|
Ngày 23 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Sau đợt tập huấn cho lãnh đạo và nhân viên kế toán tại 108 xã của 16 huyện, thị xã trên địa bàn tỉnh, sáng 20/12, tại TP. Pleiku, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai phối hợp với Sở NN&PTNT tiếp tục tổ chức tập huấn chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các đối tượng chủ rừng là tổ chức nhà nước, các công ty thủy điện và công ty nước sạch trong tỉnh.
Tại buổi tập huấn, lãnh đạo và nhân viên phụ trách tài chính của các đơn vị được phổ biến những nội dung cơ bản về chính sách chi trả DVMTR; công tác đảm bảo số lượng và chất lượng cung ứng DVMTR; hướng dẫn lập kế hoạch quản lý, sử dụng, thanh quyết toán tiền chi trả DVMTR đối với chủ rừng và tổ chức nhà nước và những công tác tài chính liên quan…
Ban tổ chức cũng trả lời, giải đáp các vướng mắc của các đơn vị thủy điện, Ban Quản lý rừng trong quá trình triển khai. (Báo Gia Lai 21/12) đầu trang(
Ông Nguyễn Tuấn Quang, Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mường Chà cho biết: Thời gian qua, các cơ quan chức năng của huyện, chính quyền xã đã tích cực tuyên truyền cho người dân hiểu về tầm quan trọng và lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này. Đặc biệt, khi được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng người dân sẽ tích cực giữ rừng để hưởng lợi từ rừng.
Huyện Mường Chà có 40.223ha diện tích đất có rừng, toàn bộ diện tích rừng của huyện đều được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay, 2 bản: Trung Dình và Huổi Toóng 2 (xã Huổi Lèng) đã được giao đất giao rừng và được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hàng năm, cơ quan chức năng của huyện hướng dẫn các xã, thị trấn xây dựng quy ước, hương ước về bảo vệ và phát triển rừng, phổ biến rộng rãi tới tất cả các thôn, bản trên địa bàn.
Các bản căn cứ vào quy ước, hương ước để xây dựng quy chế bảo vệ rừng phù hợp với điều kiện thực tế của từng bản; tổ chức cho người dân ký cam kết thực hiện đúng quy chế bảo vệ rừng của thôn bản; vận động người dân tích cực tố giác và cùng với lực lượng chức năng xử lý các đối tượng vi phạm. Ngoài ra, người dân còn được tham gia tập huấn, hội thảo hoặc đi tham quan mô hình ở các địa phương khác, từ đó nâng cao năng lực và kinh nghiệm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Hiện nay, nhiều diện tích rừng của huyện Mường Chà đang được quản lý, bảo vệ theo mô hình lâm nghiệp cộng đồng. Tại các thôn, bản đều thành lập các tổ bảo vệ, phối hợp với bảo lâm xã, kiểm lâm địa bàn thường xuyên tuần tra, kiểm soát rừng.
Bản Huổi Toóng 2, xã Huổi Lèng có một số diện tích rừng được giao cho các cộng đồng quản lý. Nhằm thu hút người dân tham gia quản lý, bảo vệ rừng, chính quyền xã Huổi Lèng đã phối hợp với Ban Quản lý dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng” tỉnh tổ chức lớp tập huấn và triển khai mô hình trồng 2ha cây mây nếp trên địa bàn bản.
Ông Thào Chờ Páo, Trưởng bản Huổi Toóng 2 cho biết: So với các loại cây trồng khác thì cây mây nếp tốn ít công chăm sóc, chi phí phân bón và cũng là nguồn nguyên liệu cung ứng cho các làng nghề mây tre đan truyền thống trên địa bàn tỉnh, góp phần tăng thu nhập cho người dân. Khi các bụi cây mây dưới tán rừng phát triển sẽ hạn chế được việc phá rừng. Bản đã thành lập 1 tổ bảo vệ, thường xuyên đi tuần tra rừng để phát hiện và xử lý các đối tượng có hành vi xâm hại đến rừng.
Nhờ làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, vừa qua, 46 hộ gia đình của bản Huổi Toóng 2 đã được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Mỗi hộ được hưởng 600.000 đồng. Cùng chung niềm vui khi được hưởng tiền chi trả DVMTR, 105 hộ gia đình bản Trung Dình (xã Huổi Lèng) cũng được Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Điện Biên chi trả 170 triệu đồng tiền DVMTR.
Ông Nguyễn Tuấn Quang cho biết thêm: Nếu người dân quản lý và bảo vệ rừng tốt thì ngoài số tiền DVMTR, họ còn được hưởng rất nhiều nguồn lợi từ rừng, như: Nông sản ngoài gỗ, hạt dẻ, cây cánh kiến... Trong thời gian tới, các cơ quan chức năng huyện sẽ đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng để người dân đều được hưởng chính sách chi trả DVMTR. (Báo Điện Biên 21/12) đầu trang(
Tiếp sau đợt chi trả cho các hộ là chủ rừng tại xã Cốc Ly, Bắc Hà, hôm qua (20/12), Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh đã tổ chức giải ngân thí điểm chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2012 và năm 2013 cho các hộ nhận khoán, bảo vệ rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn.
Tổng số tiền các hộ dân được hưởng trong đợt này là 584 triệu đồng, trong đó chi cho các hộ, cộng đồng nhận khoán bảo vệ là 246 triệu đồng, chi cho các hộ tự bảo vệ là 337 triệu đồng.
Một phần số tiền sẽ được thu từ tiền dịch vụ môi trường rừng của các nhà máy thủy điện trên địa bàn giao nộp. Trong đó, năm 2012 có Nhà máy Thủy điện Nậm Khóa, năm 2013 có thêm Nhà máy Thủy điện Nậm Mu và Nhà máy Thủy điện Phú Mậu phải giao nộp theo quy định.
Tuy nhiên, đến nay cả 3 nhà máy thủy điện nói trên đều chưa nộp đủ số tiền theo quy chiếu. Tổng số hộ được hưởng lợi trong đợt này gồm 162 hộ tại xã Nậm Xây, 137 hộ tại xã Nậm Xé và 30 hộ tại xã Liêm Phú.
Tổng diện tích rừng và đất rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn hiện là 25.000 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 23.300 ha, rừng trồng 153 ha. Diện tích rừng (rừng tự nhiên) được thuộc đối tượng chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trong lưu vực là 7.360 ha. (Báo Lào Cai 21/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Một nhóm sinh viên ĐH Sư phạm Đà Nẵng vừa hoàn thành bộ “Lịch xanh tương lai” năm 2014 in ảnh những loài thú linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhằm kêu gọi bảo vệ loài thú này.
Bạn Nguyễn Sang - Trưởng nhóm Greeen Life cho biết, xuất phát từ ý tưởng một nhóm 15 bạn sinh viên ĐH Sư phạm Đà Nẵng sau tham gia khóa thực tế ở vườn quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai) theo chương trình bảo vệ thú linh trưởng của hiệp hội vườn thú Fromkfurt.
Trong chuyến thực tế này, theo đề bài đưa ra là chọn một sản phẩm để truyền thông bảo vệ loài thú linh trưởng và các bạn sinh viên nhận thấy cần phải làm một việc gì đó ý nghĩa đối với loài thú này.
Bạn Nguyễn Sang cho biết, nhóm quyết định đưa các loài thú linh trưởng lên lịch nhằm tuyên truyền, bảo vệ, bảo tồn. Bộ lịch gồm 4 tờ, 2 mặt in màu với các hình ảnh là các loài thú linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng như voọc chà vá chân nâu, voọc chà vá chân xám, cu li, vượn và khỉ…
Sau khi đưa ra ý tưởng, vấn đề khó khăn còn lại là kinh phí. Trưởng nhóm cho biết để có số tiền hơn 10 triệu đồng dùng cho việc xin giấy phép và in 1.000 cuốn lịch; cả nhóm đã đi quyên góp các bạn sinh viên trong trường, tự bỏ ra và hiệp hội vườn thú Fromkfurt giúp đỡ.
“Số tiền bán 1.000 cuốn lịch này chúng mình sẽ để mua quà tết tặng cho đồng bào Cơtu tại huyện Hòa Vang, Đà Nẵng”, bạn Nguyễn Sang cho biết. (Dân Trí 20/12; Nông Thôn Ngày Nay 21/12) đầu trang(
Ngày 19/12, Chi cục Kiểm lâm Quảng Trị phối hợp Hội Khoa học kỹ thuật bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh tổ chức hội thảo khoa học về quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học năm 2013.
Nhằm tập hợp các nghiên cứu khoa học đồng thời thảo luận các đề xuất, giải pháp giúp lực lượng kiểm lâm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học trong những năm tiếp theo, tại hội thảo, các đại biểu đã trình bày những đề tài như: Xây dựng hệ thống thông tin tín hiệu cảnh báo cháy rừng ở xã Vĩnh Chấp (Vĩnh Linh) giai đoạn 2013 – 2016; biên tập bản đồ nền địa hình cấp xã tỷ lệ 1/10.000 và 1/25.000 hệ tọa độ quốc gia VN 2000 khuôn dạng dữ liệu phần mềm MapInfor phục vụ công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa hình tỉnh Quảng Trị.
Các đề tài này đã thực hiện nhiều giải pháp hợp lý để nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng như: Xây dựng 5 cấp báo cháy rừng trực quan bằng các màu sắc cờ hiệu khác nhau; phân cấp chữa cháy rừng thành 3 cấp (nhỏ, vừa và lớn) để chủ động điều động lực lượng phòng cháy, chữa cháy kịp thời, hợp lý; huy động xã hội hóa vào công tác bảo vệ rừng; biên tập bản đồ hiện trạng rừng cho 114 xã, 10 huyện, thị xã, thành phố có rừng theo hệ tọa độ quốc gia VN2000, tỷ lệ 1/10.000 và 1/25.000; kết nối dữ liệu bản đồ cấp xã, huyện, tỉnh vào cơ sở dữ liệu diễn biến rừng…
Ngoài ra, hội thảo còn trình bày một số đề tài nghiên cứu có tính khoa học như: xác định các giá trị môi trường của hệ sinh thái rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Bắc Hướng Hóa; Điều tra, đánh giá các loài thực vật bậc cao từ độ cao 800 m trở lên tại đỉnh Sa Mù, Khu BTTN Bắc Hướng Hóa; cập nhật các loài dơi ở Khu BTTN Đakrông.
