|
Ngày 25 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Đây là một trong những nội dung mới đáng chú ý của Nghị định số 157/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chính thức có hiệu lực thi hành từ hôm nay (25/12).
Do yêu cầu phát triển, trong những năm qua, Nhà nước đã cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác như xây dựng các công trình thủy điện, giao thông, thủy lợi, khai thác khoáng sản... diện tích rừng chuyển đổi này khá lớn. Theo các quy định hiện hành, phải trồng bù rừng thay thế diện tích rừng đã được chuyển mục đích sử dụng. Tuy nhiên, thống kê sơ bộ cho thấy đến năm 2013, việc trồng bù rừng đạt tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 3,7% diện tích rừng chuyển đổi và đến nay chưa có chế tài xử phạt những vi phạm này.
Để đảm bảo hiệu lực của công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này, cũng như đảm bảo cá nhân, tổ chức thực hiện nghiêm các quy định về trồng bù rừng, Nghị định 157/2013 đã quy định chế tài xử phạt. Theo đó, cá nhân vi phạm quy định về trồng bù rừng sẽ bị xử phạt tiền đến 500 triệu đồng, tổ chức vi phạm bị xử phạt gấp đôi cá nhân.
Trường hợp được Nhà nước giao, cho thuê đất để trồng rừng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước đầu tư 100% nhưng thực hiện trồng rừng không đúng quy định của Nhà nước cũng bị xử phạt tối đa đến 100 triệu đồng.
Nghị định 157/2013s cũng có nhiều điểm mới nhằm đáp ứng yêu cầu đấu trang, ngăn chặn, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng, phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Bộ luật hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính.
Theo đó, trường hợp phát hiện vận chuyển từ trong rừng ra các loại than hầm, than hoa xác định là có nguồn gốc từ rừng tự nhiên thì bị xử phạt nhằm hạn chế tình trạng chặt phá rừng đốt than đang xảy ra ở nhiều nơi; quy định xử phạt các trường hợp vi phạm đối với sản phẩm chế biến từ gỗ có nguồn gốc không hợp pháp nhằm đảm bảo tính minh bạch về nguồn gốc gỗ trong hoạt động kinh doanh lâm sản, phù hợp hội nhập quốc tế về quản trị rừng, lâm sản.
Đối với hành vi phá rừng trái pháp luật, hành vi vi phạm trong khai thác gỗ ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng Nghị định cũng đã có sự điều chỉnh mức phạt. Tùy theo khối lượng gỗ khai thác trái phép mà mức phạt tiền có thể lên đến 200 triệu đồng, nếu gây thiệt hại lớn hơn thì sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự.
Ngoài việc áp dụng hình thức xử phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc bồi thường thiệt hại, nộp lại thu lợi bất chính... do vi phạm mà có.
Trong các năm qua, việc đánh bắt nhiều loài động vật thủy sinh trong rừng (có trường hợp dùng mìn, xung điện); khai thác gỗ rừng trồng, rừng ngập mặn không đủ kích thước về đường kính; hay hành vi xâm phạm rừng quy hoạch đưa ra khỏi ba loại rừng... đã xảy ra nhiều trong thực tế, nhưng lại chưa có quy định xử phạt cụ thể.
Để giải quyết những vướng mắc nảy sinh như đã nêu trên và bảo đảm cơ sở pháp lý cho hoạt động thực thi pháp luật trong bảo vệ rừng, Nghị định 157/2013 đã bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm hại động vật rừng là các loài thủy sinh tại các khe suối, ao, hồ trong rừng; khai thác trái phép gỗ rừng trồng có đường kính đầu nhỏ từ 6 cm trở lên, chiều dài từ 1 mét trở lên; hành vi khai thác, phá rừng trái phép đối với rừng quy hoạch đưa ra khỏi quy hoạch 3 loại rừng chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng, tận dụng lâm sản.
Vận chuyển lâm sản trái phép, phạt cả chủ phương tiện và người lái - Đây cũng là một trong những nội dung mới được bổ sung trong Nghị định 157/2013. Theo quy định này, trường hợp cho thuê, cho mượn phương tiện hoặc giao, thuê người điều khiển phương tiện thì chủ sở hữu phương tiện và người điều khiển phương tiện phải có bản giao kết không sử dụng phương tiện để thực hiện vi phạm hành chính; bản giao kết có chứng thực của UBND cấp xã và phải xuất trình trong thời hạn 48 giờ kể từ khi phương tiện bị tạm giữ.
Việc bổ sung quy định mới này xuất phát từ thực tế, chủ phương tiện thường giao cho người điều khiển là người lao động, người làm thuê, người thuê phương tiện sử dụng phương tiện vận chuyển. Khi có vi phạm về vận chuyển lâm sản trái pháp luật, chủ phương tiện tìm cách lẩn tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho người điều khiển phương tiện để không bị xử phạt, không bị tịch thu phương tiện, mặc dù chủ phương tiện là người chủ mưu, có lỗi trong hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Với chế tài nêu trên, trường hợp vi phạm liên quan đến chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện nếu không có bản giao kết, xuất trình theo quy định sẽ bị xử phạt đối với chủ phương tiện và người điều khiển (sử dụng) phương tiện.
Nghị định 157/2013 đã sửa đổi các quy định về thẩm quyền xử phạt của các chức danh thuộc cơ quan Kiểm lâm; UBND các cấp. Theo đó, thẩm quyền xử phạt tiền của các chức danh đã được cụ thể hóa và tăng thẩm quyền xử phạt của các chức danh.
Đặc biệt, Nghị định đã bổ sung quy định thẩm quyền xử phạt của Thanh tra, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Công an, Bộ đội biên phòng, Quản lý thị trường theo lĩnh vực quản lý.
Vi phạm quy định về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản ảnh hưởng lớn đến môi trường sống, tính đa dạng sinh học; ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực tế mà chúng ta đã chứng kiến vừa qua, mất rừng đã dẫn đến khô hạn, nhiệt độ tăng cao, lũ lụt ngập úng, sạt lở đất...
Thực hiện xử lý nghiêm các vi phạm về quản lý bảo vệ rừng nói chung, xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nói riêng sẽ có tác dụng ngăn chặn vi phạm, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Góp phần bảo vệ an toàn cho môi trường sống của con người. (Chinhphu.vn 25/12) đầu trang(
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ, trong năm 2014 sẽ kiên quyết đóng cửa rừng, không cho khai thác nữa. Thủ tướng yêu cầu cầu chuyển đổi 65 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ rừng tự nhiên sang mô hình hoạt động khác.
Phát biểu kết luận tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ về nhiệm vụ kinh tế xã hội năm 2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết hiện nay cả nước có tổng cộng 10,5 triệu héc ta rừng tự nhiên. Trong đó có 2 triệu héc ta rừng đặc dụng, 4 triệu héc ta rừng phòng hộ, đây là diện tích cấm khai thác, còn lại 4,5 triệu héc ta rừng tự nhiên nhưng cho khai thác có kế hoạch (gắn với 65 doanh nghiệp với tổng số lao động là 3.000 người).
Theo tính toán, việc đóng cửa rừng sẽ giảm thu khoảng hơn 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, Thủ tướng nêu rõ quan điểm, trong năm 2014 sẽ kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên, không cho khai thác nữa và đề nghị các địa phương nhất quán việc này trong năm 2014.
Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành liên quan tập trung chuyển đổi 65 công ty đang hoạt động trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ rừng tự nhiên sang mô hình các đơn vị công ích sự nghiệp có thu, sắp xếp và bố trí công việc, giải quyết chính sách cho 3.000 lao động đang làm việc tài 65 công ty này.
Theo Thủ tướng: “Việc bố trí lại 65 doanh nghiệp chỉ làm giảm thu 220 tỷ đồng, đây là số tiền không lớn và chỉ sắp xếp khoảng 3.000 lao động thì chúng ta đều có thể làm được. Như Vinashin trước đây có hơn 10.000 lao động dôi dư mà chúng ta còn sắp xếp được”.
Trước đó, chủ trì cuộc họp hồi tháng 10/2012 của Ban Chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ - phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đặc biệt nhấn mạnh tới nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, chấn chỉnh vấn đề khai thác gỗ. Đây cũng là vấn đề được nhiều ý kiến tại cuộc họp đề cập đến.
Trước thực tế diện tích rừng giàu, có trữ lượng gỗ chỉ chiếm lượng khá nhỏ, trong khi khi rừng nghèo, rừng non phục hồi và rừng hỗn giao chiếm tới 80%; Công tác quản lý rừng khá lỏng lẻo, rừng tự nhiên bị khai thác quá lớn, Chính phủ, Ban Chỉ đạo Nhà nước đã thực hiện một loạt các chỉ đạo cần thiết nhằm chấn chỉnh công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Thủ tướng đã giao Bộ NN&PTNT khẩn trương xây dựng một Đề án riêng đưa ra những phương án phù hợp về khai thác gỗ rừng tự nhiện giai đoạn 2013-2020.
Tại phiên họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã cho ý kiến chỉ đạo việc tổng kết Nghị quyết 28 về quản lý nông, lâm trường quốc doanh, xây dựng Đề án nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của kiểm lâm giai đoạn đến năm 2020… (Vnmedia 25/12; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 24/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Bước vào mùa khô 2013 - 2014, để chủ động phòng cháy, chữa cháy rừng, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục đẩy mạnh việc hướng dẫn, tuyên truyền pháp luật và kiến thức phòng cháy, chữa cháy rừng cho người dân, nhằm nâng cao ý thức cộng đồng về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tỉnh xây dựng phương án ứng phó khi có tình huống cháy rừng xảy ra theo phương châm “4 tại chỗ” (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ). Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu các địa phương, đơn vị, tổ chức quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn trong trường hợp cháy lớn có nguy cơ bùng phát và lan rộng thì cần phối hợp sự hỗ trợ ứng phó của địa phương lân cận và lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng của tỉnh.
Các tổ chức, đơn vị quản lý rừng tăng cường tuần tra, canh gác lửa rừng; những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao phải bố trí lực lượng canh gác 24/24 giờ trong các tháng mùa khô. Để công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đạt hiệu quả, Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã phê duyệt kinh phí phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô 2013 - 2014 cho các địa phương, đơn vị quản lý rừng trong tỉnh với gần 14,3 tỷ đồng.
Trong mùa khô 2012 - 2013, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 92 vụ cháy rừng trên diện tích hơn 198 ha, tăng 31 vụ so với mùa khô trước đó. Ngoài nguyên nhân khách quan do thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng kéo dài, hạn nặng ở nhiều khu vực, còn có nguyên nhân chủ quan từ công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, ý thức phòng, chống cháy rừng của người dân sống trong khu vực có rừng, ven rừng chưa cao, khiến tình trạng cháy rừng tại Lâm Đồng vẫn diễn ra phức tạp. (Dangcongsan.vn 25/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, địa bàn huyện không để xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, không chủ quan với nguy cơ xảy cháy mùa hanh khô 2013 – 2014, huyện đã sớm xây dựng kế hoạch và triển khai phương án phòng cháy - chữa cháy rừng (PCCCR).
Ông Nguyễn Sĩ Bình – Phó Hạt kiểm lâm huyện cho biết: Từ những thuận lợi, khó khăn, xác định rõ nguyên nhân, điều kiện gây cháy, đơn vị đã xây dựng, đưa ra phương án PCCCR mùa hanh khô giúp chủ động nắm bắt tình hình, đề ra các giải pháp đề phòng, xử lý các tình huống, kịp thời chữa cháy nếu có cháy rừng xảy ra.
Đơn vị đã làm tốt công tác tham mưu cho UBND huyện kiện toàn BCH các vấn đề cấp bách trong BVR & PCCCR, ban hành Chỉ thị số 09 ngày 1/11/2013 về việc tăng cường các biện pháp PCCCR. Đồng thời, phối hợp với cơ quan, đơn vị, chủ rừng trong tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc PCCCR tại cơ sở.
Theo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng và quá trình theo dõi diễn biến rừng hàng năm, vùng trọng điểm, nguy cơ dễ xảy ra cháy được xác định gồm khu vực rừng núi đá có cây tập trung chủ yếu các xã trong và ven khu bảo tồn Ngọc Sơn gồm Ngọc Sơn, Ngọc Lâu, Tự Do, Phú Lương, Định Cư, Chí Đạo, Tân Mỹ, Yên Nghiệp; khu vực rừng hỗn giao, giang, nứa chủ yếu ở xã Bình Hẻm, Bình Chân, Bình Cảng, Yên Phú, Miền Đồi, Quý Hòa; khu vực trồng rừng tập trung gồm Mỹ Thành, Văn Nghĩa, Nhân Nghĩa, Xuất Hóa, Liên Vũ, Thượng Cốc.
