Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 12 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH

BẢO VỆ RỪNG
Theo Bộ TN-MT, tình trạng buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã đang diễn ra ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài hoang dã.
Ước tính từ năm 2000 đến tháng 6-2013, Cục Kiểm lâm đã ghi nhận 18.475 vụ vi phạm, tịch thu 199.339 cá thể, tương đương 690.822kg, tuy vậy, con số này chỉ chiếm 5 - 10% số lượng trên thực tế.
Trước tình hình đó, Ban Tuyên giáo Trung ương đã soạn Dự thảo Hướng dẫn tuyên truyền việc thực hiện không buôn bán, tiêu dùng bất hợp pháp động, thực vật hoang dã, nhằm tạo dư luận lên án và thống nhất nhận thức về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên. (An Ninh Thủ Đô 24/12) đầu trang(
Quản lý diện tích rừng gần 8.500 ha nhưng đất rừng của Công ty TNHH MTV Lâm trường Con Cuông hầu như không có tình trạng xâm canh, xâm cư, tranh chấp đất đai và tình trạng chặt phá rừng cũng được giảm thiểu tối đa. Tất cả nhờ triết lý giữ rừng: Sẻ chia lợi ích với cộng đồng.
Về thôn Trung Chính, xã Yên Khê, thật khó để phân biệt đâu là đất rừng của lâm trường và đâu là đất rừng của nhân dân? Ông Phan Ngọc Sơn – Trưởng phòng Tổ chức – Hành chính lâm trường cho biết: “Ở đây đất rừng của lâm trường và của xã được phân định rạch ròi từ lâu nên không có tình trạng xâm canh, xâm cư. Toàn bộ vành đai bờ rừng được phát quang, tuần tra bảo vệ với lực lượng bảo vệ rừng chia thành 4 trạm quản lý 4 vùng đóng chân trên địa bản 3 xã: Lục Dạ, Châu Khê, Yên Khê được thành lập từ cách đây gần 30 năm”.
Lực lượng bảo vệ rừng chỉ 14 người là những “mảnh ghép” quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, “mảnh ghép” còn lại chính là hàng ngàn hộ dân thuộc 3 xã Lục Dạ, Châu Khe, Yên Khê sinh sống giáp ranh với đất lâm trường. Nói thế là bởi, hàng chục năm nay, lâm trường đã nhận ra vai trò quan trọng của nhân dân và chính quyền địa phương trong công tác phối hợp bảo vệ rừng. Vì vậy, qua nhiều thời kỳ, ban lãnh đạo lâm trường đã tích cực thực hiện nhiều biện pháp để nhân dân vùng giáp ranh tích cực vào cuộc cùng đơn vị. Việc đầu tiên chính là tạo sinh kế cho dân cư vùng giáp ranh.
Đơn vị đã chủ động giao khoán đất rừng cho nhân dân, công nhân nghỉ hưu cư ngụ, bảo vệ, chăm sóc và sản xuất, phát triển kinh tế từ rừng. Như tại thôn Trung Chính, gia đình ông Nguyễn Văn Nhâm trước làm công nhân lâm trường, sau khi nghỉ hưu nhận khoán 3 ha đất trồng keo, mét từ năm 2008. Bây giờ, sau nhiều năm miệt mài chăm sóc, năm nay diện tích rừng sắp đến kỳ thu hoạch.
Ông Nhâm chia sẻ: “Suốt đời làm công nhân nên khi về hưu lấy mô ra đất sản xuất. Nhờ chủ trường của lâm trường nên gia đình mới có tư liệu lao động để làm kinh tế. Đầu ra cho sản phẩm, lâm trường cũng bao tiêu hết theo giá thị trường, chúng tôi chỉ phải nộp 20% giá trị sản phẩm cho lâm trường nên rất yên tâm sản xuất”.
Nhờ chủ động giao khoán đất rừng nên dọc bìa rừng của lâm trường đã hình thành một hàng rào bảo vệ dài lâu do người dân sinh sống, nhận chăm sóc và bảo vệ rừng. Gắn liền quyền lợi và trách nhiệm nên những hộ dân này chính là “tai mắt” nắm bắt, cung cấp nguồn tin cho các trạm bảo vệ rừng trên địa bàn.
Hiện nay, lâm trường đang thực hiện các bước để trả lại 73 ha đất xen canh, xen cư và một số diện tích đất lâm nghiệp nằm liền kề với hộ dân cho địa phương, làm cơ sở giao đất lâu dài cho nhân dân mặc dù nhu cầu về đất đai sản xuất ở khu vực giáp ranh không xảy ra điểm nóng, bức xúc như ở nhiều địa phương có lâm trường đứng chân tại một số địa bàn ở tỉnh.
Đồng thời, trả lại gần 73 ha đất lâm nghiệp phục vụ tái định cư cho bà con dân tộc Đan Lai tại bản Nóng, xã Châu Khê. Trước chủ trương đúng đắn này, nhân dân rất phấn khởi, cùng chung tay với lâm trường bảo vệ rừng. Bà Nguyễn Thị Hảo – thôn Khê Tín nhận khoán 5.000m2 đất của lâm trường vừa để ở, vừa sản xuất. Trước chủ trương lâm trường trả lại đất cho địa phương, bà phấn khởi cho biết: “Lâu nay, nhận đất lâm trường vẫn sản xuất bình thường nhưng nếu được giao đất theo như chủ trương thì chúng tôi yên tâm và có điều kiện đầu tư cho sản xuất hơn vì có sổ đỏ”.
Không chỉ tạo tư liệu sản xuất, ổn định sinh kế cho nhân dân, bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước, lâm trường đều chủ động phối hợp với chính quyền cấp huyện và các xã xây dựng: “Quy ước bảo vệ an ninh khu vực”.
Đây được xem là quy ước liên thôn bản được xây dựng dựa trên sự thống nhất của đại diện các thôn, xã với lâm trường và được bàn bạc, điều chỉnh, bổ sung hàng năm dựa trên quy định của pháp luật và tinh thần tự nguyện của người dân dưới sự chứng kiến của lãnh đạo huyện Con Cuông. Tuy nhiên, để có kết quả như hôm nay, lâm trường và nhân dân địa phương đã đi cả một chặng đường dài để xây dựng lòng tin và tìm đến nhận thức chung trong công tác bảo vệ rừng.
Ông Phan Ngọc Sơn – Trưởng phòng Tổ chức – Hành chính lâm trường cho biết: “Trên địa bàn giáp ranh chủ yếu là đồng bào dân tộc vốn có thói quen chăn nuôi gia súc theo hình thức thả rông. Trước kia chưa có Quy ước, lâm trường có bắt được trâu, bò của bà con cũng không thể xử phạt vì không có thẩm quyền. Có thời điểm chúng tôi phải rào rừng để trồng rừng”.
Vì vậy, Quy ước quy định rõ, cấm các hành vi thả rông gia súc, xâm cư, xâm canh… vào diện tích rừng lâm trường. Những hành vi vi phạm nếu bị phát hiện sẽ bị xử phạt theo đúng tinh thần của Quy ước với sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương, thôn – bản và lâm trường. Quy định rất rõ ràng nhưng nhờ công tác vận động tuyên truyền được chăm chút nên hầu như không có trường hợp nào phải xử lý. Song song với quá trình thực hiện Quy ước, Lâm trường Con Cuông đã có những hỗ trợ giống cây trồng để giúp nhân dân phát triển kinh tế.
Từ năm 1993, đơn vị đã lặn lội đi các tỉnh mua giống vải thiều, hồng, mơ, macka về cung cấp và hỗ trợ kỹ thuật cho nhân dân các xã Lục Dạ, Yên Khê, Châu Khê trồng. Đồng thời vận động nhân dân trong các xã vùng dự án trồng rừng tham gia trồng rừng, hỗ trợ cho người dân sống liền kề vật liệu làm nhà nếu được chính quyền địa phương xác nhận. “Mưa dầm thấm đất”, dần dần người dân cảm nhận rõ vai trò bà đỡ của lâm trường đối với cuộc sống gia đình và cả địa phương, nhận thức phối hợp bảo vệ rừng theo đó cũng dần thay đổi.
Ông Lương Văn Phương, thôn Trung Chính (năm nay 73 tuổi) tham gia ký Quy ước ngay từ ngày đầu cho biết: “Tôi tham gia trồng và bảo vệ rừng lúc còn sức khỏe. Nhưng nay lớn tuổi không làm nữa, dù vậy tôi vẫn khuyên các con chăm lo chăm sóc rừng trên đất gia đình chứ không vào rừng lâm trường khai thác gỗ. Lâm trường hỗ trợ cho bà con, cho gia đình tôi là xoài và vải trồng nay đã thu quả. Mình tham gia Quy ước rồi thì cũng phải có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ rừng với lâm trường”.
Ông Nguyễn Đức Sơn – Giám đốc Lâm trường cho biết: "Quan điểm của lâm trường là cùng sẻ chia lợi ích với cộng đồng dân cư địa phương. Từ đó, tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân có thể ổn định cuộc sống, phát triển sản xuất, cùng chung tay bảo vệ rừng".Cũng nhờ quan điểm này, lâm trường là đơn vị đầu tiên của tỉnh Nghệ An được Dự án Giảm phát thải từ rừng khu vực châu Á của Hoa Kỳ và dự án SNV (Hà Lan) đánh giá là một trong những tổ chức bảo vệ rừng tốt nhất cả nước.
Hiện nay, hai dự án này đang hỗ trợ phương án quản lý rừng bền vững tiến hành theo 3 giai đoạn: “Xây dựng bản đồ hiện trạng rừng bằng ảnh vệ tinh; Điều tra tài nguyên rừng; Xây dựng phương án quản lý rừng bền vững” dự kiến sẽ hoàn thành vào quý I năm 2014. Khi hoàn thành, lâm trường sẽ được cấp chứng chỉ Quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế FSC. (Báo Nghệ An 23/12) đầu trang(
Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam đang đề xuất tỉnh Kiên Giang áp dụng biện pháp khoa học bảo tồn vốn rừng tại vườn quốc gia U Minh Thượng nhằm chủ động phòng chống cháy, bảo tồn hệ sinh thái rừng tràm trên đất than bùn, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần duy trì cân bằng sinh thái, bảo đảm an ninh môi trường trong quá trình biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, hàng năm vào cuối mùa mưa (tháng 10), nước mưa tại vùng U Minh Thượng được tích lại ở độ cao khoảng 1,5 m. Sau đó, do bốc hơi, nước giảm dần và thường đạt mức 1,0 m vào tháng 3 và tháng 4, trước khi bước vào mùa mưa năm sau. Tuy nhiên, vào tháng 2 và tháng 3, nước tại Vườn U Minh Thượng được tháo nhanh ra ngoài vùng đệm để bắt tôm cá và được bổ sung trở lại bằng bơm vào tháng 5, tháng 6. Nếu thời tiết khô hạn trong thời điểm đó, mực nước sẽ hạ thấp dưới 1 mét, mặt đất khô và cháy rừng sẽ xảy ra.
Để khắc phục tình trạng trên, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam đề xuất tích nước vào mùa mưa để giữ đủ ẩm cho đất trong mùa khô. Do Vườn U Minh Thượng hoàn toàn không có khả năng nhận nước chủ động từ các nguồn bên ngoài, nên việc quản lý nước trong vườn phải thực hiện bằng cách cân bằng giữa nguồn nước mưa với lượng nước bị bốc hơi.