Qua thời gian tiến hành điều tra, nghiên cứu thực địa, thu thập thông tin, tài liệu để phân tích các mẫu vật liên quan… đã có những kết luận bước đầu như: Môi trường rừng của Khu BTTN Bắc Hướng Hóa được xác định có 4 giá trị chủ yếu gồm: lưu giữ cacbon; phòng hộ đầu nguồn; đa dạng sinh học và cảnh quan với tổng giá trị môi trường rừng khoảng 1.878 tỷ đồng.
Trong đó, giá trị lưu giữ các cacbon khoảng 1.842 tỷ đồng; giá trị phòng hộ đầu nguồn là 29,6 tỷ đồng, giá trị đa dạng sinh học khoảng 4 tỷ đồng; giá trị cảnh quan 1,6 tỷ đồng. Đa dạng thực vật bậc cao tại đỉnh Sa Mù qua thống kê có 561 loài (có 19 loài có trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới) thuộc 119 họ của 5 ngành thực vật bậc cao, trong đó các loài có giá trị làm thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 214 loài, chiếm 39,5% tập trung các họ cúc, thầu dầu, cam, long não…
Những nghiên cứu bước đầu về giá trị sinh thái rừng này góp phần nâng cao nhận thức của con người về giá trị của rừng, từ đó giảm các tác động có hại làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, đồng thời là cơ sở dữ liệu giúp các nhà quản lý xây dựng các chính sách sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế- xã hội hợp lý cho địa phương. (Báo Quảng Trị 21/12) đầu trang(
Ngày 19/12, Ban Quản lý dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam" tỉnh Điện Biên tổ chức hội nghị tổng kết pha II của dự án.
Theo đó, dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam" tỉnh Điện Biên được triển khai từ tháng 7/2012 - 12/2013, thí điểm tại 8 bản thuộc 5 xã: Trà Nọi I, Nà Pung II (xã Nà Nhạn), Na Sang II (xã Núa Ngam), Nậm Hẹ II (xã Hẹ Muông), Cò Chạy II, Mường Pồn II (xã Mường Pồn, huyện Điện Biên); bản Huổi Toóng II, Trung Dình (xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà). Dự án đã giao 4.287ha rừng cho cộng đồng các bản quản lý.
Pha II của dự án đã hỗ trợ các địa phương vùng dự án rà soát, hoàn thiện Quy ước Bảo vệ và Phát triển rừng cộng đồng, quy chế quản lý Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tại cộng đồng 8 bản; triển khai các mô hình tăng thu nhập từ rừng cho người dân, giảm thiểu các tác động có ảnh hưởng tới rừng, như: mô hình trồng cây mây nếp, bếp củi cải tiến cho người dân vùng dự án. Ngoài ra, dự án cũng thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo, các chuyến tham quan các mô hình rừng cộng đồng trong và ngoài tỉnh... để người dân học hỏi kinh nghiệm về áp dụng cho mô hình lâm nghiệp cộng đồng tại địa phương.
Đánh giá hiệu quả dự án, ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án "Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam" tỉnh, khẳng định: Thời gian thực hiện dự án đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, năng lực quản lý bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng, xây dựng kế hoạch phát triển rừng, kế hoạch quản lý chi tiêu Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cộng đồng... cho cán bộ tỉnh, huyện, xã, bản, hộ gia đình và cộng đồng vùng dự án. (Báo Điện Biên 21/12) đầu trang(
Vườn quốc gia Bạch Mã rộng gần 37 nghìn 500 ha với tính đa dạng sinh học cao. Vì vậy công tác quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên phong phú của vườn đặt ra không ít khó khăn, thách thức.
Mới đây, Ban quản lý vườn quốc gia Bạch Mã cũng như những khu rừng đặc dụng khác trên cả nước đón nhận tin vui khi được tiếp sức trong công tác quản lý, bảo vệ từ chính sách đầu tư, phát triển rừng đặc dụng của Chính phủ. Theo đó, cộng đồng dân cư sống ở vùng đệm quanh rừng đặc dụng sẽ nhận được quyền lợi gắn liền với trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Khu vực vùng đệm vườn quốc gia Bạch Mã. Ngay từ bìa rừng, dấu vết tàn sát, săn bắt thú rừng đã xuất hiện với hàng nghìn chiếc bẫy thú do lâm tặc giăng khắp nơi. Với diện tích hàng chục nghìn ha, lực lượng kiểm lâm của Vườn dù có thường xuyên tuần tra cũng khó để kiểm soát hết. Nhờ sự giúp sức của người dân địa phương, phóng viên mới tiếp cận được những khu vực săn bắt thú trái phép như thế này.
Dù tình trạng khai thác tài nguyên rừng trái phép ở Bạch Mã không phức tạp và nghiêm trọng như nhiều khu rừng đặc dụng khác. Nhưng với nguồn lợi to lớn từ tài nguyên rừng, những tác động gây tổn hại là điều khó tránh khỏi. Đây là một vụ khai thác gỗ rừng trái phép trong vùng lõi của vườn mà phóng viên đã ghi lại được nhờ sự giúp đỡ của một người dân sống ở vùng đệm. Dù số lượng gỗ bị khai thác trộm chỉ vài cây, nhưng từ sự việc này cho thấy rõ những tác động tiêu cực đang đe dọa đến tài nguyên của khu rừng.
Rõ ràng, để bảo vệ tài nguyên của những khu rừng mang giá trị cao về đa dạng sinh học, không chỉ cần nỗ lực và quyết tâm của lực lượng quản lý, bảo vệ rừng mà quan trọng hơn là ý thức và sự chung tay của cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệm. Bởi, họ vừa là tấm lá chắn để ngăn chặn những tác động từ bên ngoài vào rừng, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân trực tiếp tạo nên những áp lực đối với việc bảo vệ tài nguyên rừng.
Để nâng cao vai trò của người dân vùng đệm trong bảo vệ tài nguyên các khu rừng đặc dụng, quyết định 24 của Thủ tướng chính phủ nhằm hỗ trợ cho người dân vùng đệm phát triển sinh kế và tiến đến đồng quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng. Vườn quốc gia Bạch Mã là một trong những đơn vị đầu tiên trên cả nước nằm trong hệ thống rừng đặc dụng thực hiện quyết định này. Theo đó, bước đầu sẽ có 25 thôn vùng đệm ký kết đồng quản lý, bảo vệ rừng với mức kinh phí được hỗ trợ mỗi thôn một năm 40 triệu đồng, giúp các địa phương nâng cao năng lực phát triển sản xuất cho người dân...
Với nguồn tài nguyên phong phú và quý hiếm, các khu rừng đặc dụng trên cả nước đang được nhắc đến với nhiều vấn đề đặt ra trong quản lý, bảo vệ trước nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực từ cộng đồng dân cư bên ngoài vào rừng. Trực tiếp đi vào thực tiễn cuộc sống, quyết định 20 của TTCP là chính sách được kỳ vọng sẽ giải quyết những vấn đề căn cơ trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng đặc dụng hiện nay. (VTV Huế 22/12) đầu trang(
Ngày 18/12, Trung tâm giáo dục thiên nhiên (EVN) đã phối hợp với Đoàn thanh niên huyện Yên Thành và Đoàn thanh niên xã Đô Thành tổ chức chương trình triển lãm về động vật hoãng dã ở hai chợ Vách Bắc và Phú Vinh thuộc huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Chương trình triển lãm về động vât hoang dã thu hút được sự quan tâm của gần 500 người dân thông qua viêc tìm hiểu thông tin cũng như ký cam kết không sử dụng các sản phẩm từ động vật hoang dã. (Giáo Dục&Thời Đại 21/12) đầu trang(
Cơ quan Quản lý CITES VN và Tổ chức Humane Society International vừa phát động cuộc thi thiết kế các chiến dịch bảo vệ tê giác.
Hãy thiết kế một chiến dịch có thông điệp ý nghĩa, sáng tạo, giàu sức thuyết phục để giảm nhu cầu đối với sừng tê giác tại VN. Bài thi gửi về Cơ quan Quản lý CITES VN, nhà A3, Bộ NN-PTNT, số 2 Ngọc Hà, Hà Nội, đến hết ngày 31.12. (Thanh Niên 21/12) đầu trang(
Ông Ma Quang Trung, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Lào Cai cho biết, điều lo nhất hiện nay là sau trận mưa tuyết vừa qua, cây rừng đã bị rụng hết lá xuống thảm thực vật, cộng thêm đó là cỏ cũng bị khô cháy do bị tuyết phủ, nay tuyết tan rất dễ bị cháy rừng trên diện rộng. (Người Lao Động 21/12) đầu trang(
Ngày 20/12, một cuộc diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng quy mô toàn tỉnh diễn ra tại tiểu khu 263, khu rừng trồng của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ, xã Chư Jôr, huyện Chư Pah, tỉnh Gia Lai.
Buổi diễn tập đưa ra tình huống giả định cháy rừng do người dân đốt nương rẫy dẫn đến cháy lan vào rừng tại địa điểm thường xuyên xảy ra cháy những năm qua ở Gia Lai.
Sau khi nhận tin, Ban Chỉ huy đã huy động lực lượng từ cơ sở đến cấp huyện, tỉnh với các trang bị phương tiện, dụng cụ chữa cháy phù hợp với điều kiện của từng cấp như cuốc xẻng, dao phát, bàn dập lửa, bình phun nước đeo vai xe cứu hỏa của lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy Công an tỉnh Gia Lai, tiến hành các biện pháp chữa cháy quyết liệt.
Tham gia diễn tập chữa cháy rừng có hơn 200 người gồm lực lượng Kiểm lâm, Công an, chủ rừng, dân quân xã, cơ quan quân sự tỉnh, huyện.
Đợt diễn tập chữa cháy rừng cấp tỉnh nhằm nâng cao tổ chức, chỉ huy của Ban Chỉ huy chữa cháy rừng các cấp và nâng cao ý thức, năng lực các biện pháp kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy rừng,nhằm chủ động xử lý các tình huống cháy có thể xảy ra trong mùa khô Tây Nguyên đang đến. (Công An Nhân Dân 21/12; Quân Đội Nhân Dân 22/12 ) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Doãn Văn Hưởng vừa có Chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp thực hiện công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2013 – 2014.
Theo đó, chính quyền các địa phương tăng cường kiểm tra, phát hiện các trường hợp xâm hại vào rừng trái pháp luật, ngăn chặn kịp thời không để rừng bị phá. Cương quyết phá bỏ các công trình xây dựng trái phép trên diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh. Ngăn chặn nạn đốt, phá rừng làm nương, không để lan rộng.
