|
Ngày 28 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thông tin từ tỉnh Lạng Sơn cho biết, mặc dù chưa được các cơ quan có thẩm quyền của UBND tỉnh Lạng Sơn đồng ý về chủ trương cũng như cho phép khảo sát lập dự án trồng rừng nhưng hiện Công ty cổ phần Đầu tư phát triển kinh tế - rừng bền vững Toàn Cầu đã thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân của hàng trăm hộ dân trên địa bàn các xã Minh Phát, Như Khuê, Nhượng Bạn và Xuân Tình thuộc huyện Lộc Bình (Lạng Sơn) để liên kết trồng rừng.
Theo điều tra của UBND huyện Lộc Bình, đến thời điểm này, Công ty cổ phần Đầu tư phát triển kinh tế - rừng bền vững Toàn Cầu đã thu gom được hơn 500 bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng của các hộ dân ở các xã trên. Đáng chú ý, việc thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng còn được lãnh đạo UBND các xã đứng ra giúp đỡ, vận động bà con. (Sài Gòn Giải Phóng 28/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
27/122, Sở NN&PTNT tổ chức Hội nghị đánh giá thực hiện kế hoạch Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) năm 2011 – 2012 và bàn giải pháp thực hiện Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2013.
Năm 2011, nguồn vốn được giao chủ yếu tập trung cho các hạng mục chuyển tiếp từ Chương trình 5 triệu ha rừng, như: Bảo vệ rừng 28.733 ha, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên 19.726 ha; chăm sóc rừng trồng 1.648 ha, nhưng không giao chỉ tiêu trồng rừng. Toàn tỉnh trồng mới rừng 137 ha, chủ yếu là các cây hồi, thông...
Năm 2012, toàn tỉnh thực hiện bảo vệ rừng 26.397 ha; khoanh nuôi tái sinh rừng 14.812 ha; chăm sóc rừng 1.320 ha... Riêng chỉ tiêu trồng rừng mới được 1.024 ha, chỉ đạt 44,5% KH. Trong đó, đối với rừng phòng hộ đặc dụng trồng được 160 ha, đạt 53,3% KH; rừng sản xuất 473 ha, đạt 23,6% KH.
Năm 2013, Sở NN&PTNT tập trung chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt công tác quy hoạch, lập kế hoạch BV&PTR phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng; Ban quản lý các huyện chủ động triển khai kế hoạch giao. Phấn đấu trồng mới 2.050 ha rừng; chăm sóc 1.013 ha rừng trồng; bảo vệ 34.808 ha rừng; khoanh nuôi tái sinh 9.904 ha rừng. (Báo Cao Bằng 28/12) đầu trang(
Tình trạng đáng báo động hiện nay là số động vật hoang dã quý hiếm của nước ta gần như tuyệt chủng như: voi, hổ, tê giác, voọc, vượn, rái cá…Nếu không có đối sách đầu tư và quan tâm ngay từ bây giờ, thì tương lai không xa, những loài này chỉ còn nhìn thấy qua sách vở.
Hiện Việt Nam chỉ còn khoảng 400 loài động vật hoang dã đang bị đe dọa và cần được bảo vệ. Trong đó, hiện nay chỉ còn khoảng 30 con hổ, 100 con voi, còn lại gấu, tê giác và các động vật quý hiếm khác.
Khi PV đến Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã ở Củ Chi, có rất nhiều con thú ở đây bị cụt tay, cụt chân, bị què quặt, đui mù trước khi được đưa về đây cứu chữa. Bù lại, chúng được anh em ở trung tâm chăm sóc và bảo vệ tận tình. Mỗi loài động vật hoang dã về nơi cứu hộ đều có hồ sơ riêng, bệnh án được cập nhật hàng ngày. Bác sĩ thú y phải theo dõi, kiểm tra liên tục, để biết được con nào thì nên cách ly, định lượng thức ăn ra sao, chăm sóc, trị bệnh thế nào…
Từ 2006 đến nay, Trung tâm đã cứu hộ được khoảng 3.000 cá thể. Hàng năm, có trên dưới 1.000 con thú được thả về rừng hoặc chuyển đi các nơi khác trước khi chúng được kiểm tra sức khỏe, chăm sóc và phục hồi bản năng hoang dã, sẵn sàng trở về thiên nhiên. ông Lê Xuân Lâm, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi cho biết:
Tại trung tâm, có gần chục con gấu ngựa và gấu chó. So với những con gấu bị nuôi nhốt bất hợp pháp bên ngoài, chịu đau đớn cùng cực khi bị rút mật một cách tàn nhẫn, thì những con thú được đưa về đây đã là may mắn hơn rất nhiều. (Theo Voh.com.vn 28/12) đầu trang(
Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Thanh Sơn vừa tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng và khắc phục hậu quả do cháy rừng xảy ra tại khu dân cư xóm Quất, xã Yên Lương.
Tình huống giả định là nhân dân bất cẩn trong khi đốt thực bì để trồng rừng đã gây cháy rừng, các lực lượng tham gia diễn tập đã thực hành từ giai đoạn chuẩn bị phòng, chống cháy rừng đến giai đoạn tổ chức thực hành chữa cháy rừng. Ở các nội dung này, với chức năng nhiệm vụ được giao, UBND xã Yên Lương, Hạt Kiểm lâm và Ban CHQS huyện đã phối hợp tổ chức tốt việc chọn địa điểm diễn tập, huy động đông đảo lực lượng tham gia diễn tập là nhân dân tại các thôn, bản, chuẩn bị tốt mọi công cụ, vật dụng tham gia diễn tập…
Đánh giá chung đợt diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng – bảo vệ rừng tại xã Yên Lương năm 2012 đạt kết quả tốt, có tác động tích cực đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền, ý thức trách nhiệm và khả năng phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ rừng cho các ban ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân. (Báo Phú Thọ 27/12) đầu trang(
25/12, Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Ngân Sơn đã tổ chức diễn tập thực binh phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng và khắc phục hậu quả do cháy rừng xảy ra tại thôn Bằng Lãng, xã Thượng Quan.
Tình huống giả định được đặt ra tại buổi diễn tập là do thời tiết hanh khô kéo dài, nhân dân bất cẩn trong khi xử lý thực bì để làm nương rẫy đã gây cháy rừng tại thôn Bằng Lãng, xã Thượng Quan. Cùng với đó, do thảm thực vật khô lâu ngày kết hợp với gió mạnh, lực lượng chữa cháy ít nên đám cháy đã lan sang khu rừng thuộc thôn Đông Pjầu, xã Vân Tùng.
Tại buổi diễn tập, các lực lượng tham gia đã thực hành từ giai đoạn chuẩn bị phòng, chống cháy rừng đến giai đoạn tổ chức thực hành chữa cháy rừng. Ở các nội dung này, với chức năng nhiệm vụ được giao, UBND xã Vân Tùng, Hạt Kiểm lâm và Ban Chỉ huy Quân sự huyện Ngân Sơn đã phối hợp tổ chức tốt việc chọn địa điểm diễn tập, huy động đông đảo lực lượng tham gia diễn tập là nhân dân tại các thôn, bản, chuẩn bị tốt mọi công cụ, vật dụng tham gia diễn tập…
Qua đánh giá chung đợt diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng – bảo vệ rừng tại xã Vân Tùng đạt kết quả tốt, có tác động tích cực đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy đảng, chính quyền, ý thức trách nhiệm và khả năng phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ rừng cho các ban ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân địa phương.
Được biết, trong mùa khô năm 2011 – 2012 trên địa bàn huyện Ngân Sơn đã để xảy ra 7 vụ cháy rừng, làm thiệt hại hơn 35ha rừng trên địa bàn. Do vậy, việc tổ chức diễn tập phòng chống cháy rừng lần này cũng là dịp để Ban Chỉ đạo phòng chống cháy rừng của huyện và các xã kiểm tra trình độ, khả năng huy động lực lượng, phương tiện và thực hành chữa cháy rừng, nâng cao ý thức, trách nhiệm phòng chống cháy rừng cho cán bộ và nhân dân địa phương nơi có rừng;
Đánh giá sự phối hợp giữa các lực lượng và khả năng huy động lực lượng chữa cháy theo phương châm 4 tại chỗ nhằm giảm thiểu những thiệt hại do cháy rừng gây ra; kịp thời bổ xung, hoàn thiện phương án phòng chống cháy rừng ở từng cấp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn. (Đài PT – TH Bắc Kạn 28/12) đầu trang(
Không chỉ có địa bàn rộng, nhiều điểm giáp danh với các địa bàn lân cận mà huyện Chợ Đồn còn là địa phương còn rất nhiều lâm sản quý hiếm. Chính vì điều này, rừng của huyện Chợ Đồn luôn phải đối mặt với nạn khai thác trái phép.
Bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh bọn lâm tặc đã và đang gây rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý rừng tại địa phương.Một trong những khó khăn nhất trong công tác bảo vệ rừng ở huyện Chợ Đồn đó là có nhiều khu vực rừng quý hiếm giáp danh với tỉnh Tuyên Quang và khu vực rừng quý hiếm của Vườn quốc gia Ba. Không ít vụ phá rừng là người ngoài địa phương thực hiện, khi phá rừng thì ở địa phương khác nhưng vận chuyển thì qua địa bàn huyện làm cho việc quản lý từ gốc là rất khó khăn xử lý.
