được biết đến từ rất lâu thì cá cóc Việt Nam mới chỉ được các nhà khoa học ghi nhận từ năm 2005. Chúng được tìm thấy ở Lào Cai (Văn Bàn), Cao Bằng (Nguyên Bình), Bắc Giang (Lục Nam), Nghệ An (Quế Phong) và chưa được ghi nhận ở bất cứ quốc gia nào khác ngoài Việt Nam.
Loài "ếch đội lốt thằn lằn này" có đầu dẹt, mõm ngắn, tay gần như vuông, da sần sùi, gờ sống lưng nổi rõ. Mỗi bên sườn có một hàng củ lồi, mỗi củ tương ứng với đầu mỗi xương sườn. Đầu các chi, mép dưới đuôi, viền lỗ hậu môn của cá cóc Việt Nam có mầu đỏ cam nổi bật so với phần thân màu xám. Các củ lồi bên sườn và mép trên đuôi ở nhiều cá thể cũng có mầu đỏ cam.
Cá cóc Việt Nam sống ở các vực nước (ao, vũng...) có nhiều bùn và lá mục, trong rừng kín tán trên núi ở độ cao 250 - 300m. Theo ghi nhận của các nhà khoa học, chúng ăn giun, côn trùng và một số loài động vật không xương sống khác. Diện tích phân bố hiện nay của cá cóc Việt Nam rất hẹp. Trong Sách Đỏ, chúng được xếp vào hạng nguy cấp, bị đe dọa tuyệt chủng. Những biện pháp bảo vệ loài lưỡng cư độc đáo này là rất cần thiết. (Kienthuc.net.vn 26/12) đầu trang(
Thực hiện công tác quy hoạch lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, những năm qua Sở NN&PTNT đã hướng dẫn các địa phương xây dựng đề án quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020, đến nay các huyện đã hoàn thành và được UBND tỉnh phê duyệt.
Đặc biệt công tác bảo vệ và phát triển rừng được xác định là nhiệm vụ trọng tâm được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và triển khai đồng bộ. Ngay từ đầu năm 2012, ngành đã tham mưu cho UBND tỉnh sớm giao kế hoạch cho các Ban quản lý dự án cơ sở với tổng kinh phí phân bổ 20 tỷ đồng. Trong năm trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, diện tích bị cháy là 11,2 ha, so với năm 2011 giảm 6 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 82,8 ha.
Để tạo thêm nguồn vốn cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, UBND tỉnh đã có Quyết định số 472/QĐ- UBND ngày 20/3/2012 về việc thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng và Quyết định số 1542/QĐ- UBND ngày 30/8/2012 về việc thành lập Hội đồng quản lý Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Trị.
Cùng với các hoạt động của ngành, các chương trình, dự án khác như: Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Quảng Trị; dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ; đề án giao rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ gia đình; công tác bảo tồn thiên nhiên, quy vùng nương rẫy, tuyên truyền phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng...đang được Sở NN&PTNT quan tâm triển khai thực hiện. (Báo Quảng Trị 26/12)đầu trang(
Trong năm 2012, TP. Đà Nẵng đã xảy ra 134 vụ cháy, làm chết 1 người, bị thương 3 người, thiệt hại về tài sản khoảng 4,4 tỷ đồng.
Trong năm 2012, các vụ cháy tại nhà dân và những cơ sở sản xuất… tăng so với năm 2011, thiệt hại về tài sản tăng 2,3 lần. Riêng cháy rừng tăng 4 vụ, thiệt hại gần 143ha.
Sở Cảnh sát PCCC cho biết, nguyên nhân các vụ cháy gia tăng là do các sơ sở sản xuất kinh doanh không trang bị PCCC, nhiều cơ sở đã hoàn thành và đi vào hoạt động nhưng không được nghiệm thu về PCCC, ý thức PCCC của nhiều người còn kém…
Trong năm 2013, Sở Cảnh sát PCCC thành phố sẽ đặt trọng tâm vào việc kiểm tra về công tác PCCC để có biện pháp ngăn ngừa. (Phụ Nữ TPHCM 27/12)đầu trang(
Cuộc thi thiết kế ấn phẩm quảng cáo công cộng với chủ đề “Vì thiên nhiên hoang dã” vừa công bố giải nhất thuộc về Lê Thị Ánh Hồng (TP.HCM) với tác phẩm có hình ảnh tiền rơi ra từ tê giác và thông điệp "Đừng thương mại hóa tự nhiên!”.
Giải nhất gồm 3 triệu đồng và giấy chứng nhận. Diễn ra trong hơn hai tuần, cuộc thi thu hút gần 80 tác phẩm của nhiều tác giả trong cả nước. Các tiêu chí đánh giá gồm: ý nghĩa thông điệp, giá trị thực tiễn, chất lượng nghệ thuật, yếu tố sáng tạo.
Cuộc thi là một hoạt động của chiến dịch “Thiên nhiên tôi chọn” (Vote for nature), dành cho các cá nhân, đơn vị thiết kế đồ họa chuyên và không chuyên trên cả nước, nhằm lan tỏa tinh thần bảo vệ động vật hoang dã.
Chiến dịch “Thiên nhiên tôi chọn” với chủ đề "Vì động vật hoang dã" do ban điều phối phong trào chống biến đổi khí hậu 350.org Việt Nam thực hiện với sự bảo trợ của Trung tâm Hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu (SCC) và sự hỗ trợ về kỹ thuật của Tổ chức Bảo vệ động vật hoang dã (WAR). (Tuổi Trẻ 27/12)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2012, sản xuất lâm nghiệp gặp một số khó khăn do điều kiện thời tiết không thuận lợi nên việc triển khai các dự án trồng rừng chậm tiến độ, đặc biệt đối với rừng trồng phòng hộ và đặc dụng.
Mặc dù vậy, kết quả các hoạt động lâm nghiệp khác vẫn tăng khá do một số yếu tố tích cực như: Sự ổn định của thị trường tiêu thụ sản phẩm gỗ và lâm sản khác trong những năm qua đã kích thích người dân tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất; các hoạt động lâm sinh khác như: chăm sóc rừng trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng tiếp tục được chú trọng để tăng độ che phủ rừng; diện tích rừng sản xuất được quy hoạch ổn định và đầu tư hợp lý...
Diện tích rừng trồng tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 169,5 triệu cây; sản lượng gỗ khai thác đạt 5251 nghìn m3. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng cao là: Đồng Nai, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Quảng Bình, Yên Bái, Kon Tum, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Lào Cai, Bắc Giang...
Về tình hình cháy rừng, cũng theo Tổng cục Thống kê, do thời tiết trong năm nắng nóng, khô hạn kéo dài nên xảy ra hiện tượng cháy rừng ở một số địa phương, chủ yếu là các tỉnh thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên.
Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3225 ha, giảm 18% so với năm 2011, bao gồm: diện tích rừng bị cháy 2091 ha, diện tích rừng bị chặt, phá 1134 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 298 ha; Đà Nẵng 181 ha; Lạng Sơn 132 ha; Phú Yên 106 ha; Lào Cai 100 ha; Thừa Thiên-Huế 92 ha; Quảng Nam 80 ha... (Đảng Cộng Sản VN 26/12)đầu trang(
Việc Trung Quốc ngưng nhập khẩu gỗ từ Việt Nam sẽ ảnh hưởng đến kim ngạch của ngành hàng này trong năm 2013. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong ngành cho rằng Trung Quốc ngưng nhập khẩu gỗ từ Việt Nam về lâu dài sẽ tốt hơn cho ngành gỗ trong nước.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TPHCM (Hawa) cho biết, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc tăng mạnh trong năm 2012 là do Trung Quốc nhập khẩu gỗ tự nhiên từ Lào được quá cảnh ở Việt Nam trước khi chuyển hàng sang Trung Quốc.
Hiện những nhà nhập khẩu Trung Quốc đã nhập khẩu trực tiếp từ Lào, không quá cảnh sang Việt Nam nên những doanh nghiệp trung gian của Việt Nam không nhận được những đơn hàng nhập khẩu gỗ tự nhiên có xuất xứ từ Lào.
Ngoài ra, các nhà nhập khẩu quốc tế đang ngày càng siết lại nguồn gốc xuất xứ của các sản phẩm gỗ nhập khẩu. Nên việc các sản phẩm gỗ tự nhiên của Lào không quá cảnh sang Việt Nam để xuất khẩu vào Trung Quốc sẽ là điều tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước khi đưa hàng vào thị trường khó tính như Mỹ, Nhật và EU.
Những sản phẩm gỗ được Trung Quốc nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu xuất xứ từ gỗ tự nhiên bao gồm dăm gỗ (dùng để sản xuất giấy), nguyên liệu gỗ dùng để làm gỗ nhân tạo và gỗ pallet (dùng làm kệ hàng) và các sản phẩm bàn ghế được làm gỗ tự nhiên khác…
“Trong cơ cấu xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc, kim ngạch xuất khẩu gỗ thành phẩm có giá trị gia tăng cao chiếm tỷ lệ không lớn. Nên việc họ ngưng nhập khẩu gỗ từ Việt Nam sẽ không ảnh hưởng nhiều đến ngành gỗ trong nước”, ông Hạnh nói.
Ước kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 1 tỉ đô la Mỹ trong năm 2012.
Theo thống kê mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố hôm 25-12, ước kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ trong tháng 12 đạt 477 triệu đô la Mỹ, đưa giá trị xuất khẩu của năm ước đạt gần 4,68 tỉ đô la Mỹ, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh như Mỹ tăng 27%, Trung Quốc tăng 11% so với năm ngoái. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 27/12) đầu trang(
Nhiều ngày qua, từng đoàn xe tải chở dăm gỗ nối đuôi nhau chờ chực trước cảng Dung Quất (Quảng Ngãi) để xuất hàng cho các tàu trọng tải lớn đưa sang Trung Quốc tiêu thụ vào dịp cuối năm.
Trong khi chờ đến lượt vào cảng xuất hàng dăm gỗ, các tài xế túm tụm đánh bài để "quên" đi thời gian dài hoặc treo võng phía đuôi xe ngủ ngon lành. Xe tải đậu san sát, nối đuôi gần cả cây số phía trước cảng Dung Quất.
Anh Khải, lái xe tải chở gỗ dăm thuê cho một doanh nghiệp từ huyện Núi Thành (Quảng Nam) vào cảng Dung Quất để xuất hàng cho biết, do thời tiết mưa thất thường nên phải đợi chờ tàu mở hầm hàng. "Có hôm đợi tàu đến cảng trễ, làm thủ tục mất thêm vài giờ, chúng tôi phải ngủ qua đêm trong giá lạnh từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau mới xuất được hàng cho tàu. Doanh nghiệp thuê chở hàng mỗi ngày trả công vài trăm nghìn, đợi chờ lâu thì tốn tiền ăn, uống với chi phí lớn", anh Khải than thở.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Đào Tấn Huê, Đội trưởng Dịch vụ cảng PTSC tại Khu kinh tế Dung Quất lý giải, thị trường dăm gỗ bị chững lại hai tháng liền trong tháng 7, 8 do rớt giá, vào những ngày cuối năm này, giá cả tăng lên "đôi chút" nên các doanh nghiệp tập trung sản xuất nhiều. Do vậy, hàng trăm xe tải chở gỗ dăm đổ dồn ùn ứ qua cảng để bù lại thời gian đình trệ giữa năm. Để đảm bảo an toàn cho quá trình xuất hàng, Cảng yêu cầu các xe tải phải xếp hàng trật tự lần lượt vào cảng để đưa dăm gỗ lên tàu.
Theo ông Huê, nhiều lái xe tải kêu ca đợi chờ đưa hàng qua cảng nhiều giờ là do nhiều nguyên nhân, trong đó thời tiết xấu tàu vào cảng trễ hơn kế hoạch ban đầu lại thêm làm thủ tục mất từ 2 đến 3 giờ, sau đó mới bắt đầu nhập hàng.
Trung bình mỗi chiếc tàu trọng tải 30.000 tấn neo đậu ở cảng nhập đủ hàng khoảng 5 ngày. Có trường hợp doanh nghiệp điều động xe tải chở dăm gỗ đến cảng nhưng tàu đã đủ lượng hàng rời cảng nên buộc lái xe phải đợi tàu hàng kế tiếp cập bến sau đó.
Năm 2012, hai cảng PTSC và Gemadept tại khu kinh tế Dung Quất đã xuất khoảng 2,5 triệu tấn dăm gỗ, chủ yếu sang thị trường Trung Quốc bằng đường tàu biển. Các chuyên gia kinh tế dự báo, năm 2013, thị trường xuất khẩu dăm gỗ ở Quảng Ngãi sẽ giảm khoảng 10% do nguồn nguyên liệu bấp bênh, thị trường Trung Quốc không ổn định.
Ông Nguyễn Duy Ngọc, Giám đốc Cảng Gemadept Dung Quất lo lắng, nhà máy dăm gỗ mọc lên ngày càng nhiều đã nảy sinh tình trạng cạnh tranh vùng nguyên liệu "thiếu lành mạnh". Một số nhà máy đã mua cả cây keo non chế biến dăm không đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng lớn đến thị trường xuất khẩu dăm gỗ chung của khu vực miền Trung. Chỉ tính riêng tại các bến cảng tại Khu kinh tế Dung Quất , nếu như năm ngoái đón khoảng 10 tàu hàng thì năm nay giảm xuống chỉ còn năm tàu cập bến nhập dăm gỗ.
Hiện tại Quảng Ngãi có khoảng 20 nhà máy chế biến dăm gỗ, trong đó có hai nhà máy đang xây dựng. Trung bình mỗi ngày 18 nhà máy cần 18.000 tấn cây nguyên liệu để hoạt động. Tuy nhiên, Quảng Ngãi mới chỉ đáp ứng được 6.000 tấn, số còn lại các nhà máy phải loay hoay tìm mua ở các tỉnh lân cận.
Ông Nguyễn Nị, nguyên Chủ tịch Hiệp Hội dăm gỗ xuất khẩu Quảng Ngãi, nếu mỗi tấn dăm gỗ xuất khẩu đầu năm nay giá 138 USD thế nhưng đến giữa năm rớt xuống chỉ còn 122 USD, cuối năm nay mới "nhích" lên cũng chỉ 128 USD/tấn (thấp hơn 10 USD mỗi tấn so với đầu năm).
Ông Nị cho rằng, nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu mọc lên tràn lan đã dẫn tới tranh giành nguyên liệu, thậm chí mua cả cây non nên chất lượng gỗ dăm xuất khẩu không đảm bảo, các đối tác bắt đầu quay lưng, ép giá. Hệ lụy từ việc phát triển nhà máy chế biến dăm gỗ ồ ạt, thiếu quy hoạch bài bản đã đẩy doanh nghiệp lâm vào bế tắc.