Những khu rừng đã bị cháy, bị phá, bắt buộc khoanh lại để thực hiện các biện pháp tái sinh phục hồi tự nhiên và trồng dặm, tạo lai thảm rừng. Đối với những đối tượng chống người thi hành công vụ, phá rừng thì phải cương quyết xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch cấp huyện, thành phố trực tiếp quản lý, chỉ đạo thực hiện việc bảo vệ và phát triển rừng, quản lý đất lâm nghiệp theo quy hoạch, đồng thời chịu trách nhiệm trước Chủ tịch tỉnh nếu để xảy ra tình trạng chặt phá rừng trái phép, cháy rừng nghiêm trọng trên địa bàn. Thường xuyên làm tốt công tác đôn đốc kiểm tra, rà soát phương án bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; xác định cụ thể các khu vực trọng điểm có nguyên cơ xảy ra cháy rừng cao và các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác và kinh doanh rừng trái pháp luật để có các biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Bố trí lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phù hợp với phương án bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao để xử lý tình huống kịp thời, tại chỗ, không để xảy ra cháy rừng; rà soát, phân loại đối tượng thường xuyên vi phạm để có phương án giải quyết triệt để, đặc biệt là các đầu nậu, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái phép để xử lý nghiêm theo pháp luật hiện hành…(Báo Lai Châu 21/12) đầu trang(
Ngày 21/12, nhiều ha thông, bạch đàn thuộc rừng phòng hộ của hai xã Hoằng Trung và Hoằng Xuân (Hoằng Hóa – Thanh Hóa) vừa bị “bà hỏa” thiêu rụi.
Một số người dân có mặt tại hiện trường cho biết, đám cháy bắt nguồn từ địa phận rừng phòng hộ của xã Hoằng Trung sau đó lan dần sang phần rừng thuộc xã Hoằng Xuân.
Do rừng ở đây chủ yếu là thông cùng với lớp lá cây khô dày đặc phía dưới, gặp thời điểm cháy có gió to nên ngay khi ngọn lửa bùng phát đã lan rất nhanh.
Lực lượng kiểm lâm cùng người dân hai xã Hoằng Xuân, Hoằng Trung và xã lân cận như Hoằng Khánh đều được huy động dập lửa. Tuy nhiên, địa hình núi cao, thời tiết gió mạnh khiến công tác dập cháy gặp nhiều khó khăn vì thế phải 3 giờ đồng hồ sau đó đám cháy mới được khống chế.
Tại hiện trường, nhiều diện tích thông và bạch đàn bị cháy rụi. Đặc biệt, đây là loại thông có số tuổi hàng chục năm. Hiện cơ quan chức năng đang khẩn trương tiến hành điều tra nguyên nhân và đo đạc cụ thể diện tích rừng bị cháy. (Dân Trí 22/12) đầu trang(
Thôn Tả Van Mông (Sapa, Lào Cai) đã có quy chế bảo vệ rừng từ lâu lắm rồi. Hàng năm, cứ đến khoảng đầu tháng 3 âm lịch, bắt đầu vụ thu hoạch măng thì người dân trong thôn lại họp với nhau trong một lễ hội ăn thề, theo tiếng Mông gọi là “Lềnh phang”.
Trong lễ hội này, 5 thành viên tổ bảo vệ rừng được người dân bầu ra. Các quy định cụ thể về bảo vệ rừng sẽ do người dân thảo luận trong buổi lễ này. Tổ trưởng sẽ thay mặt toàn tổ báo cáo lại với bà con tình hình quản lý bảo vệ rừng năm vừa qua, đồng thời nêu lên tính cần thiết của việc quản lý, bảo vệ rừng với cuộc sống của cộng đồng. Từ đó, nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của mọi người dân trong quản lý, bảo vệ rừng.
Người dân cũng thảo luận hình thức xử phạt đối với những ai vi phạm quy chế bảo vệ rừng của thôn, ví dụ: nếu các hộ gia đình vào rừng lấy củi mà chưa được phép của tổ bảo vệ thì sẽ bị phạt 35.000 đồng/bó củi khô và 25.000 đồng/bó củi tươi.
Với những người vi phạm chặt cây gỗ to trong rừng thì sẽ bị phạt 1 con lợn. Con lợn này sẽ được làm thịt và mời tất cả mọi người trong thôn đến ăn. Đó cũng là cách để nhắc nhở mọi người dân về ý thức bảo vệ rừng và tuân thủ quy chế của thôn bản đã đề ra. Những vi phạm về quản lý bảo vệ rừng đều do tổ bảo vệ rừng xử lý, chỉ những trường hợp người vi phạm không chịu chấp hành thì mới nhờ đến sự can thiệp của trưởng thôn hoặc UBND xã.
Cho đến nay hầu hết các khu rừng được người dân quản lý, bảo vệ theo hình thức này đều có hiệu quả và được quản lý một cách rất chặt chẽ. ở thôn Tả Van Mông hầu như không có hiện tượng chặt phá rừng. Cả 350 ha rừng tái sinh ở thôn đang tái sinh và phát triển tốt.
Trong những năm gần đây ở Tả Van có một biện pháp bảo vệ rừng khá độc đáo đó là những người trước đây hay chặt phá rừng lại được bầu vào tổ bảo vệ rừng và từ đó họ lại trở thành người bảo vệ rừng.
Khảo sát ở nhiều địa phương cho thấy: rừng được cộng đồng quản lý thì số vi phạm cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ là rất ít. Cộng đồng còn bảo vệ được diện tích rừng đã giao không để xảy ra xâm lấn và hầu hết các vụ vi phạm cây lấy gỗ đều được phát hiện và xử lý, như ở các thôn: Lũng Vài, Lũng Các (Cao Bằng); Bản Lằn (Sơn la); Suối Lông (Lạng Sơn); thôn Vài (Hòa Bình)…
Theo các chuyên gia, để bảo vệ rừng cộng đồng, dứt khoát phải dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, từ thực tế, các địa phương cho rằng, hiện nay địa vị pháp lý của cộng đồng còn chưa rõ ràng, chính sách hỗ trợ còn hạn chế.
TS Nguyễn Nghĩa Biên (Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng) – Giám đốc Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam phân tích: Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã quy định cộng đồng dân cư là đối tượng được nhà nước giao đất, rừng để quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Các văn bản hướng dẫn luật cũng đã có nhưng vẫn còn nhiều hạn chế hoặc còn thiếu các quy định cần thiết; cơ chế nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ đầu tư để tạo thuận lợi cho các cộng đồng quản lý, bảo vệ rừng được giao.
Bên cạnh đó, ông Biên cũng chỉ ra một thực tế: Cộng đồng tham gia quản lý rừng chủ yếu là các cộng đồng dân tộc thiểu số. Rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp nên nguồn thu từ rừng rất hạn chế, nguy cơ rừng cộng đồng bị suy giảm là thực tế.
TS Phạm Xuân Phương (Bộ NN&PTNT): “Trên thực tế, cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn lợi từ rừng để trang trải các chi phí liên quan đến việc bảo vệ rừng, khi phí hỗ trợ của nhà nuowcs rất hạn hẹp. Thậm chí ở một số nơi do không có nguồn thu từ rừng nên hàng năm cộng đồng phải đóng góp tiền hoặc ngày công cho bảo vệ rừng”, ông Phương nói. Ở một số địa phương, từ năm 2010 đến nay, người dân vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ phát triển rừng nên không có động lực để tiếp tục chăm sóc rừng.
Viện Điều tra quy hoạch rừng hiện đang thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” đề xuất, cần thể chế hóa chủ trương, chính sách xã hội hóa nghề rừng; huy động nguồn lực của xã hội vào việc bảo vệ và phát triển rừng, gắn với xóa đói giảm nghèo, nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào nghèo miền núi.
Theo TS Nguyễn Nghĩa Biên, nên mở rộng khái niệm về quản lý rừng cộng đồng theo hướng: Quản lý rừng của cộng đồng; Quản lý rừng dựa vào cộng đồng; quản lý rừng; Quản lý rừng theo nhóm hộ. Khái niệm về sử dụng rừng cũng cần được mở rộng, như: Khai thác lâm sản, các giá trị dịch vụ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học. Được chuyển đổi rừng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh trồng rừng; thếp chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân để kinh doanh và dịch vụ lâm nghiệp.
Hiện nay, dự thảo Quyết định của Thủ tướng về một số cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn đang được xây dựng. Dự thảo dự kiến đưa ra nhiều chính sách mang tính đột phá. Chẳng hạn, rừng phòng hộ nằm trong phạm vi một xã, thôn hoặc nhiều xã, có diện tích dưới 1.000 ha; Rừng sản xuất phân tán gần cộng đồng dân cư thuộc ban quản lý rừng, lâm trường quốc doanh…, sẽ được giao cộng đồng dân cư quản lý. Trong đó, sẽ giao cả rừng tự nhiên giàu và trung bình cho cộng đồng dân cư thôn quản lý chứ không chỉ là giao đất trống, rừng nghèo kiệt như hiện nay.
Chẳng hạn, với các khu rừng tự nhiên là rừng phòng hộ, khi đạt tiêu chuẩn về phòng hộ thì được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn độ tàn che của rừng sau khi khai thác phải lớn hơn 0,6. Toàn bộ giá trị sản phẩm gỗ khai thác sau khi trừ chi phí, cộng đồng phải nộp 10% để xây dựng quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp xã, 90% thuộc quyền quản lý của cộng đồng, do cộng đồng tự quyết định phân chia theo quy chế, hương ước của mình.
Với rừng sản xuất là rừng tự nhiên, ngoài việc tận dụng, tận thu lâm sản ngoài gỗ, trừ động thực vật quý hiếm theo quy định, hàng năm cộng đồng được chặt chọn với cường độ dưới 15% trữ lượng.
Rừng cộng đồng cũng sẽ được hưởng các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Hàng năm, sẽ được ưu tiên hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước với mức từ 100.000 – 200.000 đồng/ha/năm để bảo vệ rừng được giao tùy theo mức độ nguy cơ mất rừng và loại rừng; khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên có kết hợp trồng bổ sung 1 triệu đồng/ha/6 năm (năm đầu 500.000 đồng); sau 5 năm được xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ đầu tư. Trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc quy hoạch là rừng phòng hộ được hỗ tợ 15 triệu đồng/ha và sẽ điều chỉnh mức hỗ trợ sau 5 năm.
TS Nguyễn Nghĩa Biên kỳ vọng, những chính sách mạnh mẽ này sẽ là cú hích lớn nhằm thay đổi thực trạng công tác bảo vệ, phát triển rừng hiện nay. (VietnamPlus.vn 21/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ NN&PTNT vừa có Chỉ thị về phát động "Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ" nhân dịp xuân Giáp Ngọ. Trong đó, Bộ đề nghị các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về mục đích, ý nghĩa của Tết trồng cây; động viên các cấp, ngành và nhân dân tích cực tham gia trồng cây, bảo vệ rừng.