Cùng với việc tổ chức lực lượng PCCCR theo hệ thống từ huyện đến cơ sở xã, xóm, các biện pháp phòng cháy rừng khác cũng được huyện tích cực triển khai như tiếp nhận các thông tin cấp dự báo cháy rừng, tuyên truyền đến các trọng điểm có thể xảy ra cháy rừng và tổ chức đề phòng bằng phương pháp thông báo trên các phương tiện thông tin đại chung, điện thoại…
Tại 28 xã, 1 thị trấn có các bảng biển cấm lửa rừng. Số bảng biển tại xã trọng điểm được đóng tại các cửa lối kèm theo biển thông báo cấp cháy rừng. Hiện tại, toàn huyện đã xây dựng và kiện toàn 392 tổ quản lý và bảo vệ rừng với 2.041 thành viên. Bước vào mùa hanh khô, lực lượng kiểm lâm còn phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, ý thức bảo vệ và phát triển rừng, chấp hành các quy định PCCCR đến hàng nghìn hộ dân trên địa bàn các xã có rừng như Miền Đồi, Định Cư, Bình Chân, Bình Hẻm… (Báo Hòa Bình 24/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ đầu năm đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lai Châu đã thực hiện chi trả gần 90 tỷ đồng cho hơn 57.000 hộ dân đang tham gia quản lý, chăm sóc và bảo vệ trên 434.000ha rừng.
Ông Nguyễn Trọng Lịch, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lai Châu cho biết sau khi các nhà máy thủy điện có hợp đồng ủy thác để thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn chuyển tiền về Quỹ, Quỹ sẽ tiến hành chi trả toàn bộ số tiền dịch vụ môi trường rừng còn lại cho bà con nhân dân trong thời gian sớm nhất.
Việc nhận chăm sóc rừng, người dân vừa có thể giữ rừng vừa có thể phát triển kinh tế từ rừng. Quỹ sẽ tích cực tuyên truyền đến người dân những lợi ích khi thực hiện trông coi rừng để từ đó phát triển hơn nữa số hộ tham gia chăm sóc và bảo vệ rừng.
Năm nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lai Châu đã thu trên 143 tỷ đồng từ bảy nhà máy thủy điện có hợp đồng ủy thác để thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn.
Tuy nhiên, vẫn còn một số chủ cơ sở đã ký hợp đồng nhưng chây ì, chậm thực hiện chuyển tiền về quỹ như Nhà máy thủy điện Nậm Lụng, Nhà máy thủy điện Nậm Cát, huyện biên giới Phong Thổ. Hiện nay, các đơn vị trên địa bàn còn nợ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng khoảng gần 500 triệu đồng.
Năm 2012, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lai Châu chi trả gần 140 tỷ đồng, bằng 98,5% kế hoạch đề ra. (VietnamPlus.vn 25/12) đầu trang(
Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho hay tỉnh này đã có công văn gửi các sở, ban, ngành và UBND các huyện liên quan bố trí quỹ đất để thực hiện trồng bù rừng thay thế (nhất là rừng đầu nguồn lưu vực sông các công trình thủy điện); giám sát các công trình thủy điện đang triển khai xây dựng để đảm bảo chất lượng, an toàn công trình và đáp ứng các yêu cầu về môi trường...
Đồng thời, yêu cầu các đơn vị theo dõi, giám sát việc thực hiện quy trình vận hành các hồ chứa thủy điện; kiên quyết xử lý nghiêm đối với những nhà máy thủy điện không thực hiện đúng quy trình vận hành đã được phê duyệt. Ngoài ra, tiếp tục rà soát các quy hoạch thủy điện, quy trình vận hành hồ chứa thủy điện trên địa bàn tỉnh để đề nghị điều chỉnh, bổ sung nếu còn những nội dung chưa hợp lý.
Bên cạnh đó, nghiên cứu để có chế độ phối hợp với các chủ đầu tư công trình thủy điện trong việc thông báo kịp thời đến người dân vùng hạ lưu khi các hồ chứa thủy điện xả lũ. Về lâu dài sẽ xây dựng mô hình nhà ở và công trình xây dựng cho nhân dân để sống chung với lũ. (Pháp Luật TPHCM 25/12) đầu trang(
Trước yêu cầu bảo vệ, phục hồi, phát triển và sử dụng bền vững đa dạng sinh học về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái, tỉnh Lạng Sơn đã lập Đề án “quy hoạch bảo tồn đa đa dạng sinh học tỉnh đến năm 2020”, và tại kỳ họp thứ tám, HĐND tỉnh khóa XV vừa qua Đề án chính thức được thông qua.
Mục tiêu của Đề án nhằm bảo tồn và nâng cao tính đa dạng sinh học; tăng cường công tác quản lý và phát triển các loài, sinh vật cảnh bị suy thoái, duy trì và phát triển các nguồn gien quý hiếm; bảo vệ tốt môi trường sinh thái, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội bền vững của tỉnh; xây dựng và nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học của tỉnh.
Theo đó, từ năm 2013 tỉnh sẽ quy hoạch 5 khu bảo tồn đa dang sinh học, gồm: 01 Khu bảo tồn thiên nhiên cấp quốc gia Hữu Liên có diện tích 8.293,4ha; 04 Khu bảo tồn loài - sinh cảnh cấp tỉnh là khu bảo tồn Mẫu Sơn có diện tích 11.060 ha, khu bảo tồn Lâm Ca- Đồng Thắng có diện tích 6.214 ha, khu bảo tồn Bắc Sơn có diện tích 1.088ha, khu bảo tồn Mỏ Rẹ có diện tích 2.302ha.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng quy hoạch 2 hành lang dạng sinh học nối khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên và khu bảo tồn Mỏ Rẹ; khu bảo tồn Mẫu Sơn và khu bảo tồn Lâm Ca – Đồng Thắng.
Đồng thời, quy hoạch bảo tồn các loài động vật quý hiếm gồm: 21 loài lớp thú thuộc 5 bộ như bộ Cánh da, Linh trưởng, Thú ăn thịt, Móng guốc ngón chẵn, gặm nhấm, Thỏ; 13 lớp chim thuộc 5 bộ là Ngỗng, Cắt, Gà, Sả, Sẻ; 18 loài bò sát, lưỡng cư đang bị đe dọa ở mức độ rất nguy cấp như Trăn đất, Rùa hộp ba vạch, Ếch gai, Rắn ráo, Kỳ đà nước, Rắn hổ mang; 5 loài cá quý hiếm đang bị đe dọa ở mức độ rất nguy cấp như là cá Măng giả, Lăng chấm, Anh vũ, Ngựa bắc, cá Chiên; 2 loài cá đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên nhưng còn tồn tại ở điều kiện nuôi nhốt như cá Lợ thân thấp và cá Chép gốc.
Đối với hệ thực vật, quy hoạch bảo tồn gồm 57 loài thực vật tại tỉnh được xếp vào danh mục các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở mức độ ít nguy cấp đến mức độ rất nguy cấp như Hoàng đàn, Ô rô bà, Nghiến, Thảo thông, Cam thảo đá bia, Trai lý, Sến mật, Bách hợp, Ba kích.
Ông Hồ Tiến Thiệu, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Lạng Sơn cho biết: tỉnh được đánh giá là địa bàn có lợi thế về đa dạng sinh học, với 7 hệ sinh thái đặc trưng. Hệ thực vật bậc cao có 1.012 loài, thực vật bậc thấp gồm nhiều nhóm tảo. Hệ động vật gồm các loài động vật có xương sống ở cạn là 409 loài, động vật không xương (côn trùng) rất đa dạng.
Về thủy sinh vật, khu hệ ngập nước có 62 loài thực vật nổi, 34 loài động vật nổi, 23 loài động vật đáy, 167 loài cá…Nhưng trước sự biến đổi khí hậu toàn cầu hiện nay, cộng với những tác động về tốc độ tăng trưởng dân số, tình trạng đốt, phá rừng làm nương, khai thác sử dụng bất hợp pháp… đã khiến hệ sinh thái chịu tác động mạnh và tiềm ẩn nguy cơ đe dọa cao.
Bởi vậy, thực hiện quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học là cần thiết và có ý nghĩa chiến lược. Qua đây, nhằm bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh một cách bền vững.
Để triển khai đề án, tỉnh đã đưa ra các giải pháp thực hiện quy hoạch, trong đó nhấn mạnh: Về công tác quản lý, quan tâm đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ cấp huyện, xã, đặc biệt là nhận thức và trách nhiệm về bảo tồn đa dạng sinh học; rà soát, bổ sung, xây dựng các văn bản quy định về quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên theo Luật Đa dạng sinh học và các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật.
Đối với giải pháp xã hội, xây dựng kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, ban, ngành, địa phương trong tỉnh; đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; phát huy nguồn kiến thức, kỹ năng của người dân bản địa tại các địa phương. Ngoài ra, các giải pháp về tuyên truyền, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, khoa học công nghệ, hợp tác bảo tồn, huy động vốn cũng được tỉnh coi trọng, triển khai song hành trong thực hiện quy hoạch của Đề án. (Tài Nguyên&Môi Trường 24/12) đầu trang(
Bắc Hướng Hóa là khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) của tỉnh Quảng Trị có độ che phủ rừng đến 93,2%, trong đó rừng nguyên sinh chiếm gần 70%, thuộc nhóm có độ che phủ rừng cao nhất nước với nhiều giá trị phong phú.
Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị phối hợp với Hội KHKT Bảo vệ rừng & bảo tồn đa dạng sinh học tổ chức hội thảo khoa học về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Nhiều kết quả nghiên cứu được công bố có ý nghĩa góp phần thúc đẩy cho việc phát triển kinh tế, xã hội. Hội thảo đặc biệt chú ý những kết quả nghiên cứu của ông Khổng Trung, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị với đề tài xác định giá trị môi trường rừng tại Khu BTTN Bắc Hướng Hóa.
Khu BTTN Bắc hướng Hóa chính thức thành lập từ tháng 7/2012, với diện tích hơn 25.000 ha, thuộc 5 xã của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Hệ sinh thái chủ yếu của khu BTTN là rừng kín, mưa ẩm nhiệt đới, có độ cao dưới 600 - 800 m. Đặc biệt độ che phủ của rừng lên đến 93,2%; trong đó rừng nguyên sinh chiếm gần 70%, thuộc nhóm có độ che phủ rừng cao nhất nước.
Báo cáo của ông Khổng Trung cho biết kết quả điều tra khoa học năm 2012 xác định tại khu BTTN này có 1.009 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 548 chi và 138 họ, trong đó có 39 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Ngoài ra, khu BTTN còn có tính đa dạng sinh học cao về cấp độ loài, thể hiện ở giới hạn phân bổ và số lượng loài lớn trong một họ.
Các nghiên cứu cho thấy, có nhiều loài thực vật thuộc cả ba luồng di cư, gồm luồng thực vật Bắc Việt Nam - Trung Hoa, luồng thực vật Vân Nam - Quý Châu, luồng thực vật Malaysia - Indonesia có biên độ sinh thái ở khu vực này.
Về loài thú thì trong 72 loài có 11 loài được ghi nhận trong sách đỏ thế giới. Có 7 loài đặc hữu như sao la, mang lớn mang Trường Sơn, Vọc Hà Tĩnh, Chà vá chân nâu... Khu hệ chim có 206 loài, trong đó có 3 loài đặc hữu với sự góp mặt của gà lôi lam mào trắng, gà so Trung Bộ, Chích chạch má xám... Điều đáng quan tâm là 12 loài thú bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế như tê tê Java, chà vá chân nâu, vượn đen má trắng, mang lớn, bò tót, sao la... đều có mặt tại khu BTTN này.
Ông Khổng Trung khẳng định qua các phương pháp nghiên cứu cho thấy giá trị môi trường rừng của KBTTN Bắc Hướng Hóa được xác định gồm 4 giá trị chủ yếu, gồm giá trị cảnh quan, giá trị bảo vệ đầu nguồn, giá trị đa dạng sinh học và giá trị lưu giữ cacbon. Tổng giá trị môi trường của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa khoảng 1.878 tỷ đồng, trong đó riêng giá trị lưu giữ cacbon là 1.842 tỷ đồng.
Những thông tin được công bố tại hội thảo đã khẳng định giá trị, vai trò của KBTTN Bắc Hướng Hóa, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của hệ sinh thái rừng, từ đó giảm các tác động có hại làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng. Kết quả của những nghiên cứu rất cần thiết cho các nhà quản lý trong việc xây dựng chính sách sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế, xã hội hợp lý cho địa phương trong tương lai.
Theo ông Khổng Trung, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa là KBT duy nhất của Việt Nam nằm về phía Tây của dãy Trường Sơn, có đường ranh giới với nước Lào, và KBT Khe Nước Trong của tỉnh Quảng Bình, là vị trí quan trọng để kết nối các Khu BTTN, Vườn quốc gia ở miền Trung Việt Nam và các khu bảo tồn của Lào thành một hành lang đa dạng sinh học rộng lớn. Ngoài ra, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa cũng nằm trong vùng sinh thái ưu tiên của Trường Sơn, vùng chim quan trọng trên đất thấp. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/12) đầu trang(
Chiều 23-12, Chi cục Kiểm lâm tổ chức hội nghị triển khai Nghị định số 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Tham dự có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành địa phương, đơn vị liên quan…
Ngày 11-11-2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thay thế Nghị định số 99/2009/NĐ-CP ngày 2-11-2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Nghị định số 157/2013/NĐ-CP của Chính phủ bao gồm 4 chương và 33 điều, trong đó: Chương I là những quy định chung; Chương II quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả; Chương III quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; Chương IV quy định về điều khoản thi hành.
