|
Ngày 27 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cùng với chính sách khoán quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông được thực hiện đã và đang mang lại lợi ích thiết thực, góp phần tạo điều kiện cho người làm nghề rừng yên tâm hơn với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có hàng trăm nghìn hécta rừng nằm trong lưu vực có cung cấp DVMTR, đồng thời cũng có lưu vực của 2 con sông chảy qua là Sêrêpốk và Đồng Nai. Đây là tiềm năng về nguồn thu DVMTR từ các nhà máy thủy điện trên địa bàn và trong lưu vực liên tỉnh. Chưa kể nguồn thu do Quỹ Bảo vệ - phát triển rừng Trung ương điều tiết, trên địa bàn tỉnh còn có khoảng 20 nhà máy thủy điện cũng là nguồn thu DVMTR chủ yếu của tỉnh.
Có thể nói, chính sách chi trả DVMTR là một lĩnh vực mới, nên để định giá được giá trị của rừng và chi trả cho người làm nghề rừng sao cho phù hợp với giá trị thực tế mà rừng mang lại một cách thỏa đáng, công bằng, hiện đang được Quỹ Bảo vệ-phát triển rừng tỉnh nỗ lực thực hiện.
Theo nhận định của ngành chuyên môn thì mặc dù số tiền tạm ứng chi trả DVMTR trên một héc ta rừng trong thời gian qua tuy chưa lớn, nhưng nó đã mang lại tín hiệu đáng mừng trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng ở các đơn vị, cộng đồng dân cư và đã trở thành một động lực không nhỏ trong việc động viên người trồng rừng, bảo vệ rừng có trách nhiệm với rừng.
Ngoài ra, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR cũng là bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề, trong đó trọng tâm là về môi trường, kinh tế, xã hội, góp phần giảm thiểu mất rừng, suy thoái rừng và nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái, giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt.
Chính sách cũng tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và góp phần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Với việc triển khai đồng bộ nhiều biện pháp tích cực nên đến nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã thực sự đem lại những hiệu quả đáng khích lệ cả về môi trường, kinh tế và hiệu ứng xã hội.
Hiệu quả thiết thực nhất của việc thực hiện chính sách là từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của “chủ rừng”, nâng số hộ nhận khoán bảo vệ rừng và huy động được nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng. Đặc biệt, công tác xã hội hóa nghề rừng được đẩy mạnh, góp phần tích cực trong việc giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo, bảo đảm an sinh xã hội ở các địa bàn dân cư, nhất là ở vùng sâu, vùng xa của tỉnh. (Báo Đăk Nông 27/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Năm 2013, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng. Đây là một trong những cách làm được cho là hiệu quả trong việc bảo tồn thiên nhiên tại Mường Nhé.
26 bản ở các xã: Sín Thầu, Leng Su Sìn, Chung Chải, Mường Nhé, Nậm Kè và Mường Toong hiện đang sống trong vùng đệm các khu rừng đặc dụng hay còn gọi là Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. Đời sống của đồng bào các dân tộc nơi đây còn nhiều khó khăn, nhiều hộ sống phụ thuộc vào rừng. Do đó, việc hỗ trợ phát triển kinh tế, ổn định đời sống cho nhân dân trong vùng là cách làm hiệu quả để giảm áp lực sinh kế vào vùng lõi khu bảo tồn.
Bằng nguồn kinh phí hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng theo Quyết định 24 của Chính Phủ, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đã hỗ trợ để nâng cao năng lực sản xuất, phát triển kinh tế cho nhân dân vùng đệm các khu rừng đặc dụng trên địa bàn huyện. Với mức hỗ trợ 40 triệu đồng mỗi bản, trên 1.300 hộ ở 26 bản thuộc vùng đệm đã được hỗ trợ các loại cây, con giống, dụng cụ, thiết bị và phương tiện sản xuất.
Ngoài việc hỗ trợ 1.000 cây xoài và 17 nghìn cây cà phê giống cho hơn 200 hộ ở các xã Mường Nhé và Mường Toong, hơn 350 hộ ở các xã: Mường Nhé, Chung Chải và Nậm Kè đã được hỗ trợ hơn 3.000 con ngan, vịt giống, vừa giúp bà con có thêm thu nhập, vừa để bà con dần từ bỏ việc sản xuất trên nương.
Ngoài ra, gần 300 hộ trong vùng còn được trang bị máy phay, máy cày, bừa và máy tuốt lúa. Đây là những phương tiện sản xuất vừa giúp bà con giảm công sức lao động lại sớm bắt nhịp được với những phương thức làm kinh tế hiện đại, nhanh gọn và hiệu quả.
Ngoài ra, chương trình còn hỗ trợ 1 số vật liệu xây dựng cho các công trình công cộng như: đường giao thông, nước sinh hoạt, xây cầu qua suối, dựng trường, lớp học… với trị giá gần 500 triệu đồng. Thông qua việc hỗ trợ đã tạo điều kiện thuận lợi cho bà con nâng cao hiệu quả lao động cũng như trong đời sống sinh hoạt, từ đó giúp bà con giảm bớt khó khăn trong cuộc sống, hạn chế việc phá rừng làm nương, đặc biệt là rừng thuộc vùng lõi khu bảo tồn.
Như vậy có thể thấy, mặc dù nhận thức của bà con vùng đệm hiện nay chưa đồng đều, việc thực hiện các mô hình còn mang tính thụ động; chưa áp dụng triệt để, đúng quy cách các kỹ thuật trong việc khai thác các thiết bị hỗ trợ sản xuất cũng như trong chăn nuôi, trồng trọt. Thế nhưng chương trình hỗ trợ đã và đang được bà con nhiệt tình đón nhận và tham gia thực hiện. Đây được xem như một trong những cách làm hay, góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ và phát triển rừng khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé. (Đài PT - TH Điện Biên 27/12) đầu trang(
Từ đầu đầu năm 2013 đến nay, cộng đồng bon Mê Ra và bon Bu Dưng, xã Đắk R’tíh (Tuy Đức) đã nỗ lực ngăn chặn được tình trạng phá rừng, cháy rừng.
Có được kết quả này, ngoài các biện pháp về tuyên truyền nâng cao nhận thức, thì một phần là nhờ bà con đã nhận được nguồn kinh phí từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Theo ông Điểu Blế, Phó Chủ tịch UBND xã Đắk R’tíh thì thời gian gần đây, ý thức bảo vệ rừng của người dân của hai bon Mê Ra và Bu Dưng được nâng lên đáng kể. Hiện nay, diện tích đất rừng giao về cho cộng đồng 2 bon quản lý chung là 1.100 ha.
Năm 3013, cộng đồng hai bon đã nhận được trên 320 triệu đồng tiền tạm ứng chi trả DVMTR. Trong đó, bon Mê Ra nhận được 140 triệu đồng, bon Bu Dưng được 180 triệu đồng. Có được khoản kinh phí này, bà con đã có thêm điều kiện để mua sắm các trang thiết bị như xăng, dụng cụ chuyên dùng… để giữ rừng, nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy rừng.
Các hộ dân đều tập trung sản xuất ổn định trên diện tích đất hiện có, không xâm hại đến diện tích rừng, không chặt phá, khai thác rừng trái phép. Hoặc khi làm rẫy, bà con đã nắm rõ thời gian và phạm vi được phép đốt rẫy để đám cháy không lan ra diện rộng.
Không những thế, ngoài các buổi tuần tra, canh giữ hàng ngày thì khi xảy ra cháy, hoặc có dấu hiệu cháy rừng, các thành viên của các tổ quản lý rừng cộng đồng nhanh chóng có mặt để bảo vệ rừng. Do đó, từ đầu năm đến nay, chỉ xảy ra 1 vụ phá rừng tại diện tích đất rừng do cộng đồng bon Mê Ra quản lý, giảm đến 4 vụ so với năm trước.
Ông Điểu Khơi, Tổ trưởng tổ quản lý rừng cộng đồng bon Mê Ra cho biết: “Tổ có 70 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tham gia quản lý bảo vệ rừng. Việc tổ chức đi tuần tra bảo vệ rừng thường kéo dài nhiều ngày, bà con phải ngủ lại đêm trong rừng nên cần phải có tiền hỗ trợ ăn uống, bồi dưỡng. Vì vậy, từ khi nhận được tiền DVMTR, chúng tôi vui lắm và ai cũng tự giác bảo vệ rừng. Bây giờ trong mỗi lần họp bon, mọi người đều hào hứng đóng góp ý kiến xây dựng để làm sao chi tiêu tiền DVMTR cho hiệu quả mà rừng được bảo vệ chắc chắn hơn”.
Còn theo ông Điểu Ben, Trưởng bon Mê Ra thì hầu hết các hộ nhận khoán rừng đều có ý thức cao khi làm nhiệm vụ giữ rừng cũng như tham gia cùng lực lượng chức năng phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm lâm luật. Đặc biệt, khi đồng bào nhận được khoản kinh phí DVMTR đã có thêm động lực để yên tâm tham gia quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Điểu Wớp, Trưởng bon kiêm Tổ trưởng tổ quản lý rừng cộng đồng bon Bu Dưng thì nhận định: "Nếu rừng giúp người dân hết đói, hết nghèo thì bà con sẽ bảo vệ rừng tốt. Vì vậy, sau khi được tạm ứng tiền DVMTR, bà con đã biết rừng cũng là một loại hàng hóa, luôn quan tâm giữ rừng tốt để được hưởng lợi ích từ môi trường rừng mang lại”.
Có thể nói, khi đồng bào đã nhận thức được rừng gắn với lợi ích của chính mình thì họ tự tạo được động lực bảo vệ rừng. Và như vậy câu hỏi làm sao để người dân sinh sống gần rừng có thể sống được bằng nghề rừng bước đầu có câu trả lời.
Trên thực tế, với việc chi trả tiền DVMTR đầy đủ cho gần 200 hộ dân ở hai bon Mê Ra và Bu Dưng tham gia nhận khoán bảo vệ và phát triển rừng thì cũng đồng nghĩa rừng đã tạo thêm việc làm cho chừng ấy hộ dân. Nhìn rộng hơn, rừng đã tham gia tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của địa phương đang từng bước thành hiện thực. (Báo Đăk Nông 27/12) đầu trang(
Ngày 25/12, Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng thành phố Vũng Tàu tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy và ngăn chặn chặt phá rừng mùa khô năm 2012-2013, triển khai phương án mùa khô năm 2013-2014.
Xác định công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, ngay từ đầu mùa khô, Hạt kiểm lâm đã tham mưu với UBND thành phố củng cố kiện toàn Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của thành phố, các Ban chỉ đạo của các xã, phường, chủ rừng và đơn vị đóng trên địa bàn; qua đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức của nhân dân về tác hại của lửa rừng gây ra đối với cuộc sống, bên cạnh đó tổ chức ký 248 bản cam kết và 120 quyển sổ tay tuyên truyền PCCCR cho cộng đồng dân cư sống trong và ven rừng.
Kết quả, mùa khô 2012 - 2013, toàn thành phố không có vụ cháy rừng nào, chỉ xảy ra 6 vụ cháy trên khu vực đất ven rừng núi Lớn, núi Nứa và bãi cát ven biển thuộc phạm vi quản lý, tất cả các vụ cháy ven rừng đều được phát hiện và huy động lực lượng khống chế kịp thời; bên cạnh đó các đơn vị còn phát hiện ra 10 vụ phá và khai thác lâm sản trái phép, xử lý vi phạm hành chính 10 vụ với số tiền 37.550.000 đồng … (Vungtau.Bariavungtau.gov.vn 26/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Hà Nội cho biết, chiều 24-12, tại núi đá gần chùa Phong Vân (thuộc chùa Hương) xã Hương Sơn, Mỹ Đức đã xảy ra cháy rừng.
Do cây rừng phân tán trên ngọn núi nên công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn. Đến 8h sáng 25-12, đám cháy cơ bản đã được dập tắt, thiệt hại ban đầu khoảng trên 1ha, chủ yếu là cháy thảm thực bì, cây lau lách…
Nguyên nhân ban đầu xác định do trẻ chăn dê vô tình tạo lửa gây ra cháy rừng. Diện tích rừng trên thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức quản lý.
Hiện các cơ quan chức năng gồm kiểm lâm, cảnh sát phòng cháy chữa cháy, bộ đội, chính quyền địa phương vẫn đang túc trực ứng phó, dập những tàn tro còn nóng, có nguy cơ phát thành lửa. (Hà Nội Mới 27/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Vừa qua, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức Hội thảo quốc gia Tham vấn về Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế quản lý rừng phòng hộ. Các địa phương trong vùng dự án, thành viên tổ soạn thảo và các nhà khoa học, các chuyên gia lâm nghiệp quan tâm đã về dự hội nghị.
Năm 2013, Cục Kiểm lâm được Quỹ Ủy thác ngành lâm nghiệp tài trợ dự án nhỏ nhằm Xây dựng chính sách thí điểm về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng địa phương nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ, hướng tới xây dựng một cơ chế chính sách và môi trường pháp lý phù hợp để quản lý rừng phòng hộ bền vững, cải thiện sinh kế của người dân nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ.
Tại hội thảo các đại biểu tham dự và cơ quan chủ trì soạn thảo tập trung thảo luận làm rõ các vấn đề có quy định mới trong dự thảo cũng như các ý kiến phản hồi, góp ý từ các địa phương và tiếp thu tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo Bộ bổ sung vào dự thảo quyết định. (Báo Đăk Nông 27/12) đầu trang(
Tình trạng dân di cư tự do (DCTD) dù đang giảm nhưng những áp lực và hệ quả nảy sinh từ vấn đề này vẫn rất phức tạp, trong đó nhức nhối nhất là việc sang nhượng đất trái phép, phá rừng, xâm phạm đất rừng và làm mất ổn định an ninh trật tự; tăng tỷ lệ nghèo đói, tàn phá môi trường...
Để khắc phục tình trạng này, giải pháp căn cơ nhất là phải hạn chế tối đa dân DCTD từ phía địa phương có dân chuyển đi bằng cách xây dựng các chính sách hỗ trợ địa phương để giữ dân lại.
Do thiếu vốn sản xuất nên dân di cư thường sản xuất theo quy mô đơn lẻ, cuộc sống tự cung tự cấp nên đời sống bấp bênh. Theo thống kê, hơn 45% người di cư hiện đang sống trong những căn nhà tạm, 70% số hộ chưa có nước sinh hoạt và 84% hộ chưa có điện sinh hoạt...
Bên cạnh áp lực trực tiếp đến đời sống của người dân thì vấn đề dân DCTD hiện nay cũng đang đè nặng lên các địa phương nơi có dân đến. Đáng kể nhất là tình trạng phá rừng, xâm hại đất rừng, đang được xem là nguy cơ nghiêm trọng ảnh hưởng đến môi trường và tình trạng sử dụng đất đai chưa được quản lý.
Ông Nguyễn Văn Tới, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Phước cho biết, mặc dù số lượng dân DCTD giảm so với trước năm 2005 nhưng diễn biến lại phức tạp hơn. Ông Tới cho hay, tỉnh đã cương quyết thu hồi đất lấn chiếm sau năm 2004 và bố trí sắp xếp lại dân di cư, đưa dân về nơi cũ, nhưng hiện vẫn còn gần 6.000 hộ sống rải rác trong các rừng phòng hộ. Trong khi đó, tại các tỉnh Tây Nguyên tình hình còn căng thẳng hơn do địa hình phân tán, dân di cư mang tính chất tự phát và sống trà trộn vào các khu dân cư nên càng khó quản lý.
Tại tỉnh Đắk Lắk, nơi thu hút khá nhiều dân DCTD, hiện vẫn còn đến 33.000 người chưa có có đất ở và đất sản xuất, dẫn đến nhiều hệ quả như xáo trộn dân cư, tăng tỷ lệ đói nghèo, bệnh tật, tệ nạn xã hội, phá rừng, tàn phá môi trường... Tại tỉnh Kon Tum, nhức nhối nhất là tình trạng mua bán, tranh chấp đất đai xuất phát từ chính những người dân DCTD, vừa làm mất ổn định an ninh trật tự vừa gây khó khăn cho công tác quản lý sử dụng đất.
Thực hiện Chỉ thị số 39/2004/ CT-TTg của Thủ tướng về giải quyết tình trạng dân DCTD, trong những năm qua đã có nhiều dự án được triển khai, giúp ổn định cuộc sống cho một bộ phận nhân dân di cư.
Tuy nhiên, theo ông Tăng Minh Lộc, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), tại các địa bàn dân di cư đến vẫn còn hơn 30.000 hộ dân ở phân tán, không theo quy hoạch, ở trong rừng phòng hộ đầu nguồn và chưa được bố trí, sắp xếp ổn định vào quy hoạch; nhiều hộ chưa được giao đất, nhập hộ khẩu, đời sống không ổn định, có nguy cơ tái DCTD đi nơi khác.
Đặc biệt, nguồn vốn để triển khai các dự án bố trí ổn định dân cư, vẫn còn rất thấp so với nhu cầu. Các tỉnh miền núi phía bắc như Quảng Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Yên Bái đang triển khai 65 dự án với tổng vốn được duyệt là 1.535 tỷ đồng nhưng đến nay mới bố trí được gần 483 tỷ đồng, bằng 31%. Vốn được duyệt cho 16 dự án bố trí ổn định dân cư nơi đến của tỉnh Đắk Lắk là 436 tỷ đồng nhưng đến nay mới bố trí được 193,8 tỷ đồng; tỉnh Đắk Nông có 14 dự án với tổng số vốn là 1.048 tỷ đồng nhưng hiện mới bố trí được 287 tỷ đồng...
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho rằng, di dân là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của quốc gia nhưng phải theo quy hoạch và kế hoạch. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là phải ổn định đời sống người dân, vì vậy, các địa phương phải chú trọng vận động tuyên truyền để dân không phải di cư, ổn định cuộc sống ngay tại quê hương. Những tỉnh có dân đến cần tích cực bố trí đất đai, ổn định đời sống, sản xuất cho người dân. Bộ trưởng cho biết, Bộ sẽ xem xét vấn đề vốn trên cơ sở xác định các vùng ưu tiên, từ đó bố trí hỗ trợ vốn phù hợp, bảo đảm cân đối nhu cầu thực tế hiện nay.
Ngoài ra, theo Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Giàng A Chu, các địa phương phải nắm chắc số dân trên địa bàn, tập trung phát triển sản xuất, bảo đảm các điều kiện an sinh xã hội để hạn chế dân di cư đến những nơi khác.
Góp ý kiến về những vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Hiếu đề xuất các địa phương có dân di cư đi cần tiến hành giao đất, giao rừng cho các hộ quản lý và phát triển nghề rừng để các hộ có thu nhập chủ yếu từ nghề rừng; bố trí ngân sách địa phương lồng ghép vốn các chương trình để đầu tư cho các dự án như chương trình xây dựng nông thôn mới; tập trung ưu tiên xây dựng các nhà máy chế biến nông lâm thủy sản, phát triển du lịch... (Hà Nội Mới 27/12) đầu trang(
Số liệu thống kê mới nhất của Bộ NN&PTNT cho biết, công nghiệp chế biến và thương mại sản phẩm gỗ cũng được coi là động lực cho phát triển kinh tế ngành nông nghiệp. Năm 2013, gỗ và sản phẩm gỗ đã mang về cho Việt Nam một lượng ngoại tệ là 5,37 tỷ USD, tăng 15,2% so với năm 2012.
Thương mại gỗ và đồ gỗ trên thế giới và trong nước vẫn tiếp tục tăng trưởng, tạo cơ hội phát triển cho xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam, cũng như sẽ tạo ra thị trường và động lực cho phát triển trồng rừng trong nước. Từ năm 2000 đến nay, ngành công nghiệp chế biến gỗ có sự phát triển mạnh, giá trị sản xuất tăng trưởng liên tục với tốc độ cao, từ 41 – 42%/năm trong giai đoạn 2005 – 2010.
Xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt trên 4,6 tỷ USD vào năm 2012, giữ vững vị trí trong nhóm 5 ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong ngành nông nghiệp. Ngành công nghiệp chế biến gỗ sử dụng trực tiếp khoảng nửa triệu lao động, hàng triệu m3 gỗ nguyên liệu rừng trồng, gián tiếp góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hàng triệu hộ gia đình nông dân.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ cũng không ngừng được mở rộng. Nếu năm 2003 sản phẩm gỗ Việt Nam chỉ xuất khẩu đến 60 quốc gia thì nay đã có mặt tại trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó tập trung vào 3 thị trường trọng điểm là Mỹ (chiếm trên 36,3%), EU (chiếm gần 15,4%) và Nhật Bản (chiếm 15,1%). Quy mô của thị trường trong nước cũng là khá lớn do mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, thị trường sản phẩm gỗ nội địa đạt khoảng 1 tỷ USD/năm. (Đại Đoàn Kết 27/12) đầu trang(
Hiện Trung Quốc đang vươn lên là thị trường xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam. Với tiềm năng còn rộng mở, đây là thị trường các doanh nghiệp (DN) Việt Nam muốn tiến sâu hơn nữa. Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM (HAWA).
Ông Hùng cho biết: Tính đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa có những con số thống kê cụ thể tình hình xuất khẩu cả năm 2013. Song, có thể thấy ngành gỗ có tốc độ tăng trưởng tốt với mức trung bình khoảng 16%. Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ tính đến hết ngày 15-12-2013 đạt hơn 5,1 tỷ USD.
Như vậy nửa cuối tháng 12 này ngành gỗ sẽ phải thực hiện nốt kim ngạch khoảng gần 0,4 tỷ USD. Cũng như tình hình của những năm trước, hiện Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Và khoảng hơn 1 năm về đây Trung Quốc đã vươn lên vị trí thứ 2.
Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu giữa 2 thị trường này còn độ chênh khá lớn (kim ngạch xuất sang Hoa Kỳ gần gấp đôi sang Trung Quốc). Chính vì vậy, nhiều DN Việt Nam đang muốn đẩy mạnh hơn nữa kim ngạch vào thị trường tiềm năng Trung Quốc.
Đâu là những thuận lợi, khó khăn khi xuất khẩu gỗ và các sản phẩm từ gỗ vào Trung Quốc?, ông Hùng cho hay: Trước hết, cần phải nhìn nhận ngành sản xuất đồ gỗ của Trung Quốc đang mất dần lợi thế do giá nhân công và các chi phí đầu vào tăng cao. Chính vì thế, thay vì qua Việt Nam mua nguyên liệu, nay các bạn hàng Trung Quốc đã đặt hàng mua các sản phẩm đồ gỗ.
Thêm vào đó, yêu cầu về chất lượng của thị trường này cũng không còn như suy nghĩ của nhiều DN. Theo chúng tôi được biết, tiêu chuẩn hàng hóa của họ đôi khi còn cao hơn cả thị trường châu Âu, chính vì thế đây là cơ hội cho DN Việt Nam xuất khẩu những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Có thể khẳng định với quy mô dân số đông, mức thu nhập của người dân ngày càng cao, đây chính là một thị trường cần đẩy mạnh khai thác hơn nữa. Mới đây có một đoàn thương nhân của thành phố Trùng Khánh sang làm việc với HAWA và bàn về việc đưa đồ gỗ Việt Nam sang thành phố này.
Với số dân khoảng 32 triệu người, Trùng Khánh cũng là một điểm hẹn của nhiều DN. Để hỗ trợ các DN tìm hiểu nhiều hơn về thị trường này, trong năm 2014 chúng tôi sẽ có những đoàn khảo sát thị trường và theo dự kiến khoảng tháng 5 năm sau sẽ có một hội chợ về chế biến gỗ tại thị trường Trung Quốc.
Tất nhiên, đã nói đến tiềm năng cũng phải nói đến thách thức. Trung Quốc đang là nền kinh tế lớn nhưng không phải không có rủi ro. Vì Trung Quốc cũng phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu, chính vì thế khi những thị trường lớn bị ảnh hưởng, xuất khẩu không như kỳ vọng sẽ ảnh hưởng đến sức mua của người dân Trung Quốc.
Ngoài ra, khi vào thị trường này, sức ép cạnh tranh lên hàng Việt Nam cũng không phải ít. Vì vậy việc nâng cao chất lượng sản phẩm là hết sức quan trọng.
Theo ông Hùng: Cái khó của các DN chính là phải cạnh tranh gay gắt với chính các DN có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam. Và khi chúng ta càng mở cánh cửa thị trường rộng, sức ép cạnh tranh này càng lớn. Có thể thấy chúng ta tăng trưởng xuất khẩu nhiều nhưng thị phần chủ yếu thuộc về các DN FDI.
Với các DN trong nước, hiện nay còn thêm một khó khăn nữa là doanh số tăng nhưng lợi nhuận giảm. Tỷ giá tuy đã ổn định nhưng những yếu tố đầu vào liên tục tăng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh của hàng hóa. Cùng với đó, lãi suất ngân hàng vẫn còn cao.
Từ đó ảnh hưởng đến khả năng mở rộng đầu tư của nhiều DN, trong khi đây lại là một trong những yêu cầu tất yếu khi ra thị trường thế giới. Cho đến thời điểm này, chưa ai nói đến tình hình trong năm 2014 sẽ như thế nào, song trong bối cảnh thị trường châu Âu, Hoa Kỳ chưa thực sự khởi sắc, dù chúng ta có thị trường mới là Trung Quốc, các DN cũng nên tiếp tục đẩy mạnh tìm kiếm những thị trường khác nữa.
Nguyên tắc kinh doanh hiện nay chính là phải đa dạng hóa thị trường. Theo quan sát của chúng tôi, hiện nay nhiều DN đã rất chịu khó tham gia các hội chợ nước ngoài để tìm hiểu thêm thị trường, đây là một tín hiệu rất đáng mừng. (Thời Báo Kinh Doanh 26/12) đầu trang(
Với 23 năm liên tục được tổ chức, Hội chợ Index Dubai đã thu hút hàng ngàn doanh nghiệp đến từ 60 quốc gia trên thế giới với trên 30 ngàn m2 diện tích trưng bày sản phẩm. Khách hàng của hội chợ Index Dubai chủ yếu đến từ Châu Âu, Châu Mỹ, Trung Đông, Nhật Bản, Châu Phi….
Hội chợ quốc tế về đồ gỗ và trang trí nội thất Trung Đông được tổ chức tại Trung tâm Triển lãm và Hội nghị Quốc tế (Dubai International Exhibition & Convention Center) từ ngày 19 – 22/5/2014 tại Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE). Đây là hội chợ quốc tế bán buôn chuyên ngành về đồ gỗ và trang trí nội thất lớn nhất tại Trung Đông và là cửa ngõ cho hàng hoá của thế giới xuất khẩu và khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
Các mặt hàng trưng bày tại hội chợ: Đồ gỗ, đồ trang trí nội thất, phụ kiện trang trí nội thất, các giải pháp trang trí nội thất, hệ thống chiếu sáng và đèn chiếu sáng, vật liệu lát sàn, hàng dệt may như: mành rèm, ga, gối đệm, phụ kiện nhà bếp, phụ kiện phòng tắm, nội thất bằng da, đồ gỗ ngoài trời, hàng thủ công mỹ nghệ: sơn mài, tranh nghệ thuật, hàng mây tre, lọ hoa, cây cảnh… (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 27/12) đầu trang(
Bộ NN&PTNT đang cùng với các cấp chính quyền địa phương 5 tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng đang triển khai thực hiện các giải pháp nhằm từng bước chuyển đổi hoạt động của các Công ty lâm nghiệp Nhà nước theo hướng đa chức năng, đảm bảo tính hiệu quả trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Có 3 chức năng chính đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác lập, đó là: Chức năng sản xuất kinh doanh bao gồm trồng rừng kinh doanh trên đất rừng sản xuất, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng tự nhiên, chế biến và thương mại lâm sản.
Chức năng công ích xã hội bao gồm việc thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng là rừng phòng hộ và đặc dụng, gây trồng rừng, phát triển rừng phòng hộ và đặc dụng trên đất lâm nghiệp được giao và các dịch vụ công ích khác. Chức năng dịch vụ, tư vấn theo nhu cầu xã hội như xây dựng phương án quản lý rừng bền vững; cung ứng giống, kỹ thuật về trồng rừng, đào tạo, tập huấn, thị trường, giá cả, kênh tiêu thụ...
Một trong những giải pháp hàng đầu và có tính quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ đa chức năng có hiệu quả là, các tỉnh vùng Tây Nguyên sớm tiến hành rà soát, đánh giá đúng thực trạng tình hình sử dụng đất hiện nay của các Công ty lâm nghiệp; kiên quyết xử lý, thu hồi đối với những diện tích đất đang có vi phạm, hoàn thành dứt điểm việc quy hoạch sử dụng đất.
Xác định lại trạng thái các loại rừng theo quy hoạch trên bản đồ, ngoài thực địa và cắm mốc; tổ chức lại việc giao đất, cho thuê đất và giao rừng cho các tổ chức, trong đó có Công ty lâm nghiệp. Xử lý, giải quyết dứt điểm các trường hợp tranh chấp và vi phạm pháp luật về đất đai, pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đối với từng trường hợp cụ thể theo đúng quy định của pháp luật.
Tổ chức tốt quản lý rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ, trên cơ Sở Xây dựng phương án quản lý rừng bền vững; mọi tác động vào đối tượng loại rừng này phải tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng phương án đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.
Các tỉnh vùng Tây Nguyên cần sớm thành lập các Ban rừng sản xuất để tiếp nhận toàn bộ diện tích rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ từ các Công ty lâm nghiệp với quy mô phù hợp. Tạo môi trường tín dụng thuận lợi như cho các Công ty lâm nghiệp được vay vốn đầu tư ưu đãi để trồng rừng kinh doanh, tiền vay và lãi vay được trả vào kỳ thu hoạch sản phẩm theo chu kỳ cây trồng (tối đa 10 năm). Cũng như việc được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng tài sản là rừng trồng...
Hiện nay, toàn vùng Tây Nguyên có 56 Công ty lâm nghiệp Nhà nước với tổng diện tích đất lâm nghiệp được giao quản lý khoảng 1 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 868.000 ha bao gồm rừng sản xuất hơn 770.000 ha, rừng trồng 45.000 ha và rừng phòng hộ hơn 90.000 ha. Bình quân mỗi công ty được giao quản lý 13.000 ha, đơn vị được giao quản lý rừng sản xuất tự nhiên nhiều nhất ở vùng Tây Nguyên là Công ty lâm nghiệp Kon Plông có đến hơn 46.000 ha.
Trong khi đó diện tích đưa vào điều chế khai chưa đến 30.000 ha (chiếm 4,36% rừng sản xuất là rừng tự nhiên), với tổng khối lượng gỗ 117.000 m3 vào năm 2010, chiếm 58,5% so với tổng hạn mức của cả nước. Điều này đã thể hiện phổ biến là trạng thái rừng ở Tây Nguyên còn đang ở mức trung bình và nghèo.
Trước đây, hầu hết các Công ty lâm nghiệp ở vùng Tây Nguyên hoạt động chủ yếu là dựa vào chỉ tiêu khai thác gỗ để mà "sống", đến khi rừng cạn kiệt và cơ chế khai thác thắt chặt thì gặp rất nhiều khó khăn, lúng túng trong hoạt động kinh doanh.
Một số Công ty lâm nghiệp còn giao chỉ tiêu khai thác gỗ hàng năm (trong năm 2012, toàn vùng chỉ còn 7/56 đơn vị được cấp phép khai gỗ) thì hầu như không có quyền lợi trực tiếp gắn với trách nhiệm được giao, bởi toàn bộ nguồn kinh phí thu được từ việc khai thác gỗ của các nhà thầu đều nộp vào ngân sách nhà nước theo giá trúng thầu.
Những đơn vị không có chỉ tiêu khai thác gỗ thì chuyển sang tập trung thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, nhưng nguồn kinh phí cho công tác này cũng còn nhiều hạn chế. Các đơn vị muốn vay vốn để mở rộng loại hình sản xuất như trồng rừng chẳng hạn thì cũng rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay của các ngân hàng thương mại. Đây cũng là những nguyên nhân chính dẫn đến công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả. (Tin Tức 27/12) đầu trang(
Trong những năm qua, ngành nông, lâm nghiệp ở các tỉnh Tây Nguyên đã có nhiều đóng góp cho nền kinh tế, góp phần tích cực giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, miền núi.
Từ lâu, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi Tây Nguyên sống với rừng, gắn bó với rừng, rừng nuôi nấng và che chở họ. Sự phát triển nhanh chóng của các nông lâm trường đã đem lại những diện mạo mới cho miền núi và Tây Nguyên.
Theo ông Y Mửi, đại biểu Quốc hội tỉnh Kon Tum, việc sắp xếp đổi mới nông lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị đã đạt được một số kết quả đáng kể nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, người dân vẫn thiếu đất rừng để sản xuất, sinh sống. Sự chồng lấn đan xen đất rừng của người dân với các nông lâm trường vẫn chưa được xử lý dứt điểm dẫn đến những tranh chấp và có những nơi tranh chấp gay gắt.
Để khắc phục tình trạng trên, ông Y Mửi đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành chức năng sớm thực hiện việc đo đạc các mốc rừng. Cần rà soát số diện tích những nông lâm trường quản lý không hiệu quả, giao lại cho người dân sản xuất, cho cộng đồng quản lý và sản xuất. Đó cũng là một trong những giải pháp quan trọng góp phần giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi Tây Nguyên.
Để phát triển Tây Nguyên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng: Cần có cơ chế chính sách lâm nghiệp toàn diện, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ. Tổ chức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, tài nguyên nước.
Thực hiện tốt chính sách đất đai, bảo đảm việc sử dụng đất phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế-xã hội và nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Phát huy lợi thế đất đai, đưa nông lâm nghiệp phát triển theo chiều sâu và đa dạng hóa, trong đó ưu tiên đầu tư phát triển có chất lượng cây công nghiệp dài ngày, mở rộng các tập đoàn cây trồng, vật nuôi nhiệt đới và một số cây con có nguồn gốc ôn đới ở quy mô thương mại; gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Nghiên cứu về cơ chế chính sách lâm nghiệp toàn diện gắn với phát triển kinh tế-xã hội ở Tây Nguyên. Sắp xếp lại hệ thống lâm trường quốc doanh, giảm dần và từng bước giải thể các công ty lâm nghiệp nhà nước làm ăn không hiệu quả; cần tính, thực hiện thuế tài nguyên rừng và có chính sách tín dụng đối với ngành lâm nghiệp hợp lý. Đẩy mạnh kinh doanh nghề rừng, tổ chức khai thác tốt diện tích rừng hiện có, bảo đảm yêu cầu về tái sinh rừng, bảo vệ môi trường. Quản lý thật chặt chẽ đất lâm nghiệp, giao cho các doanh nghiệp, thực hiện các dự án trồng rừng, trồng cây công nghiệp. (Tin Tức 27/12) đầu trang(
Ông Nguyễn Xuân Lộc, giám đốc Sở Tài nguyên - môi trường tỉnh Kiên Giang cho biết, vừa báo cáo và được UBND tỉnh thông qua đề án khoanh vùng cấm, tạm cấm hoạt động khoáng sản tại 97 địa điểm và mỏ từ nay đến năm 2020.
Theo ông Lộc, khu vực cấm được xác định theo các tiêu chí như có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; khu vực đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hoặc quy hoạch đất rừng phòng hộ, khu bảo tồn địa chất; khu vực quy hoạch dành cho mục đích quốc phòng - an ninh. (Tuổi Trẻ 278/12) đầu trang(
Ngày 26/12, Hạt kiểm lâm huyện Quảng Điền cho biết, đã phân bổ 1.900 cây sưa đỏ cho 11 xã, thị trấn và các cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện nhằm đa dạng hóa các loại cây trồng, nhân rộng và phát triển loại cây gỗ quý này.
Cây sưa đỏ có tên khoa học là Dalbergia Tonkinensis Prain thuộc họ Đậu. Đây là một loại cây gỗ thuộc nhóm 1A, được xếp vào loại cực kì quý hiếm, cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại.
Cây sưa đỏ có đặc tính lớn nhanh, ít tán, được dùng làm cây che bóng cho cà phê, làm trụ cây tiêu… Ngoài ra, cây sưa thích hợp để trồng xen vườn cây ăn trái, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp… (Nông Nghiệp Việt Nam 279/12) đầu trang(
Để hạn chế thấp nhất tình trạng sa mạc hóa và các hiểm họa do cát gây ra từ năm 1993 đến nay tỉnh Quảng Trị đã chú trọng thực hiện các dự án trồng rừng trên cát.
Hàng ngàn ha rừng được hình thành đã nhanh chóng phủ xanh các vùng đất mà cách đó không lâu từng là hiểm họa đối với con người. Những cánh rừng bạt ngàn trên cát này đang góp phần quan trọng trong cải tạo môi sinh vùng cát và hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Gần 20 năm thực hiện các dự án trồng rừng, người dân ở xã Hải Ba huyện Hải Lăng Quảng Trị đã phủ xanh được 1400 ha rừng trên cát chiếm 80% diện tích đất cát trong toàn xã. Nhờ tăng cuờng trồng và bảo vệ rừng nên các hiểm họa do cát gây ra trước đây ở địa phương này cơ bản đã được khắc phục.
Nằm trong các tỉnh duyên hải Bắc Miền Trung, Quảng Trị có trên 31 ngàn ha đất cát trong đó có 8 ngàn ha cát nội đồng tập trung chủ yếu ở các huỵện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng. Để cải thiện môi sinh vùng cát từ năm 1993 đến nay thông qua các chương trình dự án các địa phương ven biển, tỉnh Quảng Trị đã hình thành đựơc trên 7000 ha rừng phòng hộ và gần 10 ngàn ha rừng sản xuất trên cát. Những cánh rừng trồng xuất hiện ngày càng nhiều đã góp phần tăng độ mùn, sức mao dẫn bề mặt cho cát, biến các vùng đất hoang hóa trước đây thành đất trồng trọt phục vụ cho lợi ích con người.
Theo báo cáo của ngành lâm nghiệp Quảng Trị hiện nay toàn tỉnh còn khoảng 3000 ha đất cát đang còn hoang hóa chưa được phủ xanh bằng các dự án trồng rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kinh phí đầu tư, một số địa phương chưa coi trọng vai trò của các loại rừng trên cát.
Khi vùng cát Quảng Trị được phủ xanh bằng các dự án trồng rừng bền vững, tiềm nằng của các vùng đất hoàng hóa còn lại này sẽ tiếp tục được đánh thức. Không chỉ cải thiện môi trường sinh thái mà các cánh rừng trồng trên cát này còn hỗ trợ đắc lực cho quá trình bố trí sắp xếp lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới đối với các xã ven cát trong tỉnh Quảng Trị. (VTV Huế 27/12) đầu trang(
Năm 2013 toàn huyện Cam Lộ đã khai thác 20.865m3 gỗ rừng trồng, 119 tấn nhựa thông, tổng thu nhập từ sản phẩm rừng toàn huyện đạt gần 20 tỷ đồng.
Nhờ chú trọng khai thác tiềm năng đất đai trên địa bàn để phát triển rừng kinh tế, đến nay hầu hết diện tích đất trống đồi núi trọc trên địa bàn huyện Cam Lộ đã được phủ kín với tổng diện tích rừng sản xuất trên 16.000 ha, tỷ lệ độ che phủ gần 48%.
Việc trồng rừng tập trung tại các địa bàn có diện tích gò đồi lớn như Cam Thành, Cam Thủy, Cam Tuyền, Cam An, Cam Chính và Cam Nghĩa được đẩy mạnh, riêng trong năm 2013 các xã trên đã trồng mới 500 ha rừng sản xuất, đạt 125% kế hoạch.
Các cơ quan chức năng cũng đã thực hiện giao khoanh nuôi bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ cho 74 hộ gia đình tại xã Cam Nghĩa với diện tích 219,1 ha. Phong trào trồng cây phân tán, cây bóng mát cũng được các địa phương, cơ quan, trường học trên địa bàn huyện hết sức quan tâm, trong năm qua toàn huyện cũng đã trồng được 70.804 cây phân tán. (Báo Quảng Trị 26/12) đầu trang(
Ngày 26/12, Sở NN&PTNT tổng kết công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2013, triển khai nhiệm vụ năm 2014. Dự hội nghị có đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan; UBND các huyện: Hạ Lang, Bảo Lâm, Thạch An, Phục Hòa, Thông Nông.
Năm 2013, toàn tỉnh trồng 1.297,7 ha rừng, đạt 86% kế hoạch (KH), trong đó: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 312,7 ha, trồng rừng sản xuất 985 ha. Bảo vệ 40,593 ha rừng, đạt 70,50% KH; khoanh nuôi tái sinh 9.775 ha rừng tự nhiên, đạt 64,31% KH...
Toàn tỉnh xây dựng 1,5 km đường lâm sinh, đạt 100% KH. Trong năm, trên địa bàn tỉnh xảy ra 251 vụ vi phạm Luật Quản lý bảo vệ rừng, giảm 27 vụ so với năm 2012; trong đó, 20 vụ cháy rừng, gây thiệt hại gần 19 ha rừng tự nhiên, hơn 6 ha rừng trồng; 170 vụ vận chuyển lâm sản trái phép…
Năm 2014, Sở NN&PTNT phấn đấu trồng 2.083 ha rừng, trong đó, 480 ha rừng phòng hộ và đặc dụng, 1.603 ha rừng sản xuất; chăm sóc 642 ha rừng trồng; cải tạo 350 ha rừng trồng; trồng 100 nghìn cây phân tán; hỗ trợ cộng đồng vùng đệm rừng đặc dụng cho 17 thôn, xóm. (Báo Cao Bằng 27/12) đầu trang(
Trong những năm gần đây, nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã tận dụng những diện tích rừng trồng 1-3 tuổi để trồng xen canh những cây ngắn ngày như lúa nương, ngô, sắn...và đã mang lại hiệu quả thiết thực, vừa tăng thu nhập, tận dụng quỹ đất, giúp người dân gắn bó hơn với rừng.
Trong năm 2013, tổng diện tích toàn huyện Chợ Đồn trồng rừng mới được 1.795,58ha, trong đó những diện tích được người dân trồng xen canh cây sắn là 498,66ha; lúa nương 125,60 ha, tập trung nhiều tại các xã Bình Trung, Quảng Bạch, Nghĩa Tá...
Với phương châm “lấy ngắn nuôi dài” người dân ở huyện Chợ Đồn đã chủ động trồng xen cây sắn, lúa nương trên những diện tích rừng trồng mới, vừa bảo vệ quá trình phát triển của cây, vừa giữ đất, chống xói mòn và tăng thêm sản lượng lương thực để phục vụ chăn nuôi, tăng thu nhập…
Các loại cây lâm nghiệp thường sau từ 6-15 năm mới cho khai thác, nên việc trồng xen canh đã đem lại thu nhập đáng kể cho người dân trong thời gian cây lâm nghiệp chưa khép tán. Nếu tính về lợi nhuận: như trồng cây keo sau 8 năm mới khai thác với 1ha thu về được hơn 70 triệu đồng thì tận dụng năm đầu trồng lúa nương 1ha thu về 13-15 tạ thóc.
Thị trường ngày một ưu chuộng những nông sản hạn chế được những chất kích thích hay thuốc trừ sâu, nên lúa nương đã và đang được thị trường đón nhận như một thương hiệu sạch. Giá lúa nương nếp, tẻ đều cao hơn so với lúa cấy ruộng. Gạo tẻ giá bán trung bình 15-20 nghìn/kg. Gạo nếp tùy từng thời điểm, thường cao vào những dịp lễ tết giá từ 25-30 nghìn/kg.
Ở Chợ Đồn việc trồng xen canh đã được người dân trồng nhỏ lẻ từ lâu nhưng ba năm trở lại đây, phong trào lấy ngắn nuôi dài đã được bà con nơi đây phát triển mạnh. Khi dọn thực bì tạo trên mặt đất lớp bùn gio cộng với thời tiết thuận lợi là điều kiện tốt cho cây lúa nẩy mầm tươi tốt, cây rừng có đủ chất dinh dưỡng. Sau khi thu hoạch lúa nương xong thì rơm rạ phân hủy làm đất tơi xốp giúp cho cây trồng phát triển tốt hơn.
Ông Ma Đình Tuyến, Trưởng phòng nông nghiệp huyện Chợ Đồn khẳng định: việc trồng xen canh cây ngắn ngày với rừng mới trồng đã mang lại hiệu quả đáng ghi nhận, giúp bà con có thêm khoản thu nhập, đồng thời đây cũng là phương thức chăm sóc tiến trình phát triển của rừng trồng.
Tuy nhiên, phòng chức năng cũng khuyến cáo người dân các ưu thế của việc trồng xen canh, lựa chọn các loại cây trồng xen canh phù hợp với từng loại đất, mật độ, cách chăm sóc và đầu ra của sản phẩm...Mô hình trồng rừng thâm canh với cây ngắn ngày nếu được thực hiện đúng kĩ thuận sẽ là hướng đi giúp bà con giảm nghèo bền vững. (Báo Bắc Kạn 27/12) đầu trang(
Rừng U Minh Hạ một thời là niềm tự hào không chỉ của riêng người dân Cà Mau. Mặc bom dập, pháo vùi sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc, rừng tràm Cà Mau vẫn từng ngày cưu mang, đùm bọc người dân cuối đất.
Những năm 1990, làn sóng chiếm đất phá rừng để làm nông nghiệp, trở nên rầm rộ khiến rừng tràm Cà Mau dần suy kiệt. Để cứu rừng, hàng loạt các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế rừng ra đời. Một trong những hình thức được nhiều người nói đến là lâm nghiệp xã hội (xã hội hoá rừng).
Xuất phát từ chủ trương giao khoán đất rừng theo Nghị định 01/CP, Cà Mau đưa khoảng 20.000 hộ dân là gia đình chính sách nghèo, đồng bào dân tộc, hộ không đất sản xuất… vào giao đất, giao rừng. Từ đây, rừng Cà Mau có chủ nhân mới và cũng mốc thời gian đó, rừng tràm U Minh Hạ đương đầu với nhiều thách thức mới.
Nghèo khó, hiệu quả kinh tế từ cây tràm không là cứu cánh nên người dân không mặn mà với thân tràm. Họ sẵn sàng xâm hại chính diện tích rừng mà cách nay hơn 20 năm họ nâng niu, gìn giữ như kho báu. Thực trạng phá rừng, bỏ rừng trở thành vấn đề cấp bách của các cấp quản lý rừng ở U Minh.
Điều này được minh chứng bằng hàng loạt diện tích rừng bỏ trống sau khai thác. Ông Nguyễn Văn Mẫu, ấp 16, xã Nguyễn Phích, xót xa: “Nói là dân rừng, nhưng chúng tôi không dám đầu tư tái tạo. Một mặt, rừng không đem lại lợi ích kinh tế cho cư dân nghèo như chúng tôi, mặt khác, nếu đầu tư trồng rừng thì lại đi vào vết xe đỗ: hứng chịu bao loại phí, tỷ lệ ăn chia… mười mấy năm sau lại trắng tay. Chính vì thế, khoảng 5 ha rừng cháy hồi năm 2003-2004, đến nay tôi vẫn để vậy”.
Anh Châu Thanh Nhã, cán bộ nông nghiệp xã Nguyễn Phích, giải thích: “Dân nghèo tứ xứ mới về đây nhận đất, sang nhượng lại. Ngoài diện tích trồng rừng, phần còn lại thì đa canh: nuôi cá, làm lúa… nhưng thuỷ lợi quá yếu kém nên không thể “lấy ngắn nuôi dài”. Bảo vệ rừng lơ là là xảy ra rủi ro thì họ lại trắng tay, chứ đợi gì đến khai thác”.
Hiện tại, cây tràm không có người thu mua. Nguyên nhân được nhận định, vì ngày trước, tràm dùng với mục đích hầm than, làm cừ trong xây dựng. Nhưng khi kỹ thuật xây dựng phát triển, cừ bê-tông chất lượng, bền và giá thành hợp lý thì cừ tràm không còn ở vị trí độc tôn. Than tràm cũng “lép vế” với than đước. Còn nếu bán tràm thương phẩm (cân ký), thì cũng kém xa keo lai hay tràm bông vàng.
Trong chuyến làm việc với huyện U Minh hồi tháng 11 vừa qua, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Dũng nói, dân U Minh nghèo, nhưng U Minh là địa phương được ưu tiên nhiều nhất về các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất, hạ tầng nông thôn, xây dựng cơ bản.
Về hiệu quả kinh tế và mâu thuẫn lúa - tràm, tỉnh đang hoàn thiện đề án bố trí sắp xếp lại dân cư. Địa phương nếu linh hoạt cho dân chuyển đổi giống cây trồng hiệu quả thì nên áp dụng. Để việc chần chừ kéo dài thì dân U Minh (trên đất lâm phần) sẽ còn nghèo dai dẳng nhiều năm nữa.
Tuy nhiên, trên thực tế, việc thay thế tràm bằng cây keo lai chưa được sự chấp thuận rõ ràng. Thứ hai, giải quyết mâu thuẫn lúa - tràm trước đây huyện U Minh từng áp dụng nhưng hiệu quả chưa cao. Vả lại, đề án bố trí sắp xếp lại dân cư rừng tràm cũng chỉ thực hiện ở một số địa bàn, và cũng chỉ chiếm vài chục phần trăm trong tổng số “túi nghèo” toàn vùng.
Ngoài diện tích rừng đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt, diện tích còn lại giao khoán cho hộ dân trồng, quản lý và bảo vệ. Đó là chưa kể số diện tích thuộc công ty lâm nghiệp quản lý, khai thác. Tuy nhiên, nguồn lợi từ cây tràm (được xem là thu nhập chính) lại không đáng kể trong cuộc sống hằng ngày của người dân nơi đây.
Ông Ngô Thanh Điền, Phó Chủ tịch UBND huyện U Minh, cho hay, từ lâu cây tràm không phải là nguồn sống chính của bà con dưới tán rừng U Minh. UBND huyện đã có nhiều chương trình nhằm nâng cao đời sống của người dân, nhưng chỉ một số nơi thành công vì đất rừng không phải nơi nào cũng trồng được các loại hoa màu, cây ăn trái.
Trước mắt, trồng keo lai mang lại lợi nhuận rất cao. 1 công keo lai, sau 5 năm trồng có thể giá trị khai thác hơn 1 ha tràm. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả nhiều mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và tác động môi trường sinh thái của cây keo lai vẫn âm ỉ, bàn tán và chưa khẳng định. UBND tỉnh, Sở NN&PTNT chưa có văn bản chính thức chấp thuận cho nông dân đầu tư kê liếp trồng keo lai.
Khi các cấp quản lý chưa bật đèn xanh thì biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay để sống được với tán rừng, người dân phải phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác nhau. Bà Quang Thị Tám, ấp 16, xã Nguyễn Phích, khoe: “Không nhờ trồng chuối trên bờ rừng thì mấy năm nay gia đình tôi không biết phải sống ra sao”.
Còn nhớ, có lần về ấp 15, xã Khánh Thuận, vào nhà anh Chi hội trưởng Hội nông dân, vợ anh than: “Ảnh đi hoài, cả quý mới có tiền phụ cấp 1 lần nhưng so ra còn thua xa ở nhà tôi xắn bắp chuối bán cho thương lái!”.
Ở rừng mà không mặn mà, thương tiếc rừng, đó là hệ lụy của việc cây tràm mất vị trí độc tôn. Thời hoàng kim của cây tràm của những năm 1990 không còn nữa. (Báo Cà Mau 27/12) đầu trang(
Kết quả nghiên cứu Phân cấp phòng hộ đầu nguồn và phân tích biến động rừng tại lưu vực hồ Truồi – tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 1989 – 2010 do nhóm tác giả Hồ Đắc Thái Hoàng và Đinh Tiến Tài – trường Đại học Nông Lâm Huế thực hiện.
Các công trình thủy lợi được xây dựng nhằm lưu giữ và cung cấp nguồn nước cho các hoạt động canh tác nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào độ che phủ rừng và tỷ lệ thiết kế, quy hoạch các loại hình sử dụng đất bến vững.
Nghiên cứu tập trung vào xây dựng bản đồ phân cấp phòng hộ đầu nguồn và phân tích biến động rừng tại lưu vực hồ Truồi giai đoạn 1989 – 2010 bằng công nghệ GIS (Greographic Information System) và viễn thám (Remote Sensing) nhằm cung cấp những thông tin cần thiết trong công tác bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, đồng thời định hướng phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn có hiệu quả.
Nghiên cứu đã tích hợp GIS và AHP xây dựng bản đồ phân cấp phòng hộ đầu nguồn lưu vực hồ Truồi, từ đó xác định được khu vực rất xung yếu (2,89%), xung yếu (39,58%), ít xung yếu ( 53,33%). Kết quả đạt được nhằm cung cấp các thông tin cần thiết cho các cơ quan quản lý về phân cấp xung yếu trong lưu vực, từ đó làm cơ sở để có những chủ trương, biện pháp nhằm bảo vệ tài nguyên nước, đất và rừng có hiệu quả.
Ứng dụng GIS và công nghệ viễn thám phân tích diễn biến tài nguyên rừng từ năm 1989 đến 2010 cũng đã chỉ ra những thay đổi chi tiết về các trạng thái rừng trong lưu vực đầu nguồn hồ Truồi với biến động chung là 38,83%. Kết quả phân tích cho thấy diện tích rừng ở một số vị trí có sự suy giảm,tuy nhiên cũng có một só vị trí thay đổi tích cực. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra được những nguyên nhâ chủ yếu làm biến động tài nguyên rừng lưu vực nghiên cứu giai đoạn 1989 đến 2010. (Sở KH&CN Cần Thơ 26/12) đầu trang(
Báo chí đã thông tin ban đầu về việc cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Phạm Văn Chiêng, 38 tuổi, Trưởng trạm Kiểm lâm Rạch Mũi về hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý và bảo vệ rừng.
Trong khi vụ án xảy ra tại nơi mà cách nay chưa bao lâu, Ban Thư ký Công ước Ramsar đã xem xét công nhận là khu Ramsar thứ năm của Việt Nam và thứ 2.088 của thế giới, đang còn gây xôn xao dư luận thì mới đây, người dân đất mũi Cà Mau lại tiếp tục lên tiếng về một vụ phá rừng tương tự.
Giải thích nguyên nhân rừng bị tàn phá, ông Huỳnh Văn Xê, Trưởng BQL rừng phòng hộ Kiến Vàng cho biết, trên lâm phần có hơn 2.000 hộ dân, trong đó có khoảng 40% là dân nghèo. Trong khi đó, diện tích do đơn vị ông quản lý khá lớn, lực lượng bảo vệ lại quá mỏng…
Tiểu khu trưởng Tiểu khu 125 Lê Hồng Lịnh thì cho biết, toàn bộ số cây này là do sóng biển đánh ngã, đơn vị thu gom về chờ xin ý kiến của lãnh đạo để phát mãi nộp vào ngân sách…
Không “chịu” cách lý giải của Trưởng Tiểu khu 125, người dân địa phương cho rằng nếu cây bị sóng biển đánh thì vỏ cây sẽ không còn nguyên vẹn như những đống gỗ mà chúng tôi đã tận mắt nhìn thấy...
Một lãnh đạo Sở NN&PTNT Cà Mau cho biết sẽ “khẩn trương xác minh, nếu đúng như nhà báo phát hiện sẽ xử lý nghiêm theo pháp luật”.
Trở lại vụ phá rừng tại Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau, ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau, cho biết bên cạnh nguyên nhân chủ quan - buông lỏng quản lý, nhất là từ phía lãnh đạo VQG, lâm phần VQG Mũi Cà Mau chạy dài theo tuyến biển, nhiều kênh, rạch. Các “lâm tặc” và phương tiện có thể xâm nhập vào rừng mọi lúc, mọi nơi, nhất là lúc thủy triều lên. Vào mùa mưa bão, sóng to, gió lớn, công tác tuần tra của các lực lượng chức năng luôn gặp khó khăn.
Trong khi đó, hiện hầu hết diện tích rừng trên lâm phần đang phát triển tốt, rừng có trữ lượng cao, nhu cầu sử dụng gỗ và than rất lớn, giá bán cao…. Đấy là những yếu tố khiến cho con người dễ bị tác động.
Một nhân viên kiểm lâm kể, để qua mắt lực lượng kiểm lâm, các đối tượng sau khi đốn hạ được cây, thường dùng dây thuần bè cây và thả trôi theo thủy triều. Nhiều trường hợp khi bị phát hiện, thì họ cắt dây phi tang.
Lãnh đạo Sở NN&PTNT còn cho biết, một nguyên nhân khách quan nữa là trong và ven lâm phần VQG Mũi Cà Mau, dân di cư tự do từ nhiều nơi khác và dân cư tại chỗ sống tập trung khá đông, xen kẽ lâm phần. Khu bảo vệ nghiêm ngặt nằm trên địa bàn xã Đất Mũi - xã có 15 ấp với hơn 3.900 hộ dân nhưng chỉ có khoảng 1.000 hộ có đất canh tác, phần còn lại là dân có hoàn cảnh khó khăn, mưu sinh nhờ nguồn lợi tài nguyên rừng, biển.
Chính thực tế này tạo áp lực rất lớn đối với rừng do nhu cầu làm nhà, chất đốt. Chưa hết, trên địa bàn đang tồn tại nhiều băng nhóm chuyên phá rừng với mục đích mua bán làm kế sinh nhai. (Công An Nhân Dân 26/12) đầu trang(
Để tiến hành thi công công trình nghĩa trang với diện tích hơn 10ha, huyện Lộc Hà (Hà Tĩnh) đã cho phá bỏ 9ha rừng phòng hộ chống cát bay, biến đổi khí hậu để phục vụ dự án.
Đây là dự án nghĩa trang huyện Lộc Hà được đầu tư hơn 41 tỉ đồng, xây dựng trên truông cát có rừng phòng hộ thuộc xã Thịnh Lộc. Dự án này được khởi công vào tháng 6/2013 nhưng mãi đến tháng 10/2013 tỉnh Hà Tĩnh mới có quyết định cho chuyển đổi 9ha rừng phòng hộ ở xã Thịnh Lộc sang thực hiện dự án…
Ông Nguyễn Công Trình, Phó chủ tịch xã Thịnh Lộc, cho biết cách đây khoảng 30 năm Nhà nước có chủ trương khuyết khích trồng rừng, người dân xã này đã trồng được hàng trăm ha rừng bạch đàn, phi lao phòng hộ trên các đồi cát bay. Đầu năm 2013, UBND huyện Lộc Hà đã thu hồi, giải phóng hơn 10ha đất cát có rừng phòng hộ nằm ở xóm 11 của xã để bàn giao cho nhà thầu thi công dự án nghĩa trang.
“Đến thời điểm này, toàn bộ diện tích rừng bạch đàn phòng hộ giao cho huyện đã được chặt bỏ để thi công dự án nghĩa trang. Trước khi khởi công dự án thì huyện vẫn chưa có quyết định chuyển đổi rừng”, ông Trình nói.
Theo ông Hồ Văn Chính, hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Lộc Hà, trong quá trình phê duyệt, khảo sát, lập hồ sơ dự án nghĩa trang huyện, kiểm lâm địa bàn không được mời tham gia và không hay biết dự án này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến rừng phòng hộ ở xã Thịnh Lộc.
“Khi khởi công dự án nghĩa trang chúng tôi mới biết có một diện tích rừng phòng hộ bị chặt phá mà chưa được tỉnh quyết định cho chuyển đổi mục đích sử dụng. Sau khi lập biên bản tạm dừng dự án, chúng tôi đã kiến nghị, làm việc với huyện Lộc Hà để hoàn thiện thủ tục chuyển đổi rừng. Nguyên nhân khởi công dự án mà không có quyết định chuyển đổi rừng của tỉnh là do đơn vị tham mưu cho huyện chưa đầy đủ…”, ông Chính nói.
Ông Trần Tú Anh, Chủ tịch huyện Lộc Hà khẳng định, dự án nghĩa trang huyện nằm trong quy hoạch khi chưa tách huyện. Toàn bộ dự án không phải là rừng phòng hộ mà chỉ lỗ chỗ một số lô có rừng phòng hộ. Huyện đã có phương án chuyển đổi gửi lên và đã được tỉnh thống nhất cho chủ trương. Còn việc tỉnh chưa có quyết định cho chuyển đổi rừng phòng hộ mà huyện đã khởi công dự án, ông Trần Tú Anh cho rằng thời điểm khởi công là ở chỗ không có rừng…
Quyết định ngày 8/10/2013, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã đồng ý chuyển đổi mục đích sử dụng 9ha rừng phòng hộ thuộc khoảnh 3, tiểu khu 127B thuộc địa bàn xã Thịnh Lộc sang thực hiện dự án nghĩa trang huyện Lộc Hà.
Nhưng ông Trần Tú Anh cho rằng: “Trước đây diện tịch rừng phòng hộ được vẽ, khoanh trên bản đồ nhưng khi đến thực địa lại khác. Thực chất dự án vướng vào một số lô rừng không có tác dụng phòng hộ vì không có cây. Những chỗ vướng rừng phòng hộ giờ đã được tỉnh cho chuyển đổi và dự án cũng làm rồi…” (Phụ Nữ TPHCM 26/12) đầu trang(
Ông Vàng Văn Khìn, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã Tả Van, huyện Sa Pa cho biết, các hộ dân tộc thiểu số sống trong vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên đời sống rất khó khăn. Đơn cử như ở thôn Giàng Tà Chải Mông, hiện có trên 130 hộ, chủ yếu là người Mông, thì có tới 90% là hộ nghèo.
Nhân dân từ lâu đã lệ thuộc vào rừng, sống nhờ rừng, nay lại chịu sức ép về dân số, chỗ ở, chất đốt, nên hiện tượng khai thác gỗ làm nhà, lấy củi để đun nấu, đốt than vẫn xảy ra. Công tác phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm địa bàn với chính quyền xã trong việc bảo vệ rừng tuy đã có, nhưng kết quả chưa cao.
Thời gian qua công tác bảo vệ rừng ở khu vực này của lực lượng kiểm lâm vẫn vấp phải nhiều khó khăn. Tình trạng khai thác lâm sản trái phép và cản trở người thi hành công vụ vẫn xảy ra. Một số người dân bản địa chia sẻ, dù biết rằng khai thác gỗ trong rừng đặc dụng là không đúng, nhưng vì nhu cầu cuộc sống, miếng cơm manh áo hằng ngày, nên vẫn phải trông vào rừng.
Do vậy, bên cạnh đội ngũ "lâm tặc" chuyên nghiệp, người dân cũng lũ lượt men theo các con đường mòn vào rừng để chặt phá, tận thu gỗ và mở lò đốt than ngay ở trong rừng, nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao.
Trả lời về thực trạng nhức nhối này, cán bộ Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Hoàng Liên cho biết diện tích rừng đặc dụng trải dài trên lâm phần của hai tỉnh là Lào Cai và Lai Châu, địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn.
Công tác bảo vệ vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài ra, trong vùng lõi Vườn Quốc gia hiện nay có 1.805 hộ dân với 10.287 nhân khẩu sinh sống, phân bố ở 19 thôn, bản thuộc các xã Tả Van, Bản Hồ, Lao Chải, San Sả Hồ (huyện Sa Pa, Lào Cai) và Trung Đồng, Sơn Bình (tỉnh Lai Châu).
Đồng bào dân tộc thiểu số khu vực này có trình độ dân trí hạn chế, tỷ lệ người mù chữ và không biết tiếng phổ thông còn nhiều, nên nhận thức về công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng không đồng đều, dẫn đến công tác tuyên truyền gặp nhiều trở ngại. Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán lạc hậu, nên tình trạng phá rừng làm nương rẫy, đốt than, đặt bẫy, khai thác trái phép lâm sản, chăn thả gia súc trong vùng lõi Vườn Quốc gia vẫn xảy ra.
Cụ thể, trên địa bàn các xã Tả Van, Bản Hồ, tình trạng xâm hại tài nguyên rừng diễn ra ngày càng phức tạp. Các đối tượng ngày càng trở nên liều lĩnh, manh động, khi bị phát hiện, sẵn sàng tấn công kiểm lâm, giải cứu người vi phạm, cướp lại lâm sản, thậm chí thu giữ cả súng và công cụ hỗ trợ của kiểm lâm. Ngoài ra, các công cụ hỗ trợ, trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng của Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên vẫn còn thiếu thốn, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Hiện vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên phần lớn nằm trên địa bàn 4 xã Tả Van, Bản Hồ, Lao Chải, San Sả Hồ (huyện Sa Pa) với khoảng 21.000ha, chiếm gần 70% tổng diện tích Vườn Quốc gia. Đây là khu vực rừng tự nhiên đặc dụng, có nhiều loại gỗ quý, hệ động, thực vật phong phú, cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Để hạn chế, ngăn chặn tình trạng các đối tượng xâm hại tài nguyên rừng thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên và cản trở người thi hành công vụ, cần có nhiều giải pháp đồng bộ.
Ông Vàng Văn Khìn, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã Tả Van cho rằng để nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, ngoài công tác tuyên truyền, cần có cơ chế tăng tiền hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số đang sinh sống trong vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên. Khi người dân có lợi ích trong đó, họ sẽ có trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ rừng…
Bên cạnh đó, các bên liên quan cần thực hiện tốt hơn nữa Quy chế phối hợp giữa Vườn Quốc gia Hoàng Liên với bốn xã vùng lõi. Quy chế phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên với Ban Chỉ huy Quân sự, Công an huyện Sa Pa trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cần được thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu quả và có trách nhiệm vì lợi ích chung.
Đặc biệt, công tác tuyên truyền pháp luật về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng cần được đẩy mạnh hơn nữa, để tới được với người dân. Cán bộ kiểm lâm ngoài công tác chuyên môn, cần được tham gia các lớp học tiếng dân tộc, từ đó có thể gắn bó mật thiết với người dân hơn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có hình thức tuyên truyền hiệu quả. Các trạm kiểm lâm địa bàn tổ chức ký cam kết với các gia đình trong thôn với nội dung không đốt nương, không sử dụng lửa bừa bãi, nhất là trong những ngày khô hanh kéo dài; không khai thác lâm sản trái phép trong Vườn Quốc gia.
Ông Hoàng Kim Kế, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hoàng Liên cũng chia sẻ điều quan trọng là chính quyền các xã trong vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên cần quan tâm hơn nữa tới đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, vận động người dân tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói giảm nghèo; đưa nội dung bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng vào hương ước, quy ước của thôn, bản; đồng thời hỗ trợ người dân nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chế sự lệ thuộc vào rừng.
Đối với các hành vi khai thác lâm sản trái phép, cản trở người thi hành công vụ, không thể chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở mà cần xử lý nghiêm minh. Nếu đủ căn cứ có thể truy tố trước pháp luật để răn đe các đối tượng khác đang có ý định khai thác lâm sản trái phép. Như thế, mới có thể chung tay bảo vệ hiệu quả nguồn tài nguyên rừng quý giá của quốc gia. (VietnamPlus.vn 27/12; Tin Tức 27/12) đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa chỉ đạo cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra diện tích đất thuộc dự án chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai ở xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, Gia Lai.
Theo hồ sơ, năm 2008, UBND tỉnh Gia Lai giao cho Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai thuê đất để trồng cao su gần 1.200 ha ở xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, Gia Lai, nhưng trong quá trình thực hiện dự án này, một phần nhỏ diện tích cao su bị chết và không phát triển được (khoảng 100ha).
Do đó, Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai giao cho Công ty cổ phần trồng rừng Gia Lai, thuộc Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, chuyển khoảng diện tích trên dưới 100 ha đất thuộc dự án này sang trồng mía mà chưa xin phép UBND tỉnh Gia Lai.
Ông Nguyễn Văn Sự, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hoàng Anh Gia Lai cho biết, lẽ ra khi chuyển một phần diện tích của dự án trồng cao su sang trồng mía, Công ty cổ phần trồng rừng Gia Lai phải xin phép UBND tỉnh mới làm nhưng điều này đã có phần sai sót. Vừa qua, lãnh đạo UBND tỉnh Gia Lai đã tiến hành kiểm tra và chỉ đạo tạm dừng việc thực hiện chuyển đổi sai quy định này, chờ kết luật của cơ quan thẩm quyền, hoàn thành các thủ tục pháp lý theo quy định.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Sự, việc tận dụng phần diện tích đất trên để trồng mía nhằm thể nghiệm quy trình dự án phát triển cây mía theo cộng nghệ mới. Nếu trồng mía thành công sẽ nhân rộng mô hình này ở địa phương để giúp người dân phát triển một cách phù hợp. Tuy nhiên, vấn đề còn chờ chủ trương và quyết định của UBND tỉnh Gia Lai. (Công An Nhân Dân 27/12) đầu trang(
Đất bị bỏ hoang trong một thời gian dài, trong khi người dân đang lao đao do không có đất để sản xuất là thực trạng đang diễn ra tại xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Khu rừng Trèo rộng hơn 6ha vốn là rừng keo bát ngát của người dân xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, hơn 3 năm trở lại đây, rừng keo đã biến thành khu đất bị đào xới nham nhở. Theo tìm hiểu của phóng viên, đây là khu đất nằm trong dự án xây dựng nhà máy gạch tuynel của công ty cổ phần Phú Minh. Rừng keo đã bị công ty khai phá rồi để đó trước sự bức xúc của người dân địa phương.
Thu nhập chính của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào trồng rừng. Rừng keo không còn cũng có nghĩa cuộc sống của người dân rơi vào cảnh khó khăn. Ông Phạm Dậu đã từng trồng 2 mẫu keo ở đây. Nếu như không bị phá thì đến nay ông đã thu về hàng trăm triệu đồng. Nhưng bây giờ, nguồn thu nhập chính mất đi, cuộc sống gia đình ông cũng trở nên khó khăn.
Được biết, công ty cổ phần Phú Minh đã đăng ký đầu tư xây dựng tại đây từ năm 2010. Đến nay, công ty này đã 2 lần cam kết với chính quyền địa phương để thực hiện thi công dự án nhưng đến nay vẫn chưa thấy động tĩnh. Người dân xót đất bỏ hoang, còn chính quyền xã thấy lãng phí nhưng không thể giải quyết.
Thiếu đất sản xuất, thực trạng này những tưởng chỉ xảy ra ở các đô thị, nhưng giờ đây ở vùng nông thôn như xã Bình Định Bắc cũng đang xảy ra tình trạng này. Trong khi chờ đợi sự giải quyết của các cấp chính quyền thì khu Rừng Trèo vẫn tiếp tục bị bỏ hoang, không chỉ gây nên một sự lãng phí mà còn khiến cho nhiều hộ dân phải lao đao khi không còn đất để sản xuất. (VTV 26/12) đầu trang(
Ngày 26/12, công an quận 9 cho biết, đang tạm giữ 413 lóng gỗ tổng cộng 44,6 m3 bị nghi ngờ nghi là gỗ Sơn Huyết có giá từ 8 - 10 triệu đồng/m3 cùng chiếc xe container liên quan để điều tra nguồn gốc.
Trước đó, ngày 14/12, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ công an quận 9, phối hợp cùng công an phường Long Bình kiểm tra phát hiện 413 lóng gỗ đang được bốc lên xe container mang BKS: 57L-9657 tại kho bãi ở địa chỉ số 1B đường Hoàng Hữu Nam.
Ông Trần Ngọc Hải (45 tuổi) chủ kho bãi khai số gỗ do một người khác tên Dư gửi lại để chờ đóng xe đưa đi chỗ khác tiêu thụ. Do ông Hải không xuất trình được các hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc của số gỗ này nên công an quận 9 đã tạm giữ toàn bộ số gỗ cùng chiếc xe container để điều tra làm rõ nguồn gốc.
Hiện lực lượng chức năng đang tiến hành xét nghiệm chính xác loại gỗ và điều tra những người có liên quan. (Tiền Phong 27/12; Tuổi Trẻ 27/12; Thanh Niên 26/12; Hà Nội Mới 26/12) đầu trang(
Chiều 26-12, Tin từ Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, cơ quan này đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự vụ vận chuyển trái phép một cá thể voọc chà vá chân nâu.
Trước đó, tại barie Trạm kiểm lâm Km 39 đường 20 Quyết thắng (xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch), lực lượng kiểm lâm phát hiện trên xe ô tô BKS 73C- 002.44 do Mai Hoài Nam (25 tuổi, ở xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình) điều khiển chở một cá thể voọc chà vá chân nâu trọng lượng bảy kg, đã chết.
Chà vá chân nâu thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IB), là động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Hiện con voọc được bảo quản tại Trung tâm cứu hộ của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển hồ sơ vụ án đến Công an huyện Bố Trạch điều tra, làm rõ. (Nhân Dân 27/12; Thanh Niên 26/12) đầu trang(
Việc người dân ngang nhiên lấn chiếm đất rừng làm đất sản xuất sinh ra tranh chấp đã tạo ra vô vàn khó khăn cho các cấp chính quyền cũng như các công ty lâm nghiệp.
Theo thống kê tới năm 2013, toàn tỉnh Đắk Lắk đã có hơn 27.800ha rừng bị người dân chặt phá và lấn chiếm trái phép. Tuy nhiên, việc thu hồi diện tích đất bị lấn chiếm đang là bài toán khó bởi người dân không những không chịu trả mà còn ra sức chống đối, cản trở.
Toàn tỉnh Đắk Lắk có 15 công ty TNHH MTV Lâm nghiệp được giao quản lý 197.721ha đất rừng. Thế nhưng, các công ty này đều lâm vào hoàn cảnh chung là đất bị người dân lấn chiếm không chịu trả. Chỉ tính riêng diện tích rừng do các công ty này quản lý đã có có gần 9.680ha rừng bị người dân chặt phá, lấn chiếm và hơn 800ha đất đang bị tranh chấp.
Ở địa bàn huyện Ea Súp, Công ty TNHH MTV Chư MLanh được giao quản lý hơn 14.700ha rừng, đất rừng, nhưng đến nay có khoảng 6.000ha bị người dân lấn chiếm để trồng cao su, các loại cây hoa màu. Thực hiện Chỉ thị 03/CT-UBND về việc thu hồi đất lâm nghiệp do bị phá rừng, lấn chiếm trái phép, công ty TNHH MTV lâm nghiệp Chư M Lanh đã thu hồi 106,0 ha diện tích đất do phá rừng phòng hộ tại các tiểu khu 279, 294, 289 để trồng lại rừng.
Tuy nhiên, việc thực hiện trồng rừng của công ty đã bị người dân cản trở, lén lút nhổ, phá bỏ cây trồng. Tranh chấp đất đai giữa Công ty Chư MLanh và người dân gay gắt đến nỗi các dự án liên doanh liên kết của tỉnh đề ra không thể thực hiện được.
Đơn cử như Dự án của Công ty Cổ phần Vinamit, tháng 7-2012, được UBND tỉnh ra quyết định thu hồi hơn 900ha đất tại tiểu khu 294 và 295 do Công ty Chư MLanh quản lý để giao cho công ty thuê với dạng đất rừng sản xuất để trồng các loại cây công nghiệp, nông nghiệp. Thế nhưng, Vinamit đã phải rút dự án, trả lại phần diện tích đất mà UBND tỉnh đã giao vì tất cả diện tích đất trên đã bị người dân lấn chiếm để canh tác hoa màu.
Tương tự như công ty lâm nghiệp Chư MLanh, công ty lâm nghiệp Buôn Ja Gầm cũng có tới 460ha bị người dân lấn chiếm trồng cà phê, sắn, bắp… trên tổng số 8.890ha được giao quản lý. Công ty nhiều lần tiến hành giải toả, thu hồi 65ha tại lô 2 và 3, khoảnh 13, tiểu khu 547A để trồng lại rừng.
Vậy nhưng, 34ha rừng do công ty triển khai trồng đã bị người dân phá bỏ không thương tiếc. Cùng hoàn cảnh trên, Công ty TNHH MTV MDrak cũng đang gần như bế tắc trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp, lấn chiếm đất rừng thuộc địa bàn quản lý. Mặc dù đơn vị đã triển khai khá nhiều biện pháp ngăn chặn, nhưng tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy vẫn liên tục xảy ra trên các xã Ea Trang, Cư San, Krông Á, Krông Jing.
Hiện nay, khoảng 200 ha rừng trồng sau khi khai thác của công ty đã bị người dân lấn chiếm trồng hoa màu nên không thể trồng lại rừng. Mặc dù công ty đã tạo điều kiện cho người dân ký kết hợp đồng trồng rừng, hoặc có thể thực hiện mô hình nông - lâm kết hợp trên diện tích đất bị lấn chiếm, nhưng người dân vẫn không chịu hợp tác.
Để chấm dứt tình trạng tranh chấp đất lâm nghiệp, các công ty lâm nghiệp đã phối hợp cùng với chính quyền địa phương nhiều lần vào tuyên truyền, vận động người dân về định cư ở các khu quy hoạch, đồng thời giải toả toàn bộ nhà cửa, hoa màu để trồng lại rừng. Thế nhưng, chỉ trong thời gian ngắn, cán bộ công ty rút đi là người dân lại tiếp tục vào nhổ bỏ cây rừng mới trồng, lấn chiếm đất trái phép để canh tác.
Trong báo cáo sơ kết tình hình thực hiện Chỉ thị 03/CT-UBND, UBND tỉnh cũng thừa nhận, việc giải tỏa, thu hồi diện tích rừng, đất rừng bị phá, bị lấn chiếm trái pháp luật để phục hồi lại rừng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Bởi chủ rừng, UBND cấp huyện, và các ngành chức năng chưa ra tay thực hiện quyết liệt, hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc thống kê, lập phương án. Mặc dù một số huyện, chủ rừng đã thu hồi đất để trồng lại rừng nhưng lại không có kinh phí để trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng trồng nên lại tái diễn cảnh lấn chiếm, tranh chấp gay gắt.
Liên quan đến vấn đề này, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cấp chính quyền triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm ngăn chặn có hiệu quả tình trạng lấn chiếm, xâm hại đất rừng, tài nguyên rừng trong thời gian tới. Lựa chọn một số địa phương có điểm nóng về tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để xử lý nghiêm các trường hợp lấn chiếm, xâm phạm đất rừng.
Đặc biệt là xử lý đối với những đối tượng cầm đầu, xúi giục người dân phá rừng. Tỉnh cũng chỉ đạo UBND huyện Ea Súp xây dựng kế hoạch, phương án triển khai làm thí điểm cương quyết xử lý, giải tỏa từ 1 đến 2 tụ điểm phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép tại địa bàn để rút kinh nghiệm triển khai trên phạm vi toàn tỉnh. (Tài Nguyên&Môi Trường 27/12) đầu trang(
Thời gian qua, xã An Dũng, huyện An Lão đã phối hợp Hạt kiểm lâm huyện tổ chức triển khai các văn bản về Luật quản lý bảo vệ rừng, với hơn 350 lượt người dân ở 4/4 thôn tham gia học tập.
Đến nay, các ban ngành liên quan trên địa bàn xã An Dũng phối hợp với kiểm lâm phụ trách địa bàn đã tổ chức 4 đợt tuần tra, qua đó kịp thời phát hiện 9 vụ phá rừng làm nương rẫy trái phép, giảm 4 vụ so với năm 2012. Đã lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính 4 vụ, thu nộp ngân sách số tiền 2.750.000 đồng, đồng thời, thường xuyên tổ chức truy quét những vùng rừng trọng điểm, phát hiện tịch thu 0,1692 m3 gỗ Lim xanh thuộc nhóm IIA, bán phát mãi thu nộp gần 1.000.000 đồng. (Anlao.binhdinh.gov.vn 27/12) đầu trang(
Nếu như trước đây, gỗ nghiến chỉ bán theo thanh, hay theo mét khối, thì nay, trên địa bàn huyện Na Rỳ còn xảy ra tình trạng thu mua gỗ hoặc củi nghiến theo cân.
Ông Lục Văn Dung, Chủ tịch UBND xã Văn Minh, huyện Na Rì cho biết: Tình trạng mua gỗ theo cân đã làm khó cho chính quyền cơ sở bởi người ta bán với giá 1000đ/ kg, ai có tiền thì mua, rất khó xử phạt.
Lãnh đạo xã Văn Minh cũng cho biết, đa số người đến mua nghiến theo cân là mua nghiến dạng củi về chủ yếu là đun lấy than. Tuy nhiên cũng không loại trừ các đối tượng thu mua nghiến dạng củi theo cân nhằm vào một số mục đích khác.
Theo tìm hiểu của phóng viên, việc một số đầu nậu thu mua gỗ nghiến theo cân có thể sẽ kéo theo tình trạng người dân trong lúc nông nhàn lên rừng tận thu các cây nghiến đã đốn hạ từ lâu, hoặc cả những cây nghiến có đường kính nhỏ. Đây thực sự là vấn đề mà các cấp, các ngành của huyện Na Rì cần quan tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng trong thời gian tới . (Đài PT - TH Bắc Kạn 27/12) đầu trang(
Chính quyền địa phương thừa nhận số keo do bà Lan bỏ vốn liếng, công sức trồng và chăm sóc nhưng vẫn quyết định tạm dừng khai thác vì rắc rối do sự tranh chấp nguồn gốc đất.
Trong đơn gửi Báo Quảng Nam, bà Trần Thị Lan trú thôn 6, xã Tiên Thọ (Tiên Phước) cho biết, năm 1997, bà Trần Thị Châu và con trai là Nguyễn Thanh Thiện trú cùng thôn có mượn của gia đình bà gần 7.000m2 đất trồng sắn, chuối.
Thời gian này, bà Lan sinh sống, làm ăn ở xa, ông Thiện đã lợi dụng làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ) đứng tên bà Trần Thị Châu. Khi bà Lan trở về, bà Châu đã trả lại khu vườn cho bà vào năm 2007 nên bà đã xây nhà ở và trồng cây lâu năm trên diện tích đất 7.000m2. Tuy nhiên, việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Lan với bà Châu, ông Thiện diễn ra và kéo dài nhiều năm song chính quyền địa phương vẫn chưa giải quyết được.
Cách đây hơn 3 năm, bà Lan trồng keo trên diện tích 7.000m2 đất (đã trở thành vườn nhà của bà) khi đi làm ăn xa trở về. Các đợt bão vừa qua, số keo trồng đổ ngã, bà Lan khai thác bán, nhưng gặp phải sự phản đối của ông Thiện. Mới đây, bà Lan làm đơn xin UBND xã Tiên Thọ cho khai thác toàn bộ số cây keo trong vườn nhà để trang trải cuộc sống nhưng vì ông Thiện có ý kiến nên chính quyền địa phương tạm thời chưa cho bà Lan khai thác.
Bà Lan bức xúc: “Hoàn cảnh hiện tại của gia đình tôi rất khó khăn, một mình phải nuôi con ăn học nên bất đắc dĩ phải bán keo non. Hàng nghìn cây keo trong vườn nhà do tôi bỏ vốn liếng, công sức để trồng và chăm sóc đã được người dân trong thôn xóm xác nhận. Thật vô lý khi ông Thiện đưa ra điều kiện chỉ chấp nhận cho tôi khai thác nhưng phải trả lại cho ông một nửa diện tích khu vườn”.
Cũng theo bà Lan, ông Thiện thừa nhận số keo thuộc quyền sở hữu của bà, vậy không có lý do gì chính quyền địa phương lại gây khó dễ, không cho bà khai thác bán.
Tại Biên bản hòa giải tranh chấp giữa bà Lan và bà Châu vào ngày 10.12.2013, ông Phạm Bá Hùng - Chủ tịch UBND xã Tiên Thọ, thống nhất cho bà Lan khai thác keo trong vườn nhà và yêu cầu không được trồng lại vì đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, ông Thiện đã khởi kiện tranh chấp đất và keo trồng trong vườn nhà bà Lan. TAND huyện Tiên Phước yêu cầu chính quyền địa phương tạm thời không cho bà Lan khai thác keo để giải quyết vụ việc.
Ông Phạm Bá Hùng khẳng định, chính quyền không hề gây khó cho bà Lan mà đang chờ sự phán quyết của TAND huyện. Vụ việc này không đơn thuần là cho hay không cho khai thác, vận chuyển gỗ keo, mà là tranh chấp đất đai. Cây keo thì của bà Lan, nhưng hồ sơ giấy tờ đất lại hoàn toàn thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà Châu.
“Tranh chấp đất đai giữa bà Lan và bà Châu, ông Thiện kéo dài suốt nhiều năm qua, khiến địa phương đau đầu. Sắp đến, chúng tôi sẽ tiếp tục mời các bên có liên quan lên làm việc, mong muốn sẽ tìm được tiếng nói chung trong giải quyết hòa giải. Hồ sơ giấy tờ thì đứng tên bà Châu, còn thực tế người sử dụng đất lại là bà Lan. Đất (trên giấy tờ) của ông Thiện mà không sử dụng, theo quy định thì cũng phải tính toán đến phương án thu hồi” - ông Hùng cho biết. (Báo Quảng Nam 27/12) đầu trang(
Ngày 26-12, Công an P.Nguyễn Cư Trinh, Q.1 (TP.HCM) cho biết đã cho phép tài xế của Công ty Suối khoáng nóng Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu) tiếp tục vận chuyển con cá sấu nặng gần 50kg, dài gần 2m đến trại cá sấu hoa cà (Q.Thủ Đức) để chữa bệnh, sau khi tài xế này xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc của cá sấu.
Trước đó, ngày 25-12, tài xế nói trên lái ôtô du lịch của Công ty Suối khoáng nóng Bình Châu chở con cá sấu đến trại cá sấu hoa cà để chữa bệnh. Khi ôtô chạy ngang qua ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Cống Quỳnh (Q.1) thì con cá sấu bị rơi xuống đường. Cá sấu đã bị bịt mõm, cột chân... nên nằm yên một chỗ và không gây nguy hiểm cho người đi đường.
Sau đó, Công an P.Nguyễn Cư Trinh đã đưa con cá sấu về trụ sở công an phường, đồng thời yêu cầu tài xế có liên quan đến công an phường làm việc. (Tuổi Trẻ 27/12; Công an TPHCM 27/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||