Việc tổ chức Tết trồng cây xuân Giáp Ngọ 2014 phải tạo được phong trào mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục nhưng phải thiết thực, hiệu quả. Thời điểm tổ chức tại các tỉnh miền Bắc được tiến hành vào dịp đầu xuân Giáp Ngọ, ở các tỉnh phía Nam là dịp kỷ niệm sinh nhật Bác (19/5).
Bộ NN&PTNT cũng lưu ý, các địa phương lựa chọn loại cây trồng phù hợp, chuẩn bị cây giống chất lượng tốt, tranh thủ thời tiết và thời vụ trồng để đạt tỷ lệ sống cao. Đồng thời, tổ chức tốt việc chăm sóc, quản lý và bảo vệ cây trồng.
Theo Bộ NN&PTNT, năm 2013, mặc dù thời tiết có nhiều diễn biến bất lợi, bão lũ liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, các địa phương trên cả nước vẫn trồng được trên 200.000ha rừng và hơn 50 triệu cây phân tán. (Kinh Tế&Đô Thị 21/12) đầu trang(
Ngày 20/12/2013, tại Hà Nội, Hội Hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, Hiệp hội trồng rừng và bảo tồn sinh thái Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học: “Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế gắn với trồng rừng và bảo vệ môi trường”.
Với 18 báo cáo tham luận theo 04 chủ đề: Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng nhân dân; Bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; Phát triển bền vững kinh tế miền núi và chính sách trồng rừng; Bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế miền núi, Hội thảo đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, thực trạng và giải pháp hiệu quả trong trồng rừng, bảo tồn đa dạng sinh thái, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững kinh tế miền núi.
Tham luận của các đại biểu tại Hội thảo nêu rõ: Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta.
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của quần chúng và là công tác liên ngành, liên kết của các tổ chức quần chúng nhân dân; phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Để cụ thể hoá các chủ trương của Đảng và Nhà nước, để thể hiện sự cam kết xã hội, việc đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế gắn với trồng rừng và bảo vệ môi trường là rất quan trọng.
Hội thảo thể hiện mối quan tâm chung của ba tổ chức đối với trồng rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế miền núi. Đây là hoạt động đầu tiên, là tiền đề cho việc hợp tác của ba tổ chức sau này.
Hội thảo đã quy tụ được các tổ chức quần chúng nhân dân, doanh nhân cựu chiến binh Việt Nam, Hội nghệ nhân và thợ giỏi thành phố Hà Nội,… các nhà khoa học, nhà giáo dục, các cán bộ lãnh đạo và những người có tâm huyết với sự nghiệp phát triển kinh tế xanh và vì Tổ quốc Việt Nam xanh. (Dangcongsan.vn 21/12; Đại Đoàn Kết 21/12) đầu trang(
Ngày 17/12, Sở Tài nguyên và Môi trường Vĩnh Phúc tổ chức trao 14 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Vườn Quốc gia Tam Đảo, với tổng diện tích 143.316.394,6m2.
Thời hạn sử dụng đất lâu dài. Nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Vị trí ranh giới khu đất, diện tích được thể hiện trong bản đồ địa chính, do Văn phòng Đăng ký QSDĐ lập. Mục đích sử dụng đất, thực hiện theo nhiệm vụ quyết định tại QĐ số 601/1996 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.
Thông qua đợt giao giấy chứng nhận lần này sẽ giúp Vườn Quốc gia Tam Đảo (trong đó bao gồm cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý) có điều kiện được khai thác, sử dụng lâm sản và các lợi ích khác của rừng, góp phần nâng cao kinh tế hộ gia đình nhằm xóa đói giảm nghèo; nâng cao vai trò và thúc đẩy quản lý bảo vệ rừng bền vững.
Hiện Vườn Quốc gia Tam Đảo còn hơn 1.100ha cần rà soát lại vị trí và diện tích quỹ đất để cấp GCNQSDĐ trong thời gian tới. (Dân Tộc&Phát Triển 20/12; Báo Vĩnh Phúc 20/12) đầu trang(
Tại Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 5 (xã Tén Tằn, Mường Lát) vừa diễn ra lễ công bố Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng vành đai biên giới tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2020.
Tại buổi lễ, Phó trưởng Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 5 Phạm Đức Nhuệ đã công bố nội dung quy hoạch, nêu rõ quy hoạch có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển bền vững dải rừng dọc tuyến biên giới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc trên địa bàn. Bên cạnh đó còn góp phần phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái.
Theo đó, đề án sẽ tiến hành bảo vệ rừng trên tổng diện tích hơn 18.000 ha và tiến hành xây dựng các công trình phụ trợ như đường gánh cây, đường băng xanh cản lửa, bảng tuyên truyền, chòi canh rừng, dụng cụ PCCCR và mốc ranh giới với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 123 tỷ đồng. (Văn Hóa&Đời Sống Thanh Hóa 20/12) đầu trang(
Khoản kinh phí dành cho vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã đã được cấp phát để hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào vùng cao 2 tỉnh Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế, theo nguồn tin từ UBND huyện Đông Giang (Quảng Nam) ngày 20.12.
Tin từ UBND huyện Đông Giang (Quảng Nam) ngày 20.12 cho biết 5 thôn vùng núi cao của 4 xã Sông Kôn, Tà Lu, A Ting, Tư đã được hỗ trợ mỗi năm 40 triệu đồng/thôn để phát triển sinh kế bền vững.
Ngoài địa bàn Quảng Nam, còn có một số thôn ở 2 huyện Phú Lộc, Nam Đông (Thừa Thiên-Huế) được hỗ trợ, cùng thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã. Đây là chương trình liên quan đến chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó Vườn quốc gia Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế) thuộc hệ thống rừng đặc dụng đầu tiên thực hiện thí điểm.
Các địa phương được hỗ trợ sinh kế thuộc khu vực đồng quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng… của vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã. Kinh phí hỗ trợ hằng năm được tập trung cho khuyến nông-khuyến lâm, giống cây trồng, vật nuôi, xây dựng công trình công cộng…(Thanh Niên 21/12) đầu trang(
Hiện Phú Quốc được định hướng là một vùng trọng điểm kinh tế, với hàng loạt dự án phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu khai thác tài nguyên phục vụ đời sống gia tăng. Đây cũng chính là áp lực gây nên sự suy thoái đa dạng sinh học, giảm sút nguồn lợi và sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đối với mục tiêu phát triển bền vững.
Vì vậy, vấn đề bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên hệ sinh thái thuộc Khu bảo tồn biển này cần được sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, khoa học và cộng đồng.
Theo đề xuất của Phó Giáo sư Tiến sỹ Võ Sĩ Tuấn, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, việc định hướng bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên hệ sinh thái Khu bảo tồn biển Phú Quốc, trước hết phải xác định loài mục tiêu gắn với hệ sinh thái ven bờ, cần dựa trên tri thức địa phương và các dữ liệu hàng năm để phát triển chiến lược quản lý phù hợp với sinh học thủy sản của loài.
Dựa trên các cuộc tham vấn địa phương từ các nhà khoa học Viện Hải dương học, nguồn lợi thủy sản quan trọng ở vùng biển Phú Quốc được xếp vào ba nhóm. Nhóm đầu tiên gồm các loài liên quan đến thảm cỏ biển, bao gồm ghẹ, ốc nhảy, mực nang, bạch tuộc, cá giò, cá ngựa và tôm ni lông. Những loài này cung cấp giá trị khoảng 2 triệu USD/năm.
Nguồn lợi thủy sản rạn san hô chỉ còn lại một số loài cá như cá mú, cá chàm và sinh vật đáy, cung cấp giá trị khoảng 600.000 USD/năm. Các nguồn thủy sản khác là mực ống, tôm và cá cơm có sản lượng đánh bắt cao ở các vùng biển lân cận đảo.
Vì vậy, phải cải thiện số liệu thống kê để trở thành một công cụ giám sát sự thay đổi của nguồn lợi thủy sản ở Phú Quốc. Chương trình giám sát nên được các cơ quan bảo tồn biển thực hiện, có sự hợp tác với ngành thủy sản cấp địa phương. Bên cạnh đó cũng cần quản lý kích thước đánh bắt các loài hải sản, coi đó là một biện pháp thực thi Luật Thủy sản. Kích thước đánh bắt sẽ được sử dụng như một chỉ thị trong chương trình giám sát này.
Vừa qua, trong khuôn khổ các hoạt động bổ sung của điểm trình diễn tại Phú Quốc, Chủ tịch xã Hòn Thơm đã ký quyết định thành lập nhóm cộng đồng để bảo tồn rạn san hô ở Rạn Đá Trào, cơ chế hoạt động của nó cũng đã được chấp thuận. Song nên lưu ý nhóm này bao gồm một số cơ quan thuộc chính quyền địa phương và ngư dân, hoạt động trên cơ sở tình nguyện.
Bên cạnh đó, việc thực hiện cưỡng chế đánh bắt bất hợp pháp và thiết lập rạn san hô nhân tạo được đề xuất như là giải pháp kép, nhằm giảm thiểu tác động của giã cào theo lối đánh bắt tận diệt, giúp tạo ra môi trường thuận lợi để khôi phục lại cá và các loài không xương sống. Còn việc thiết lập rạn nhân tạo là để bảo vệ những hệ sinh thái quan trọng trong vùng lõi của Khu bảo tồn biển Phú Quốc.
Việc này yêu cầu phải có sự phối hợp của các chuyên gia sinh học, các cộng đồng địa phương và ngành thủy sản, để trở thành yếu tố chủ chốt đảm bảo thành công trong việc thiết lập và duy trì các rạn san hô nhân tạo ở các vùng biển ven bờ.
Việc phục hồi hệ sinh thái đang bị suy thoái do tác động vật lý của hoạt động con người và tự nhiên cũng rất cần thiết. Nhất là các rạn san hô bị phá hủy bởi đánh bắt bằng thuốc nổ, hoặc nuôi trồng rong biển, bị bão và bị tẩy trắng.
Các kỹ thuật phục hồi hệ sinh thái được sử dụng tại Phú Quốc sẽ là cơ sở để sau này tái tạo hệ sinh thái trên các vùng biển bị thoái hóa của nước ta. Trong đó phục hồi các sinh vật rạn sẽ được kèm theo trong các địa điểm phục hồi san hô.