Để chấn chỉnh tình trạng này, chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Cao Khoa đã yêu cầu các địa phương, sở ngành cần cân nhắc và hạn chế cấp phép mới cho các dự án đầu tư xây dựng nhà máy chế biến dăm gỗ trong thời gian tới. Nguyên nhân là thời gian gần đây nhiều doanh nghiệp chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu. Trong đó nổi cộm là tình trạng phá rừng, tranh giành mua nguyên liệu gỗ giữa các nhà máy. (Vnexpress.net 26/12)đầu trang(
Mặc dù đứng trước nguy cơ di dời, nhưng Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam vẫn tiếp tục thực hiện sứ mệnh của mình là cưu mang những con gấu. Và mới đây, một cá thể gấu ngựa đã được Chi cục kiểm lâm huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum cứu hộ, và chuyển giao cho Trung tâm.
Đây là cá thể gấu thứ 112 được cứu hộ về Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam thuộc Tổ chức Động vật châu Á. Trừ một số con gấu bị bệnh quá nặng đã chết, hiện nay Trung tâm đang chăm sóc 104 cá thể gấu.
Cá thể gấu này được Kiểm lâm huyện Sa Thầy giải thoát từ một đối tượng vận chuyển trái phép cách đây hơn một năm, lúc đó chỉ nặng chưa đầy 30 kg. Cảnh sát môi trường và Chi cục Kiểm lâm Sa Thầy đã rất tích cực giúp đỡ trong quá trình chuyển giao cá thể gấu này về Trung tâm an toàn. Chú gấu được đặt tên là Bon Bon giờ đây đã nặng chừng 80 kg là Bon Bon.
Các bác sĩ và chuyên gia đã vào Kon Tum để đưa Bon Bon về Trung tâm vào trung tuần tháng 12 vừa rồi. Kiểm tra ban đầu cho thấy chú gấu này không gặp vấn đề gì lớn về sức khỏe. Trong suốt hành trình hơn 1.200 km, Bon Bon luôn được bác sĩ thú y chăm sóc cẩn thận, và được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ.
Tiến sĩ Tuấn Bendixsen, Trưởng đại diện Tổ chức Động vật châu Á cho biết, mặc dù Trung tâm đang đối mặt với nguy cơ bị di dời, Tổ chức Động vật châu Á vẫn tiếp tục cứu hộ gấu, bởi Trung tâm chính là niềm hy vọng lớn nhất đối với trường hợp của Bon Bon, khi bốn trung tâm cứu hộ động vật hoang dã khác đều đã quá tải. “Chúng tôi đã quyết định giúp đỡ, vì Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam còn một buồng gấu trống, có thể chăm sóc tốt cá thể gấu này”, ông nói.
“Trong khi chờ Thủ tướng cân nhắc quyết định cuối cùng, chúng tôi không thể chối bỏ trách nhiệm của mình đối với việc bảo tồn gấu - loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng. Mặc dù tổ chức đang ở trong tình trạng bấp bênh, nhưng rõ ràng điều kiện của gấu sẽ được bảo đảm tốt nhất tại Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam" (Nhân Dân 25/12)đầu trang(
Chiều 25-12, Sở Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo UBND tỉnh về kết quả sơ bộ thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng đất tại 5 công ty nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, hiện các đơn vị trên được giao khoảng 23.147 ha, trong đó có 8.754 ha diện tích rừng tự nhiên sản xuất, 14.393 ha đất trồng rừng sản xuất và đất phi nông nghiệp. Diện tích này đã giảm nhiều so với trước đây (110.943 ha). Tuy nhiên, theo ông Phí Quang Hiển, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, phần lớn đất được giao các đơn vị quản lý sử dụng chưa có hiệu quả. Các đơn vị chỉ mới đầu tư đưa vào sử dụng với diện tích 5.228,2 ha/14.393,38 ha đất trồng rừng sản xuất và đất phi nông nghiệp, đạt 36,32% tổng diện tích đã giao.
Các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ, Công ty Nông nghiệp 24/3 có diện tích đất đưa vào sử dụng tương đối (trên 73%), 3 đơn vị còn lại là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tô, Công ty lâm nghiệp Trà Tân và Lâm trường Trà Bồng đều có diện tích đưa vào sử dụng rất thấp (lần lượt là 20,27%, 19,95% và 19,4%).
Một vấn đề cũng đáng quan tâm là hiện nay trong tổng diện tích được giao cho các công ty nông lâm trường có khoảng 2.046,47 ha (chiếm 8,84%) đã bị người dân lấn chiếm, trong đó nhiều nhất là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tô với diện tích 900,6 ha, tiếp đến là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Ba Tơ: 665,71 ha, Công ty lâm nghiệp Trà Tân: 316 ha,…
Có nhiều nguyên dân dẫn đến tình trạng này, trong đó cơ bản là do diện tích đất được giao cho các đơn vị quản lý, sử dụng còn tương đối lớn, lại không tập trung, nằm phân tán rải rác, trong khi đó ranh giới phân định, cắm mốc giới thực địa còn lẫn lộn, chưa rõ ràng,… nên vượt quá tầm quản lý và năng lực đầu tư sử dụng của đơn vị được giao.
Trước thực trạng trên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Viết Chữ yêu cầu các công ty nông, lâm nghiệp chủ động rà soát lại quỹ đất được giao (xác định diện tích sử dụng có hiệu quả, chưa sử dụng, bị lấn chiếm,…) để xây dựng kế hoạch quản lý, sử dụng trong thời gian tới, trong đó có việc lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đảm bảo việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp được giao phải đúng quy định và có hiệu quả.
Đồng thời giao các Sở, ngành, địa phương liên quan tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc trong việc quản lý, sử dụng đất của công ty nông lâm nghiệp, trong đó có việc rà soát thu hồi diện tích đất quản lý sử dụng không hiệu quả để giao lại cho các địa phương theo quy định.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu các công ty nông, lâm trường cần đổi mới, tổ chức lại phương án sản xuất kinh doanh theo hướng tinh gọn, giảm bớt diện tích quản lý sử dụng đất, mở rộng phát triển các dịch vụ, tư vấn trong việc trồng rừng, phát triển rừng,…để nâng cao hiệu quả hoạt động. (Theo Quangngai.gov.vn 26/12)đầu trang(
Đó là chiến lược phát triển của Cty Lâm nghiệp Hà Tĩnh nhằm góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả kinh tế, đảm bảo đời sống cho CBCNV và người dân sống trong vùng dự án.
Là một trong những Cty đi đầu trong SX cây giống; chế biến, kinh doanh lâm sản và phát triển rừng trên địa bàn Hà Tĩnh, từ những ngày đầu thành lập (2002) đến nay, Cty Lâm nghiệp Hà Tĩnh đã đóng góp rất lớn trong việc trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo.
Ông Trần Xuân Hạn, Giám đốc Cty cho biết: Cty Lâm nghiệp Hà Tĩnh là đơn vị trực thuộc TCty Lâm nghiệp Việt Nam, sau khi thành lập UBND tỉnh Hà Tĩnh nhất trí quy hoạch 8.500 ha đất lâm nghiệp để giúp Cty phát triển nguyên liệu phục vụ cho nhà máy băm dăm (Liên doanh Việt - Nhật) tại Khu Công nghiệp Vũng Áng.
Mặc dù từ đó đến nay Cty mới chỉ được giao hơn 800/8.500 ha, nhưng với lượng tiêu thụ theo nhu cầu công suất của nhà máy rất lớn nên bình quân hàng năm Cty đầu tư 40.000 USD tiền cây giống, phân bón không hoàn lại giúp nông dân các huyện Hương Khê, Kỳ Anh, Cẩm Xuyên thực hiện dự án trồng rừng, đáp ứng nhu cầu SX của nhà máy.
Đến nay dự án đã trồng được hơn 5.800 ha. Trong đó, diện tích trồng theo hình thức hợp tác, liên doanh vốn với các đơn vị trên địa bàn 2.165 ha; liên kết với hộ dân hơn 3.200 ha và diện tích Cty trồng 428 ha. Diện tích đã đưa vào khai thác đạt 3.260 ha, số còn lại Cty sẽ tiếp tục chăm sóc; đồng thời tiến hành tìm kiếm thêm quỹ đất, liên doanh liên kết với các đơn vị trồng rừng trên địa bàn và người dân để mở rộng diện tích trồng rừng, tạo vùng nguyên liệu ổn định, hướng tới chế biến sâu theo chủ trương của TCty và lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh.
Nông dân Nguyễn Văn Bình, xã Kỳ Tây, huyện Kỳ Anh phấn khởi nói: “Kỳ Tây là xã vùng cao, phần đông dân số không có đất SXNN nên phải sống dựa vào rừng. Đối với gia đình tôi, dù có hơn chục ha đất rừng nhưng chẳng biết phát triển cây gì cho có hiệu quả. Đầu năm 2007, Cty Lâm nghiệp Hà Tĩnh đến đề nghị ký hợp đồng trồng cây nguyên liệu với Cty. Lúc ấy tôi quyết làm nên giờ bán vườn cây, có tiền xây căn nhà để trú mưa che nắng, lo cho con cái học hành. Với chúng tôi, Cty Lâm nghiệp Hà Tĩnh như một “bà đỡ” giúp bà con thoát nghèo, vươn lên ổn định cuộc sống”.
Theo ông Bình, khi liên kết trồng rừng với Cty, người dân đựợc hỗ trợ cây giống, một phần phân bón và Cty sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Đây là cách làm đang được tỉnh Hà Tĩnh khuyến khích nhằm tận dụng tối đa những sản phẩm người dân trên địa bàn SX ra.
Ngoài hộ ông Bình ở xã Kỳ Tây, tại các huyện Hương Khê, Cẩm Xuyên còn có hàng ngàn gia đình nhờ liên kết trồng rừng với công ty, nhiều hộ thu nhập bình quân hàng năm đạt hàng trăm triệu đồng.
Nói về kết quả hoạt động năm 2012, ông Hạn cho hay, doanh thu Cty ước đạt trên 59,5 tỷ đồng, đóng góp ngân sách trên 8,7 tỷ. “Để có được kết quả như trên, trong quá trình thực hiện dự án chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ rất nhiều của UBND tỉnh Hà Tĩnh, các sở ban ngành liên quan và sự chỉ đạo sát sao của TCty Lâm nghiệp Việt Nam.
Nhằm tri ân những tình cảm mà tỉnh Hà Tĩnh dành cho Cty, hàng năm chúng tôi tham gia các hoạt động tình nghĩa như ủng hộ người nghèo, thiên tai bão lũ… với số tiền trên 2,6 tỷ đồng góp phần giúp người dân khắc phục. Đặc biệt, sau khi tỉnh phát động phong trào doanh nghiệp chung sức xây dựng nông thôn mới, Cty cũng đã đóng góp 70 triệu đồng giúp một số xã thực hiện các tiêu chí đúng với yêu cầu đề ra”, ông Hạn nói.
Được biết, ngoài việc tự SX gỗ rừng trồng và thu mua từ các hộ dân trên địa bàn Hà Tĩnh, Cty còn mở rộng thị trường thu mua sang các tỉnh khác trong khu vực như Quảng Bình, Nghệ An nhằm đáp ứng đủ nguồn nguyên liệu SX ván băm dăm. Bình quân mỗi năm Cty tiêu thụ từ 50.000 - 72.000 tấn nguyên liệu. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/12)đầu trang(
26/12, tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An dự án trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An (Kfw4) tổ chức hội nghị kết thúc và kế hoạch bàn giao dự án. Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo văn phòng Chính phủ, các cục vụ thuộc văn phòng Chính phủ, ban quán lý dự án thuộc các tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa.
Dự án trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do Chính phủ Cộng hòa Liên Bang Đức tài trợ thông qua ngân hàng tái thiết Đức. Dự án được triển khai từ tháng 8/2002 đến tháng 12/2008 và được phê duyệt kéo dài đến hết năm 2012.
Mục tiêu của dự án là thiết lập 19.000 ha rừng sản xuất bền vững với mức kinh phí đầu tư 7.669.378 Euro về phía Việt Nam đóng góp hơn 2.692 Euro. Đến nay, qua hơn 10 năm triển khai, dự án đã thực hiện hoàn thành thiết lập cho trên 20.033 ha rừng bảo đảm theo các tiêu chí mà dự án đã đề ra.
Trong đó, trồng cây bản địa dưới tán rừng gồm: Lim xanh, Mỡ, Giổi, Sao đen và Mây được 365,3ha. Tỉa thưa rừng keo đạt 421,3ha, xây dựng được 200 mô hình trình diễn tại địa bàn 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh. Song song với phục hồi, thiết lập lại vốn rừng dự án còn thực hiện hoàn thành qui hoach sử dụng đất cho 54/54 xã trong dự án; đo đạc thiết lập rừng tiến hành cấp sổ đỏ QSD đất cho 14.218 hộ dân. Ngoài ra dự án còn tổ chức đào tạo, tập huấn kiến thức về trồng, bảo vệ và thiết lập rừng cho cán bộ dự án và các hộ dân vùng hưởng lợi.
Hiệu quả của dự án trồng rừng tại các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An do Chính phủ Cộng hòa Liên Bang Đức tài trợ, đã thực sự giúp cho người dân cũng như chính quyền địa phương trong vùng dự án có thêm kiến thức để lựa chọn, thiết lập được rừng sản xuất có hiệu quả và phát triển bền vững; xây dựng được các mô hình để nhân dân có thể học tập nhân ra diện rộng. Dự án đã chọn lựa được tập đoàn các loài cây bản địa phù hợp để trồng thành rừng mang lại hiệu quả cho người dân, giúp người dân gắn kết bền vững với rừng. (Đài PT – TH Nghệ An 27/12)đầu trang(
Tính từ đầu năm đến trung tuần tháng 12-2012, nhân dân huyện vùng cao Mường Lát đã trồng mới được 2.456,6 ha rừng.
Nhiều xã trước đây rất khó vận động bà con trồng rừng thì năm nay đã trở thành điển hình như: xã Trung Lý trồng mới được 550 ha, xã Mường Lý 373 ha, Quang Chiểu 436 ha, xã Tén Tằn 348 ha... Theo ông Lê Thanh Hải, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Phát triển kinh tế - xã hội Mường Lát: Đây là năm huyện Mường Lát có diện tích rừng trồng mới cao nhất từ trước đến nay. Năm 2009, huyện trồng được 600 ha, năm 2010 trồng được năm 500 ha và 2011 chỉ trồng thêm được hơn 300 ha rừng.
Để đạt được kết quả này, các ban, ngành, đoàn thể ở huyện Mường Lát đã vận động 2.040 hộ dân tại 65 trên tổng số 90 bản của huyện tham gia trồng rừng. Việc tuyên truyền được lồng ghép qua các hội nghị thôn bản, hội nghị cấp huyện, xã, sinh hoạt của các tổ chức chính trị đoàn thể và thông qua tập huấn. Trong đó, đã có 112 cuộc họp, 40 cuộc tiếp xúc trực tiếp của các ngành chức năng tới người dân.
Từ đầu năm 2012, huyện đã thành lập 10 ban quản lý trồng rừng 147, tổ chức vận động trực tiếp tại cơ sở để nâng cao nhận thức về việc trồng rừng cho đồng bào. Nhiều đơn vị, cơ quan đóng trên địa bàn huyện như: Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 5, Hạt Kiểm lâm Mường Lát, 5 đồn biên phòng trên địa bàn, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát... đều triển khai các biện pháp giúp dân trồng rừng. (Báo Thanh Hoá 27/12)đầu trang(
Cây tràm mất giá đã khiến nông dân Kiên Giang quay lưng với rừng tràm dẫn đến diện tích giảm mạnh. Nhằm “cứu” rừng tràm, Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức (GIZ) đã phối với chính quyền tỉnh Kiên Giang triển khai các biện pháp nhằm nâng cao năng suất là lợi nhuận từ cây tràm, giúp nông dân an tâm SX.