Để được như vậy, trong suốt mùa mưa phải luôn sẵn sàng tháo nước ra ngoài và chỉ bắt đầu tích dần vào thời điểm thích hợp để đạt mức hợp lý (1 mét). Vào cuối mùa khô, mực nước trong kênh và trong đất rừng xuống thấp hơn mức hợp lý thì phải bơm bổ sung nguồn nước từ bên ngoài vào vườn cho đạt yêu cầu. Việc bơm bổ sung phải được thực hiện trước tháng Giêng hàng năm, khi nguồn nước vùng đệm còn chưa bị nước mặn xâm nhập.
Trường hợp phải bơm bổ sung vào tháng 3, 4 cho tiểu khu trung tâm thì lấy nước từ hệ thống kênh bao với lượng trữ đã được tính toán bổ sung từ tháng 11, tháng 12 năm trước; phải duy trì độ sâu của kênh trung tâm luôn ở mức 5 - 5,2 mét, có sức chứa khoảng 350.000 m3, đủ để chữa cháy lớn. Kênh bao được duy trì ở độ sâu từ 3,5 - 4 mét để có tổng lượng nước từ 1 - 1,2 triệu m3, đủ để khống chế cháy quanh vùng lõi và bơm bổ sung cho kênh trung tâm khi cần thiết.
Với lượng nước như trên, có thể dập tắt bất kỳ vụ cháy lớn nào. Viện cảnh báo không được đào thêm kênh mới vì sẽ chia cắt nhỏ đĩa than bùn, phá vỡ hệ sinh thái đa dạng vừa làm nước bốc hơi nhanh hơn trong mùa khô làm mực nước hợp lý tại U Minh Thượng hạ thấp nhanh, không bảo đảm yêu cầu phòng cháy.
Vườn Quốc gia U Minh Thượng có vùng lõi với hệ sinh thái cơ bản là rừng tràm phát triển tự nhiên trên đất than bùn, là hệ sinh thái đất ngập nước rất đa dạng hiện rất hiếm trên thế giới. Nhiều năm qua việc quản lý nước tại đây còn nhiều bất cập, chưa đạt được mục tiêu phòng chống cháy rừng, làm suy giảm số lượng quần thể động vật thủy sinh, đặc biệt là các loài cá đen, cùng nhiều loài động vật thuộc loại quý hiếm.
Kết quả quan trắc mực nước trong kênh và trong đất rừng từ năm 1999 đến nay cho thấy vào mùa khô, mực nước hạ xuống mức rất thấp so với yêu cầu giữ ẩm cho đất, thấp nhất là tháng 2 - 4. Mực nước càng bị hạ thấp nghiêm trọng hơn do việc xả nước trong rừng ra ngoài để khai thác thủy sản trong thời điểm nêu trên. Hiện lớp than bùn ở vùng lõi giữ nước kém, lượng bốc hơi trong mùa khô cao, sự thiếu hụt độ ẩm trong đất lớn nên cháy rừng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào.
Tổng diện tích các thảm thực vật rừng trước đây là 8.038 ha, trong đó thực vật trên đất than bùn 2.901 ha và trên đất sét 5.137 ha. Các đợt cháy rừng trong thời gian qua đã gây nên hậu quả rất lớn cho hệ sinh thái rừng tràm U Minh Thượng. Thảm thực vật rừng đã bị cháy là 3.212 ha, chiếm 39,96% diện tích vùng lõi, trong đó có 2.300 ha trên đất than bùn và 912 ha là các loại rừng và thực vật trên đất sét.
Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, do điều kiện tự nhiên trong và ngoài Vườn U Minh Thượng bị phá vỡ nên biện quản lý nước nói trên được xem là giải pháp cứu cánh cho sự tồn tại và phát triển của vườn. Nếu không các hệ sinh thái tại đây sẽ nhanh chóng thoái hóa, nạn cháy rừng luôn xẩy ra, vườn sẽ dần biến mất và không còn giá trị. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/12) đầu trang(
Với chức năng chủ yếu là thực hiện công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, năm 2013, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch trên cơ sở các nhiệm vụ, mục tiêu được giao, tích cực triển khai các giải pháp để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2013.
Chi cục đã chủ động triển khai các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý và phát triển lâm nghiệp như: Quản lý giống cây lâm nghiệp theo đúng trình tự và qui định của Pháp lệnh Giống cây trồng; tham mưu cho Sở NN&PTNT ban hành các văn bản quản lý Nhà nước về lĩnh lâm nghiệp, các quy trình kỹ thuật lâm sinh; căn cứ các văn bản của cấp trên, chủ động xây dựng các định mức, đơn giá về lâm sinh phục vụ công tác phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp được thực hiện chặt chẽ; thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định; thường xuyên kiểm tra tình hình sản xuất, kinh doanh của các đơn vị tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp theo chuỗi hành trình giống. Trong năm, đã cấp giấy chứng nhận nguồn gốc lô cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn cho 20 tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh với 10.779.152 cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn phục vụ trồng rừng năm 2013.
Thực hiện công tác quản lý Nhà nước về khai thác lâm sản, đến hết tháng 11 năm 2013, toàn tỉnh đã cấp phép và khai thác được 127.084,11 m3 gỗ; 1.968 tấn củ Bình Vôi; 121,53 tấn nhựa thông; 251,188 ster củi, trong đó, Chi cục Lâm nghiệp thẩm định trình Sở NN & PTNT phê duyệt cấp phép khai thác lâm sản gồm: Khai thác tỉa gỗ rừng trồng: 2.362,81m3; khai thác gỗ có nguồn gốc từ rừng tự nhiên: 163,017m3; 1.968 tấn củ Bình vôi; 121,53 tấn nhựa thông; củi: 251,188 ster.
Chi cục cũng tiến hành thẩm định thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh thuộc đối tượng rừng phòng hộ, đặc dụng gồm các chỉ tiêu: Thẩm định thiết kế trồng rừng: 281,5ha; thẩm định khoán bảo vệ rừng: 3.244,3ha trong đó: rừng tự nhiên: 2.193,8ha, rừng trồng 1.050,53ha; thẩm định tổng dự toán, dự toán chi tiết đối tượng rừng phòng hộ, đặc dụng; xây dựng đơn giá thiết kế công trình lâm sinh; đơn giá cây giống trồng rừng...
Về công tác tuyên truyền, Chi cục phối hợp với Văn điều phối Chương trình xây dựng nông thôn mới tỉnh tổ chức 2 lớp tập huấn về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực lâm nghiệp cho 100 học viên là cán bộ ban chỉ đạo, ban quản lý, ban phát triển rừng thôn, bí thư chi bộ, trưởng thôn tại 2 xã điểm là Hòa Bình (Đồng Hỷ) và Phú Thượng (Võ Nhai).
Chi cục đã triển khai quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực lâm nghiệp theo kế hoạch như: Dự án nguồn vốn hỗ trợ Chương trình bảo vệ và phát triển rừng và Dự án hỗ trợ từ nguồn vốn khác. Năm 2013, toàn tỉnh trồng được 6.437ha/5.350ha rừng tập trung, đạt 120,32% kế hoạch, trong đó: Trồng rừng từ nguồn vốn ngân sách hỗ trợ của Chương trình bảo vệ và phát triển rừng 6.078ha; trồng rừng sản xuất từ các nguồn vốn khác 358,93ha/350ha kế hoạch.
Các chỉ tiêu lâm sinh khác: Khoán bảo vệ rừng 5.868,88ha; khoanh nuôi tái sinh rừng 1.250ha. Về Dự án đầu tư phát triển giống cây lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 -2015: Dự án được UBND tỉnh phê duyệt với tổng số vốn đầu tư được điều chỉnh bổ sung là 44.800 triệu đồng (trong đó ngân sách Trung ương: 40.789 triệu đồng; vốn đối ứng của đơn vị hưởng lợi: 4.011 triệu đồng). Từ năm 2010 đến 2013, Dự án đồng thời thực hiện các hạng mục lâm sinh và xây lắp được phê duyệt với tổng vốn đã được cấp là 35.008 triệu đồng.
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của Chi cục, trên cơ sở kết quả thực hiện năm 2013, nhiệm vụ, kế hoạch giai đoạn 2011-2015, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh đã xây dựng phương hướng, nhiệm vụ năm 2014 với một số nhiệm vụ trọng tâm trong các mặt công tác như: Công tác tổ chức hành chính quản trị; công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực chuyên ngành; thực hiện các chương trình, dự án, đề tài khoa học. Chi cục phấn đấu hoàn tốt nhiệm vụ năm 2014 được giao. (Báo Thái Nguyên 22/12) đầu trang(
Để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, năm 2013, Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng.
Đồng thời, tiến hành khảo sát, thiết kế và hướng dẫn cho các hộ gia đình, cá nhân trồng được 413,11 ha rừng, vượt 113,11 ha so với kế hoạch, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nâng cao độ che phủ của rừng lên gần 75%. Cùng với đó, hạt đã phối hợp với công an, quân sự, biên phòng và các ban, ngành, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Tuần tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; đã phát hiện, xử lý 54 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; tịch thu 5,85 m3 gỗ tròn, 62,162 m3 gỗ xẻ, 5,772 m3 gỗ bìa các loại, 15 kg động vật rừng, 26 xe máy, 1 cưa xăng, thu nộp ngân sách Nhà nước 677 triệu đồng. (Báo Thanh Hóa 24/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Lê Công Lương, Chánh văn phòng Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam cho biết, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW "về tiếp tục sắp xếp, đổi mới nông-lâm trường quốc doanh," tình hình sử dụng đất trong các nông-lâm trường đã dần được nâng lên, góp phần giải quyết được một phần "cơn khát" đất sản xuất của người dân.
Tuy nhiên, ở một số nơi sau khi rà soát (theo sổ sách), phần lớn diện tích công ty lâm nghiệp giao về cho địa phương quản lý vẫn còn rất nhiều bất cập, khiến tình hình vi phạm liên quan đến tranh chấp đất đai giữa công ly lâm nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn phổ biến.
Tại hội thảo "Thực trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp sau thực hiện Nghị quyết 28NQ-TW của Bộ Chính trị tại Quảng Bình và Hà Tĩnh," do Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp tổ chức ngày 23/12, các đại biểu cho rằng rà soát và giao đất cho đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất là việc làm cấp bách, góp phần tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, việc rà soát, giao đất trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn. Đáng lưu ý là hầu hết các lâm trường đều tự mình đánh giá, rồi giao lại những diện tích không sử dụng được cho địa phương. Bên cạnh đó, công tác rà soát cũng chưa có sự tham gia giữa các bên, khiến mâu thuẫn, tranh chấp đất đai đến nay vẫn chưa được kiểm soát.
Cụ thể, tại Hà Tĩnh, theo báo cáo của Sở NN&PTNT, hiện tỉnh còn 537 ha đất còn vướng vào tranh chấp; trong đó tranh chấp đất giữa Công ty cao su Hương Khê với các hộ dân xã Tân Hương (huyện Đức Thọ) là 150 ha, tranh chấp giữa Ban quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu với Tổng đội Thanh niên Phúc Trạch tại tiểu khu 251B là 202 ha, tranh chấp tại tiểu khu 226 là 135 ha.
Ngoài ra, tỉnh Hà Tĩnh còn 747 ha đất đang bị lấn chiếm (trong đó Công ty Trách nhiệm hữa hạn Lâm nghiệp và Dịch vụ Chúc A là 200 ha; Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh 449 ha; Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 99 ha). Diện tích đang liên kết là 6.569 ha, trước khi sắp xếp chưa có liên kết.
Tại Quảng Bình - tỉnh miền núi giáp ranh với biên giới nước bạn Lào, tình trạng mâu thuẫn đất đai, “đói” đất sản xuất dẫn đến tranh chấp, xung đột ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang “nóng” lên.