Riêng việc thiết lập các khu duy trì nguồn giống thủy sản, đã được Dự án UNEP GEF Biển Đông coi là giải pháp giảm thiểu khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản, duy trì nguồn lợi nhằm khai thác lâu bền tài nguyên. (VietnamPlus.vn 21/12) đầu trang(
Ngày 19.12, UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt điều chỉnh, bổ sung báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng công trình chăm sóc rừng trồng thuộc kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 của Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh.
Theo đó, điều chỉnh dự toán chăm sóc rừng phòng hộ chuyển tiếp năm thứ ba kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 theo Thông báo số 170 ngày 28.10.2013 của Sở NN&PTNT với kinh phí đầu tư bổ sung hơn 51,7 triệu đồng. Tổng mức đầu tư sau khi điều chỉnh, bổ sung là hơn 328 triệu đồng từ nguồn vốn kế hoạch bảo vệ phát triển rừng năm 2013. (Báo Quảng Nam 21/12) đầu trang(
Sau hiệu quả Dự án Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng (TCLNCĐ) ở Việt Nam tỉnh Cao Bằng pha 1, từ 4/2012 đến nay, pha 2 của dự án tiếp tục được triển khai tại 2 xóm Lũng Rì và Lũng Các, xã Tự Do (Quảng Uyên), giúp nâng cao nhận thức, năng lực quản lý bảo vệ rừng cộng đồng cho người dân.
Ông Lục Văn Nhì, Chủ tịch UBND xã Tự Do cho biết: Thực hiện dự án, xã đã giao hơn 129 ha rừng cộng đồng (RCĐ) cho 78 hộ gia đình quản lý, bảo vệ. Phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý dự án TCLNCĐ tỉnh lập kế hoạch quản lý RCĐ 5 năm, xây dựng các quy ước bảo vệ và phát triển RCĐ, kế hoạch thu chi Quỹ Bảo vệ và Phát triển RCĐ cho hai xóm Lũng Rì và Lũng Các, lập ra các tổ quản lý bảo vệ RCĐ; hoàn thiện, bổ sung và thể chế hóa các chính sách, văn bản pháp lý...
Qua gần 2 năm thực hiện, nhận thức của người dân trong vùng dự án tại xã về quản lý, bảo vệ rừng được nâng lên, diện tích rừng giao cho cộng đồng được quản lý bền vững, sử dụng có hiệu quả. Không còn hiện tượng chặt phá rừng bừa bãi, các hoạt động vi phạm quy định quản lý bảo vệ rừng cũng được loại bỏ.
Đồng thời giúp xã lập kế hoạch xác đĩnh rõ từng loại đất, loại rừng để bố trí cây trồng hợp lý, phát triển các cây lâm nghiệp theo ưu thế vùng để RCĐ phát triển có hiệu quả. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ bà con tại hai xóm Lũng Các và Lũng Rì thực hiện mô hình trồng cây trám đen với 42 hộ gia đình tham gia trồng 167 cây, hiện nay đang phát triển tốt.
Anh Lương Văn Tài, xóm Lũng Rì cho biết: Từ khi thực hiện Dự án TCLNCĐ, ý thức bảo vệ và phát triển rừng của bà con được nâng lên. Hằng tháng, chúng tôi đều tổ chức đi giám sát, tuần tra toàn bộ khu RCĐ của xóm, phát các cây leo, tỉa cành khô đem về làm củi đun. Nhờ vậy hiện nay toàn bộ khu RCĐ của xóm không có hiện tượng khai thác lâm sản trái phép, rừng sinh trưởng phát triển tốt.
Hiện nay, các quy ước quản lý Quỹ, kế hoạch quản lý RCĐ đã được hoàn thiện và bổ sung. Nhận thức của cộng đồng về bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng được nâng cao, các hoạt động tuần tra giám sát, trồng rừng mới tiếp tục được thực hiện theo đúng kỹ thuật, các cây trồng mới phát triển tốt, tăng nhanh về số lượng, chất lượng rừng trồng phục hồi từng bước được cải thiện. Rừng được khai thác hợp lý theo đúng kế hoạch và quy ước quản lý bảo vệ rừng. (Báo Cao Bằng 22/12) đầu trang(
Từ đầu măn đến nay, huyện Ba Bể đã cấp 195 giấy phép khai thác gỗ và nhựa thông với tổng khối lượng gỗ là hơn 7.000 mét khối.
Ba Bể là huyện có nhiều diện tích rừng trồng đã đến kỳ khai thác với trữ lượng rừng đạt khá. Huyện đã tiến hành kiểm tra, thẩm định và cấp phép cho các chủ rừng khai thác đúng quy định, đảm bảo đúng lô, đúng khoảnh, đúng chủng loại gỗ khai thác.
Trong năm, huyện đã cấp 195 giấy phép thác gỗ rừng trồng và nhựa thông tại 16 xã, thị trấn. Trong đó, khối lượng gỗ khai thác được cấp phép đạt trên 7.000m3, nhựa thông được khai thác là 2,5 tấn. Qua đó, đã tạo nguồn vốn dồi dào cho các chủ rừng tái đầu tư trồng rừng trên diện tích đã khai thác. (Đài PT - TH Bắc Kạn 22/12) đầu trang(
Năm 2013, Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Lê Hồng Phong (hay ban Khu Lê) được giao kế hoạch trồng 50 ha rừng phòng hộ, loài cây phi lao. Kết quả nghiệm thu cuối năm tỷ lệ cây sống đạt 96%, mật độ trồng 1.666 cây/ha.
Ông Lê Châu Thành - Phó Trưởng Ban khu Lê cho biết: Sở dĩ đạt được kết quả đó là nhờ chỉ đạo của Sở NN&PTNT, chính quyền địa phương, chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn trong quá trình triển khai xây dựng kế hoạch, khảo sát thiết kế hiện trường. Mặt khác nhờ Ban Quản lý đã chủ động gieo tạo cây giống, lựa chọn cây đủ tiêu chuẩn, thuê mướn nhân công có kinh nghiệm trồng rừng nhiều năm, áp dụng đúng quy trình kỹ thuật và trồng kịp thời vụ. Thứ ba, thời tiết năm nay thuận lợi hơn, lượng mưa nhiều, kéo dài.
Hiện nay, Ban Khu Lê đang tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cho những diện tích rừng mới trồng để cây sinh trưởng và phát triển tốt góp phần hình thành rừng phòng hộ bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, chống cát bay, cát nhảy, cải tạo môi trường sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho canh tác nông nghiệp và đời sống dân sinh.
Ngoài ra Ban Khu Lê đang đưa vào giao khoán bảo vệ rừng trồng 2.006 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 3.000 ha, chăm sóc 776 ha, cung ứng 225.000 cây phân tán tương ứng 150 ha cho các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Bắc Bình. (Báo Bình Thuận 20/12) đầu trang(
Viện Nghiên cứu khoa học Tây Nguyên (Viện Sinh học Tây Nguyên trước đây), sau những nghiên cứu kỳ công, đã thực hiện thành công việc gây nhiễm loài nấm Tricholoma matsutake(TM) - một loại nấm truyền thống của Nhật Bản - vào cây thông ba lá tại Đà Lạt.
TM là một trong số những loại nấm có giá trị cao và được ưa chuộng nhất thế giới hiện nay. Tại Nhật - đất nước tiêu thụ loại nấm này nhiều nhất - giá ít nhất là 500USD/kg, trong khi giá các loại nấm khác chỉ vài chục đến một-hai trăm USD.
Thành công trên của nhóm các nhà khoa học Viện Nghiên cứu khoa học Tây Nguyên đang hi vọng tạo ra loại sản phẩm có giá trị cao về thực phẩm và cũng có giá trị cao về y dược. Trước mắt, tỉnh Lâm Đồng sẽ hỗ trợ, đầu tư nghiên cứu hoàn thiện quy trình gây nhiễm và triển khai trồng và chăm sóc các cây con sau gây nhiễm ra rừng thông tự nhiên. (Lao Động 23/12) đầu trang(
Theo phản ánh của người dân thôn T6, xã Bok Tới, gần đây, tại vùng rừng giáp ranh giữa xã Bok Tới (huyện Hoài Ân) với huyện Vĩnh Thạnh, mỗi ngày có hàng chục người vào rừng đốn gỗ; sau đó, dùng xe máy vận chuyển trên đường. Việc này diễn ra ngang nhiên giữa ban ngày!
Người dân phản ánh, lâm tặc đốn hạ gỗ trong rừng sâu rồi dùng xe máy vận chuyển ra ngoài rừng, tập kết dưới chân núi Ụ Bò đoạn giáp ranh giữa 2 thôn T6 và T4, rồi đưa về xuôi để tiêu thụ. Lâm tặc chở gỗ theo hai hướng từ chân núi Ụ Bò men dọc theo chân đèo thôn T6 (xã Bok Tới) về thôn Bình Sơn (xã Ân Nghĩa) và nhánh thứ 2 từ chân núi Ụ Bò về thôn T4 rồi đi qua đường trung tâm UBND xã Bok Tới về thôn Nghĩa Nhơn (xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định).
Ông Đinh Văn Líp - Phó Chủ tịch UBND xã Bok Tới cho biết: “Lâm tặc ở đây là dân của xã Ân Hữu, Ân Nghĩa và một số ít là người dân địa phương”. Mỗi ngày như vậy có 10-20 xe máy chở gỗ lậu qua khu vực này. Để dễ dàng vận chuyển, lâm tặc thường cưa, rọc phách gỗ thành khúc có đường kính 30-50cm. Người dân cho biết khu vực bị lâm tặc tàn phá chính là khoảnh rừng tự nhiên còn sót lại nhiều loại cây gỗ quý như Taiman, cà đuối, muồng đen, lim…
Những ngày giữa tháng 12/2013, có mặt tại chân núi có tục danh Ụ Bò, chúng tôi đã bắt gặp cảnh nhiều lâm tặc đi theo nhóm từ 5-6 người chở những phách gỗ có chiều dài 2-3m, ngang nhiên phóng trên đường.
“Cứ độ 4-6 giờ chiều là không ai dám ra đường vì sợ những khúc gỗ kềnh càng của lâm tặc đụng phải”, anh T.V.T., một người dân ở thôn Nhơn Sơn hãi hùng nói. Thắc mắc với chúng tôi, người dân ngao ngán cho biết lâm tặc lộng hành và ung dung phá rừng, chở gỗ như chốn không người nhưng không hiểu sao lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương không biết?