Điểm đáng lưu ý ở một số chương, điều, khoản của Nghị định nói trên, đó là: người có hành vi dịch chuyển mốc ranh giới rừng để chiếm giữ, sử dụng rừng trái pháp luật của chủ rừng khác, của nhà nước bị xử phạt tiền từ mức 2 đến 50 triệu đồng; khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp bị xử phạt từ 50 nghìn đồng đến 20 triệu đồng; người vi phạm các quy định về thiết kế khai thác gỗ bị xử phạt tiền mức 3 triệu đồng đến 15 triệu đồng; người có hành vi khai thác gỗ không đúng trình tự, thủ tục và các yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bị xử phạt tiền từ mức 3 đến 15 triệu đồng;
Người có hành vi lấy lâm sản trong rừng không được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc được phép nhưng đã thực hiện không đúng quy định cho phép bị xử phạt mức 600 nghìn đồng đến 100 triệu đồng (khai thác trái phép rừng sản xuất), xử phạt mức từ 1 đến 200 triệu đồng (khai thác trái phép đối với gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA); phạt tiền từ 20 đến 200 triệu đồng (khai thác trái phép đối với gỗ thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IA); xử phạt 500 nghìn đồng đến 200 triệu đồng (đối với khai thác rừng phòng hộ trái phép)…
Bên cạnh đó, Nghị định còn quy định mức xử phạt cụ thể đối với những hành vi vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng; vận chuyển lâm sản trái pháp luật; mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của nhà nước…; thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng, Quản lý thị trường, Thanh tra chuyên ngành, Kiểm lâm, Chủ tịch UBND các cấp… (Báo Quảng Bình 25/12) đầu trang(
Ngày 24.12, Hạt kiểm lâm thành phố Đông Hà (Quảng Trị) phối hợp với Trạm bảo vệ rừng và Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đắk Rông thả nhiều cá thể động vật hoang dã về rừng.
Số động vật hoang dã này (gồm 8 kg kỳ đà hoa và 4 kg kỳ nhông) được phát hiện, thu giữ từ ngày 16 - 20.12, trong đợt tổng kiểm tra các nhà hàng, khách sạn có dấu hiệu kinh doanh, chế biến "đặc sản rừng" trên địa bàn của lực lượng liên ngành thành phố Đông Hà.
Được biết, trong thời gian giáp tết Nguyên đán, lực lượng liên ngành tiếp tục tiến hành nhiều đợt kiểm tra, kiểm soát nhằm ngăn chặn việc vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép. (Thanh Niên 24/12) đầu trang(
Chiều 24/12, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ngành chức năng huyện Phú Hòa; Ban Quản lý rừng đặc dụng Đèo Cả và chính quyền xã Hòa Xuân Nam (Đông Hòa) tổ chức thả 58 cá thể động vật rừng.
Gồm: 50 con rùa các loại với trọng lượng 34kg; 1 con rắn cạp nong, trọng lượng 0,4kg; 2 con khỉ trọng lượng 11kg; 5 con kỳ đà trọng lượng 13kg và 21kg tắc kè, rắn ráo về môi trường tự nhiên tại rừng đặc dụng Đèo Cả.
Đây là số động vật rừng trái phép được Hạt Kiểm lâm Phú Hòa phối hợp với các ngành chức năng phát hiện tại kho bỏ hoang của ông Nguyễn Ngọc Khôi ở thôn Phước Khánh, xã Hòa Trị (Phú Hòa) vào ngày 20/12. (Báo Phú Yên 25/12) đầu trang(
Huyện Ba Bể có hơn 54 nghìn héc ta đất rừng tự nhiên, đây là điều kiện thuận lợi cho việc trồng rừng. Do đó, huyện Ba Bể đã đẩy mạnh công tác trồng rừng, hàng năm kế hoạch trồng đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra.
Từ năm 2010 đến nay, Ba Bể đã triển khai trồng được hơn 8.000ha rừng mới, mỗi năm huyện trồng được từ 1.800 đến 2.200ha với chủ yếu là cây keo, mỡ, xoan. Đặc biệt là 100% các xã đã nhận thức rõ về vai trò và lợi ích từ trồng rừng, việc phát triển rừng trồng đã mang lại hiệu quả kinh tế cho nhân dân, đã và đang là hướng thoát nghèo hiệu quả của Ba Bể.
Để làm được điều này Đảng bộ, Chính quyền từ huyện đến cơ sở đã huy động mọi nguồn lực cùng vào cuộc, đi đầu là công tác tuyên truyền vận động nhân dân trồng rừng, huy động các cấp hội, đoàn thể vận động, giúp đỡ nhân dân; kịp thời tháo gỡ, giải quyết những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện; công tác trồng rừng cũng được đúc, rút kinh nghiệm theo từng năm. Do đó, riêng năm 2013 huyện Ba Bể đã triển khai trồng rừng được 2.609ha, bằng 103,56% kế hoạch, nâng độ che phủ rừng trên địa bàn toàn huyện lên hơn 60%.
Bà Đỗ Thị Minh Hoa- Bí thư Huyện uỷ huyện Ba Bể cho biết: Những năm trở lại đây công tác trồng rừng trên địa bàn huyện đã đạt được những kết quả đáng mừng, đặc biệt là chuyển biến về nhận thức của nhân dân trên địa bàn huyện, nhiều gia đình đã tự bỏ vốn ra để trồng rừng, không cần trông chờ đến sự hỗ trợ của nhà nước. Nhờ vậy, riêng năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm từ 26% xuống còn 22,17%; bình quân lương thực đầu người đạt 629kg/người/năm; đời sống nhân dân từng bước được cải thiện… một phần cũng từ khai thác rừng trồng.
Năm 2014, Ba Bể tiếp tục thực hiện kế hoạch trồng mới 1.600ha rừng, đến nay nhân dân đã và đang đăng ký đạt hơn 1.476ha. Bên cạnh trồng rừng, công tác chăm sóc và bảo vệ rừng trồng cũng được cấp uỷ, chính quyền địa phương quan tâm. Cùng với đó, huyện tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát để kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm lâm luật trên địa bàn; tích cực tuyên truyền phòng chống cháy rừng vào mùa khô đến toàn thể nhân dân trên địa bàn… (Báo Bắc Kạn 25/12) đầu trang(
Năm 2013, các cá nhân, tổ chức đã khai thác sản lượng gỗ đạt 50,7 nghìn m3, trong đó gỗ rừng tự nhiên là 530 m3, gỗ rừng trồng tập trung hơn 50.000m3 gỗ.
Tổng doanh thu đạt 15,4 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 770 triệu đồng. Sản lượng khai thác gỗ của lâm trường, các tổ chức được cấp phép khai thác lâm sản đạt hơn 11.000m3, các hộ gia đình khai thác 39.000m3.
Mục tiêu lớn nhất giai đoạn hiện nay của ngành lâm nghiệp tỉnh là tích cực bảo vệ rừng tự nhiên, trồng rừng đi đôi với cung ứng nguồn nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất, chế biến lâm sản, đem lại hiệu quả bền vững. (Đại Biểu Nhân Dân 24/12; Báo Lào Cai 24/12) đầu trang(
Để thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ, 2 Ban Quản lý rừng phòng hộ Tương Dương và Kỳ Sơn đã tổ chức rà soát và giao khoán bảo vệ rừng phòng hộ theo quy định. Đến nay, theo thông tin từ 2 ban này, công việc đã cơ bản hoàn tất, kinh phí bảo vệ rừng đã được chuyển đến tay các hộ nhận khoán. Tuy nhiên, thực tế tại cơ sở vẫn còn nhiều bất cập...
Ở huyện Tương Dương hiện có 671 hộ thuộc 5 xã: Lượng Minh, Yên Na, Hữu Khuông, Nhôn Mai, Mai Sơn (là những xã có rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ) được ký kết hợp đồng trực tiếp với Ban Quản lý rừng phòng hộ để nhận giao khoán bảo vệ rừng.
Ông Lô Hoài Thơm - Chủ tịch UBND xã Yên Na cho biết: Công tác giao khoán và chi trả dịch vụ môi trường rừng đang là vấn đề khiến ông rất băn khoăn và mong muốn cơ quan chức năng sớm có sự điều chỉnh. Xã Yên Na có 4 bản: Xiêng Nứa, Xốp Pu, Cò Thảo, và bản Vẽ với 67 hộ dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ đã được Ban Quản lý rừng phòng hộ Tương Dương chi trả một nửa kinh phí năm 2013 (gần 200 triệu đồng).
Theo quy định, đối tượng nhận khoán phải là những hộ có lao động, không liên quan đến tệ nạn xã hội... Trên cơ sở đó, xã đã xét duyệt đối tượng đăng ký, lập danh sách chuyển Ban Quản lý rừng phòng hộ Tương Dương, vậy nhưng không hiểu tại sao danh sách các đối tượng được nhận khoán lại chưa khớp với danh sách xã đã lập. Bên cạnh đó, có nhiều vấn đề khiến người dân thắc mắc như không công bằng trong giao khoán diện tích; địa điểm rừng được giao khoán quá xa, có hộ lại được giao một lúc 2, 3 khoảnh rừng cách xa nhau khiến công tác bảo vệ khó khăn...
Gia đình ông Lô Xuân Hoa ở bản Vẽ (có 2 lao động), là hộ làm đơn đăng ký và được xã đưa vào danh sách nhưng sau đó không được Ban Quản lý rừng phòng hộ giao khoán bảo vệ rừng.
Ông Hoa buồn bã nói: Xã có 48 hộ đăng ký nhưng có khoảng 10 hộ không được nhận khoán dù có đủ điều kiện như quy định. Các hộ ở bản Vẽ là dân tái định cư, ruộng nương ít, thiếu việc làm, nếu được giao bảo vệ rừng phòng hộ thì sẽ có thêm thu nhập hỗ trợ cuộc sống, nhưng nhiều hộ không được giao dẫn đến bức xúc... Chung cảnh ngộ với ông Hoa, ông Lô Sỹ Oanh cùng bản bức xúc: “Tôi đủ điều kiện như các hộ được giao khoán, tại sao gia đình tôi lại bị gạt ra".
Đồng thời, theo ông Oanh: Cách giao rừng tại thực địa cho các hộ rất vô lý, nhiều gia đình đã nhận khoán đến thời điểm này không biết khoảnh, thửa rừng mình có trách nhiệm bảo vệ có điểm đầu, điểm cuối ở đâu. Lý do là vì việc giao nhận chỉ ang áng chứ không phân định, cắm mốc rõ vị trí từng khoảnh thửa...".
Nhiều hộ dân bản Vẽ được nhận khoán bảo vệ rừng công nhận bất cập nêu trên, thậm chí có người còn thành thật công nhận đến nay "chưa thấy mặt rừng". Anh Lô Văn Huỳnh là người nhận bảo vệ rừng phòng hộ nhưng hôm giao rừng tại thực địa vì bận việc nên vợ đi thay; anh đã được nhận 2.150.000 đồng từ tháng 10/2013 nhưng chưa biết mình sẽ phải bảo vệ bao nhiêu ha rừng và cho đến nay cũng chưa một lần đặt chân đến đó.
Cũng là những người nhận bảo vệ rừng phòng hộ, theo các ông Lô Hoài Nhân, Vi Đình Dung, Lô Xuân Tình... thì: Cần có sự công bằng trong công tác giao khoán diện tích rừng giữa các hộ; xem xét lại vị trí địa lý giữa rừng với các bản để giao khoán cho hợp lý, tiện lợi trong công tác bảo vệ chứ không nên để dân bản Vẽ bảo vệ rừng ở gần xã Yên Tĩnh, trong khi dân ở các bản Xiêng Nứa, Xốp Pu lại bảo vệ vùng rừng gần bản Vẽ...
Trưởng bản Vẽ, ông Lương Thanh Tiến cũng không đồng tình trong công tác giao khoán và cho biết hôm giao tại thực địa, con trai ông đã từ chối không nhận rừng vì thấy phải bảo vệ một lúc 3 khoảnh rừng cách xa nhau. Ông Tiến nói: "Từ bản Vẽ vào nơi rừng phải bảo vệ mất ít nhất 40 phút đi thuyền máy, thêm 30 phút đi bộ, rừng lại giao một lúc mấy khoảnh cách nhau nhiều km thì làm sao bảo vệ tốt được. Có những hộ đã nhận tiền rồi nhưng lại đến hỏi tôi rằng họ phải bảo vệ khoảnh rừng nào. Thật tình tôi cũng chịu".
Khác với huyện Tương Dương, tại huyện Kỳ Sơn, công tác giao khoán bảo vệ rừng phòng hộ được Ban Quản lý rừng phòng hộ ký hợp đồng với từng nhóm hộ (mỗi nhóm hộ từ 5 - 10 người).