Rừng tràm là hệ sinh thái độc đáo từng bao phủ phần lớn diện tích ở ĐBSCL. Những khu rừng này đặc biệt thích nghi với các vùng đất khó khăn, bị nhiễm phèn nặng ở vùng đồng bằng. Tuy nhiên, do sự gia tăng dân số và nhu cầu nông nghiệp hóa đã làm cho diện tích rừng tràm ngày càng bị thu hẹp. Đặc biệt là những năm gần đây, cây tràm bị rớt giá đã khiến nhiều nông dân đã phá bỏ rừng tràm không thương tiếc.
Giai đoạn từ năm 2000 trở về trước được coi là thời “vàng son” của cây tràm. Lúc đó tràm được sử dụng nhiều trong xây dựng nhà (làm cừ móng nhà) nên nhu cầu rất lớn, mỗi ha tràm trưởng thành có giá từ 60- 80 triệu đồng. Đã có không ít hộ nông dân ở một số vùng đất chua mặn của tỉnh Kiên Giang thoát nghèo và vươn lên làm giàu nhờ cây tràm, thậm chí là tỷ phú trồng tràm.
Hiệu quả kinh tế cao từ cây tràm đã thôi thúc nông dân các huyện An Minh, Vĩnh Thuận, Hòn Đất… đua nhau trồng tràm. Nhưng rồi cừ tràm bị thất sủng, giá gỗ tràm sụt giảm thảm hại, tràm đến tuổi khai thác không bán được khiến nhiều người bị thua lỗ nặng.
Ngay cả những hộ dân ở vùng đệm vườn quốc gia U Minh Thượng, dù đã cam kết phải giữ lại 1 ha tràm trong tổng số 4 ha đất được giao cũng lén lút phá bỏ rừng tràm để chuyển qua trồng lúa. Vì vậy mà diện tích rừng tràm SX ở Kiên Giang ngày một teo tóp dần.
Theo các chuyên gia của GIZ, trước đây nông dân trồng tràm chỉ với suy nghĩ duy nhất là để bán làm cừ nhà. Vì vậy, khi cừ tràm bị khủng hoảng thừa họ không biết phải làm gì. Thực tế với công nghệ hiện nay, gỗ tràm có thể làm ra nhiều sản phẩm như gỗ xẻ, ván ghép, ván nhân tạo MDF…
Theo các chuyên gia của GIZ, rừng tràm có vai trò quan trọng trong việc duy trì tính đa dạng sinh học, lưu trữ và tái tạo nguồn nước ngọt, hấp thụ cácbon, làm giảm ảnh hưởng của lụt lội và xói mòn, cung cấp gỗ cho xây dựng và chất đốt, cung cấp vật liệu làm đồ thủ công, cung cấp dầu, mật ong, dược thảo và các sản phẩm khác từ rừng.
Vì vậy dứt khoát chúng ta phải nghĩ đến chế biến thì mới tạo ra giá trị gia tăng cho cây tràm. Ông Chu Văn Cường, cán bộ quản lý dự án GIZ tại Kiên Giang cho biết, nhu cầu thị trường đối với các loại gỗ có giá trị cao như gỗ xẻ và gỗ lạng là rất lớn. Gỗ tràm khá hấp dẫn và phù hợp để SX các sản phẩm có giá trị cao nên luôn có thị trường đầu ra. Tuy nhiên để làm được điều này thì phải có những cây tràm lớn.
Qua nghiên cứu cho thấy, tập quán trước đây của nông dân là trồng tràm với mật độ rất dày (trên 10.000 cây/ha), để tạo ra nhiều cừ tràm nên khích thước cây nhỏ. Vì vậy, cần phải tiến hành kỹ thuật lâm sinh để tăng năng suất và lợi nhuận của các khu rừng tràm SX gỗ tròn.
“Giải pháp GIZ đang thử nghiệm là tạo khoảng cách, tỉa thưa để tạo ra những cây tràm có kích thước lớn, đồng thời loại bỏ đi các cây bị dị tật. Ngoài ra, để rút ngắn chu kỳ canh tác, các chuyên gia cũng thử nghiệm chế độ bón phân đối với cây tràm trên đất phèn. Các thử nghiệm cho thấy, khi được tỉa thưa và bón phân cân đối cây tràm phát triển rất tốt, có thể tạo ra cây gỗ lớn để phục vụ SX đồ gỗ chất lượng cao. Vấn đề còn lại là phải quy hoạch SX, xây dựng nhà máy chế biến để tiêu thụ gỗ tràm, từ đó sẽ mở ra triển vọng mới cho rừng tràm phát triển”, ông Cường cho biết. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/12)đầu trang(
Sau nhiều lần đi thăm quan học hỏi từ các mô hình nuôi heo rừng trong và ngoài tỉnh, anh Võ Phèn ở thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa đã quyết định đưa giống heo rừng thuần chủng Thái Lan về nuôi tại gia đình.
Sự mạnh dạn, dám nghĩ dám làm của anh đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình. Với mô hình nuôi heo rừng thuần chủng giống Thái Lan, mỗi năm gia đình anh thu về hàng trăm triệu đồng.
Năm 2009, anh Võ Phèn thôn Bình Trị, xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa chuyển hướng từ nuôi heo thường sang nuôi heo rừng thuần chủng giống Thái Lan. Với diện tích đất vườn của gia đình rộng 2000m2, thuận tiện cho mô hình nuôi heo rừng, anh Phèn đầu tư mua 3 con heo rừng thuần chủng giống Thái Lan, trong đó có 2 con nái và một con đực. Với kiến thức học hỏi được, anh đã cho lai tạo thành công đàn heo nái sinh sản tốt. Một nái sinh sản 2 lứa/ năm, mỗi lứa đạt khoảng 8 con. Chỉ một năm sau, anh đã thu hồi được số vốn bỏ ra ban đầu và từ năm thứ hai nuôi heo rừng, gia đình anh bắt đầu có lãi.
Anh Võ Phèn cho biết: "Mức độ thu thì năm đầu tiên coi như mình bỏ, sang năm thứ hai bắt đầu có lãi nhưng mà đi về con heo rừng này cũng khó, thực ra nói khó là khó lúc ban đầu mình nuôi, nhưng khi ổn định rồi thì rất là dễ, con giống mình có, thời gian nuôi mình rút lại được, ví dụ nuôi 8 tháng bán thì mình tính toán làm sao 5, 6 tháng gì đó xuất được rồi"
Hiện tại gia đình anh đang có 5 con heo rừng nái, mỗi năm sinh sản khoảng 80 con. Thời gian nuôi từ 6 đến 8 tháng. Hiện nay giá heo rừng dao động từ 120 đến 160 nghìn đồng/kg heo hơi. Mỗi con có trọng lượng khoảng 15 đến 20kg. Mỗi năm từ việc bán heo rừng giống và heo thương phẩm, gia đình anh Phèn thu về được khoảng 120 triệu đồng, sau khi trừ chi phí, lãi khoảng 80 triệu đồng.
Anh Phèn cho biết thêm, heo rừng dễ nuôi, ăn tạp, ít bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp, khi được chăm sóc tốt heo lớn nhanh, là loài ăn tạp nên có thể sử dụng các loại thức ăn phế phẩm trong nông nghiệp như bèo, chuối, các loại rau…Heo rừng có thể nuôi theo hai cách: thả rông hoặc nhốt, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng gia đình mà bà con có thể áp dụng một trong hai cách này. Mô hình nuôi heo rừng thuần chủng giống Thái Lan của gia đình anh Phèn đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Theo ông Đặng Văn Nhuận – Chủ tịch Hội Nông dân xã Ninh Bình, thị xã Ninh Hòa: "Mô hình nuôi của anh Phèn là một trong những mô hình nuôi đầu tiên của nông dân xã Ninh Bình. Cho đến nay mô hình phải nói rất hiệu quả, đem lại năng suất đáp ứng nhu cầu cuộc sống rất cao cho gia đình anh Phèn. Sắp đến chính quyền địa phương xã Ninh Bình và hội Nông dân chúng tôi sẽ mở rộng ra nhiều trang trại nữa."
Mô hình nuôi heo rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao và cần được nhân rộng để tăng thu nhập cho bà con. Tuy nhiên, người nuôi cần tìm kiếm đầu ra ổn định, tránh tình trạng nhân giống nhiều, nuôi ồ ạt nhưng không có nguồn tiêu thụ. (Theo Đài PT – TH Khánh Hòa 24/12)đầu trang(
Năm 2012, huyện Yên Thủy đã xây dựng và triển khai thực hiện 113 mô hình khuyến nông – lâm nghiệp với tổng kinh phí 6.682 triệu đồng từ các nguồn vốn.
Trong đó, có 95 mô hình với tổng kinh phí 4.809 triệu đồng từ nguồn vốn Dự án Giảm nghèo giai đoạn II, 7 mô hình với tổng kinh phí 706 triệu đồng từ chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, 8 mô hình với tổng kinh phí 870 triệu đồng từ vốn chương trình 135 giai đoạn II, 2 mô hình với tổng kinh phí 116 triệu đồng từ nguồn vốn khoa học công nghệ và 1 mô hình với kinh phí 181 triệu đồng từ nguồn sự nghiệp khuyến nông năm 2012.
Cũng trong năm nay, nhằm đẩy mạnh công tác khuyến nông – khuyến lâm, huyện Yên Thủy đã tổ chức thực hiện được 92 lớp tập huấn kỹ thuật cho người nông dân, gồm 30 lớp tập huấn về chăn nuôi, 14 lớp về trồng trọt, 32 lớp về công tác phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng và 16 lớp về kỹ thuật bảo quản nông sản. (Báo Hòa Bình 26/12) đầu trang(
Thanh tra tỉnh vừa yêu cầu UBND huyện Tân Uyên chỉ đạo rà soát lại diện tích rừng, thu hồi diện tích rừng sản xuất đã được UBND tỉnh phê duyệt quá thời hạn nhưng các tổ chức không thực hiện để giao cho các hộ gia đình có nhu cầu trồng, không để đất hoang hóa.
Thanh tra dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và kinh phí quản lý dự án trồng rừng huyện Tân Uyên (2009 - 2011), Thanh tra tỉnh phát hiện, Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện cho 2 công ty tạm ứng tiền trồng rừng sản xuất nhưng trên thực tế các đơn vị này không thực hiện.
Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện cũng chưa làm hết trách nhiệm, kiểm tra, đối chiếu, thẩm định chưa chặt chẽ, dẫn đến trình phê duyệt dự toán vượt định mức quy định.
UBND huyện phê duyệt dự toán kinh phí thực hiện dự án trồng đường băng xanh cản lửa trước khi UBND tỉnh có quyết định giao kế hoạch. Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện ký hợp đồng với các hộ nhận khoán trước khi dự toán được UBND huyện phê duyệt.
Hơn nữa, các đơn vị còn chưa chấp hành nghiêm túc các quy định về chế độ hóa đơn chứng từ. Hồ sơ nghiệm thu, thanh toán còn chưa bảo đảm quy định; chưa thực hiện nghiệm thu lần đầu khi trồng rừng sản xuất được 8 đến 10 tháng tuổi và nghiệm thu toàn bộ khi rừng đã đạt trên 34 tháng tuổi.
Thanh tra tỉnh yêu cầu UBND huyện Tân Uyên nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị, quản lý và sử dụng nguồn vốn dự án trồng mới 5 triệu ha rừng trên địa bàn huyện; thu hồi nộp ngân sách Nhà nước hơn 138 triệu đồng.
Bên cạnh đó, UBND huyện chỉ đạo các đơn vị chấp hành nghiêm các quy định về chế độ hóa đơn chứng từ, công tác lập, quyết toán và công khai quyết toán theo quy định; tăng cường công tác quản lý tài chính, kiểm tra giám sát đối với các đơn vị trong quá trình tổ chức thực hiện.
Đối với Ban Quản lý Dự án rừng phòng hộ huyện, Thanh tra tỉnh yêu cầu kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân đã để xảy ra sai phạm; tổ chức nghiệm thu, hoàn chỉnh hồ sơ để hoàn tạm ứng cho ngân sách Nhà nước, thu hồi các khoản tạm ứng của các đơn vị không thực hiện. (Thanh Tra 27/12)đầu trang(
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tàn phá rừng quý hiếm cứ dai dẳng, kéo dài qua năm này, sang năm khác. Trong báo cáo của lực lượng chức năng, các đơn vị, địa phương, các chủ rừng thì cho là do địa hình núi đá phức tạp, khó khăn, lực lượng kiểm lâm mỏng, lợi nhuận từ gỗ quý hiếm cao, lâm tặc bất chấp mọi thủ đoạn để phá rừng, nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng chưa cao ...
Những nguyên nhân đó đều đúng nhưng chưa phải là nguyên nhân cơ bản, xem ra các ngành chức năng và chính quyền địa phương chưa dám nhìn thẳng vào sự thật về tránh nhiệm của chính mình.
Lâu nay, lực lượng Kiểm lâm vẫn xác định rõ những khu vực rừng đặc dụng còn nhiều loại gỗ quý hiếm là những điểm nóng về phá rừng. Do vậy, đều bố trí hàng trăm kiểm lâm viên để bảo vệ rừng. Ngoài ra, còn có trách nhiệm của hàng chính quyền xã, sự tuần tra của cảnh sát môi trường, sự chốt chặn của những trạm kiểm lâm, những tổ liên ngành dọc các tuyến đường trọng yếu ra vào các khu rừng đặc dụng.
Tuy nhiên hiệu quả gần như không có, rừng đặc dụng vẫn cứ bị chặt hạ và gỗ quý hiếm vẫn vận chuyển chót lọt ra bên ngoài với khối lượng lớn.
Nhìn thẳng vào vấn đề này để mổ xẻ, quy trách nhiệm là việc làm cần thiết. Mới đây, tại xã Nam Cường (Chợ Đồn) ông Nông Văn Chí - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã chủ trì một cuộc họp về công tác quản lý bảo vệ rừng với sự tham gia của các ngành chức năng, chính quyền địa phương và chỉ rõ:
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì sự phối hợp giữa các lực lượng, các chủ rừng trong việc bảo vệ rừng đặc dụng chưa tốt; kiểm lâm viên địa bàn, cán bộ lâm nghiệp xã chưa làm tốt trách nhiệm tham mưu cho chủ tịch UBND xã trong việc bảo vệ rừng quốc gia, rừng đặc dụng...Nhiều xã chưa quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng, một số chủ tịch UBND xã chưa nâng cao trách nhiệm trong quản lý bảo vệ rừng, một bộ phận kiểm lâm viên còn yếu về chuyên môn nghiệp.v.v.
Đặc biệt, công tác phối hợp giữa các ngành chức năng, chính quyền địa phương thời gian qua chưa tốt, kém hiệu quả... là nguyên nhân cơ bản dẫn đến rừng gỗ quý hiểm bị tàn phá.