Ông Đinh Văn Líp cho hay: Vì lực lượng trên địa bàn quá mỏng, lâm tặc lại tổ chức theo nhóm, vận chuyển vào lúc sẩm tối và ban đêm nên việc truy quét rất là khó. Thậm chí, khi lực lượng Công an xã và cán bộ kiểm lâm huyện truy quét, vây bắt, lâm tặc sẵn sàng dùng dao, rựa, gậy gộc, đá sỏi… chống trả. “Sắp tới, địa phương sẽ phối hợp với lực lượng Hạt Kiểm lâm huyện, Công an và quân đội tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng và vận chuyển gỗ lậu tại khu vực núi Ụ Bò nói riêng và một số khu vực rừng trên địa bàn xã nói chung”.
Có một thực tế là nạn phá rừng tự nhiên, rừng phòng hộ diễn ra trên địa bàn xã Bok Tới, huyện Hoài Ân đã diễn ra gần 10 năm qua. Để ngăn chặn và giải quyết dứt điểm nạn khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản, cần có sự phối hợp đồng bộ và quyết liệt ở nhiều cấp, ngành mới hi vọng nạn “lâm tặc hai bánh” giảm thiểu. (Công An Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Chủ tịch tỉnh Cà Mau giao cơ quan công an chủ trì, phối hợp với chi cục kiểm lâm và các đơn vị có liên quan điều tra, làm rõ các vụ việc vi phạm liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng tại VQG Mũi Cà Mau.
Ngày 20.12, nguồn tin riêng của phóng viên cho biết, chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau vừa giao giám đốc Sở Nội vụ tỉnh này tham mưu cho UBND tỉnh kiểm tra, kiện toàn bộ máy tổ chức của Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau, đề xuất phương án nhân sự thay thế giám đốc và bổ sung phó giám đốc tại VGQ Mũi Cà Mau.
Giao cơ quan công an chủ trì, phối hợp với chi cục kiểm lâm và các đơn vị có liên quan điều tra, làm rõ các vụ việc vi phạm liên quan đến quản lý, bảo vệ rừng tại VQG Mũi Cà Mau. Trong trường hợp đủ căn cứ, phải khẩn trương tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đưa ra xét xử lưu động để răn đe. Như đã thông tin, chỉ trong 8 tháng đầu năm 2013, rừng đước tại VQG Mũi Cà Mau đã bị phá hàng chục ha, thiệt hại hơn 1.700m3 gỗ. (Thanh Niên 21/12; Nông Thôn Ngày Nay 21/12) đầu trang(
Tổng cục Hải quan vừa chỉ đạo các đơn vị có liên quan tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc của lô gỗ hiện đang tạm giữ tại Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (Bình Phước). Đồng thời, tạm đình chỉ công tác đối với một số cán bộ công chức (CBCC) Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế Hoa Lư- Cục Hải quan Bình Phước để phục vụ công tác điều tra, làm rõ trách nhiệm liên quan. Tổng cục Hải quan sẽ xử lí nghiêm nếu CBCC có sai phạm.
Như đã đưa, trung tuần tháng 11-2013, từ nguồn thông tin của quần chúng nhân dân trên địa bàn khu vực cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo Tổ giám sát kiểm tra đột xuất và Cục Điều tra chống buôn lậu thuộc Tổng cục Hải quan điều tra, xác minh, làm rõ tình trạng buôn lậu gỗ từ Campuchia về Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Hoa Lư, có sự tiếp tay của một số CBCC Chi cục Hải quan cửa khẩu.
Trong quá trình điều tra, xác minh, ngày 19-11-2013, Tổ công tác phát hiện một xe chở 2 container nhiều hàng nặng (nghi vấn chở gỗ) đi từ hướng cửa khẩu Hoa Lư. Tổ công tác đã yêu cầu Cục Hải quan Bình Phước, Đội Kiểm soát Hải quan thuộc Cục phối hợp chặn và kiểm tra 2 container trên. Qua kiểm tra, lái xe đã không xuất trình được bản chính giấy tờ chứng minh nguồn gốc mà chỉ xuất trình bộ tờ khai photocopy không có xác nhận của hải quan giám sát về việc hàng hóa đã qua khu vực giám sát của hải quan cửa khẩu quốc tế Hoa Lư.
Tuy nhiên ngay sau đó, chủ hàng là Công ty TNHH Bảo Ngọc Bình Phước đã xuất trình tờ khai photocopy chứng minh lô gỗ này là gỗ hương, có khối lượng 50,107 m3. Việc sử dụng tờ khai photocopy cho thấy dấu hiệu nghi vấn của việc sử dụng hồ sơ, hóa đơn quay vòng để vận chuyển gỗ lậu, Tổ công tác đã tạm giữ 2 container gỗ trên để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Bên cạnh đó, cũng trong thời điểm này, Tổ công tác phát hiện tại cảng Cát Lái (TP. HCM) có 12 container gỗ chưa rõ nguồn gốc, cần xác minh làm rõ. Đây là lô hàng thuộc thuộc loại hình tạm nhập tái xuất do Công ty Bảo Ngọc Bình Phước làm chủ, khai báo có 264,057m3 gỗ hương được tạm nhập từ Campuchia và tái xuất đi Ðan Mạch.
Lô hàng này có nhiều điểm nghi vấn cần làm rõ, hàng quá cảnh phải được đảm bảo nguyên trạng khi vận chuyển nhưng lô hàng này lại được làm thủ tục tạm nhập để tái xuất. Khi vận chuyển hàng vào Việt Nam, hàng hóa được dỡ xuống xe, không còn nguyên trạng. (Hải Quan 21/12) đầu trang(
Rừng đến tuổi thu hoạch, thay vì được khai thác đúng thời điểm để có giá trị kinh tế cao thì bị chủ rừng “cầm tù” đến quá lứa, già cỗi. Sự chậm trễ ấy gây nên lãng phí lớn trong tình cảnh khắc khổ của người trồng rừng.
Tại ấp 4, xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời, cũng có hàng trăm héc-ta tràm già cỗi, chủ nhân của nó đang mòn mỏi chờ khai thác. Hiểu chuyện và nằm lòng bàn tay các thửa rừng liên doanh, liên kết khu này là ông Ba Tâm (Nguyễn Hoài Tâm, 58 tuổi), có gần 30 năm là cán bộ lâm nghiệp, nay liên doanh liên kết trồng tràm. Khu rừng nhà ông Ba Tâm (do các con đứng tên) liên doanh liên kết năm 1995, có 76 ha nhưng đến nay chưa được cho khai thác lần nào.
Ông Ba Tâm nói vui: “Tràm tới tuổi khai thác khoảng 5 năm về trước nhưng công ty đưa ra tỷ lệ ăn chia quá thấp nên tôi hổng khai thác. Sau này tỷ lệ ăn chia 5-5, các con tôi liên tục xin khai thác từ năm 2011 tới nay nhưng công ty chưa cho khai thác!”.
Gần đó có hộ bà Trần Thị Bé (56 ha, còn 40 ha chưa khai thác), ông Nguyễn Thanh Dân (78 ha), Nguyễn Minh Phúc (59 ha), Chí Tâm (43 ha), Châu Thới Biết (54 ha, còn 34 ha)… Ông Nguyễn Văn Liếu (60 tuổi) nhận 60 ha rừng tràm từ năm 1995, hiện có hơn 40 ha tràm 17 tuổi nhưng chưa được khai thác.
Ông Liếu trãi lòng, Lâm ngư trường Trần Văn Thời (nay sáp nhập vô Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ) cho khai thác lần đầu tiên vào năm 2005, được 10,3 ha tràm. Tổng thu sau khai thác được 80 triệu đồng, đáng lẽ ông được chia 40% nhưng phía lâm ngư trường cấn trừ nhiều khoản khiến ông không còn nhận được đồng xu nào.
Ông Liếu chua xót: “Họ trừ thuế cá nhân, thuế khai thác, chi phí thiết kế... và nhiều loại phí kỳ cục khác, buộc tôi ký biên bản nhưng tôi không ký. Đến giờ, sau hơn 8 năm khai thác rừng, tôi chưa nhận được tiền ăn chia”.
Không có tiền chia sau thu hoạch nên diện tích rừng còn lại, ông Liếu ngại xin khai thác. Ông sợ cách ăn chia không minh bạch, thiếu sòng phẳng khiến ông tiếp tục thiệt thòi. Nay khu rừng nhà ông ngày lớn đến quá lứa, vẫn phải cố công gìn giữ, thuê người canh phòng cháy chữa cháy mùa khô (10 ha phải có 1 người), canh lâm tặc chặt phá, làm cháy rừng.
Ông Liếu tâm sự, ông đốn chuối bán tiện tặn, dành tiền cho 4 đứa con đi học, còn lại chi hết cho việc thuê người giữ rừng. Bởi nếu lơ là phòng bị, để người vào ăn ong, chặt cây làm cháy rừng là mất hết.
Nguyên là Phó Giám đốc Lâm trường 1 Trần Văn Thời, ông Hồ Phát Triển được giao 28 ha đất giao rừng ở tuyến T86, xã Khánh Lâm, huyện U Minh. Phần đất trên do 4 hộ trong gia đình ông đứng tên. Hiện ông còn rừng 18-20 năm tuổi chưa được khai thác, mặc dù các con của ông gởi đơn xin khai thác liên tục 6 năm liền. Trong năm 2013, ông gởi 2 lần đơn (đầu năm và tháng 9/2013) nhưng không được xem xét.
Ông Trần Trung Hiếu, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ cho hay, công ty ông khai thác bình quân khoảng 1.300 ha/năm nhưng có năm năng lực khai thác vẫn không đáp ứng. Như năm 2013, chỉ tiêu 1.300 ha nhưng đến giữa tháng 10/2013 chỉ mới khai thác được khoảng 800 ha.
Ông chỉ ra 2 nguyên nhân cơ bản: Do nhu cầu thị trường, phải khai thác tràm vào thời điểm cao giá nhất để dân được hưởng lợi nhiều, khai thác quá nhiều tràm rớt giá, dân thiệt. Nguyên nhân thứ 2 do hộ dân, hộ liên doanh liên kết không đủ năng lực khai thác.
Ông Hiếu khẳng định: “Chỉ tiêu ít nên công ty ưu tiên cho những cánh rừng đáp ứng nhu cầu thị trường, rừng của những hộ quá khó khăn, bức xúc tiền bạc được xét trước. Từ năm 2014, công ty lên kế hoạch khai thác 2.000 ha, ưu tiên cho rừng quá lứa, rừng của hộ quá khó khăn”.