Cụ thể, theo kết quả khảo sát của Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh tại 4 huyện miền núi, biên giới, khó khăn (Lệ Thủy, Quảng Ninh, Minh Hóa, Bố Trạch) cho thấy: Trên địa bàn hiện có tới 93% người dân đều có nhu cầu được cấp thêm đất sản xuất, bình quân mỗi hộ cần thêm 7,93 ha đất các loại; trong đó nhu cầu về đất rừng là 4,72 ha/hộ...
Trước thực tế trên, tỉnh Quảng Bình đã phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan tổ chức nhiều cuộc họp, đối thoại trực tiếp giữa chính quyền, người dân và các doanh nghiệp, lâm trường trên địa bàn. Nhờ đó, tình trạng thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số bước đầu đã dần được giải quyết.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Văn Tân, Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Bình, thì tiến độ giao đất trên thực địa còn chậm, trong đó có nhiều nguyên nhân như: Diện tích đất được giao sau khi thu hồi chưa phù hợp với đề xuất của Ủy ban nhân dân các xã; phần lớn diện tích đất bóc tách giao cho người dân sử dụng, quản lý đa phần là đất nằm ở xa khu dân cư, có diện tích núi đá...
Thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Chính phủ, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng cục Lâm nghiệp, Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức bản địa và phát triển, Quỹ phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh đã thực hiện nghiên cứu đánh giá quỹ đất rà soát được chuyển giao từ các nông-lâm trường quốc doanh, nhằm tháo gỡ những bất cập còn tồn tại trong quản lý và sử dụng đất.
Cùng với đó, các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh và các ngành liên quan cũng đã chỉ đạo rà soát đất lâm nghiệp của các nông-lâm trường đồng thời tiếp tục giao cho các nông-lâm trường diện tích mà đơn vị đang quản lý, sử dụng hiệu quả, có khả năng phát triển sản xuất.
Theo ông Hoàng Văn Tân, Phó Trưởng Ban tộc tỉnh Quảng Bình, việc lấy một phần diện tích của các công ty lâm nghiệp vốn đang “ôm” quá nhiều đất giao cho dân sản xuất là giải pháp quan trong, góp phần giải quyết những bất cập liên quan đến đất đai, cũng như tạo điều kiện cho người dân phát triển sinh kế, thoát nghèo.
Tuy nhiên, “hiện việc sử dụng và quản lý sử dụng đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn phức tạp. Tình trạng xâm canh, lấn chiếm vẫn còn xảy ra, điển hình nhất là các huyện: Quảng Ninh, Lệ Thủy, Minh Hóa...
Từ thực trạng thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, ông Tân đề xuất: Các sở, ngành địa phương có liên quan cần tiếp tục rà soát, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông-lâm nghiệp trên địa bàn. Quá trình rà soát, quy hoạch và giao rừng cần có sự tham gia của người dân nhằm tạo sự đồng thuận của cộng đồng.
"Cùng với đó, chúng ta cũng cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động đồng bào khai thác, sử dụng có hiệu quả diện tích đất sản xuất, đất rừng được giao. Tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật chăn sóc rừng trồng cho những hộ được giao đất sản xuất," ông Tân khuyến nghị.
Đồng tình quan điểm trên, ông Nguyễn Ngọc Phương, Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình cho rằng, điều chỉnh đất nông-lâm trường là vấn đề hết sức quan trọng, góp phần tháo gỡ được mâu thuẫn về đất đai cũng như giải được cơn "đói" đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số. Đo đó, công tác rà soát đất nông-lâm trường giao cho dân sản xuất cần phải triển khai kịp thời.
Tuy nhiên, "cũng phải lưu ý là việc lấy hết đất của công ty lâm nghiệp giao cho dân, hay loại bỏ công ty lâm trường là điều không thể. Tuy nhiên, để giải quyết được 'cơn khát' về đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, chúng ta phải rà soát cặn kẽ, chứ không thể chỗ nào đất tốt là dân có thể đòi 'thẻ đỏ,' đến khi có 'thẻ đỏ' dân lại đòi bán đất được," ông Phương nhấn mạnh.
Tại hội thảo, các chuyên gia đến từ hai tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh và các tổ chức kinh tế cũng khẳng định giao một phần đất nông-lâm trường cho đồng bào dân tộc thiểu số sản xuất là giải pháp quan trọng, cần được triển khai đồng bộ tại nhiều địa phương. Do vậy, ủy ban nhân dân các tỉnh, các ngành liên quan cần chủ động rà soát, đánh giá đúng nhu cầu thực tế để giao đất và sử dụng đất rừng hiệu quả và bền vững về lâu dài. (VietnamPlus.vn 24/12; Tiền Phong 24/12) đầu trang(
Tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD) không bền vững đang là một trong những mối đe dọa lớn tới công tác bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) tại Việt Nam và các nước lân cận. Một loạt chiến dịch truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, khuyến khích thay đổi hành vi và giảm nhu cầu tiêu thụ trái phép đối với động vật hoang dã trên quy mô cả nước sẽ được triển khai trong năm 2014.
ĐDSH của Việt Nam đang trên đà suy giảm và suy thoái rất nhanh do nạn phá rừng, phát triển thủy điện, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu. Nếu như năm 1996 mới chỉ có 25 loài động vật của Việt Nam ở mức nguy cấp thì đến nay, con số này đã lên tới 47. Nhiều loài được đánh giá bị đe dọa không cao trên quy mô toàn cầu nhưng lại bị đe dọa ở mức báo động tại Việt Nam như hạc cổ trắng, voọc, cu li…
ĐDSH ở Việt Nam có ý nghĩa to lớn, các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gene tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm…. Ngoài ra, các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường.
Theo thống kê, Việt Nam hiện đã ghi nhận gần 50 nghìn loài động, thực vật, tuy nhiên tình trạng buôn bán trái phép đang diễn ra ngày càng phức tạp và khó kiểm soát. Đây được xem là nguyên nhân chính dẫn đến sự tuyệt chủng của các loài động, thực vật hoang dã. Ước tính từ năm 2000 – 6/2013, Cục Kiểm lâm ghi nhận 18.475 vụ vi phạm, tịch thu 199.339 cá thể tương đương 690.822 kg, tuy vậy, con số này chỉ chiểm 5% – 10% số lượng trên thực tế.
Thứ trưởng Bộ TN&MT Bùi Cách Tuyến đánh giá, động, thực vật hoang dã là một phần quan trọng cấu thành ĐDSH độc đáo của Việt Nam. Sự biến mất của chúng sẽ làm giảm giá trị ĐDSH mà Việt Nam đang nỗ lực bảo tồn và phát triển. Tình trạng tiêu thụ, buôn bán các loài nguy cấp nếu không có những giải pháp quyết liệt thì không những ảnh hưởng đến công tác bảo tồn mà còn tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội, sức khỏe, an ninh quốc gia và đặc biệt là hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế.
Nhiều năm qua, Chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực tìm kiếm các giải pháp nhằm kiểm soát tình hình buôn bán, tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Cụ thể, Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế quan trọng như Công ước về ĐDSH Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp; tham gia các mạng lưới thực thi kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã như ASEAN-WEN; điều chỉnh, xây dựng và ban hành mới nhiều văn bản pháp luật như Luật Hình sự sửa đổi năm 2009 nhằm tăng mức hình phạt cho các tội danh liên quan đến động vật hoang dã; Luật ĐDSH năm 2008 và mới đây là Nghị định 160/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Nhằm kiên quyết khắc phục thực trạng trên, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (số 24-NQ/TW) “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” đặt ra yêu cầu “Bảo vệ nghiêm ngặt các loài động vật hoang dã” và đề ra giải pháp là “Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, tạo dư luận xã hội lên án và thống nhất nhận thức về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã”.
Mục đích của Hướng dẫn nhằm quán triệt đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo người dân về chủ trương “Bảo vệ nghiêm ngặt” động, thực vật hoang dã của Đảng; tạo dư luận xã hội, lên án và thống nhất nhận thức về việc phải xử lý nghiêm các hành vi sử dụng lãng phí tài nguyên, đốt phá rừng, gây ô nhiễm môi trường, săn bắt, tiêu thụ động vật hoang dã.
Đồng thời, nâng cao ý thức, thái độ, hành vi tiêu dùng của đảng viên, công chức, viên chức, học sinh, sinh viên và đông đảo người dân không buôn bán, tiêu dùng bất hợp pháp động, thực vật hoang dã, khuyến khích thực hiện lối sống xanh, tiêu dùng xanh…
Trong đó, hướng dẫn yêu cầu, vận động tuyên truyền rộng rãi việc thực hiện không buôn bán, tiêu dùng bất hợp pháp động, thực vật hoang dã theo tinh thần Nghị quyết số 24–NQ/TW đến mọi đối tượng, đặc biệt là các cán bộ, công chức và doanh nhân.
Cùng với đó, chỉ đạo tăng cường tuyên truyền dịp Tết Nguyên đán năm 2014 sắp tới và xây dựng, triển khai kế hoạch tuyên truyền lâu dài, thường xuyên với các nội dung cụ thể, thiết thực, phù hợp với thực tế của địa phương, đơn vị; tham mưu cấp ủy chỉ đạo hệ thống chính trị, cộng đồng xã hội tích cực thực hiện chủ trương này. (Tài Nguyên&Môi Trường 22/12) đầu trang(
Cục Bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Tổng cục Môi trường cho biết, 882 loài động, thực vật đang bị đe dọa ở nhiều cấp độ và được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam.
Trong đó, nhiều loài động vật đặc hữu của Việt Nam như rùa Trung bộ, voọc mũi hếch, voọc quần đùi trắng, gà lôi lam màu trắng... đang đối mặt với các mối đe dọa và nhiều loài ở mức cực kỳ nguy cấp. Việc tiêu thụ và buôn bán trái phép động vật hoang dã đang trở thành vấn đề cấp bách khiến số lượng loài suy giảm. (An Ninh Thủ Đô 24/12) đầu trang(
Diện tích rừng trồng tập trung năm 2013 ước tính đạt 205,1 nghìn ha, tăng 9,7% so với năm 2012.
Một số địa phương có diện tích rừng trồng mới tập trung nhiều là: Nghệ An 15,3 nghìn ha; Yên Bái 14,9 nghìn ha; Tuyên Quang 13,2 nghìn ha; Quảng Nam 12 nghìn ha; Bắc Kạn 11,4 nghìn ha; Thanh Hóa 10,7 nghìn ha. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 182,2 triệu cây, tăng 1,6% so với năm trước. (Tạp chí Tài Chính 23/12) đầu trang(
Do thời tiết trong năm có mưa nhiều cùng với công tác phòng chống cháy rừng được các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm thường xuyên nên tình trạng cháy rừng và chặt phá rừng giảm đáng kể.
Tổng diện tích rừng bị thiệt hại năm 2013 là 1964 ha, giảm 39,1% so với năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy 1156 ha, giảm 44,7%; diện tích rừng bị chặt phá 808 ha, giảm 28,7%.
Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Gia Lai 411,1 ha; Bình Phước 93,1 ha; Bình Thuận 80,3 ha; Hà Giang 79,3 ha; Cà Mau 44,3 ha; Lạng Sơn 44 ha; Đắk Lắk 41,1 ha. Một số tỉnh có diện tích rừng bị chặt, phá nhiều là: Đắk Nông 141,9 ha; Quảng Nam 103 ha; Lâm Đồng 102,2 ha; Kon Tum 75,3 ha. (Tạp chí Tài Chính 23/12) đầu trang(
Sản lượng gỗ khai thác cả năm 2013 đạt 5608 nghìn m3, tăng 6,8% so với năm 2012. Nguyên nhân chủ yếu do tiêu thụ sản phẩm gỗ nguyên liệu năm nay có nhiều thuận lợi, kim ngạch xuất khẩu gỗ vả sản phẩm gỗ tăng khá.