Ở Kỳ Sơn có 137 nhóm hộ thuộc các xã Nậm Cắn, Bắc Lý, Mỹ Lý, Keng Đu, Na Loi, Đoọc Mạy, Huồi Tụ, Mường Lống, Bảo Thắng được giao khoán bảo vệ tổng diện tích 15.580,6 ha rừng. Vậy nhưng, thực tế thì các nhóm hộ ký hợp đồng chỉ là để hợp thức hóa các thủ tục hành chính, bởi khoản tiền chi trả cho công tác bảo vệ rừng khi nhận được thì Ban quản lý thôn bản giữ lại một phần làm quỹ chung, còn lại, đem chia đều cho tổng số hộ dân toàn thôn bản.
Ở bản Huồi Ức 2 (xã Huồi Tụ), kinh phí bảo vệ rừng chi trả đợt 1 năm 2013 cho nhóm hộ ông Và Xia Mùa được 4.700.000 đồng, Ban quản lý bản để lại 600.000 đồng làm quỹ, còn chia đều cho 37 hộ dân toàn bản. Tại bản Huồi Ức 1, khoản tiền bảo vệ rừng của nhóm hộ ông Hờ Bá Xà được 5.100.000 đồng, Ban quản lý thôn bản đem chia đều cho 70 hộ dân toàn bản...
Anh Xùng Trung Thái, Phó bản Huồi Ức 2 cho biết, số tiền bảo vệ rừng được chia đều cho tất cả các hộ dân trong bản vì trách nhiệm bảo vệ rừng là của toàn bản nên ai cũng được tiền!. Trong khi đó, theo một số cán bộ xã Huồi Tụ thì có người dân băn khoăn, không muốn nhận khoán bảo vệ rừng. Một cán bộ xã đã cho biết: Ngay như ở bản Huồi Mú (nơi có nhà riêng của Chủ tịch UBND xã Huồi Tụ, ông Vừ Giống Dìa), dù các hộ toàn bản đều được chia tiền bảo vệ rừng nhưng họ không vui, thậm chí có nhiều người phản đối vì như thế "không được vào rừng kiếm sống"...
Các cán bộ của 2 Ban Quản lý rừng phòng hộ Tương Dương, Kỳ Sơn cũng thừa nhận trong công tác giao khoán bảo vệ rừng còn có những điểm chưa phù hợp. Nguyên nhân được đưa ra là bởi việc tổ chức giao khoán bảo vệ rừng là nhiệm vụ mới mẻ, lại liên quan đến nhiều người dân, địa bàn rộng, nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, trong khi đó, việc tổ chức rà soát, giao khoán đáng lẽ phải được thực hiện sớm để có sự điều chỉnh, nhưng cơ quan chức năng lại triển khai chậm...
Và không chỉ những bất cập trong công tác giao khoán bảo vệ rừng mà ngay cả việc rà soát cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa xong, còn nhiều diện tích rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ mà chủ rừng là các hộ dân và UBND các xã chưa hoàn tất!
Theo ông Lô Thanh Hài - Phó Chủ tịch phụ trách Nông lâm huyện Tương Dương, việc giao khoán bảo vệ, phát triển rừng lưu vực Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ chưa ổn và rất có thể sang năm 2014 sẽ phải thực hiện lại.
Ông Lô Thanh Hài cho biết: "Tôi đi tiếp xúc cử tri tại bản Pủng Bón (xã Hữu Khuông) thì được biết toàn bản có 74 hộ nhưng chỉ có 11 hộ được nhận khoán, các hộ còn lại thắc mắc rất nhiều. Qua số liệu tổng hợp thì thấy toàn huyện chỉ hơn 600 hộ được nhận khoán, vì vậy tình trạng thắc mắc, đố kỵ xẩy ra ở nhiều nơi...".
Ngày 24/9/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đây là chính sách rất mới đối với lĩnh vực lâm nghiệp, coi việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của rừng là dịch vụ mà mọi cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức trong xã hội được sử dụng và hưởng thụ các dịch vụ này phải trả tiền cho những người trực tiếp cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Ở Nghệ An, việc thu tiền từ hợp đồng ủy thác của các cơ sở sản xuất thủy điện đã được tiến hành từ đầu năm 2012, vậy nhưng cho đến nay mới tổ chức rà soát, giao khoán bảo vệ rừng và chi trả một phần tiền của năm 2013 cho các đối tượng được giao khoán bảo vệ rừng thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Bản Vẽ. Việc chậm trễ là rất rõ, tuy nhiên đáng nói hơn là trong công tác giao khoán bảo vệ rừng còn nhiều bất cập. Với cung cách thực hiện như ở Tương Dương, Kỳ Sơn, ai dám chắc sẽ đạt được hiệu quả đích thực? (Báo Nghệ An 24/12) đầu trang(
Theo Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn, trên thế giới việc sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý đất lâm nghiệp đã được ứng dụng từ lâu. Tại Việt Nam, các phần mềm GIS trong quản lý đất lâm nghiệp đã được hầu hết các cơ quan quản lý cấp trung ương và địa phương sử dụng để xây dựng bản đồ đất lâm nghiệp, quản lý dữ liệu…
Tại Bắc Kạn, công nghệ thông tin nói chung và GIS nói riêng đã được một số sở, ngành sử dụng trong thời gian qua. Xuất phát từ việc đất rừng của Bắc Kạn rộng lớn nhưng việc quản lý, tra cứu thông tin gặp nhiều khó khăn, thiếu thống nhất, UBND tỉnh đã cho phép Chi Cục Lâm nghiệp Bắc Kạn và Đại học Nông lâm Thái Nguyên triển khai đề tài Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý đất lâm nghiệp. Mục đích để xây dựng phần mềm quản lý đất lâm nghiệp cho toàn tỉnh, quản lý chi tiết đến từng lô đất, thống kê báo cáo theo cấp xã, huyện, tỉnh, so sánh biến động giữa các năm.
Theo báo cáo của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đi vào triển khai, đề tài đã nghiên cứu thực trạng quản lý đất lâm nghiệp tại Bắc Kạn và đánh giá khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của cán bộ lâm nghiệp trong quản lý đất lâm nghiệp. Nội dung quan trọng nhất là xây dựng cơ sở dữ liệu đã thực hiện thông qua phân tích, thiết kế hệ thống; thiết kế cơ sở dữ liệu; chuyển đổi tệp dữ liệu.
Nguồn dữ liệu được kế thừa từ chương trình điều tra và quy hoạch 3 loại rừng năm 2006- 2007 bao gồm 122 xã, phường, thị trấn. Các lớp thông tin cần thiết được lựa chọn để chuẩn hóa phông chữ; hệ tọa độ. Sau đó, dự án tiến hành xây dựng phần mềm quản lý đất lâm nghiệp trên mạng (online) thông qua lập trình phần mềm, giao diện, cập nhật thuộc tính cho lô đất. Phần mềm và cơ sở dữ liệu khi hoàn thiện dự kiến tải lên trang thông tin của Sở NN&PTNT Bắc Kạn; thuê máy chủ, tên miền của công ty viễn thông FPT; cài đặt trên máy tính Chi cục Lâm nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn.
Trong tháng 12/2013, dự án đã trình diễn và giới thiệu các chức năng cơ bản của phần mềm quản lý đất lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn. Phần mềm được lập trình trên mã nguồn mở, sử dụng công nghệ bản đồ (Google map API) cho phép các cơ quan, đơn vị và người dân có thể dễ dàng tra cứu, tìm kiếm thông tin đất lâm nghiệp theo nhu cầu.
Khi sử dụng phần mềm này, người dùng có thể tra cứu bản đồ lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chi tiết đến từng lô (thửa) với đầy đủ các thông tin huyện, xã, tiểu khu, số khoảnh, số lô, loại rừng, diện tích, trạng thái, cấp phòng hộ, đơn vị quản lý. Phần mềm cho phép người dùng thay đổi, cập nhật, chỉnh sửa các thông tin theo biến động thực tế. Chức năng này sẽ được thực hiện tùy thuộc theo việc thực hiện phân quyền cho các nhóm người sử dụng. Để thuận tiện cho việc sử dụng, phần mềm đã thiết kế chức năng trợ giúp với các thông tin hỗ trợ, hướng dẫn chi tiết các thao tác tra cứu bản đồ, trích lục thông tin, cập nhật dữ liệu, thống kê…
Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm- Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn cho biết, phạm vi ứng dụng sẽ rộng rãi từ tỉnh đến cấp xã và người dân quan tâm. Tuy nhiên, muốn để ứng dụng này phát huy hiệu quả thì sau khi bàn giao, đơn vị quản lý ứng dụng phải thường xuyên cập nhật kịp thời biến động đất lâm nghiệp.
Trong thời gian tới, cơ quan chủ trì sẽ tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện phần mềm, bổ sung một số tính năng mới để đáp ứng yêu cầu quản lý của cả ngành Lâm nghiệp và Tài nguyên - Môi trường, đồng thời cập nhật cơ sở dữ liệu mới nhất để đảm bảo tính chính xác, thuận tiện. (Báo Bắc Kạn 256/12) đầu trang(
Trong thời điểm cuối năm 2013 này, tại các xã Mỹ Trinh, Mỹ Hiệp, Mỹ Lộc, Mỹ Chánh, Mỹ Đức của huyện Phù Mỹ, bà con nông dân râm ran chuyện trồng rừng WB3, chuyện giá gỗ nguyên liệu giấy tăng cao.
Nhiều hộ trồng rừng WB3 ở Mỹ Lộc thu hoạch cây nguyên liệu giấy vào thời điểm này rất phấn khởi vì giá gỗ nguyên liệu giấy tăng hơn cùng kỳ năm trước đến 300 - 400 ngàn đồng/tấn. Hộ ông Lương Văn Sáu, ở thôn Vạn Định, bán 4 ha, thu hơn 230 triệu đồng; hộ ông Trần Văn Mạnh, ở thôn Cửu Thành bán 2 ha, thu 135 triệu đồng; hộ ông Trần Văn Sơn, cũng ở Cửu Thành, bán 4 ha, thu 245 triệu đồng. Nhất là hộ ông Nguyễn Ngọc Hoài, ở thôn An Tường, bán hơn 2 ha, thu về trên 200 triệu đồng, trừ chi phí đầu tư, còn lãi không dưới 120 triệu đồng.
Ông Đặng Thanh Long, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Lộc, cho biết: Trồng rừng theo Dự án WB3 được hưởng nhiều ưu ái của Nhà nước, lại cho thu nhập cao, nhờ đó hàng trăm hộ trồng rừng WB3 ở địa phương tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, góp phần làm cho bộ mặt nông thôn Mỹ Lộc thêm phần khởi sắc.
Giờ đã cuối năm, hoạt động khai thác rừng WB3 ở Phù Mỹ đã cơ bản kết thúc, nhưng bà con có rừng “đến tuổi” vẫn tiếp tục khai thác vì giá bán hiện tăng cao, bình quân 80 - 90 triệu đồng/ha.
Theo ông Ngô Đình Ba - Trưởng phòng NN-PTNT kiêm Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án WB3 huyện Phù Mỹ: Người trồng rừng được hưởng các chế độ ưu đãi, như được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thiết kế trồng rừng, tập huấn về kỹ thuật lâm sinh, được vay vốn trồng và chăm sóc rừng với lãi suất thấp, tiếp cận cây giống đúng tiêu chuẩn.
Nhờ vậy, bà con yên tâm, phấn khởi đầu tư trồng rừng và tích cực chăm sóc rừng trồng, nên tỉ lệ cây sống cao, sinh trưởng, phát triển tốt. Trong khi đó, nhu cầu và giá gỗ không ngừng tăng, có thời điểm tăng cao, hiệu quả từ rừng WB3 ở Phù Mỹ không phải bây giờ mà trong mấy năm qua luôn được khẳng định.
Cũng theo ông Ngô Đình Ba, qua 9 năm thực hiện Dự án rừng WB3 (từ năm 2005) đến nay, huyện Phù Mỹ đã trồng được 1.497 ha rừng, chủ yếu là cây keo lai, bạch đàn. Nhờ trồng rừng có hiệu quả, 1.235 hộ tham gia trồng rừng thuộc 6 xã trên địa bàn huyện có thu nhập khá, cuộc sống được cải thiện một bước. Ngoài ra, Dự án còn tạo điều kiện giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho hàng ngàn lao động, chưa kể lợi ích từ nâng cao tỉ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường, điều hòa nguồn nước… do Dự án trồng rừng WB3 mang lại. (Báo Bình Định 24/12) đầu trang(
Trước đây, cây tràm chiếm vị trí độc tôn ở rừng U Minh Hạ. Đến thời điểm 2008 - 2009, nông dân không còn mặn mà với loại cây này do năng suất và giá trị sinh lời thấp. Trước thực trạng đó, Bộ NN&PTNT đã cho trồng và khai thác cây keo lai, với ưu điểm dễ trồng, mau lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao mở ra hướng làm giàu mới cho dân.