Lâm phần rừng tràm Cà Mau trên 42.000 ha, trong đó khoảng 32.000 ha rừng sản xuất (còn lại là rừng đặc dụng). Số rừng trên phần lớn giao cho Công ty U Minh Hạ quản lý, khoán lại cho hộ dân liên doanh liên kết sản xuất; phần còn lại giao cho các công ty tư nhân, chính quyền xã.
Theo lời ông Ba Tâm, không thể vịn vào chỉ tiêu điều chế rừng để kìm hãm sự phát triển kinh tế của người trồng rừng. Phải để dân tự chủ trong khai thác khi rừng đủ tuổi, nếu có thiệt hại dân tự gánh lấy, không trồng lại rừng hoặc đất rừng sử dụng sai mục đích thì công ty có quyền thu hồi đất rừng.
“Hợp đồng với công ty, rừng đủ 10 năm sẽ cho khai thác nhưng ngâm hoài khiến rừng quá lứa, rớt giá. Nông dân trồng lúa còn được hỗ trợ tiền trồng, còn chúng tôi trồng rừng, giữ rừng vất vả cả chục năm trời mới tới thu hoạch nhưng tiền hỗ trợ trồng rừng công ty hưởng hết” - chú Ba Tâm, cho biết.
Còn theo lời ông Hai Huỳnh, rừng kinh tế phải làm sao cho có hiệu quả kinh tế cao. Muốn vậy phải để dân tự quyết, tự tìm nơi tiêu thụ giá cao khi rừng đủ tuổi khai thác. Ông Hồ Phát Triển bức xúc: “Tôi đã chờ đến mòn mỏi… Theo tôi, phải gỡ bỏ cơ chế xin - cho trong khai thác. Cơ chế ấy đối với rừng kinh tế giờ quá lỗi thời, khiến những khu rừng kinh tế giờ không còn kinh tế nữa”. (Báo Cà Mau 20/12) đầu trang(
Thời gian vừa qua, trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông xuất hiện 2 đàn voi rừng khoảng 30 con thường xuyên tiến sâu vào khu dân cư để tìm kiếm thức ăn. Tính đến thời điểm này, 2 đàn voi đã phá nát hàng chục héc ta cây trồng, 2 căn nhà và 7 chòi rẫy của người dân. Việc voi tiến vào khu dân cư đang có nguy cơ xảy ra xung đột cao giữa voi và người là khó tránh khỏi…
Ngày 20/12, ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết, sau nhiều ngày tổ chức lực lượng xua đuổi, hiện đàn voi rừng đã rút lui vào khu vực rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Cư Mlanh, huyện Ea Súp tỉnh Đắk Lắk.
Trước đó, ngày 10/12, đàn voi rừng hơn 20 con đã tiến vào khu vực thôn 6, thị trấn Ea Súp để tìm kiếm thức ăn. Nhận được tin báo, UBND huyện Ea Súp đã chỉ đạo lực lượng phối hợp với Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk tổ chức xua đuổi voi về lại rừng. Tuy nhiên, đàn voi rất lì lợm, lại chỉ xuất hiện vào ban đêm nên công tác xua đuổi không mấy hiệu quả.
Bên cạnh đó, các dụng cụ tạo âm thanh, lửa đều không còn làm voi sợ hãi như trước nên phải mất rất nhiều thời gian, cơ quan chức năng mới tạm thời đuổi được voi về lại rừng. “Khu vực thôn 6 giáp với rừng và trồng nhiều loại cây voi ưa thích nên rất có thể trong vài ngày tới voi sẽ tiếp tục quay lại” - ông Luân cảnh báo.
Trước đó, vào giữa tháng 9/2013, đàn voi này cũng về khu vực thôn 5, thị trấn Ea Súp phá nát nhiều diện tích cây trồng. Theo thống kê của Phòng NN-PTNT huyện Ea Súp, tổng cộng trong hai đợt voi rừng đã phá nát hơn 20ha cây trồng của người dân ở hai thôn 5 và 6.
Trong khi người dân thị trấn Ea Súp đang lo lắng vì đàn voi rừng quá đông phá hại cây trồng thì người dân ở xã Đắk Drông, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông cũng đang mất ăn, mất ngủ để đuổi 2 mẹ con voi rừng. Theo người dân địa phương, 2 con voi này xuất hiện từ đầu tháng 3/2013 nhưng khoảng 1 tháng trở lại đây, hầu như đêm nào cũng ra khu vực canh tác của người dân để tìm kiếm thức ăn.
Theo ông Trần Văn Thành, Chủ tịch UBND xã Đắk Drông, hiện đã có 2 căn nhà, 7 chòi rẫy và hàng chục héc ta cây trồng của người dân bị voi phá nát. Chính quyền địa phương đã tổ chức lực lượng phối hợp với người dân xua đuổi nhưng không hiệu quả. Trước tình hình này, Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT) đã chỉ đạo kiểm lâm địa phương phối hợp với Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk tiếp tục dùng các biện pháp thủ công xua đuổi, nếu không được sẽ thuê voi nhà xua đuổi.
So với đợt tháng 9/2013, trong lần xuất hiện này cơ quan chức năng đã phát hiện một cá thể voi con trong đàn voi hơn 20 con về phá hại cây trồng của người dân thị trấn Ea Súp. Theo ông Huỳnh Trung Luân, đàn voi này có cấu trúc quần thể cân đối, có đầy đủ voi đực, voi cái, voi trưởng thành và cả voi mới sinh. Con voi mới sinh nặng chưa đến 1 tạ lần đầu tiên xuất hiện cùng đàn về khu dân cư, là tín hiệu vui cho thấy công tác bảo tồn đàn voi hoang dã ở Đắk Lắk.
Tuy nhiên, ông Luân cũng lo lắng, hiện nay người dân vô cùng bức xúc vì bị voi phá hại mùa màng nên rất sợ người dân làm tổn hại đến đàn voi, ngược lại voi cũng “không vừa”, nên nếu voi gặp người đi rừng thì rất nguy hiểm.
Thực tế, do quá bức xúc vì voi phá nát 2ha mía, ngô của gia đình, một người dân ở xã Đắk Drông đã làm 6 bàn chông để bẫy. Rất may, voi đã phát hiện và dùng vòi bới vứt những tấm chông này nên không bị thương. Trước tình hình này, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk đang phối hợp với chính quyền địa phương tiếp tục tuyên truyền, vận động để người dân hiểu và không xâm hại đến đàn voi.
Còn PGS.TS Bảo Huy, Khoa Lâm nghiệp, Trường ĐH Tây Nguyên cho rằng: “Liên tục trong thời gian gần đây, voi rừng đã nhiều lần về phá hại cây trồng, còn người dân dùng các biện pháp “mạnh” để xua đuổi cho thấy xung đột giữa voi và người đã dâng cao. Để giải quyết vấn đề này, theo tôi trước hết, tỉnh Đắk Lắk cần có những quy hoạch cụ thể khu vực sinh cảnh của voi để không tác động vào đó. Vì việc giao cho các công ty lâm nghiệp hàng chục nghìn héc ta rừng để trồng cao su đã phá nát “nhà” của voi buộc voi phải mở rộng khu vực để tìm kiếm thức ăn.
Bên cạnh đó, ngoài việc tuyên truyền chúng ta cần phải có những bồi thường hỗ trợ thỏa đáng cho người dân khi bị voi phá hại tài sản để người dân không còn xót của mà có những hành động xâm hại đến voi”. (Công An Nhân Dân 21/12) đầu trang(
Hàng ngàn hécta rừng ở Đắk Lắk phải “hy sinh” cho các dự án thủy điện, nhưng diện tích trồng bù rừng theo quy định còn hết sức nhỏ bé.
Theo thống kê của Chi cục Phát triển Lâm nghiệp Đắk Lắk, từ năm 2006 đến nay, tỉnh này có 9 dự án thủy điện được xây dựng phải chuyển mục đích sử dụng rừng với tổng diện tích 2.097 ha. Trong đó, có những dự án thủy điện phải chuyển đổi mục đích sử dụng rừng khá lớn như Buôn Tua Srah (998 ha), Krông Hnăng (536 ha), hai thủy điện Sêrêpốk 3 và Sêrêpốk 4 (315 ha)…
Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành năm 2006 về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng đã quy định các dự án khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải đảm bảo đầu tư trồng mới thay thế. Thế nhưng trong 7 năm qua, diện tích rừng thay thế của các dự án thủy điện trên địa bàn Đắk Lắk không được trồng đủ theo quy định của nghị định này; thậm chí có dự án thủy điện làm mất nhiều rừng nhất như Buôn Tua Srah chưa trồng lại được khoảnh rừng nào.
Cũng chưa có chủ dự án thủy điện nào nộp tiền cho Nhà nước để trồng rừng thay thế. Trong 9 dự án thủy điện nói trên, mới có 4 dự án tham gia trồng lại rừng với tổng diện tích 70 ha (chiếm 3,3% rừng đã chuyển đổi); gồm: hai thủy điện Sêrêpốk 3 và 4 trồng 44 ha, thủy điện Krông Kma: 16 ha, Krông Hnăng: 5 ha và Ea Mđoan 2: 5 ha.
Theo Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk, hầu hết các dự án thủy điện không thực hiện nghĩa vụ trồng rừng thay thế hoặc trồng được ít đều lấy lý do không có quỹ đất hoặc không có trình độ kỹ thuật trồng rừng…
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Đắk Lắk, lý giải: “Thực ra, các doanh nghiệp thủy điện chậm triển khai trồng lại rừng thay thế rừng bị chuyển đổi còn do các chính sách, quy định liên quan ban hành quá chậm. Nghị định 23 ban hành từ năm 2006, nhưng mãi đến ngày 6.5.2013 mới có Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ NN-PTNT quy định về trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác”.
Theo ông Hưng, chính vì chậm có chính sách, hướng dẫn, quy định chế tài cụ thể nên thời gian qua địa phương không thể xử lý đối với những chủ dự án thủy điện không trồng rừng thay thế.
Ông Hưng cho rằng mặc dù có Thông tư 24 trên nhưng cũng khó có thể buộc các chủ dự án thủy điện triển khai trồng lại rừng trong một sớm một chiều. Lý do là các dự án thủy điện có nhiều diện tích rừng chuyển đổi phải chi trả khoản đầu tư khá lớn cho trồng rừng thay thế.
“Có thể phải tính toán lộ trình cho các chủ dự án thủy điện bố trí kinh phí trồng rừng từng năm và ấn định trong khoảng mấy năm thì trồng đủ diện tích thay thế. Hiện Chi cục Lâm nghiệp đang cùng Sở Công thương Đắk Lắk khảo sát, đánh giá lại khả năng trồng bù rừng của các thủy điện để có phương án trình UBND tỉnh phê duyệt”, ông Hưng chia sẻ.
Được biết, sau khi có Thông tư 24 trên, ở Đắk Lắk mới chỉ có Công ty CP thủy điện Trung Nam Krông Nô có phương án nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng để bố trí trồng rừng nơi khác thay thế 44 ha rừng chuyển mục đích sử dụng của dự án thủy điện Krông Nô. Số tiền này sẽ được chuyển cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lắk triển khai trồng rừng.
Theo báo cáo số 4148 của Bộ NN-PTNT gửi Thủ tướng, từ năm 2006 đến tháng 10.2013, cả nước có 205 dự án thuộc 27 tỉnh, thành phố thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang làm thủy điện với tổng diện tích 19.805 ha, nhưng trồng bù rừng chỉ được 971,7ha, chiếm tỷ lệ 4,9%. Nguyên nhân đạt thấp do các chủ đầu tư dự án chưa quan tâm thực hiện quy định hiện hành, trong khi các cơ quan liên quan chưa tích cực kiểm tra, đôn đốc. (Thanh Niên 21/12) đầu trang(
Hiện nay, trên nhiều tuyến đường nội thị ở TP. Nha Trang, người ta thường bắt gặp cảnh người dân xẻ thịt heo bán công khai trên lề đường.
Việc buôn bán như trên là vi phạm quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm. Mặt khác, theo quảng cáo của họ thì đây là thịt heo lai hoặc heo rừng. Nếu đúng là heo rừng thì việc làm này còn vi phạm quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã. (Báo Khánh Hòa 21/12) đầu trang(
Nằm cách trung tâm thị trấn Krông Năng hơn 30 km, suốt mấy tháng nay, chỉ vì những tin đồn, tiểu khu 300 thuộc địa phận xã Cư Klông, huyện Krông Năng “mất ngủ” bởì hàng trăm lượt người ở khắp nơi từ trong nam ngoài bắc đổ xô vào rừng tìm đá màu (đá saphia).
Cơ quan chức năng ở địa phương cho biết: Khoảng tháng 9-2013, số người đến khai thác ban đầu nhỏ lẻ 5-7 người. Đến đầu tháng 10-2013, lúc cao điểm lên đến 500 người, ngoài người dân trong tỉnh còn có các tỉnh khác từ trong nam ngoài bắc như Ninh Bình, Lâm Đồng, Gia Lai, Khánh Hoà, Vũng Tàu, Cà Mau… Khu vực khai thác đã mở rộng khoảng 5 km2; nếu tính số bãi khai thác, cả lớn nhỏ cũng phải đến 10 bãi. (Báo Đắk Lắk 21/12) đầu trang(
Sở NN&PTNT Đồng Nai cho biết, năm 2013 toàn tỉnh có 234 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 178 vụ so với năm 2012.
Trong đó, buôn bán lâm sản trái phép là 61 vụ, vi phạm các quy định về quản lý động vật hoang dã là 43 vụ, vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản 28 vụ, còn lại là các vi phạm khác, như: phá rừng trái phép, lấn chiếm rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích...
Các vi phạm về phá rừng trái phép đều có mức độ thiệt hại nhỏ, hình thức vi phạm chủ yếu do các hộ dân lấn vào rừng nhằm mở rộng thêm diện tích để sản xuất nông nghiệp. Lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương lập biên bản và xử lý hành chính 187 vụ, có 7 vụ vi phạm có tính chất nghiêm trọng chuyển qua xử lý hình sự. Số tiền xử phạt trên 1 tỷ đồng, đồng thời lực lượng chức năng tịch thu trên 100m3 gỗ tròn và gỗ xẻ các loại và hàng trăm cá thể động vật hoang dã. (Báo Đồng Nai 22/12) đầu trang(
Năm 2013, lực lượng công an các cấp trong tỉnh Bắc Kạn đã phát hiện và xử lý 25 vụ án về trật tự quản lý kinh tế với 38 đối tượng, giảm 0,4% so với năm 2012.
Trong đó, tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng 9 vụ với 25 đối tượng, chiếm tỷ lệ 36%. Các hành vi vi phạm chủ yếu thuộc lĩnh vực khai thác, bảo vệ rừng (chiếm 92% trong số các vụ án kinh tế nghiêm trọng).
Ngoài ra, lực lượng chức năng cũng phát hiện 65 vụ việc với 85 đối tượng vi phạm pháp luật khác về kinh tế. Các hành vi chủ yếu là kinh doanh, vận chuyển hàng hóa thiếu thủ tục, giấy tờ, hành vi buôn lậu, buôn bán hàng cấm, vi phạm trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. (Đài PT - TH Bắc Kạn 22/12) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 80 triệu đồng đối với 2 đối tượng trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và khoáng sản.
Theo đó, ông Đinh Văn Liếu (SN 1973, trú tại thôn Phước Lâm, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) làm nghề lái xe bị xử phạt với số tiền 20 triệu đồng; hình phạt bổ sung tịch thu sung quỹ nhà nước tang vật gồm 12 hộp gỗ xẻ, chủng loại gõ mật, thuộc nhóm IIA, khối lượng 1,071 m3. Trước đó, ông Liếu đã dùng ô tô BKS: 92K - 7940 chở số gỗ lậu này thì lực lượng chức năng Quảng Nam phát hiện, bắt giữ.
Còn đối với ông Nguyễn Hiển (SN 1953, trú tại thôn Phú Hạ, xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng) bị xử phạt vi phạm hành chính 60 triệu đồng về hành vi khai thác khoáng sản (vàng sa khoáng) không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, tại khu vực sông Nước Vin, thôn 5, xã Trà Giác, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Hà Nội vừa tổ chức tiêu hủy 254,2 kg vẩy tê tê do Công an huyện Thường Tín bắt giữ từ đầu tháng 1/2013. Đây là sản phẩm của loài động vật rừng có tên trong Sách đỏ VN. (Hà Nội Mới 23/12) đầu trang(
Ngày 23-12, trong lúc tuần tra kiểm sát, các cán bộ Đội số 2, Phòng CSGT CA tỉnh Thanh Hóa đã kiểm tra và phát hiện xe chở khách chở nhiều rắn độc cùng các loại động vật khác.
Từ, phát hiện xe ô tô BKS 36M – 3089 chạy tuyến Sài Gòn – Thanh Hóa đón trả khách không đúng nơi quy định tại khu vực cầu Voi, phường Quảng Thắng, TP Thanh Hóa, Tổ TTKS do ông Nguyễn Văn Minh làm tổ trưởng cùng các ông Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Văn Hải và Phạm Thế Long, thuộc Đội số 2, Phòng CSGT CA tỉnh Thanh Hóa đã kiểm tra giấy tờ chủ phương tiện trên.
Trong quá trình kiểm tra giấy tờ của chủ phương tiện trên thì phát hiện một số đối tượng lạ mặt xuất hiện có những động thái có ý chống đối lại lực lượng CSGT đang thi hành công vụ tại hiện trường.
Từ những dấu hiệu bất bình thường của những đối tượng lạ mặt trên, phía lực lượng CSGT đã yêu cầu lái xe mở cốp xe phía dưới để kiểm tra thì phát hiện nhiều loại động vật hoang dã được đựng, cất trong các bao tải.
Yêu cầu lái xe xuất trình giấy tờ vận chuyển thì một người lạ mặt (không phải chủ hàng) đã đưa một giấy phép vận chuyển đặc biệt do Hạt kiểm lâm huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp cho phép ông Nguyễn Văn Dư, phường Ninh Dương, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh được vận chuyển một số lượng lớn động vật.
Trong đó bao gồm, kỳ đà hoa 200 kg, rắn sọc dưa 50 kg, rùa núi vàng 60 kg, nơi đi là ấp Mỹ Thị B, xã Mỹ An, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp và nơi đến là phường Ninh Dương, TP Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, được vận chuyển bằng loại hình ô tô.
Tiếp tục kiểm tra, lực lượng CSGT đã xác định được người điều khiển phương tiện để vận chuyển số hàng trên bằng ô tô BKS 36M – 3089 là ông Dương Văn Trung, SN 1971, ở Thọ Vực, Triệu Sơn, Thanh Hóa.
Khả nghi những giấy tờ và số hàng trên chưa qua kiểm dịch cùng với sự thách thức có ý hăm dọa tổ công tác từ một đối tượng lạ mặt. Tổ công tác đã yêu cầu chủ phương tiện đưa toàn bộ số hàng trên về đơn vị và phối hợp với Hạt kiểm lâm TP Thanh Hóa tiến hành triểm tra xác minh nguồn gốc số động vật trên.
Nhiều khả năng số động vật trên chưa qua việc kiểm dịch trong quá trình vận chuyển. Trong khi đó, dọc QL 1A đi qua mỗi tỉnh đều có các chốt kiểm dịch động vật nằm chốt chặt. Khả năng phát tán dịch bện từ số động vật trên ra môi trường và người dân là rất nguy hại. (Pháp Luật&Xã Hội 23/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Giám đốc Quỹ Tê giác Indonesia (YABI), Widodo Ramono cho biết trong 8 năm qua đàn tê giác của đất nước Vạn đảo đã bị mất tới 700 con do nạn săn bắn và phá rừng bất hợp pháp. Hiện số lượng bị thu hẹp, chỉ còn khoảng 100 con.
Theo ông Widodo Ramono, những khu vực sinh sống chủ yếu trước đây của tê giác ở Indonesia như Bengkulu, Jambi hay Tây Sumatra nay không còn một con nào, và trong tự nhiên hiện chỉ còn khoảng 100 con ở Lampung, trong đó có 30 con ở Waykambas và số còn lại ở Công viên quốc gia Bukit Barisan Selatan.
Nhằm bảo vệ loài thú quý hiếm này, YABI được thành lập năm 2006, đã đưa ra nhiều biện pháp và sáng kiến về giám sát, bảo vệ, đảm bảo cuộc sống an toàn và bền vững cho quần thể tê giác trong tự nhiên.
Giám đốc Widodo Ramono cho rằng để bảo tồn các loài động vật quý hiếm và cứu chúng thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng, ngoài các nỗ lực của các cấp chính quyền và các tổ chức bảo vệ động vật còn cần sự nhận thức đầy đủ, quan tâm và chung tay góp sức của toàn bộ người dân.
Chính phủ cần đầu tư thích đáng và thực hiện các biện pháp cần thiết trong tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, đảm bảo và nâng cao đời sống cho người dân, đặc biệt là các cộng đồng sống lân cận các khu rừng tự nhiên hay có sinh kế dựa vào rừng. (VietnamPlus.vn 21/12)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||