Sản phẩm gỗ tiêu thụ tăng một mặt giải quyết được lượng gỗ thương phẩm đến kỳ khai thác của người sản xuất, mặt khác góp phần thúc đẩy hoạt động trồng rừng phát triển tại nhiều địa phương.
Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác lớn và tăng nhiều so với năm trước là: Quảng Nam 410 nghìn m3, tăng 81%; Yên Bái 390 nghìn m3, tăng 15,5%; Quảng Ninh 348,5 nghìn m3, tăng 16,3%; Quảng Ngãi 310 nghìn m3, tăng 42,7%; Quảng Trị 295,3 nghìn m3, tăng 77%; Thanh Hóa 278 nghìn m3, gấp hai lần; Quảng Bình 251,2 nghìn m3, tăng 21,7%; Hà Tĩnh 224,3 nghìn m3, tăng 36,9%. Sản lượng củi khai thác đạt 28 triệu ste, tăng 2,2%.(Tạp chí Tài Chính 23/12) đầu trang(
Là một trong những lực lượng nòng cốt quản lý, bảo vệ rừng, nhưng trong những năm qua vai trò của lực lượng kiểm lâm địa bàn vẫn còn mờ nhạt bởi quân số mỏng, thiếu trang bị, vũ khí hỗ trợ. Đây là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc lực lượng này luôn gặp khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, bình quân mỗi năm Đắk Lắk mất vài trăm héc-ta rừng. Chỉ tính từ năm 2008 đến nay, diện tích rừng bị mất lên đến 12.162,5 ha. Mỗi năm ngành kiểm lâm tỉnh cũng phát hiện và xử lý hàng ngàn vụ vi phạm lâm luật.
Thời gian gần đây, tình trạng phá rừng, chống người thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng đang có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Hàng loạt vụ phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép diễn ra trên địa bàn tỉnh, nhất là tại các địa bàn nóng như: Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M’gar, Krông Bông …
Bên cạnh nạn khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng phức tạp thì nạn dân di cư tự do cũng là một trong những áp lực lớn đối với rừng, bởi hàng năm vẫn có nhiều diện tích rừng bị chặt phá để làm nương rẫy. Thậm chí nhiều cánh rừng đã được giao khoán, hưởng lợi theo Quyết định 178 và 304 của Thủ tướng Chính phủ lại bị chính chủ rừng chặt phá…
Trước thực trạng trên, để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng; xử lý vi phạm về phá rừng, xâm chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16-3-2013.
Theo đó, các ngành chức năng, các địa phương, đặc biệt là ở những địa bàn trọng điểm phải thực hiện quyết liệt các giải pháp nhằm ngăn chặn không để tình trạng khai thác rừng trái phép tái diễn. Ngành Kiểm lâm cũng đã tăng cường lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn tại những vùng rừng trọng yếu, thành lập thêm các chốt kiểm tra tại các khu vực được coi là trọng điểm gồm: Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea Súp nhưng tình hình vi phạm lâm luật vẫn diễn ra phức tạp, vai trò của lực lượng nòng cốt này vẫn chưa thực sự được phát huy.
Ông Nguyễn Văn Quang Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ea Kar thẳng thắn: Ea Kar là một trong những địa bàn “nóng” về tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép bởi đây là khu vực giáp ranh với nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh.
Việc quản lý bảo vệ rừng nói chung và khu vực rừng giáp ranh nói riêng của địa phương trong những năm qua luôn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi các đối tượng lâm tặc ngày một manh động, còn lực lượng của ngành lại mỏng về quân số và thiếu các trang bị, phương tiện hỗ trợ cần thiết nên chưa thực sự phát huy hết vai trò bảo vệ rừng tại gốc. Mỗi xã có rừng hiện chỉ có 1 kiểm lâm địa bàn phụ trách, lại thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ sở và chủ rừng nên hoạt động của lực lượng này không thực sự hiệu quả.
Toàn tỉnh hiện có 641 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp. Trong số 180 xã phường, có 130 xã có rừng, trong đó 20 xã có diện tích rừng từ 10 nghìn ha trở lên. Từ năm 2007 đến nay, toàn tỉnh mới có 98 công chức kiểm lâm được phân công phụ trách 130 xã có rừng, hoạt động theo 2 phương thức là cụm kiểm lâm địa bàn (gồm nhiều xã) và kiểm lâm địa bàn phụ trách từng xã.
Với trọng trách khá nặng nề: ngoài nhiệm vụ bảo vệ rừng, lực lượng này còn phải tham gia công tác khuyến lâm, hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn, buôn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp từ cơ sở; tham gia phối hợp với các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra, phát hiện và ngăn chặn những hành vi sai phạm. Do vậy, nếu yếu về năng lực thì lực lượng này rất khó mà hoàn thành được nhiệm vụ được giao.
Để tăng cường hiệu quả bảo vệ rừng, năm 2008 Chi cục đã xây dựng Đề án nâng cao năng lực của kiểm lâm cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu được giao. Đến nay, qua công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, các kiểm lâm địa bàn bước đầu đã nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và kỹ năng hoạt động. Qua việc củng cố 82 ban bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, nhiều xã đã xây dựng phương án, kế hoạch cụ thể về quản lý bảo vệ phát triển rừng hằng năm; xây dựng, củng cố được 579 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng tại thôn, buôn với 2.895 người tham gia.
Toàn tỉnh cũng đã xây dựng và đưa vào sử dụng 6 trạm kiểm lâm địa bàn liên xã gồm: Ea Lê, Ya T’Môt (Ea Súp); Cư Mốt (Ea H’leo); Du Kmăl (Krông Ana); Ea Wer (Buôn Đôn); Cư Pui (Krông Bông). Các trạm này đi vào hoạt động sẽ góp phần tăng cường an ninh rừng tại các điểm nóng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đã kiến nghị với Cục Kiểm lâm Việt Nam xem xét tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm theo phương án: đối với 20 xã có diện tích rừng trên 10.000 ha được bố trí 60 kiểm lâm địa bàn; 25 xã có diện tích rừng từ 3.000-10.000 ha bố trí 40 kiểm lâm; 21 xã có diện tích rừng 1.000-3.000 ha bố trí 21 kiểm lâm; 39 xã có diện tích rừng 500-1.000 ha bố trí 14 kiểm lâm.
Như vậy, số lượng biên chế kiểm lâm địa bàn còn thiếu hiện nay cần được bổ sung khoảng 37 biên chế. Bên cạnh đó, tiếp tục mở các lớp đào tạo, tập huấn, nhất là các lớp tập huấn chuyên sâu để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thực tế trong quản lý bảo vệ rừng theo đặc thù của từng địa phương. (Báo Đắk Lắk 24/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau vừa tăng cường lực lượng, phương tiện xuống địa bàn Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau để hỗ trợ cho đơn vị này kiểm tra, truy quét và ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên khu vực Vườn quản lý, theo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch tỉnh Cà Mau.
Theo đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã điều tàu tuần tra của Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1, cùng 26 lực lượng Kiểm lâm tham gia phối hợp với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau để kiểm tra, truy quét và cương quyết triệt phá các tụ điểm chặt phá cây rừng, hầm than trái phép, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên lâm phần Vườn Quốc gia.
Chỉ đạo lực lượng kiểm lâm ở các hạt Ngọc Hiển, Năm Căn và Phú Tân tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát trên khâu lưu thông, phá dở các tụ điểm mua bán lâm sản, hầm than trái phép trên khu vực Vườn và khu vực giáp ranh với Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, để từng bước ổn định tình hình rừng và lặp lại trật tự trong công tác quản lý bảo vệ rừng. (Báo Ảnh Đất Mũi 24/12) đầu trang(
Trong 5 năm (2008 – 2013) các nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ cho phát triển ngành lâm nghiệp tỉnh đạt 259,5 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) là 60 tỷ đồng, vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản 199,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện 10 năm (từ 2012 - 2021).
Nổi bật trong các chương trình trồng rừng từ nguồn vốn vay của các nhà tài trợ là Dự án WB3. Với mục tiêu trong 3 năm (từ 2012 – 2015), dự án sẽ cung cấp tín dụng ưu đãi cho 3.219 hộ dân ở 189 thôn của 35 xã thuộc 6 huyện: Thạch Thành, Ngọc Lặc, Hà Trung, Như Thanh, Tĩnh Gia, Triệu Sơn để trồng rừng thương mại trên đất trống và trồng lại rừng, với diện tích khoảng 6.000 ha.
Đến nay, dự án đã trồng được 3.344 ha, đạt 55,7% cả giai đoạn, với 2.545 hộ dân được hưởng lợi. Riêng năm 2013, 2.019 hộ dân tham gia dự án đã trồng mới được 2.623 ha rừng, đạt 114% kế hoạch. Đồng thời, Chi cục Lâm nghiệp đã đo đạc hiện trường 2.610 ha đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất cho 1.146 hộ dân, với 962 ha (Thạch Thành 1.001 hộ, Ngọc Lặc 145 hộ). (Báo Thanh Hóa 24/12) đầu trang(
Trước thực tế đời sống của người dân trên các lâm phần rừng U Minh Hạ còn gặp nhiều khó khăn, mà nguyên nhân là do điều kiện sản xuất, giá trị sản phẩm thấp, vừa qua, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Dương Tiến Dũng chủ trì buổi họp với các đơn vị liên quan nhằm tìm ra cơ chế hợp lý trong hợp tác đầu tư phát triển kinh tế rừng và quy hoạch hạ tầng tại vùng rừng U Minh Hạ.
Trên cơ sở xây dựng các phương án về hình thức hợp tác và mức hưởng lợi trong phát triển kinh tế rừng sau khi trừ các khoản chi phí của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, Phó Chủ tịch Dương Tiến Dũng đề nghị đơn vị tiếp tục hoàn thiện các hình thức hợp tác trên nguyên tắc tỷ lệ hưởng lợi của nhà đầu tư từ 5 - 10%. Về định mức chi phí trong hợp tác, phải được xây dựng sát với điều kiện thực tế và khả năng sản xuất thông qua thẩm định của Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đối với 6 khu vực được đề xuất xây dựng các trục kinh chính mang tính kết nối, các điểm tập kết lâm sản trên toàn lâm phần U Minh Hạ, Phó Chủ tịch Dương Tiến Dũng đề nghị cần tiến hành rà soát quy hoạch toàn bộ khu vực, từ đó xây dựng phương án triển khai đầu tư hạ tầng, giải pháp và công nghệ xây dựng gắn với sử dụng đa mục tiêu theo nhu cầu phát triển sản xuất từ việc lồng ghép các nguồn vốn. Trước mắt triển khai ngay việc nạo vét các trục kinh chính và xây dựng âu thuyền tại đầu ra cửa kinh T20 nhằm tạo điều kiện thuận tiện cho vận chuyển lâm sản cũng như nông sản của người dân sống trong khu vực.
Kinh tế rừng phải được vực dậy, kéo theo đời sống người dân dưới tán rừng được phát triển. Người dân vùng rừng U Minh Hạ còn nghèo, điều đó chứng tỏ đã qua việc thực hiện các giải pháp phát triển chưa thật sự phù hợp, đồng bộ, cần thiết phải có sự điều chỉnh, bổ sung hợp lý, đưa kinh tế rừng phát triển nhanh và ổn định hơn - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Dương Tiến Dũng nhấn mạnh. (Báo Ảnh Đất Mũi 24/12) đầu trang(
Từ đầu tháng 12.2013 đến nay, giá gỗ nguyên liệu keo, bạch đàn trên địa bàn tỉnh liên tục tăng, hiện đang ở mức 1,15 - 1,2 triệu đồng/tấn; tăng 300 - 400 ngàn đồng/tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giá gỗ nguyên liệu tăng mạnh là do các nhà máy dăm trong tỉnh cạnh tranh mua nguyên liệu, đẩy giá lên cao.