Rừng tràm U Minh Hạ, Cà Mau có tổng diện tích khoảng 56.000ha, trong đó đất có rừng là 36.500ha nằm trên địa bàn 3 huyện là U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình. Ngoài diện tích 8.500ha rừng đặc dụng ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ quy hoạch nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, còn lại là rừng sản xuất, phát triển kinh tế, cân bằng hệ sinh thái, ổn định môi trường.
Hơn 20 năm trôi qua, kể từ ngày cư dân đặt chân lên vùng rừng U Minh Hạ theo chủ trương xã hội hóa nghề rừng, 5.000 hộ dân nhận khoán trên lâm phần này phấn khởi trước những đổi thay về hạ tầng nông thôn nhưng vẫn còn băn khoăn về giá và đầu ra sản phẩm.
Giám đốc Sở NN và PTNT Lê Văn Sử nhận định: xuất phát điểm của dân thuộc lâm phần U Minh Hạ khó khăn, khi vào nhận khoán, tuy có trong tay mấy hécta đất nhưng không đủ vốn để cải tạo, đầu tư kỹ thuật canh tác hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác quản lý chưa nghiêm ngặt nên chuyện tự ý nhượng lại thành quả lao động hay nhận đất không đúng đối tượng khó tránh khỏi.
Nhiều chủ trương, chính sách của Chính phủ và tỉnh đã tháo gỡ được phần nào khó khăn cho nông dân nhưng thực tế, phần lớn người dân thuộc đối tượng nghèo không đủ vốn, điều kiện và trình độ kỹ thuật cải hóa vùng đất nghèo. Nguồn NSNN cũng không bảo đảm cho các đơn vị quốc doanh đầu tư phát triển kinh tế rừng. Vị trí độc tôn của cây tràm đến thời điểm những năm 2008 - 2009 không còn nữa do lợi ích kinh tế thấp, thị trường không ổn định, đầu ra bấp bênh.
Mặt khác, quy định hạn mức diện tích khai thác trong năm làm hạn chế việc khai thác tràm của người dân khi đến chu kỳ. Đến khi được phép khai thác thì cây không còn phù hợp với nhu cầu xây dựng, giá thành xuống thấp, sản phẩm gỗ ứ đọng. Thực trạng đời sống trên lâm phần gặp rất nhiều khó khăn, không có khả năng đầu tư sản xuất kinh doanh, hiệu quả khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp thấp. Nông dân không còn mặn mà với cây tràm, có lúc toàn lâm phần U Minh Hạ có đến hơn 3.000ha bỏ hoang hóa.
Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ Trần Văn Hiếu cho biết: đây là khó khăn và cũng là bức xúc lớn của người dân. Chúng tôi đã lập kế hoạch đến năm 2022 bình ổn thị trường khai thác, trong đó ưu tiên giải quyết phần lớn các hộ còn diện tích tràm chưa khai thác khi đến tuổi vài năm trước.
Để rừng có giá trị kinh tế, ngay từ năm 2009, Bộ NN và PTNT đồng ý cho trồng và khai thác cây keo lai trên vùng rừng sản xuất ở U Minh Hạ. Đây được coi là giải pháp đột phá để phát triển kinh tế rừng. Với nhiều ưu điểm dễ trồng, mau lớn nên hiệu quả kinh tế từ trồng keo lai mang lại cao hơn so với cây tràm. Ước tính trung bình mỗi hécta keo lai độ 5 năm tuổi giá bán trọn gói từ 180 - 200 triệu đồng.
Trong khi cùng diện tích đó, cây tràm phải mất thời gian gấp đôi và giá trị chỉ bằng 1/3 keo lai. Hơn nữa, keo lai cũng là loài cây sinh trưởng tốt, gỗ làm nguyên liệu cho nhà máy sản xuất giấy, hàng mỹ nghệ được thị trường ưa chuộng. Việc trồng cây keo lai là bước đột phá giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người làm nghề rừng. Đến nay, Cà Mau đã có khoảng 4.000ha keo lai.
Tuy nhiên, trên vùng đất rừng nghèo thuộc các ấp 17, 18, 19, 20, xã Nguyễn Phích và vùng rừng khu vực xã Khánh Bình Tây Bắc, người dân vẫn rất bức xúc. Nguyên nhân chủ yếu do không được kê liếp trồng keo lai như các vùng lân cận (do nhiều nguyên nhân khách quan), họ tự ý đưa nước mặn vào vùng sản xuất nông nghiệp, thậm chí vùng rừng để nuôi tôm khiến cây rừng kém phát triển, đời sống người dân đã khó càng khó thêm.
Theo Phó giám đốc Sở NN&PTNT Trần Văn Thức: vừa qua, tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra tại các khu vực người dân tự ý phá vỡ quy hoạch. Sở sẽ kiến nghị có giải pháp cơ bản nhất giúp vùng này ổn định hơn. Bên cạnh đó, việc tăng cường hiệu quả các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng rừng tránh ngập úng vào mùa trữ nước cũng hết sức cần thiết. Bởi thực tế nhiều năm qua, mỗi khi trữ nước mùa khô bảo vệ rừng thì vùng sản xuất lúa liền kề của người dân bị ngập úng.
Như vậy, những giải pháp gỡ khó cho rừng tràm đã sớm được quan tâm nhằm ưu tiên cho người dân hưởng lợi, bình ổn cuộc sống. “Hạn chế tình trạng trả nhiều chi phí sau khai thác, dân được hưởng lợi quá ít. Suy cho cùng, giải pháp đầu tư cho vùng rừng cốt lõi vẫn là nâng cao đời sống của dân, vực dậy vùng kinh tế rừng”- Giám đốc Sở NN&PTNT Lê Văn Sử nhấn mạnh. (Đại Biểu Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Nhà nghiên cứu côn trùng học Nguyễn Quang Thái (viện Vệ sinh phòng dịch quân đội – cục Quân y) đã phát hiện và vừa công bố một loài kẹp kìm mới – kẹp kìm bảo ngọc – trên tạp chí Zootaxa số 3741 (3): 377–384.
Loài Neolucanus baongocae rất gần với loài Neolucanus fuscus đã thu được mẫu ở vườn quốc gia Tam Đảo – Vĩnh Phúc. Nhưng khi so sánh với mẫu vật Neolucanus fuscus thì Neolucanus baongocae có một răng mập mọc lên trên hướng vào trong nằm ở chính giữa hàm trên. Đây cũng là đặc điểm quan trọng phân biệt loài này với các loài còn lại.
Loài mới Neolucanus baongocae được phát hiện ở khu vực rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới, độ cao 1.600m thuộc vườn quốc gia Biđoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng giữa tháng 5.2013. (Sài Gòn Tiếp Thị 25/12) đầu trang(
Ngày 24-12, Bộ NN&PTnT vừa có văn bản chỉ đạo tìm giải pháp để hạn chế xung đột giữa đàn voi rừng với người, nhất là vùng rừng Ia Rvê, Ya Tmốt, Cư Kbang (huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk); Ea Pô, Dak Win (huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông).
Cơ quan này yêu cầu chính quyền các địa phương sớm xóa bỏ những vùng canh tác trái phép nằm trong vùng di chuyển, sinh sống của đàn voi; quy hoạch rõ ràng ranh giới các khu vực sinh sống của đàn voi, trong đó chú trọng đến việc tái tạo lại rừng để đảm bảo điều kiện sống cho đàn voi.
Trong thời gian qua, tại hai tỉnh Đắk Lắk và Đăk Nông, đã xảy ra bảy vụ xung đột giữa đàn voi rừng và người, khiến đời sống sinh hoạt, sản xuất của hàng trăm hộ dân bị đảo lộn.
Theo Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk Huỳnh Trung Luân, sau nhiều đêm tổ chức xua đuổi đàn voi ở huyện Ea Súp (Đắk Lắk) hiện đã rời khỏi khu vực rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cư M’lanh. Song cũng theo ông Luân, đàn voi rừng hơn 20 con đã vào khu vực nói trên để tìm kiếm thức ăn, dù bị xua đuổi voi về lại rừng nhưng đàn voi rất lì lợm, chỉ mới tạm thời “trở lại” với rừng. “Khu vực nói trên trồng nhiều loại cây mà voi ưa thích nên rất có thể trong vài ngày tới, chúng sẽ tiếp tục quay lại” - ông Luân cho biết thêm như vậy.
Lãnh đạo Phòng NN&PTNT huyện Ea Súp (Đắk Lắk) cho biết, tổng cộng trong hai đợt xuất hiện, voi rừng đã phá nát gần 20 ha cây trồng của người dân. Ông Nguyễn Minh Khôi, ở thị trấn Ea Súp nói thêm: chúng tôi ở đây gần 20 năm nhưng chưa bao giờ thấy voi rừng về phá như năm nay. Voi đã phá nát hơn hai sào lúa của tôi; còn lại một ít, đợt này chúng lại phá tiếp.
Nông dân Lê Thị Thêm ở thị trấn Ea Súp có 10 ha đất trồng sắn và cao-su. Khi nghe tin đàn voi đến phá hoại cây trồng, bà Thêm thăm rẫy thì thấy vườn sắn, vườn cao-su gần ba năm tuổi đã bị đàn voi phá tan hoang. Bà Thêm cho biết: Voi rừng về lần này là lần thứ hai. Lần này voi phá hết cao-su, nhổ hết sắn. Chỉ mong chính quyền có cách nào mang voi về khu bảo tồn để vừa lợi cho nước, vừa lợi cho dân.
Đàn voi rừng nói trên tiếp tục phá hại cây trồng của người dân xã Đắk Drông, huyện Cư Jút (tỉnh Đăk Nông).Theo người dân địa phương, hơn một tháng nay, đêm nào voi rừng cũng vào khu vực canh tác của người dân để tìm kiếm thức ăn. Chủ tịch UBND xã Đắk Drông Trần Văn Thành bộc bạch: Voi rừng đã phá có hai căn nhà, bảy chòi rẫy và hàng chục ha cây trồng của người dân. Chính quyền địa phương tổ chức lực lượng phối hợp với người dân xua đuổi nhưng không hiệu quả.
Trưởng phòng Bảo tồn voi hoang dã, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk Đỗ Viết Thụ đánh giá, nguyên nhân dẫn đến tình trạng voi rừng về phá hại hoa màu là do môi trường sống của voi rừng ngày càng bị thu hẹp. Rừng bị tàn phá khốc liệt đã khiến nguồn thức ăn của voi cạn kiệt. Không có thức ăn, voi rừng kéo về rẫy để kiếm ăn ngày càng tăng.
Theo các chuyên gia bảo tồn voi ở Tây Nguyên cảnh báo, người dân rất bức xúc khi bị voi rừng làm xáo trộn cuộc sống và sản xuất nên người dân sẽ làm tổn hại đến đàn voi. Và đàn voi sẽ hung dữ thêm, người đi rừng sẽ gặp nguy hiểm khi gặp voi rừng. Có trường hợp, một hộ dân ở xã Đắk Drông, huyện Cư Jút đã làm sáu tấm chông rồi phủ lên một lớp lá đặt tại vị trí voi rừng thường đi lại. Rất may, voi đã phát hiện dùng vòi bới, vứt những tấm chông nên không sa bẫy, nếu không hậu quả sẽ khó lường.
Hiện Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk đang phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và không xâm hại đến đàn voi rừng, voi rừng có thể tiếp tục phá hoại cây trồng, người dân cũng chỉ dùng các biện pháp để xua đuổi.
Để giải quyết vấn đề này, các địa phương cần có những quy hoạch cụ thể khu vực sinh cảnh của voi. Việc giao hàng chục ngàn ha rừng để trồng cao-su đã làm cho vùng sinh sống của voi rừng thu hẹp buộc voi rừng phải mở rộng khu vực để tìm kiếm thức ăn. Cho nên sự chỉ đạo của Bộ NN&PTNT là cần thiết và cấp bách. (Nhân Dân 24/12) đầu trang(
Thừa Thiên Huế là một trong những tỉnh đi đầu trong cả nước về giao rừng tự nhiên cho cộng đồng từ năm 2000. Đầu tiên là thôn Thủy Yên Thượng, xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc sau đó lần lượt là các địa phương trên địa bàn tỉnh. Sau hơn 10 năm triển khai công tác giao đất giao rừng cho cộng đồng, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn nhiều bất cập ...
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm TT Huế, tính đến năm 2011, toàn tỉnh đã giao được 11.240 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý và bảo vệ. Việc giao rừng tự nhiên cho cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý bảo vệ và hưởng lợi là một chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Trong đó, kết quả nổi bật sau khi rừng được giao cho cộng đồng là công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng (BVR-PCCCR) tốt hơn. Ý thức quản lý BVR của cộng đồng cư dân, hộ gia đình được nâng cao. Tuy nhiên về tiến trình thủ tục, các văn bản pháp lý, chính sách hưởng lợi và tổ chức thực hiện, cơ chế giám sát chưa được thống nhất.
Ông Cao Minh Châu, cán bộ kiểm lâm địa bàn, Hạt Kiểm lâm Phú Lộc đưa ra những dẫn chứng cụ thể: Ở Phú Lộc-một trong những địa phương đầu tiên thực hiện công tác giao rừng cho cộng đồng đã bộc lộ rõ những bất cập này. Phần lớn diện tích rừng được giao cho cộng đồng quản lý là rừng nghèo, yếu tố hưởng lợi còn nhiều bất cập. Thiếu các giải pháp ngắn, trung hạn để hỗ trợ người dân trong thời gian đầu khi thu nhập từ rừng được giao, chưa đáp ứng các khoản chi trả cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng.
Tại Hội thảo thực trạng giao đất giao rừng theo thông tư 38 của Bộ NN&PTNT và thông tư Liên tịch 07 giữa Bộ NN&PTNT và Bộ TNMT tại một số tỉnh miền Trung vừa được Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung tổ chức cho thấy, đến nay toàn quốc đã có 11,67 triệu ha rừng và đất rừng được giao trên toàn quốc, chiếm 71,87 tổng diện tích rừng của Việt Nam.
Riêng tại 4 tỉnh: Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Bình và Hà Tĩnh phần lớn rừng đang được giao cho các tổ chức quản lý. Rừng giao cho hộ gia đình quản lý chiếm tỷ lệ khá thấp, diện tích này ở các tỉnh Quảng Bình(20,1%) Thừa Thiên Huế (15,6%),Quảng Nam(13,77%)và thấp nhất là Hà Tĩnh((8,5%).
Điều đáng nói là còn trên 338 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp đang được các UBND xã tạm thời quản lý. Diện tích rừng giao cho hộ gia đình và cộng đồng đa số là rừng nghèo kiệt, một số trường hợp giao rừng mang tính hình thức, chỉ giao trên giấy tờ, chủ rừng chưa xác định được ranh giới cụ thể, diện tích, hiện trạng trên bản đồ và thực địa, hồ sơ giao đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) còn chậm hoặc không được thực hiện…
Ông Nguyễn Văn Tám, Phân viện Quy hoạch rừng Trung Trung Bộ cho hay: Công tác giao đất giao rừng(GĐGR)vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: công tác giao rừng vẫn chưa gắn liền với giao đất, rừng chưa được giao một cách thực sự, hồ sơ giao rừng còn sơ sài. Ngoài ra, tiến độ thực hiện nói chung còn chậm so với mốc thời gian hoàn thành được Chính phủ đặt ra.
Trên thực tế, một số trường hợp giao rừng rất hình thức, chỉ giao trên giấy tờ, chủ rừng chưa xác định được ranh giới cụ thể. Ví dụ rừng tự nhiên giao rừng cho cộng đồng ở huyện Tây Giang năm 2003-2005, rừng tự nhiên giao cho nhóm hộ và gia đình ở huyện miền núi Nam Đông, (tỉnh Thừa Thiên Huế) các trường hợp này sai lệch giữa hồ sơ và thực tế. Nhiều chủ rừng chưa biết được rõ ràng ranh giới của rừng được giao.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng còn chậm hoặc không được thực hiện. Nhiều trường hợp rừng phòng hộ được giao chưa phù hợp với đối tượng nhận rừng đơn cử như giao rừng phòng hộ cho tổ chức kinh tế (ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh) hoặc giao rừng sản xuất cho ban quản lý rừng phòng hộ (BQL Khu bảo tồn Kẻ Gỗ, Ngàn Sâu) dẫn đến việc chủ rừng gặp khó khăn khi quản lý các diện tích không đúng với chức năng nhiệm vụ.
Theo PGS-TS Hoàng Mạnh Quân, GĐ Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung, giao đất giao rừng là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm giúp người dân xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, để sớm giải quyết những vấn đề này các Bộ, ngành liên quan cần phối hợp chặt chẽ và có những giải pháp cụ thể, các thông tư cần quy định cụ thể hơn về cơ chế tham gia trong giao đất giao rừng, đặc biệt là sự tham gia của người dân vì họ là chủ thể cần biết rõ đặc điểm khu rừng, vị trí và ranh giới.
Cùng quan điểm trên, đại diện Trung tâm Phát triển Nông thôn miền Trung cũng cho rằng các ngành nên thống nhất quan điểm “giao rừng gắn liền với giao đất,” hoặc là “giao đất gắn liền với giao rừng.” giữa ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn với ngành tài nguyên và môi trường trong việc sử dụng bản đồ để lập hồ sơ giao đất giao rừng. (Đài PT - TH Thừa Thiên Huế 25/12) đầu trang(
Theo báo cáo, năm 2012 Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau bị tàn phá nặng nề nhưng 7 cá nhân lại được UBND tỉnh tặng bằng khen vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ!
Vừa qua, Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau có báo cáo về việc kiểm tra xử lý vi phạm bảo vệ và phát triển rừng tại VQG Mũi Cà Mau. Theo đó, UBND tỉnh giao VQG quản lý hơn 41.000ha; trong đó trên đất liền 15.262ha, khu bảo tồn thiên nhiên 26.600 ha. Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có 87 cán bộ nhân viên được phân công bảo vệ rừng gồm 2 tổ kiểm tra cơ động và 7 trạm kiểm lâm. Bình quân, mỗi trạm quản lý gần 3 ha rừng.
Tuy nhiên, năm 2013 Ban lãnh đạo VQG không xây dựng kế hoạch bảo vệ để triển khai cho các trạm thực hiện, chỉ đến khi xảy ra tình hình phức tạp mới đề nghị cơ quan chức năng và chính quyền địa phương hỗ trợ. Qua làm việc với các trạm kiểm lâm, tổ công tác phát hiện còn nhiều hạn chế: cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng, trang bị thô sơ, cuộc sống của cán bộ nhân viên gặp khó khăn, bản đồ hiện trạng rừng chưa có kinh phí làm lại, 26 rào cản bố trí tại đầu các kinh, rạch ra vào lâm phần đã xuống cấp.
Mặc dù vậy VQG có một văn phòng đại diện khang trang tại TP.Cà Mau để ban lãnh đạo làm việc; còn trụ sở chính ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển chủ yếu dành cho cán bộ kiểm lâm và các phòng nghiệp vụ.
Do yếu về chuyên môn, thiếu nhân lực, lãnh đạo VQG ở tận TP.Cà Mau nên từ đầu năm 2013 đến nay nhiều lâm phần bị khai thác trái phép gây thiệt hại lớn. Mặc dù kiểm lâm các trạm đã tăng cường kiểm tra nhưng không thể ngăn chặn nổi. Thế nhưng, lãnh đạo VQG Mũi Cà Mau lại không báo cáo cơ quan chức năng để phối hợp xử lý.
Khi tổ công tác kiểm tra ngẫu nhiên một số điểm tại ba phân khu thuộc VQG Mũi Cà Mau, ở Trạm kiểm lâm Cồn Cát có hai địa điểm bị khai thác với diện tích rừng ảnh hưởng 8,7ha, thiệt hại 968m3 gỗ đước; khu vực Trạm kiểm lâm Cái Đôi và Cái Mòi quản lý có hai địa điểm bị khai phá, thiệt hại gần 8ha rừng; hai trạm Kinh Năm, Rạch Mũi thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt có 2ha rừng bị chặt phá. Tổ kiểm tra kết hợp chính quyền địa phương phá hủy 155 lò than, tháo dỡ 9 chòi cất trái phép, bắt và tạm giữ 5 phương tiện khai thác trái phép; đình chỉ hoạt động 3 cơ sở...
Điều ngạc nhiên là lãnh đạo VQG Mũi Cà Mau không chấp hành ý kiến chỉ đạo của Chi cục Kiểm lâm. Tháng 6-2013, chi cục kiểm tra thực tế tại trạm Cồn Cát, phát hiện rừng bị khai thác trái phép gây thiệt hại 49m3 gỗ. Ngày 18-6-2013, chi cục đề nghị Giám đốc VQG cho phép hạt kiểm lâm khởi tố vụ án hình sự nhưng không được chấp thuận. Một tháng sau, khu vực này tiếp tục xảy ra tình trạng phá rừng, thiệt hại gần 1.000m3 gỗ đước!
Ngoài ra, Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng thi đua khen thưởng thuộc VQG Mũi Cà Mau rút kinh nghiệm về việc năm 2012 VQG bị tàn phá nặng nề nhưng ngày 25-2-2013 lãnh đạo đơn vị lại đề xuất UBND tỉnh Cà Mau tặng bằng khen cho các cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ? Trong bảy cá nhân có hai Phó hạt trưởng là Trần Thanh Kha và Trần Văn Mến...
Ngày 3-6-2013, Chủ tịch UBND tỉnh đã tặng bằng khen cho 2 tập thể và 7 cá nhân. Sở cho rằng việc này không hợp lý. Hiện Công an huyện Ngọc Hiển đang làm rõ các cán bộ có liên quan. (Công an TPHCM 24/12) đầu trang(
“Dư luận nhân dân cán bộ vô cùng bất bình vì sự thiếu công tâm, thiếu công bằng, thiếu nhân tâm và những nhiều quan liêu của Hạt trưởng hạt kiểm lâm Nguyễn An Ninh...”
Đó là nội dung của một trong nhiều lá đơn mà chủ các doanh nghiệp gửi Ban thanh tra Chi cục kiểm lâm Nghệ An để khiếu kiện tố cáo ông Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Diễn Châu.
Ông Nguyễn An Ninh chuyển về công tác tại Hạt kiểm lâm Diễn Châu vào tháng 9 năm 2012. Dù thời gian chưa lâu nhưng từ ngày ông Ninh về nhận nhiệm vụ Hạt trưởng hạt kiểm lâm tại huyện này đã gây dư luận không tốt trong giới kinh doanh, buôn bán lâm sản cũng như gây nhiều bất bình trong dư luận người dân.
Cụ thể, vừa qua đã có hai doanh nghiệp đã đứng đơn tố cáo (có đóng dấu Công ty) ông Hạt trưởng Nguyễn An Ninh. Đó là, Công ty TNHH Kinh doanh XNK Lâm sản Tám Oanh (xã Diễn Thịnh) và Công ty Trình Độ (xã Diễn Xuân).
Ngoài ra còn có 06 cá nhân ở xã Diễn Mỹ hoạt động trong nghề kinh doanh lâm sản viết đơn tố cáo ông Ninh. Đó là ông Phạm Anh Dũng; Hoàn Tùng; Hoàng Như Nhiêm; Đinh Thị Lan; Đinh Thị Hoa; Nguyễn Thị Sáu. Tất cả những đơn từ này đều tố cáo ông Hạt trưởng hạt kiểm lâm hyện Diễn Châu – Nguyễn An Ninh sách nhiều, gây phiền hà; vòi vĩnh tiền bồi dưỡng...
Trong “Đơn khiếu kiện – tố cáo” (Đơn gửi lần 4), ngày 21/11/2013 của 6 cá nhân tại xã Diễm Mỹ có đoạn viết: “...Ông Ninh khoe bạn bè, anh em làm to trong ngành công an...Chúng tôi thấy hành động, tư cách không xứng đáng chân dung của hạt trưởng. Đây là hành động cố tình làm sai lệch vụ việc, bao che, bảo kê vi phạm pháp luật...Chúng tôi cảm nhận ông Ninh quan liêu, vòi vĩnh đòi tiền, cư xử “tiền hậu bất nhất”, coi thường nhân dân và dư luận xã hội. Nếu như tình trạng này kéo dài tất sẽ sinh kiện, kiện cáo, tố cáo kéo dài lên các cấp trên...”.
“Lần đầu tiên ra ký xác nhận là tôi tự nguyện đưa tiền bồi dưỡng. Lần hai lần ba cũng thế, cứ mỗi lần ký là đưa 1 triệu đến 1,5 triệu đồng nhưng sau đó tôi đưa cho kế toàn đi ký thì anh Ninh Hạt trưởng đòi cộng tổng khối lượng lại với mục đích đòi thêm tiền. Khi cộng lại khối lượng, anh Ninh nói là khối lượng thế này mà ít tiền thế à?
Trong khi đó, phong bì tôi đã bỏ 2 đến 2,5 triệu đồng...lần nào ra ký chúng tôi đều có tiền bồi dưỡng, khi đưa phong bì cho anh Ninh, anh Ninh đã bóc trươc mặt chúng tôi và chê ít tiền...” – Đơn của bà Hoàng Thị Oanh người đại diện cho Công ty TNHH KD XNK Lâm sản Tám Oanh viết.
Sau khi nhận được đơn của các cá nhân, đơn vị. Chi cục kiểm lâm Nghệ An đã tiến hành thành lập đoàn thanh, kiểm tra những nội dung trong đơn tố cáo. Sau một thời gian làm việc, vừa qua, Chi cục kiểm lâm đã có kết luận thanh tra với nhiều nội dung tố cáo đúng sự thật.
Thứ nhất, việc ông Ninh gây ách nhiễu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp là có. Thứ hai, tiến hành truy thu 12,8 triệu đồng tiền “bồi dưỡng” mà ông Ninh đã nhận của các cá nhân, doanh nghiệp trên địa bàn nộp vào kho bạc Nhà nước (ngày 18/12, ông Nguyễn An Ninh đã mang số tiền này nộp vào kho bạc Nhà nước huyện Diễn Châu).
Thứ ba, việc ông Ninh tự ý phô tô, in ấn biên bản kiểm tra nội bộ không thuộc vào quản lý nhà nước (Chi cục đã thu giữ về 4 quyển). Ngoài ra, còn có nội dung dù về nhà dưới TP Vinh nhưng vẫn yêu cầu doanh nghiệp đến để xác nhận giấy tờ liên quan đến lâm sản (14 lần, trong đó, 8 lần ở nhà ông Ninh tại số 15, đường Nguyễn Thái Học, TP Vinh; 6 lần ở cơ quan, 01 lần do Hạt phó xác nhận).
Còn nội dung trong đơn tố cáo của Công ty TNHH KD XNK lâm sản Tám Oanh chưa xác minh được là ông Ninh yêu cầu phải đưa 50 nghìn đồng/1m3 gỗ và 2 triệu đến 2,5 triệu trên 1 lần xác nhận chưa có cơ sở xác minh.
Căn cứ vào kết luận thanh tra, vào ngày 20/12/2013, Chi cục kiểm lâm đã tiến hành họp kiểm điểm đối với ông Nguyễn An Ninh tại trụ sở Hạt kiểm lâm Diễn Châu. Trong số 11 phiếu thì có 04 phiếu buộc thôi việc, 01 phiếu cách chức, 1 phiếu giáng chức, 04 phiếu cảnh cáo, 01 phiếu hạ bậc lương.
Hiện nay, Đảng ta đang tăng cường thực hiện kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4; hơn nữa, toàn thể CBCCVC toàn lực lượng kiểm lâm đang tiếp tục thực hiện Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 3714/CT-BNN-TCLN của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về tăng cường chấn chỉnh hoạt động của lực lượng Kiểm lâm. Thế nhưng, ông Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Diễn Châu – Nguyễn An Ninh lại ngang nhiên vi phạm kỷ luật ngành(?).
Chiều ngày 19/12/2013, PV đã liên hệ làm việc với ông Trần Ngọc Chính – Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Nghệ An. Thế nhưng, vị này từ chối cung cấp thông tin với lý do việc cung cấp thông tin cho báo chí thuộc thẩm quyền của Chi cục trưởng!.
Liên hệ qua điện thoại, ông Lê Cao Bính – Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Nghệ An, cho hay: “Đây là việc nội bộ của Chi cục; chúng tôi đã và đang xử lý, không có chi mô. Đó là việc thường xuyên của Chi cục chúng tôi, đây là vấn đề chấn chỉnh lực lượng của ngành chúng tôi. Hôm sau sẽ có hội đồng xử lý kỷ luật chứ lo chi chú? Chú cứ yên tâm đi!”?!. (Tài Nguyên&Môi Trường 24/12) đầu trang(
Tối 23-12, CAH Thanh Trì (Hà Nội)làm nhiệm vụ tại khu vực đường Pháp Vân - Cầu Giẽ, Hà Nội phát hiện xe ô tô tải BKS: 49X-8665 dừng đỗ bên đường đang chuẩn bị dỡ hàng, có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Tổ công tác nhận thấy trong thùng xe phủ đầy nấm và mộc nhĩ.
Tuy nhiên, khi dỡ lớp phủ bên trên và quanh thành xe, các chiến sỹ Công an phát hiện một khối lượng lớn gỗ trắc, gỗ hương và gỗ cẩm lai ước tính hàng tỷ đồng được giấu bên trong. Đây là những loại gỗ thuộc nhóm 2A (nhóm gỗ quý bị cấm khai thác, buôn bán, vận chuyển).
Lái xe ô tô là Hồng Mạnh Hải (SN 1972), trú ở Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng khai, được 1 chủ hàng (không rõ địa chỉ) thuê chở trên 10m3 gỗ trên từ Lâm Đồng ra Hà Nội để tiêu thụ, chưa kịp giao cho khách hàng thì bị cơ quan Công an phát hiện. CAH Thanh Trì đã lập biên bản, tạm giữ số gỗ trên, tiếp tục điều tra để làm rõ đối tượng liên quan. (An Ninh Thủ Đô 25/12) đầu trang(
Ngày 24/12, Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên đã mở phiên toà xét xử các bị cáo trong vụ mua bán trái phép hơn 136 m3 gỗ quý, gồm: Lê Văn Ứng (trú tại tỉnh Điện Biên); Vũ Hùng Khuy (trú tại tỉnh Hải Dương); Phạm Văn Hoàng (trú tại tỉnh Hà Giang).
Đáng chú ý, đứng trước vành móng ngựa còn có Bạc Cầm Phong (sinh năm 1971, trú tại thị trấn Tuần Giáo) nguyên là quyền Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo và Phạm Ngọc Họa (sinh năm 1974, trú tại phường Thanh Trường, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên) nguyên là Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên).
Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên: Trong khoảng thời gian cuối năm 2012 đến đầu năm 2013, Lê Văn Ứng đã có hành vi mua bán 22.150 chiếc thớt và 75 hộp gỗ nghiến với khối lượng tương đương 136,32 m3 không có thủ tục giấy tờ theo quy định. Sau đó, Ứng bán cho Vũ Hùng Khuy 15.958 chiếc thớt gỗ nghiến có khối lượng tương đương 97,851 m3.
Ngoài ra, Lê Văn Ứng còn mua bộ hồ sơ lâm sản gỗ nghiến có nguồn gốc phát mại tại tỉnh Hà Giang của Phạm Văn Hoàng với giá 70 triệu đồng để hợp thức hóa số lượng thớt gỗ nghiến Ứng đã mua...
Lợi dụng quyền hạn, Bạc Cầm Phong đã xác nhận 3.990 chiếc thớt gỗ nghiến và Phạm Ngọc Họa cũng xác nhận 8.894 chiếc thớt gỗ nghiến để hợp thức hoá cho Ứng mang đi tiêu thụ. Hai đối tượng Phong và Họa đã nhận 45 triệu đồng của Ứng để chia nhau.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về khai thác, bảo vệ, quản lý rừng và xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước. Với mức độ vi phạm pháp luật nghiêm trọng của các bị cáo, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tuyên phạt: Lê Văn Ứng, 30 tháng tù giam; Vũ Hùng Khuy, 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Bạc Cầm Phong, 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Phạm Ngọc Họa, 6 tháng 27 ngày tù giam (tương ứng thời gian bị tạm giam); Phạm Văn Hoàng, 3 tháng tù giam.
Hội đồng xét xử cũng tuyên bố tịch thu sung công quỹ Nhà nước 52 triệu đồng cùng 6.665 thớt gỗ và 75 hộp gỗ nghiến là tang vật vụ án. (Tin Tức 25/12) đầu trang(
Ngày 24/12, đoàn cơ quan chức năng gồm Chi cục Kiểm lâm Bình Dương, đại diện phía Nam của Cơ quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Cơ quan đại diện Cites phía Nam) cùng nhiều cán bộ liên quan đã tiến hành kiểm tra khu chuồng trại nuôi nhốt voi tại Công ty Cổ phần Đại Nam, sau khi xảy ra vụ voi quật chết người trông coi là anh Đoàn Hữu Tài (sinh năm 1985).
Ông Thái Truyền, Trưởng Cơ quan đại diện Cites phía Nam, cho biết sau khi tiến hành kiểm tra khu nuôi nhốt voi tại Khu du lịch Đại Nam, Cites đánh giá chuồng trại nuôi nhốt voi của Đại Nam an toàn. Tuy nhiên, theo ông Truyền, về bản chất voi vẫn tồn tại bản năng của động vật hoang dã, do đó không thể chủ quan.
Theo ông Đỗ Văn Thu, trưởng phòng bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm Bình Dương, con voi thuộc Khu du lịch Đại Nam đang nuôi có nguồn gốc từ huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước và được một đơn vị bàn giao nuôi từ năm 2007 khi voi còn nhỏ. Con voi này đã được cấp phép nuôi và quản lý theo quy định.
Ông Thu khẳng định, việc nuôi nhốt động vật hoang dã ở Bình Dương đã được Cục Kiểm lâm Việt Nam cho phép 3 trại nuôi thí điểm gồm Khu du lịch Đại Nam, Khu du lịch Thanh Cảnh và Công ty Thái Bình Dương.
Làm việc với phóng viên tại Chi cục Kiểm lâm Bình Dương, ông Trần Văn Nguyên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Dương cho rằng, nước ta chưa có quy định về quy chuẩn chuồng nuôi nhốt động vật mà chỉ yêu cầu các chủ nuôi động vật hoang dã phải làm chuồng chắc chắn. Theo ông Nguyên, về cảm quan, chuồng nhốt voi ở Khu du lịch Đại Nam có trụ bê tông 30-37cm rất an toàn.
Vào thời điểm kiểm tra, vị trí nạn nhân chết nằm trong chuồng voi, chứ không phải voi chạy ra ngoài sân rồi quật chết. Vì vậy không thể kết luận chuồng voi của Khu du lịch Đại Nam không an toàn. Cũng có thể phỏng đoán, khi nạn nhân mang thùng sơn chui vào chuồng khiến voi bị dị ứng mùi sơn nên đã quật chết.
Theo trường trình sự việc của ông Nguyễn Tiến Thành, Phó Giám đốc Vườn bách thú Đại Nam, chiều 23/12, voi được nhốt vào chuồng có diện tích khoảng 80m2 (chuồng voi có trụ bêtông với đường kính 30-34cm với khoảng hở người đi qua lại được).
Khoảng 15 giờ cùng ngày, công nhân Đoàn Hữu Tài, 28 tuổi, người trông coi hai con voi mẹ và voi con từ năm 2008 đến nay đã lấy thùng sơn nước băng ngang qua chuồng nhốt voi để phụ công nhân của vườn bách thú đang sơn hàng rào ở phía trước sân chơi của voi. Khi chui vào chuồng, anh Tài bị con voi đực dùng vòi quấn lên rồi quất liên tiếp vào cột thành chuồng.
Thấy voi quật anh Tài, đồng nghiệp của anh tri hô thì voi thả anh Tài ra rơi xuống hồ nước. Nhân viên vườn bách thú Đại Nam lùa voi vào chuồng để giải cứu anh Tài, đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng anh đã không qua khỏi.
Công ty Đại Nam đã tổ chức hậu sự chu toàn cho anh Tài, đồng thời bước đầu hỗ trợ chi trả thêm 7 năm lương (tương đương 500 triệu đồng) cho gia đình anh Tài. (VietnamPlus.vn 24/12; Người Lao Động 25/12; Pháp Luật TPHCM 25/12; Nông Thôn Ngày Nay 25/12; Thanh Niên 25/12; An Ninh Thủ Đô 25/12) đầu trang(
Ngày 24.12, ông Trần Công Quang - công an xã Đắk La, (huyện Đắk Hà) cho biết đang tiến hành điều tra làm rõ vụ việc một cán bộ kiểm lâm chạy xe máy tông vào một bé trai 5 tuổi và kéo lê cháu bé này trên đoạn đường hàng trăm mét.
Chị Phùng Thị Tuyết Mai (25 tuổi) - mẹ cháu Nguyễn Phùng Hưng (5 tuổi), trú tại tổ 1B, xã Đắk La, (huyện Đắk Hà) cho biết, tối ngày 20.12, hai mẹ con đang đi trên đường Hồ Chí Minh, đoạn qua xã Đắk La thì bị một người có tên Hải chạy xe máy cùng chiều tông vào và kéo lê cháu Hưng đến tận nghĩa trang Kon Tum với đoạn đường dài hơn 400 mét thì mới dừng lại gỡ cháu Hưng mắc từ trong xe ra.
Vụ tai nạn khiến cháu Hưng bị tróc hết da đầu, gãy tay trái, giập phổi cùng nhiều vết trầy xước trên người. Để cứu tính mạng Hưng, gia đình phải chuyển cháu xuống Bệnh viện Chợ Rẫy (TPHCM) cấp cứu.
Chị Mai cho biết, khi thấy con bị chiếc xe máy kéo lê trên đường, chị la hét, hô hoán nhờ người đuổi theo đến đoạn đường hơn 400 mét thì ông Hải mới gỡ cháu Hưng ra.
Có mặt tại hiện trường, nhân viên quản lý nghĩa trang Kon Tum đã kịp bắt giữ ông Hải và thông báo cho Công an xã Đăk La đến tận nơi xảy ra tai nạn làm rõ vụ việc.
Theo ông Trần Công Quang - ông Hải hiện là cán bộ kiểm lâm của huyện Đắk Hà.
Vụ việc hiện đang được cơ quan chức năng điều tra và làm rõ. (Lao Động 25/12) đầu trang(
Cách đây 6-7 năm khi thời điểm giá cao su bắt đầu tăng cao, lợi nhuận kinh tế vươn lên hàng “ngôi vương” trong các loại cây trồng, thậm chí có lúc “vượt mặt” cả cây hồ tiêu-loại cây đã đưa không ít nông dân vùng Chư Sê lên hàng tỷ phú-thì cũng là lúc “cơn lốc” trồng cao su bắt đầu bùng lên. Hàng ngàn ha cao su được trồng mới mỗi năm đã minh chứng cho điều đó.
