|
Ngày 26 tháng 12 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Sản xuất nông nghiệp ở miền núi chưa phát triển, đời sống của đồng bào dân tộc vẫn còn dựa nhiều vào rừng, do đó, rừng và các lâm sản khác luôn bị khai thác, tàn phá. Vì vậy, để bảo vệ rừng, cách tốt nhất là phải dựa vào dân.
Quảng Trị có hơn 2/3 diện tích tự nhiên là rừng và đất lâm nghiệp. Những năm qua, mặc dù lực lượng kiểm lâm đã tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng song hiệu quả vẫn không đạt như mong muốn.
Nguyên nhân là do lực lượng kiểm lâm mỏng không kiểm soát hết diện tích rừng và cũng không thể có mặt tại rừng 24/24h để bảo vệ rừng. Hơn nữa, do sản xuất nông nghiệp ở miền núi chưa phát triển, đời sống của đồng bào dân tộc vẫn còn dựa nhiều vào rừng, do đó, rừng và các lâm sản khác luôn bị khai thác, tàn phá. Vì vậy, để bảo vệ rừng, cách tốt nhất là phải dựa vào dân.
Từ năm 2006, Quảng Trị là một trong 10 tỉnh của cả nước được chọn thực hiện thí điểm dự án lâm nghiệp cộng đồng, giao rừng cho cộng đồng dân cư bảo vệ và người dân cũng được sống dựa vào rừng một cách bền vững. Theo đó, 8 thôn thuộc 4 xã là Đakrông, Tà Long, A Vao và Ba Nang của huyện Đakrông được hưởng lợi từ dự án này. Rừng cộng đồng là rừng nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng được triển khai thực hiện các bước khá chặt chẽ. Trình tự các công việc như xây dựng quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã, hương ước bảo vệ rừng cấp thôn, kế hoạch khai thác tiêu thụ lâm sản, mô hình kinh doanh rừng ổn định. Ban quản lý dự án đã triển khai thực hiện từ thôn, bản. Tất cả các công việc này đều do dân tự làm dưới sự hướng dẫn của cán bộ dự án. Các kế hoạch, đánh giá chất lượng rừng, hương ước của thôn, bản đều qua sự phê chuẩn của chính quyền cấp xã, huyện trước khi triển khai thực hiện. Công việc này được hoàn tất trước khi giao rừng cho dân.
Đồng thời, khi nhận rừng cộng đồng dân cư thôn, bản phải có cam kết với chính quyền địa phương xã, huyện về trách nhiệm bảo vệ rừng. Các nghĩa vụ và quyền lợi cũng được quy định rõ khi người dân nhận rừng. Người dân có trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng đã nhận.
Về quyền lợi, cộng đồng thôn, bản được hưởng phần giá trị rừng phát triển thêm sau một vài năm thực hiện bảo vệ như lâm sản ngoài gỗ, gỗ cây rừng trồng phụ trợ... Các xã tham gia dự án cũng được hỗ trợ kinh phí để thành lập quỹ phát triển lâm nghiệp. Với nguồn quỹ này, các xã có thể triển khai phát triển lâm nghiệp trên địa bàn như xây dựng mô hình lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng... để làm sinh lợi nguồn quỹ từ đầu tư lâm nghiệp và thay đổi thói quen của cộng đồng trong kế hoạch quản lý rừng cộng đồng nhằm đạt được tính bền vững khi dự án kết thúc.
Thành công lớn nhất dự án đạt được là nhận thức về công tác chăm sóc và bảo vệ rừng của người dân được nâng lên. Những buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng đã không còn xa lạ đối với người dân thôn, bản ở Đakrông.
Nói đi đôi với làm, từ việc tuyên truyền, đồng bào được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn qua mô hình trực tiếp cầm tay chỉ việc trên từng thân cây, tấc đất nên đồng bào dễ nhớ, dễ thuộc. Qua tuyên truyền, đồng bào đã nhận thức được rừng rất quý và thực sự có ích trong đời sống của họ. Người dân đã thực sự thấu hiểu và làm theo những quy ước giữ rừng, bảo vệ và phát triển rừng.
Anh Hồ Văn Miên, thôn Tà Lao, xã Tà Long, huyện Đakrông cho biết: “Đồng bào bây giờ không chặt phá rừng nữa mà thích trồng rừng lắm. Nghe cán bộ nói, chúng tôi biết bảo vệ rừng, trồng rừng. Hiện chúng tôi đã thu gỗ từ rừng trồng mấy năm trước và đang tiến hành trồng lại rừng”.
Tuy nhiên, điều người dân mong mỏi nhất, không phải họ chỉ hưởng lợi khi thực hiện dự án mà là sự phát triển bền vững gắn với xóa đói giảm nghèo trong tương lai. Để giao rừng cho cộng đồng quản lý một cách an toàn và bền vững thì điều quan trọng nhất là công tác bảo vệ và phát triển rừng phải được gắn với tạo sinh kế cho người dân.
Ông Hoàng Đức Doanh - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Trưởng Ban quản lý dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng Quảng Trị cho biết: “Rừng phải để cho dân quản lý, hưởng lợi từ những thành quả sinh lợi từ việc quản lý, bảo vệ, phát triển đó. Điều quan trọng mà chúng tôi mong muốn và dự án hướng tới là cần làm cho dân, đặc biệt là cho đồng bào nhận thức rõ hơn về trách nhiệm và quyền lợi bảo vệ rừng của họ. Từ những giá trị mang lại từ hoạt động giao rừng cộng đồng để nhân rộng nâng cao hiệu quả và triển khai các hoạt động hỗ trợ cần thiết trong thời gian tới”.
Cả nước có hơn 15,3 triệu ha rừng. Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng, nhưng cộng đồng dân cư thôn mới được giao gần 280.000 ha đất lâm nghiệm và giao để quản lý hơn 513.000 ha. Tương lai, diện tích rừng cộng đồng sẽ tăng lên do thực hiện chủ trương tiếp tục giao đất, giao rừng. Để phát triển rừng bền vững, rất cần có những có chế chính sách đặc thù tạo thuận lợi cho rừng cộng đồng phát triển và có hiệu quả.
Tuy nhiên, từ thực tế, các địa phương cho rằng, hiện nay địa vị pháp lý của cộng đồng còn chưa rõ ràng, chính sách hỗ trợ còn hạn chế.
TS Nguyễn Nghĩa Biên (Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng) - Giám đốc Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam - phân tích: Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã quy định cộng đồng dân cư là đối tượng được Nhà nước giao đất, rừng để quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Các văn bản hướng dẫn luật cũng đã có nhưng vẫn còn nhiều hạn chế hoặc còn thiếu các quy định cần thiết, như đối tượng rừng giao cho cộng đồng, điều kiện được giao rừng; thời hạn, hạn mức giao rừng, khai thác gỗ với mục đích thương mại, cơ chế hưởng lợi, tiêu thụ sản phẩm; cơ chế nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ đầu tư để tạo thuận lợi cho các cộng đồng quản lý, bảo vệ rừng được giao.
Là cơ quan chủ trì thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam”, Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng đề xuất, cần thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng; huy động nguồn lực của xã hội vào việc bảo vệ và phát triển rừng, gắn với xóa đói giảm nghèo, nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào nghèo miền núi. Đồng thời, bảo đảm thống nhất về mặt pháp lý giữa những quy định về cơ chế chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn với các quy định khác về bảo vệ, phát triển rừng, Luật Đất đai, pháp luật về đầu tư, tài chính…
Cụ thể, theo TS Nguyễn Nghĩa Biên, nên mở rộng khái niệm về quản lý rừng cộng đồng theo hướng: Quản lý rừng của cộng đồng; quản lý rừng dựa vào cộng đồng; đồng quản lý rừng; quản lý rừng theo nhóm hộ. Khái niệm về sử dụng rừng cũng cần được mở rộng, như: Khai thác lâm sản, các giá trị dịch vụ môi trường rừng (điều tiết nước, bảo vệ đất, kinh doanh du lịch sinh thái, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ khí thải carbon REDD+…), bảo tồn đa dạng sinh học.
Cộng đồng dân cư có rừng cộng đồng cũng phải được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của Nhà nước; được chuyển đổi rừng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh trồng rừng; thếp chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân để kinh doanh và dịch vụ lâm nghiệp.
Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam cũng đang tham mưu giúp các cơ quan chức năng xây dựng dự thảo quyết định của Thủ tướng về một số cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn. Dự thảo dự kiến đưa ra nhiều chính sách mang tính đột phá.
Chẳng hạn, rừng phòng hộ nằm trong phạm vi một xã, thôn hoặc nhiều xã, có diện tích dưới 1.000 ha; rừng sản xuất phân tán gần cộng đồng dân cư thuộc ban quản lý rừng, lâm trường quốc doanh…, sẽ được giao cộng đồng dân cư quản lý. Trong đó, sẽ giao cả rừng tự nhiên giàu và trung bình cho cộng đồng dân cư thôn quản lý chứ không chỉ là giao đất trống, rừng nghèo kiệt như hiện nay. (Nông Thôn Ngày Nay 26/12) đầu trang(
Thời gian qua, trên địa bàn huyện Mường Chà lực lượng chức năng, nòng cốt trong công tác quản lý và bảo vệ rừng là Hạt Kiểm lâm huyện đã tích cực tuyên truyền, phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở tăng cường kiểm tra, kiểm soát, bảo vệ rừng, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi xâm hại rừng.
Năm 2013, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà đã lập 29 biên bản xử phạt hành chính trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm 2012); thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 225 triệu đồng; tịch thu, bán đấu giá và sung công quỹ Nhà nước 17,5m3 gỗ xẻ các loại (giảm 31% so với năm 2012).
Huyện Mường Chà hiện có 40.223ha đất có rừng. Trong đó, 39.025ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng. Ông Nguyễn Tuấn Quang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà cho biết: Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thời gian qua, Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên phối hợp với cán bộ các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; công tác phòng cháy chữa cháy rừng tới từng gia đình.
Do phần lớn đối tượng tuyên truyền là người dân tộc thiểu số, khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông và trình độ nhận thức còn hạn chế nên Hạt Kiểm lâm đã chỉ đạo kiểm lâm địa bàn khi xây dựng chương trình tuyên truyền phải đảm bảo đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải được hình tượng hóa cụ thể gắn với thực tế để người dân dễ hiểu và dễ thực hiện.
Ngoài hình thức tuyên truyền trực tiếp, Hạt Kiểm lâm huyện còn tổ chức phát tranh, ảnh, treo băng rôn, khẩu hiệu cổ động nhằm tuyên truyền, giáo dục cho người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở. Phối hợp với cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, người dân cắm biển báo tại các khu vực rừng khoanh nuôi, bảo vệ được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Phối hợp với đài truyền thanh, truyền hình huyện đưa các văn bản chỉ đạo của huyện, tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tới đông đảo người dân. Qua đó, hiệu quả tuyên truyền được nâng cao.
Hạt Kiểm lâm huyện đã củng cố, kiện toàn 109/109 tổ, đội quản lý, bảo vệ rừng tại thôn bản. Theo đó, mỗi tổ, đội từ 3 – 5 người có trách nhiệm phối hợp với kiểm lâm địa bàn, bảo lâm xã đi tuần tra kiểm soát rừng, phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng trên địa phận thôn, bản mình quản lý. Nhất là, tại các điểm bản “nóng” về tình trạng phá rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép, như: Sa Lông, Huổi Lèng, Ma Thì Hồ, Na Sang.
Ông Nguyễn Tuấn Quang chia sẻ: “Hệ thống thông tin ở cơ sở có vai trò rất quan trọng. Có những vụ phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, khi cơ quan chức năng xuống lập hồ sơ xử lý vi phạm thì chính quyền xã, kiểm lâm địa bàn mới biết”. Điển hình, ngày 23/4/2013, sau khi tiếp nhận thông tin từ cơ sở, Hạt Kiểm lâm huyện xác nhận thông tin, thành lập tổ kiểm tra, lập hồ sơ vi phạm, tịch thu 20 hộp gỗ nhóm VI (0,508m3 gỗ xẻ) và xử phạt 6 triệu đồng đối với Lò Văn Thuận, bản Púng Giắt I, xã Mường Mươn về hành vi cất giữ lâm sản trái pháp luật.