Ông Bùi Văn Hạnh - một người trồng rừng ở xã Nhơn Tân (thị xã An Nhơn) - cho biết: Tôi có 8 ha rừng trồng từ nhiều năm trước. Vừa qua, tôi khai thác 4 ha rừng keo lai ở xã Nhơn Tân, Nhơn Hòa, năng suất đạt gần 100 tấn/ha. Với giá gỗ nguyên liệu như hiện nay, gỗ keo lai mua tại nhà máy xấp xỉ 1,2 triệu đồng/tấn, gỗ bạch đàn 1,13 triệu đồng/tấn, tôi có lãi trên 50 triệu đồng/ha. Từ khi có 8ha rừng kinh tế, mỗi năm gia đình tôi có thu nhập hàng trăm triệu đồng.
Ông Cù Văn Mẫn, một hộ trồng rừng ở thôn Bình An 1, xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, cho biết: “Gia đình tôi trồng rừng cách đây hơn 10 năm. Hiện nay, tôi có trên 100 ha rừng nguyên liệu trên địa bàn xã Phước Thành và các địa phương lân cận. Vừa qua, tôi vừa thu hoạch 6 ha rừng keo lai, với giá bán bình quân 1,17 triệu đồng/tấn gỗ nguyên liệu, tổng doanh thu trên 600 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi trên 250 triệu đồng”.
Ông Nguyễn Bay, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Tuy Phước, cho biết: Toàn huyện trồng được 1.060 ha rừng theo Dự án WB3 do Ngân hàng Thế giới tài trợ vốn vay. Người dân trồng rừng chủ yếu bằng các giống keo lai, bạch đàn. Trong đó, gần 300 ha rừng trồng từ năm 2006 trên địa bàn xã Phước Thành, Phước An đã đến chu kỳ khai thác.
Thời điểm hiện nay, giá gỗ nguyên liệu được các nhà máy dăm gỗ trong tỉnh thu mua với giá gần 1,2 triệu đồng/tấn, cao hơn 300 ngàn đồng/tấn so với cùng kỳ năm 2012. Diện tích rừng đến kỳ khai thác ở thời điểm này đạt khoảng 80 - 120 triệu đồng/ha; lợi nhuận từ 47- 70 triệu đồng/ha.
Bên cạnh đó, hiện nay nhiều thương lái lùng sục thu mua gỗ keo, bạch đàn có đường kính từ 15 cm trở lên để chế biến gỗ ốp tường, gỗ sàn với giá trên 1,5 triệu đồng/tấn.
Theo ông Nguyễn Ngọc Đạo, Phó Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (huyện Vĩnh Thạnh: Nguyên nhân giá gỗ nguyên liệu giấy ở mức khá cao như hiện nay là do nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu dăm gỗ tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Hiện trên địa bàn các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên có hàng chục nhà máy chế biến dăm gỗ xuất khẩu, việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu rất quyết liệt.
Nhiều nhà máy cạnh tranh trong khi nguồn nguyên liệu có hạn nên giá gỗ nguyên liệu tăng khá cao. Có thời điểm, giá gỗ nguyên liệu giấy tại một số địa phương tăng lên trên 1,3 triệu đồng/tấn. Công ty hiện có trên 3.000 ha rừng trồng làm gỗ nguyên liệu ở các huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Hoài Ân…, song sản lượng gỗ nguyên liệu khai thác hàng năm vẫn không đủ cung cấp cho nhà máy chế biến dăm. Hiện nay, nhà máy chế biến dăm của Công ty thu mua mỗi ngày từ 500- 600 tấn gỗ nguyên liệu giấy trong và ngoài tỉnh.
Ông Nguyễn Hữu Lộc, Phó Giám đốc Công ty TNHH Thuận Tín, có nhà máy chế biến dăm tại phường Nhơn Hòa (thị xã An Nhơn) cho biết: Thời điểm cuối năm, nhu cầu và giá xuất khẩu dăm sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh, các nhà máy chế biến phải tăng cường cạnh tranh thu mua nguyên liệu để sản xuất. Hầu hết các nhà máy dăm gỗ trên địa bàn tỉnh chưa xây dựng vùng nguyên liệu ổn định nên diễn ra tình trạng cạnh tranh quyết liệt, đẩy giá thu mua gỗ nguyên liệu lên cao.
Riêng đối với công ty chúng tôi, hiện công suất chế biến của nhà máy khoảng 1.500 tấn nguyên liệu/ngày, nhưng do thiếu nguyên liệu nên chỉ hoạt động cầm chừng với khoảng 200 tấn nguyên liệu/ngày. Cái khó của các nhà máy chế biến dăm gỗ hiện nay là chưa gắn kết giữa chế biến và xây dựng vùng nguyên liệu nên thường xuyên rơi vào cảnh “ăn đong”.
Theo thống kê của Sở NN-PTNT, tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có trên 100 ngàn héc-ta rừng nguyên liệu giấy ở nhiều độ tuổi khác nhau từ các chương trình, dự án trồng rừng. Từ đầu năm đến nay, các đơn vị, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh đã khai thác được 6.659 ha rừng nguyên liệu giấy với sản lượng gỗ đạt 484.362 tấn.
Tuy vậy, nguồn nguyên liệu khai thác vẫn không đáp ứng đủ cho 21 nhà máy chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh. Một số nhà máy do không có nguyên liệu sản xuất nên phải hoạt động cầm chừng, có nhà máy phải tạm ngừng sản xuất. Đây là hệ quả của việc phát triển tràn lan các nhà máy chế biến dăm gỗ mà không gắn kết giữa xây dựng nhà máy với phát triển vùng nguyên liệu.
Giá gỗ nguyên liệu giấy đang tăng cao là điều đáng mừng đối với người trồng rừng, song từ nhiều năm nay giá mặt hàng này không ổn định mà khá bấp bênh, lúc thấp, lúc cao tùy thuộc vào nhà nhập khẩu. Lường trước tình hình này, ngày 31.10.2013, UBND ban hành Quyết định số 3240/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến dăm gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định đến năm 2020, định hướng đến năm 2025.
Theo đó, phát triển công nghiệp chế biến dăm gỗ trên cơ sở cân đối khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến gỗ và dăm gỗ, phù hợp với Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 tỉnh Bình Định, Quy hoạch công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
Mục tiêu chung là khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng đất đai hiện có, tận dụng những lợi thế của từng địa phương để phát triển vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, thâm canh, gắn hiệu quả kinh tế với phát triển bền vững, đảm bảo cung cấp đủ nguồn nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dăm gỗ được quy hoạch hoạt động ổn định, có hiệu quả... (Báo Bình Định 24/12) đầu trang(
Tốt nghiệp Khoa chăn nuôi – thú y, Trường Đại học Tây Nguyên, anh Hoàng Văn Tá (54 tuổi, trú tại Buôn Ky, phường Thành Nhất, TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) hiện nay là chủ một trang trại nuôi heo rừng lớn nhất tại địa phương.
Anh Tá cho biết, sau khi tốt nghiệp đại học anh đã làm rất nhiều nơi với nhiều ngành nghề khác nhau nhưng kinh tế gia đình vẫn không khấm khá lên được. Anh ngày đêm trăn trở, suy nghĩ chuyển hướng làm ăn sao cho phù hợp cho điều kiện gia đình.
Sẵn có kiến thức chăn nuôi, vườn tược rộng rãi, nhu cầu thị trường đang cần, nên năm 2007 anh quyết định xin giấy phép chăn nuôi, nuôi thử heo rừng, ban đầu anh nuôi thử 8 con heo rừng lai và 3 con heo rừng gốc. Nhưng chỉ vài năm đến nay số lượng heo của gia đình anh Tá đã sấp xỉ 350 con heo rừng, cả heo thịt và heo giống cung ứng cho thị trường trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Với diện tích vườn hơn 1 héc ta, anh Tá xây chuồng trại và trồng nhiều cây xanh theo mô hình bán hoang dã cho heo rừng. Bên cạnh đó anh còn áp dụng những kiến thức về kỹ thuật đã từng học qua, cũng như học hỏi thêm kinh nghiệm từ những người đã nuôi heo từ trước đó vào chăn nuôi, nên đàn heo của anh ngày càng phát triển nhanh về số lượng và cả chất lượng thịt.
Hiện nay số lượng heo của gia đình cũng không đủ để cung cấp cho thị trường tiêu thụ, vì nhu cầu rất cao. Giá cả heo rừng hiện nay dao động từ 130 – 150 ngàn đồng/kg mang lại nguồn thu nhập khá cho gia đình anh. Bên cạnh việc nuôi heo rừng, anh Tá còn nuôi thêm một số động vật hoang dã như: kỳ đà, nhím, chồn… Với việc chăn nuôi, hằng năm gia đình anh đạt mức thu nhập từ 1 tỷ đến 1,5 tỷ. Chính vì thế hằng ngày càng có nhiều người đến thăm quan mô hình chăn nuôi, cũng như học hỏi kinh nghiệm từ anh Tá để mở trang trại.
Anh Tá chia sẻ thêm về những kinh nghiệm khi nuôi heo rừng như: nuôi heo việc đầu tiên phải có vốn lưu động về giống và thức ăn, bên cạnh đó là cơ sở vật chất chuồng trại,phải xin giấy phép chăn nuôi, và phải có hiểu biết rõ về vật nuôi, các loại bệnh và quan trọng là về thị trường tiêu thụ.
Nuôi heo rừng mang lại hiệu quả, không quá phức tạp thức ăn lại đơn giản dễ tìm nhưng theo anh Tá không được chạy theo số lượng mà quên đi chất lượng “heo rừng ngon phải là heo không được nhão và mỡ, có chuồng trại rộng rãi để heo vận động và không được sử dụng nhiều thức ăn công nghiệp vì như thế heo kém chất lượng, sẽ không bán được, hoặc bán chỉ 1 lần mà không có lần 2”.
Vượt qua những khó khăn ban đầu khi quyết định chuyển đổi mô hình kinh tế, đến nay với cơ sở kinh tế khá vững chắc của gia đình mình, anh Tá còn tâm huyết và dự định với việc nuôi heo rừng gốc và đang có hợp đồng với Viện Khoa học Việt Nam để mở rộng quy mô nuôi heo rừng gốc bởi nuôi heo rừng gốc rất khó và đòi hỏi kỹ thuật cao.
Mô hình chăn nuôi của gia đình anh Hoàng Văn Tá là một trong những mô hình chăn nuôi tiêu biểu tại phường Thành Nhất, TP. Buôn Ma Thuột và cũng là mô hình mà rất nhiều bà con nông dân học tập để phát triển kinh tế. (Tầm Nhìn 23/12) đầu trang(
Tháng 6 năm 2013, nhóm nghiên cứu của khoa Nông Lâm Ngư, Đại học Vinh phối hợp với Viện nghiên cứu phát triển vùng thuộc Bộ Khoa học & Công nghệ do PGS. TS Trần Ngọc Lân phụ trách đã tiến hành điều tra về nhóm cây có giá trị dược liệu tại Vườn quốc gia Pù Mát. Nhóm nghiên cứu đã tìm thấy nhiều loài thực vật có giá trị dược liệu cao, đặc biệt trong đó có cây một lá, một củ.