Thôn Đức Hưng (xã Ia Nan-huyện Đức Cơ) có hơn 200 hộ dân nhưng có tới vài chục hộ trồng cao su với tổng diện tích hơn 100 ha. Đây là một trong những vùng phát triển diện tích cao su tiểu điền mạnh của huyện biên giới Đức Cơ.
Nhà ông Hoàng Văn Thao là hộ có diện tích cao su tiểu điền lớn nhất thôn với 8 ha. Người em trai của ông là Hoàng Văn Ga cũng trồng được hơn 3 ha, còn lại mỗi nhà trồng khoảng 1-2 ha. “Bà con mới từ Hưng Yên vào đây lập nghiệp khoảng chục năm trở lại đây. Họ có ít nhiều vốn, lại chăm chỉ làm ăn. Thấy cao su được giá, dễ trồng và chăm sóc nên đua nhau trồng”-ông Đinh Mạnh Hùng-Chủ tịch UBND xã Ia Nan, chia sẻ.
Còn tại xã Ia Tôr, tuy chưa phải là địa phương có diện tích cây cao su phát triển mạnh ở huyện Chư Prông song khoảng chục năm trở lại đây, toàn xã đã có khoảng 200 ha cao su được trồng mới, trong đó nhiều hộ trồng cả chục ha, như: hộ gia đình ông Ngạn (xóm Mới, thôn 4) trồng 7 ha, gia đình bà Trần Thị Tâm (thôn 4-xã Ia Tôr) có tới 20 ha…
Theo số liệu thống kê của Phòng NN&PTNT huyện Đức Cơ, hiện nay, diện tích cao su tư nhân toàn huyện đạt gần 4.280 ha. Từ năm 2005 đến nay, khi giá cao su nhích dần lên cũng là lúc diện tích cây cao su trên địa bàn liên tục tăng mạnh, trong đó cao điểm nhất là vào giai đoạn 2008-2010 (trung bình mỗi năm tăng thêm khoảng 500 ha). Từ năm 2012 đến nay, do ảnh hưởng bởi giá cao su xuống thấp, diện tích trồng mới cao su đã dần quay về mức khoảng 200 ha/năm.
Còn tại huyện biên giới Chư Prông, cây cao su cũng là một trong những loại cây trồng có diện tích tăng chóng mặt, đặc biệt là khi có thêm trợ lực là dự án đa dạng hóa nông nghiệp, trong đó có hỗ trợ nông dân trồng và phát triển diện tích cây cao su. Theo thống kê của ngành chức năng, hiện nay toàn huyện Chư Prông có khoảng 34.100 ha cao su, trong đó có khoảng 1.300 ha cao su tiểu điền bước vào thời kỳ kinh doanh.
Đức Cơ, Chư Prông, Ia Grai, Chư Sê, Chư Pưh, Mang Yang… là những huyện có diện tích cao su tăng mạnh của tỉnh Gia Lai trong các năm qua. Được xác định là cây trồng chủ lực và chưa có nơi nào vượt diện tích quy hoạch, song hiện tại, với mức giá liên tục xuống thấp, hàng ngàn hộ nông dân trồng cao su trong tỉnh đang gặp khó khăn bởi cao su là cây đòi hỏi vốn đầu tư không hề thấp, thời kỳ kiến thiết cơ bản kéo dài nhiều năm (trung bình 6-7 năm).
Không phải ngẫu nhiên mà cây cao su lại trở nên “hot” với cánh nhà nông như thế. Lý do vô cùng đơn giản, giá sản phẩm cao đã khiến nhiều nông dân ồ ạt kéo nhau trồng cao su. Nhiều hộ không có vốn cũng ráng kiếm đường vay mượn, đầu tư vào “vàng trắng” với hy vọng đổi đời.
Tuy nhiên, dường như không mấy thuận lợi cho người trồng cao su khi nhiều diện tích trồng mới bước vào giai đoạn thu hoạch cũng là lúc chứng kiến sự đảo chiều của giá. Giá cao su tụt giảm một cách lạnh lùng khiến nhiều người trồng cao su điêu đứng, ruột nóng như lửa khi vốn liếng đầu tư bao năm, tiền bạc nợ nần còn đợi chờ họ phía trước. Câu chuyện về cây cao su vì thế lại trở nên “nóng”, nhưng ở một phương diện khác.(Báo Gia Lai 25/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Đăk Nông, thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TU, ngày 6/5/2013 về ngăn chặn phá rừng, phát triển rừng bền vững, giai đoạn 2013-2015 và những năm tiếp theo, thời gian qua, Sở đã tham mưu tỉnh thành lập Ban chỉ đạo, kế hoạch triển khai thực hiện trong năm 2013 và những năm tiếp theo.
Đồng thời, thông qua Sở NN&PTNT, công tác chỉ đạo đối với các đơn vị có liên quan, “chủ rừng” cũng được đẩy manh thực hiện. Qua đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Cụ thể, số vụ phá rừng xảy ra trong năm 2013 là 320 vụ/122,99 ha, giảm được 150 vụ so với năm 2012 (tương ứng giảm 31,9%) và giảm được 126,61 ha (tương ứng giảm 50,73% về diện tích thiệt hại).
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất trái pháp luật vẫn còn diễn biến phức tạp, thủ đoạn tinh vi hơn nhưng chưa được giải quyết... chủ yếu xảy ra ở các doanh nghiệp cho thuê đất, thuê rừng, các công ty lâm nghiệp, các xã đang quản lý rừng.
Tình trạng dân di cư tự do chưa được kiểm soát chặt chẽ, các dự án ổn định dân di cư tự do còn chậm. Mặt khác, việc cưỡng chế, giải tỏa thu hồi diện tích đất lâm nghiệp đang bị lấn chiếm, sử dụng trái pháp luật để trồng lại rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Cơ chế chính sách hưởng lợi cụ thể trong giao đất, giao rừng cho cộng đồng thôn, bon chưa rõ ràng, nên chưa thu hút được người dân tham gia bảo vệ rừng. Trong khi đó, kinh phí đầu tư cho ngành lâm nghiệp, nghề rừng còn thấp so với nhu cầu...
Theo ông Đỗ Ngọc Duyên, Giám đốc Sở NN&PTNT, để khắc phục những hạn chế, khó khăn trên, trong năm 2014, ngành Nông nghiệp sẽ tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp như tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, để nâng cao nhận thức trách nhiệm quản lý nhà nước cho các cơ quan chức năng, “chủ rừng”, cán bộ, công chức lực lượng kiểm lâm.
Công tác tăng cường phối hợp với lực lượng công an, quân đội để xử lý, truy quét điểm “nóng” phá rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép và các hành vi vi phạm liên quan đến tài nguyên rừng cũng tích cực được thực hiện.
Để nâng cao hiệu quả, trách nhiệm trong quản lý, bảo vệ rừng, ngành Nông nghiệp và các địa phương, “chủ rừng” triển khai tổng kiểm kê rừng trên địa bàn toàn tỉnh làm cơ sở cho quy hoạch, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng. Đồng thời, việc xây dựng kế hoạch hoạt động của các Đoàn 12, xác minh các điểm “nóng” phá rừng, nhất là vùng rừng giáp biên giới, giáp các tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng, Đắk Lắk cũng sẽ được tăng cường triển khai.
Ngành Nông nghiệp cũng khẩn trương tham mưu cho tỉnh ban hành quyền hưởng lợi và nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư được giao rừng, thuê rừng. Đối với các cơ sở chế biến gỗ sẽ được tăng cường kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ và kiên quyết đình chỉ đơn vị vi phạm quy định Nhà nước.
Sở NN&PTNT cũng thường xuyên chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiếp tục tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tích cực tham gia đăng ký trồng rừng; các “chủ rừng” tăng cường trồng rừng phòng hộ, đặc dụng và chăm sóc, quản lý rừng hiệu quả...
Mặt khác, việc khẩn trương thực hiện kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng theo hướng thống nhất, tinh gọn, đồng bộ để hoạt động có hiệu quả cũng sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
Điển hình như công tác củng cố, sắp xếp các công ty lâm nghiệp theo hướng giữ nguyên mô hình từ 3-4 đơn vị là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và số còn lại chuyển sang ban quản lý rừng sản xuất. Về lâu dài, việc bố trí vốn, ổn định dân di cư tự do đến từ nhiều năm trước cần được thực hiện... nhằm hạn chế nguy cơ xâm lấn rừng. (Báo Đăk Nông 25/12) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều diện tích rừng phòng hộ ở huyện Hoài Ân bị lâm tặc tàn phá nặng nề. (Nhân Dân 25/12) đầu trang(
Hai chiếc đầu động vật có kích thước khá lớn, cặp sừng dài hơn 50cm, được chào bán công khai tại trung tâm TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) ngày 24/12 với lời quảng cáo là “đầu bò rừng Châu Phi”.
Ngày 24/12, tại bùng binh nằm đối diện với Sở GD-ĐT tỉnh Đắk Lắk xuất hiện một người đàn ông trạc 50 tuổi chào bán 2 chiếc đầu động vật được sấy khô, mỗi chiếc đầu có cặp sừng dài hơn 50cm.
Thấy lạ, một số người đi đường dừng xe hỏi thì người đàn ông này quảng cáo đó là “đầu bò rừng Châu Phi”, đồng thời ra giá cho mỗi chiếc đầu bò là 10 triệu đồng. Khi chúng tôi bày tỏ nghi vấn, nếu đúng là bò rừng thì bị nghiêm cấm buôn bán, lập tức người đàn ông này khẳng định đây là “hàng thật” và có đầy đủ giấy tờ chứng minh về nguồn gốc, xuất xứ của 2 chiếc đầu bò này.
Người chủ ra giá cho mỗi chiếc "đầu bò rừng Châu Phi" là 10 triệu đồng. Rất nhiều người thấy lạ tới xem nhưng sau đó đều bỏ đi.
Nói xong, ông này lôi ra từ túi xách một tập giấy tờ nhàu nát để chứng minh xuất xứ của 2 chiếc đầu động vật trước đông đảo người dân. Tuy nhiên theo ghi nhận tại hiện trường, rất ít người tin tưởng, họ chỉ xem xong rồi bỏ đi. (Dân Trí 25/12) đầu trang(
Ngày 24/12, UBND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết, ông Liêng Jang Ha Thạch ở thôn 1, xã Đạ Sar vừa bị UBND huyện ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15 triệu đồng vì đã có hành vi phá rừng trái pháp luật.
Trước đó, ông Liêng Jang Ha Thạch đã phá 910 m 2 rừng phòng hộ tại lô a2, khoảnh 8, tiểu khu 155 thuộc lâm phần do BQL rừng đầu nguồn Đa Nhim quản lý, để lấy đất sản xuất. Cùng với phạt tiền, UBND huyện Lạc Dương còn yêu cầu ông Liêng Jang Ha Thạch trồng lại cây lâm nghiệp trên toàn bộ diện tích rừng đã phá; nếu không tự trồng, ông phải chi trả toàn bộ chi phí trồng lại rừng theo quy định hiện hành. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Từ sau những bất ổn chính trị của cuộc đảo chính năm 2009, hoạt động thương mại khai thác gỗ bất hợp pháp cũng bắt đầu móc nối phát triển trở lại.
Tại vùng Antalaha ở phía đông bắc Madagascar, thợ mộc Primo Jean Besy cho biết, nhu cầu mua bán gỗ ngày càng cao, chủ yếu là từ những người ở thủ đô Antananarivo đến đây mua hàng rồi bán lại cho người nước ngoài. Và một trong những “mặt hàng” bán chạy nhất là gỗ hồng mộc, một loại cây gỗ quý hiếm trên thế giới.
Madagascar là một quốc gia bất ổn về chính trị, quay cuồng trong nghèo đói sau 4 năm bị cầm quyền quân sự và trừng phạt kinh tế, do đó, những kẻ buôn lậu lợi dụng tình hình để buôn bán gỗ trái phép với mức báo động.
Cap Est đã trở thành thủ đô buôn lậu không chính thức và hàng ngàn người đã đổ về làng để tận dụng cơ hội kinh doanh. Ít nhất có tới 1000 người đàn ông tham gia vào đường dây buôn bán gỗ bất hợp pháp tại đây.
Theo Guy Suzon Ramangason, Tổng giám đốc Công viên quốc gia Madagascar, chính phủ đã nhận thức được vấn đề nhưng lại không can thiệp và để mặc cho các ngành công nghiệp bất hợp pháp hoành hành. Hầu hết các điểm thu mua cuối cùng là biên giới Trung Quốc.
Và nếu không có biện pháp kịp thời để ngăn chặn hiện tượng này thì có lẽ sau 20 - 25 năm nữa, rừng Madagascar sẽ biến mất. (Tinmoitruong.vn 2512) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||