Theo ông Nông Đình Khuê – Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Bể khẳng định: Sự phối hợp giữa Vườn và UBND các xã vùng đệm lâu nay vẫn có, nhưng chưa hiệu quả và chưa kịp thời. Từ năm 2009 giữa Vườn và các xã vùng đệm đã ký kết Quy chế phối hợp, hàng năm đều có sơ kết, tổng kết... Tuy nhiên, qua bốn năm thực hiện quy chế thì công tác phối hợp mới chỉ dừng lại ở việc cùng nhau xử lý các vụ phá rừng đã xảy ra. Việc phối hợp để ngăn chặn ngay từ đầu các hành vi phá rừng là chưa làm được.
Trong bốn năm qua, chưa có chủ tịch UBND xã nào, cán bộ lâm nghiệp xã nào thông tin phối hợp với lực lượng kiểm lâm để ngăn chặn kịp thời những hành vi khai thác trái phép gỗ nghiến trong khu vực Vườn, chỉ khi những cây nghiến bị chặt hạ xuống rồi mới có thông tin và phối hợp giải quyết vụ việc, như vậy mục tiêu phối hợp bảo rừng là chưa đạt.
Về phía Vườn thấy rằng, kiểm lâm địa bàn còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, công tác dân vận tạo niềm tin quần chúng nhân dân, giữ mối liên hệ với UBND các xã là chưa tốt, dẫn đến nguồn tin từ phía nhân dân còn ít, rừng vẫn bị tàn phá.
Thời gian qua, Vườn Quốc gia Ba Bể đã nghiêm túc kiểm điểm tập thể, cá nhân để xảy ra tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ nghiến trái pháp luật. Đã kỷ luật các đơn vị, cá nhân có những vi phạm trong thi hành nhiệm vụ.
Tuy nhiên, về phía các địa phương, chủ tịch UBND, cán bộ lâm nghiệp các xã vùng đệm của các khu rừng đặc dụng chưa làm hết trách nhiệm. Thể hiện, chủ tịch UBND các xã, cán bộ lâm nghiệp các xã đều nắm rõ đối tượng phá rừng và khẳng định chủ yếu là người dân ở địa phương mình, nhưng việc phối hợp với lực lượng kiểm lâm để bảo vệ rừng lại chưa hiệu quả.
Phải chăng lãnh đạo các xã còn có sự e ngại, nể nang, ngại va chạm, cán bộ lâm nghiệp chưa làm tròn chức năng tham mưu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Những hạn chế trong công tác phối hợp, nhất là giữa lực lượng kiểm lâm và UBND các xã cần phải sớm khắc phục, cần xây dựng một cơ chế thông tin và tránh nhiệm rõ ràng của mỗi bên trong công tác quản lý bảo vệ rừng. (Báo Bắc Kạn 26/12) đầu trang(
Ông Hoàng Hải Vân, Phó Giám đốc Ban Quản lý Vườn Quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình) cho biết, đã có kết luận bước đầu về việc 2 Hạt phó Kiểm lâm của VQG có nghi vấn cấu kết với lâm tặc trong vụ 3 cây huê bị khai thác trái phép tại khu vực Hung Trí thuộc vùng lõi của Vườn.
Sau nhiều tháng xác minh, điều tra, Tổ Công tác của VQG do ông Vân làm Tổ trưởng đã có kết luận bước đầu xác định ông Nguyễn Hữu Trí, Hạt phó Hạt Kiểm lâm VQG đã chỉ đạo 7 kiểm lâm viên vận chuyển 1 gùi gỗ huê ra khỏi Hung Trí có trọng lượng khoảng 70kg.
Trường hợp ông Hoàng Văn Quế, Hạt phó Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thì chưa có bằng chứng đủ sức thuyết phục để kết luận ông Quế đã bảo kê cho 100 người gùi 100 phác gỗ huê ra khỏi rừng.
Do kết quả điều tra ban đầu chưa xác định được gùi gỗ huê mà ông Trí đã chỉ đạo 7 kiểm lâm viên vận chuyển ra khỏi Hung Trí hiện giờ để ở đâu nên Tổ Công tác của ông Vân đã kiến nghị với cấp trên chuyển vụ việc cho cơ quan công an điều tra làm rõ. (Thanh Tra 26/12) đầu trang(
Hơn một tháng nay, hàng ngàn người dân ở Phú Yên và Khánh Hòa đổ xô vào rừng đào, chặt cây “thần dược” xáo tam phân. Ở đây, chỉ cần hỏi về cây thần dược là có ngay hàng chục lời giới thiệu về chỗ bán cũng như lời hứa hẹn về chất lượng của cây... Giá của nó từ 200.000 đồng/kg nay đã nhảy vọt lên 1,3 triệu đồng/kg.
Cơn sốt này lan rộng sau khi Viện Dược liệu Trung ương công bố một số dược tính của cây xáo tam phân trị được năm loại ung thư.
Tại Phú yên, khi có thông tin “thần dược” xáo tam phân có mặt ở núi Gò Đá thuộc xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa thì khu vực này bị náo loạn. Mỗi ngày cả trăm người với rựa, xẻng, xà beng… ùn ùn vào khu rừng trồng hì hục đào bới, lục tung cả khu rừng để chặt thân, đào rễ cây “thần dược”. Khắp các khu rừng người ta đào xới, chặt phá hầu như không bỏ sót một bụi cây nào để tìm cây xáo tam phân.
Trên khu đồi rộng vài hecta, khắp nơi đất đá ngổn ngang, hầm hố nham nhở. Khi tìm được một cây xáo tam phân, họ chặt và lấy cả thân cây, không bỏ sót một nhánh nhỏ nào. Sau đó họ đào đất, moi lấy từng cọng rễ của cây. Theo nhiều người, phần lớn cây “thần dược” ở khu vực núi Gò Đá không lớn, rễ nhỏ. Cây lớn nhất chỉ 3-5 cm, còn lại chủ yếu là thân bụi.
26/12, mặc dù chính quyền xã Bình Kiến đã huy động nhiều lực lượng để ngăn chặn song chục người vẫn lén lút đi vào khu núi Gò Đá. Ông Trần Văn L. (ngụ thôn Thượng Phú) cùng hai con trai chuẩn bị vào rừng tìm xáo tam phân nói: “Mấy ngày trước, một số người ở địa phương khác đến đây chặt thân, đào rễ cây cam lồ (theo cách gọi của người dân địa phương) rồi chở đi. Ngay hôm sau, nhiều người lạ đến hỏi mua loại cây này. Thế là người dân bỏ hết công việc hằng ngày kéo nhau đi đào tìm”. Trong ngày 26-12, hàng trăm người cũng bắt đầu kéo đến các khu rừng phía tây nam huyện Tuy An (Phú Yên) để tìm cây “thần dược” trên.
Tại Khánh Hòa, bà Trà Thị Bông Sen, Chủ tịch UBND xã Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa), cho biết hiện có rất nhiều người lén lút lên núi tìm, đào xáo tam phân. Hiện từng ngày, từng giờ tại nhiều khu vực ở Hòn Hèo, Đá Bàn, Dục Mỹ… cây “thần dược” đang đứng trước nguy cơ tận diệt.
Cùng với việc tìm đào “thần dược” cũng xuất hiện các đầu nậu về các địa phương có cây này gom hàng.
Tại xã đầu nậu lớn và được khách hàng tứ phương tìm đến nhiều nhất là tại xã Ninh Vân (thị xã Ninh Hòa), một đầu nậu nói: “Hồi trước, khách hàng tìm đến nhà các đầu nậu mua hàng. Giờ chính quyền làm gắt nên chúng tôi giao dịch bằng điện thoại. Khách muốn mua thì gọi điện thoại, đặt cọc và chúng tôi sẽ mang tới bất kỳ đâu trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa”. Một đầu nậu còn khuyên chúng tôi cẩn thận vì có nhiều người trộn lẫn các loại rễ cây khác vào để bán.
Hầu hết các đầu nậu đều khẳng định bao nhiêu hàng cũng có, chỉ có điều chất lượng thật giả lẫn lộn, không biết đâu mà lường.
Nếu như trước đây việc đào bới, buôn bán “thần dược” công khai thì nay lợi dụng ban đêm khi lực lượng chức năng lơi lỏng, các đối tượng đội đèn lên núi đào thuốc và bán cho đầu nậu ngay trên núi. Đến đêm, các đầu nậu sử dụng xe máy để vận chuyển ra khỏi Ninh Vân.
Tại Phú Yên, nhiều người từ các nơi khác đến mua gom loại cây này khiến giá bán liên tục tăng cao. Chiều 26-12, ông Cao Văn Hưng (ngụ thôn Thọ Vức, xã Hòa Kiến, TP Tuy Hòa) nói: “Nhiều người ở huyện Tuy An đến mua gom rồi đưa vào Nha Trang bán lại cho các đầu mối lớn. Thậm chí có người đến tận nhà hỏi có đi tìm cây cam lồ thì họ ứng tiền trước để về bán cho họ. Sau khi thông tin Phú Yên cũng có cây xáo tam phân, nhiều thương lái ở Khánh Hòa đến đây mua gom hết loại cây này.
Mặc dù lực lượng chức năng đã vào cuộc nhưng cơn sốt đào, tìm, mua bán “thần dược” chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.
Bà Đinh Thị Vân, Phó Chủ tịch UBND thị xã Ninh Hòa, cho biết từ ngày 17-12, lực lượng biên phòng, kiểm lâm, chính quyền xã Ninh Vân đã đẩy đuổi, chốt chặn để ngăn việc khai thác, vận chuyển xáo tam phân. Tuy nhiên, rất khó kiểm soát, ngăn chặn triệt để người dân lên núi đào, buôn bán cây xáo tam phân. Để có thể giữ lại nguồn dược liệu quý, cần phải có phương án bảo tồn...
Còn ông Lê Thanh Hóa, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, nhận định giải pháp đẩy đuổi, kiểm soát chỉ mang tính tạm thời chứ không thể giải quyết dứt điểm. Ông Hóa cho rằng vấn đề cấp bách nhất hiện nay là phải khoanh vùng, bảo vệ nghiêm ngặt những khu vực còn hiện diện xáo tam phân để người dân không thể tiếp tục tàn phá nguồn gien quý này nữa.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, ông Trần Minh Thu, cho biết việc kiểm soát ngăn chặn là khó. Bởi cây xáo tam phân không nằm trong danh mục thực vật rừng quý hiếm. Khi bắt được cũng không thể xử lý vì chưa có quy định xử phạt. Khi người mua tố cáo việc mua phải hàng giả cũng không thể xử phạt vì chưa có quy định. “Trước mắt, chúng tôi chỉ tuyên truyền vận động người dân không lên núi đào bới. Về lâu dài tỉnh Khánh Hòa cũng đã đồng ý chủ trương thành lập Khu bảo tồn Hòn hèo để bảo vệ những giống gien quý” - ông Thu cho biết thêm.
Còn ông Nguyễn Như Thức, Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Phú Yên, thì nói: “Việc khai thác tận diệt cây đã xâm hại nghiêm trọng đến môi trường. Chúng tôi sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra để có hướng giải quyết”. Hạt Kiểm lâm TP Tuy Hòa cũng cho biết đang báo cáo chủ tịch UBND TP Tuy Hòa để có hướng xử lý. Trước mắt, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các lực lượng chức năng địa phương ngăn chặn tình trạng đào bới, khai thác tận diệt cây xáo tam phân tại khu vực núi Gò Đá. (Pháp Luật TPHCM 27/12)đầu trang(
Chiều 26/12, tại sân vận động của xã Phước Nam (Thuận Nam, Ninh Thuận) người dân cân bán xáo tam phân cho một đầu nậu tên Ch. với giá 450.000 đồng/kg loại rễ nhỏ (trước đây nó chỉ có giá 80.000 đồng/kg).
Cứ vài ngày Ch. vào thôn Văn Lâm, xã Phước Nam mua gom rồi ra quốc lộ 1A đón xe chở về Ninh Hòa bán lại cho đầu nậu.
Theo một lương y ở Phan Rang, nếu gọi là cây xáo tam phân thì người địa phương không biết nhưng gọi là cây quýt dây hoặc là cây thần xạ thì biết nhiều hơn.
Ông Dương Đình Sơn, Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Ninh Thuận, cho biết cây xáo tam phân là loại cây thích nghi với khu vực rừng khô hạn. Hiện chi cục chưa nghe thông tin gì về việc người dân đi tìm đào cây xáo tam phân. (Pháp Luật TPHCM 27/12)đầu trang(
Chỉ còn một tay, một chân, một mắt, song suốt 10 năm qua cựu binh Vũ Tiến Tới cùng dân làng đã lật đá, mang cây trồng phủ xanh cả dãy núi Trường Lệ (Sầm Sơn, Thanh Hóa).
Rừng phi lao bạt ngàn kéo dài hơn 5 km như tấm lưới chắn gió ôm lấy làng Vinh Sơn (phường Trường Sơn, Sầm Sơn). Những thân cây cao lớn, người ôm trọn vòng tay, ngày đêm rì rào đón gió biển. Đó là thành quả hơn 10 năm trồng rừng của thương binh Vũ Tiến Tới và dân làng.
Bị thương tật 91%, thương binh Vũ Tiến Tới chỉ còn một mắt, một chân và một tay. Phân nửa con người ông gửi lại mảnh đất Quảng Trị trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Phục viên, ông trở về làng chài Vinh Sơn cùng vợ bám biển, nuôi con.
Qua hai lần tai biến, cựu binh già giờ đi lại phải dùng đến nạng hoặc nhờ vợ đỡ. Khoác bộ quần áo nâu giản dị, ông Tới kể chuyện trồng rừng rồi chuyện về thời oanh liệt trên chiến trường. Chất giọng khàn khàn của ông khiến người đối diện phải chăm chú mới theo dõi hết câu chuyện.
Trước năm 1985, núi Trường Lệ chỉ có đất trống, cây cối rất ít. Người dân Vinh Sơn chỉ chăm lo đi biển kiếm cá, cua, chẳng ai nghĩ đến trồng rừng. Nhà nằm ngay dưới chân núi, mỗi mùa biển động, ông bà Tới lại lo chằng chéo nhà cửa, che chắn vườn tược để tránh gió bão. Mỗi năm Sầm Sơn đón cả chục cơn bão, chỉ cần gió giật mạnh là hàng chục nóc nhà bay hết, cát biển phủ kín vườn cây, giếng nước.
Ông lập kế hoạch, trước là phủ xanh đất trống đồi trọc, sau là lấy củi đốt. Lúc đó giống cây còn hiếm, ông lắp chân gỗ, lọc cọc đạp xe khắp vùng Sầm Sơn tìm mua giống. Có ngày ông đi hơn 50 km, sang tận Quảng Xương chở cây về. Bao nhiêu tiền trợ cấp thương binh, ông để dành mua cây giống.
Núi Trường Lệ thoai thoải, toàn đá tảng to, từ chân núi lên đến đỉnh cả cây số. Người thường đi lại còn khó, vậy mà ông thương binh ngày ngày vác xà beng lên núi, bẩy từng hòn đá để đào hốc trồng cây. Những tảng đá to hai người vần còn khó, ông hì hục mấy tiếng. Bàn tay phồng rộp, ngón tay dần chai sần vì cầm xà beng nhiều.