Tên gọi cây một lá, một củ xuất phát từ đặc điểm thực vật học của nó, đó là loài cây này chỉ có duy nhất một lá. Cây một lá có tên khoa học là Nervilia fordii (Hance) Schltr., thuộc họ lan (Orchidaceae). Ở Việt Nam, nó còn được gọi với các tên như thanh thiên quỳ, lan cờ, trân châu trắng, slam lài, bâu thoọc (Tày).
Cây một lá là một loài lan địa sinh sống lâu năm, cùng họ với những loài lan cảnh có hoa đẹp khác. Cây cao từ 20 - 30cm, thân rất ngắn, có rễ củ dạng tròn với nhiều ngấn ngang nặng khoảng 1,5 – 2 gam. Cây chỉ có duy nhất một lá mọc thẳng lên từ củ sau khi hoa tàn. Lá hình tim tròn, xếp các gân lá hình chân vịt, đường kính từ 10 – 25 cm, mép uốn lượn. Hoa màu trắng, đốm tím hồng. Quả nang chứa nhiều hạt nhỏ.
Cây một lá phân bố ở Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan. Ở Việt Nam, cây một lá mọc trên kẽ đá, nơi rợp vùng đá vôi và ở nơi ẩm vùng chân núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai, Hoà Bình, Ninh Bình, Kon Tum, Lâm Đồng.
Trong danh mục các loài thực vật và đặc biệt là nhóm dược liệu của Vườn quốc gia Pù Mát chưa thấy xuất hiện loài cây một lá này. Chính vì vậy, việc phát hiện và thu thập được mẫu cây một lá là một phát hiện mới, bổ sung cho đa dạng sinh học thực vật và các loài có giá trị dược liệu cho khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.
Ở Việt Nam, chưa có các công trình nghiên cứu về cây một lá cũng như thành phần hoá học có trong thân lá và củ của loài này. Tuy nhiên, từ lâu cây một lá đã được sử dụng như một loài dược liệu quý, có giá trị kinh tế. (Báo Nghệ An 23/12) đầu trang(
Đối với các dự án khai thác ti-tan đã hết hạn khai thác, UBND tỉnh Bình Định chỉ đạo không gia hạn giấy phép cũng như không cấp giấy phép mới, yêu cầu lập hồ sơ đóng cửa mỏ và thực hiện việc hoàn thổ, trồng rừng phục hồi môi trường theo đúng phương án đã phê duyệt. Những trường hợp cố tình vi phạm sẽ kiên quyết xử lý theo qui định.
Đến nay, trên địa bàn tỉnh Bình Định có 16 dự án khai thác ti-tan được UBND tỉnh cấp giấy phép (kể cả giấy phép hết hiệu lực và còn hiệu lực). Qua kiểm tra, công tác hoàn thổ mới thực hiện được 195,03ha (đạt 59,3% tổng diện tích mặt bằng đã khai thác xong); diện tích trồng lại rừng được 92,78 ha, đạt 28% tổng diện tích đã khai thác xong; tổng diện tích đã khai thác nhưng chưa hoàn thổ là 133,35 ha (chiếm 40,7% tổng diện tích đã khai thác xong).
Việc các doanh nghiệp sau khi khai thác xong, quá chậm trễ trong việc hoàn thổ, trồng lại diện tích rừng (nhất là khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát) đã tác động đến đời sống sản xuất của người dân địa phương, gây ra tình trạng cát bay, ảnh hưởng đến nguồn nước sản xuất, sinh hoạt và tạo nên những chiếc “bẫy sập” gây tai nạn người dân qua lại nếu sơ ý. (Tài Nguyên&Môi Trường 22/12) đầu trang(
Năm 2010, ông Ba Liêm (Trần Thanh Liêm, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ tỉnh) nghỉ hưu, dùng tiền dành dụm mua lại thửa rừng tràm còi cọc 7 ha ở xã Khánh An (huyện U Minh).
Ông đầu tư lập trang trại, trồng cây ăn trái, nuôi cá đồng, nuôi heo rừng kết hợp trồng rừng thâm canh. Sau hơn 3 năm tạo dựng, huê lợi từ mô hình trang trại giúp ông có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Ông Ba Liêm hồ hởi: “Tuy là đất rừng nghèo, nhưng nếu có vốn đầu tư thì khó bề nghèo được”.
Vỡ lẽ mới biết, dân ở lâm phần rừng tràm phần lớn là người từ nơi khác đến theo diện xây dựng kinh tế mới. Ở quê nhà, họ cũng ít đất đai, nghèo khó nên khi nhận đất nhận rừng nơi ở mới, xuất phát điểm thấp, thiếu vốn chỉ trồng tràm quảng canh năng suất thấp, kéo dài thời gian thu hoạch, tràm rớt giá, thu nhập bấp bênh. Bởi vậy, dòng người lâm phần U Minh bị coi là “túi nghèo” của tỉnh.
Nơi đây hiện còn trên 3.700 hộ nghèo (chiếm 15,64%). Trong đó, hộ nghèo khu vực rừng tràm chiếm khoảng 25%, tập trung ở các xã có nhiều ấp nằm trên lâm phần, như: Khánh Thuận, Nguyễn Phích và Khánh Lâm.
Ông Ba Liêm thừa hiểu chuyện ấy vì thời gian công tác khá dài, đi thực tế khá nhiều. Và từ ngày về gắn bó với rừng tràm tới giờ, ông càng hiểu sâu hơn tình cảnh của người dân ở rừng. Ông cho hay, bộ phận lớn hộ dân gắn bó với rừng tràm nhưng chưa phất lên được vì nhiều nguyên nhân, nhưng cái chính là do bà con có tâm lý bất an, chưa yên tâm canh tác lâu dài.
Ông Ba Liêm lý giải rằng, cho đến tận bây giờ, hàng chục năm sau giải phóng, cư dân rừng tràm chưa xác định được mình là ai.
Nếu gọi là công nhân lâm nghiệp thì hổng phải, vì công nhân phải được chủ trả lương hằng tháng, được mua bảo hiểm và hưởng những chế độ khác của người lao động… Còn gọi là nông dân cũng chưa đúng, vì nông dân phải làm chủ ruộng đất, có bằng khoán đỏ, phải được hưởng lợi từ các cây trồng, vật nuôi trên đất rừng.
“Hợp đồng nhận khoán đất rừng từ 21-25 năm, hết hạn phải trả lại, chưa biết có được ký hợp đồng tiếp hay không. Người dân muốn trồng một cây lâu năm nhưng chưa chắc cây trái đó để lại được cho đời con, đời cháu thụ hưởng”, ông Ba Liêm phân tích.
Ngoài thiệt thòi vì chưa làm chủ được đất đai, cư dân rừng tràm vẫn chưa được hỗ trợ, đầu tư tương xứng. Vùng rừng tràm kinh tế ở Cà Mau chưa được đầu tư hạ tầng nhiều, cả tiền bạc và cơ chế, lúc phân ra, lúc gộp lại, quản lý còn chồng chéo cả về lợi ích và kinh tế.
Hệ lụy kéo theo là cả một vùng đất đai rộng lớn vẫn chưa xây dựng được một quy trình sản xuất và canh tác ổn định. Vậy nên, tài nguyên rừng tràm chỉ dừng lại ở mức tiềm năng.
Lâm phần rừng tràm trên 42.000 ha, gần 80% rừng kinh tế, đã giao khoán cho trên 5.000 hộ dân từ năm 1995. Đến năm 2004, trên 2.100 hộ trong số đó được giao về cho các xã có quy hoạch đất lâm nghiệp nhằm ổn định sản xuất lâu dài.
Số hộ còn lại hợp đồng đã hết thời hạn, chủ rừng đang xây dựng phương án chuyển đổi hình thức giao khoán theo Nghị định 135/2005 của Chính phủ và Quyết định 19 của UBND Cà Mau.
Trong đó, có một số tuyến dân cư sẽ thực hiện theo đề án “Sắp xếp dân cư và bố trí lại sản xuất khu vực rừng tràm”.
Theo Chủ tịch UBND huyện U Minh Lê Thanh Triều, mặc dù kết cấu hạ tầng khu vực rừng tràm những năm gần đây được quan tâm đầu tư nhiều nhưng bức tranh rừng tràm “tối” hơn bên ngoài.
Hộ có đất rừng chỉ làm 1 vụ lúa, phải giữ nước ngọt phòng cháy rừng mùa khô nên lúa đạt năng suất khoảng 2,5 tấn/ha. Trong khi ngoài rừng làm được 2 vụ lúa năng suất trên 4 tấn/ha hoặc 1 vụ lúa 1 vụ tôm.
Cũng theo ông Triều, huyện U Minh có khoảng 40 tuyến dân cư trong khu vực rừng tràm, mong được tỉnh sớm đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Đề án sắp xếp dân cư và bố trí lại sản xuất khu vực rừng tràm. “Huyện mong nhất là sau khi sắp xếp theo đề án, người dân sẽ khai thác tốt tiềm năng đất đai để thoát nghèo và làm giàu nhanh chóng”, ông Triều khát khao.
Đề cập đến dự án an sinh rừng tràm, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Trần Văn Thức, cho biết, tỉnh đang thiếu vốn triển khai đề án nên dự kiến làm thí điểm một vài tuyến dân cư, khi nào hiệu quả và dân đồng thuận cao sẽ đẩy nhanh tiến độ.
Thực tế, nhiều hộ dân thuộc diện di dời ra khỏi rừng không muốn di dời. Một mặt bà con sợ đất đai bị thu hẹp. Thay vì có 5-7 ha đất như hiện tại, sau khi di dời hoặc sắp xếp lại, bà con chỉ còn từ 1-2 ha (cả đất sản xuất và đất rừng).
Mặt khác, bà con cho rằng, hàng chục năm trời bỏ công bỏ sức với thửa đất hiện tại, đất đai đã nên hình, nên khuôn. Bà con chỉ cần được tiếp sức về hạ tầng, về vốn và cởi bỏ những cơ chế ràng buộc, đời sống sẽ nhanh chóng chuyển biến. (Báo Cà Mau 22/12) đầu trang(
Ngày 18-12, trong khi làm nhiệm vụ tuần tra khu vực rừng phòng hộ ven biển thuộc ấp Pháo Đài (Phú Tân, Tân Phú Đông), Đồn Biên phòng Phú Tân phát hiện, đình chỉ hành vi và mời 4 đối tượng dùng lưới khổ lớn giăng bẫy để bắt động vật rừng (chim sáo nhí) về đơn vị để làm rõ vụ việc.
Tại Đồn Biên phòng, các đối tượng khai nhận, thấy chim bay về trú ngụ khu vực rừng phòng hộ ven biển khá nhiều, Huỳnh Phan Thanh Nam (ngụ ấp Bà Từ, xã Phú Tân) đã điện thoại cho Nguyễn Văn Lê), Huỳnh Văn Dũng, cùng ngụ tại tỉnh Đồng Nai (chuyên bẫy chim) mang lưới, sào, lồng xuống và thuê Nguyễn Văn Tâm (ấp Bà Tiên 1, xã Phú Đông, huyện Tân Phú Đông) cùng giăng bẫy chim đem bán cho các chùa làm phóng sinh hoặc các nhà hàng, quán nhậu tại TPHCM và Đồng Nai, với giá từ 5.000 - 10.000 đồng/con.
Đồn Biên phòng đã lập hồ sơ, ra quyết định cảnh cáo 4 đối tượng, tịch thu tang vật, dụng cụ săn bẫy và tiến hành thả trên 600 con chim sáo nhí về với thiên nhiên. (Báo Ấp Bắc 23/12) đầu trang(
Ngày 23-12, anh Đoàn Hữu Tài (quê Vĩnh Long), nhân viên vườn thú của Khu du lịch Đại Nam (phường Hiệp An, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương).