Ông Nguyễn Tuấn Quang cho biết thêm: Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng huyện Mường Chà hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho cá nhân và cộng đồng dân cư để người dân được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Lúc ấy, người dân sẽ cùng nhau quản lý, bảo vệ rừng để được hưởng lợi từ rừng. (Báo Điện Biên 26/12) đầu trang(
Ngày 25/12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Nông phối hợp với các lực lượng chức năng, huyện Đắk Glong và các “chủ rừng” đã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng, nhằm nâng cao năng lực bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Địa điểm diễn tập ở lô 3, khoảnh 2, tiểu khu 1669, thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Quảng Sơn (Đắk Glong) quản lý, với sự tham gia của hơn 100 người.
Theo phương án diễn tập, ban đầu là một điểm cháy rừng nhỏ được bà con địa phương phát hiện và chữa cháy. Nhưng do đám cháy lan nhanh nên bà con đã báo cho “chủ rừng”, chính quyền xã, kiểm lâm địa bàn huy động lực lượng, phương tiện đến chữa cháy.
Nhận thấy rừng cháy lớn, xã báo cáo huyện huy động lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội và huyện tiếp tục thông báo cho tỉnh. Được tỉnh huy động thêm các xe chữa cháy chuyên dụng cùng số đông lực lượng công an, quân đội, kiểm lâm hỗ trợ kịp thời, nên đám cháy rừng đã nhanh chóng được dập tắt.
Trong quá trình chữa cháy rừng, công tác hậu cần, đảm bảo an ninh trật tự, ứng trực cứu thương cũng được các đơn vị phối hợp đồng bộ. (Báo Đăk Nông 25/12) đầu trang(
Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng, UBND huyện Long Điền đã có phương án triển khai công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2013- 2014 theo phương châm “4 tại chỗ”; xây dựng quy ước quản lý bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư; tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm tăng cường tuần tra, ngăn chặn, xử lý các trường hợp vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng, trong thời gian tới sẽ tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng tại thị trấn khu vực rừng phòng hộ Long Hải.
Trong thời gian từ nay đến hết tháng 4-2014 là giai đoạn cao điểm của mùa khô, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Huyện Long Điền hiện có hơn 850 ha rừng trồng và rừng tự nhiên, tập trung ở địa bàn thị trấn Long Hải, các xã Phước Hưng, An Ngãi và Tam Phước; mùa khô 2012- 2013 đã xảy ra 4 vụ cháy rừng trên diện tích 22ha rừng trồng thuộc địa bàn thị trấn Long Hải. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 265/12) đầu trang(
Sáng 25/12, tại thung Cách Trư ngoài, thôn Đông Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư đã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng.
Mục đích của cuộc diễn tập là kiểm tra thực tập phương án phòng cháy, chữa cháy rừng để nâng cao khả năng phối hợp giữa các lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ; nâng cao khả năng chỉ đạo, chỉ huy chữa cháy rừng các cấp; nâng cao ý thức trách nhiệm cho cán bộ và nhân dân địa phương.
Tình huống được đưa ra là vào 7 giờ sáng nhân dân phát hiện đám cháy tại thung Cách Trư ngoài và báo cho trưởng thôn huy động nhân dân tới chữa bằng dụng cụ thô sơ và khẩn trương báo về ban chỉ huy PCCCR các cấp.
Sau 5-10 phút đám cháy vẫn có nguy cơ bùng lớn và lan rộng huy động thêm lực lượng công an, kiểm lâm, bộ đội tham gia chữa cháy. Sau 20 phút vẫn chưa dập được lửa, khả năng vẫn chấy lớn Ban chỉ huy PCCCR huy động lực lượng chữa cháy cơ giới vào tiếp ứng và thực hiện cấp cứu người bị thương khi chữa cháy. Khi lửa đã được dập tắt, lực lượng kiểm lâm, công an tiếp tục làm nhiệm vụ: tìm hiểu nguyên nhân cháy, thống kê diện tích rừng bị cháy...
Cuộc diễn tập đã diễn ra nghiêm túc, đúng kịch bản, có chất lượng và hiệu quả. Ban chỉ đạo cuộc diễn tập đã huy động: 120 cán bộ chiến sỹ và nhân dân xã Trường Yên; 1 xe cứu thương, 1 xe cứu hỏa, 2 máy bơm công suất lớn, 1 máy bơm công suất nhỏ, 2 máy cưa, 4 máy quạt gió cùng hàng trăm dụng cụ thô sơ chữa cháy tham gia diễn tập và tiến hành thực nghiệm theo hiệu lệnh lần lượt từ thấp đến cao tương ứng với quy mô từng đám cháy. (Báo Ninh Bình 25/12) đầu trang(
Một ngọn lửa bốc lên và nhanh chóng lan rộng thiêu rụi trên 5000m2 diện tích keo và bạch đàn thuộc địa phận hai xã Hợp Thắng và Hợp Tiến (Triệu Sơn - Thanh Hóa).
Vụ cháy xảy ra vào ngày 25/12. Ngọn lửa bắt đầu xuất hiện tại khu đồi trồng keo, bạch đàn của người dân xã Hợp Thắng sau đó nhanh chóng lan rộng sang khu đồi của người dân xã Hợp Tiến.
Ngay sau khi nhận được tin báo của người dân, UBND hai xã Hợp Thắng và Hợp Tiến đã huy động và kêu gọi nhân dân, các lực lượng vũ trang trên địa bàn tham gia chữa cháy rừng. Tuy nhiên, do thời điểm cháy có gió to, đám cháy lan nhanh và mạnh nên khoảng 15h30’ cùng ngày, đám cháy mới được khống chế hoàn toàn. Diện tích rừng cây bị cháy ước tính khoảng trên 5000m2.
Trước đó, ngày 21/12, một vụ cháy rừng phòng hộ cũng xảy ra trên địa phận xã Hoằng Xuân và Hoằng Trung (Hoằng Hóa) khiến nhiều ha thông có độ tuổi hàng chục năm của hai xã bị thiêu rụi.
Hiện cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra nguyên nhân và thống kê thiệt hại cụ thể của vụ cháy. (Dân Trí 25/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT đã phát biểu như trên tại buổi tọa đàm “Các sáng kiến minh bạch trong công tác bảo vệ môi trường” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên tổ chức hôm 24/12.
Khai thác quặng sắt tại vùng hồ Ba Bể gây ô nhiễm nước hồ, phá rừng làm thủy điện gây lũ lụt ở miền Trung, vỡ hồ chứa bùn đỏ do khai thác titan tại Bình Thuận, khai thác bauxite ở Tây Nguyên… đó là những ví dụ về khai thác tài nguyên gây tác động xấu đến môi trường.
Trong khai thác khoáng sản đòi hỏi mức đầu tư cao hơn mới có thể bảo vệ môi trường, đó là lý do chính để các nhà đầu tư tìm mọi cách lẩn tránh các chi phí này. Các nhà kinh tế gọi đây là “ăn quỵt” môi trường. Nếu cơ quan quản lý không “vững tay” mà bỏ qua, đó là thiếu trách nhiệm; nếu tham gia luôn vào bộ máy ấy, đó là thiếu đạo đức.
Đáng nói là nếu lấy một đồng của môi trường hôm nay, thế hệ tương lai sẽ phải trả hàng ngàn đồng để khắc phục. Không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư là một hình thức tham nhũng trong khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Pháp luật về môi trường của ta hiện nay chưa có quy định về bồi thường thiệt hại từ việc khai thác tài nguyên tất yếu gây ra. Trong nhiều năm, các nhà máy tại KCN Biên Hòa khiến sông Đồng Nai ô nhiễm nặng. Và nếu không có vụ bắt quả tang Nhà máy Vedan xả thải trực tiếp ra sông thì người dân cũng không có cơ hội đòi bồi thường.
Nhận thức về khoa học-công nghệ môi trường còn yếu kém đã dẫn tới tình trạng không dự báo hết các tác động. Hiện ở miền Trung có trên 40 đơn vị khai thác ở 38 khu mỏ, có 18 xưởng tuyển tinh quặng, hơn 2 triệu tấn quặng đã được khai thác. Ở đây, người dân hoàn toàn không được hưởng lợi từ bồi thường về môi trường. Trong khi tài nguyên đất bị mất, rừng phòng hộ bị tàn phá, nguồn nước ngọt nhiễm bẩn, nhiễm mặn, không khí nhiễm bụi, ảnh hưởng sức khỏe người dân.
Thực tế như vậy nhưng chưa hề có một tính toán về bài toán phân tích giữa chi phí và lợi ích. Nếu tính được thật khách quan, chắc nhiều khu mỏ đã bị ngừng cấp phép khai thác.
Việc thực thi pháp luật kém đã làm hầu hết doanh nghiệp coi báo cáo đánh giá tác động môi trường chỉ là hình thức và hầu như quên ngay báo cáo này trong quá trình triển khai dự án. Với thực trạng đó, các cơ quan quản lý phải tích cực thực hiện công cụ thanh tra, kiểm tra và tạo điều kiện cho các tổ chức, công dân thực hiện giám sát. Tuy nhiên, việc kiểm tra không thường xuyên và khi phát hiện sai phạm, cách xử lý không triệt để đã không có tác dụng răn đe.
Một vấn đề rất đáng lo ngại là Nhà nước không có số liệu về trữ lượng các mỏ nên không quản được khối lượng khai thác. Số liệu dựa vào kê khai của doanh nghiệp khiến việc tính thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản không tương xứng. Đây là kẽ hở lớn nhất trong bài toán hài hòa lợi ích. Hiện tại lợi ích đang nghiêng hẳn về nhà đầu tư khai thác, Nhà nước được không đáng kể và cư dân địa phương chịu thiệt thòi hoàn toàn. (Pháp Luật TPHCM 25/12) đầu trang(
Global Witness, một tổ chức phi chính phủ về môi trường ngày 13/12 đã ra thông cáo kêu gọi Credit Suisse, cổ đông lớn thứ hai của Hoang Anh Gia Lai nên xem xét lại quyết định đầu tư của mình tại công ty này do các cáo buộc vi phạm trước đó đối với Hoàng Anh Gia Lai.
Hồi tháng 5 năm nay, Global Witness ra phúc trình cho biết, Hoàng Anh Gia Lai thường xuyên ủi đất, phá rừng tại các nước Lào và Campuchia để làm trang trại trồng cao su.
Thông cáo của Global Witness ngày 13/12 cho biết, kể từ tháng năm nay, tổ chức này đã liên tục kêu gọi Hoàng Anh Gia Lai phải tuân thủ luật pháp địa phương, giải quyết những tranh chấp và bức xúc của người dân địa phương nhưng cho đến nay vẫn chưa có tiến bộ nào.
Điều này được bà Megan MacInnes, phát ngôn nhân của Global Witness, cho biết như sau: Sau khi chúng tôi công bố báo cáo Rubber Barons ( Các ông vua cao su) hồi tháng 5 năm 2013, chúng tôi để cho Hoàng Anh Gia Lai và Tập Đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam 6 tháng nhằm có thể chỉnh sửa những vấn đề tại thực địa ở những đồn điền cao su của họ theo đúng luật pháp của Lào và Kampuchia. Họ phải giải quyết những vấn đề cho cộng đồng cư dân địa phương và phải công khai những thông tin cơ bản. Chúng tôi đã có hai lần đến Việt Nam gặp gỡ những quan chức điều hành cao cấp của cả hai tập đoàn, thảo luận về những cách thức mà họ có thể giải quyết các vấn đề nêu ra.
Cả hai tập đoàn đều đưa ra nhiều lời hứa giải quyết các vấn đề. Tuy nhiên sau sáu tháng, chúng tôi nhận thấy Hoàng Anh Gia Lai dù có đưa ra nhiều hứa hẹn thế nhưng những cộng đồng địa phương vẫn tiếp tục đối diện với những vấn đề hoàn toàn như trước đây. Trong khi đó Tập đoàn Công Nghiệp Cao su Việt Nam thì lại có những tiến triển đáng kể.