Những khi trái gió trở trời, bốn mảnh đạn pháo còn sót lại hành hạ khiến ông lão hơn 60 tuổi đau nhức khắp người. Thế nhưng hôm nào không lên núi là ông buồn chân buồn tay, hết đi ra rồi đi vào. Khi sức khỏe ổn trở lại, người thương binh già tiếp tục vác xà beng lên núi trồng cây.
Con cái còn nhỏ, không có ai giúp, chỉ có người vợ tảo tần tảo hàng ngày bưng thúng cây đi sau chồng. Ông đào hốc, bà đặt cây và vun đất. Cứ thế, mỗi ngày hai ông bà trồng được hơn trăm cây. Có những đoạn toàn đá, đất cứng quá, cây trồng xuống chết phân nửa, ông lại dậm vào, quyết không để trống một mét đất.
Thấy ông ngày ngày đem cây lên núi trồng, có người nói ông gàn dở, chẳng khác nào dã tràng xe cát biển Đông. Nhưng ông Tới gạt đi "cả dãy Trường Sơn, bộ đội còn phá núi, mở đường thì trồng cây trên núi Trường Lệ có gì mà không làm được". Phi lao bén rễ lớn lên, ông cắt, tỉa cành để cây nhanh tốt, vừa kiếm củi nấu.
Năm 1992, thị xã Sầm Sơn phát động phong trào trồng rừng. Ông tính nếu phủ xanh cả quả núi, sức ông làm không xuể, cần huy động sức của cả làng. Ông chống nạng đến từng nhà thuyết phục người dân đi trồng rừng. Được cung cấp cây giống từ dự án, thêm lời thuyết phục và hiệu quả từ việc ông làm, người dân Vinh Sơn bắt đầu tin rồi làm theo. Không chỉ trồng cây trên núi, họ còn mang phi lao trồng ven biển, ngăn nước mặn xâm nhập vào đất liền.
Sau hơn chục năm, cánh rừng rộng hàng chục ha dần mọc lên. Màu xanh của phi lao, liễu phủ kín núi Trường Lệ thay cho sắc xám của núi đá trước đây. Hơn 5 km rừng trải dài từ Hòn Cao đến Đuôi Làn, uốn lượn dọc bờ biển Sầm Sơn, tạo thành tấm lá chắn gió, chắn cát cho làng. Từ đó, người dân Vinh Sơn yên tâm làm ăn, không còn phải lo chằng buộc nóc nhà mỗi mùa mưa bão.
Được UBND tỉnh và UBND thị xã Sầm Sơn tặng bằng khen về thành tích trồng rừng, ông chỉ khiêm tốn cho biết: "Hồi đó tôi chỉ nghĩ trồng rừng chắn bão, lấy củi đun thôi chứ không bao giờ nghĩ làm để lấy thành tích".
Nói về chồng, bà Đua cũng là thương binh với thương tật 21%, bảo: "Ông ấy đã quyết thì có trời cản được". Biết được ý định trồng rừng của ông, bà tỏ ý phản đối vì sợ sức chồng không kham nổi. Sau thấy ông quyết tâm quá, bà chỉ còn biết xuôi theo. Giữa buổi, bà lại về lo cơm nước và chăm sóc đàn con cho ông yên tâm làm cái việc "ăn cơm nhà, vác tù và hàng tổng".
Mấy năm nay, sức khỏe ông Tới giảm sút, không còn nhanh nhẹn như xưa. Nghỉ trồng rừng, ông lại lui về chăm sóc vườn cây cảnh, vui vầy cùng cháu con. Ông bảo, cây lớn lên, quả rụng xuống lại mọc lên thành rừng lớp lớp xanh tươi. Giờ, người dân Vinh Sơn chỉ cần bảo vệ rừng cho tốt.
Ông Cao Văn Hùng, cán bộ chính sách phường Trường Sơn cho biết, khi cây trên núi Trường Lệ bắt đầu xanh tốt, ai cũng bất ngờ vì người cựu binh trồng được nhiều rừng. Cả vùng ven biển được phủ xanh nhờ công rất lớn của thương binh Vũ Tiến Tới. Người dân không còn nơm nớp sợ gió to, sóng lớn mỗi mùa biển động. (Vnexpress.net 26/12)đầu trang(
Ông Nguyễn Chí Phương, Chủ tịch UBND xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa - Phú Yên ngày 26-12 cho biết vừa chỉ đạo lực lượng chức năng ngăn chặn người dân đổ xô vào núi Gò Đá ở thôn Thượng Phú phá rừng để tìm cây cam lồ vì họ cho rằng đây là cây xáo tam phân.
Trong khi đó, ông Nguyễn Phụng Ngoạn, Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy An, cũng cho biết tại 2 xã An Nghiệp và An Lĩnh hiện có hàng chục người vào rừng đào bới để tìm “thần dược” cam lồ.
Đến nay, chưa có cơ quan chức năng nào xác định cây cam lồ là cây xáo tam phân. Hiện giá cây cam lồ khô được thu mua tại tỉnh Phú Yên tăng từ 170.000 đồng lên 400.000 đồng/kg. (Người Lao Động 27/12; Thanh Niên 27/12)đầu trang(
Có được tiền đền bù từ dự án Thủy điện Sông Bung 4, hàng chục hộ dân ở Nam Giang (Quảng Nam) bỗng chốc thành tỷ phú. Mặc cho chính quyền đã khuyên giải có tiền không nên lãng phí, các hộ dân vẫn thi nhau mua sắm, dựng nhà tiền tỷ giữa đại ngàn.
Xã Tà Pơơ nằm trong quy hoạch xây dựng thủy điện sông Bung 4, có 4 thôn của xã bị ảnh hưởng từ dự án.
Trong đó, thôn 2 bị ảnh hưởng nặng nhất với hơn 50 hộ. Cả thôn và đất đai sản xuất đều nằm trong vùng lòng hồ của thủy điện sông Bung 4 nên bà con phải di dời đến nơi ở mới cách nơi ở cũ khoảng 7km.
Thôn 2 xã Tà Pơơ nằm giữa bát ngát núi rừng. Để vào thôn, từ trung tâm huyện phải mất hơn 2 tiếng đồng hồ theo đường núi quanh co mới vào được thôn.
Hơn 1 năm qua, thôn này được biết đến là thôn tỷ phú, bởi nhiều người dân được nhận tiền đền bù, số tiền đền bù từ dự án Thủy điện sông Bung 4.
Theo tìm hiểu, sau khi người dân đồng ý di dời đến nơi ở mới, mỗi hộ dân sẽ được cấp 600m2 đất ở và đất vườn, 1,5ha đất rẫy và một số diện tích đất trồng lúa nước. Hộ dưới 5 nhân khẩu sẽ được hỗ trợ 141 triệu đồng tiền làm nhà, hộ có từ 5 - 7 nhân khẩu được hỗ trợ 161 triệu đồng và hộ có 8 nhân khẩu trở lên sẽ được chia tách làm 2 hộ, được hưởng hỗ trợ theo khung quy định.
Mỗi hộ còn được hỗ trợ 10m3 gỗ tận thu để làm nhà. Tổng số tiền mà người dân thôn 2 được chủ đầu tư thủy điện sông Bung 4 đền bù, hỗ trợ đến thời điểm này đã trên 100 tỷ đồng.
Nhà người dân thôn 2 đều là nhà gỗ, được thợ từ dưới xuôi lên làm công phu và tỉ mỉ, đẹp mê hồn. Nhóm thợ mộc của anh Nguyễn Văn Hải từ xuôi lên đây đã được gần một năm, làm gần chục nhà cho người dân.
Tiền công được chủ nhà trả hậu hĩnh miễn sao nhà càng đẹp càng to, càng hoành tráng nên thu nhập của nhóm thợ cũng khấm khá theo. “Gỗ làm nhà khỏi chê, toàn loại tốt. Tôi chưa thấy nơi đâu người dân lại ăn chơi như ở đây” anh Hải cho biết.
Ngôi nhà của Zơrâm Cóc (21 tuổi) đang được dựng, là ngôi nhà to nhất đẹp nhất của thôn 2, ước tính làm nhà xong hết trên 2 tỷ đồng. Riêng khối lượng gỗ được Cóc cho tập kết về làm nhà đã trên 50 m3. Riêng tiền công thuê làm nhà đã tốn hết 550 triệu.
Anh Lê Ngọc Thuần làm trưởng nhóm thợ mộc làm nhà cho Zơrâm Cóc cho biết: Ước tính bình quân mỗi ngôi nhà tại thôn này phải ngốn 30-35 m3 gỗ. Tổng khối lượng gỗ của cả làng dùng để làm nhà không dưới 1.500 m3.
Ở thôn 2, hộ nhận tiền đền bù nhiều nhất phải kể đến là Ploong Dương. Ploong Dương được đền bù tới 12 tỉ đồng.
Nhà của Ploong Dương làm to hết trên dưới 2 tỷ đồng và nằm án ngữ ngay đầu thôn. Những ngôi nhà gỗ khác của BờNướch AChóc (trưởng thôn), Alăng Biên, Ploong A Hiềm, ZơRâm Tình... cũng có giá toàn tiền tỷ.
Ông Tơ Gônl Kía - Chủ tịch UBND xã Tà Pơơ cho biết: “Chính quyền đã nhiều lần xuống tận nơi vận động không đua đòi làm nhà quá to gây lãng phí nhưng người dân không nghe. Họ cho rằng tiền của họ nên họ muốn làm gì thì làm”.
Cũng theo ông Kía nhiều hộ dân có tiền còn chê nguồn gỗ được hỗ trợ nên đã tự ý vào rừng khai thác gỗ về làm nhà.
Khối lượng gỗ làm nhà rất lớn, theo quy định chỉ có 10 m3/nhà, nhưng có nhà làm đến gần 50 m3, gây nên sự lãng phí và dẫn đến tình trạng xâm hại rừng. Xã đã mời các hộ lên để tuyên truyền không phá rừng nhưng tuyên truyền xong người dân lại tự ý đốn hạ cây rừng.
Bà Phạm Thị Như, phó Chủ tịch UBND huyện Nam Giang cho biết: Khi nhận được một số tiền quá lớn, người dân thực sự choáng ngợp bởi từ trước tới nay chưa bao giờ họ có được nhiều tiền đến vậy. Tâm lý muốn tiêu xài, được hưởng thụ cũng từ đó bắt đầu nảy sinh.
Chúng tôi còn tuyên truyền để dân gửi tiền tiết kiệm, dùng tiền để sản xuất làm trang trại nhưng nhiều hộ không nghe. Huyện đã chỉ đạo xã và thôn kiên quyết không cho người dân vào chặt gỗ nữa.
Cùng với việc dựng nhà tiền tỷ giữa đại ngàn, người dân nơi đây vung tiền mua sắm những tiện nghi trong nhà như tủ lạnh, tivi, dàn karaoke đời mới, bàn ghế salon… không cần biết là tốn bao nhiêu tiền, và có sử dụng được hay không.
Thanh niên trong thôn đều sở hữu những chiếc xe máy đời mới đắt tiền thậm chí cả xe môtô phân khối lớn chính hãng, với giá ngoài thị trường thì không dưới 100 triệu.
Theo tìm hiểu, các con buôn biết bà con có tiền đền bù nên đã dụ dỗ, lợi dụng người dân thật thà mua sắm lãng phí để kiếm lời. (Tiền Phong 27/12)đầu trang(
Để góp phần bảo vệ diện tích rừng còn lại và quản lý tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo Sở NN&PTNT phối hợp với các ngành liên quan và chính quyền huyện Nam Giang khẩn trương kiểm tra, lập kế hoạch truy quét, xử lý triệt để tình trạng khai thác lâm, khoáng sản trái phép tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh.
Trong thời gian qua, tình trạng khai thác lâm khoáng sản trái phép thường xuyên diễn ra tại một số địa phương miền núi thuộc tỉnh Quảng Nam và các vùng lân cận, nhất là ở khu vực thuộc lâm phận Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và gây thiệt hại lớn tài nguyên thiên nhiên… (Quân Đội Nhân Dân 27/12)đầu trang(
Đại bàng - loài chim được mệnh danh là chúa tể bầu trời tưởng chừng rất khó bắt. Vậy mà dưới bàn tay của những người thợ săn chim ở Đình Lập, Lạng Sơn thì chuyện ấy dễ như lấy đồ trong túi.
Để khuất phục những chú chim đại bàng, người thợ săn chim phải mất hằng tháng trời vượt qua núi non hiểm trở để theo dõi dấu vết của chim, sau khi định vị được chỗ ở của đại bàng, thợ săn bắt đầu "dàn trận".
Người đi săn đại bàng ở khu vực Đình Lập, Lạng Sơn và huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh không nhiều. Khó khăn lắm tôi mới tìm được một hoặc hai người thợ thỉnh thoảng xuyên đêm, độc hành hàng chục cây số vào những cánh rừng giáp ranh giữa Lạng Sơn và Quảng Ninh để săn đại bàng - loài chim uy vũ được mệnh danh là chúa tể bầu trời.
Mặc dù tuổi đã ngoài 60, đã bỏ nghề săn đại bàng, nhưng khi được chúng tôi hỏi về cái công việc nặng nhọc, nguy hiểm đó thì ông Hoàng Văn Giáp ở xã Bắc Lãng, huyện Đình Lập, Lạng Sơn lại sục sôi lên như cái thời cách đây hơn 20 năm khi ông còn trẻ, một mình cầm dao băng rừng, lội suối, ăn sương nằm gió theo dấu vết đại bàng. Ông bảo: "Tao dẫn chúng mày vào rừng một hôm đi theo cánh chim đại bàng, lâu lắm rồi tao không vào rừng nên cũng muốn thay đổi chút không khí cho thoải mái".
Vậy là 3 giờ sáng ngày hôm sau, khi những làng bản giáp ranh giữa huyện Đình Lập, Lạng Sơn và huyện Tiên Yên, Quảng Ninh còn chìm sâu trong giấc ngủ thì chúng tôi cùng với ông Hoàng Văn Giáp, thợ săn chim lão luyện cơm đùm, cơm nắm cùng với nước uống chuẩn bị vượt cung đường hơn 60 cây số đến rừng Kiên Mộc huyện Đình Lập đi tìm dấu vết của chúa tể bầu trời.
Cái lạnh căm căm của nơi rừng thiêng nước độc và bóng tối tràn ngập chốn thâm sơn cùng cốc không cản nổi sự tò mò của tôi, của cái mong ước được chinh phục cánh chim đại bàng. Chúng tôi theo chân ông Giáp cưỡi trên chiếc xe máy hỏng ca - pô với thứ tiếng nổ phát ra xé toạc màn đêm, trườn qua con đường trúc trắc dài chừng 40km toàn những ổ gà, ổ voi để đến rừng Kiên Mộc.
Theo lời những thợ săn ở Lạng Sơn thì Kiên Mộc là khu rừng còn nhiều chim đại bàng nhất hiện nay. Tuy nhiên, ở đây chỉ còn đại bàng đất, sải cánh chim trưởng thành dài hơn 1m, trọng lượng khoảng từ 3 - 4kg/con trưởng thành, lông khoang như lông chim diều hâu, mắt vàng, mỏ quặp, móng vuốt chân sắc, nhọn. Loại đại bàng này còn rất nhiều và có thể tìm thấy chúng ở bất cứ cánh rừng hoang vu nào, hoặc là những dãy rừng núi đá cao, hiểm trở.
Trước đây, trong rừng Kiên Mộc còn có cả đại bàng lửa - loại đại bàng được dân chơi thành thị ưa chuộng nhất hiện nay. Đại bàng lửa có trọng lượng rất lớn, khoảng 7 - 8kg/con, thậm chí có con nặng đến 10kg. Sải cánh của đại bàng lửa có thể tới trên 2m, mắt đỏ, lông khoang, ức có chỏm lông màu đen, trên đầu có mào... Loại đại bàng này rất ít người bắt được. Thậm chí chỉ được nhìn thấy chúng đã là hạnh phúc cho người thợ săn.
Qua hơn hai tiếng đồng hồ vượt những cung đường trúc trắc, lúc này trời đã tảng sáng, tôi nhìn đồng hồ đã là 6 giờ sáng. Ông Giáp bẻ lái sang một con đường mòn, vì lâu ngày không có người đi lại nên con đường rậm rạp toàn cây gai mọc kín đường. Đi được một quãng chừng 2km, ông Giáp hô chúng tôi dừng xe rồi tấp xe vào một lùm cây ngay cạnh đường mòn.
Anh bạn đồng nghiệp của tôi bảo: "Để xe thế này lỡ có thằng nào thuổng mất thì biết kêu ai?", ông Giáp tỉnh bơ đáp: "Mày có vứt xe cả tháng thì cũng không ai thèm lấy, ở đây không có trộm cắp gì đâu". Nói rồi, ông Giáp lôi đùm cơm nắm, chai nước và cái điếu cày ra cùng chúng tôi ăn sáng, nghỉ ngơi đợi khi ánh mặt trời le lói rồi mới cuốc bộ xuyên rừng.
Một chiếc bẫy sắt bé bằng bàn tay cũng đủ để tóm gọn một chú đại bàng dù đó là đại bàng đất hay đại bàng lửa mà không làm cho chúng bị thương
Sau bữa sáng, ông Giáp dẫn chúng tôi cuốc bộ gần 3 tiếng đồng hồ để đến một ngọn núi cao nhất rồi ngồi uống nước, hút thuốc. Trong khi chúng tôi thì sốt ruột vì đi gần nửa ngày trời mà chẳng thấy bóng dáng con đại bàng nào bay trên đầu và mặc dù trời đang lạnh nhưng đoàn người thì mồ hôi nhễ nhại, ông Giáp cởi phăng chiếc áo ấm vắt lên một gốc cây rồi đi tiếp (lúc quay về ông mới lấy áo).
Thấy chúng tôi sốt ruột và thắc mắc chẳng thấy đại bàng đâu, ông Giáp đang uống dở ngụm nước bỗng dừng lại rồi cười sằng sặc: "Săn đại bàng phải kiên trì, hôm nay chưa thấy chúng thì mai đi tiếp, đi cho đến khi nào thấy được đại bàng mới thôi. Cái trò này cũng giống như là lính trinh sát trong quân đội, phải kiên trì tìm kiếm mục tiêu, bám sát rồi mới tiêu diệt".
Ông Giáp cho biết: "Người săn đại bàng phải theo dõi chúng cả năm trời và có thể bắt chúng trong nháy mắt. Đại bàng thường làm tổ ở những ngọn cây cổ thụ cao nhất rừng, vì thế người thợ săn chỉ cần quanh năm ngày tháng cứ bám riết mấy cây cổ thụ đó kiểu gì cũng tìm ra.
Khi quan sát, thợ săn phải để ý xem đại bàng làm tổ chỗ nào, khi thấy chúng công rác về làm tổ thì cũng có nghĩa là đợt sinh sản sắp đến và thợ săn phải theo dõi được chính xác con đại bàng đó làm tổ ở gốc cây nào. Vậy là yên tâm, thợ săn chỉ việc ngày ngày đến gần gốc cây đó... ngồi nhìn, đợi khi nào đại bàng sinh nở xong, đến khi con non tập bay rồi thì thợ săn mới đặt bẫy ở gần tổ của chúng để tóm gọn con trống và mái, chỉ để lại lũ con non cho rừng thiêng núi thẳm, đợi khi nào chúng lớn lại bắt tiếp. Tuy nhiên, người nào tham lam thì sau khi bắt được con mẹ họ sẽ trèo lên cây bắt luôn cả tổ con non về để nuôi".
Lôi trong túi những chiếc bẫy sắt có những chiếc răng cưa nhọn hoắt đan xen vào nhau, chiếc bẫy chỉ bé bằng lòng bàn tay nhưng ông Giáp phải dùng một chân đạp cần, còn hai tay kéo mạnh gọng bẫy mới xong. Trước khi đặt bẫy ông Giáp lấy giẻ cuốn quanh gọng bẫy để che những chiếc răng cưa lại, đến khi đại bàng dính bẫy chúng không bị gãy chân... Ông Giáp đặt ba chiếc bẫy quanh một mô đất nhỏ rồi lấy lá cây rừng đặt trùm lên những chiếc bẫy sau đó lại tiếp tục phủ lên bên trên lớp lá một lớp đất mỏng dùng để ngụy trang. Bên cạnh những chiếc bẫy ông buộc vào một con ếch để làm mồi nhử. Khi đại bàng lao xuống chúng sẽ sa vào bẫy được đặt sẵn dưới đất.
Vừa đặt bẫy xong, ông Giáp cùng chúng tôi lánh qua chỗ khác nghỉ ngơi và theo dõi, một lát sau trên không trung nhìn thấy hai con chim chao liệng tìm kiếm mồi. Ông Giáp bảo: "Đấy! Chim đã phát hiện ra mồi rồi đấy". Nói rồi ông đi ra chỗ vừa đặt những chiếc bẫy rồi gỡ chúng lên khỏi mặt đất tránh không cho đại bàng sập bẫy vì theo ông Giáp thì hai con đại bàng trên trời còn bé, để nó bình yên nơi rừng sâu, núi thẳm.(Theo Kienthuc.net 26/12)đầu trang(
Ông Lâm tìm một khoảnh núi rất cao, vách núi dựng đứng, vô cùng hiểm trở, chưa có dấu chân thú và dấu chân người trên dãy Hoàng Liên Sơn rồi gieo 30 hạt ngũ trảo long.
Suốt mấy năm trời sống trong hang đá trên độ cao 2.900m gần đỉnh Fansipan, ông Trần Ngọc Lâm đã đi ngang dọc khắp đại ngàn Hoàng Liên Sơn để tìm các loại cây thuốc quý, mà ông học được từ các thiền sư Tây Tạng.
Ông Lâm vốn có trí nhớ cực tốt, chỉ nhìn một lần là nhớ mãi mãi, nên ông nhanh chóng tìm được nhiều loại thảo được cực quý, mà hầu hết những thảo dược ấy chưa từng được biết đến ở Việt Nam.
Bài thuốc trị ung thư phổi mà các thiền sư Tây Tạng chỉ cho ông Lâm gồm 7 loại chính, nhưng ông đã đi khắp đại ngàn Hoàng Liên, xuyên dọc biên giới đến tận Mường Tè của đất Lai Châu, sang cả quả núi cao 3.900m cạnh Mường Tè thuộc đất Trung Quốc, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một cây ngũ trảo long nào.
Ngũ trảo long được các thiền sư Tây Tạng đánh giá là thảo dược quý nhất trong bài thuốc trị ung thư phổi. Thiếu cây này, thì tác dụng bài thuốc kém đi nhiều.
Biết rằng ở Việt Nam không có cây thuốc trân quý này, nên ông Trần Ngọc Lâm đã quyết định rời đỉnh Fansipan tìm sang Tây Tạng.
Sau mấy năm sống trong rừng, ông Lâm đã biến thành… người rừng thật sự. Cơ thể gầy còm như thiền sư, tóc phủ ngang vai, râu trùm kín mặt, buông thõng xuống tận ngực.
Hồi ông đi qua thị trấn Sapa tìm về Lào Cai, người dân thị trấn du lịch này đổ ra đường xem kín mít. Người ta đồn ầm lên rằng, xuất hiện người rừng Hoàng Liên Sơn tại thị trấn Sapa.
Ông Trần Ngọc Lâm tìm sang bên kia biên giới gặp Vàng Lù Pao để đi nhờ đoàn xe tải lên Tây Tạng. Cuộc hành trình kéo dài nửa tháng thì đến thị trấn Lahsa.
Khi gặp lại thiền sư Uy-ri-ang-kha-đa, người đã cứu ông thoát khỏi căn bệnh ung thư quái ác, thì ông đã ngoài 90 tuổi, sắp đắc đạo. Thiền sư đang chuẩn bị hậu sự, dặn dò đệ tử để vào hang bắt đầu quá trình nhập tịch để được về cõi Phật.
Những thiền sư vùng đất huyền bí Tây Tạng tu hành cả đời, làm không biết bao việc nghĩa với mong ước được đắc đạo. Khi đã đủ duyên, thấy vòng đời đã hết, họ sẽ vào một cái hang nhỏ đục sẵn vào núi đá ngồi thiền. Đệ tử sẽ xây bức tường để bịt kín miệng hang.
Các thiền sư sẽ không ăn uống gì trong quá trình ngồi thiền trong hang tối. 3 tháng sau, đệ tử sẽ mở cửa hang ra xem. Nếu thiền sư chưa chết thì tiếp tục bịt cửa hang lại.
Cứ 3 tháng họ lại mở cửa một lần để kiểm tra xem thiền sư còn thở không. Khi thiền sư đã ngừng thở, cơ thể khô đét, cứng như gỗ, rắn như đá, thì họ bịt kín hang, không bao giờ mở ra nữa. Nhiều thiền sư tu luyện đến mức toàn thân bất hoại. Cách tu hành này gọi là Saprakhi.
Lúc vị thiền sư này đang chuẩn bị hậu sự, ông Lâm đã nói với thiền sư rằng, ở Việt Nam cũng có rất nhiều cây thuốc quý như ở dãy Hymalaya, nhưng cây thuốc quan trọng nhất là ngũ trảo long thì không có.
Nghe ông Lâm nói vậy, vị thiền sư này đã giật mình. Ông không ngờ rằng ở đất nước phương Nam nhỏ bé và xa xôi, trong truyền thuyết của người Tây Tạng thì vùng đất ấy “có quả chuối và rất nóng”, lại có những thần dược ở xứ băng giá Tây Tạng.
Ông Lâm đã khẩn cầu xin giống cây thuốc ngũ trảo long về trồng ở Việt Nam, nhưng vị thiền sư từ chối.
Lúc đó, ông Lâm mới hiểu rằng, hóa ra, trước đây vị thiền sư này cho ông Lâm biết nhiều vị thuốc như vậy là vì ông ta nghĩ rằng ở đất nước có khí hậu nóng không bao giờ có những vị thuốc quý như ở dãy Hymalaya.
Nhưng không ngờ, đỉnh Hoàng Liên Sơn cũng rất cao, khí hậu lạnh quanh năm nên cũng có nhiều loài cây thuốc quý như ở dãy Hymalaya này. Vị thiền sư không tiếc thuốc quý, nhưng ông sợ tiết lộ, cả thế giới sẽ kéo đến nhổ sạch.
Sau một tuần ông Lâm ở trong hang, chạy đôn chạy đáo giúp các thiền sư trị bệnh cho người nghèo, rồi thiền sư Uy-ri-ang-kha-đa cũng đến gặp ông Lâm bảo: "Mai tôi vào hang nhập định rồi, chắc không gặp anh nữa. Tôi quý anh là vì đất nước anh đã đánh thắng quân Mông Cổ.
Tôi sẽ cho anh 30 hạt ngũ trảo long, anh đem về gieo trồng, chắc cũng hợp khí hậu và sống được. Anh nên giữ kín những loại cây thuốc này. Nếu anh nói ra thì đất nước anh và khắp vùng Tây Tạng này cũng sẽ bị nhổ hết. Hàng triệu người bệnh đang trông chờ vào cây thuốc này đấy".
Ông Lâm quỳ xuống tạ ơn thầy và hứa sẽ không tiết lộ với ai.
Thiền sư gầy khô đét đẹt thanh thản bước vào hang. Cửa hang đóng lại. Đệ tử ngâm nga đọc kinh ngoài cửa hang, còn ông Lâm ngồi khóc. Ông vái lạy, khóc lóc ngoài cửa hang suốt mấy ngày rồi gạt nước mắt xuống núi về nước.
Ông Lâm tìm một khoảnh núi rất cao, vách đá dựng đứng, vô cùng hiểm trở, chưa có dấu chân thú và dấu chân người trên dãy Hoàng Liên Sơn rồi gieo 30 hạt ngũ trảo long.
Ông dựng lều ngay đó để trông nom. Ông trông chừng từng con côn trùng, không để chúng xơi mất hạt nào.
Suốt 10 năm trời chăm bón, nhân giống rồi vườn ngũ trảo long quý hiếm đã hình thành. Cây ngũ trảo long đã mọc kín mảnh vườn rộng 10m2 trong một khe đá, đủ nguồn thuốc cho ông dùng và cứu được không ít người đang mắc bệnh ung thư quái ác như ông.
Tôi đã có cơ duyên được ông Lâm dẫn đi xem vườn thần dược cực quý của ông trên độ cao gần 3.000m. Nơi đó vách đá trơn trượt, quanh năm gió rít, mây vờn.
Cây ngũ trảo long quả thực vô cùng kỳ quái. Chúng có lá nhỏ như lá lúa, nhưng chỉ dài cỡ 15cm, mọc xòe như cái loa. Trên đầu lá mọc ra bông hoa kỳ quái. Bông hoa đó trông như bàn tay rồng gồm 5 móng vuốt. Vì có hình thù như thế, nên ông Lâm đặt tên cho nó là ngũ trảo long.
Lúc đó, ông Lâm mới kể với tôi rằng, trong chai rượu thuốc mà thi thoảng ông đưa cho tôi xoa bóp, có “thần dược” ngũ trảo long. Trong các chuyến đi rừng, mỗi khi đau chân, chỉ xoa ít rượu vào chỗ đau và uống vài giọt, chỉ vài giây sau, cơn đau tan biến đâu mất.
Mấy năm nay, đại ngàn Hoàng Liên Sơn liên tục bốc hỏa. Sợ lửa thiêu rụi vườn thuốc quý, ông Lâm đã nhân giống ra rất nhiều nơi. Ông trèo lên tận đỉnh U Bò ở Trạm Tấu (Yên Bái), Phu Ta Leng (Ngũ Chỉ Sơn), Pu Si Lung (Lai Châu), toàn những ngọn núi cao trên dưới 3.000m để trồng ngũ trảo long.
Những vườn thuốc quý này được trồng ở những nơi vô cùng bí mật, phải đi nhiều ngày trời mới đến. Ông sử dụng bản đồ địa hình để đánh dấu địa điểm.
Nhiều loại thuốc quý cũng được ông gieo trồng khắp núi cao, rừng thẳm. Đặc biệt là loài thiết trúc nhân sâm, cũng được ông gieo trồng ở rất nhiều nơi.
Tôi nói đùa với ông Lâm rằng: “Chú trồng thiết trúc nhân sâm để kiếp sau thu hoạch ạ?”. Ông Lâm bảo rằng: “Chú gieo rắc giống nhân sâm khắp núi cao rừng thẳm không phải để thu hoạch đâu. Đời con, đời cháu của chú chắc gì chúng nó đã biết leo núi mà tìm. Chú làm thế là để mong loài sâm quý và các cây thuốc quý không bị tuyệt chủng ở Việt Nam”.
Giờ đây, dù đã ở tuổi ngoài 60, tóc điểm bạc, song sức khỏe của “người rừng” Trần Ngọc Lâm khá ổn định. Ông đi chiếu chụp nhiều lần, thấy khối u trong phổi thu nhỏ lại, không phát triển nữa. Ông đi cả tháng trong rừng không biết mệt. Lúc nào trong ba lô của ông cũng có bình thuốc để uống.
Ông lọ mọ trong rừng để tự cứu mình, để cứu mạng những người đang mắc những căn bệnh quái ác. Ông rất buồn là nguồn thuốc quá ít, ông lại phải tự đi lấy, không thể thuê được người (sợ lộ cây thuốc, sẽ bị nhổ sạch) nên không giúp được nhiều người. Trong khi đó, lượng người ung thư ở Việt Nam mỗi ngày một nhiều.
Mấy năm nay, ông kiên trì tìm lại đồng đội của mình. Hơn trăm bạn bè đồng ngũ thì có tới chục người đang bị căn bệnh ung thư hành hạ. Phần lớn số họ bị ảnh hưởng chất độc da cam nên ung thư hóa. Họ đang sống nhờ những cây thuốc hiếm hoi của ông Lâm. (Theo VTC 27/12)đầu trang(
BÌNH LUẬN
Lâm tặc là một loại… “giặc” chuyên phá rừng rồi. Ai lấy mà chẳng được, ai cũng có quyền bắt chúng. Nhưng, cái lạ ở đây, ở “Quảng Bình, quê ta ơi” thì kiểm lâm không bắt, không truy đuổi, ngăn chặn mà lại đi lấy trộm gỗ của lâm tặc. Dĩ nhiên là gỗ quý, gỗ sưa, người ta mua bán lén lút từng cân, từng mẩu.
Ai chặt trộm được 3 cây gỗ sưa ở Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, người ta đồn thổi sẽ bán được cả ngàn tỷ đồng. Vậy mà, lực lượng kiểm lâm nơi đây, công nhân chăm sóc trông coi bảo vệ ở đây chỉ phát hiện và thu hồi được một phần rất nhỏ, không đáng kể, khi lâm tặc dùng xe chở nhiều chuyến, gùi từng đoàn qua trạm…
Quả bảo vệ rừng là khó, vì nơi rừng sâu núi thẳm, thợ rừng lại hung hãn… Những năm gần đây, kiểm lâm đã được trang bị thêm súng đạn và phương tiện hiện đại…Tuy nhiên, việc bảo vệ gìn giữ tài sản của quốc gia cơ bản là ở con người. Phương tiện chỉ là hỗ trợ. Nhiều địa phương, lực lượng kiểm lâm làm tốt công tác của mình, rừng vẫn lên xanh, là tài sản quốc gia.
Tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, kiểm lâm có thể đã có sự hợp tác với lâm tặc chuyện ăn chia nhiều lần, nhưng lâm tặc vốn không vừa, khi đã có trong tay nhiều việc mờ tối của kiểm lâm thì sẵn sàng qua mặt kiểm lâm để “ăn mảnh” một mình… Chính vì vậy, Hạt phó Hạt Kiểm lâm nơi đây mới cùng anh em bày trò lấy trộm gỗ sưa lâm tặc cất giấu… Sự việc bị tố cáo và bại lộ. Dư luận càng thấy rõ bản chất của vấn đề: Vì sao không bảo vệ được rừng, khi tiếp tay cho lâm tặc chính là lực lượng canh giữ và bảo vệ rừng?
Như vậy, nếu có 3 cây sưa chứ 10 cây thì chúng cũng chặt được, chở được và chia được. Nếu không chia được chúng sẽ tập trung chạy và chia cho cấp cao hơn! Rừng đã bị tàn phá hàng ngày, hàng giờ bởi con người, vì pháp luật chưa nghiêm! Những người thừa hành, những người quản lý rừng liệu đã có ai dám chống lại lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện khi họ tiếp tay cho lâm tặc phá rừng? Và thế là, cấp trên làm được, cấp dưới cũng sẽ “ăn theo”. Tệ nạn sẽ được nhân lên, tiếp diễn…
Đi theo kiểm lâm còn có nhiều lực lượng góp sức cho phá rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn thuỷ điện, thuỷ lợi, rừng bảo tồn, rừng quốc gia… đó là cơ quan thuế, quản lý thị trường, thanh tra, kiểm tra, điều tra... Vì sao vậy? Vì khi phát hiện ra vụ việc các cơ quan này đã không tận tâm, tận lực, tập trung xử lý nghiêm minh, diệt tận cùng hang ổ cái ác, cái xấu, cái bất lương trong cán bộ kiểm lâm và nhiều kẻ có liên quan… dẫn đến sự việc: Cái xấu, cái ác có đất phát triển, được dung dưỡng, được bao che, được phát triển. Có kẻ nhờ phá rừng có tiền của chạy chọt đã làm nên ông nọ, bà kia, giàu sụ, quyền chức ngang trời…
Vậy là, “hoạ phúc có nguồn, phải đâu một buổi”. Lãnh đạo tỉnh Quảng Bình nên ngồi lại nghiêm túc nhìn nhận các sai phạm kéo dài nhiều năm qua trong công tác bảo vệ rừng. Lãnh đạo bộ máy kiểm lâm của nước nhà nên có biện pháp rèn người thật tốt, trước khi rèn súng và rèn cưa… Gỗ quý ra khỏi rừng đã biến nhiều khu đô thị thành nơi bảo tồn gỗ quý. Lỗi ấy, chắc rằng không phải chỉ có ở lâm tặc? (Thanh Tra 27/12)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Một nhóm các nhà vi sinh học quốc tế do Klaus Nüsslein thuộc Đại học Massachusetts Amherst làm trưởng nhóm đã chỉ ra nạn phá rừng tại Amazon đã gây ảnh hưởng tới sự đa dạng vi sinh vật của hệ sinh thái.
Nüsslein, một chuyên gia về cộng đồng vi sinh học khu vực rừng nhiệt đới cho biết: Chúng tôi nhận thấy sau khi có sự chuyển đổi rừng nhiệt đới sang các cánh đồng cỏ nông nghiệp, các cộng đồng vi khuẩn có sự khác biệt đáng kể so với các cộng đồng vi khuẩn ở đất rừng nhiệt đới. Ở khu vực đất rừng bị chuyển đổi sang đất nông nghiệp, số lượng các loài vi khuẩn tăng lên và mối liên quan giữa các loài vi khuẩn ở đất đồng cỏ kém hơn so với vi khuẩn ở đất rừng nhiệt đới.
Nhà nghiên cứu Nüsslein và đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu tại một khu vực đất nông nghiệp rộng lớn trong vòng 4 năm nơi người nông dân chuyển đổi đất rừng nhiệt đới sang đất nông nghiệp. Nghiên cứu cho thấy vi khuẩn trong đất trở nên đa dạng hơn sau khi đất rừng được chuyển thành đất đồng cỏ. Đến năm thứ 4 của nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện ra sự thay đổi trong sự đa dạng của vi khuẩn diễn ra trên quy mô địa lý lớn hơn.
Các nhà khoa học lo ngại rằng sự mất mát của biến dị di truyền ở vi khuẩn tại khu rừng được chuyển đổi có thể làm giảm khả năng phục hồi của hệ sinh thái. Các nhà nghiên cứu hy vọng nghiên cứu của họ sẽ cung cấp dữ liệu có giá trị cho những người ra quyết định về tương lai của rừng nhiệt đới Amazon. Tác giả Jorge Rodrigues của Đại học Texas tại Arlington nói thêm, "Chúng ta đã biết việc chuyển đổi đất rừng nhiệt đới ở Amazon sang đất nông nghiệp dẫn đến việc mất đa dạng sinh học ở thực vật và động vật. Bây giờ chúng ta còn nhận thức được rằng cộng đồng vi khuẩn vốn rất quan trọng cho hệ sinh thái cũng bị thiệt hại đáng kể. "
Như Nüsslein và các đồng nghiệp đã chỉ ra, Amazon đại diện cho một nửa diện tích rừng nhiệt đới của thế giới và là môi trường sinh sống của một phần ba các loài trên trái đất, nhưng Amazon là một trong những nơi có tỷ lệ phá rừng cao nhất.
Rodrigues cho biết ông và đồng nghiệp hiện đang tổng hợp những phát hiện về khả năng phục hồi của đa dạng vi sinh sau khi đồng cỏ bị bỏ hoang và trở về là rừng thứ sinh. (Theo Agroviet.gov.vn 26/12)đầu trang(
Hàng trăm nghìn loài thực vật sắp biến mất khỏi hành tinh xanh, trong đó bao gồm cả cà phê - loài cây có giá trị cao đối với con người.
Các nhà soạn thảo bản báo cáo đều hết sức lo ngại trước con số họ thống kê được về số lượng các loài cây trên hành tinh chúng ta. Theo đó, có đến khoảng 380.000 loài cây (chiếm 22% tổng số cây trên trái đất) đang có nguy cơ biến mất hoàn toàn.
Ông Hopper, giám đốc Vườn thực vật Hoàng gia Key tại London (Anh) đồng thời là thành viên soạn thảo báo cáo cho hay: "Chưa bao giờ loài người nghĩ đến việc cây cối sẽ tuyệt chủng nhưng sau khi con số chính xác được công bố, chúng tôi cũng hết sức ngỡ ngàng. Bản báo cáo này đã liệt kê các loài cây cần được bảo vệ khẩn cấp nhất và những khu vực có nguy cơ tuyệt chủng cây cối cao nhất".
Hàng trăm nhà khoa học từ khắp nơi trên thế giới đã tham gia vào soạn thảo bản báo cáo nhằm cho ra kết quả tổng quan và chính xác. Họ áp dụng các phương pháp tiên tiến từ chụp ảnh bằng vệ tinh cho đến mô hình hóa trên máy tính phục vụ cho việc điều tra và theo dõi hàng vạn loài thực vật trên Trái đất.
Một số loài thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng còn lớn hơn loài chim, chúng dễ bị tổn thương hơn cả các loài động vật khác cũng đứng trên bờ vực của sự biến mất. Ông Neil Brummitt đến từ Viện bảo tàng Lịch sử tự nhiên London bổ sung: "Nhờ sự đa dạng của thực vật mà toàn bộ sự sống trên trái đất được ổn định và phong phú nhưng chỉ cần một số loài thực vật biến mất, cân bằng sinh thái cũng sẽ bị phá vỡ, dẫn đến hậu quả khôn lường. Vậy mà thực tế, không phải chỉ một số loài thực vật mà hàng ngàn loài đang bị đe dọa lại là một vấn đề hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cả sự tồn tại của loài người chúng ta".
Đã có thời, con người lo lắng các cây bao báp (loài cây khổng lồ, có sức sống mãnh liệt trên các vùng đất cằn cỗi) sẽ chiếm toàn bộ không gian sống của con người bởi chính "thân hình đồ sộ" của chúng. Tuy nhiên, điều này không bao giờ xảy ra, loại cây to lớn này đang phải đối diện với nguy cơ tuyệt chủng, điều mà trước đây chưa từng ai nghĩ tới.
Tạp chí Science (khoa học), một trong những tạp chí khoa học uy tín nhất thế giới vừa công bố những nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Australia. Theo đó, các loài cây khổng lồ và lâu đời nhất trên hành tinh xanh, nhất là cây cổ thụ bao báp đang dần biến mất.
David Lindenmayer, một chuyên gia của trường đại học Quốc gia Australia cho biết: "Đây là vấn đề chung của toàn cầu, nó xảy ra ở hầu hết các khu vực có cây bao báp sinh sống. Điều này rất đáng lo ngại, cần có biện pháp bảo vệ sớm".
Các nhà khoa học đã thực hiện so sánh số liệu lâm nghiệp với những năm 1860, họ hết sức bất ngờ khi phát hiện thấy số lượng cây bao báp từ 100 - 300 tuổi tại châu Âu, Bắc Mỹ, châu Phi, châu Á, Nam Mỹ, Mỹ La tinh và Australia đang giảm đến mức báo động.
Nguyên nhân chủ yếu do cháy rừng, hạn hán, nhiệt độ cao, khai thác gỗ tràn lan và sự biến mất ngày càng nhiều của diện tích đất nông nghiệp. Cây cổ thụ lớn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng cung cấp 30% nơi trú ẩn cho các loài chim và động vật đồng thời thu giữ lượng khí cacbon khổng lồ, tái chế chất dinh dưỡng trong đất và tác động đến dòng chảy của nước.
Các nhà khoa học nhấn mạnh, bên cạnh việc giảm lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính để giảm thiểu nguy cơ hạn hán và cháy rừng, chính sách bảo tồn vẫn nên tiếp tục tập trung vào việc ngăn chặn nạn phá rừng để làm nông nghiệp và khai thác mỏ.
Hiện nay, khu rừng Amazon (Brazil), nơi có số lượng cây cối "khủng" nhất đang được chuyển đổi cho mục đích nông nghiệp và khai thác mỏ và những gì còn lại thì đang bị xuống cấp do con người chặt cây lấy gỗ trong rừng.
Rõ ràng, tác động trực tiếp đến sự biến mất của thực vật vẫn là con người. Hiệu ứng nhà kính là mối nguy lớn gây ra hạn hán và cháy rừng, bởi vậy, công tác bảo tồn cần được đẩy mạnh hơn nữa, đảm bảo tương lai của hầu hết các loài cây ở Amazon nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
Ngoài phương pháp bảo tồn, hiện các nhà nghiên cứu đang chiết xuất và phân tích ADN của các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, từ đó hy vọng nhân các giống cây này, tạo được một quần thể cây mới ngay trong phòng thí nghiệm và sẽ đưa số cây này trở lại thiên nhiên, lấy lại cân bằng sinh thái đang đứng trên bờ vực bị đảo lộn và có khả năng bị mất.
Lâu nay, cà phê vẫn được coi là thức uống giải khát hấp dẫn, được yêu thích trên thế giới. Đây là mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, mang lại nguồn thu khổng lồ cho các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, những người lâu nay coi cà phê là "vàng" trong lĩnh vực kinh doanh sẽ rất sốc nếu biết cây cà phê Arabica sắp bị tuyệt chủng.
Cây cà phê Arabica hoang dã chỉ có ở miền nam Ethiopia, một vài khu vực ở Nam Sudan và một vùng ở Bắc Kenya. Loại cây này là nguồn gốc của loại Arabica được trồng và mua bán trong tất cả các cửa hàng cà phê hàng đầu trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu vườn Bách thảo Hoàng gia Anh Kew Gardens nhận định, cà phê là mặt hàng được giao dịch nhiều thứ hai sau dầu mỏ và là nguồn kinh tế của yếu của một số quốc gia, duy trì sự bền vững của ngành công nghiệp cà phê tại các nước đó
Cà phê Arabica được trồng ở các đồn điền cà phê trên thế giới đều bắt nguồn từ các giống có đặc tính di truyền rất hạn chế và không được bảo vệ để chống lại sự biến đổi khí hậu cùng các mối đe dọa khác như sâu bệnh. Tại Ethiopia, quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất châu Phi, biến đổi khí hậu đã gây ảnh hưởng xấu đến việc sản xuất cà phê.
Ông Aaron Davis, người đứng đầu nghiên cứu cà phê tại Kew Gardens cho biết: "Việc cây cà phê Arabica hoang dã tuyệt chủng là điều chưa một ai nghĩ tới. Nó là một tin gây sốc và thực sự đáng lo ngại". Nhóm nghiên cứu ở Kew Gardens cùng các cộng sự tại Ethiopia còn dự báo khả năng nhiệt độ tăng cao và những thay đổi về mùa màng khiến 99,7% khu vực trồng cà phê Arabica hiện nay không còn thích hợp cho loại cây này nữa vào năm 2080.
Các nhà khoa học đã dùng máy tính dựng nên mô hình biến đổi khí hậu trong ba kịch bản có khả năng diễn ra, để dự báo về triển vọng tồn tại của cà phê Arabica. Những thay đổi về thời tiết đang ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng cà phê của Ethiopia - nước trồng cà phê nhiều nhất ở châu Phi.
Các nhà khoa học nói rằng, nghiên cứu của họ còn chưa tính đến những yếu tố không thuận lợi khác cho cây cà phê như nạn phá rừng tràn lan ở cao nguyên cũng như số lượng chim muông (là loài giúp lan truyền hạt giống cà phê) sụt giảm.
Các mô hình cho thấy, biến đổi khí hậu ảnh hưởng rất tiêu cực đối với các quần thể hoang dã Arabica. Tính đến năm 2080, dữ liệu sinh học của loài này giảm đến 99,7%. Như vậy, quần thể cà phê Arabica đến năm 2080 có nguy cơ tuyệt chủng rất cao. (Người Đưa Tin 26/12)đầu trang(
Thử tưởng tượng bạn sẽ sống thế nào trên một cái cây cao 60 mét trong một khu rừng thực thụ. Bạn sẽ phải chống chọi với thời tiết khắc nghiệt, với sự cô đơn, và đương nhiên trên cái cây đó hoàn toàn không có những tiện nghi tối thiểu cho các nhu cầu cá nhân của bạn. Vậy mà một cô gái trẻ đến từ Úc đã sống trên một cái cây như vậy gần một năm, và trước mắt hình như cô ấy vẫn chưa có ý định xuống đất.
Tasmania là một đảo, đồng thời cũng là một bang nằm ở phía Nam của Úc. Nơi đây được mệnh danh là “Bang tự nhiên”, và là “Đảo của nguồn cảm hứng”. Nguyên nhân của các tên gọi đặc biệt nên thơ ấy chính là môi trường thiên nhiên tuyệt vời còn giữ được nhiều nét hoang sơ của Tasmania.
Có tới 37% diện tích của Tasmania là các khu bảo tồn thiên nhiên, các công viên quốc gia, các địa danh được công nhận là di sản thế giới. Người dân Úc đặc biệt tự hào về hòn đảo được thiên nhiên ưu đãi này, và tất nhiên khách du lịch nước ngoài đến Úc cũng khó lòng bỏ qua tour tham quan Tasmania.
Tuy nhiên, việc bảo tồn hòn đảo cũng vấp phải vô số khó khăn, nhất là khi nguồn lợi nhìn thấy được từ chuyện khai thác gỗ có sức hấp dẫn to lớn với các nhà kinh doanh khắp nước Úc. Vì vậy, 572000 ha rừng phía Nam Tasmania đang được các nhà hoạt động môi trường đấu tranh tích cực để bảo vệ.
Khu rừng có giá trị bảo tồn cao này cũng đồng thời là nơi chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên quý giá có thể khai thác và sinh lợi. Chính vì thế, mặc dù các nhà hoạt động môi trường cùng đại diện ngành công nghiệp đã trải qua rất nhiều cuộc đàm phán, nhưng rốt cuộc họ vẫn chưa tìm được tiếng nói chung về cách khai thác và bảo tồn khu rừng này.
Trong khi chờ đợi tiếng nói chung của họ, một nhà hoạt động môi trường trẻ tuổi đã có quyết định táo bạo hòng góp sức cùng phe “bảo vệ khu rừng”. Từ ngày 14/12/2011 đến nay, tức là gần một năm, một cô gái trẻ người Úc mang tên Miranda Gibson đã quyết định sống trên một cây bạch đàn cao 60 m trong khu rừng này để thể hiện quyết tâm bảo vệ khu rừng.
Đến giờ, cô đã đạt kỷ lục người sống trên cây trong thời gian dài nhất tại Úc, nhưng mọi việc vẫn chưa dừng lại ở đó. Mới đây, cô gái đã tuyên bố sẽ không rời khỏi nơi cư ngụ này chừng nào còn chưa chắc chắn khu rừng sẽ được bảo vệ trước nạn khai thác gỗ bừa bãi.
Cây bạch đàn được Miranda chọn lựa để “cư trú” đã 400 tuổi. Với một cái lều tạm được dựng trên cây và cột chắc chắn bằng các sợi dây thừng, cô gái trẻ đã xoay sở để thu xếp cuộc sống hàng ngày của mình. Quả thật không dễ dàng gì! Miranda nói rằng, mọi sinh hoạt bình thường của cô hoàn toàn bị đảo lộn. Đơn giản nhất như bạn không thể bật nước nóng để tắm hay đi đến cửa hàng khi hết sữa uống, và bạn phải tắm bằng một cái xô nhỏ. Những thứ cần thiết được cô gái lôi lên trên cây bằng một sợi dây thừng dài.
Sống trên cây, Miranda đã chấp nhận rời bỏ tất cả những tiện nghi quen thuộc của một cô gái hiện đại để nếm trải những khó khăn bất tiện mang đầy sắc màu “nguyên thủy”.
Song điều khó chống đỡ nhất với “cuộc sống trên cây” của cô gái có lẽ chính là thời tiết. Trong 10 tháng sống trên cây giữa khu rừng rộng lớn, cô gái đã trải qua đủ kiểu thời tiết khắc nghiệt nhất: gió lớn, tuyết lạnh, mưa đá… Có những thời gian dài trời rét căm căm, khi mọi người ở trong những căn nhà ấm áp có lò sưởi, Miranda mặc hàng lớp quần áo dày cộp nhưng vẫn rét run người trên cây. Có những ngày gió lớn khiến cho cây bạch đàn và cả căn lều tạm của cô nghiêng ngả.
Bình thường, sinh hoạt một ngày của bạn chỉ dừng lại khi bạn tắt đèn đi ngủ, nhưng với Miranda trong suốt gần một năm qua, sau khi mặt trời lặn xuống, cô lập tức phải chống chọi với mười mấy tiếng đồng hồ không ánh sáng… Song, đó mới chỉ là một phần nhỏ trong số những điều mà cô phải trải qua trong cuộc sống gần một năm trời trên cây.
Sống trên cây, Miranda còn phải chống đỡ với một khó khăn nữa mang tên “cô đơn”. Ở độ tuổi như cô, việc không được sống giữa những người thân trong gia đình cộng với việc thiếu vắng bạn bè cùng trang lứa quả là trở ngại lớn. Song cũng thật may mắn rằng công nghệ hiện đại có thể bù đắp phần nào sự cô đơn đó.
Thật tuyệt vời bởi ngày nay, chót vót trên một cái cây cao giữa khu rừng hoang vắng, Miranda vẫn có những khoảng thời gian nhất định để lên mạng cập nhật tin tức của mình thông qua trang cá nhân, và cảm thấy được kết nối với mọi người ở khắp nơi trên thế giới. Đôi khi, cô còn được an ủi bởi những chuyến viếng thăm vô cùng bất ngờ của mẹ cô, của người lãnh đạo tổ chức bảo vệ môi trường, hay của những người mà cô chưa bao giờ gặp mặt.
Khi câu chuyện về cô gái sống trên cây lan truyền ngày càng rộng, Miranda cũng nhận được sự hỗ trợ ngày càng lớn của cộng đồng. Những người ủng hộ cung cấp cho cô thực phẩm và các đồ dùng cần thiết. Tổ chức bảo vệ môi trường nơi cô làm việc cũng thu hút được nhiều sự quan tâm hơn.
Và trên hết, cô nhận được mỗi ngày một nhiều hơn sự chia sẻ của mọi người, từ người dân nước Úc đến cư dân các quốc gia khác, từ những nhà hoạt động môi trường đến những người xưa nay chưa hề quan tâm đến lĩnh vực này, từ những cụ già cho đến các bạn trẻ cùng lứa tuổi với cô. Chính cô cũng hết sức bất ngờ trước sự ủng hộ và sẻ chia của hàng triệu người mà cô không hề quen biết.
Một kỉ niệm khó quên trong những tháng ngày sống trên cây của Miranda là chuyến thăm viếng vô cùng bất ngờ của ông già Noel vào dịp Giáng sinh. Ông già Noel do cộng đồng người ủng hộ gửi đến đã đến thăm cô vào ngày lễ đặc biệt này, và dùng bữa trưa với cô trên cây bạch đàn với những chiếc bánh pudding do ông tự làm.
Món quà mà Miranda xin ông già Noel chính là làm sao để khu rừng nhanh chóng được bảo vệ. Ông già Noel đồng ý với cô rằng đó là một món quà thật quý giá cho thế hệ mai sau, nhưng tất nhiên, đó cũng là một món quà mà ông không thể hứa trước. Một mùa Giáng sinh nữa lại sắp đến, hy vọng là năm nay Miranda sẽ có được món quà mà cô mong ước.
Cuộc sống trên cây đem đến nhiều khó khăn hơn ta có thể tưởng tượng, Tuy nhiên, Miranda cho rằng, những khó khăn bất tiện mà cô phải chịu đựng là hoàn toàn xứng đáng. Cô gái cho biết, mình đã được ngắm nhìn và đắm chìm trong những khoảnh khắc tuyệt vời của thiên nhiên: khu rừng phủ đầy tuyết trắng xóa trong những ngày đông, bầu trời đêm đầy sao lấp lánh trong những ngày mùa hè trời quang mây tạnh.
Khu rừng thay đổi gần như từng thời khắc trong một ngày, từ sáng đến tối không ngừng hiện ra trước mắt Miranda với những vẻ đẹp mới. Suốt 10 tháng ròng rã, cô cũng trở nên quen thuộc với tất cả các cây cối xung quanh, đến mức cô có thể nhận ra mọi đổi thay dù là nhỏ nhất của chúng.
Đó là những trải nghiệm mà rất ít người có được trong cuộc đời. Chính những trải nghiệm đó khiến cho cô càng thêm yêu khu rừng này và càng quyết tâm bảo vệ nó bằng mọi giá. Đôi khi, Miranda còn cảm thấy như mình đã trở thành một phần của khu rừng!
Trước tin tức mình đã đạt kỷ lục sống trên cây dài ngày nhất ở Úc, cô bạn Miranda cho rằng, đó là “một điều đáng xấu hổ”, bởi vì điều đó chỉ chứng tỏ rằng chính phủ đã không giữ lời hứa về việc bảo vệ khu rừng.
Thời gian cô sống trên cây qua đi, nhưng tiếng nói chung giữa chính phủ, các nhà bảo vệ môi trường và những người khai thác, kinh doanh thì vẫn chưa có được. Với Miranda và những người cùng chí hướng với cô, điều này chỉ có nghĩa là họ cần cố gắng nhiều hơn, cần kiên định hơn nữa với mục tiêu của mình. Cuộc sống trên cây của cô gái trẻ xem ra vẫn còn phải tiếp tục, mặc dù bản thân cô cũng như những người ủng hộ đang rất chờ mong ngày cô được xuống mặt đất. (Công An Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Quần thể thiên nga Bewick đang đe dọa tuyệt chủng ở vùng Tây Bắc Âu đã có dấu hiệu tăng trưởng bởi một năm bội thu chim con. Được biết, số lượng loài thiên nga này đã giảm mạnh từ những năm 1990.
Thông thường có tới 7.000 thiên nga Bewick thường di cư tới Anh vào tháng 10 hàng năm và bay trở lại Nga vào tháng 3 năm sau. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát năm nay cho thấy số lượng thiên nga con trong số bầy chim di tránh rét đã tăng lên 17,6%, so với trung bình 10% trong 10 năm qua.
Các nhà nghiên cứu về chim đã báo cáo trung bình 14% thiên nga con trong bầy chim đang bay về phía bắc châu Âu, đây là mức cao nhất kể từ năm 2001.
Thiên nga Bewick bay 4.000 km từ nơi được sinh ra tại lãnh nguyên Nam cực ở Nga để tránh rét trong suốt mùa đông ở hòn đảo Anh ấm áp hơn và các vùng khác nhau thuộc Bắc Âu, như Hà Lan và Đức.
Loài thiên nga nhỏ bé nhất châu Âu, thiên nga Bewick có sự khác biệt với thiên nga whooper di trú về kích thước và đốm vàng nhỏ trên mỏ.
Các chuyên gia đang cố gắng tìm hiểu nguyên nhân của sự bùng nổ sinh sản trong năm nay của thiên nga Bewick.
Các nhà nghiên cứu về chim cũng đang cố gắng tìm nguyên nhân của sự sụt giảm quần thể thiên nga Bewick trong những năm gần đây. Theo Tổ chức Wildfowl and Wetlands trust (WWT), mối đe dọa đối với loài thiên nga là săn bắn trái phép và nhiễm độc chì. Thiên nga ăn đá mạt để hỗ trợ tiêu hóa. Nhưng nếu tình cờ ăn trúng đạn chì trên mặt đất có thể gây nhiễm độc nặng. Các cuộc kiểm tra trên thiên nga chết tại khu bảo tồn WWT đã cho thấy gần 1/4 thiên nga chết được tìm thấy tại nơi này là do nhiễm độc chì.
Các công trình do con người tạo ra như giá treo, tua-bin gió và đường dây điện cũng đặt ra mối đe dọa đối với thiên nga đang bay do kích thước cánh lớn làm cho chúng không thể chuyển hướng bay nhanh chóng để tránh nguy hiểm.
Tuy nhiên, số lượng cao hơn các thiên nga non được ghi nhận trên khắp miền bắc châu Âu trong năm nay "hy vọng sẽ thúc đẩy dân số của loài thiên nga này", bà Newth nói.
Và sự xuất hiện của một cặp thiên nga Bewick sinh sản trưởng thành sáu con non đang được nuôi dưỡng tại khu bảo tồn Slimbridge WWT ở Gloucestershire là gia đình thiên nga Bewick lớn nhất ghi nhận tại khu vực này. (Theo Agroviet.gov.vn 25/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||