Trong lúc đang vào khu vực chuồng voi để sơn hàng rào khu vực khách tham quan thì bị một con voi quật vào hồ chứa nước trong chuồng. Thấy vậy, anh Phạm Văn Vẹn (ngụ TP.HCM) lao vào đuổi voi và đưa anh Tài đi bệnh viện cấp cứu nhưng nạn nhân đã tử vong.
Theo nhân viên của Khu du lịch Đại Nam, con voi đực nặng khoảng hai tấn, được tỉnh Đắk Lắk tặng năm 2008. Thường ngày con voi này rất hiền. Để khắc phục hậu quả, công ty sẽ hỗ trợ chi phí mai táng nạn nhân cũng như hỗ trợ gia đình. Sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan chức năng đã đến khám nghiệm hiện trường để điều tra nguyên nhân. (Pháp Luật TPHCM 24/12; Thanh Niên 24/12) đầu trang(
Vườn quốc gia Hoàng Liên nằm trên dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ thuộc địa bàn Sa Pa (Lào Cai) và huyện Tân Yên (Lai Châu) được đánh giá là một trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất Việt Nam và cả vùng Đông Dương. Tuy nhiên, nhiều năm nay, do buông lỏng công tác quản lý nên Vườn quốc gia Hoàng Liên đã bị xâm hại nghiêm trọng.
Vườn quốc gia Hoàng Liên rộng hơn 30 ngàn ha, vốn là khu rừng nguyên sinh nổi tiếng nhất Việt Nam, với đỉnh núi Fansipan được coi là "nóc nhà Đông Dương” cao trên 3000 mét.
Tuy nhiên, giờ đây có đến nơi này và đi sâu vào trong vùng lõi của vườn quốc gia mới thấy đau sót về cảnh tượng hoang toàn, đổ nát bởi tình trạng phá rừng lấy gỗ diễn ra tràn lan. Trong vùng lõi, những gốc cổ thụ đã hoai mục đổ chỏng trơ. Dọc đường đi, chúng tôi liên tục bắt gặp người đi rừng với những cưa máy và đám lâm tặc ngang nhiên cưa xẻ gỗ như không có chuyện gì xảy ra. Quan sát dọc các khe núi ven đường mòn, chúng tôi thấy nhiều cây cổ thụ vừa mới bị đốn hạ, bên cạnh đó là những khối gỗ đã được cưa xẻ vuông vắn chất thành đống.
Càng vào sâu trong rừng Hoàng Liên, tiếng cưa máy và tiếng nói cười của lâm tặc ngày càng giòn vang. Không khó để tiếp cận các vùng rừng bị tàn phá bởi thực tế bởi tất cả những điểm khai thác rừng trái phép đều có đường mòn. Tuy nhiên, dọc đường luôn có lực lượng "bảo vệ”, hễ thấy dấu hiệu lạ là các đối tượng này báo động để đội ngũ lâm tặc tháo chạy.
Theo quan sát, tình trạng này diễn ra tràn lan nhưng lạ thay không hề thấy bất cứ bóng dáng nào của lực lượng chức năng can thiệp. Theo một cán bộ địa phương , hầu hết các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ đều là người dân ở địa phương. Một phần do nghèo, một phần là do lúc nông nhàn chưa kiếm được việc gì làm nên đi mua gỗ của lâm tặc trong rừng rồi vận chuyển về bán kiếm lời.
Bên cạnh đội ngũ lâm tặc chuyên nghiệp, thì người dân cũng lũ lượt men theo các con đường mòn vào rừng để chặt phá, tận thu gỗ và mở lò đốt than ngay ở trong rừng. Gỗ rừng quốc gia được đốt làm than hoa sau đó vận chuyển ra thị trấn Sa Pa để bán. Do người dân mở lò đốt than bừa bãi nên các cơ quan chức năng Lào Cai liên tục cảnh báo nguy cơ cháy rừng.
Theo thống kê của lực lượng chức năng, từ năm 2010 đến nay, hầu như năm nào cũng xảy ra vài vụ cháy rừng lớn ở Vườn quốc gia Hoàng Liên khiến diện tích rừng bị sụt giảm thảm hại. Trước đây, khu rừng Hoàng Liên Sơn là một rừng nguyên sinh với vô vàn cây cổ thụ rậm rạp với đủ loại gỗ quý và động vật quý hiếm. Tuy nhiên, giờ đây chỉ còn sót lại những vạt rừng mỏng. Đã thế, những rừng Trúc hiện tại trong Vườn quốc gia đang chết lụi, khiến toàn bộ khu vực vùng lõi của rừng Hoàng Liên trở thành vạt đồi trơ trọi.
Rừng quốc gia bị cháy và tàn phá, kéo theo hệ lụy là thảm thực vật quý hiếm dần biến mất. Từ đó, kéo theo hiện tượng sói lở và mực nước ngầm ở khu vực này sụt giảm nghiêm trọng. Hậu quả là cả một thảm rừng ở vùng lõi đang chết dần, chết mòn. Không chỉ vậy, rừng ở vùng đệm của vườn quốc gia cũng đang bị chết khô có thể gây cháy bất cứ lúc nào.
Vườn quốc gia Hoàng Liên không chỉ là di sản mà còn là niềm tự hào của Việt Nam. Đặc biệt, hiện nay, UBND tỉnh Lào Cai đang chuẩn bị khởi công một dự án cáp treo lên đỉnh Fansipan để thúc đẩy phát triển du lịch. Tuy nhiên, việc thu hút du lịch để phát triển kinh tế, xã hội mà không gắn với bảo vệ rừng và giữ cảnh quan thì cũng chẳng bền vững. Và cứ tình trạng này, chẳng bao lâu nữa vườn quốc gia Hoàng Liên sẽ trở thành vùng đất trống, đồi núi trọc.
Hiện nay, Vườn quốc gia Hoàng Liên đang kêu cứu từng ngày. (Đại Đoàn Kết 24/12) đầu trang(
Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan đã phát hiện thêm những sai phạm của Công ty Bảo Ngọc Bình Phước nhằm đưa gỗ lậu vào Việt Nam.
Sau khi đưa tin về những nghi vấn nhập khẩu gỗ lậu tại cửa khẩu Hoa Lư, tỉnh Bình Phước, Cục Điều tra chống buôn lậu của Tổng cục Hải quan cho biết, đơn vị này còn phát hiện thêm những dấu hiệu bất thường bên cạnh số gỗ tạm giữ của công ty TNHH thương mại dịch vụ sản xuất xuất nhập khẩu Bảo Ngọc Bình Phước. Đó là việc doanh nghiệp này đã dùng Công thư của Bộ trưởng Bộ Công Thương để nhập nhèm thay giấy phép quá cảnh không đúng quy định pháp luật, nhưng vẫn được Hải quan Hoa Lư làm ngơ.
Theo tài liệu Chứng thư này được thiết lập vào ngày 20/1/2012 (tức là thiết lập cách đây gần 2 năm), theo nội dung của Chứng thư, Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam có đề nghị ngài Bộ trưởng Bộ Thương mại Vương quốc Campuchia chấp thuận kiến nghị của công ty Bảo Ngọc Bình Phước về việc cho quá cảnh 1.000m3 gỗ từ Lào quá cảnh qua Campuchia về Việt Nam. Đây là một trong những thủ tục bắt buộc theo hiệp định quá cảnh giữa hai nước, nhất là đối với mặt hàng gỗ đang được phía Campuchia quản lý rất gắt gao.
Tuy nhiên Chứng thư này không thấy có nội dung nào về giới hạn thời gian cho phép, có thể hiểu như đề nghị cho quá cảnh gỗ vô thời hạn. Và từ đó công ty Bảo Ngọc Bình Phước đã dùng nó xuất trình như giấy phép từ phía Việt Nam cho phép quá cảnh gỗ. Mặc dù Chứng thư có từ 2 năm trước, nhưng Hải quan Hoa Lư vẫn chấp nhận và đã lập phiếu theo dõi số gỗ nhập mà doanh nghiệp này nhập theo đề xuất của công thư này.
Việc sử dụng chỉ với một công thư trên coi như văn bản cho phép quá cảnh gỗ qua Campuchia của doanh nghiệp và được Hải quan Hoa Lư chấp thuận là đúng hay sai?. Vì sao một chứng thư lại có giá trị sử dụng vô thời hạn, không hề khống chế thời gian thực hiện để doanh nghiệp sử dụng thời gian nào cũng được. Và tại sao thư của Bộ trưởng Bộ Công Thương hai nước gửi cho nhau mà công ty Bảo Ngọc Bình Phước lại có bản gốc để sử dụng đang là những nghi vấn cần điều tra làm rõ.
Tuy nhiên theo tìm hiểu của phóng viên: Trong hiệp định quá cảnh hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia, không có chuyện một văn bản mới ở mức đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam đề xuất gửi Bộ trưởng Campuchia lại có thể coi là văn bản chấp thuận cho phép quá cảnh qua Campuchia. Bởi theo hiệp định này, để được quá cảnh gỗ qua Campuchia phải có văn bản đề nghị của Bộ Công Thương Việt Nam và phải được sự chấp thuận từ phía Campuchia đồng ý.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, doanh nghiệp không xuất trình được văn bản đồng ý từ phía Campuchia. Mặt khác, tại văn bản chỉ đạo ngày 4/7/2013 của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về xuất nhập khẩu gỗ từ Campuchia có nội dung: Về việc tạm nhập tái xuất: không cho phép tạm nhập tái xuất gỗ vận chuyển từ Campuchia và Lào.
Nếu với những quy định trên thì việc cho phép tạm nhập tái xuất gỗ của Hải quan Hoa Lư là trái với chỉ đạo của Chính phủ. Phóng viên đã liên lạc với lãnh đạo Bộ Công Thương để làm rõ những nội dung xung quanh bức công thư này và được cơ quan này hứa sẽ thông tin vào ngày 24/12.
Công ty Bảo Ngọc Bình Phước có địa chỉ tại ấp 7, xã Lộc Tháu, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước và là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu gỗ lớn nhất tỉnh Bình Phước. (VTV 24/12) đầu trang(
Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) ngày 23.12 cho biết, Tổng cục Hải quan vừa phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài thu giữ gần 200kg ngà voi cắt khúc và các sản phẩm từ ngà voi.
Lô hàng này được giấu trong bốn kiện hàng trên chuyến bay SQ176 từ Singapore về sân bay Nội Bài, Hà Nội. Vụ việc đang được điều tra làm rõ. (Lao Động 24/12) đầu trang(
Thực hiện sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Huyện ủy Đăk Glei, trong thời gian qua, các cấp chính quyền ở huyện Đăk Glei đã có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) và đã hạn chế đáng kể tình trạng vi phạm lâm luật. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm lâm luật trên địa bàn vẫn còn cao, do vậy, huyện Đăk Glei đang đẩy mạnh triển khai các giải pháp “hạ nhiệt” để bảo vệ rừng trong thời gian đến.
Theo ông Nguyễn Văn Hải, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, để chấn chỉnh và tăng cường công tác QLBVR, trong năm 2013, huyện đã thành lập 9 chốt để ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép, đồng thời tăng cường công tác tuần tra, truy quét tại các “điểm nóng” để phát hiện và xử lý nghiêm các vụ vi phạm lâm luật.