Lợi dụng địa hình phức tạp, những kẻ khai thác trái phép thường hoạt động vào ban đêm hoặc sáng sớm để che mắt kiểm lâm và chính quyền cơ sở. Trong khi đó, hành vi vận chuyển lâm sản trái phép hiện nay cũng hết sức tinh vi. Xe ô tô biển số 20L- 7730 vận chuyển gỗ nghiến trái phép này là một điển hình, để che dấu hành vi vi phạm người vận chuyển đã phủ một lớp gạch rất lớn lên phía trên.
Tuy nhiên, sau khi lực lượng kiểm lâm phát hiện, đã thu giữ được gần 2m2 gỗ được cất dấu ở phía dưới. Ngoài ra, để tránh các trạm kiểm soát, các đối tượng thường sử dụng những xe nguy trang chở khách vận chuyển gỗ trái phép nhằm tránh sự theo dõi của lực lượng kiểm lâm. Riêng trong hai tháng 10 và 11, Hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn đã tạm giữ 2 xe khách vận chuyển gỗ nghiến trái phép.
Để bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm huyện Chợ Đồn cũng đã có không ít nỗ lực trong việc bám sát địa bàn, bảo vệ rừng từ gốc. Tuy nhiên, do địa bàn rộng và có đến 1/3 diện tích là rừng núi đá nên công tác quản lý cũng gặp không ít khó khăn.
Tại những khu vực này tài nguyên rừng vẫn còn rất phong phú, nhất là các loại gỗ quý nhóm I, nhóm II như nghiến, đinh, lim, sến, tấu. Đây là nhưng loại gỗ quý hiếm, lợi nhuận của việc khai thác trái phép có giá trị cao nên bọn lâm tặc thường xuyên khai thác, vận chuyển lén lút. Trong đó, khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc làmột trong những khu vực của huyện Chợ Đồn có nguy cơ bị xâm hại nhiều nhất.
Theo báo cáo của Ban quản lý Khu Bảo tồn này thì từ đầu năm đến nay lực lượng kiểm lâm đã phát hiện và lập biên bản xử lý 53 vụ vi phạm liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng , trong đó đã xử lý hành chính 25 vụ, chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 3 vụ, tịch thu trên 20 m3 gỗ, 14 xe máy và 6 cưa xăng, thu nộp ngân sách nhà nước hơn 100 triệu đồng.
Đa phần các vụ vi phạm trong khu vực Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc là hành vi khai thác, vận chuyển và cất giữ lâm sản trái phép thuộc nhóm 2A, các hành vi vi phạm tại đây đều được phát hiện và xử lý kịp thời. Tuy nhiên, một khó khăn của lực lượng kiểm lâm ở đây là việc xác định đối tượng vi phạm. Mặc dù đã phát hiện trên 40 vụ vi phạm từ đầu năm đến nay nhưng cũng chỉ có 5 đối tượng bị xử lý, những vụ còn lại đều rất khó xác định được danh tính người vi phạm.
Huyện Chợ Đồn và đặc biệt là Khu Bảo tồn Loài và Sinh cảnh Nam Xuân Lạc được đánh giá là một trong những điểm nóng về tình trạng phá rừng trên địa bàn Bắc Kan. Để ngăn chặn đã có rất nhiều giải pháp như tăng cường các chốt, trạm, phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng kiểm lâm, công an và chính quyền cơ sở. Tuy vậy, để đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, đặc biệt là trong dịp nông nhàn, lễ tết, rất cần sự chủ động, quyết liệt hơn nữa từ các cấp, ngành chức năng. (Đài PT – TH Bắc Kạn 27/12)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Kết thúc phiên đối thoại song phương lần thứ 3 về "Tăng cường thực thi pháp luật bảo vệ các loài hoang dã," tối 27/12, tại Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Tổng cục bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên Indonesia đã ký bản ghi nhớ Thỏa thuận hợp tác về bảo vệ các loài động vật hoang dã, như tê tê, rùa, động vật bò sát…
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho biết theo biên bản thỏa thuận này, hai bên sẽ hợp tác trao đổi thông tin để phát hiện các hành vi buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã kể cả hợp pháp và bất hợp pháp. Đồng thời, hai bên sẽ cùng nhau nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các cơ quan có liên quan.
Thỏa thuận này có giá trị trong 5 năm, sau đó tùy theo tình hình sẽ bổ sung những điều khoản thích hợp.
Theo ông Darosi, Tổng cục trưởng Tổng cục bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên Indonesia, hiện Việt Nam và Indonesia đang trở thành "hai trung tâm" trung chuyển chính các loài tê tê, rùa, động vật bò sát… của khu vực Đông Nam Á sang các nước khác trong khu vực. Vì vậy, việc hợp tác sẽ giúp hai nước hỗ trợ nhau trong công tác bảo tồn các loài này.
Riêng với Indonesia, đây là hành động quan trọng nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm săn bắt và buôn bán động vật hoang dã.
Sau biên bản ghi nhớ, hai bên sẽ có những hợp tác tiếp theo để làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ các loài động vật hoang dã. Hiện Việt Nam và Indonesia đều là thành viên của mạng lưới quản lý động vật, thực vật hoang dã ASEAN (ASESN WEN), Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Công ước đa dạng toàn cầu (CBD)... (VietnamPlus.vn 28/12; Thanh Niên 28/12; Thanh Niên 28/12)đầu trang(
27/12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị phối hợp với Dự án Toyota tổ chức lễ công bố Quyết định Khoán bảo vệ rừng và triển khai hoạt động trồng mây làm giàu rừng tại thôn La Tó, xã Húc Nghì, huyện Đakrông.
Dự án Khoán bảo vệ rừng có 6 nhóm hộ và 7 hộ gia đình trú tại thôn La Tó, xã Húc Nghì tham gia. Theo đó, mỗi hộ, nhóm hộ được nhận khoán 5 ha, tại tiểu khu 729. Chi phí hỗ trợ cho hộ, nhóm hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng trong 10 năm là 130 triệu đồng. Nhóm hộ, hộ gia đình chủ động tổ chức tuần tra trên diện tích được nhận khoán, trồng 01 ha mây nước dưới tán rừng tự nhiên, thực hiện theo đúng quyền lợi và nghĩa vụ được ghi trong hợp đồng.
Về phần mình, lực lượng kiểm lâm phụ trách xã giám sát chặt chẽ việc thực hiện bảo vệ rừng, trồng mây của nhóm hộ, hộ gia đình nhận khoán; khoảng 3 tháng/lần đi kiểm tra hiện trường khoán bảo vệ và kết quả báo cáo đánh giá được gửi lên UBND xã, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện. Hàng năm, UBND xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Đakrông tổ chức đánh giá kết quả khoán chăm sóc, bảo vệ rừng và trồng mây của từng nhóm hộ, hộ gia đình tại thôn La Tó.
Mục tiêu của Dự án Khoán bảo vệ rừng nhằm quản lý và bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống người dân trong vùng dự án; góp phần thực hiện xã hội hóa nghề rừng, đảm bảo rừng và đất rừng được người dân tích cực bảo vệ. (Báo Quảng Trị 28/12)đầu trang(
Ngày 25.12, ông Hồ Đăng Chiến - Chủ tịch UBND xã Đức Trạch, huyện Bố Trạch - cho biết, sau hơn hai ngày trôi dạt vào bờ biển, rạng sáng 25.12 con cá voi còn lại cũng đã chết.
Nguyên nhân có thể do môi trường sống không phù hợp. Trước đó, như Lao Động đã thông tin về việc người dân phát hiện con cá voi trên trôi dạt vào bờ biển vào ngày 22.12 (nặng khoảng 20kg, dài khoảng 1,2m), sau khi tìm cách giải cứu, đưa ra xa bờ nhưng cá cứ quay ngược trở lại nên người dân đem lên bờ chăm sóc. Ngày 23.12 cũng phát hiện một con khác đã chết (nặng khoảng 25kg, dài khoảng 1,5m) trôi dạt vào bờ.
Ông Chiến cho biết thêm, ở địa phương hiện có một khu nghĩa địa đặc biệt được gọi là Dinh Nam Hải với hơn 300 ngôi mộ cá voi. Thường vào dịp cuối năm, nếu có “gió chướng” thì hiện tượng cá voi (đã chết hoặc bị thương tích) dạt vào bờ nhiều. (Lao Động 26/12)đầu trang(
Nhìn dáng người nhỏ nhắn, khuôn mặt hiền lành của anh, không ai nghĩ đằng sau đó là cả một nghị lực phi thường khi anh “dám” bỏ phố về quê lập nghiệp. Để rồi cái duyên nợ non nước vùng Đá Bạc đã níu chân anh với trang trại kỳ đà, chồn hương. Anh là Nguyễn Ánh ở tổ 3, thị trấn Phú Lộc (huyện Phú Lộc, tỉnh TT-Huế).
Rời ghế giảng đường Đại học Kinh tế Huế, loay hoay tìm việc trong thời buổi khó khăn, Ánh đã quyết định không “neo” lại phố phường nhộn nhịp để tìm cơ hội kiếm việc làm như bao chàng trai khác mà về quê khởi nghiệp.
Để có được mô hình nuôi kỳ đà vân và vòi hương (chồn hương) tương đối hoàn thiện, Ánh đã mất rất nhiều thời gian khăn gói vào các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Quảng Ngãi, Đồng Nai để học tập cách nuôi dưỡng và chăm sóc các loài động vật quý hiếm này. Sau những ngày cuốc bộ, những đêm trăn trở cùng khát vọng thoát nghèo, tháng 3/2010 trại chăn nuôi mang tên Đồng Dưng ở khu vực 3, thị trấn Phú Lộc do Nguyễn Ánh làm chủ đã chính thức ra đời.
Cái khó nhất trong buổi đầu lập nghiệp trên mảnh đất quê hương là nguồn vốn. Hơn 100 triệu đồng tiền vay mượn của bà con anh em, Ánh đã bỏ hết vào mua chồn hương và kỳ đà vân. Do đây là 2 loài vật được xếp vào danh mục động vật quý hiếm thuộc nhóm 2B cấm săn bắn nên anh đã phải mất rất nhiều thời gian nghiên cứu về kỹ thuật nuôi cũng như lên phương án tổ chức SX.
Ngoài ra, để có được giấy phép nuôi động vật hoang dã thông thường và quý hiếm, Ánh phải gõ cửa phải thuyết phục rất nhiều lần với cơ quan chức năng về mục đích nuôi, nguồn gốc xuất xứ con giống, sơ đồ hệ thống của trại nuôi.
Ánh tâm sự: “Ngày đầu tiên cầm tờ đơn lên Chi cục Kiểm lâm TT- Huế xin được cấp giấy phép nuôi vòi hương và kỳ đà vân, các cán bộ ở đây thấy ngại bảo, nếu không khéo tìm ra cách nuôi cũng như nói rõ nguồn gốc xuất xứ của 2 loài động vật này, sớm muộn em sẽ trở thành người tiếp tay cho những tên thợ săn tàn phá động vật rừng. Nghe các anh “khuyến cáo” dữ quá lúc đầu mình thấy cũng ngán thật nhưng rồi cũng quyết định nuôi".
Ngay từ khi còn học phổ thông, Ánh đã có những cái nhìn khá nghiêm túc về vấn đề môi trường. Với tâm niệm nuôi động vật hoang dã không chỉ làm phong phú thêm vật nuôi ở địa phương mà còn góp phần giảm lượng người vào rừng săn bắt động vật trái phép.
Sau khi có quyết định cho phép trại chăn nuôi Đồng Dưng được phép gây nuôi để bán con giống thương phẩm, Ánh đã bắt đầu thực hiện công việc của mình khá bài bản. Theo Ánh, khu vực chuồng nuôi là yếu tố quan trọng hàng đầu. Khu vực chuồng trại rộng 88 m2 trong khuôn viên nhà, được anh chia thành 3 chuồng nuôi gồm vòi hương, kỳ đà bố mẹ và kỳ đà con.
Hệ thống chuồng được xây dựng kiên cố, phía trên giăng lưới sắt bảo đảm an toàn. Trước khi thả nuôi, qua Internet, sách vở, Ánh đã nghiên cứu rất kỹ các tài liệu về kỹ thuật nuôi, đặc tính sinh học của loài kỳ đà, chồn hương.
Trò chuyện với chúng tôi, anh say sưa nói về kỹ thuật nuôi, đặc điểm sinh trưởng của các loài động vật quý hiếm này, thực thụ như một nhà sinh vật học: “Kỳ đà vân thuộc lớp động vật bò sát, hình dáng bên ngoài trông giống như con thạch sùng (thằn lằn) nhưng to và dài hơn nhiều, có thể dài 2,5 - 3 m, nặng khoảng 10 kg. Kỳ đà có nhiều loài, ở Việt Nam có 2 loài, là kỳ đà hoa và kỳ đà vân.
Trong tự nhiên kỳ đà là một mắt xích trong chuỗi thức ăn và lưới thức ăn, là thành viên tiêu diệt sâu bọ, chuột phá hoại mùa màng và là nguồn gen quý hiếm góp phần tạo nên tính đa dạng sinh học. Tuy nhiên, do sức hấp dẫn của các món ăn chế biến từ thịt và trứng kỳ đà cũng như bộ da và đặc biệt là túi mật của nó mà số lượng kỳ đà ngoài tự nhiên không còn nhiều vì bị con người săn bắt mạnh”.
Bước đầu, vừa làm vừa đúc rút kinh nghiệm, Ánh chỉ thả nuôi 20 con kỳ đà vân và 4 con vòi hương làm giống, trung bình mỗi con kỳ đà mới thả nuôi nặng 0,8 kg. Sau một thời gian, kỳ đà đã đẻ trứng nở được 48 con, vừa qua Ánh đã xuất bán 18 con từ 4 kg trở lên cho các nhà hàng và hộ nuôi với giá 800 nghìn đ/kg.
Trang trại của Ánh bước đầu cung cấp giống cho bà con ở các nơi đến mua. Trung bình một cặp kỳ đà vân dùng để làm giống được bán với giá 4 triệu đồng. Qua quá trình nuôi, Ánh đã rút ra rất nhiều kinh nghiệm về quá trình sinh trưởng, cũng như hấp thụ thức ăn của loài này.
Ánh cho biết: “Kỳ đà thường lột da mỗi năm một lần vào khoảng tháng 8 - 10, chúng trưởng thành sau 18 tháng tuổi. Giống kỳ đà vân giao phối và sau khoảng 102 - 106 ngày thì đẻ trứng, mỗi năm một lứa, mỗi lứa khoảng 15 - 17 trứng và chỉ khoảng trên 35% trứng có khả năng nở con. Thức ăn của kỳ đà vân là cóc, ếch nhái, gà vịt, tôm cá, thịt lợn, thịt động vật loại nhỏ... Riêng về vòi hương từ 4 con thả nuôi ban đầu đến nay nhân giống được 19 con và đã bán 8 con; giá một cặp vòi hương giống vài tháng tuổi là 10 triệu đồng". (Nông Nghiệp Việt Nam 27/12)đầu trang(
Hội đồng Khoa học tỉnh Bình Định vừa nghiệm thu đề tài "Nghiên cứu khả năng thích nghi, sức SX của lợn rừng và con lai F1 giữa lợn đực rừng với lợn nái cỏ miền núi tại Bình Định" do Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh chủ trì.
Chủ nhiệm đề tài, ThS Trần Văn Hạnh cho biết, đã tiến hành nuôi khảo nghiệm lợn rừng thuần, lợn rừng lai F1 tại các mô hình ở Trạm giống Long Mỹ, Ghềnh Ráng, TP Quy Nhơn và huyện Vân Canh. Qua theo dõi mô hình, các thông số kỹ thuật về trọng lượng lúc sơ sinh, lúc 6 tháng, 12 tháng tuổi; tỷ lệ nạc, hàm lượng protein của heo phát triển bình thường. Tăng trọng trung bình từ lúc sơ sinh đến 12 tháng tuổi của lợn rừng thuần đạt 131 g/ngày, lợn rừng lai F1 đạt 116,5 g/ngày.
Thức ăn chủ yếu là rau, cỏ, củ, quả, chuối cây và thêm một ít thức ăn tinh tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn rừng thuần và lợn rừng lai F1 thích nghi, phát triển được ở Bình Định. Đề tài cũng xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi lợn rừng thuần và lợn rừng lai F1 để chuyển giao rộng rãi. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/12)đầu trang(
Năm 2012, nhiều diện tích rừng kinh tế trồng theo các dự án đầu tư từ những năm trước đã đến kỳ khai thác.
Sở NN&PTNT Quảng Trị đã tiến hành kiểm tra, thẩm định và cấp phép cho các chủ rừng khai thác đúng quy định. Hơn 4.173 ha rừng đã được khai thác với tổng khối lượng gỗ đạt trên 210 ngàn m3.
Đáng chú ý cùng với trữ lượng rừng khai thác đạt khá, phần nhiều sản phẩm gỗ rừng trồng được bán cho nhà máy ván gỗ MDF và các cơ sở sản xuất ván ghép thanh nên giá trị sản lượng đạt tương đối cao, bình quân đạt từ 55- 60 triệu đồng/ha, tạo nguồn vốn dồi dào cho các chủ rừng đầu tư tái trồng rừng trên diện tích đã khai thác.
Vì vậy, ngay sau khi khai thác, các chủ rừng đã khẩn trương chuẩn bị giống, vật tư phân bón và làm đất triển khai trồng mới vào vụ trồng rừng năm nay. (Báo Quảng Trị 27/12)đầu trang(
ThienNhien.Net – Tính từ đầu năm đến trung tuần tháng 12/2012, nhân dân huyện vùng cao Mường Lát đã trồng mới được 2.456,6 ha rừng.
Nhiều xã trước đây rất khó vận động bà con trồng rừng thì năm nay đã trở thành điển hình như: xã Trung Lý trồng mới được 550 ha, xã Mường Lý 373 ha, Quang Chiểu 436 ha, xã Tén Tằn 348 ha… Theo ông Lê Thanh Hải, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Phát triển kinh tế – xã hội Mường Lát: Đây là năm huyện Mường Lát có diện tích rừng trồng mới cao nhất từ trước đến nay. Năm 2009, huyện trồng được 600 ha, năm 2010 trồng được năm 500 ha và 2011 chỉ trồng thêm được hơn 300 ha rừng.
Để đạt được kết quả này, các ban, ngành, đoàn thể ở huyện Mường Lát đã vận động 2.040 hộ dân tại 65 trên tổng số 90 bản của huyện tham gia trồng rừng. Việc tuyên truyền được lồng ghép qua các hội nghị thôn bản, hội nghị cấp huyện, xã, sinh hoạt của các tổ chức chính trị đoàn thể và thông qua tập huấn. Trong đó, đã có 112 cuộc họp, 40 cuộc tiếp xúc trực tiếp của các ngành chức năng tới người dân.
Từ đầu năm 2012, huyện đã thành lập 10 ban quản lý trồng rừng 147, tổ chức vận động trực tiếp tại cơ sở để nâng cao nhận thức về việc trồng rừng cho đồng bào. Nhiều đơn vị, cơ quan đóng trên địa bàn huyện như: Đoàn Kinh tế – Quốc phòng 5, Hạt Kiểm lâm Mường Lát, 5 đồn biên phòng trên địa bàn, Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát… đều triển khai các biện pháp giúp dân trồng rừng. (Thiên Nhiên 27/12)đầu trang(
Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh đã được định hình rõ nét với mũi nhọn là lĩnh vực nông lâm nghiệp. Trong hai năm qua của nhiệm kỳ Đảng bộ, tỉnh Bắc Kạn đã tạo ra những tiền đề quan trọng trong xây dựng các vùng nguyên liệu cho chế biến nông lâm sản. Vì thế, tập trung xúc tiến đầu tư lĩnh vực nông lâm nghiệp là trọng tâm cần chú trọng trong năm 2013
Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 486.842 ha, trong đó đất nông nghiệp (bao gồm cả đất lâm nghiệp) là 376.356 ha chiếm 77,3%, đất phi nông nghiệp là 19,911 ha chiếm 18,6%. Tài nguyên đất đai tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông. lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và phục hồi rừng.Nguồn lao động của tỉnh khá dồi dào có thể cung ứng đủ nhu cầu về lao động cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư tại tỉnh Bắc Kạn với giá thuê nhân công rẻ hơn các nơi khác.
Kể từ khi Đại hội Đảng bộ tỉnh xác định nông lâm nghiệp là mũi nhọn thì một số dự án như Nhà máy chế biến gỗ Sahabak; doanh nghiệp trồng rừng; trồng và chế biến dong riềng… đã bước đầu khẳng định được thành công. Danh mục thu hút đầu tư được xây dựng cũng đã chú trọng tới các dự án thuộc lĩnh vực này. Trong 64 dự án kêu gọi đã có 9 dự án về nông lâm nghiệp như: phát triển, cải tạo đàn bò theo hướng thịt; phát triển vùng chè chất lượng cao; nhà máy chế biến thức ăn gia súc; chế biến hàng nông sản xuất khẩu…
Tuy nhiên, có thể thấy, công tác xúc tiến đầu tư cần có thêm những cơ chế mới bởi lẽ qua hai năm thực hiện Nghị quyết Đảng bộ thì tỉnh ta đã có những tiềm năng mới. Đầu tiên đó là thế mạnh phát triển trồng và chế biến dong riềng. Với diện tích 1.800ha; năng suất trung bình 80 tấn/ha thì khối lượng dong nguyên liệu là hết sức dồi dào. Nắm bắt tiềm năng ấy, tỉnh đã chỉ đạo, hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy cùng các hợp tác xã chế biến miến dong, bột dong.
Dự kiến đến cuối năm 2012 toàn tỉnh sẽ sản xuất được 2.100 tấn miến và 3.500 tấn tinh bột dong riềng. Tuy nhiên, số lượng các nhà máy vẫn còn ít và quy mô chưa đáp ứng được khối lượng nguyên liệu dồi dào, chưa chế biến được thành miến toàn bộ vì vậy đánh mất nhiều lợi nhuận. Hơn thế, song song với chế biến mỗi sản phẩm miến thì cũng cần có những dự án đầu tư chế biến tinh bột dong thành nhiều dạng sản phẩm phong phú hơn nữa.
Cơ hội đầu tư hết sức khả thi khác là từ các sản phẩm đặc sản đã được bảo hộ gồm quýt Bắc Kạn; gạo Bao thai Chợ Đồn; hồng không hạt. Các sản phẩm này đều đã khẳng định được giá trị về thực phẩm cũng như về hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, chưa có một dự án chế biến nào có tầm cỡ hướng về các sản phẩm này.
Tiềm năng đặc biệt lớn với Bắc Kạn hiện tại là công nghiệp chế biến gỗ. Với sự vào cuộc quyết liệt của tỉnh thì diện tích rừng trồng mới tăng mạnh qua các năm. Quyết tâm trồng được 60.000ha rừng trong nhiệm kỳ Đảng bộ hứa hẹn tạo ra một vùng gỗ nguyên liệu cực lớn. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh đã có Nhà máy ván ghép thanh của Công ty Cổ phần Sahabak. Công ty này cũng đang khẩn trương xây dựng dự án Nhà máy ván MDF. Cũng đã có những công ty chủ động đầu tư xây dựng nhà máy chế biến đũa xuất khẩu tại Chợ Đồn. Bên cạnh đó có thể kể ra tiềm năng lớn ở các nông sản như chè, gừng, thuốc lá, khoai môn, phát triển đàn gia súc theo hướng thịt… cũng là cơ hội đầu tư rất giá trị.
Công tác xúc tiến đầu tư vào nông lâm nghiệp đang được đặt lên vị trí hàng đầu nhất là khi tỉnh ta có hàng loạt nông sản được bảo hộ. Nếu không xúc tiến, tìm kiếm được các dự án đầu tư khả thi vào những nông sản này thì có thể không lâu nữa chúng ta sẽ đánh mất giá trị thương hiệu.
Đối với quýt Bắc Kạn và hồng không hạt bài toán khó giải nhất hiện nay chính là làm cách nào để bảo quản vì có bảo quản được lâu thì mới có thể đem đi tiêu thụ rộng rãi làm tăng chuỗi giá trị. Đặc biệt đối với quả hồng, đặc trưng là phải ngâm nước thì mới có thể ăn được. Sau ngâm nước thì lại rất khó để được lâu. Tương tự là quýt sau hái xuống cũng chỉ có thể để được một thời gian ngắn, lại rất dễ hỏng nếu vận chuyển xa. Lời giải chỉ có thể là đầu tư cho công nghệ bảo quản và công nghiệp chế biến thành nhiều dạng sản phẩm từ nguyên liệu quả này.
Trong bối cảnh nhân lực thiếu, công nghệ còn chưa cao, năng lực doanh nghiệp địa phương yếu hoặc ít coi trọng lĩnh vực nông lâm nghiệp thì xúc tiến đầu tư mạnh hơn để thu hút đầu tư vào giải quyết bài toán này là tối quan trọng. Nếu không thì dù có trồng được nhiều, năng suất cao thì nông hộ vẫn sẽ phải bán theo kiểu manh mún làm giảm hiệu quả kinh tế, ảnh hưởng tới thương hiệu. Thực tế, từ vài năm trước tỉnh đã có dự án khuyến khích đầu tư chế biến các nông sản nói trên kể cả chè lẫn gừng để xuất khẩu nhưng tới nay vẫn chưa có dự án nào thành hiện thực.
Trong khi đó, với khả năng hiện tại của các nhà máy, hợp tác xã chế biến dong riềng thì một phần lớn lượng tinh bột dong sẽ lại được bán thay vì chế thành miến. Đây là điều hết sức đáng tiếc vì miến mới mang lại giá trị kinh tế lớn nhất trong chuỗi giá trị từ cây dong riềng. Điều cần là thu hút đầu tư thêm một vài nhà máy nữa có công suất lớn và bên cạnh sản phẩm chủ đạo là miến cần ưu tiên chế biến thêm nhiều sản phẩm khác từ tinh bột dong.
Công nghiệp chế biến gỗ của tỉnh đã đi đúng hướng nhưng chưa đủ về số lượng các cơ sở. Nhà máy ván ghép thanh, rồi tới đây là nhà máy ván MDF của Công ty Cổ phần Sahabak sẽ tiêu thụ rất nhiều gỗ nguyên liệu. Tuy vậy, hầu hết các sản phẩm mới chỉ ở bước sơ chế là chủ yếu. Về lâu dài xúc tiến đầu tư các dự án chế biến gỗ sâu hơn nữa là điều hết sức cần thiết và phù hợp với định hướng chiến lược của tỉnh.
Từ năm 2010 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2010/NĐ-CP quy định một số ưu đãi và hỗ trợ đầu tư bổ sung của Nhà nước dành cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, có 28 lĩnh vực được ưu đãi đầu tư bao gồm: trồng trọt; nuôi trồng nông, lâm, thủy hải sản, phát triển vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến...
Đất đai, đào tạo nhân lực, phát triển thị trường, dịch vụ tư vấn, áp dụng khoa học công nghệ, cước phí vận tải, kinh phí tiếp cận thông tin thị trường... sẽ là những hạng mục được Nhà nước ưu đãi và hỗ trợ. Đây là căn cứ để tỉnh triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ hơn nữa. Quan trọng nhất là tạo điều kiện về mặt bằng, hạ tầng cơ sở để các doanh nghiệp quan tâm có thể nhanh chóng triển khai dự án đầu tư mà không ngại chuyện tìm đất, giải phóng mặt bằng hay không đường, không điện. (Báo Bắc Kạn 28/12) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch tập huấn nghiệp vụ chuyên ngành Khuyến lâm - Chuyên đề phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR ) năm 2012, vừa qua, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư (TTKNKN) Cà Mau phối hợp với Chi cục Kiểm lâm, Phòng cảnh sát PCCC Công an tỉnh Cà Mau và các đơn vị quản lý bảo vệ rừng khai giảng lớp tập huấn về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và khuyến lâm.
Tham gia lớp học có 30 cán bộ là lao động hợp đồng PCCCR Vườn Quốc gia U Minh Hạ và Khuyến nông viên cơ sở địa bàn các xã có rừng tràm như: Khánh Lâm, Nguyễn Phích, Khánh Hòa, Khánh Thuận, Khánh Tiến, Khánh An (huyện U Minh), xã Khánh Bình Tây, Khánh Bình Tây Bắc (huyện Trần Văn Thời).
Trong 5 ngày tập huấn, các giảng viên đã cung cấp cho học viên một số văn bản pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng; xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng (Nghị định 09), Thông tư 01; trang bị kiến thức cơ bản về kỹ năng tuyên truyền và kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và công tác bảo vệ rừng có hiệu quả; công tác lâm sinh trong PCCCR;
Giới thiệu các máy móc, thiết bị chữa cháy rừng; tổ chức huy động lực lượng, phương tiện và triển khai đội hình chữa cháy rừng; an toàn lao động trong chữa cháy; công tác khám nghiệm hiện trường, điều tra làm rõ nguyên nhân vụ cháy; xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; giới thiệu một số biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng thiết thực nhằm giảm thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Phát biểu tại buổi lễ bế giảng lớp tập huấn, ông Nguyễn Trần Thức - Giám đốc TTKNKN tỉnh Cà Mau đã khẳng định, mặc dù thời gian học ngắn, dung lượng thông tin, kiến thức có liên quan lại nhiều nhưng với lòng tận tình của các giảng viên cùng với thái độ học tập nghiêm túc của các Khuyến nông viên cơ sở và các cộng tác viên phòng cháy chữa cháy rừng, lớp học đã thành công tốt đẹp. Hy vọng sau khi trở về đơn vị, các học viên có thể vận dụng các kiến thức được học vào công việc cụ thể trong các hoạt động phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương. (Theo Agroviet.gov.vn 27/12)đầu trang(
Gian nan tự thuở mới lọt lòng rồi được tắm mình trong gian khổ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã rèn đúc cho ông Trần Thanh Long, vị giám đốc gần bốn mươi năm chung thủy với nghiệp rừng. Ông là người trưởng thành từ thực tiễn, năng động, đổi mới cách nghĩ, tạo ra hướng đi đúng cho doanh nghiệp trong dòng chảy kinh tế thị trường...
Trần Thanh Long quê ở xã Ðức Lâm, Ðức Thọ, Hà Tĩnh. Năm 1969, học hết phổ thông trung học ông gia nhập TNXP mở đường (đội 1, Công ty xây dựng cơ bản lâm nghiệp Hà Tĩnh). Chín năm làm công nhân cầu đường, chàng thanh niên trẻ đã vượt qua bao đèo cao suối sâu, nếm trải những đêm nằm lán trại giữa rừng, những ngày khẩu phần ăn trưa chỉ được cấp chiếc bánh mì bằng nắp chuông xe đạp.
Bàn tay càng dày thêm nốt chai, Long càng hiểu đích thực ý nghĩa của cuộc đời là cống hiến. Không có việc nào được giao mà Long từ chối. Ông tâm sự: "Mình có kỹ năng giao tiếp, nói năng lưu loát nhờ một thời làm cán bộ đoàn, có ý thức chi tiêu bắt đầu từ làm chân tiếp phẩm tính toán từ mớ rau, quả trứng mua về nấu ăn cho tập thể".
Còn bây giờ, nhắc tới Trần Thanh Long - Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Cao-su Hương Khê - Hà Tĩnh không ai không biết. Mọi người thán phục một con người "miệng nói tay làm". Nhiều kinh nghiệm thực tiễn qua quá trình làm việc ở nhiều cơ quan khác nhau đã giúp cho ông có phương pháp tốt trong điều hành bộ máy, quản lý đơn vị và định hướng đi đúng cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh.
Khi ông Long nhận quyết định điều động của Sở Lâm nghiệp Hà Tĩnh về làm Giám đốc Lâm trường trồng rừng Hương Khê vào tháng 3-1996, doanh nghiệp này đang có nguy cơ đổ bể. Những cánh rừng thông bạt ngàn, dồi dào sức nhựa bị dồn ứ trên cây vì không có khách hàng. Kinh doanh không tiêu thụ được sản phẩm thì "dạ dày" người lao động bị "lép kẹp" là điều tất yếu. Nhiều công nhân nghỉ việc không lương, nợ quá hạn ngân hàng lên tới hàng trăm triệu đồng. Ðoàn kết nội bộ bị rạn nứt. Nhà xưởng quạnh hiu.
Ông Long đã bắt đầu "lập trình" những giải pháp cụ thể để đưa doanh nghiệp vượt qua chặng khó. Ðiều quan trọng là ông nhìn rõ tiềm năng của rừng và sức mạnh của người lao động. Ông trăn trở: Một doanh nghiệp được giao quản lý tới 13.000 ha rừng và đất lâm nghiệp trong đó có hơn 3.000 ha rừng thông mà 200 công nhân phải chịu đói thì vô lý quá. Vấn đề lớn được Long gỡ rối lúc này là nhen lên niềm tin cho người lao động và tìm thị trường lưu thông sản phẩm nhựa thông.
Cuộc họp đầu tiên ra mắt giám đốc mới, ông Long đứng trên bục hội trường dõng dạc: "Các đồng chí có thể chưa tin tôi nhưng tôi rất tin các đồng chí. Lúc này hơn lúc nào hết phải củng cố lại tinh thần đoàn kết. Không được kéo bè kéo cánh, không bới móc chuyện cũ để gây hoang mang cho mọi người". Cuộc họp chỉ hai tiếng đồng hồ xoay quanh chủ đề "chỉnh đốn tư tưởng người lao động" nhưng ai nghe cũng thấy giám đốc mới nói có lý, có tình. Họ cảm thấy trút được những bức xúc từ lâu dồn nén. Buổi chiều hôm sau, tại cuộc họp chi bộ, ông Long đang ngồi ở hàng ghế đầu, khi bí thư đang điều khiển, ông phát hiện ở hàng ghế cuối một đảng viên ngồi quay lưng lại không thèm nghe báo cáo của bí thư. Trước thái độ của người đảng viên nọ, ông yêu cầu chi bộ dừng họp ít phút để cảnh cáo hành vi này...
Củng cố được lòng tin trong Ðảng, trong quần chúng là nền tảng vững chắc nhất để Giám đốc Trần Thanh Long tin ở mình có thể xoay chuyển được tình thế trong sản xuất kinh doanh. Từ ngày ấy trở đi, ông thường xuyên ăn không đúng bữa, ngủ không đầy giấc. Hết ra Hà Nội lại vào Sài Gòn, hết đệ trình hồ sơ từ cơ quan này tới cơ quan khác. Ông cố gắng hoàn tất những nội dung công việc của mình bắt đầu từ những chuyến đi.
Kết quả mang về là sản phẩm nhựa thông đã được ký kết xuất khẩu sang Ấn Ðộ. Năm 1996, năm đầu tiên trong "lịch sử" đơn vị đã xuất khẩu 970 tấn nhựa thông trong kế hoạch khai thác 1.000 tấn. Người lao động bắt đầu có mức thu nhập ổn định, cơ quan có ít tiền trả nợ dần ngân hàng và nộp ngân sách. Năm 1997, lâm trường chính thức đổi tên thành Công ty sản xuất kinh doanh thông Hà Tĩnh.
Ông Long tâm sự: "Từ năm 1997 - 2007, năm nào đơn vị cũng xuất khẩu được từ 700 đến 900 tấn nhựa. Không chỉ giải quyết việc làm cho công nhân, đơn vị còn giúp cho hàng trăm nông dân có thêm thu nhập bằng thuê hợp đồng chích nhựa".
"Rừng thông đang đẹp thế và nguyên liệu đầu ra đang ổn định sao lại chuyển hướng sang trồng cây cao-su?". Ông Long giải thích: "Trồng cao-su là chiến lược lâu dài và bền vững nhất cho tương lai và định hướng này được Chính phủ khuyến khích, lãnh đạo tỉnh ủng hộ". Nhưng sự chuyển đổi cũng không phải dễ dàng, lúc đầu người dân chống đối.
Dành hẳn một năm trời để vận động người dân Sơn Hồng nghe và đồng thuận chuyển đổi hơn 850 ha rừng nghèo sang trồng cao-su không chỉ có ông mà cán bộ, nhân viên công ty cũng trưởng thành lên nhiều từ công tác dân vận. Khi dân đã thuận thì không có việc gì gắn được với lợi ích của dân mà dân không theo. Bây giờ công ty đã mở ra tới 7 nông trường trồng cao-su tại bốn huyện: Hương Khê, Vũ Quang, Ðức Thọ, Hương Sơn với diện tích được quy hoạch 10.000 ha, trong đó hơn 4.000 ha đất trồng cao-su đã bắt đầu khép tán.
Ðã được tặng nhiều bằng khen, huân chương và cả cúp vàng "Vì sự phát triển doanh nghiệp Việt Nam", nhưng điều hạnh phúc nhất của Trần Thanh Long là một ngày không xa những cánh rừng cao-su bạt ngàn mầu xanh kia sẽ thi nhau tuôn dòng mủ trắng. Ông thấy vui, vì những hướng "đột phá" trong sản xuất, kinh doanh của mình và tập thể đơn vị đang trở thành hiện thực. (Nhân Dân 28/12)đầu trang(
TS Nguyễn Vũ Giang và cộng sự thuộc Viện Kỹ thuật Nhiệt đới (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) vừa hoàn thành đề tài "Nghiên cứu chế tạo vật liệu compozit trên cơ sở nhựa polylefin và bột gỗ ứng dụng làm vật liệu xây dựng, kiến trúc nội - ngoại thất".
Theo đó, các nhà khoa học đã tận dụng phế liệu gỗ tạo ra sản phẩm giả gỗ thân thiện với môi trường, có thể dùng làm tấm lát sàn, ốp tường, hàng rào cho công trình xây dựng, phụ kiện chi tiết cho công nghiệp sản xuất ô tô, tàu hỏa với giá thành chỉ bằng 1/3 sản phẩm ngoại nhập đang bán trên thị trường. Ưu điểm của công nghệ là tạo ra sản phẩm có khả năng chịu ẩm, bền với các loại thời tiết, chịu lực tốt.
Được biết, loại vật liệu compozit nhựa - gỗ đã được chế tạo, thử nghiệm thành công tại Phòng thí nghiệm của Viện Kỹ thuật Nhiệt đới, bước đầu triển khai sản xuất trên quy mô công nghiệp. (Hà Nội Mới 28/12)đầu trang(
Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới vừa phát hiện loài ếch cây ở vùng cao phía bắc Việt Nam, có tiếng kêu giống tiếng chim hơn là tiếng ếch đặc trưng. Đây là sự hòa trộn của các âm huýt, tiếng lách cách, líu lo theo một thứ tự độc đáo. (Hà Nội Mới 28/12)đầu trang(
Viện Khoa học lâm nghiệp đã lai tạo thành công giống keo lai BV10, phù hợp cho sản xuất giấy, ván dăm, ván sợi, ván MDF và làm gỗ xẻ sản xuất đồ mộc gia dụng.
Giống này có thể trồng ở nhiều dạng đất và điều kiện khí hậu khác nhau, từ vùng đất đồi trọc nghèo dinh dưỡng ở miền Bắc đến đất phèn bán ngập ở Đồng bằng sông Cửu Long. (Hà Nội Mới 28/12)đầu trang(
Rừng A Đăng, thuộc xã Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị có mật độ che phủ và trữ lượng gỗ lớn như: Gõ, dỗi, chũa, đào..., song 1 năm trở lại đây, những cánh rừng này bị tàn phá một cách không thương tiếc.
Cơ quan chức năng vào cuộc đẩy, đuổi “nạn” phá rừng này lập tức bị các đối tượng khai thác gỗ trái phép tấn công, chống trả quyết liệt. Có nhiều đợt truy quét, lực lượng chức năng buộc phải nổ súng cảnh cáo, nhưng rừng ở A Đăng vẫn không ngừng chảy máu.
Theo báo cáo của UBND xã Tà Rụt, trong những lần gần đây, lực lượng chức năng gồm: Kiểm lâm, CA xã, lực lượng dân quân địa phương tiến hành ngăn chặn “lâm tặc” phá rừng đều bị các đối tượng phá rừng tấn công với những hung khí như: Rựa, dao, gậy gộc.
Nghiêm trọng nhất là đợt truy quét “lâm tặc” tại rừng A Đăng vào ngày 10- 12- 2012, lực lượng cán bộ chức năng tại xã Tà Rụt đã bị 12 đối tượng “lâm tặc” dùng gậy gộc, dao... lao vào tấn công. Vụ tấn công chỉ được ngăn chặn khi cán bộ kiểm lâm buộc phải nổ súng chỉ thiên.
Tuy nhiên, ngay sau đó, một số cán bộ kiểm lâm tại xã Tà Rụt bị một số đối tượng lái xe chở gỗ lao thẳng vào người, rất may các cán bộ kiểm lâm đã tránh kịp.
Theo ông Lợi, cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Tà Rụt cho biết, “lâm tặc” hoạt động tại rừng A Đăng hiện rất tinh vi và táo tợn. Ngoài việc tấn công cán bộ chức năng, chúng còn xây dựng một hệ thống “vệ tinh”. Mỗi khi phát hiện bóng của cán bộ chức năng lập tức chúng báo cho đồng bọn thu dọn hiện trường và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Hồi đầu, cán bộ kiểm lâm đã tiến hành cải trang thành người dân thì cũng bắt được một vài vụ phá rừng, song những ngày này hễ cán bộ chức năng xuất phát vào rừng là “lâm tặc” đã biết. Kiểm lâm chuyển qua phương án là thu máy cưa để hạn chế “lâm tặc” vào rừng đốn gỗ. Nhưng trên thực tế, việc này cũng không thể hạn chế được tình rạng phá rừng.
Lý do, là các đối tượng chủ yếu là người địa phương (đồng bào dân tộc), sau khi bị thu cưa, các đối tượng “lâm tặc” lại về ngân hàng chính sách vay tiền mua cưa máy tiếp tục vào rừng chặt gỗ. Trong khi đó, lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn quá mỏng, không thể quản lý được.
Ông Lợi kiến nghị, để giữ được rừng đầu nguồn A Đăng, các cơ quan chức năng cần quan tâm chú trọng vào việc tuyên truyền và tạo công ăn việc làm, đặc biệt là con em đồng bào dân tộc thiểu số. (Pháp Luật&Xã Hội 27/12)đầu trang(
Thời gian gần đây, dư luận, công luận đã phản ánh tình trạng khai thác vàng trái phép, hủy hoại tài nguyên rừng và gây ô nhiễm môi trường ở Quảng Nam ngày càng phức tạp. Thực ra, các doanh nghiệp khai thác vàng có phép hẳn hoi, nhưng suy cho cùng việc cấp phép này trái pháp luật...
Quảng Nam là một tỉnh có diện tích đất rừng khá lớn, được thiên nhiên ưu đãi ban tặng nhiều tài nguyên rừng phong phú. Trên cơ sở kết quả thăm dò địa chất và từ năm 2006 trở lại đây, UBND tỉnh Quảng Nam đã ký nhiều quyết định cấp phép cho các doanh nghiệp khai thác, chế biến vàng gốc ở các địa phương trong tỉnh.
Xin nêu một trường hợp minh chứng: Tại Quyết định 3234/QĐ-UBND ngày 03-10-2008 đã thu hồi 14,17ha đất rừng do các hộ dân đang sử dụng tại khu vực Hố Chuối, thôn 2, xã Sông Trà, huyện Hiệp Đức, cho Công ty TNHH khoáng sản Phúc Thuận (Cty Phúc Thuận) thuê để sử dụng vào mục đích khai thác khoáng sản, chế biến vàng gốc.
Quyết định có hiệu lực ngay kể từ ngày ký và giao cho UBND huyện Hiệp Đức thực hiện việc cắm mốc, giao đất, thu hồi đất; phối hợp với Cty Phúc Thuận bồi thường thiệt hại cho chủ sử dụng đất bị thu hồi. Tuy Quyết định 3234/QĐ-UBND căn cứ Luật Khoáng sản sửa đổi, bổ sung năm 2005, nhưng thực chất việc thu hồi đất để cho thuê đất khai thác vàng gốc là trái với Luật Khoáng sản quy định: "UBND cấp tỉnh cấp phép khai thác tận thu đối với khoáng sản còn lại ở mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ để thanh lý hoặc bãi thải trong khai thác, chế biến của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ” (Điểm d, Khoản 1, Điều 3b; Điểm b, Khoản 1, Điều 56; Khoản 1, Điều 49).
Và Nghị định số 160/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản. Điểm c, Khoản 4, Điều 12 quy định: "UBND cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng đối với các loại khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp giấy phép quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 56 của Luật Khoáng sản sau khi được HĐND cùng cấp thông qua”.
Quyết định 3234/QĐ-UBND không phải thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai năm 2003. Việc cho Cty Phúc Thuận thuê đất khai thác khoáng sản vì lợi ích kinh tế thì không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất theo quy định tại Khoản 2, Điều 40 Luật Đất đai năm 2003 và trên cơ sở cho thuê đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tạo điều kiện cho nhà đầu tư thỏa thuận việc bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất với người đang quản lý sử dụng đất mới bình đẳng quyền lợi hợp pháp giữa bên thuê với bên cho thuê đất.
Trong trường hợp này, quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh giao cho Cty Phúc Thuận phối hợp với UBND huyện Hiệp Đức bồi thường thiệt hại về đất, cây cối, hoa màu và vật kiến trúc gắn liền trên đất theo đúng phương án được duyệt là không đúng với Khoản 2, Điều 52 Luật Khoáng sản.
Quyết định 3234/QĐ-UBND có hiệu lực kể từ ngày ký và giao cho UBND huyện Hiệp Đức trực tiếp thu hồi đất của người đang quản lý sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, nhưng UBND huyện Hiệp Đức chưa triển khai thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản. Vô hình trung, UBND tỉnh Quảng Nam cho thuê đất khai thác vàng gốc tùy tiện đối với diện tích đất của người dân đang quản lý sử dụng trước khi bị thu hồi là không đúng nguyên tắc, trái thẩm quyền theo quy định của Luật Khoáng sản và không biết HĐND cùng cấp có đồng tình với UBND tỉnh trong việc cho thuê đất khai thác, chế biến khoáng sản vàng gốc này hay không?
Cũng trong năm 2008, UBND tỉnh Quảng Nam có quyết định cho phép Công ty cổ phần Quảng Cường (Khối 5, thị trấn Ái Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) khai thác, chế biến vàng gốc tại thôn Hà Thanh, xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc. Sau khi có giấy phép khai thác, chế biến vàng gốc trong tay, Công ty cổ phần Quảng Cường ký hợp đồng cho ông Nguyễn Năm (hộ khẩu thường trú tại SN 48, Khu phố 5, phường Linh Tây, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh) thuê lại để hưởng chênh lệch 40% giá trị sản phẩm khai thác, chế biến thu được. Điều lạ là, doanh nghiệp và cá nhân nêu trên ký hợp đồng thật mà thấy như đùa.
Bởi, hình thức của hợp đồng là căn cứ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế của Hội đồng nhà nước ban hành năm 2007, nhưng năm 2007 làm gì còn cơ quan "Hội đồng nhà nước”? Và căn cứ Nghị định số 17/HĐBT ngày 16-01-1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989.
Hai văn bản này đã được bãi bỏ kể từ ngày 01-01-2006, khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành. Hơn nữa, hợp đồng kinh tế này không được công chứng thì không thể có giá trị pháp lý theo quy định của Luật Công chứng năm 2007, nhưng nó vẫn tồn tại và làm phương tiện cho doanh nghiệp, cá nhân mặc sức phá rừng.
Đây là 2 trong 9 trường hợp cụ thể chứng minh cho việc cấp phép khai thác, chế biến vàng gốc trái quy định của pháp luật về khoáng sản. Vô hình trung chính quyền địa phương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân lợi dụng để hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường sinh thái trên các vùng núi ở tỉnh Quảng Nam. Hy vọng những người có trách nhiệm ở địa phương này có câu trả lời trước công chúng, đồng thời có biện pháp khắc phục hậu quả đã và đang xảy ra để trả lại môi trường sống và sự bình yên của núi rừng. (Đại Đoàn Kết 27/12)đầu trang(
27-12, Cục Hải quan tỉnh Hà Tĩnh đã bàn giao tang vật 100 con tê tê còn sống (trọng lượng 500 kg) với tổng giá trị ước tính 2 tỉ đồng cho Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh xử lý (ảnh).
Cục cũng phối hợp cơ quan chức năng mở rộng điều tra đường dây vận chuyển động vật hoang dã từ Lào vào Hà Tĩnh.
26-12, trong quá trình kiểm tra, giám sát tại Trạm kiểm soát nội địa Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo (huyện miền núi Hương Sơn, Hà Tĩnh), tổ công tác chống buôn lậu Cục Hải quan Hà Tĩnh cùng các đơn vị liên quan phát hiện xe tải không mang biển số vận chuyển động vật hoang dã từ Lào xuống quốc lộ 8A. Khi bị tổ công tác đuổi theo, các đối tượng đã vứt xe lại, trốn thoát vào rừng. Cục Hải quan Hà Tĩnh đã thu giữ chiếc xe cùng 100 con tê tê. (Dân Trí 27/12; Thanh Niên 278/12; Pháp Luật TPHCM 28/12; Vov.vn 27/12; Sài Gòn Giải Phóng 27/12)đầu trang(
Liên quan đến việc cho hạ gần 26 ha rừng đước ở Khu bảo tồn thiên nhiên huyện Thạnh Phú (Bến Tre), Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ và Đặc dụng tỉnh cùng lãnh đạo Sở NN&PTNT đã vi phạm nguyên tắc quản lý, gây thiệt hại nghiêm trọng. Công an tỉnh Bến Tre vừa có kết luận như trên.
Theo kết luận của Công an tỉnh Bến Tre, việc Sở NN&PTNT cho phép khai thác trắng vùng rừng thuộc khu bảo tồn trên là không đủ cơ sở pháp lý.
Cuối tháng 4-2012, BQL rừng lập tờ trình gửi Sở NN&PTNT xin được khai thác khoảng 2.000 m3 gỗ với lý do diện tích rừng trồng nêu trên bị sâu bệnh tấn công, phải đốn bỏ để trồng lại. Sau đó, tỉnh cho chủ trương khai thác vào đầu tháng 6, Sở NN&PTNT đã phê duyệt thiết kế khai thác tận thu rừng đước. Đồng thời, Sở cũng có công văn cho phép BQL rừng được chỉ định đơn vị khai thác.
Kết quả, DNTN gỗ Tuấn An (xã Thạnh Phong, Thạnh Phú) được chỉ định khai thác khoảng 3.000 ster củi, trị giá bán củi hơn 1,8 tỉ đồng. Số tiền này sẽ được nộp vào ngân sách Nhà nước.
Việc khai thác tiến hành với thời hạn cho phép mở cửa rừng trong vòng ba tháng. Tuy nhiên, qua đơn thư tố cáo của công dân, ngày 16-8, Thanh tra Sở NN&PTNT ra quyết định tạm đình chỉ hợp đồng khai thác, đồng thời phối hợp với Phòng PC46 Công an tỉnh Bến Tre làm rõ những dấu hiệu sai phạm và đề xuất hướng xử lý số gỗ đã đốn hạ còn lại trong rừng…
Mới đây, Chi cục Bảo vệ thực vật Bến Tre có báo cáo gửi cơ quan điều tra, cho biết qua khảo sát thực tế, trên diện tích rừng đước bị khai thác, số cây đước chưa bị đốn hạ và những lô rừng lân cận phát triển bình thường. Quan sát số gỗ đã đốn không thấy có dấu hiệu phát triển của sâu bệnh. “Nếu sâu bệnh xâm hại đến mức phải đốn bỏ thì sâu bệnh sẽ lan ra các lô xanh tốt xung quanh nhưng thực tế không hề có vết tích nào của sâu bệnh phát tán” - Chi cục Bảo vệ thực vật Bến Tre nhận định.
Về việc bán chỉ định số rừng trên, ngày 17-12, bà Trương Thị Yến, Phó Giám đốc Sở Tài chính, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định giá và bán đấu giá tài sản tỉnh Bến Tre, gửi báo cáo cho cơ quan điều tra, khẳng định việc bán tài sản của Nhà nước thông qua đấu giá là sai quy định.
Theo kết quả thẩm định, tổng giá trị thiệt hại do BQL rừng bán chỉ định cho DNTN gỗ Tuấn An là gần 2,1 tỉ đồng. Trong đó, giá trị thiệt hại do bán chỉ định trên 1,1 tỉ đồng, thiệt hại do củi giảm chất lượng gần 977 triệu đồng. Để khắc phục hậu quả, cơ quan chức năng của tỉnh đã bán đấu giá toàn bộ số gỗ còn lại trong rừng cho một đơn vị khác trúng thầu khai thác.
Ngày 26-12, Đại tá Lê Minh Trung, Phó Giám đốc Công an tỉnh Bến Tre, cho biết toàn bộ vụ việc có dấu hiệu sai phạm khá nghiêm trọng. Hiện cơ quan điều tra đang thu thập và củng cố chứng cứ để báo cáo UBND tỉnh. (Pháp Luật TPHCM 28/12)đầu trang(
27.12 liên quan đến ba cây sưa bị chặt hạ tại Hung Trí, Ban quản lý VQG Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết đã có kết luận bước đầu về hai Hạt phó kiểm lâm có nghi vấn cấu kết lâm tặc mà dư luận phản ứng.
Ông Hoàng Hải Vân, phó giám đốc VQG Phong Nha-Kẻ Bàng được chỉ định làm tổ trưởng tổ điều tra các kiểm lâm viên và hai Hạt phó kiểm lâm Phong Nha gồm ông Nguyễn Hữu Trí, ông Hoàng Văn Quế liên quan đến nghi ngờ cấu kết với lâm tặc để thông quan gỗ sưa lậu và lấy sưa lậu của lâm tặc nhằm bảo kê.
Ông Hoàng Hải Vân cho biết, bước đầu xác định ông Nguyễn Hữu Trí đã có chỉ đạo một nhóm 7 kiểm lâm viên gùi một gùi gỗ sưa ra khỏi Hung Trí. Lời khai của nhóm kiểm lâm được chứng thực bởi ông Vân qua kết luận gửi lãnh đạo Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, riêng về hạt phó Quế, ông Vân nói không đủ thuyết phục để nói ông Quế bảo kê cho 100 người gùi 100 phác gỗ sưa ra khỏi rừng do lời khai các kiểm lâm không xác thực việc đó.
Được biết, gùi gỗ mà ông Trí chỉ đạo gùi ra theo một nguồn tin tin cậy, có trọng lượng nặng hơn 70kg. Hiện không ai biết gùi gỗ trên ông Trí để ở đâu, làm gì, chính vì đó, tổ xác minh nội bộ của ông Vân đã kiến nghị với cấp trên chuyển cơ quan công an điều tra làm rõ thêm. (Sài Gòn Tiếp Thị 28/12)đầu trang(
Trong thời gian từ ngày 17-21/12, Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé phối hợp với một số ngành liên quan đã phát hiện, thu giữ tại địa bàn bản Nậm Sả và Huổi Pinh xã Mường Toong 15,5m3 gỗ xẻ thuộc nhóm V, không rõ nguồn gốc đang được cất giấu trong rừng.
Hiện nay, lực lượng kiểm lâm đang tổ chức triển khai đợt truy quét trên diện rộng nhưng trước mắt tập trung ở các địa bàn trọng điểm đang diễn ra tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Như vậy từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé đã kiểm tra, phát hiện 11 vụ vi phạm lâm luật, thu giữ trên 77m3 gỗ các loại, xử phạt thu nộp ngân sách Nhà nước trên 225 triệu đồng. (Đài PT – TH Điện Biên 28/12)đầu trang(
27/12, Công an tỉnh Phú Yên đã chuyển giao tang vật vụ chuyển gỗ lâu cho Chi cục kiểm lâm tỉnh Phú Yên xử lý theo thẩm quyền.
Trước đó, 24/12, tổ tuần tra Cảnh sát giao thông phát hiện xe khách 16 chỗ vận chuyển 2,749m3 gỗ lậu tư Tây Nguyên xuống. Khi bị kiểm tra, lái xe đã bỏ trốn.
Theo cơ quan chức năng, chiếc xe chở hàng thuộc sở hữu của ông Phạm Xuân Giáo ở Gia Lai, đến 31/12, chiếc xe tải nêu trên hết niên hạn sử dụng nhưng thực tế chiếcc xe này không đăng kiểm từ tháng 6/2008. (Công An Nhân Dân 28/12))đầu trang(
Bạn đọc Vũ Thị Mai Anh ở xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú phản ánh: Chích choè lử là một trong những loài chim quý ở rừng Nam Cát Tiên thuộc xã Đồng Tâm đang có nguy cơ bị tận diệt bởi những thợ săn.
Mỗi khi pháy hiện ra chích choè lửa, các thợ săn bèn dựng trại nấu cơm và ngủ lại, chờ đến 5 giờ sáng hôm sau để tìm cách bắt bằng được. (Nông Thôn Ngày Nay 28/12) đầu trang(
Chiều 26-12, trước tình trạng mua bán cây xáo tam phân ồ ạt ở thị xã Ninh Hòa, TS Nguyễn Thướng - Chủ tịch Hội Đông y tỉnh Khánh Hòa cho biết: “Hiện có thông tin một số cá nhân biết về bài thuốc trị ung thư bằng cây xáo tam phân.
Để bài thuốc được lưu hành, các cá nhân có bài thuốc phải đăng ký với ngành y tế theo quy định. Tuy nhiên, đa số bài thuốc gia truyền đều có những bí mật riêng nên những người có bài thuốc bí truyền đều không muốn công bố. Đây chính là vấn đề rất khó cho cơ quan chức năng”.
Ông Thướng cũng cảnh báo: “Người tiêu dùng cần cẩn trọng khi sử dụng cây xáo tam phân. Không nên nghe theo tin đồn mà mua thuốc về dùng, nhất là trước tình trạng có quá nhiều cây thuốc giả như hiện nay”.
Trong khi đó, theo nguồn tin riêng của Tuổi Trẻ, từ cuối năm 2010 Công ty Hồng Lĩnh (trụ sở tại Hà Nội) đã nghiên cứu về cây xáo tam phân và bài thuốc “trị ung thư”. Hiện công ty này đang trình hồ sơ xin cấp bằng sáng chế và trong thời gian tới sẽ công bố chính thức bài thuốc.
Công ty Hồng Lĩnh cũng khuyến cáo người bệnh không nên sử dụng cây xáo tam phân khi không có sự hướng dẫn của lương y, bác sĩ. Khách hàng không nên mua thuốc đã xắt lát và lưu ý cây xáo tam phân khi sử dụng chỉ phát huy được hiệu quả khi kết hợp với các vị thuốc khác. (Tuổi Trẻ 27/12)đầu trang(
Đó là khẳng định của kỹ sư Trần Giỏi, Chi cục Lâm nghiệp Khánh Hòa, về cây xáo tam phân đang bị mua bán và khai thác với tốc độ khủng khiếp ở Khánh Hòa hiện nay.
Khẳng định này được đưa ra tại Hội thảo khoa học về “Bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh giai đoạn 2013-2020” vừa tổ chức ngày 25/12, do Sở KH&CN tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Viện Sinh thái học Miền Nam tổ chức nhằm đưa ra đề án khung cho việc bảo vệ các nguồn gen động, thực vật quý hiếm, mang tính đặc hữu của Khánh Hòa và Việt Nam trong thời gian tới.
Tại hội thảo, báo cáo được nhiều đại biểu quan tâm là việc bảo vệ nguồn gen cây xáo tam phân, loại cây mới được phát hiện ở rừng Hòn Hèo (thị xã Ninh Hòa) nhưng đã bị khai thác kiệt quệ đến mức khó tìm gặp trong tự nhiên.
Theo kỹ sư Trần Giỏi, ông và các cộng sự đã nhanh chóng vào cuộc tìm hiểu ngay khi có thông tin về loại cây này và cũng không khỏi xót xa khi mỗi lần đi thực tế tại Hòn Hèo là một lần chứng kiến sự mất đi nhanh chóng loại cây trên.
Tháng 4/2012, khi tiếp cận rừng Hòn Hèo, ông và cộng sự chỉ mất khoảng 100m vào rừng là dễ dàng tìm được cây, người dân Ninh Vân chèo kéo khách bán với giá rẻ 50-70 nghìn đồng/kg rễ khô. Nhưng đến ngày 18/12, khi ông trở lại đã không thể tìm thấy một cây nào dù luồn rừng cả km.
Đến thời điểm này, danh pháp của cây xáo tam phân còn nhiều nghi ngại do tốc độ khai thác quá nhanh nên các nhà nghiên cứu vẫn chưa thu thập được đầy đủ hoa và quả của nó. Qua nghiên cứu, kỹ sư Giỏi và cộng sự cũng phát hiện 2 loài khác cùng họ, tuy nhiên những mẫu thu được cho thấy 2 loại này có sự khác biệt về gai, lá và rễ cây có mùi hắc hơn so với mẫu cây ở Hòn Hèo.
Với tình trạng khai thác kiệt quệ cây xáo tam phân ở rừng Hòn Hèo, kỹ sư Giỏi nhấn mạnh: “Hàng trăm người ngày nào cũng vào rừng tìm cây thì có lập hàng chục chốt kiểm tra kiểm soát cũng không thể bảo vệ được. Việc khoanh vùng bảo tồn cũng không nên làm lúc này vì rừng đã hết nếu ta khoanh tạm thì lại vô tình là tiêu điểm để người ta triệt hạ”.
Theo ông Giỏi, giải pháp chính hiện nay là tái sinh tự nhiên và nghiên cứu nhân giống. Từ đó gây trồng và phát triển cây xáo tam phân trong từng hộ gia đình, nhằm giữ được nguồn gen bền vững.
Nhiều nhà khoa học tại hội thảo cho rằng việc công bố thông tin về dược tính của cây xáo tam phân khi mới chỉ thực nghiệm trên động vật đã tác động mạnh đến tâm lý người dân. Lợi dụng điều này nhiều người đã thổi phồng thêm tác dụng của cây là “thần dược chữa ung thư”, khiến cho loài cây quý bị tiêu diệt.
Hiện nay người dân còn tận diệt cả cây con đào về bán với giá 10.000 đồng/cây. Giá cây phơi khô cũng bị đẩy lên 1,1 - 1,7 triệu đồng/kg. Kỹ sư Giỏi nói thêm, nhiều người mua xáo tam phân ở Ninh Vân về nhờ ông kiểm chứng nhưng “đa số các mẫu này đều là giả, mỗi kg thuốc có được 30% xáo tam phân thật đã là may mắn. Có những mẫu cây giả 100%”. (Dân Trí 27/12)đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Dựa trên khung bản đồ phân bố các loài động vật trên toàn thế giới được nhà sinh học Alfred Russell Wallace vẽ theo thuyết tiến hóa của Charles Darwin, một nhóm nhà khoa học đã công bố phiên bản bản đồ mới cập nhật với tổng cộng hơn 20.000 loài động vật có vú, chim và động vật lưỡng cư đang sống trên trái đất.
Trưởng nhóm nghiên cứu, ông Ben Holt ở Đại học Copenhagen (Đan Mạch) cho biết, phiên bản mới đã dựa trên bản đồ đầu tiên của Wallace từ đó cập nhật các dữ liệu trong một thời gian dài và mô tả một cách cực kỳ chi tiết hàng ngàn loài động vật có xương sống được phân bố trong thế giới tự nhiên.
Toàn bộ bản đồ được chia thành 11 khu vực địa lý và 20 khu vực phân bố động vật. Riêng các loài vật ở đảo Madagascar có một khu vực riêng. Nhìn vào dữ liệu bản đồ cho thấy, ở Nam bán cầu có sự đa dạng sinh học lớn hơn so với Bắc bán cầu. Hiện nay dữ liệu bản đồ mới có động vật có vú, chim và động vật lưỡng cư. Các lớp động vật khác sẽ được thêm vào sau.
Những dữ liệu của bản đồ mới lần này có thể được sử dụng để làm các bản đồ khu vực quy mô nhỏ hơn. Thậm chí được đưa vào Google Earth hoặc chương trình Hệ thống thông tin địa lý. Ngoài ra, bản đồ mới còn sử dụng các nguồn tài nguyên dữ liệu hầu như không thể tưởng tượng được trong thời gian của Wallace. Nó sử dụng phương pháp phân tích di truyền để xác định các loài cộng với phương pháp mô tả giải phẫu cổ điển mà Wallace sử dụng.
Để hoàn thành bản đồ mới này đã có tổng cộng 15 nhà nghiên cứu làm việc miệt mài trong 20 năm mới biên soạn ra. Việc phát triển bản đồ phân bố của các loài động vật sẽ góp phần làm rõ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu đối với môi trường sống và ảnh hưởng của các loài xâm lấn. “Bản đồ cung cấp thông tin cơ bản quan trọng đối với nghiên cứu sinh thái và tiến hóa trong tương lai. Nó cũng có ý nghĩa lớn trong việc bảo tồn trong bổi cánh khủng hoảng đa dạng sinh học và thay đổi môi trường trên toàn cầu”, ông Jean-Philippe Lessard ở Đại học McGill, Canada nói. (Đất Việt 28/12)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||