Do đó đến hạn cuối sáu tháng, chúng tôi quyết định đưa ra một thông cáo hồi ngày 14 tháng 11, nêu ra rằng Hoàng Anh Gia Lai cần phải ngưng nói mà thực hiện nhiều điều hơn tại thực địa.
Bà Megan MacInnes tiếp tục đưa ra những minh chứng cho việc theo dõi tiến trình giải quyết từ phía Hoàng Anh Gia Lai đối với những yêu cầu được đề xuất: Đơn cử một trong những điểm mà HAGL hứa thực hiện là đến làm việc với mỗi cộng đồng có vấn đề về các đồn điền cao su của tập đoàn này, và công bố về những khu được phép khai phá từ tháng sáu cho đến cuối tháng 11.
Thế nhưng, chúng tôi đến tại những làng đó thì không phải tất cả đều đã được HAGL đến làm việc. Ngay cả tại những làng mà HAGL đến tổ chức gặp gỡ, thì khi người dân nêu ra vấn đề tranh chấp đất đai với tập đoàn này, HAGL vẫn từ chối không thảo luận chuyện đó với người dân.
Ví dụ thêm những điểm mà chúng tôi theo dõi thấy được ngoài chuyện không thực hiện đúng những lời hứa, căn cứ vào những phân tích dữ liệu của chúng tôi thì nhận thấy rằng công ty tiếp tục hoạt động khai quang rừng để lập đồn điền cao su mới.
Phát ngôn nhân Megan MacInnes của Global Witness cũng cho biết khi đến Việt Nam làm việc thì chủ tịch HAGL không trực tiếp làm việc với tổ chức này mà một quan chức điều hành khác được phân công làm việc tiếp đoàn. Đó là ông Nguyễn Văn Sự người được giao điều hành công việc hằng ngày tại HAGL hiện nay.
Ngay sau khi có phúc trình của Global Witness, chủ tịch Đoàn Nguyên Đức lên tiếng với nhiều cơ quan truyền thông trong cũng như ngoài nước cho rằng tập đoàn này khi sang đầu tư trồng cao su tại Kampuchia và Lào đã giúp phát triển cho đất nước này, tạo công ăn việc làm cho người dân điạ phương cũng như có nhiều công tác nhân đạo ở đó. Như thế cáo buộc của Global Witness mang tính vô nhân đạo. Đối với những phản bác đó của chủ tịch tập đoàn HAGL Đoàn Nguyên Đức, phát ngôn nhân Megan MacInnes tiếp tục có ý kiến như sau:
Tuyên bố của ông ta là một đơn cử rất hay cho thấy tập đoàn này hiểu sai về những công tác mà họ cần phải thực hiện ngay tại thực địa ở Kampuchia và Lào.Theo chúng tôi việc HAGL có chương trình xã hội tại hai nước này là rất tốt, chúng tôi hoàn toàn ủng hộ những chương trình y tế và giáo dục của HAGL thực thiện tại những khu tô nhượng đó.
Tuy nhiên công tác quan trọng hơn nhiều là hoạt động của họ phải tuân thủ đúng luật pháp và phải giải quyết những tranh chấp đối với người dân bị lấy đất và mất nguồn sinh kế của họ. Công ty không nên nghĩ đến nhưng chương trình xã hội khác cho đến khi những vấn đề pháp lý tại các khu tô nhượng cho họ được giải quyết. Do đó chúng tôi muốn ông chủ tịch Đoàn Nguyên Đức và viên chức điều hành cao cấp Nguyễn Văn Sự sẵn sàng cho bước đầu tiên trước khi nghĩ đến những chương trình xã hội lâu dài mà nay chưa phải là ưu tiên hàng đầu.
Sau khi có thông cáo báo chí mới của Global Witness hồi ngày 13 tháng 12 vừa qua, chúng tôi nhiều lần gọi điện đến số máy di động của ông Đoàn Nguyên Đức để tìm hiểu ý kiến của tập đoàn này trước những lên tuyên bố mới của Global Witness; thế nhưng mọi nổ lực đều thất bại.
Theo bà Megan MacInnes, trong hai lần đến Việt Nam sau khi ra phúc trình Những ông Vua Cao su hồi tháng 5 năm nay, Global Witness cũng có gặp một số quan chức ngành môi trường tại Việt Nam và kết quả của những cuộc gặp mặt đó như sau:
Chúng tôi thảo luận vai trò của nhà nước theo dõi hoạt động của các nhà đầu tư Việt Nam tại nước ngoài. Chúng tôi cũng thảo luận về vai trò của Nhà nước giúp cho các công ty này hiểu những nguy cơ về xã hội và môi trường khi họ đầu tư tại nước ngoài, và những bài học về các đồn điền cao su như vừa nêu cần phải tránh trong tương lai.
Tờ Strait Times của Singapore ngày 17/12có bài viết nêu lại vấn đề phá rừng ở Kampuchia và cuộc đấu tranh pháp lý giữa một tay tài phiệt ngành gỗ của nước này với tổ chức hoạt động địa phương về việc phá rừng đốn gỗ mang lại lợi nhuận và ích lợi cho ai? Những cư dân địa phương hay là những đại công ty có mối quan hệ với các quan chức Nhà nước.
Thủ lĩnh Đảng Đối lập tại Kampuchia, ông Sam Rainsy, vào trung tuần tháng 12 đã đi thực địa tại rừng Prey Lang thuộc tỉnh Kampong Thom. Ông này lên tiếng cho rằng ông quá sững sờ không thốt nên lời khi chứng kiến một vùng rừng rộng đến 60 kilomet vuông đã bị phá nhượng cho một công ty Việt Nam làm nông trường cao su.
Thống kê trong báo cáo hồi tháng 5 vừa qua của Global Witness cho thấy tính đến cuối năm ngoái các công ty tư nhân được giao 2 triệu 600 ngàn héc ta, và trong số đó có một phần ba được trồng cao su. Đây được cho là tác nhân chính hủy diệt rừng tại Xứ Chùa Tháp.
Open Development Cambodia, một tổ chức phi chính phủ địa phương ở Kampuchia, trong tháng 12 cho công bố một loạt những bản đồ sử dụng hình ảnh của Cơ quan Không gian Hoa Kỳ NASA. Những bản đồ này cho thấy độ che phủ rừng của Kampuchia hồi năm 1973 là khoảng 72%; nay chỉ còn 46%. Tuy nhiên, con số 46% bao gồm cả những nông trường trồng cây. Trong thực tế, rừng rậm tự nhiên chỉ còn dưới 11%.
Trường Đại học Maryland của Hoa Kỳ đưa ra nghiên cứu với kết luận, Kampuchia là quốc gia có tốc độ mất rừng nhanh hàng thứ năm thế giới. Bốn quốc gia đứng trên Kampuchia là Malaysia, Indonesia, Paraguay, và Guatemala.
Theo giới hoạt động về môi trường tại Kampuchia thì khu đất tô nhượng tại rừng Prey Lang chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mới tháng rồi, người ta phát hiện tình trạng phá rừng dữ dội tại khu bảo tồn Lumphat. Ngay trong khu bảo tồn rộng 250 ngàn héc ta đó có đến hằng ngàn nhà máy cưa hoạt động.
Tình trạng ở Việt Nam cũng không khá gì hơn. Ngay sau đợt lũ hồi tháng 10 vừa qua ở khu vực miền Trung, biết bao gỗ quí trôi về bến sông dưới xuôi. Điều đó cho thấy trong các khu rừng nạn cưa gỗ lậu vẫn tiếp diễn. Nhiều bài báo cho biết có cả những nhân viên kiểm lâm cùng tham gia hoạt động bất hợp pháp đó.
Luật pháp lỏng lẻo ở Việt Nam, cũng như tại Kampuchia được tác giả của bài viết trên tờ Strait Times chứng minh bằng một trường hợp của đại gia Try Pheap ở Xứ Chùa Tháp. Tin nói rằng ông này là nhân vật có cổ phần trong nhiều dự án khai thác mỏ và một dự án casino. Trong năm nay ông đã chi ra hơn 3 triệu đô la để dành độc quyền thu gom gần 5 ngàn khối gỗ quí bị tịch thu. Trước đây tay tài phiệt này cũng từng dính líu đến các vụ tranh chấp đất đai.
Vào tháng 11 năm nay, tổ chức phi chính phủ có tên Đặc nhiệm Nhân quyền Kampuchia- CHRTF, lên tiếng cáo buộc ông Try Pheap đang sở hữu những khoản đất tô nhượng lên đến chừng 70 ngàn héc ta, gần gấp bảy lần được phép theo luật của nước này. Những khu tô nhượng như thế được đặt dưới sự quản lý của 15 công ty, trong đó có công ty do vợ ông Try Pheap đứng tên.
CHRTF cáo buộc nhà tài phiệt gỗ Try Pheap đã giúp tài trợ cho đảng cầm quyền Nhân dân Kampuchia trong chiến dịch bầu cử hồi tháng 7 vừa qua tại Xứ Chùa Tháp.
Các tổ chức xã hội và những nhà hoạt động nhân quyền tại Xứ Chùa Tháp đã bị trả thù dữ dội do lên tiếng về tệ nạn phá rừng được dung dưỡng bởi cơ quan chức năng và nhà cầm quyền.
Trong năm ngoái hai người thiệt mạng do các hoạt động điều tra để lên tiếng tố cáo là nhà báo Hang Serei Oudom và nhà hoạt động môi trường Chut Wutty. Nạn nhân thứ nhất bị đánh đến chết ngay trong xe khi đang có mặt tại tỉnh Ratanakiri, người thứ hai bị bắn chết tại tỉnh Koh Hong.
Cách đây hơn chục năm, thủ tướng Hun Sen của Kampuchia đã công bố lệnh ngưng đốn gỗ. Hồi năm ngoái, ông này lại ban hành thêm lệnh ngưng thành lập các khu tô nhượng đất vì mục đích kinh tế. Thế nhưng cả hai lệnh đó đều bị những tay tài phiệt giàu thế lực và những tập đoàn có quan hệ với chính quyền phớt lờ đi.
Tại Việt nam nhiều lệnh, nghị định tương tự cũng được cơ quan chức năng từ trung ương đến địa phương ban hành; thế nhưng việc thực thị cũng mang tính hình thức. Hoạt động đốn gỗ lậu trong những khu rừng cấm, những khu bảo vệ vẫn tiếp diễn. (Dư Luận Việt Nam&Thế Giới 27/12) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa chỉ đạo các Sở, UBND các quận, huyện, thị xã triển khai thực hiện “Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ - 2014” trên địa bàn thành phố.
Thời gian tổ chức thực hiện “Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ - 2014” trên địa bàn thành phố thống nhất trong khoảng từ ngày 6/2/2014 (thứ năm, ngày 7 tết Giáp Ngọ) đến hết ngày 10/2/2014.
Để chuẩn bị cho phong trào trên, UBND TP yêu cầu Sở NN&PTNT hướng dẫn UBND các quận, huyện, thị xã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện “Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ - 2014” trên địa bàn thành phố; giới thiệu các cơ sở sản xuất, kinh doanh cung ứng đủ cây giống, vật tư đảm bảo chất lượng và hướng dẫn kỹ thuật để hỗ trợ UBND các quận, huyện, thị xã, các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố tổ chức thực hiện tốt, có hiệu quả “Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ - 2014”.
Đồng thời, Sở NN&PTNT phải có trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc các huyện, thị xã tổ chức “Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ - 2014”... (Chinhphu.vn 26/12) đầu trang(
Ngày 25/12, Sở NN&PTNT Thanh Hóa có văn bản gửi chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định chuyển 2 cá thể gấu ngựa là tang vật vi phạm hành chính, từ Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Xuân Liên cho Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam.
Hai cá thể gấu này (một đực, một cái), có trọng lượng 6 kg/cá thể, là tang vật xử lý tịch thu, được Ban quản lý KBTTN Xuân Liên (thuộc Sở NN&PTNT Thanh Hóa) chăm sóc từ tháng 5/2012. Đến đầu tháng 10/2013, trọng lượng gấu ngựa cái đạt 70 kg, gấu ngựa đực đạt 64 kg. Do thời tiết, khí hậu biến đổi thất thường, điều kiện nuôi nhốt có phần chưa phù hợp với điều kiện môi trường sống tự nhiên của gấu, nên cá thể gấu đực đã bị ốm từ ngày 4/10/2013.
Với các lý do: Kinh phí hạn chế, không có bác sĩ thú y chuyên trách, cán bộ nuôi dưỡng gấu chưa có nhiều kinh nghiệm, điều kiện chuồng trại không đảm bảo nên nguy cơ gấu xổng chuồng rất lớn, thả gấu về tự nhiên không an toàn... nên Sở NN&PTNT Thanh Hóa đề nghị chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng chuyển giao 2 cá thể gấu ngựa hiện đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại KBTTN Xuân Liên cho Trung tâm cứu hộ gấu Việt Nam để tiếp tục chăm sóc, cứu hộ. (Tuổi Trẻ 26/12; Tiền Phong 26/12) đầu trang(
Theo kết quả thống kê về tài nguyên rừng của Sở NN&PTNT, hiện toàn tỉnh có 340.701ha đất có rừng. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 140.966ha; rừng trồng các loại là 199.735ha, độ che phủ đạt 53%, tăng 0,2% so với năm 2012.
Ngoài ra, toàn tỉnh đã trồng thêm mới được 11.770ha rừng tập trung (rừng phòng hộ, đặc dụng chiếm 882ha; rừng sản xuất 10.888ha), trồng thêm mới 515.000 cây phân tán các loại, gieo tạo được 25 triệu cây giống như: Keo, thông, sa mộc, quế…
Bên cạnh đó các ngành chức năng trên địa bàn tỉnh tăng cường tổ chức kiểm tra các đơn vị sản xuất cây giống trước khi xuất vườn, đồng thời đẩy mạnh công tác chăm sóc và mở rộng diện tích rừng trồng, rừng phòng hộ… (Báo Quảng Ninh 26/12) đầu trang(
Ngày 25/12, ông Lê Ngọc Tuấn - Giám đốc Khu bảo tồn Sao La (tỉnh TT-Huế) cho biết, trong đợt tuần tra giám sát đa dạng sinh học vừa qua, các cán bộ bảo vệ rừng của đơn vị đã phát hiện một cây gõ mật (tên khoa học là Sindora cochinchinensis H.Baill, thuộc nhóm 1A, gỗ quý hiếm, nghiêm cấm khai thác rừng tự nhiên với mục đích thương mại) tại một tiểu khu thuộc Khu bảo tồn Sao La.
Cây gõ mật với chu vi toàn thân 4,4 m, đường kính gần 1,5 m, chiều dài cao 15 m. Theo ông Tuấn, đây là cây gõ mật có đường kính lớn nhất tính đến thời điểm hiện nay, được phát hiện trong khu vực rừng thuộc tỉnh TT-Huế.
Hiện tại, lực lượng bảo vệ rừng thuộc Khu bảo tồn Sao La đang phối hợp với Đồn biên phòng Hương Nguyên (huyện A Lưới) tăng cường tuần tra, giám sát nhằm xua đuổi các đối tương lâm tặc, lâm dân vào rừng khai thác gỗ trái phép, đặc biệt là khu vực có cây gõ mật quý hiếm.
Cùng với việc tìm thấy nhiều động vật đặc hữu, việc phát hiện cây gõ mật với đường kính “khủng” đã cho thấy tiềm năng đa dạng sinh học rất lớn tại Khu bảo tồn Sao La, ghi nhận những nỗ lực hiệu quả trong công tác tuần tra, bảo vệ rừng của các cán bộ tại khu bảo tồn này. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/12) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định số 3215 về chuyển 12 lâm trường thành các ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH). Việc chuyển đổi này đánh dấu bước ngoặt mới trong hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trên địa bàn.
Điển hình như BQLRPH Thanh Kỳ, được UBND tỉnh giao quản lý, sử dụng 5.572 ha rừng và đất lâm nghiệp. Trước chuyển đổi, tổng số cán bộ, công nhân của đơn vị hơn 80 người, do bộ máy bố trí chưa hợp lý, các quyền lợi, chế độ của người lao động không được giải quyết, nhiều năm nợ tiền bảo hiểm xã hội...
Sau chuyển đổi (từ ngày 7-11-2006), BQLRPH Thanh Kỳ đã sắp xếp lại tổ chức bộ máy hợp lý, đội ngũ cán bộ công nhân viên giảm còn 43 người, được bố trí thành 5 trạm bảo vệ rừng (BVR) đóng trên địa bàn các xã, gắn với trách nhiệm cụ thể trong quản lý, BV&PTR. Các trạm BVR thường xuyên bám địa bàn chỉ đạo, phối hợp với địa phương tuyên truyền cho các hộ nhận khoán chăm sóc, BVR và đất lâm nghiệp trong vùng hiểu được lợi ích to lớn của rừng, tự giác BV&PTR. BQLRPH Thanh Kỳ cũng đã giao khoán 5.143 ha rừng cho 645 hộ dân chăm sóc, bảo vệ và sản xuất nông-lâm kết hợp.
Trong 7 năm (2007 - 2013), ban đã hướng dẫn kỹ thuật, cung ứng cây giống, tổ chức cho các hộ nhận khoán trồng mới 1.350 ha rừng sản xuất theo hướng thâm canh. Kết quả là 100% diện tích rừng hiện có được bảo vệ và phát triển xanh tốt. Toàn bộ diện tích rừng do ban quản lý không xảy ra cháy, an ninh rừng trên địa bàn được giữ vững, độ che phủ của rừng đạt 96,1%.
Từ khi chuyển đổi, nhiệm vụ chủ yếu của các BQLRPH là tập trung trồng, chăm sóc, bảo vệ và phát triển vốn rừng hiện có. Kết quả nổi bật là an ninh rừng ngày càng ổn định, số vụ cháy rừng hàng năm giảm. Các vụ khai thác trái phép lâm sản, các điểm nóng xâm hại rừng đã được giải quyết dứt điểm. Các BQLRPH đã phối hợp tốt với chính quyền cơ sở triển khai các biện pháp quản lý, BV&PTR, phòng cháy, chữa cháy rừng, nâng độ che phủ rừng của tỉnh từ 36% (năm 1999) lên 50,5% (năm 2012).
Tính từ năm 2007 đến năm 2013, các BQLRPH đã bảo vệ an toàn 172.912 ha rừng; khoanh nuôi, tái sinh tự nhiên 22.288 ha; khoanh nuôi, tái sinh trồng bổ sung 624 ha; trồng 12.366 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ; chăm sóc 11.494 ha rừng trồng. Ngoài ra, hàng năm, các đơn vị còn sản xuất, cung cấp hàng triệu cây giống lâm nghiệp các loại phục vụ trồng rừng, trồng cây phân tán trên địa bàn.
Tuy nhiên, theo khảo sát thực tế, sau 7 năm chuyển đổi, một số BQLRPH vẫn chưa phát huy được tiềm năng, thế mạnh trong tổ chức sản xuất, kinh doanh rừng sản xuất, phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp tổng hợp, kinh tế trang trại, khai thác và sử dụng rừng.
Các đơn vị có sản phẩm khai thác từ rừng như gỗ, nhựa thông, nứa, luồng nhưng chủ yếu bán ra thị trường dưới dạng sản phẩm thô, chưa qua chế biến, không thu hút được nhiều lao động, giá trị sản phẩm thấp. Trong quản lý, sử dụng đất và thực hiện khoán hộ trước đây còn những sai sót. Hầu hết đất giao quản lý chưa được cắm mốc trên thực tế. Một số hộ được giao khoán đất lâm nghiệp với diện tích lớn, vượt khả năng kinh tế của hộ, không có khả năng đầu tư phát triển rừng, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh của đơn vị...
Ông Lê Văn Đốc, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Sở NN&PTNT đã chỉ đạo các ban tiếp tục rà soát, sắp xếp lại bộ máy tổ chức, quan tâm công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công nhân. Tích cực đổi mới, vận dụng cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước để đầu tư bảo vệ tốt các khu rừng phòng hộ hiện có và PTR sản xuất hiệu quả, tạo nguồn thu, cải thiện đời sống cho người lao động để họ yên tâm gắn bó với rừng.
Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án về lâm nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình và tổ chức quốc tế đầu tư trồng rừng, chế biến, khai thác lâm sản; khai thác tiềm năng, thế mạnh đất lâm nghiệp và rừng hiệu quả. Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông, lâm nghiệp.
Trước mắt có biện pháp khắc phục ngay tồn tại, thực hiện tốt công tác quản lý đất đai, tài nguyên rừng được giao; thực hiện cắm mốc phân định ranh giới rừng; kiểm soát, ngăn chặn tình trạng xâm lấn rừng và đất lâm nghiệp trái pháp luật; rà soát và chấn chỉnh công tác khoán, tránh tình trạng khoán trắng, tạo điều kiện thuận lợi để công nhân và nông dân sinh sống trong vùng nhận khoán đất sản xuất, kinh doanh nghề rừng có hiệu quả. (Báo Thanh Hóa 25/12) đầu trang(
Hiện nay, Xí nghiệp Giống vật tư lâm nghiệp Nông Thịnh thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn đóng trên địa bàn huyện Chợ Mới đã chuẩn bị được hơn 4 triệu cây giống phục vụ cho vụ trồng rừng năm 2014 .
Số cây giống này sẽ phục vụ cho nhu cầu trồng rừng mới của các huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh, trong đó chủ yếu là các huyện như: Chợ Mới, Bạch Thông, Ba Bể và thị xã Bắc Kạn. Cơ cấu cây giống bao gồm hai loại cây chủ yếu là cây keo chiếm 60%, còn lại là cây mỡ . Hiện nay, thời tiết rét đậm rét hại nên các công nhân của xí nghiệp đang có nhiều biện pháp chăm sóc cây giống như: Tưới nước, che phủ rơm rạ, tra dặm .... để đảm bảo cho cây giống sinh trưởng và phát triển tốt.
Bên cạnh việc chăm sóc cây con, việc đóng bầu, tiếp tục tra hạt giống cây vẫn được đơn vị duy trì để góp phần đáp ứng nhu cầu trồng rừng năm 2014 của tỉnh. (Đài PT - TH Bắc Kạn 26/12) đầu trang(
Mới đây, huyện An Lão đã tổ chức kiểm tra, rà soát hiện trạng và xây dựng phương án giao đất và cho các tổ chức, cá nhân thuê gần 6.114ha đất rừng, đất đồi núi chưa sử dụng đưa vào sản xuất. Trong đó, đất giao mới 1.862ha, đất công nhận quyền sử dụng đất 3.572ha, đất cho thuê 780ha.
Ngòai ra, huyện An Lão cũng đang tiếp tục hòan thiện Dự án “ Quản lý đất đai Việt Nam” gọi tắc là Dự án VLAP. Đến nay tòan huyện đã xét duyệt 66,7% số thửa; giao đất ở và đấu giá đất cho 146 trường hợp với tổng diện tích 3,05ha, đạt 62,9% kế họach. Tiến hành cấp 346 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tăng 225 giấy so với năm 2012; Triển khai Quy họach sử dụng đất giai đọan 2011-2020 và kế họach sử dụng đất 5 năm đầu kỳ 2011-2015 đối với cấp huyện và thị trấn An Lão, từng bước chấn chỉnh, hòan thiện công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện. (Anlao.Binhdinh.gov.vn 26/12) đầu trang(
Theo thống kê của Sở NN&PTNT Bắc Kạn, đến nay, các vườn ươm trên địa bàn tỉnh đã gieo được hơn 80% lượng cây giống phục vụ trồng rừng năm 2014.
Các vườn ươm đã chuẩn bị gieo ươm với tổng số 1,5 tấn hạt mỡ và keo. Đến nay, các vườn ươm trong tỉnh đều tập trung đóng bầu, riêng với các loại keo lai được giâm bằng hom, việc đóng bầu đã tiến hành ngay từ khi việc trồng rừng 2013 kết thúc.
Để cây giống phát triển tốt, các chủ vườn ươm đều chuẩn bị kĩ lưỡng về hệ thống nước tưới cho bầu ươm giống. Riêng giống cây keo, do khả năng chịu lạnh kém, việc chuẩn bị chống rét cho bầu keo cũng được các công nhân vườm ươm chú trọng. Năm 2014, toàn tỉnh dự kiến trồng mới 12.000 ha rừng, trong đó rừng sản xuất tập trung là gần 9.000 ha và rừng phân tán là 2.400 ha, còn lại là gần 600 ha rừng phòng hộ đặc dụng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 25/12) đầu trang(
Thung lũng Trạm Sừng thuộc xã Văn Hán (Đồng Hỷ, Thái Nguyên) là vùng đất nghèo, heo hút bởi giao thông đi lại khó khăn, các công trình hạ tầng đều thiếu, nhưng ông Phạm Văn Long (sinh năm 1958) đã làm nên “kỳ tích”, sở hữu khối tài sản lên đến vài tỷ đồng từ phát triển kinh tế rừng…
Theo lời kể của ông Long, cụm dân cư Trạm Sừng vốn được hợp thành bởi một số hộ dân người bản địa và các hộ ở tỉnh Hải Dương lên xây dựng vùng kinh tế mới từ năm 1967. Vùng đất này trước kia là nơi cây rừng rậm rạp, thú dữ, rắn, rết còn nhiều nên sau vài năm lên khai hoang, nhiều hộ dân không chịu được cảnh hoang vu, túng thiếu đã trở về quê cũ ở Hải Dương, một số hộ người bản địa dịch chuyển dần ra phía trung tâm xã Văn Hán. Ngay gia đình ông Long có 6 anh em thì 5 người lần lượt dời khỏi Trạm Sừng đi nơi khác lập nghiệp. Tiếc đất, tiếc công, ông Long kiên trì bám trụ, cần mẫn lao động xây dựng cơ nghiệp.
Hồi đó, với quỹ đất 2ha, vợ chồng ông Long đã được hỗ trợ cây keo giống theo Dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc (PAM). Keo là loại cây phát triển tốt, trong khi diện tích rừng tự nhiên tại địa phương bị thu hẹp, nguyên liệu gỗ dần khan hiếm. Cũng từ thực tế đó, ông Long đã nghĩ tới chuyện làm giàu từ rừng trồng chứ không đơn thuần là nhận hỗ trợ “gạo kho” cứu đói.
Thời điểm đó, 4 người con của ông Long còn nhỏ, nên vợ chồng ông phải gửi con về nhờ ông bà nội chăm sóc để trồng rừng cho kịp thời vụ. Ngày ngày, vợ chồng ông cặm cụi lên đồi phát cây dại, cuốc lồ trồng cây từ mờ sáng đến quá trưa mới nghỉ ăn cơm nắm, uống nước ở khe núi. Rồi lại làm việc tới tận tối mịt mới về. Sau nửa năm trồng rừng, 2 vợ chồng đã phủ kín 2ha cây keo và cứ 3 ngày 1 lần, ông lại bỏ những công việc khác đi thăm rừng, cây nào chết thì trồng giặm lại.
Tới năm 1995, Nhà nước có chính sách giao đất rừng, gia đình ông Long được nhận 10ha nên tiếp tục trồng keo và mỡ. Cứ như vậy, tích lũy được khoản tiền nào là ông Long lại đi mua đất rừng để trồng cây. Trồng rừng kinh tế với diện tích lớn thời điểm đó của gia đình ông Long là chuyện “không bình thường”, đã có nhiều người dân địa phương khuyên ông dừng lại, có người còn cho rằng ông sẽ thất bại vì không ai mua cây
“Trồng rừng kinh tế tưởng dễ nhưng khi bắt tay vào làm mới thấy khó vì vốn đầu tư không nhỏ, thời gian khai thác cây keo dài tới chục năm. Để khắc phục những khó khăn trên, ngay từ khâu xử lý thực bì, tôi tận dụng tối đa lượng cây tạp để bán củi, bù vào chi phí nhân công. Tôi rất cảm ơn Dự án PAM vì đã mở ra hướng phát triển kinh tế rừng” - ông Long chia sẻ.
Ông Long chia sẻ: Tôi chủ yếu vừa trồng rừng, vừa rút kinh nghiệm nên mới đầu cũng gặp không ít khó khăn, tỷ lệ cây chết đến 30%, sinh trưởng không đều. Lúc đó, câu hỏi tại sao thổ nhưỡng ở đây rất phù hợp với cây keo mà tỷ lệ cây chết vẫn cao, nhất là vào thời điểm cây đã trồng được 3-4 tháng tuổi cứ luẩn quẩn trong đầu tôi.
Cuối cùng tôi cũng tìm ra nguyên nhân vì cuốc lồ, đất xốp nên lượng nước thoát hơi nhanh, trong khi rễ cây keo khi mới trồng còn yếu. Sau đó, tôi liên tưởng đến việc dùng gậy chọc lỗ tra hạt lúa nương nên quyết định dùng cây gậy có đường kính khoảng 6cm vót nhọn, bọc sắt để chọc lỗ rồi đặt bầu cây keo, vun mùn xung quanh che kín miệng lỗ vào để giữ độ ẩm lâu hơn. Cách làm này đã giảm tỷ lệ cây bị chết sau khi trồng do thiếu nước và tốc độ trồng nhanh hơn gấp 3 lần so với cuốc lồ.
“Bí quyết” dùng gậy sắt trồng cây được ông Long chia sẻ cho một số người dân địa phương, nhưng chẳng ai tin, ngay một số cán bộ lâm nghiệp ban đầu cũng cho rằng dùng gậy sắt chọc lỗ trồng cây không đúng kỹ thuật hướng dẫn, nhưng sau thừa nhận đây là cách làm hiệu quả.
Từ khi dùng phương pháp lấy gậy sắt chọc lỗ trồng cây, ông Long không còn lo chậm thời vụ và mỗi năm trồng thêm được khoảng 5ha. Trồng cây hết phần đất của gia đình, ông Long lại mua thêm những phần đất rừng người dân địa phương không sử dụng, có nhu cầu bán nên tổng diện tích đất có rừng của gia đình ông đến nay đã có 31ha (trị giá từ 50 -75 triệu đồng/ha). (Nông Thôn Ngày Nay 26/12) đầu trang(
Hàng năm, Hội Nông dân xã Trung Tâm ủy thác vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện và Ngân hàng NN&PTNT huyện Lục Yên (Yên Bái) với tổng dư nợ trên 9 tỷ đồng, giúp hội viên có thêm vốn đầu tư phát triển đồi rừng.
Hội Nông dân xã Trung Tâm, huyện Lục Yên hiện có trên 460 hội viên, sinh hoạt ở 13 chi hội với trên 80% là hội viên dân tộc thiểu số. Những năm qua, bám sát sự chỉ đạo của Đảng ủy, chính quyền địa phương, Hội đã tuyên truyền, vận động các hội viên thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và xây dựng tổ chức hội trong sạch, vững mạnh; hàng năm cố gắng hoàn thành các nhiệm vụ mà địa phương giao phó. Hội cũng đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển kinh tế hộ gia đình của các hội viên.
Ngoài tuyên truyền, vận động hội viên áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đưa các loại cây, con giống mới, giống lai cao sản vào nuôi trồng, Hội vận động hội viên tăng vụ, đặc biệt là trồng rau màu và ngô vụ đông. Hàng năm, Hội Nông dân xã ủy thác vay vốn Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện và Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện với tổng dư nợ trên 9 tỷ đồng, giúp hội viên có thêm vốn đầu tư phát triển đồi rừng.
Vài năm gần đây, đồng vốn vay được hội viên đầu tư trồng rừng đem lại hiệu quả khá khả quan. Năm 2012, các hội viên vay trên 300 triệu đồng tập trung đầu tư trồng mới trên 30ha đồi rừng, hiện nay phát triển tốt. (Báo Yên Bái 26/12) đầu trang(
Heo rừng gốc Tây Nguyên có chất lượng thịt rất ngon nên được ưa chuộng. Hiện ở Tây Nguyên có một số hộ dân tự phát nuôi heo rừng, nhưng giống lại nhập từ Thái Lan, Malaysia. Có một số là heo rừng Tây Nguyên được lai với heo nhà, nhưng do thiếu hiểu biết kỹ thuật nên heo lai đồng huyết cao, sức sống kém.
Nhằm mục đích nghiên cứu nguồn gốc, nhân giống heo rừng Tây Nguyên thuần và lai tạo heo rừng thương phẩm, góp phần bảo tồn nguồn gen heo rừng Tây Nguyên, các nhà khoa học viện Sinh học nhiệt đới đã triển khai đề tài “Nghiên cứu ứng dụng thụ tinh nhân tạo phục vụ nhân giống heo rừng Tây Nguyên (Sus scrofa) và lai tạo heo rừng thương phẩm”.
Theo TS Hoàng Nghĩa Sơn, viện trưởng viện Sinh học nhiệt đới, chủ nhiệm đề tài, heo rừng Tây Nguyên có những điểm đa hình đặc trưng, phân biệt với heo rừng các nước và có mối quan hệ di truyền gần gũi với heo rừng châu Á, tuy nhiên hoàn toàn khác biệt với heo rừng lai Thái Lan về mặt di truyền.
TS Sơn cho biết: “Các nhà khoa học đã thu thập, thuần hoá trên 40 heo rừng Tây Nguyên thuần và bước đầu đã có được những đánh giá về đặc điểm sinh học của chúng. Trên cơ sở đó, đưa ra cách thức nuôi dưỡng, chăm sóc hợp lý đối với heo rừng Tây Nguyên thuần. Do bản tính hoang dã, lúc đầu heo rừng rất sợ người, nhưng lại dữ tợn khi người đến gần và có thể tấn công người nuôi.
Ban đầu chúng chỉ ăn những thứ trong tự nhiên như củ mì, hạt ngô, khoai lang, chuối chín và một số rau củ quả khác. Dần dần sau một thời gian nuôi, chúng có thể ăn thức ăn tổng hợp như heo địa phương. Bản năng tự vệ dần mất đi, chúng quen dần với tiếng gọi của người nuôi thả và có thể gần gũi người nuôi”.
Cũng theo TS Sơn, lúc đầu heo rừng hoang dã cần được nuôi nhốt trong những ô chuồng nhỏ (khoảng 1m2/con) để tránh cho chúng chạy nhiều và thúc đầu vào tường hoặc lưới B40 xung quanh. Thời gian sau khi chúng đã quen với người nuôi thì có thể thả bán hoang dã ra các ô chuồng rộng hơn. Ngoài ra, khẩu phần ăn hàng ngày ngoài chuối chín, khoai lang củ, rau lang, củ mì… mỗi con có thể cho ăn thêm 100 – 300g thức ăn tổng hợp.
Hiện nay, từ nguồn heo rừng Tây Nguyên thuần, các nhà khoa học đã nhân giống tạo đàn heo rừng thuần chủng và thực hiện các công thức lai tạo để tạo ra các thế hệ con lai có thể chọn làm giống và nuôi thương phẩm bằng cách cho nhảy trực tiếp. Định hướng của các nhà khoa học viện Sinh học nhiệt đới là huấn luyện heo rừng để lấy tinh, phục vụ việc ứng dụng thụ tinh nhân tạo trong nhân giống thuần và lai tạo heo rừng thương phẩm.
Từ những kết quả bước đầu, kỹ thuật thuần hoá, nhân giống heo rừng Tây Nguyên thuần và lai tạo heo rừng lai thương phẩm đã được ký kết chuyển giao công nghệ với trang trại chăn nuôi heo rừng tại hội chợ Techmart Dăk Nông 2013 vừa diễn ra, nhằm bảo tồn giống heo rừng và góp phần phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên. (Sài Gòn Tiếp Thị 26/12) đầu trang(
Việc khai thác gỗ rừng trồng trong những diện tích được cấp phép tại tiểu khu 579 thuộc dự án 661 (xã Tam Lộc, Phú Ninh) bị một số người dân thôn 2 của xã gây cản trở và chưa có dấu hiệu “hạ nhiệt”.
Tháng 9.2011, Sở NN&PTNT cấp giấy phép cho Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh khai thác rừng trồng Dự án 661 đến tuổi khai thác tại một số lô thuộc khoảnh I; II; III của tiểu khu 579. Ngày 15.11.2011, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh ký kết Hợp đồng kinh tế số 02 với ông Nguyễn Cườm (trú thôn 1, xã Tam Lộc, Phú Ninh) về việc khai thác, vận chuyển và bao tiêu với phương thức khoán trọn gói đối với cây keo lai hom và keo lá tràm tại khu vực trên với tổng diện tích thiết kế 54ha; trị giá là 900 triệu đồng.
Tuy nhiên, khi ông Cườm khai thác mới được 4ha (thu được khoảng 60 triệu đồng) thì bị gián đoạn. Bởi thời điểm này (tháng 2.2012) có 22 hộ dân thôn 2 xã Tam Lộc tự ý vào lấn chiếm đất đã khai thác keo để trồng lại keo non trái phép trong khu vực đất của BĐBP đang quản lý, sử dụng.
Trước tình hình trên, tháng 5.2012, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã đề nghị ông Nguyễn Cườm tạm dừng khai thác rừng trồng tại tiểu khu 579 để cơ quan chức năng tập trung giải quyết vướng mắc với một số hộ dân địa phương. Đầu tháng 7.2013, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh cho phép ông Cườm được khai thác trở lại. Lúc này việc vận chuyển keo gỗ tiếp tục bị một số người dân ngăn cản, không cho xe vào. Việc khai thác rừng trồng bị tạm dừng lần 2 và kéo dài từ đó đến nay.
Việc ngăn cản của người dân xuất phát từ tranh chấp đất rừng nằm trong Dự án 661. Tại buổi tiếp công dân định kỳ tháng 4.2013, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Phước Thanh đã có kết luận khẳng định, các hộ dân nói trên lấn chiếm đất trái phép, vì đây là đất đã được UBND tỉnh giao cho Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh theo Quyết định số 2423 ngày 10.8.1999. Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh cũng hỗ trợ 100% tiền giống, cây trồng cho các hộ dân để “rút” khỏi đất của BĐBP nhưng nhiều hộ không đồng ý với lý do rằng BĐBP sử dụng không hiệu quả diện tích đất này…
Trước đó, vào thời điểm năm 1999, có 5 hộ của thôn 2 Tam Lộc trồng 21,74ha rừng trong khu vực Trại sản xuất của BĐBP. Hiện nay có 11,02ha gỗ keo trong độ tuổi khai thác và 10,72ha chưa đến tuổi khai thác. Đã có 2 hộ khai thác xong và bàn giao đất lại cho BĐBP. Còn đối với cây chưa đến độ tuổi khai thác, BĐBP tỉnh có kế hoạch hỗ trợ lại tiền cây giống, công trồng, công chăm sóc với tổng số tiền là gần 163 triệu đồng nhưng một số hộ không chịu bàn giao đất vì cho rằng chế độ đền bù không hợp lý.
Ông Nguyễn Hơn - Phó Chủ tịch UBND xã Tam Lộc cho biết: “Địa phương đã nhiều lần mở cuộc họp dân để tuyên truyền, vận động người dân thôn 2 không được tự ý xâm lấn đất trồng rừng trên đất tại Trại sản xuất BĐBP tỉnh. Đồng thời phân tích việc làm của các hộ dân này đã vi phạm Luật Đất đai năm 2003 nhưng một số hộ vẫn không thay đổi nhận thức”.
Ngày 19.12, Đại tá Lê Hữu Xuân - Phó Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh cho biết đơn vị tiếp tục phối hợp với chính quyền sở tại để vận động người dân đồng thuận trả lại đất. “Một khi vấn đề này được giải quyết rốt ráo, người dân không còn cản trở thì ông Cườm mới có thể khai thác keo gỗ trở lại theo hợp đồng. Chúng tôi sẽ tập trung giải quyết mọi vấn đề sao cho thấu tình đạt lý nhất” - Đại tá Xuân nói. (Báo Quảng Nam 26/12) đầu trang(
6-7 năm liên tục cần mẫn “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, người trồng cao su bắt tay vào những niên vụ thu hoạch đầu tiên. Hàng ngàn ha hứa hẹn sự đổi đời cho cánh nhà nông từ dòng “vàng trắng” bỗng chốc điêu đứng khi giá cao su đảo chiều. Nhiều nhà vườn chán nản, đến kỳ thu hoạch vẫn chẳng mặn mà với việc khai thác, bởi số tiền hoa lợi đem về chẳng đủ tiền thuê mướn nhân công.
Bao đời còm cõi với cây lúa rẫy, cây mì, cây bắp… cuộc sống nghèo khó vẫn hoàn nghèo khó, ông Rơ Mah Tham (làng Song Le 1-xã Ia Kla-huyện Đức Cơ) trông mộng đổi đời nhờ cây cao su.
Đất rẫy có sẵn, quyết dành dụm, ki cóp, năm 2000, vợ chồng ông trồng được 1 ha cao su. Thấy giá cao su tăng vùn vụt, ông chặt bỏ tiếp đi một phần diện tích vườn cà phê, đầu tư trồng thêm 3 ha cao su nữa. Tính đến nay, 4 ha cao su nhà ông cứ nối tiếp nhau, vườn cho thu 5-6 năm, vườn còn trong thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trong số đó, 2 ha cao su đến kỳ thu hoạch được ông cho… “ở lại lớp”. Lý giải nguyên do vì sao trồng cây bao năm lại chẳng buồn hái quả, ông Tham chia sẻ rằng, đó là vì “tiền mủ thu bói không bằng tiền thuê nhân công, đành để đó chờ sang năm”.
Ông còn tỉ tê: “Đang tính sắp tới bỏ bớt đi diện tích cao su non, thay lại vào đó cây cà phê cho ăn chắc”. Cứ nhìn vào bước đi của ông Tham đã thấy rõ cái bước luẩn quẩn: cà phê-cao su-cà phê… và chẳng ai dám chắc, bước tiếp theo sẽ là thứ cây gì, chỉ biết rằng, trên thửa đất bao năm gắn bó ấy, người nông dân Rơ Mah Tham vẫn chưa thu được hoa lợi bao nhiêu mà chỉ thấy đổ của, đổ công.
Vườn cao su rộng 7 ha cho thu năm đầu tiên của gia đình ông Ngạn hiện mới chỉ khai thác được khoảng 1.500 cây (gần một nửa số cây trong vườn). Với tần suất cạo 3 ngày/lần, trung bình mỗi ngày gia đình ông thu được khoảng 40-50 kg mủ nước. Với mức giá 10.000-11.000/kg mủ nước như hiện nay, số tiền hoa lợi chẳng dôi dư là bao nếu thuê nhân công.
“Vợ chồng tôi phải bỏ công kiếm lời, đâu dám thuê người cạo. Chừng này tiền chưa thể đủ đầu tư bởi mỗi năm riêng tiền phân bón cho vườn cây đã ngót 80-90 triệu đồng, còn tiền thuốc trị bệnh, công làm cỏ…”- ông Ngạn cho biết.
Theo ông Nguyễn Quốc Tư-cán bộ phụ trách phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày-Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đức Cơ, toàn huyện Đức Cơ hiện có khoảng 1.000 ha cao su của tư nhân bước vào thời kỳ cho thu hoạch. Với mức giá như hiện nay cộng với năng suất thu bói chưa cao, giá thuê nhân công lại cao khiến nhiều nhà vườn không mặn mà với việc khai thác.
“Năm đầu cây còn non, năng suất chưa cao, thêm nữa là số cây cho khai thác chưa đồng đều nên nếu bỏ tiền thuê nhân công chắc chắn người nông dân sẽ lỗ, vậy nên họ đành để lùi lại sang năm hoặc thời điểm khác thích hợp hơn mới khai thác vườn cây”- ông Tư cho biết.
Cũng theo ông Tư, với mức giá thấp như hiện nay, việc nhiều nhà vườn giảm chi phí đầu tư cho vườn cây là chuyện khó tránh. Đây được coi là giải pháp “tình thế” trong điều kiện kinh tế khó khăn, giá đầu ra sản phẩm giảm. Tuy nhiên, ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến chất lượng vườn cây cao su trong tương lai.
Theo ông Văn Phú Bộ-Trưởng phòng Nông nghiệp (Sở NNN&PTNT), tuy giá cao su có giảm mạnh nhưng với những vườn cây đã khai thác được 2-3 năm trở đi, năng suất và sản lượng đạt mức độ ổn định thì nhà vườn cao su vẫn có lãi, tuy không thể cao như trước đây. Ông Bộ nhấn mạnh, cao su là cây trồng được đưa vào quy hoạch phát triển chủ lực của địa phương từ nhiều năm nay. Theo kế hoạch, trong năm 2014, tỉnh Gia Lai sẽ tiếp tục trồng mới thêm khoảng 2.540 ha, nâng diện tích cao su toàn tỉnh lên 105.781 ha.
“Theo quy luật phát triển, giá bất cứ loại nông sản nào cũng dao động theo biểu đồ hình sin. Việc giá cao su giảm cũng là quy luật tất yếu. Nhưng nông dân không thể vì vậy mà nóng ruột, nản chí dẫn đến phá bỏ diện tích cao su để trồng loại cây khác hay lơ là chăm sóc vì sẽ làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng vườn cây sau này”-ông Bộ cho biết.
Tuy vậy, việc nông dân trồng cao su -đặc biệt là những hộ có diện tích đang trong thời kỳ kiến thiết cơ bản hoặc mới bước vào giai đoạn thu hoạch gặp khó khăn đã là chuyện không còn có thể phủ nhận. Trước áp lực giá cả xuống thấp, họ rất cần có sự chung tay, hỗ trợ và tạo điều kiện từ phía địa phương và ngành chức năng.
“Vốn đầu tư 6-7 năm ròng rã đã quá nặng với nông dân, bây giờ hiệu quả trước mắt thấp nên rất cần có sự hỗ trợ về vốn sản xuất trong trường hợp cần thiết để nhà nông tiếp tục bám vườn, bám rẫy”- ông Ngạn, cho biết. (Báo Gia Lai 26/12) đầu trang(
Sau hơn 3 tháng phá nát nhiều diện tích hoa màu, nhà cửa, uy hiếp tính mạng người dân thôn 20, xã Đắk Drông, huyện Cư Jút, Đắk Nông, hai mẹ con voi rừng đã bỏ đi. Ông Trần Văn Thành, Chủ tịch UBND xã Đắk Drông cho biết như vậy vào ngày 25/12.
Như đã đưa tin, hơn 3 tháng nay tại xã Đắk Drông xuất hiện 3 cá thể voi rừng, gồm 1 voi đực, 1 voi cái và 1 voi con di chuyển từ vùng lõi Vườn quốc gia Yok Đôn đến xã Đắk Drông để kiếm ăn. Tại đây, sau khi xuất hiện vài lần thì voi đực mất hút, chỉ còn lại voi mẹ và voi con.
Mặc cho cơ quan chức năng và người dân quyết liệt triển khai các biện pháp xua đuổi, nhưng hàng đêm 2 mẹ con voi rừng vẫn hung hãn kéo ra sát khu dân cư phá hoại hoa màu, nhà cửa. Trước khi rút vào rừng, chúng đã phá ít nhất 2 căn nhà gỗ, 7-8 chòi rẫy, cùng nhiều diện tích mía, mì, ngô…
Ông Huỳnh Trung Luân - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết, hiện chỉ ghi nhận 2 cá thể voi rừng này di chuyển vào rừng, nhưng chưa chắc chúng rút về lâm phần Vườn quốc gia Yok Đôn. Và không loại trừ khả năng voi rừng quay lại kiếm ăn theo bản năng.
Trước đó, vào đầu trung tuần tháng 12, trên địa bàn thôn 6, thị trấn Ea Súp (huyện Ea Súp, Đắk Lắk) cũng xuất hiện một đàn voi rừng hơn 20 cá thể kéo về sát bìa rừng, tiến sâu vào trong vùng canh tác hoa màu của người dân để kiếm ăn. Trước khi bỏ đi, chúng đã phá nát khoảng 12 ha hoa màu.
Theo các chuyên gia về bảo tồn voi, việc voi rừng thường xuyên kéo về khu dân cư phá hoại là hệ quả tất yếu của những cánh rừng khộp bị xâm hại, dẫn đến môi trường sống, hành lang di chuyển của voi bị thu hẹp. Trong khi đó, nguồn thức ăn trong Vườn quốc gia Yok Đôn, nơi sống của voi được dự báo là đã cạn kiệt, không còn đáp ứng đủ nhu cầu như trước.
Các chuyên gia khuyến cáo, nếu voi trở về thường xuyên, người dân nên chuyển đổi cơ cấu cây trồng, trồng những loại cây trồng mà voi không ưa thích. Còn về lâu dài, cần có bản đồ quy hoạch vùng voi về, để từ đó có biện pháp xua đuổi hiệu quả, tránh xung đột giữa voi và người. (Dân Trí 25/12) đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ Kiến vàng (BQL RPH Kiến Vàng) huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, là nơi quản lý cánh rừng với diện tích gần 10.000ha chạy dài hơn 40 km bờ biển.
Trong năm 2013, BQL RPH Kiến Vàng đã phối kết hợp cùng chính quyền địa phương, kiểm lâm, bộ đội biên phòng và người dân đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nhiều vụ việc chặt phá rừng.
Theo số liệu báo cáo của BQL RPH Kiến Vàng, diện tích thiệt hại trong năm 2013 là 1,41ha với cường độ bị chặt là 35% nằm rải rác trên toàn lâm phần, giảm 1,29 ha so với cùng kỳ năm 2012 trong tổng diện tích quản lý gần 10.000ha. Thu hồi hơn 17m3 gỗ, 119,8 Ster củi; tháo dỡ lò than trái phép được 73 lượt, thu hồi 420 kg than… Từ những con số trên cho thấy công tác quản lý và bảo vệ rừng của các đơn vị chức năng đóng trên địa bàn rất đáng biểu dương.
Theo ông Xê, hiện nay chưa có chính sách ưu đãi cho những người trực tiếp quản lý bảo vệ rừng ở các tiểu khu trong các BQL RPH nên không thu hút được lao động, bên cạnh đó điều kiện sinh hoạt rất thiếu thốn, trang thiết bị phục vụ công tác còn hạn chế. Ngoài những khó khăn vất vả trong công tác quản lý bảo vệ rừng, việc phải đối mặt với nguy hiểm có thể ảnh hưởng tới tính mạng đối với các lực lượng này cũng rất đáng lo ngại, tuy nhiên họ không được trang bị các công cụ hỗ trợ cần thiết…
Ngoài ra, việc thực hiện chủ trương bố trí tái định cư mới chỉ giải quyết được vấn đề trước mắt là nơi ở, chưa giải quyết lâu dài về công ăn, việc làm nên nhiều hộ được tái định cư vẫn tham gia chặt phá rừng, khai thác con giống thủy sản trái phép. (Kinh tế Nông thôn 25/12) đầu trang(
Ngày 25.12, Công an tỉnh Quảng Trị cho hay, sau khi lập biên bản đã chuyển toàn bộ hồ sơ, tang vật của 2 vụ tàng trữ gỗ lậu vừa phát hiện cho lực lượng kiểm lâm tiếp tục thụ lý.
Trước đó, chiều 24.12, từ nguồn tin riêng, các trinh sát của đơn vị đã ập vào nhà ông Trịnh Tựu (thôn Hà Xá, xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong) và phát hiện trong vườn nhà ông này có 61 phách gỗ hương, 50 phách gỗ cẩm lai (tổng cộng trên 8 m3).
Ông Tựu không xuất trình được giấy tờ hợp lệ cho số gỗ nói trên và nói gỗ là do một người khác gửi nhờ.
Cũng trong buổi sáng cùng ngày, lực lượng của đơn vị này đã “tập kích” một xưởng gỗ trên địa bàn thị trấn Lao Bảo (huyện Hướng Hóa) và phát hiện, thu giữ 4 m3 gỗ cẩm lai, không có nguồn gốc xuất xứ. (Thanh Niên 25/12; Công An Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Ngày 24-12, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Phú Yên, ông Lê Văn Trúc ra quyết định xử phạt hành chính các ông Nguyễn Tấn Hùng và Bùi Quang Thanh (mỗi người 75 triệu đồng) do hành vi mua, vận chuyển lâm sản trái phép.
Ông Hùng (trú ở số nhà 72 đường Chí Linh, phường 9, TP Tuy Hòa, Phú Yên) đã tổ chức mua 23.249kg cành nhánh, gốc, rễ cây trắc (23,249m3 gỗ tròn) thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIA. Ông Thanh (trú ở số nhà 57/2 đường Nguyễn Viết Xuân, phường Hội Phú, TP Pleiku, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe ô tô mang BKS: 81C-024.18 vận chuyển trái phép số gỗ trên.
Trước đó, ông Trần Khánh Toàn (trú ở khu phố 6, TT Hai Riêng, huyện Sông Hinh) cũng bị UBND tỉnh xử phạt hành chính 75 triệu đồng, do điều khiển xe ô tô mang BKS: 78C-020.01 vận chuyển trái phép 6,560m3 gỗ nhóm I thuộc loài nguy cấp quý hiếm nhóm IIA. Cả ba đối tượng trên đều bị trước quyền sử dụng giấy phép lái xe 6 tháng. (An Ninh Thủ Đô 25/12) đầu trang(
Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có gần 28.000ha rừng và đất lâm nghiệp bị bao chiếm trái phép, nhưng mới thu hồi được không quá 1.000ha. Không chỉ mất rừng, tranh chấp đất đai giữa người dân và các Cty lâm nghiệp cũng diễn ra gay gắt. Thực trạng trên cho thấy, mô hình Cty lâm nghiệp quản lý rừng đang bộc lộ nhiều bất cập.
Đắk Lắk vừa thống kê được hơn 27.800ha rừng và đất lâm nghiệp bị bao chiếm trái phép (gồm hơn 12.000ha mới phát sinh từ năm 2008 đến năm 2013). Trong đó có cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, vườn quốc gia, nhưng bị bao chiếm nhiều nhất vẫn là diện tích thuộc sự quản lý của các Cty lâm nghiệp nhà nước.
Ông Nguyễn Hữu Thu - Giám đốc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Chư Ma Lanh cho biết, sau khi chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh thành Cty, rồi Cty TNHH MTV, đơn vị chỉ được giao 14.700ha rừng, ít hơn trước đây rất nhiều.
Tuy nhiên, hiện có hàng trăm hộ dân đang bao chiếm hơn 40% đất rừng của đơn vị. Tại nhiều Cty lâm nghiệp khác, diện tích chỉ quản lý được trên giấy cũng lên tới vài trăm, vài nghìn hécta mỗi đơn vị. Cũng do vậy, khi nhà nước cần sử dụng đất rừng phục vụ cho các chương trình, dự án đều không thực hiện được.
Biết Cty lâm nghiệp Chư Ma Lanh không quản lý xuể, UBND tỉnh Đắk Lắk đã thu hồi 1.000ha cho Cty CP Vinamit thuê để thực hiện dự án nông - lâm kết hợp. Nhưng Vinamit chỉ cầm được quyết định của tỉnh, còn đất đai thì người dân đã... canh tác ổn định từ lâu. Nhiều dự án cấp đất cho đồng bào dân tộc, tái định cư, thậm chí dự án về an ninh - quốc phòng cũng bế tắc vì tranh chấp đất đai. Nguyên nhân là sau khi chuyển đổi, các Cty lâm nghiệp vẫn không có vốn để phát triển rừng, không đủ năng lực quản lý bảo vệ rừng.
Từ đầu năm 2012, UBND tỉnh Đắk Lắk đã chỉ thị cho các huyện, các đơn vị quản lý rừng tiến hành giải tỏa, trồng lại rừng trên diện tích đất lâm nghiệp bị bao chiếm. Nhưng sau gần 2 năm triển khai, cả tỉnh chỉ thu hồi được... hơn 827,8ha, nơi bị bao chiếm càng nhiều lại thu hồi càng ít. Cty lâm nghiệp Chư Ma Lanh thu được 106/6.000ha, Cty lâm nghiệp Buôn Ja Wầm thu được 65/460ha, huyện M'Đrắc thu 4,7ha, huyện Krông Bông 1,8ha...
Sau khi giải tỏa, không ít diện tích đã bị người dân phá bỏ cây rừng mới trồng, chiếm lại đất. Trong đó, Cty lâm nghiệp Chư Ma Lanh bị tái chiếm toàn bộ diện tích thu hồi, Cty lâm nghiệp Buôn Ja Wầm bị nhổ bỏ 34/65ha rừng trồng... Sở NNPTNT thừa nhận, cả đơn vị chủ rừng, chính quyền cấp huyện và các cơ quan chức năng chưa kiên quyết.
Thực chất việc thu hồi đất lâm nghiệp bị lấn chiếm mới chỉ là lập phương án. Nhều đơn vị chủ rừng thiếu cả vốn lẫn năng lực bảo vệ rừng, việc giao diện tích đã giải tỏa được cho họ quản lý là không khả thi. Trong khi thu hồi chẳng bao nhiêu thì từ năm 2012 - 2013, toàn tỉnh lại có thêm 320ha rừng bị chặt phá trái phép, chủ yếu vẫn là rừng do các Cty lâm nghiệp quản lý.
Như vậy, sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị, các nghị định của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông lâm trường quốc doanh, các Cty lâm nghiệp ở Đắc Lắc vẫn không có gì đổi mới. Nhiệm vụ bảo vệ rừng đã không hoàn thành, các đơn vị này lại phải lo sản xuất kinh doanh nuôi nhau nên rừng mất nhiều hơn. Tiếp đó là tranh chấp đất đai giữa người dân và các Cty lâm nghiệp ngày càng gay gắt.
Một trong những lối thoát mà Sở NNPTNT Đắk Lắk vừa đề nghị là chuyển các Cty lâm nghiệp yếu kém thành ban quản lý rừng, tức chỉ hưởng lương ngân sách để bảo vệ rừng. Tất nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp bền vững theo quy hoạch đề ra. (Lao Động 26/12) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND huyện Đăk Rông cho biết, trong năm 2013, các lực lượng chức năng đã phát hiện 70 vụ vi phạm lâm luật, bắt giữ 129,538 m3 gỗ quy tròn và 74,7 kg động vật hoang dã, tổng số tiền xử phạt gần 390 triệu đồng.
Trong năm 2013, công tác trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng luôn được chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện. Trồng rừng tập trung đạt 877 ha, trồng 20 vạn cây phân tán, thực hiện giao khoán và bảo vệ 3.650 ha rừng.
Bên cạnh đó, công tác phòng cháy và chữa cháy rừng cũng được các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo; tiếp tục tuần tra, kiểm tra, kiểm soát tại các tuyến đường trọng điểm thường có hoạt động mua, bán lâm sản trái phép và các điểm nóng vi phạm lâm luật. (Quangtri.gov.vn 26/12) đầu trang(
Trong thời gian qua, hàng trăm người dân từ khắp nơi ồ ạt đổ về tiểu khu 300 ở xã Cư Klông, huyện Krông Năng (Đắk Lắk) đào đãi đá quý saphia và thạch anh tinh thể. Trong khi đó, khu vực này đã được UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho một hợp tác xã nhận trồng rừng nguyên liệu.
Theo báo cáo của UBND huyện Krông Năng, những bãi khai thác đá quý tự phát tại tiểu khu 300 thuộc phần đất UBND tỉnh Đắk Lắk cho Hợp tác xã Nông nghiệp - Kinh doanh tổng hợp Trường Sơn (gọi tắt HTX Trường Sơn) thuê trồng rừng nguyên liệu.
Bà Nguyễn Thị Mon, Chủ nhiệm HTX Trường Sơn, cho biết: Vào tháng 6-2012, HTX đã giao lô đất số 2 với diện tích 9,5ha (hiện đang bị người dân khai thác đá trái phép - PV) cho ông Mai Duy Bình, Phạm Văn Giang và bà Vi Thị Bình thực hiện dự án trồng rừng. Vì các hộ này không nộp tiền thuê đất, đến tháng 1-2013, HTX đã giao lại cho ông Nguyễn Hồng Hải (ở tỉnh Cà Mau) tiếp tục thực hiện dự án trồng rừng.
Sau khi nhận đất, ông Nguyễn Hồng Hải cũng không trồng rừng mà lại đưa người, máy móc vào đây khai thác đá quý. Lúc đoàn liên ngành của UBND huyện Krông Năng đến đây kiểm tra vào tháng 9 vừa qua, họ chỉ gặp ông Lâm Văn Tân (ở tỉnh Kiên Giang) đang trông coi khu đất này. Theo ông Tân, vào khoảng tháng 6-2013, ông Hải đã sang nhượng khu đất này cho cha ông là Lâm Văn Cà thực hiện dự án, còn phương tiện máy móc đang khai thác tại hiện trường của ông Nguyễn Hồng Hải(?).
Ông Nguyễn Kỳ, Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Năng, cho biết: “Sau khi phát hiện những điểm khai thác đá trái phép ở xã Cư Klông, UBND huyện đã chỉ đạo công an chốt trong khu vực khai thác để ngăn chặn, giải tỏa các khu vực đang khai thác trái phép. Huyện cũng đã đề nghị UBND tỉnh và các sở, ngành liên quan kiểm tra việc sử dụng đất lâm nghiệp của HTX Trường Sơn”.
Tại cuộc họp ngày 16-10 tại huyện Krông Năng, ông Đinh Văn Khiết, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, đã giao Sở TN-MT tỉnh Đắk Lắk tham mưu cho UBND tỉnh thu hồi 303ha đất lâm nghiệp ở tiểu khu 300 của HTX Trường Sơn vì HTX này sử dụng đất sai mục đích và để người dân vào đây khai thác trái phép. Nhưng đến nay, UBND tỉnh Đắk Lắk vẫn chưa thu hồi dự án trồng rừng này. (Sài Gòn Giải Phóng 26/12) đầu trang(
Ngày 24/12, Chi cục Kiểm lâm Bình Dương và cơ quan bảo vệ động vật hoang dã CITES phía Nam có buổi làm việc với Khu du lịch Đại Nam xung quanh vụ voi quật chết quản tượng Đoàn Hữu Tài chiều 23/12. Khu du lịch thông báo vườn thú sẽ ngưng hoạt động để chỉnh trang từ 24 đến 27/12.
Ngày 25-12, ông Phạm Đình Khương - phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam (P.Hiệp An, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương) cho biết, liên quan tới sự việc quản tượng Đoàn Hữu Tài (28 tuổi, quê Vĩnh Long) bị voi ở khu du lịch này quật chết, ban giám đốc công ty đã quyết định hỗ trợ 500 triệu đồng cho gia đình anh Tài.
Ngoài ra, do anh Tài được Công ty Đại Nam mua bảo hiểm lao động nên công ty đang phối hợp cùng với gia đình làm thủ tục chi trả bảo hiểm cho gia đình. Khu du lịch Đại Nam cũng chi trả một phần chi phí mai táng và hàng chục công nhân viên, lãnh đạo công ty đã xuống tận Vĩnh Long để chia sẻ, động viên gia đình anh Tài. (Tiền Phong 25/12; Tuổi Trẻ 25/12; VOV 25/12; Thanh Niên 25/12; Công An Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Từ tháng 11 đến nay, lực lượng Kiểm lâm huyện Na Rì phối hợp với các cơ quan chức năng liên tục triệt phá nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn.
Sau một thời gian nắm tình hình, ngày 16/11/2013, lực lượng kiểm lâm đã kiểm tra một xe ô tô tại xã Liêm Thủy, tại thời điểm kiểm tra đã phát hiện xe ô tô vận chuyển hơn 3,1m3 gỗ mận rừng trái phép. Đây là loại gỗ thuộc nhóm 6. Tiếp đó, ngày 9/ 12, Kiểm lâm huyện phối hợp với Công an huyện đã phát hiện và thu giữ chiếc xe ô tô vận chuyển gần 0,6 m3 gỗ nghiến xẻ tại xã Văn Minh.
Gần đây nhất, ngày 10/ 12, lực lượng kiểm lâm cũng đã kiểm tra, phát hiện một xe ô tô nhãn hiệu Cửu Long chở 4,6 m3 gỗ nghiến trái phép đi qua địa bàn xã Cư Lễ. Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết, lực lượng chức năng đã thu giữ toàn bộ tang vật để xử lý theo quy định.
Theo đánh giá của lực lượng chức năng của huyện Na Rì, càng về thời điểm cuối năm tình hình vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 26/12) đầu trang(
Hai con voọc con đã ôm lấy vọọc mẹ đến chết khi con voọc mẹ này bị con người đánh bẫy không thể thoát ra ngoài. Đó chỉ là một trong những câu chuyện hết sức dã man về cách mà con người đã đối xử với động vật, đồng thời khiến nhiều người phải rơi nước mắt khi nghe và xem lại những bức ảnh mà nhà báo Đỗ Doãn Hoàng đã chứng kiến và ghi lại những cảnh này.
Trong thời gian qua, những câu chuyện về việc con người đối xử một cách tàn ác với các loài động vật và mới đây nhất là vụ việc xôn xao dư luận về một quân nhân đã đăng những bức ảnh giết hại con voọc đang mai thai đã khiến cho dư luận hết sức phẫn nộ.
Để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này, phóng viên báo Giáo dục Việt Nam đã có buổi trò chuyện với nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, người đã từng nhiều năm rong ruổi trên khắp các cánh rừng của cả nước và anh đã ghi lại những hình ảnh con người tàn sát thiên nhiên một cách không thương tiếc và lắng nghe những câu chuyện rùng rợn về vấn đề này.
Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng tâm sự: Trong một lần tác nghiệp, khám phá đỉnh núi Nâm Nung (đỉnh núi cao nhất của tỉnh Đăk Nông) cùng với một số lãnh đạo của tỉnh Đăk Nông tôi đã chứng kiến một nỗi đau tột cùng của ba mẹ con nhà vọoc đã ôm nhau chết trong rừng.
Nguyên nhân cái chết là do voọc mẹ đi kiếm ăn bị trúng bẫy của cánh thợ săn kẹp “tay”, đành nằm ôm gốc cây chờ chết... Bẫy được cánh thợ săn tự chế bằng dây phanh xe đạp, xe máy buộc thòng lọng ở tán cây rừng, rồi đào hố, thả thức ăn vào đó để nhử. Bất kỳ con gì thò “tay” bốc thức ăn đều bị thòng lọng dây phanh “nắm lấy”, thít chặt rồi giữ rịt cho đến chết. Con vật rồi sẽ chết vì đói.
Mỗi sợi phanh xe đạp cũ, nhưng kẻ giết rừng có thể chế ra một cái bẫy. Và, con voọc mẹ này đã trúng bẫy rồi bị trói tay treo lơ lửng trên cây. Hai chú voọc con có thể là quá đau lòng cho voọc mẹ xấu số nên đã nằm phủ phục dưới chân mẹ và chết dưới cái bụng đói lả của mẹ.
Hoặc cũng có thể là con voọc mẹ bị treo tay mắc bẫy khi đang còn căng bầu sữa nuôi hai con nhỏ, mỗi đứa con chỉ to hơn... bắp ngô răng ngựa một chút. Hai voọc con khát sữa, đói sữa đã nằm phủ phục dưới bầu vú bị treo lơ lửng dọc thân cái cây đã trói chết mẹ nó.
Trong quá trình tác nghiệp, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng đã chứng kiến nhiều chuyện chặt óc khỉ rồi vắt chanh vào óc ăn sống. Ngày xưa tôi đã làm những loạt bài phóng sự về nơi có nhiều khỉ nhất Hà Nội hiện nay là Đầm Long (Ba Vì), ở đây có món thực đơn là thịt khỉ. Nhà báo đã đăng trên báo Lao động từ ba năm nay nhưng không bị kiện vì những gì nhà báo đăng là sự thực.
Nhà báo Hoàng có cả băng ghi âm, cả hóa đơn món thịt khỉ và những hình ảnh sát hại khỉ trên bàn nhậu. Sự thật là ở đấy người ta có nuôi khỉ và thịt, con khỉ nào bị thịt cũng dã man như con vọoc vừa rồi được báo chí đưa, có điều là chúng ta không quay được clip mà thôi.
Nhưng chuyện này còn rất nhỏ so với chuyện tày trời như là giết voi nhà. Con voi nhà là một con vật gắn liền với con người như một thành viên trong gia đình. Khi nó sinh ra là có một lễ cúng, trưởng thành có một lễ cúng, giao phối có một lễ cúng, đẻ con có một lễ cúng… và nó có một phả hệ như con người. Thế nhưng bây giờ người ta đối xử với nó như thế nào?
Cái nghề săn bắt và thuần dưỡng voi ở Đăk Lăc là một nghề cực kì độc đáo trên toàn thế giới này. Trong lịch sử, con voi cũng gắn liền với bao chiến công hào hùng của dân tộc. Thế nhưng chỉ vì chiếc ngà voi người ta giết voi, vì chiếc nhẫn lồng đuôi voi người ta cũng giết voi… Voi nhà bị tàn sát đến mức khủng khiếp khiến số lượng bây giờ chỉ chưa đầy 50 con. Nó giảm mất 9/10 trong vòng 20 năm qua.
Voi bị giết nhiều đến mức, có một gia đình ở Đăk Nông thành lập cả nghĩa địa voi để chôn cất những con voi của mình đã bị sát hại. Có những con voi đã bị giết bởi 270 nhát chém, sau đó bị đốt đuôi, đập vỡ đầu. Cuộc hành quyết con voi đó cực kì dã man.
Khi con voi chết, lực lượng quân đội phải cầm súng đứng gác xung quanh con voi vì nếu không người ta sẽ đến xẻ thịt con voi để bán. Chính những ông chủ của con voi đó đã phải bí mật đào hố để chôn voi dưới sự giám sát của cơ quan chức năng vì nếu không sẽ bị người ta đào xác lên. (Giáo Dục VN 25/12) đầu trang(
Ngày 24.12, trên QL10, đoạn qua xã Tân Bình, TP.Thái Bình, tổ CSGT của Công an tỉnh Thái Bình đã phát hiện trên ô tô do Hoàng Văn Đông (31 tuổi, ở xã Đông Sơn, H.Đô Lương, tỉnh Nghệ An) điều khiển có một chiếc sừng nặng 6,5 kg trong bọc ni lông.
Theo tài xế Đông thì đây là sừng tê giác. Vụ việc đã được chuyển cho Phòng CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ xử lý. Đông bị tạm giữ để điều tra. (Thanh Niên 26/12) đầu trang(
Ngày 24/12, trên QL1A đoạn Nam cầu Nghèn, thuộc địa phận khối 6, thị trấn Nghèn (Can Lộc) đã xảy ra vụ lật xe chở gỗ.
Theo nhiều người dân ở gần địa điểm xảy ra tai nạn cho biết: xe tải mang biển kiểm soát 37C - 03255 (chưa xác định danh tính lái xe) đang lưu thông trên đường theo hướng Nam – Bắc, khi đi đến khu vực trên thì bất ngờ xe bị lật nghiêng sang bên trái và đổ hẳn xuống đường. Trên xe chở hàng chục tấn gỗ.
Chiếc xe bị hư hỏng nặng nhưng tài xế chỉ bị thương nhẹ và được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Can Lộc.
Ngay sau khi tai nạn xảy ra, các lực lượng chức năng huyện Can Lộc đã kịp thời có mặt để phân luồng giao thông, bảo vệ số gỗ và điều tra nguyên nhân vụ việc. (Báo Hà Tĩnh 26/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||