Theo đó, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện các cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý 160 vụ vi phạm (133 vụ phá 48 ha rừng làm nương rẫy; 3 vụ khai thác gần 38 m3 gỗ trái phép; còn lại là các vụ vận chuyển, mua bán, cất giấu lâm sản… trái phép). Trong các vụ vi phạm, ngoài việc xử lý hành chính, huyện đã khởi tố hình sự 17 vụ, đưa ra xét xử 9 vụ, phạt tù 10 đối tượng. Bằng các biện pháp quyết liệt này, năm 2013 huyện Đăk Glei đã giảm 188 vụ vi phạm lâm luật (giảm 58,5%) so với 2012.
Điển hình trong việc “hạ nhiệt” là xã Đăk Pét. Ông A Tiểng - Phó Chủ tịch UBND xã Đăk Pét cho biết trong năm 2013, UBND xã thành lập 3 chốt bảo vệ rừng tại 3 thôn trọng điểm: Đăk Ven, Măng Rao và Đăk Dền để ngăn chặn các hộ phát luỗng dưới tán rừng; tổ chức 4 đợt tuyên truyền cho gần 300 lượt người dân tham gia bảo vệ rừng, không phá rừng, khai thác, vận chuyển… lâm sản trái phép. Nhờ đó, nếu như năm 2012 ở xã có 8 vụ phá 1,7 ha ha rừng, thì năm nay không xảy ra vi phạm lâm luật.
Có thể nói, tình trạng phá rừng trái phép trên địa bàn huyện đã được “hạ nhiệt” một bước. Tuy nhiên, theo đánh giá, tình trạng phá rừng vẫn còn cao (mặc dầu diện tích rừng bị phá giảm 13,14 ha so với năm 2012). Song điều đáng nói, đây là con số thực, đáng biểu dương bởi huyện Đăk Glei không bao che, giấu giếm hay bỏ qua các vụ vi phạm.
Theo Ban chỉ đạo về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng huyện, hiện nay, Ban chỉ đạo quản lý bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) huyện triển khai các giải pháp như: ban hành kế hoạch, chỉ đạo UBND huyện, bí thư đảng ủy các xã, thị trấn tập trung triển khai thực hiện các giải pháp ngăn chặn phá rừng trái phép.
Trong công tác tuyên truyền, Ban đã chỉ đạo Đài Truyền thanh-truyền hình, Phòng Văn hóa thông tin, Hạt Kiểm lâm tuyên truyền công tác QLBR trên hệ thống truyền thanh không dây đến các thôn bằng tiếng phổ thông và tiếng địa phương.
Nội dung tuyên truyền tập trung nêu lên những tác hại của việc mất rừng; các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong công tác QLBVR; các chế tài xử lý vi phạm; thông báo kết quả xử tù, phạt hành chính đối với các hành vi phá rừng trái phép gần đây; hướng dẫn người dân canh tác nương rẫy trên đất dốc…
Bên cạnh đó, UBND huyện đã chỉ đạo UBND các xã, thị trấn thành lập 20 chốt chặn (16 chốt trên lâm phần các chủ rừng, 4 chốt trên lâm phần các xã) để bảo vệ rừng. Mỗi chốt bố trí 7 người (bao gồm: cán bộ kiểm lâm, chủ rừng và lực lượng xã); chốt trưởng do phó chủ tịch UBND xã hoặc trưởng công an xã, chỉ huy trưởng chỉ huy quân sự xã hoặc kiểm lâm địa bàn.
Ngoài các chốt, Ban chỉ đạo đã chỉ đạo Tổ công tác đặc biệt của huyện xây dựng kế hoạch tuần tra, truy quét tại các “điểm nóng” trên địa bàn; UBND huyện đang tiến hành rà soát quỹ đất trên địa bàn, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho dân để bảo đảm việc sản xuất nương rẫy được ổn định, lâu dài, hạn chế tình trạng phá rừng trái phép để lấy đất làm nương rẫy.
Để “hạ nhiệt”, Ban chỉ đạo BV&PTR huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn, các chủ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi vi phạm trong lĩnh vực QLBVR; tổng hợp kết quả xác minh tài sản của những người vi phạm phá rừng trái phép đã bị xử phạt nhưng chưa nộp phạt để báo cáo Thường trực Huyện ủy xem xét, chỉ đạo xử lý kỷ luật đối với các đảng viên vi phạm hoặc cưỡng chế đối với những người có tài sản, có tiền nhưng không chịu nộp phạt…. (Kontum.gov.vn 24/12) đầu trang(
Người dân sống tại khu vực ấp An Điền, xã An Bình, huyện Châu Thành rất bức xúc trước tình trạng một trại cưa nằm trên QL 22B khu vực ấp An Điền “ngang nhiên” đổ những đống gỗ to đùng trên lề đường trong một thời gian dài mà chẳng thấy cơ quan chức năng nào xử lý.
Người dân nơi đây cho biết, QL 22B có nhiều xe cộ lưu thông- nhất là xe tải, nên việc trại cưa để gỗ trên lề đường đã gây khó khăn trong việc lưu thông của người dân và tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn. Họ thắc mắc, trên QL 22B thường xuyên có lực lượng chức năng tuần tra, kiểm soát giao thông, nhưng vì sao những đống gỗ “lộ thiên” trên lề đường vẫn còn tồn tại? Còn chính quyền địa phương thì cũng chẳng ngó ngàng gì đến sự hiện diện của những đống gỗ?
Phóng viên tìm đến UBND xã An Bình để phản ánh những thắc mắc của người dân, phóng viên không gặp được lãnh đạo vì “đều bận đi học”. Còn Trưởng Công an xã Hoát Văn Thắm cho biết, do mới về nhận công tác được hơn 1 tháng nên chưa nắm được thông tin trên. Nhưng trước phản ánh của người dân, ông Thắm sẽ tiến hành kiểm tra và tham mưu cho Ban An toàn giao thông xã mời chủ trại cưa đến xử lý hành vi để gỗ lấn chiếm lề đường trong thời gian sớm nhất. (Báo Tây Ninh 24/12) đầu trang(
Một công ty du lịch nằm ven Ninh Chữ khởi kiện Sở Tài chính Ninh Thuận ra tòa vì ban hành khung giá thuê đất từ 1.050 đồng lên 13.365 đồng/m2/năm.
Năm 1999, Công ty TNHH MTV Hoàn Cầu (Công ty Hoàn Cầu) được UBND tỉnh Ninh Thuận cấp giấy chứng nhận đầu tư xây dựng dự án khu du lịch và trồng rừng dọc bãi biển Ninh Chữ, TP.Phan Rang - Tháp Chàm. Theo đó, Công ty Hoàn Cầu được miễn nộp tiền sử dụng đất trong thời gian thực hiện dự án (50 năm) đối với đất rừng phòng hộ ven biển và 6 năm tiền thuê đất kể từ ngày ký hợp đồng thuê đất xây dựng khu du lịch.
Cuối năm 2001, tỉnh Ninh Thuận ban hành quyết định cho Công ty Hoàn Cầu thuê 81.730 m2 đất cát ven biển; giá thuê đất được áp dụng theo QĐ 1357/1995 của Bộ Tài chính. Cụ thể: giá thuê đối với hơn 30.000 m2 đất xây dựng công trình là 1.050 đồng/m2/năm và 50.000 m2 đất rừng phòng hộ được miễn tiền thuê đất.
Năm 2008, tỉnh Ninh Thuận điều chỉnh diện tích sử dụng của Công ty Hoàn Cầu, với đất xây dựng công trình là 50.313,1 m2 và đất rừng phòng hộ 31.417 m2. Cùng thời điểm, căn cứ vào Nghị định 142/2005/NĐ-CP của Chính phủ (NĐ 142) về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Sở Tài chính (STC) Ninh Thuận ra QĐ số 227/QĐ-STC (QĐ 227) điều chỉnh, áp giá thuê đất xây dựng công trình đối với Hoàn Cầu là 13.365 đồng/m2/năm; 25 đồng/m2 đối với đất rừng phòng hộ (kể từ 1.1.2006). Cho rằng QĐ 227 là không đúng luật, nên Công ty Hoàn Cầu có đơn khởi kiện ra tòa.
Tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX đã tuyên hủy toàn bộ QĐ 227 của STC vì vi phạm thời gian ổn định đơn giá thuê đất theo khoản 1, điều 8 NĐ 142 và căn cứ giấy phép đầu tư thì Công ty Hoàn Cầu là đối tượng được áp dụng giá thuê đất theo Điều 3, QĐ 1357, được quy định: “… Mức điều chỉnh mỗi lần không quá 15% theo giá trị hợp đồng thuê đất và chỉ điều chỉnh cho thời gian các kỳ thanh toán còn lại”.
Tương tự, HĐXX phúc thẩm TAND tối cao tại TP.Hồ Chí Minh cho rằng Khoản 2, Điều 9 của NĐ 142 chỉ quy định về “Đơn giá thuê đất, thuê mặt nước” chứ không có quy định về thời gian điều chỉnh giá như kháng cáo của STC Ninh Thuận. Về đơn giá thuê đất của Công ty Hoàn Cầu thực hiện theo QĐ 1357, không thực hiện theo Khoản 2, Điều 9 NĐ 142. Do vậy, HĐXX phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm.
Sau khi xem xét đề nghị của STC Ninh Thuận, mới đây TAND tối cao đã có kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao xét xử thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án phúc thẩm của TAND tối cao tại TP.Hồ Chí Minh và bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Ninh Thuận, giao hồ sơ vụ án để TAND tỉnh Ninh Thuận xét xử lại từ đầu.
Theo TAND tối cao, qua xem xét hồ sơ, hợp đồng thuê đất giữa Sở Địa chính Ninh Thuận đối Công ty Hoàn Cầu đều có quy định: Tiền thuê đất nộp theo phương thức hằng năm và không quy định về nguyên tắc điều chỉnh đơn giá thuê đất…Vì vậy, QĐ 227 của STC Ninh Thuận xác định lại đơn giá thuê đất năm 2006 đối với Công ty Hoàn Cầu là có căn cứ pháp luật.
Ngày 9.12, ông Lê Văn Huy, Giám đốc Công ty Hoàn Cầu có đơn khiếu nại và trình bày ý kiến đối với Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của TAND tối cao. Theo đơn, ông Huy cho rằng quyết định giám đốc thẩm không khách quan, không đúng với lý do, yêu cầu khởi kiện của Công ty Hoàn cầu và vận dụng không đầy đủ các căn cứ pháp lý. (Thanh Niên 24/12) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Từ ngày có vụ phủ Thành Chương và nhà Mỹ Linh đến nay cứ thỉnh thoảng lại có người mang chuyện đất rừng phòng hộ ở Sóc Sơn ra bàn tán. Bàn thôi, chưa ngã ngũ. Lần mới nhất lại chỉ là điều tra, báo cáo, đề xuất, xin ý kiến cấp nọ, cấp kia.
Đến nay có thêm một ý mới: Việc Sóc Sơn từ 1994-1998 đất rừng phòng hộ bị “xẻ thịt” buôn bán vô tội và là tồn tại lịch sử về quản lý, trong đó việc công bố quy hoạch của địa phương chưa tốt và cán bộ huyện xã có tiếp tay cho các sai phạm.
Như thế là đã rõ được một ý: Nếu là sai phạm có tính lịch sử, thì lịch sử phải chịu trách nhiệm là chính. Thực ra, trừ ông Thành Chương xây phủ và cô Mỹ Linh làm nhà âm nhạc, còn các người khác cùng chỉ sử dụng 200m2 để ở là cùng, rừng vẫn còn, nếu người ta không phá vì mục đích kinh doanh, hay làm chốn nghỉ ngơi cuối tuần hoành tráng như những ông hoàng, bà chúa một cách “vô chính phủ” như vậy.
Người Hà Nội đang chờ xem lịch sử sẽ bị phán xử thế nào đây. (Lao Động 24/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa