|
Ngày 26 tháng 12 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
25-12, Bộ NN&PTNT có tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo Quyết định của Thủ tướng cấm xuất, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã, quý hiếm.
Theo tờ trình, các mẫu vật hoang dã nguy cấp sẽ cấm là tê giác trắng, tê giác đen và voi châu Phi. Các loài vật trên nằm trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cites).
Bộ NN&PTNT cho biết, gần đây, hoạt động xuất, nhập khẩu, mua bán trái phép mẫu vật của các loài tê giác và voi tại Việt Nam được dư luận quốc tế quan tâm, nhiều người Việt Nam bị bắt giữ, phạt tù do vi phạm tại các nước như Nam Phi, Mozambic.
Nhiều người Việt Nam đã lợi dụng việc săn bắn, xuất khẩu hợp pháp của một số nước châu Phi và quy định của Cites để nhập các mẫu vật trên, sau đó xuất khẩu hoặc mua bán trái phép, gây ảnh hưởng uy tín quốc gia. (Tiền Phong 26/12)đầu trang(
Trước tình trạng nhiều loài sinh vật ngoại lai được du nhập vào nước ta trong khi công tác kiểm soát, ngăn ngừa còn lỏng lẻo, Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lại xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020.
Mục tiêu đặt ra là tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị kiểm dịch trong việc kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai.
Theo đó, sẽ kiểm soát và lập danh mục, hồ sơ theo dõi các loài sinh vật ngoại lai nhập khẩu vào Việt Nam. Giai đoạn từ năm 2013 - 2020, sẽ kiểm soát và diệt trừ loài ngoại lai đang xâm hại nghiêm trọng ở Việt Nam, bao gồm: ốc bươu vàng, cây mai dương, cây trinh nữ móc. Phát triển hệ thống cảnh báo sớm tại 3 miền Bắc, Trung và Nam, bao gồm việc thông báo những trường hợp loài ngoại lai xâm hại mới xuất hiện hoặc dự báo xuất hiện; thiết lập mạng lưới chia sẻ thông tin trong kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại.
Để giúp cơ quan chức năng chủ động ngăn chặn sinh vật ngoại lai nhập khẩu, đề án đặt ra nhiệm vụ tổ chức đào tạo, tập huấn cho các cán bộ quản lý chuyên môn các chi cục bảo vệ môi trường, chi cục bảo vệ thực vật, ban quản lý các khu bảo tồn và cán bộ kiểm dịch tại 47 trạm, chốt kiểm dịch, cán bộ hải quan tại 18 cửa khẩu quốc tế giáp biên giới với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia về nhận dạng các loài ngoại lai xâm hại, các quy định kiểm dịch, kiểm tra biên giới nhằm kiểm soát các loài ngoại lai khi nhập vào Việt Nam. (Sài Gòn Giải Phóng 26/12)đầu trang(
Điều này được ông Phạm Quốc Doanh, Phó trưởng Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, Phó trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 28-NQ/TW khẳng định khi trao đổi với chúng tôi về quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông, lâm trường quốc doanh (NLTQD) hiện nay.
Ông Phạm Quốc Doanh cho biết: Về sử dụng quỹ đất các NLT, có thể thấy, 10 năm là khoảng thời gian đủ để khẳng định một quyết sách phù hợp với thực tế hay không. Lời hứa với Chính phủ là hết năm 2012 về cơ bản phải hoàn thành việc rà soát đất NLT, nhưng đến nay, đã gần hết năm rồi mà công việc vẫn quá ngổn ngang.
Trọng tâm đổi mới NLT phải là vấn đề quản lý, sử dụng đất. Tuy nhiên, hiện có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó có vấn đề về kinh phí. Trong chỉ đạo của Chính phủ, kinh phí rà soát, đo đạc, cắm mốc… sẽ do ngân sách nhà nước, nhưng thực tế khi triển khai thì nguồn kinh phí không đáp ứng được yêu cầu và nhiều địa phương lại không ưu tiên kinh phí thực hiện nhiệm vụ trên…
Bên cạnh đó, vẫn còn sự chồng chéo trong quản lý, lúc thì Bộ Tài nguyên và Môi trường, lúc thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Và hiện nay, Chính phủ quyết định giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý.
Quá trình thí điểm cổ phần hóa NLTQD vừa qua đã chứng minh tính hiệu quả. Đồng chí đánh giá như thế nào về kết quả này?Ông Phạm Quốc Doanh: Kết quả thí điểm cổ phần thời gian qua rõ ràng đã mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, nó cũng chỉ ra một thực tế là cổ phần hóa vườn cây, rừng trồng, đàn gia súc (vùng nguyên liệu) phải gắn với cổ phần hóa cơ sở chế biến thì cổ phần hóa mới hiệu quả.
Thực tế cho thấy, nếu tách chế biến và vùng nguyên liệu riêng thì gây nhiều khó khăn cho các NLTQD khi họ không thể chủ động được vùng nguyên liệu hoặc cơ sở chế biến. Thậm chí, có những đơn vị không mua được nguyên liệu cho cơ sở chế biến của mình, phải đi tới địa phương cách đó hàng trăm cây số để tạo vùng nguyên liệu. Cộng với kỹ năng quản lý lỏng lẻo nên càng khiến cho các NLTQD lâm vào thế khó khăn.
Thêm nữa, các đơn vị NLTQD hiện nay chủ yếu còn phải thuê đất và nộp thuế đất hàng năm do đó, gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Có thể thấy, đây là khó khăn, tồn tại lớn nhất trong cổ phần hóa NLTQD. Kinh nghiệm của các mô hình cổ phần hóa thành công cho thấy, đơn vị nào quản lý đất đai tốt, gắn sản xuất với quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả thì giá trị của nông, lâm trường rất tốt.
Do vậy, trên cơ sở thực trạng và quá trình cổ phần hóa, Ban Chỉ đạo sẽ chỉ đạo các NLTQD triển khai rà soát lại, xác định ranh giới cắm mốc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời tổng kết việc thí điểm cổ phần hóa rút ra các bài học kinh nghiệm chuẩn bị cho việc nhân rộng cổ phần hóa...
Thực tiễn cho thấy, một số NLTQD về lĩnh vực cao su, chè... thời gian qua cũng cho thấy quản trị doanh nghiệp khá, nhất là với những NLT có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài, trái với lo ngại ban đầu thì chính việc các nhà đầu tư nước ngoài lại “thổi luồng gió mới” khi tạo ra môi trường sản xuất, kinh doanh tốt hơn với kỹ năng quản trị doanh nghiệp tốt hơn, góp phần vào thành công và mở rộng phạm vi quy mô của các NLT.
Trong bối cảnh hiện nay, để phát huy hiệu quả của cổ phần hóa, yêu cầu đặt ra là phát hiện tồn tại, khó khăn để quản lý tốt và sớm khắc phục một cách hiệu quả. Đối với địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa, có chương trình ưu đãi theo Nghị định 138, 135 và 30a của Chính phủ, các doanh nghiệp trên địa bàn đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo... đều được hưởng ưu đãi (về thuế, về đất đai)...
Đã đến thời điểm thích hợp để kết thúc việc thí điểm cổ phần hóa theo mô hình hiện nay và chúng tôi đang kiến nghị mở rộng việc cổ phẩn hóa này nhưng có điều kiện kèm theo với các NLT. Đó là, sản xuất, kinh doanh theo ngành nghề cụ thể, vùng miền cụ thể. Vì các NLTQD có đặc thù riêng trong việc đánh giá, khảo sát và tính toán giá trị tài sản vườn cây, rừng trồng và đàn gia súc. Thêm nữa, lại liên quan đến đất đai – lĩnh vực rất nhạy cảm trong đời sống xã hội hiện nay. (Đảng Cộng Sản VN 25/12)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ngọc Sơn - Ngổ Luông là khu bảo tồn thiên nhiên quý giá của tỉnh Hòa Bình, từng được sách đỏ VN và thế giới liệt kê nhiều loài đặc hữu, nhiều loài đang bị đe doạ. Trong đó có những quần thể trai, nghiến đang bị đe doạ nghiêm trọng, cực kỳ nguy cấp.
Với diện tích hơn 19.254 ha trải dài trên 7 xã thuộc hai huyện Lạc Sơn và Tân Lạc, tài nguyên quý giá của khu bảo tồn luôn bị rình rập xâm hại. Không có vùng đệm, lại có tới 1.200 người dân đang sinh sống trong khu bảo tồn,, công tác quản lý bảo vệ ở đây càng trở nên khó khăn. Ít đất nông nghiệp,sống dựa vào rừng, nhu cầu khai thác gỗ làm nhà sàn của cư dân lại cao cộng với nạn buôn bán gỗ trái phép ngày một gia tăng nên những quần thể gỗ quý luôn là đối tượng bị dòm ngó.
Theo thống kê sơ bộ của Ban quản lý khu bảo tồn,, trong dân có tới 300 chiếc cưa xăng. Nhiều Giám đốc ban quản lý khu bảo tồn phải thốt lên rằng, cần phải có quy chế quản lý loại cưa xăng vốn là công cụ chuyên dùng cho ngành lâm nghiệp. Bởi chỉ cần chừng 15 – 30 phút, một cây gỗ trăm năm tuổi sẽ bị những chiếc cưa này đốn hạ.
Không chỉ vậy, các đối tượng khai thác vận chuyển gỗ trái phép tại khu vực này ngày càng có tổ chức và trắng trợn hơn, thậm chí công khai chống lại lực lượng thi hành công vụ. 5 năm qua, Ban quản lý khu bảo tồn đã bắt giữ, xử lý 312 vụ lâm luật; thu nộp ngân sách 375 triệu đồng; tịc thu hơn 64m3 gỗ các loại; 194 xe máy và 27 cưa xăng… (Tài Nguyên&Môi Trường 25/12)đầu trang(
Phòng là chủ yếu, chữa cháy phải kịp thời và dứt điểm, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy xảy ra. Đồng thời, phát hiện ngăn chặn có hiệu quả những nguy cơ gây cháy rừng cũng như các vụ chặt phá, lấn chiếm đất rừng, mua bán gỗ…Đó là mục tiêu triển khai công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô của huyện Bắc Yên.
So với các huyện, thành phố trong tỉnh, Bắc Yên là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn với nhiều loại lâm sản qúy; địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn lại giáp ranh với các huyện trong tỉnh và huyện Trạm Tấu (Yên Bái); tập quán sản xuất của bà con vùng cao, chủ yếu dựa vào nương rẫy nên những tháng mùa khô nguy cơ cháy rừng rất cao. Từ thực tế trên, bước vào mùa khô hanh năm nay, huyện Bắc Yên đã xây dựng và triển khai, kế hoạch PCCCR tới các xã nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng.
Ông Đinh Văn Thuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Năm nào cũng vậy, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4 trên địa bàn huyện thường xuất hiện gió tây, khô và nóng, rất dễ xảy ra cháy rừng. Thời điểm này, Hạt đã chỉ đạo các xã, thị trấn rà soát lại kế hoạch, phương án phòng, chống cháy rừng trong mùa khô hanh. Đồng thời, phân công cán bộ kiểm lâm cắm điểm thường trực 24/24 giờ đối với diện tích rừng nằm trong vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao. Tại mỗi tổ, bản thành lập từ 1 đến 2 tổ đội PCCCR, mỗi tổ đội có từ 10 đến 20 người, đến nayđã thành lập và kiện toàn 153 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng.
Qua trao đổi được biết, khó khăn lớn nhất hiện nay là Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Yên quản lý trên 40.000 ha rừng, trong khi cán bộ trực tiếp bám nắm địa bàn chỉ có 14 người. Như vậy, bình quân mỗi cán bộ kiểm lâm phải quản lý tới gần 3.000 ha rừng. Để khắc phục, Hạt đã cử cán bộ cắm điểm tại các địa bàn trọng điểm; phối hợp với xã, bản, các ngành chức năng tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành tốt Luật Bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn kịp thời những hành vi ảnh hưởng tới rừng, xử lý nghiêm việc đốt nương rẫy sai quy định. Xây dựng phương án, bố trí các biển cảnh báo cháy rừng, hướng dẫn bà con đốt nương vào giờ quy định.
Hang Chú là xã có nhiều rừng nguyên sinh của huyện, công tác PCCCR ở đây được chuẩn bị kỹ lưỡng. Ông Mùa Páo Tủa, Chủ tịch UBND xã cho biết: Toàn xã có hơn 6.000 ha rừng. Trước mùa khô, UBND xã đã xây dựng, triển khai thực hiện phương án quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) theo phương châm “4 tại chỗ”. Tổ chức kiện toàn và duy trì hoạt động của 10 tổ PCCCR tại các bản. Nhờ đó, xã đã thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; triển khai nhiều giải pháp quyết liệt về bảo vệ rừng, PCCCR, quản lý lâm sản. Nhờ đó, 5 năm trở lại đây Hang Chú chưa xảy ra vụ cháy rừng nào.
Bên cạnh đó, Bắc Yên chỉ đạo tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ phát triển rừng để người dân chủ động giữ rừng và phát triển rừng. Chỉ đạo các xã tổ chức cho các hộ ký cam kết bảo vệ rừng; Hạt Kiểm lâm phối hợp với Ủy ban MTTQ, Huyện đoàn, lực lượng vũ trang; các xã, thị trấn tham gia bảo vệ, PCCCR có hiệu quả. Đối với một số điểm có nguy cơ cháy rừng cao, được tăng cuờng lực lượng, thực hiện nghiêm túc chế độ trực, dự báo cháy.
Xác định rõ cháy rừng không chỉ gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng lớn tới môi trường sinh thái, làm giảm khả năng phòng chống lũ, gây xói mòn, rửa trôi đất. Do vậy, đến thời điểm này, cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là lực lượng kiểm lâm huyện Bắc Yên đang tăng cường kiểm tra, gắn với vận động nhân dân chấp hành tốt các quy định PCCC rừng; quản lý việc phát dọn nương, làm tốt công tác cảnh báo, xác định cấp dự báo cháy rừng sớm, chính xác để có biện pháp xử lý kịp thời, nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy nhà, cháy rừng trên địa bàn. (Báo Sơn La 26/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Cho đến bây giờ, bức tranh kinh tế - đời sống cư dân dưới tán rừng tràm vẫn chưa có gì sáng sủa. Mặc dù những năm qua, Nhà nước có nhiều chủ trương, chính sách mới nhưng kinh tế rừng tràm vẫn chưa bứt phá đi lên như mong đợi.
Một thời gian dài, mỗi năm Nhà nước đầu tư hàng chục tỷ đồng để phát triển kinh tế - xã hội vùng rừng tràm U Minh Hạ. Nhưng do cơ chế quản lý, bảo vệ rừng từng lúc, từng nơi chưa phù hợp dẫn đến hệ quả, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, tỷ lệ che phủ rừng đạt thấp. Trong khi đó, đại bộ phận cư dân dưới tán rừng tràm vẫn trầm mình trong sự nghèo khó.
Theo Sở NN&PTNT, hiện trên toàn lâm phần rừng tràm U Minh Hạ có gần 20.000 hộ nhận khoán đất rừng để quản lý, bảo vệ và sản xuất, quy mô chủ yếu từ 3-10 ha/hộ.
Chủ trương giao đất, giao rừng cho dân quản lý, bảo vệ kết hợp với sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp là chủ trương đúng đắn. Nhưng phần đông các hộ dân nhận giao khoán đất rừng thuộc gia đình chính sách nghèo, hộ đồng bào dân tộc… thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất.
Thực tế đó nảy sinh nhiều vấn đề bất cập. Rừng được chia theo từng cụm, tuyến dân cư để giao khoán cho dân quản lý, sử dụng theo tỷ lệ quy định 7/3 (diện tích trồng rừng 70%, trồng lúa 30%). Theo đó, các kinh trục thuỷ lợi được mở ra như bàn cờ trong ruột rừng để phục vụ cho công tác phòng, chống cháy rừng (PCCR) và sản xuất nông nghiệp làm cho rừng tràm manh mún.
Từ thực trạng sản xuất này, nhiều năm nay mâu thuẫn giữa cây tràm và cây lúa chưa khắc phục được. Kinh tế rừng tràm vẫn chưa phát huy hiệu quả tích cực.
Qua khảo sát của ngành chức năng, hiện tại trên lâm phần rừng tràm có hơn 60 tuyến dân cư sinh sống đan xen trong ruột rừng.
Do dân cư sinh sống phân tán nên việc đầu tư hạ tầng kinh tế, xã hội phục vụ cho sản xuất và đời sống cư dân rừng tràm gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém. Hiện nay, mặt bằng đời sống dân cư dưới tán rừng tràm thấp nhất so với các khu vực khác.
Thực tế việc bố trí sản xuất lúa xen kẽ với rừng không phù hợp, kém hiệu quả, tạo ra mâu thuẫn giữa việc giữ nước PCCR và điều tiết nước phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hằng năm, khi kết thúc mùa mưa, các đơn vị quản lý và bảo vệ rừng cho đắp lại hết các con đập để trữ nước PCCR, nên sản xuất nông nghiệp bị ngập úng, năng suất lúa rất thấp, thậm chí có năm nông dân trắng tay.
Những năm gần đây, một số hộ có điều kiện đầu tư đào khuôn hộ tách lúa ra khỏi rừng, sản xuất bước đầu mang lại hiệu quả khá cao. Thế nhưng, việc đầu tư khá tốn kém, cư dân rừng tràm không có điều kiện thực hiện đại trà. Hiện đa số người dân sản xuất nông nghiệp đan xen với rừng nên khó chủ động trong sản xuất.
Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết, để người dân thật sự gắn bó với rừng thì nhất thiết lợi ích kinh tế từ rừng mang lại phải bảo đảm cuộc sống của họ. Nhưng trong thực tế, kinh tế rừng tràm những năm qua chưa thoả mãn yêu cầu đó.
Bước đột phá thời gian gần đây được xem là hướng mở cho rừng tràm, là chuyển sang trồng tràm thâm canh, năng suất cao, rút ngắn chu kỳ khai thác xuống gần một nửa thời gian so với phương pháp trồng tràm quảng canh truyền thống.
Nhưng cái khó là người dân thiếu vốn đầu tư, giá trị cây tràm ngày càng giảm, khó tiêu thụ làm cho người dân vốn bao đời nay gắn bó với rừng không còn tha thiết với cây tràm.
Thay đổi tư duy trong đầu tư phát triển rừng tràm là nỗi mong chờ của cư dân dưới tán rừng hiện nay. Đó là một sự thay đổi cả tầm vĩ mô cho đến những cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn sản xuất. Câu chuyện cây tràm bao đời gắn bó máu thịt với người dân U Minh Hạ ai cũng biết nhưng không thể giữ mãi quá khứ, trong khi đó cuộc sống là vấn đề bức bách nhất của người dân xứ rừng.
Nên chăng rừng tràm cần phải được quy hoạch một cách đồng bộ và phát huy hiệu quả thật sự của từng loại rừng? Đối với Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Nhà nước đầu tư quản lý và bảo tồn tính đa dạng sinh học đặc trưng của rừng tràm.
Còn đối với rừng kinh tế, rừng sản xuất thì phải quy hoạch phát triển sản xuất đúng nghĩa của nó. Những cơ chế quy định, ràng buộc hiện thời không còn phù hợp cần phải được “cởi trói”, để người dân tự chủ trong sản xuất.
Mô hình sản xuất rừng tập trung, đa dạng hoá cây trồng có lẽ là hướng đi cần phải được nghiên cứu, hoạch định chính sách ưu tiên. Bởi lẽ, việc phát triển những cánh rừng tập trung mới tạo ra vùng nguyên liệu dồi dào gắn với việc đầu tư các nhà máy chế biến. Qua đó giải quyết công ăn việc làm cho cư dân rừng tràm, góp phần cải thiện nhanh đời sống nhân dân nơi đây.
Nằm trong chương trình phủ xanh rừng tràm, UBND tỉnh chủ trương cho doanh nghiệp thuê đất trống để trồng rừng nguyên liệu trên lâm phần U Minh Hạ. Đến nay có 7 doanh nghiệp được giao 1.200 ha đất trống, trong đó có 4 doanh nghiệp triển khai trồng được 300 ha rừng, bao gồm cây tràm, cây keo lai, cây ăn trái, hoa màu, các loại cây rừng nguyên liệu… có giá trị xuất khẩu.
Theo quy hoạch đã được phê duyệt, tỉnh Cà Mau sẽ cho doanh nghiệp có điều kiện và khả năng thuê khoảng 6.000 ha đất để trồng rừng nguyên liệu. Đây là một chủ trương mới, mang tính đột phá nhằm đẩy nhanh tiến độ phủ kín rừng khi U Minh Hạ hiện nay còn khoảng trên 10.000 ha chưa có cây rừng. Nhưng chủ trương này triển khai thực hiện còn chậm và kinh tế rừng tràm vẫn là bài toán kho. (Báo Cà Mau 22/12)đầu trang(
Đã hơn 20 năm, những cư dân đầu tiên của rừng tràm U Minh Hạ nhiều người lưng còng, tóc bạc. Qua thời gian chung sống cùng rừng, cư dân nơi đây ngộ ra một điều: để đổi đời, phải vừa bảo vệ, vừa khai thác rừng.
Nhưng khai thác và bảo vệ như thế nào thì người dân nơi đây không được rõ lắm. Dốc trượt dài của cây tràm thời những năm đầu 1990 khiến không ít người dân sống trong rừng “sợ” rừng.
“Huê lợi từ cây tràm không cao, kéo theo kiến thức bảo vệ rừng kém, từng mảng rừng kiệt quệ bắt đầu lộ rõ. Có lúc vợ chồng tôi phải lặn ngụp tìm móc gốc tràm, đem về bửa củi ra chợ Thới Bình bán đổi gạo. Lúc đó, 10 lít gạo bằng với giá 1 thước củi”, ông Nguyễn Văn Hải, ấp 18, xã Nguyễn Phích, nhớ lại.
Nghe PV có ý định tìm hiểu về đời sống bà con dưới tán rừng tràm U Minh Hạ (những hộ nhận khoán thuộc diện Nghị định 181 và cả những hộ canh tác trên lâm phần quản lý của các công ty lâm nghiệp), anh Trần Công Hoằng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm U Minh, cho hay, rừng U Minh Hạ bây giờ tuy có sung túc hơn trước nhưng xem ra vẫn còn nhiều mối lo. Cơ bản nhất là đời sống dân sinh và các hạ tầng thiết yếu.
Trên con đường nhựa uốn mình qua tuyến 93, anh Châu Thanh Nhã, cán bộ nông nghiệp xã Nguyễn Phích vừa đi vừa phân trần: “Con lộ này của Dự án JICA. Phần đất này giao khoán theo Nghị định 181 cho hộ dân các ấp 14, 15 và 16 của xã.
Hộ cố cựu nhận khoán giờ không còn ở đây bao nhiêu, thay vào đó là những hộ dân từ các vùng khác đến nhượng lại. Nhưng giá nhượng lại cũng rất thấp, có khi vài chỉ, cũng có trường hợp hai, ba cây vàng/phần đất”.
Ông Ba Mẫu (Nguyễn Văn Mẫu) quê gốc Đầm Dơi, trước khi về rừng U Minh, gia đình ông cũng làm ăn có của dư của để. Sau thời gian dài nghe về sự hào nhoáng của rừng tràm, hai vợ chồng quyết định bán hết ruộng đất ở quê về U Minh lập nghiệp. “Bán 2 công đất ở Đầm Dơi, về đây mua lại được 7 ha thì còn gì bằng (5 ha trồng rừng, 2 ha làm ruộng)”, ông Mẫu nói.
Chung ý chí làm giàu trên đất rừng với ông Ba Mẫu, ở ngay cạnh nhà, ông Đoàn Hoàng Ba cũng bán đất ở quê về đây mua lại 7 ha. Sau thời gian canh tác lúa, những vị chủ mới của rừng U Minh té ngửa vì lúa chỉ đạt 5-10 giạ/công nhưng cũng “hên xui”.
“Năm nào hên, lúa trổ rộ trước khi giữ nước cứu rừng thì có ăn. Ngược lại thì tay trắng! Như năm nay, lúa vừa cấy xanh thì mưa ụp, cả xã, cả huyện bị thiệt hại hàng ngàn héc-ta do nước không thoát được”, anh Nhã giải thích.
Còn rừng? Ông Ba Mẫu trầm giọng: “Huê lợi từ rừng có gì đáng kể đâu. Về đây ở ngót 20 năm, rừng trồng được mười mấy năm nhưng khi khai thác chỉ phá huề, thậm chí lỗ, chúng tôi bám được ở U Minh đến nay cũng thuộc dạng cừ lắm rồi. Bây giờ chỉ mong có cơ chế thoáng hơn, đầu tư hạ tầng tốt hơn thì mới mong… giàu”.
Bán vài công đất quê nhà, về U Minh nhượng lại mấy héc-ta. Cách tính của nông dân cách nay 20 năm nay xem ra không khả thi. Trong khi quyết định về vùng trũng U Minh thì họ đã bắt đầu cuộc hành trình vật vã với cuộc sống.
Ngẫm lại, cách tính này giống như một ván cược. Nhưng, người dân U Minh Hạ ngoài cược một ván bằng cả tài sản, vốn liếng thì họ còn cược cả cuộc đời họ và nay thế hệ thứ hai sắp sửa lao vào ván cược.
Ông Nguyễn Quốc Tại, Trưởng Ban nhân dân ấp 15, xã Nguyễn Phích, ngao ngán: “Cả xóm này ai cũng mang nợ, mối nợ kéo dai dẳng theo chân bà con từ buổi đầu về U Minh. Hộ có khả năng đóng lãi thì nay nợ khoảng 30 triệu đồng, còn những hộ không có khả năng thì lãi nhập vốn, đến giờ nợ trên 50 triệu đồng”.
Ông Nguyễn Văn Mẫu giật mình tính lại: Năm 2001 gia đình vay 9 triệu đồng. Mỗi năm trôi qua không khả năng trả, giờ phần nợ này lên đến trên 50 triệu đồng. Nói nợ 50 triệu nhưng mỗi lần đáo hạn vay, tiền đem về nhà chưa tròn 1 triệu đồng vì ngân hàng cứ cho vay theo kiểu tăng dần theo hằng năm, vừa trừ cấn số nợ cũ. Vay theo hình thức này thì không thể đầu tư tái sản xuất. Có hộ gần 12 năm qua, sau khi vay tiền đến bây giờ vẫn chưa thực hiện thí điểm mô hình nào hiệu quả.
Trường hợp của người dân tuyến kinh bờ bao thị trấn U Minh, ấp 15, xã Nguyễn Phích, còn thê thảm hơn: Khoảng năm 1994, khi khu vực còn dưới sự quản lý của LNT U Minh 1, điều kiện sinh sống và đê bao sản xuất yếu kém. LNT bàn với bà con múc kinh tháo nước, ai cũng đồng ý.
Công trình hoàn thành chưa hết phấn khởi thì người dân té ngửa vì phần đất thuộc gia đình nào thì chi phí trả lại LNT. Không tiền trả, LNT lập danh sách cho vay.
“Lúc đó, khi triển khai một công trình, dự án gì, hễ dân không tiền thì LNT bố trí cho vay vốn. Sau khi xong thủ tục thì người vay chỉ nhận giấy nợ, còn tiền vay đã bị trừ cấn cho chủ nợ”, ông Nguyễn Quốc Tại than.
Nợ vay, nợ thiếu LNT sau khai thác, nợ hỏi chạy gạo, bệnh tật… là mối lo chung của dân nghèo.
Ông Nguyễn Văn Hải, Quách Văn Rỡ, ấp 18, xã Nguyễn Phích, cho hay, hồi khu vực này chưa giao về cho U Minh, dưới sự quản lý của LNT Sông Trẹm, khoảng năm 2004, cũng như hàng ngàn hộ khác, các ông hăm hở đăng ký khai thác rừng.
Mỗi người ngót nghét 6 ha tràm, được LNT đánh giá trữ lượng gỗ, thuê thiết kế khai thác, mời thương lái… Sau khi cây nhập bãi, LNT tính khấu trừ 7/3 (người dân hưởng 7 phần, LNT 3 phần), 70% của người dân tiếp tục bị trừ vào nhiều khoản thu khác, cuối cùng các ông phải ký nợ lại LNT.
Vậy là gần 15 năm làm lụng cật lực, đến ngày khai thác, những ông chủ rừng phải ôm nợ hoặc bù thêm. Có người còn mỉa mai cách làm như thế đâu khác gì phát canh thu tô. Cảm giác sợ rừng bắt đầu có từ đó.
Trong khi chính sách an sinh xã hội khuyến khích những hộ khó khăn chí thú vươn lên thoát nghèo thì ngay giữa rừng U Minh Hạ, mỗi nông dân trong tay ít gì cũng 1 ha đất nhưng vẫn không lối thoát.
Không dân vùng nào nhiều đất bằng dân rừng U Minh, nhưng những người sở hữu nhiều đất nhất lại là những người nghèo nhất. Vấn đề giải quyết bài toán giữ rừng, phát triển dân sinh đang trăn trở tìm lời giải.
Nghèo khó, hạ tầng yếu kém, sức ép dân số, đời cha đã khó, nay phải chia thêm cho con. Món nợ 50 triệu đồng của những chủ rừng bây giờ nếu tính trả phải đành bán đất, nhưng bán bao nhiêu mới trả hết?
Ông Ba Mẫu nhẩm tính: “Nếu trả hết 50 triệu nợ ngân hàng, nhà này phải bán hơn 1 ha đất nông nghiệp, trong khi xưa nay quần quật với 2 ha còn nghèo, bây giờ sức khoẻ không còn, phải bán 1 nửa thì làm sao sống!”.
Vậy là trong ván cược này, những ông chủ rừng U Minh Hạ đành chịu thua sau 20 năm thách đấu. (Báo Cà Mau 23/12)đầu trang(
Rừng U Minh Hạ một thời là niềm tự hào không chỉ của riêng người dân Cà Mau. Mặc bom dập, pháo vùi sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc, rừng tràm Cà Mau vẫn từng ngày cưu mang, đùm bọc người dân cuối đất.
Những năm 1990, làn sóng chiếm đất phá rừng để làm nông nghiệp, trở nên rầm rộ khiến rừng tràm Cà Mau dần suy kiệt. Để cứu rừng, hàng loạt các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế rừng ra đời. Một trong những hình thức được nhiều người nói đến là lâm nghiệp xã hội (xã hội hoá rừng).
Xuất phát từ chủ trương giao khoán đất rừng theo Nghị định 01/CP, Cà Mau đưa khoảng 20.000 hộ dân là gia đình chính sách nghèo, đồng bào dân tộc, hộ không đất sản xuất… vào giao đất, giao rừng. Từ đây, rừng Cà Mau có chủ nhân mới và cũng mốc thời gian đó, rừng tràm U Minh Hạ đương đầu với nhiều thách thức mới.
Nghèo khó, hiệu quả kinh tế từ cây tràm không là cứu cánh nên người dân không mặn mà với thân tràm. Họ sẵn sàng xâm hại chính diện tích rừng mà cách nay hơn 20 năm họ nâng niu, gìn giữ như kho báu. Thực trạng phá rừng, bỏ rừng trở thành vấn đề cấp bách của các cấp quản lý rừng ở U Minh.
Điều này được minh chứng bằng hàng loạt diện tích rừng bỏ trống sau khai thác. Ông Nguyễn Văn Mẫu, ấp 16, xã Nguyễn Phích, xót xa: “Nói là dân rừng, nhưng chúng tôi không dám đầu tư tái tạo. Một mặt, rừng không đem lại lợi ích kinh tế cho cư dân nghèo như chúng tôi, mặt khác, nếu đầu tư trồng rừng thì lại đi vào vết xe đỗ: hứng chịu bao loại phí, tỷ lệ ăn chia… mười mấy năm sau lại trắng tay. Chính vì thế, khoảng 5 ha rừng cháy hồi năm 2003-2004, đến nay tôi vẫn để vậy”.
Anh Châu Thanh Nhã, cán bộ nông nghiệp xã Nguyễn Phích, giải thích: “Dân nghèo tứ xứ mới về đây nhận đất, sang nhượng lại. Ngoài diện tích trồng rừng, phần còn lại thì đa canh: nuôi cá, làm lúa… nhưng thuỷ lợi quá yếu kém nên không thể “lấy ngắn nuôi dài”. Bảo vệ rừng lơ là là xảy ra rủi ro thì họ lại trắng tay, chứ đợi gì đến khai thác”.
Hiện tại, cây tràm không có người thu mua. Nguyên nhân được nhận định, vì ngày trước, tràm dùng với mục đích hầm than, làm cừ trong xây dựng. Nhưng khi kỹ thuật xây dựng phát triển, cừ bê-tông chất lượng, bền và giá thành hợp lý thì cừ tràm không còn ở vị trí độc tôn. Than tràm cũng “lép vế” với than đước. Còn nếu bán tràm thương phẩm (cân ký), thì cũng kém xa keo lai hay tràm bông vàng.
Trong chuyến làm việc với huyện U Minh hồi tháng 11 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Dũng nói, dân U Minh nghèo, nhưng U Minh là địa phương được ưu tiên nhiều nhất về các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất, hạ tầng nông thôn, xây dựng cơ bản.
Về hiệu quả kinh tế và mâu thuẫn lúa - tràm, tỉnh đang hoàn thiện đề án bố trí sắp xếp lại dân cư. Địa phương nếu linh hoạt cho dân chuyển đổi giống cây trồng hiệu quả thì nên áp dụng. Để việc chần chừ kéo dài thì dân U Minh (trên đất lâm phần) sẽ còn nghèo dai dẳng nhiều năm nữa.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thay thế tràm bằng cây keo lai chưa được sự chấp thuận rõ ràng. Thứ hai, giải quyết mâu thuẫn lúa - tràm trước đây huyện U Minh từng áp dụng nhưng hiệu quả chưa cao. Vả lại, đề án bố trí sắp xếp lại dân cư rừng tràm cũng chỉ thực hiện ở một số địa bàn, và cũng chỉ chiếm vài chục phần trăm trong tổng số “túi nghèo” toàn vùng.
Ngoài diện tích rừng đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt, diện tích còn lại giao khoán cho hộ dân trồng, quản lý và bảo vệ. Đó là chưa kể số diện tích thuộc công ty lâm nghiệp quản lý, khai thác. Tuy nhiên, nguồn lợi từ cây tràm (được xem là thu nhập chính) lại không đáng kể trong cuộc sống hằng ngày của người dân nơi đây.
Ông Ngô Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND huyện U Minh, cho hay, từ lâu cây tràm không phải là nguồn sống chính của bà con dưới tán rừng U Minh. UBND huyện đã có nhiều chương trình nhằm nâng cao đời sống của người dân, nhưng chỉ một số nơi thành công vì đất rừng không phải nơi nào cũng trồng được các loại hoa màu, cây ăn trái.
Trước mắt, trồng keo lai mang lại lợi nhuận rất cao. 1 công keo lai, sau 5 năm trồng có thể giá trị khai thác hơn 1 ha tràm. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả nhiều mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và tác động môi trường sinh thái của cây keo lai vẫn âm ỉ, bàn tán và chưa khẳng định. UBND tỉnh, Sở NN&PTNT chưa có văn bản chính thức chấp thuận cho nông dân đầu tư kê liếp trồng keo lai.
Khi các cấp quản lý chưa bật đèn xanh thì biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay để sống được với tán rừng, người dân phải phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau. Bà Quang Thị Tám, ấp 16, xã Nguyễn Phích, khoe: “Không nhờ trồng chuối trên bờ rừng thì mấy năm nay gia đình tôi không biết phải sống ra sao”.
Còn nhớ, có lần về ấp 15, xã Khánh Thuận, vào nhà anh Chi hội trưởng Hội nông dân, vợ anh than: “Ảnh đi hoài, cả quý mới có tiền phụ cấp 1 lần nhưng so ra còn thua xa ở nhà tôi xắn bắp chuối bán cho thương lái!”.
Ở rừng mà không mặn mà, thương tiếc rừng, đó là hệ lụy của việc cây tràm mất vị trí độc tôn. Thời hoàng kim của cây tràm của những năm 1990 không còn nữa. (Báo Cà Mau 24/12)đầu trang(
Nhắc đến rừng U Minh, nhiều người thường nghĩ đến cái nghèo về vật chất và cái khó về tinh thần. Trong khoảng 130.000 người đang sinh sống dưới tán rừng tại 10 xã thuộc 2 huyện U Minh và Trần Văn Thời thì số người khá, giàu vẫn còn rất ít. Điều này lý giải vì sao bao năm nay U Minh Hạ được gọi là “túi nghèo”.
Năm 2002, vụ cháy rừng lớn ở U Minh đã tàn phá nghiêm trọng hơn 4.000 ha rừng, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân địa phương. 20 năm gắn bó cùng đất rừng U Minh, với anh Trần Việt Hồng (ấp 14, xã Nguyễn Phích) đó là quảng thời gian chưa dài so với nhiều lão nông nơi đây. Thế nhưng, thời gian ấy đủ để anh nhận ra tiềm năng và thế mạnh của cây tràm và nuôi quyết tâm bám rừng.
25 tuổi với ước mơ đổi đời, anh Hồng đã đưa gia đình vào nhận 7 ha đất rừng từ lâm ngư trường. Đất rộng nhưng huê lợi không có nên cuộc sống gia đình những năm mới vào rừng vô cùng khó khăn.
Anh Hồng nhớ lại, trước khi đưa vợ và hai con vào rừng, cả hai vợ chồng đều có công việc ổn định. Thế nhưng, khi vào lập nghiệp mới bắt đầu “vỡ mộng”. Đất không thể trồng lúa, rừng thì năng suất thấp cộng với thiếu thốn nước ngọt sinh hoạt, không điện, không đường, đôi lúc vợ chồng anh nản lòng.
Năm 2004, 40 hộ dân sống dưới tán rừng như được tái sinh. Thông qua dự án phục hồi rừng sau cháy của JICA (Nhật Bản), nông dân được tập huấn kỹ thuật sản xuất nông, lâm. Phân chia khu vực đất lâm nghiệp, khu vực canh tác, đất ruộng với bờ bao khuôn hộ chữ L. Từ đây nhiều nông dân đã cải thiện sinh kế và vươn lên khá, giàu.
Anh Phạm Chí Nhẫn chia sẻ, nhờ được hỗ trợ từ dự án này mà cuộc sống của gia đình anh và 39 hộ dân nơi đây thay đổi. Rừng năng suất cao, mỗi năm trồng thêm 2 vụ lúa, nuôi một vụ cá đồng, hằng tháng thu hoạch chuối trên bờ bao… và không còn cảnh chạy gạo ăn hằng ngày. Cô con gái đầu của anh giờ là Bí thư Chi bộ ấp, đứa út đang học Trường Cao đẳng Sư phạm Cà Mau.
Còn với gia đình anh Hồng không chỉ thoát nghèo mà hai con của anh còn được học hành đàng hoàng. Anh Hồng cho biết thêm, mỗi năm từ 2 vụ lúa, một vụ cá đồng và chuối, gia đình anh có trong tay trên 50 triệu đồng.
Riêng 5 ha trồng tràm đã đến kỳ thu hoạch, sau khi trừ các khoản vẫn còn lãi trên 100 triệu đồng và năm tới anh sẽ xây dựng căn nhà kiên cố. Với vợ chồng anh, niềm vui lớn nhất hiện nay là gia đình đã thoát nghèo, cuộc sống ổn định và con gái đầu đã tốt nghiệp đi làm, con trai út đang chờ thi đại học.
Theo đánh giá của Sở Kế hoạch và Đầu tư thì nguồn thu nhập chính tại vùng U Minh Hạ chủ yếu vẫn là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, chiếm khoảng 80%. Thu nhập từ làm thuê chiếm khoảng 10%, phần thu nhập từ dịch vụ, lương và các ngành nghề khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, dưới 10%. Do đó, người dân nơi đây còn nghèo, cuộc sống chưa ổn định.
Ông Homma Takuya, cố vấn phát triển nông thôn JICA, Sở NN&PTNT cho rằng, hiệu quả của Dự án khôi phục rừng sau cháy đã được khẳng định. Kê liếp giúp cây tràm sinh trưởng tốt, rút ngắn thời gian trồng rừng từ 10-12 năm xuống còn 7-8 năm. Chất lượng tràm được nâng cao, giá thành tăng, năng suất gấp đôi so với cách canh tác truyền thống trước đây.
Bên cạnh đó, dự án cũng đã giúp nông dân có thể phát triển các hợp phần sinh kế. Theo anh Hồng tính toán, trong thời gian đợi cây tràm phát triển (khoảng 7-8 năm) nông dân vẫn có nguồn thu nhập từ việc trồng lúa, nuôi cá, trồng chuối, còn số tiền thu hoạch tràm thì để tích luỹ. Một số hộ dân lân cận đã thử nghiệm thành công.
Tuy nhiên, số hộ dân thực hiện mô hình này không nhiều, và không dễ dàng thực hiện đối với người dân rừng U Minh Hạ. Theo anh Hồng, nếu một hộ gia đình muốn cải tạo 7-10 ha đất theo hình mẫu của dự án thì cần vài chục triệu đồng. Số tiền này vượt ngoài khả năng của những nông dân vùng rừng tràm.
Tại hội thảo khoa học đánh giá các mô hình canh tác và đề xuất giải pháp phát triển bền vững vùng U Minh Hạ, nhiều đại biểu đề xuất cần phải huy động nhiều nguồn lực và cần có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành. Với mục tiêu là huy động các nguồn lực hiện có cùng với tăng cường xã hội hoá trong đầu tư phát triển rừng, tạo việc làm tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người dân vùng U Minh Hạ.
Nỗ lực của người dân vẫn chưa đủ mạnh để chiến thắng những khắc nghiệt của thiên nhiên. Sau bao nhiêu năm nữa rừng tràm U Minh Hạ sẽ không còn là “túi nghèo”? (Báo Cà Mau 25/12)đầu trang(
Thực hiện chính sách giao đất giao rừng nhằm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng rừng. Thế nhưng, ngần ấy năm, mục tiêu ấy vẫn chưa thể đạt được, thực tế đời sống người dân nhận khoán đất rừng vẫn còn khó khăn.
Kết quả của hành trình hơn 20 năm ấy minh chứng một điều là chỉ giao khoán đất, giao rừng là chưa đủ. Để giúp họ cải thiện cuộc sống, từng bước phát triển kinh tế cần phải tác động thêm bằng nhiều giải pháp đồng bộ, toàn diện.
Vùng đất U Minh được thiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng, lợi thế, nếu được đầu tư khai thác một cách đồng bộ, hiệu quả, nơi đây sẽ là “miền đất hứa”.
Tiềm năng kinh tế đa dạng và phong phú là một thế mạnh của vùng đất U Minh. Trong đó, thương hiệu mật ong U Minh Hạ vừa được Bộ KH&CN công nhận, là một điều kiện tốt, người dân có thể khai thác để nâng cao mức sống.
PGS-TS Lê Văn Bé, Trường Đại học Cần Thơ, khẳng định, đây thật sự là một thế mạnh không phải nơi đâu cũng có. Nếu phát huy được lợi thế này, chắc chắn đời sống người dân vùng rừng sẽ được cải thiện đáng kể.
Điều kiện đất đai rộng lớn cũng là một lợi thế của người dân U Minh. Theo ông Trần Thanh Hoàng, Trưởng Phòng Kỹ thuật Sở NN&PTNT, để giúp người dân phát huy thế mạnh của tự nhiên, cải thiện cuộc sống, cần khuyến khích phát triển các loại rau, cây ăn trái có giá trị bằng cách cải tạo vườn tạp, trồng trên bờ liếp, bờ bao khuôn hộ trong lâm phần rừng tràm. Thực hiện cải tạo vườn tạp phát triển cây ăn trái gắn với phát triển du lịch sinh thái vườn - rừng.
Đối với cây tràm, được xem là chủ đạo trên vùng đất U Minh, nhưng thời gian qua đem lại lợi ích rất thấp cho người dân. Ông Hoàng cho rằng, cần có định hướng phát triển cho từng loại rừng khác nhau. Đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần được bảo vệ nghiêm ngặt, từng bước tái tạo cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học…
Còn đối với rừng sản xuất, cần có phương án điều chế, sản xuất kinh doanh. Thí điểm và từng bước chuyển đổi phần diện tích rừng tràm nghèo kiệt, kém hiệu quả sang các loại cây lâm nghiệp khác gắn với đầu tư chế biến lâm sản có giá trị cao (bàn, ghế, tủ).
Để phát triển kinh tế xã hội đối với các xã thuộc khu vực rừng tràm đòi hỏi phải tổ chức, bố trí lại sản xuất, điều chỉnh sắp xếp lại dân cư. Phải có mô hình đầu tư cụ thể tách lúa ra khỏi rừng và đầu tư hệ thống thuỷ lợi đồng bộ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Trên cơ sở tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, thì việc bố trí dân cư, điều chuyển các hộ dân cư ở phân tán, rải rác để hình thành các tuyến dân cư tập trung là việc cần làm tiếp theo. Từ đó đầu tư hạ tầng như điện, đường, trường, trạm, nước sạch và các thiết chế văn hoá.
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện các dự án phát triển du lịch sinh thái, nhằm thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ và các đặc sản dưới tán rừng tràm. Đây được xem là nhóm giải pháp thiết thực để phát huy thế mạnh sẵn có của vùng đất rừng U Minh Hạ.
Theo đánh giá của GS-TS Lê Quang Trí, U Minh là vùng đất phèn gồm phèn tiềm tàng và phèn hoạt động. Chính việc lên liếp trồng rừng, đào hệ thống đê bao, kinh mương nhằm giữ nước và phục vụ công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô đã làm xáo trộn các tầng đất. Trong đó, không loại trừ việc đưa tầng phèn tiềm tàng thành phèn hoạt động. Đất phèn và ngập úng làm cho sản xuất nông nghiệp không hiệu quả là nguyên nhân chính dẫn đến đời sống người dân khó khăn kéo dài trong những năm qua.
Để canh tác hiệu quả trên vùng đất phèn, việc kê đất, làm mương phèn trong đầu mùa mưa là cần thiết. Đồng thời chọn cây trồng thích hợp với đất phèn như: giống lúa chịu phèn, khóm, mía, khoai mì, điều... Một mô hình khá hiệu quả để sản xuất trên vùng đất phèn là nuôi cá kết hợp nuôi heo để góp phần cải tạo chất lượng nước bằng phân chuồng. Lên liếp theo kỹ thuật cuốn chiếu để đưa lớp phèn xuống dưới, tăng độ dầy của đất canh tác.
Về định hướng phát triển lâu dài cho vùng rừng tràm U Minh, ông Trần Phú Cường, Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật nhận định, để thực hiện được mục tiêu ổn định tình hình rừng, ổn định sản xuất, ổn định đời sống nhân dân vùng rừng, cần có chương trình dự án đầu tư nâng cấp hạ tầng ở các địa phương vùng rừng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn vùng rừng với các vùng khác.
Đầu tư các trạm bơm ở các trục kinh đầu mối để tiêu úng, xổ phèn. Sớm sửa đổi lại chính sách giao khoán đất rừng, nên cấp sổ đỏ phần đất nông nghiệp để họ có điều kiện thuận lợi hơn tiếp cận với một số nguồn vốn vay phát triển sản xuất. Cần mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu giống cây lâm nghiệp ở khu vực được quy hoạch rừng sản xuất.
GS-TS Võ Thị Gương, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng, đối với vùng đất U Minh, việc đa dạng mô hình canh tác với các loại cây trồng có triển vọng là vấn đề cần thiết. Một số mô hình được đánh giá rất triển vọng như 1 lúa - 1 màu, 2 lúa - 1 màu, chuyên màu.
Đối với việc canh tác lúa trên lâm phần rừng tràm, ông Phạm Văn Mịch, Giám đốc Trung tâm Giống nông nghiệp tỉnh cũng nhận định, Nhà nước cần đầu tư thêm hệ thống kinh mương cấp 2, cấp 3 và hệ thống thuỷ nông nội đồng để tháo úng, rửa phèn và sử dụng các giống lúa phù hợp để nâng cao năng suất và hiệu quả canh tác.
Vấn đề có tính quan trọng và cơ bản nhất là Nhà nước cần có cơ chế, chính sách, đầu tư đồng bộ. Lời giải hợp lý nhất cho vấn đề trên đó chính là việc tổ chức lại sản xuất, bố trí, sắp xếp lại dân cư nhằm phát huy hết tiềm năng và thế mạnh của vùng rừng. (Báo Cà Mau 26/12)đầu trang(
Một số chất sẽ được tiêm vào sừng tê giác như thuốc nhuộm để nhuộm sừng tê giác đổi sang màu hồng chói không đổi màu, khiến cho sừng tê giác không thể dùng làm vật trang trí được nữa.
Ngày 25.12, Bộ NNPTNT vừa có dự thảo tờ trình "Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loài động vật hoang dã thuộc các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp" gửi Thủ tướng xem xét, quyết định.
Theo đó, Bộ NNPTNT đề nghị Chính phủ quyết định cấm cho xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật của các loài: Tê giác trắng, tê giác đen, voi châu Phi.
Trước đó, Bộ NNPTNT nhiều lần lên tiếng về thực trạng buôn bán các mẫu vật động vật quý hiếm, đặc biệt là sừng tê giác, ngà voi châu Phi do người Việt Nam thực hiện đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín quốc gia.
Ngày 25.12, Tổ chức xã hội bảo vệ động vật hoang dã (WCS) tại Việt Nam công bố bản dịch một cách làm mới đang được thử nghiệm ở Nam Phi để ngăn chặn những kẻ giết trộm tê giác lấy sừng trái phép. Theo đó, một số chất sẽ được tiêm vào sừng tê giác nhờ thiết bị áp lực cao đã được cấp bằng sáng chế. Chất được tiêm vào là thuốc nhuộm để nhuộm sừng tê giác đổi sang màu hồng chói không đổi màu, loại vật liệu này giống loại mực sử dụng cho việc bảo đảm tiền thật của một số ngân hàng.
Cách làm này khiến cho sừng tê giác không thể dùng làm vật trang trí được nữa, thậm chí khi được nghiền thành bột mịn, nó vẫn dễ dàng bị máy quét của sân bay phát hiện. (Nông Thôn Ngày Nay 26/12)đầu trang(
Liên quan đến việc khắc phục hậu quả các sai phạm tại Bình Phước mà Đoàn kiểm tra 733 của Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương chuyển cho công an tỉnh này, ngày 25-12, một nguồn tin cho biết Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh Bình Phước đã có cuộc họp bàn việc khắc phục các sai phạm.
Về việc xử lý cán bộ có liên quan sai phạm, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh đề nghị: Cán bộ thuộc cấp nào quản lý thì cấp đó xem xét, xử lý theo quy định.
Theo đó, đối với vụ bán 323 ha cao su (với giá hơn 80 tỉ đồng) để tạo vốn đầu tư dự án BT đường Lộc Tấn-Bù Đốp, Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh đề nghị tổ khắc phục hậu quả và các cơ quan liên quan triển khai việc thỏa thuận, thu hồi quyết định phê duyệt kết quả đấu giá và quyết định bán thẳng. Cụ thể, sẽ thỏa thuận trả tiền gốc và thu hồi giấy đỏ, đồng thời công an làm rõ nguồn gốc số tiền mà người trúng đấu giá đã chi trả để có hướng thỏa thuận cho phù hợp. Đối với các chi phí phát sinh không hợp lý thì tổ chức, cá nhân nào sai phạm tự chịu trách nhiệm chi trả.
Đối với vụ việc giao hơn 6.200 m2 đất (sau đài truyền hình tỉnh) cho Công ty Xây dựng Bình Phước để xây dựng nhà liền kề mà không thông qua đấu giá, bán với giá thấp có dấu hiệu thất thu ngân sách, Ban Cán sự Đảng đề nghị tổ khắc phục hậu quả phối hợp với công ty điều chỉnh lại dự án theo mục tiêu bố trí tái định cư. Đối với lô đã xây dựng thì thu hồi để tổ chức đấu giá theo quy định, nếu các hộ đồng ý; trường hợp người dân không đồng ý thì đàm phán để nâng giá đất lên tương ứng. Đối với lô chưa xây dựng và dành để tái định cư đề nghị giữ nguyên hiện trạng.
Ngoài ra, đối với việc áp giá 72 ha rừng trồng giá tị tại huyện Đồng Phú, Ban Cán sự Đảng cũng đề nghị Sở NN&PTNT tham mưu thành lập tổ khắc phục hậu quả. Tổ cũng làm rõ sản lượng gỗ chính thức, rà soát lại giá bán theo quy định để xác định số tiền chênh lệch (vụ việc này cơ quan điều tra vẫn đang làm rõ trách nhiệm của cán bộ sở, ngành liên quan trong việc áp giá rừng cây sai).
Liên quan đến các sai phạm trong việc giao đất giao rừng, Ban Cán sự cũng đề nghị thu hồi dự án mà hàng chục công ty sử dụng sai, sang nhượng trái phép. Cụ thể, Ban Cán sự Đảng đề nghị thu hồi toàn bộ diện tích đất đối với hai dự án của Công ty Tân Thiên Mẫn và Hưng Phước Trường mà ông Đỗ Quốc Quýt, ông Đặng Văn Hơn (tổng và phó tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Sông Bé) đã lấy đất được tỉnh giao cho hai công ty “sân sau” do vợ và con đứng tên.
Đối với dự án của Công ty Vinaphygen: Ban Cán sự đề nghị rà soát lại theo chỉ đạo của Thủ tướng đối với các dự án cho người nước ngoài thuê để trồng rừng, trồng cây công nghiệp để xử lý theo quy định. Ngoài ra, lãnh đạo Ban Cán sự Đảng UBND tỉnh cũng đề nghị Sở Tư pháp phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư rà soát lại việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty B58, nếu không đúng quy định phải thu hồi…
Liên quan đến việc khắc phục xử lý các sai phạm, Đoàn công tác của UBKT Trung ương đã đến Bình Phước làm việc với lãnh đạo tỉnh này và các cán bộ có liên quan để sớm khắc phục xử lý các sai phạm mà UBKT Trung ương đề nghị làm rõ. (Pháp Luật TPHCM 26/12)đầu trang(
25/12, Sở NN&PTNT tổ chức Hội nghị tổng kết Dự án trồng rừng Việt Đức tại tỉnh Nghệ An. Tới dự có đại diện lãnh đạo Ban quản lý dự án Trung ương, ông Đinh Viết Hồng - phó chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo 5 huyện và 21 xã tham gia dự án.
Dự án trồng rừng Việt - Đức được hình thành trên cơ sở thành công của các dự án trồng rừng do ngân hàng tái thiết Đức tài trợ tại Việt Nam với mục đích trồng và quản lý bền vững 19.000ha rừng sản xuất trên đất trống, đồi trọc đang bị đe dọa về sinh thái, đã được giao cho các hộ nông dân các thôn, bản được lựa chọn ở các xã thuộc 10 huyện của 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.
Ở Nghệ An có 21 xã thuộc 5 huyện Thanh Chương, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh lưu và Yên Thành tham gia thiết lập và quản lý 9.000ha rừng. Sau 10 năm thực hiện dự án, mặc dù gặp không ít khó khăn, thách thức nhưng tỉnh Nghệ An đã thực hiện thành công các hạng mục của dự án trồng rừng Việt Đức như: Nâng cao năng lực cho cộng đồng thông qua việc lập kế hoạch, có sự tham gia của người dân, kiến thức dự án còn được các xã áp dụng vào xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương;
Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất tại các xã, Ban quản lý dự án các huyện đã tiến hành điều tra đo đếm diện tích các loại lập địa, sau đó tiến hành sản xuất cây giống; Dự án đã tổ chức được 315 lớp tập huấn với tổng trên 8300 lượt người tham gia; Dự án đã thực hiện trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng được gần 8.000 ha, trong đó diện tích rừng trồng trên 3900 ha chiếm 49,6%;
Đến hết năm 2012, dự án đã mở được trên 5.400 tài khoản tiền gửi cá nhân cho các hộ tham gia dự án với số tiền gần 22,9 tỷ đồng, trực tiếp tạo công ăn việc làm cho hơn 5400 hộ dân với khoảng trên 16.200 lao động. (Báo Nghệ An; Theo Đài PT – TH Nghệ An 26/12)đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Tuy Phong (Bình Thuận) đang triển khai chương trình trồng rừng tại khu bảo tồn biển Hòn Cau, phấn đấu đến năm 2015, đạt tổng diện tích 20 ha.
Chương trình trồng rừng tại khu bảo tồn Hòn Cau mang tính chiến lược lâu dài nhằm thiết lập một khu rừng phòng hộ tập trung để nâng cao hiệu quả phòng hộ, nâng độ che phủ cho đảo, chắn gió, tích nước, cải thiện môi trường; đồng thời góp phần phát triển du lịch, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. (Nhân Dân 26/12)đầu trang(
24.12, tại Hà Nội, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tổ chức Hội thảo khoa học "Đào tạo cán bộ có trình độ đại học ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn nửa thế kỷ nhìn lại".
Theo kết quả điều tra mới đây của Bộ NNPTNT, hiện nay, trên cả nước có 13 trường đại học, cao đẳng có ngành đào tạo về nông, lâm nghiệp; 60% trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm nghề có dạy nghề nông, lâm nghiệp.
Tuy nhiên, một lãnh đạo trường này cho rằng hiện nay, số cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ khối ngành nông, lâm nghiệp ra trường hằng năm không cung ứng đủ nhu cầu xã hội do quá trình đào tạo chưa nắm được nhu cầu nguồn nhân lực nông, lâm nghiệp về số lượng và cơ cấu ngành nghề, chưa dự báo được thị trường nguồn nhân lực. (Nông Thôn Ngày Nay 25/12)đầu trang(
Tại buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội năm 2012, ngày 24/12, Tổng cục Thống kê cho biết: giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2012 đạt 255,2 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với năm 2011.
Trong đó, nông nghiệp đạt 183,6 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8%; lâm nghiệp đạt 8,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,4%; thuỷ sản đạt 63,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5%.
Cũng theo Tổng cục Thống kê, trong năm 2012, tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 48,5 triệu tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, sản lượng lúa ước tính đạt 43,7 triệu tấn, tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011; diện tích đạt 7753,2 nghìn ha, tăng 97,8 nghìn ha; năng suất đạt 56,3 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha; sản lượng ngô đạt 4,8 triệu tấn.
Về chăn nuôi, theo thống kê tại thời điểm 1/10/2012 cho thấy, đàn lợn cả nước có 26,5 triệu con, giảm 2,1% so với cùng kỳ năm 2011. Trong đó đàn lợn nái có 4 triệu con, giảm 0,5%; đàn trâu có 2627,8 nghìn con, giảm 3,1%; đàn bò có 5194,2 nghìn con, giảm 4,5% (bò sữa có 167 nghìn con, tăng 17%); đàn gia cầm có 308,5 triệu con, giảm 4,4% (gà 223,7 triệu con, giảm 3,86%). Sản lượng thịt hơi năm 2012 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 2,5% so với năm trước….
Về lâm nghiệp và thủy sản, diện tích rừng lâm nghiệp tập trung cả năm đạt 187 nghìn ha, bằng 88,2% năm 2011. Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2012 là 3.225 ha, giảm 18%. Sản lượng thủy sản năm 2012 cũng tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2011.
Với mức tăng trưởng ấn tượng này, Tổng cục Thống kê cho biết, trong 5,03% tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,72%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. (Đảng Cộng Sản VN 25/12)đầu trang(
Theo phản ánh của bạn đọc, PV tìm về những cánh rừng phía tây nam huyện Bắc Trà My- Quảng Nam và đã chứng kiến cảnh người dân tàn phá rừng nguyên sinh để trồng keo. Nhưng kỳ lạ chưa hề thấy cơ quan chức năng vào cuộc.
Ông Nguyễn Tuấn Sơn – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Trà My cho biết: Việc phá rừng là có thật. Diện tích rừng bị phá trên chúng tôi đã xác định được hai đối tượng. Một người phá 1,59ha và một người phá 1,42ha. Vụ việc vượt quá thẩm quyền nên chúng tôi đang hoàn tất hồ sơ để chuyển cho Công an huyện. Tuy nhiên, qua điều tra của chúng tôi, rừng ở khu vực này bị tàn phá ước khoảng gần 50ha. Có những đối tượng ngang nhiên vào giữa rừng già đốt phá để trồng keo từng bị kiểm lâm kiểm tra, nhưng sau đó đâu lại vào đó.
Ngay chính ông Sơn cũng thừa nhận, ngoài diện tích rừng bị phá trên, nhiều địa điểm khác rừng cũng bị người dân xâm hại để trồng keo, như khu vực giáp giới giữa Trà Giang – Trà Nú... Mỗi lần giá cây keo nguyên liệu tăng thì đồng nghĩa với việc người dân phá rừng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên ông Sơn cho rằng, diện tích rừng bị phá một phần trách nhiệm quản lý thuộc về địa phương.
Nói như ông Sơn cho thấy sự quản lý, bảo vệ rừng ở đây còn quá sơ sài, nghiêm trọng nhất là rừng nguyên sinh đang tiếp tục bị tàn phá. Đề nghị UBND huyện Bắc Trà My sớm có biện pháp quyết liệt hơn, xử lý thích đáng những kẻ cố tình tàn phá rừng để bảo vệ rừng nguyên sinh trên địa bàn của mình. (Đại Đoàn Kết 25/12)đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều người ở các xã Cát Chánh, Cát Tiến, huyện Phù Cát ngang nhiên khai thác rừng trái phép. (Nhân Dân 25/13)đầu trang(
25-12, tin từ Bộ NN&PTNT cho biết: Bộ đã nhận được ý kiến chính thức của UBND TP.HCM đối với ý tưởng xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu - Gò Công do Bộ NN&PTNT đề xuất.
Cụ thể, văn bản gửi Bộ NN&PTNT do Phó Chủ tịch UBND TP Lê Minh Trí ký ngày 14-12-2012 nêu rõ: “UBND TP.HCM không ủng hộ ý tưởng xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu - Gò Công”.
Theo văn bản trên, qua tổng hợp ý kiến và cân nhắc về nhiều mặt, TP nhận thấy tuyến đê biển Vũng Tàu - Gò Công không có khả năng chống lũ hay giảm lưu lượng lũ trên các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ. Tuyến đê còn tác động nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của rừng ngập mặn Cần Giờ nên sẽ không được sự đồng tình của nhân dân TP, UNESCO và các tổ chức quốc tế khác.
Về hiệu quả kinh tế-xã hội, văn bản cho rằng dự án chưa nghiên cứu các vấn đề ảnh hưởng đến đời sống sinh kế của người dân địa phương đã bám sông, bám biển qua nhiều đời. Chưa kể, việc ngăn đê xây hồ chứa sẽ gây bồi lắng làm ảnh hưởng đến giao thông thủy. Tuyến đê cũng không thể đáp ứng được thời gian nhanh nhất cho tàu thuyền vào tránh bão. (Pháp Luật TPHCM 26/12)đầu trang(
Công an huyện Ba Bể vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 7 đối tượng liên quan đến việc triệt hạ gỗ nghiến trong VQG Ba Bể.
Chiều 25/12, trao đổi với VietNamNet, Thượng tá Nông Đình Thiệp - Trưởng Công an huyện Ba Bể (Bắc Kạn) cho biết: “CQĐT Công an huyện Ba Bể đã chính thức tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh bắt tạm giam 4 tháng theo Điều 175 Bộ luật hình sự về hành vi: “Vi phạm các qui định về quản lý và bảo vệ rừng” đối với 7 đối tượng gồm: Triệu Kim Phượng (SN 1962); Triệu Kim Thắng (SN 1969); Lý Kim Tiến (SN 1970); Triệu Long Thọ (SN 1992), Đặng Tòn Khánh (SN 1991); Đặng Dư Tiến (SN 1986) và Đặng Dương Hoa (SN 1980), đều là người của dân tộc Dao, trú tại bản Lồm - Nam Cường - Chợ Đồn (Bắc Kạn).
Tại cơ quan công an, bước đầu, các đối tượng khai nhận: từ đầu tháng 11/2012 đã dùng cưa xăng đốn hạ 15 cây gỗ nghiến (khoảng 65m3). Khu vực lâm tặc đốn hạ gỗ nghiến thuộc cột mốc 50, 51 - tiểu khu 83, thuộc vùng lõi VQG Ba Bể.
Trước đó, vào tháng 6/2012, VietNamNet đã có tuyến bài điều tra về vấn nạn rừng nghiến ở Ba Bể đang bị tàn sát.
Sau khi báo đăng, lãnh đạo tỉnh Bắc Kạn đã khẩn trương vào cuộc, chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ, xử lý một số cán bộ vi phạm. Bộ Công an cũng đã vào cuộc để điều tra vấn nạn khai thác, buôn bán gỗ nghiến trái phép.
Tuy nhiên, khi sự việc chưa lắng xuống thì đến tháng 11/2012, rừng nghiến ở VQG Ba Bể lại tiếp tục bị lâm tặc tàn sát.
Ông Nông Văn Chí – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn cho biết: ngay sau khi sự việc xả̉y ra, Thường vụ, UBND tỉnh đã tổ chức họp và yêu cầu CQĐT Công an tỉnh vào cuộc điều tra, xác minh, làm rõ các đối tượng lâm tặc chặt hạ gỗ rừng trái phép để đưa ra trừng trị trước pháp luật.
Đồng thời, tỉnh Bắc Kạn cũng sẽ làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân liên quan.
“Chúng tôi sẽ xem đây là một vụ án điểm, sẽ xử lý triệt để các cá nhân sai phạm liên quan đến vụ việc này. Không thể để tình trạng lâm tặc tàn phá rừng nghiến cứ tiếp tục diễn ra nữa” – PCT tỉnh Bắc Kạn khẳng định.
Ông Nông Thế Diễn – Giám đốc VQG Ba Bể cho biết: “Ban giám đốc đã yêu cầu 2 ông trạm trưởng gồm Nguyễn Văn Quốc - Trạm kiểm lâm Quảng Khê, ông Dương Xuân Tứ - Trạm kiểm lâm Bản Quá và một số cán bộ kiểm lâm viên thuộc VQG làm bản giải trình báo cáo rõ về sự việc để làm rõ trách nhiệm liên quan đến việc gỗ nghiến bị lâm tặc chặt hạ”. (Vietnamnet 26/12)đầu trang(
Ngày 25.12, UBND tỉnh Bình Định cho biết đã có văn bản yêu cầu Chủ tịch UBND TP.Quy Nhơn và các huyện Phù Cát, Tuy Phước khẩn trương chỉ đạo kiểm tra thông tin, kiểm điểm trách nhiệm, có biện pháp xử lý những tập thể, cá nhân có liên quan đến việc tàn phá rừng dương phòng hộ ven biển trên địa bàn mà Báo Thanh Niên ngày 10.12.2012 đã phản ánh.
Kết quả kiểm tra phải báo cho UBND tỉnh trước ngày 28.12.2012 để UBND tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Trước đó, ngày 17.12, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã yêu cầu UBND tỉnh Bình Định kiểm tra, xử lý và báo cáo vấn đề này với Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30.12.2012. (Thanh Niên 26/12)đầu trang(
Theo tin từ Đội Quản lý thị trường (QLTT) số 7, Chi cục QLTT Hà Nội, ngày 25-12, Tổ Công tác đã bất ngờ kiểm tra cơ sở buôn bán đá quý Thúy Gấu (số 119A đường Mễ Trì, Từ Liêm, Hà Nội). Tại đây Tổ Công tác phát hiện một số lượng lớn các loại rượu ngâm động vật hoang dã, thảo dược và cả cành, quả cây anh túc.
Đại diện Đội QLTT số 7 cho biết, khoảng 11giờ 30 phút, đơn vị đã phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường (Công an TP. Hà Nội), Đội Công an kinh tế (Công an huyện Từ Liêm) và Viện Khoa học Kỹ thuật Hình sự (Bộ Công an) kiểm tra cơ sở buôn bán đá quý Thúy Gấu do bà Hà Phương Thúy (SN 1966, trú tại Yên Bái) làm chủ. Tại tầng 2 và 3 của căn nhà được chủ nhà sử dụng làm nơi bày bán và sang chiết rượu.
Cụ thể, tầng 2 là kho rượu ngâm động vật hoang dã và nhiều loại thảo dược khác nhau, trong đó có cả cành và quả cây anh túc, tất cả được xếp kín các chai, bình rượu. Tại tầng 3, Tổ Công tác phát hiện nhiều thùng nhựa cỡ lớn đựng đầy rượu cùng nhiều chai nhỏ loại 330ml. Tại khu vực này, chủ hàng sẽ tiến hành sang chiết rượu sang các chai nhỏ không có nhãn mác trước khi bán ra thị trường.
Ngay sau đó, cán bộ của Viện Khoa học Kỹ thuật Hình sự đã tiến hành thử test nhanh với một số mẫu rượu, kết quả cho thấy, một số mẫu có phản ứng dương tính với chất ma túy. Tổ Công tác đã tiến hành niêm phong toàn bộ số rượu để tiếp tục điều tra mở rộng.
Bà Hà Phương Thúy khai nhận, số rượu trên được vận chuyển từ Yên Bái về Hà Nội tiêu thụ.
Theo Ông Lương Thế Vinh, Phó đội trưởng Đội QLTT số 7, toàn bộ số rượu trên ước tính khoảng 5.000 lít. Tại thời điểm Tổ Công tác kiểm tra, bà Hà Phương Thúy không xuất trình được các giấy phép kinh doanh rượu cùng các giấy tờ chứng minh chất liệu sản phẩm. (Hải Quan 26/12)đầu trang(
Sau khi báo Sài Gòn Tiếp Thị đăng bài Hoàn lương trắc trở, ngày 25.12.2012, ông Nguyễn Văn Kỳ, phó giám đốc sở Văn hoá – thể thao và du lịch Quảng Bình đã ký văn bản số 582 gửi ban quản lý vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng và trung tâm Du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng yêu cầu giải trình các nội dung liên quan đến thợ ảnh và thợ thuyền.
Văn bản đề nghị ban quản lý vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng chỉ đạo trung tâm Du lịch nhanh chóng tổ chức cuộc họp để giải trình trước HĐND xã Sơn Trạch, các thợ chụp hình, người lái thuyền, đồng thời có văn bản giải trình với cấp trên và các sở, ban ngành liên quan các vấn đề mà HĐND xã Sơn Trạch nêu.
Ông Nguyễn Văn Kỳ cho biết, việc người dân phản ánh là có cơ sở. Hiện tại, có khoảng 30 thợ ảnh có máy ảnh kỹ thuật số và họ chọn cách chia sẻ cho những người thợ ảnh dùng máy phim mượn khi đến phiên điều động. Để giải thích với các thợ ảnh, trung tâm Du lịch Phong Nha đã mời 40 thợ ảnh đến họp và ra văn bản phủ định không có chuyện cấm thợ ảnh chụp máy phim.
Tuy nhiên, khi tìm hiểu, chúng tôi được biết, những thợ ảnh được mời họp là những người có máy ảnh kỹ thuật số, trong khi đó 350 người còn lại dùng máy phim không được dự họp... Bí thư huyện uỷ Bố Trạch, ông Trần Thanh Văn cho biết, đã chỉ đạo Đảng bộ vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng xử lý và báo cáo rốt ráo sự việc. (Sài Gòn Tiếp Thị 26/12)đầu trang(
Trong năm 2012, Hạt Kiểm lâm Hương Sơn đã bắt giữ và xử lý 176 vụ vi phạm Luật bảo vệ rừng.
Trong đó, có 137 vụ mua bán, vận chuyển cất giấu lâm sản trái phép; vi phạm chế biến: 9 vụ; khai thác rừng trái phép: 19 vụ; vi phạm về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã: 4 vụ…Tịch thu 329,254 m3 gỗ từ nhóm 2 đến nhóm 8; tịch thu 996,3kg động vật rừng; thu giữ 8 xe máy, 18 xe thô sơ, 1 xe công nông; xử phạt hành chính với số tiền là 471 triệu đồng; tiền bán lâm sản, phương tiện tịch thu: 915.625.000 đồng. (Báo Hà Tĩnh 26/12)đầu trang(
Sau khi phát hiện cây “thần dược” xáo tam phân đang gây cơn sốt trên thị trường, có ở núi Gò Đá, người dân lại đổ xô đến khu vực này tìm kiếm vận may, khiến cả ngọn núi bị đào xới tan nát.
Mỗi ngày, hàng trăm người dân từ khắp nơi đổ xô lên núi Gò Đá (thôn Thượng Phú, xã Bình Kiến, TP Tuy Hòa, Phú Yên), đào xới, “băm nát” cả một vùng đồi rộng lớn, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Theo chân những người đi tìm “thần dược”, phóng viên chứng kiến cảnh hàng chục người dân lật tung từng tảng đá lớn trên núi Gò Đá để tìm cây xáo tam phân.
Những người dân địa phương cho hay, sau khi đọc báo thấy nói cây xáo tam phân ở núi Hòn Hèo (Khánh Hòa) giống với cây cam lồ trên núi Gò Đá, dân đồng loạt gác lại công việc thường nhật, vội vã khăn gói lên núi tìm cây.
Ngay ngày hôm sau, một số người lạ đã đến đây hỏi mua cây này với giá 170.000 đồng/kg rễ tươi và 40.000 đồng/kg cành nhánh tươi. Mấy ngày sau nữa, giá cây thuốc đã tăng lên đến 500.000 đồng/kg. Thấy dễ kiếm tiền, người dân càng háo hức rủ nhau đi đào cây về bán, kiếm tiền tiêu Tết.
Tuy nhiên lượng cây ngày càng hiếm vì không chỉ người dân xã Bình Kiến mà hàng trăm người từ các địa phương khác cũng đang ùn ùn kéo lên núi Gò Đá đào cây. Ông Trần Đình Tâm từ Bình Định cùng hai người bạn kéo nhau vào núi Gò Đá tìm vận may. Ông Tâm vừa dùng xẻng đào xới đất, tìm rễ “thần dược”, vừa cho biết: “Tôi có người thân ở xã Bình Kiến. Hôm vào chơi, anh liền rủ tôi lên núi cùng tìm cây cam lồ về bán rồi chia đôi. Việc đồng áng ở quê đang bận rộn nhưng việc này dễ kiếm tiền hơn tôi vô đây tìm cây luôn”.
Theo cơ quan chức năng xã Bình Kiến, gần một tuần nay, nhiều người lạ đến địa phương, dùng rựa, cuốc, xẻng, xà beng hì hục đào bới đất đá, chặt phá cây rừng, lục tung khu vực đồi núi Gò Đá để đào “thần dược”. Chính quyền đã tổ chức lực lượng ngăn chặn các đường lên núi nhưng người dân vẫn len lỏi vào rừng bằng nhiều ngả khác nhau. Hiện tình hình an ninh trật tự tại khu vực này rất phức tạp, địa phương đang xin ý kiến chỉ đạo và sự hỗ trợ của cấp trên để có hướng xử lý phù hợp. (Dân Trí 26/12)đầu trang(
25-12, Hiệp hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM đã tổ chức hội thảo Minishow - Đồ gỗ made in Việt Nam tại quận Tân Phú, TP.HCM.
Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch hiệp hội, các công ty nghiên cứu thị trường thế giới đánh giá xuất khẩu đồ gỗ, nội thất của Việt Nam có thể đạt khoảng 5,8 tỉ USD/năm (hiện chỉ hơn 4 tỉ USD). Trong đó, sức tiêu thụ của thị trường nội địa là hơn 2,5 tỉ USD. Đây là tiềm năng mà các doanh nghiệp (DN) Việt “quên” khai thác nhiều năm qua.
Hiện nay trên sân nhà, đồ gỗ, nội thất Việt Nam có ba đối thủ là hàng Trung Quốc giá rẻ tràn ngập, showroom của các công ty đa quốc gia dày đặc và sản phẩm ngoại cao cấp do DN Việt Nam mua về bán. Sản phẩm của Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các dòng sản phẩm này nhưng hệ thống phân phối chưa hoàn thiện đã dẫn đến sự không đồng bộ trong phong cách và xu hướng tiêu dùng.
Do đó, nếu các DN thiết lập được hệ thống phân phối hiệu quả, đa dạng sản phẩm, đưa sản phẩm đến được các khu dân cư, về tỉnh thì chắc chắn sẽ lấy được lòng tin của người tiêu dùng trong nước. (Pháp Luật TPHCM 26/12; Đại Đoàn Kết 26/12)đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TPHCM (Hawa) cho biết đang nghiên cứu ý tưởng mở kênh phân phối, bán lẻ đồ gỗ nội thất tại các khu dân cư để thúc đẩy tiêu dùng hàng nội thất sản xuất trong nước.
Tại hội thảo “Minishow tại khu dân cư” do Hawa tổ chức ngày 25-12, các doanh nghiệp tham gia đã đóng góp ý kiến về vệc mở thêm kênh phân phối, bán lẻ tại khu vực TPHCM đang phát triển các dự án dân cư, chung cư, cao ốc văn phòng, bên cạnh các hệ thống bán sỉ, lẻ nội thất đang có mặt trên thị trường.
Theo ông Trần Việt Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần mỹ thuật Gia Long, tiềm năng bán hàng của khu vực còn đang phát triển về mặt xây dựng này là khá lớn. Tuy nhiên cần chú ý đến khía cạnh giá bán, vốn quyết định lợi thế cạnh tranh của hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập.
“Theo tôi chỉ mở cửa hàng phân phối ở những cụm dân cư nhất định để tránh gây tốn kém mà không hiệu quả như mong muốn”, ông nói.
Mục đích của việc mở thêm kênh tiêu thụ là để giúp các doanh nghiệp kinh doanh đồ gỗ xuất khẩu tăng doanh số tiêu dùng nội địa vốn còn khá khiêm tốn. Theo ước tính của Hawa, trị giá của thị trường đồ gỗ trong nước có thể lên đến 2,5 tỉ đô la Mỹ/năm.
Theo một nhà xuất khẩu đồ gỗ đang tìm hiểu thị trường nội địa, hệ thống phân phối sản phẩm nội thất tại thị trường Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện, dẫn đến sự thiếu đồng bộ, không nhất quán về phong cách và xu hướng tiêu dùng.
Một trong những thách thức khác của các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ khi tìm cách quay lại thị trường nội địa là cạnh tranh với các đối thủ đến từ nước ngoài như các hệ thống nhập khẩu và phân phối đồ nội thất đến từ các nước Thái Lan, Malaysia… như Index, SB Furniture. (Thesaigontimes.vn 26/12)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Mới đây, ông Đoàn Thế Nam - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, nguyên Giám đốc Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh Bình Phước bị lãnh đạo tỉnh này buộc phải kiểm điểm để đợi kỷ luật.
Đáng chú ý, ông này bị buộc phải có trách nhiệm trong việc trồng khôi phục 10 hecta rừng tràm do bị chặt phá trái phép. Cùng đó, ông này còn phải hoàn trả hơn 100 triệu đồng tiền thất thoát cho ngân sách nhà nước trong việc bán rừng tràm. Ở ta, việc cán bộ làm sai, phải vào vòng lao lý cũng không phải ít; người bị tịch biên tài sản do phạm tội mà có cũng nhiều. Nhưng việc "bắt đền” như trường hợp này quả là hiếm hoi.
Việt Nam ta vốn là quốc gia rừng vàng biển bạc. Rừng và biển cũng những cánh đồng phì nhiêu nuôi sống dân tộc này. Tuy nhiên, do sự khai thác quá mức, vô kế hoạch cũng như nạn lâm tặc hoành hành nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Có nhiều địa phương miền núi, vốn chỉ có núi rừng, thì nay cũng đã "hoàn thành kế hoạch phá rừng”, đi đâu cũng thấy những quả đồi ngọn núi xác xơ, trơ trụi.
Đã thế, nguy hiểm hơn còn là sự phá rừng đầu nguồn, khiến cho công tác phòng hộ mùa lũ lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn. Nước thượng nguồn cứ theo các dòng suối mà ào ào đổ về, không được ngăn lại vì cây rừng đã mất, nên hậu quả đối với những nơi nó đi qua mà đặc biệt là hạ du là vô cùng lớn. Đau lòng hơn, những khi lũ về, gỗ của đám lâm tặc chặt hạ để trong rừng chưa kịp vận chuyển theo dòng nước xiết lao xuống dưới xuôi. Người dân theo nhau lao vào dòng nước lũ để "mót” gỗ, có người bị nước cuốn trôi mất xác.
Rừng bị tàn phá ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống của con người lẫn động, thực vật trong rừng. Nhiều loại gỗ quý biến mất. Thảm thực vực gặp thảm họa. Nhiều loài động vật hoang dã không còn đất sống, không còn nguồn thức ăn; phần thì bị con người sắn bắn, phần thì đói khát mà chết. Ngay đến các loài chim cũng không có chỗ đậu, phải "bỏ xứ” mà đi.
Trước đây, Việt Nam được coi là ga đỗ cho những đàn chim từ rất nhiều quốc gia di trú, thì nay chim muông của chúng ta lại phải "di cư” sang nơi khác. Danh sách các loài động, thực vật nối đuôi nhau vào Sách Đỏ báo động về sự tuyệt diệt ngày một dài thêm. Đó là điều rất đau lòng
Đã thế, việc trồng mới lại rừng không hoàn thành. Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng được kỳ vọng rất nhiều nhưng trên thực tế mức độ che phủ của rừng vẫn không đạt yêu cầu (40%). Nhiều doanh nghiệp được giao trồng rừng nhưng lại... khai thác rừng, có doanh nghiệp còn biến đất rừng được giao thành địa điểm tham quan du lịch, kể cả làm khu nghỉ dưỡng cao cấp. Công tác bảo vệ rừng chưa nghiêm, các vụ lâm tặc triệt hạ rừng vẫn diễn ra hàng ngày, các vụ lâm tặc tấn công kiểm lâm cũng diễn ra thường xuyên. Những vụ lâm tặc bị bắt, ngoài việc tịch thu gỗ, xét xử..., thì chưa thấy bao giờ chính quyền buộc lâm tặc phải trồng lại rừng.
Việc một Phó Giám đốc Sở bị buộc phải trồng lại tới 10hecta rừng vì thế được coi là một lời cảnh báo nghiêm khắc: không chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng, trước chính quyền, trước pháp luật, mà còn phải sửa sai những gì mình đã gây nên - ở đây là phải hoàn nguyên diện tích rừng mình đã góp tay phá hủy.
Nếu việc "bắt đền” này được mở rộng sang các lĩnh vực khác thì thật may mắn biết bao, chắc chắn sẽ hạn chế được nhiều hành vi phá hoại khác. Ví dụ như việc mua ụ nổi tàu không sử dụng được, mua một con tàu lừng lững lại là tàu cũ không khai thác hiệu quả... Nếu trước đó người trong cuộc biết buộc phải "đền” thì chắc có lẽ cũng không dám liều mạng "chấm mút”, "moi ruột” trục lợi cá nhân. Đã từng có kẻ xác định làm liều, vơ vét càng nhiều càng tốt, sau đó đi tù cũng xong theo kiểu "hy sinh đời bố củng cố đời con”. Nếu buộc phải "đền” những tổn thất do họ mang lại với dân với nước thì hẳn đã chùn tay.
Do không bị đền nên rất nhiều kẻ làm liều, cố tình hoặc vô tình gây ra hậu quả nghiêm trọng cho cộng đồng, cho xã hội. Áp lực trách nhiệm, áp lực phải làm tốt không lớn trong hầu hết các vị trí công việc nên xuất hiện tư tưởng làm cầm chừng, được chăng hay chớ.
Trong khi đó miếng mồi lợi nhuận béo bở của việc làm liều lại rất lớn nên nhiều kẻ rất liều lĩnh. Chỉ cần tặc lưỡi cho qua, ngó lơ nơi khác cho tội phạm; chỉ còn nhắm mắt hạ bút ký một văn bản nào đó để được "tiền tấn” trong khi nếu có phát hiện thì cùng lắm cũng chỉ... đi tù là xong, còn thì "tiền vẫn ở trong tủ nhà ta”- là kẽ hở để tội phạm xuất hiện, mặt nào đó còn kích thích thói hư tật xấu trong con người. Người ta sẽ so sánh, trừng phạt chỉ thế này, lợi nhuận lại ngần kia, thì rất có thể sẽ chọn điều xấu.
Vốn đã có chuyện chính quyền buộc các chủ lò gạch thủ công sau khi moi đất nung gạch, thì phải hoàn thổ. Nhưng thực ra thì cũng có mấy chủ lò gạch làm điều này đến nơi đến chốn đâu. Nay có chuyện bắt đền một quan chức trồng lại rừng thì đó là điều đáng phấn khởi. Ở đây chính là sự sòng phẳng: anh làm hại thì phải đền, chứ không chỉ là nhận kỉ luật là xong. Khái niệm sòng phẳng được nhiều người nói đến như một từ cửa miệng, nhưng trong cuộc sống còn nhiều điều không sòng phẳng. Mà điều đó thì cần phải được đặt ra một cách sòng phẳng. (Đại Đoàn Kết 26/12) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa
|
|||