|
Ngày 26 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Thể hiện truyền thống “ Uống nước nhớ nguồn”, ngày 24/7, lãnh đạo Cục kiểm lâm Việt Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lâm Đồng, Chi cục kiểm lâm tỉnh và Kiểm lâm vùng 4, đã đến thăm và tặng quà thân nhân gia đình liệt sỹ Vũ Xuân Hải, tại thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, nhân dịp 27/7
Tại gia đình liệt sỹ Vũ Xuân Hải, cán bộ, chiến sỹ ngành kiểm lâm đã thắp hương, tri ân người đồng đội của ngành đã anh dũng hy sinh vào cuối năm 2014 trong một lần tham gia bắt giữ đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép trên tỉnh lộ 724, tại địa bàn xã Quốc Oai, huyện Đạ Tẻh, và được Đảng, Nhà nước công nhận là liệt sỹ.
Nhân dịp 70 năm ngày thương binh liệt sỹ, cán bộ ngành kiểm lâm đã ân cần hỏi thăm sức khỏe, công việc, đồng thời động viên gia đình tiếp tục phấn đấu, xây dựng cuộc sống mới, phát huy truyền thống gia đình, xứng đáng với sự hy sinh của liệt sỹ Vũ Xuân Hải. Với Cán bộ, chiến sỹ ngành kiểm lâm luôn noi gương tấm gương của liệt sỹ Vũ Xuân Hải, tiếp tục cống hiến, học tập, thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng.
Liệt sỹ Vũ Xuân Hải, sinh ngày 28/7/1961, là Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy số 2, thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, địa bàn hoạt động tại các huyện phía Nam và thành phố Bảo Lộc. Là cán bộ năng nổ, nhiệt huyết với công việc, với trách nhiệm được giao, bất cứ nhiệm vụ nào, cương vị nào đồng chí Hải cũng hoàn thành, và luôn được đồng đội kính trọng, nể phục. (Đài PTTH Lâm Đồng 26/7) đầu trang(
Hệ sinh thái của tỉnh được xếp hạng là một trong 223 hệ sinh thái giàu tính đa dạng sinh học nhất thế giới, trong đó hệ sinh thái rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh lâu năm có diện tích trên 31.000 ha, tập trung chủ yếu tại các huyện phía bắc của tỉnh như Lâm Bình, Na Hang, Chiêm Hóa với khoảng trên 2.000 loài thực vật, có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Trong số này có 69 loài thực vật và 39 loài động vật quý, hiếm đang có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng tại Việt Nam và trên thế giới như hoàng đàn, re hương, hoàng liên chân gà, vạc hoa, voọc mũi hếch, báo hoa mai và sóc bay lông tai, trăn đất, rùa hộp ba vạch và hổ chúa...
Trước thực trạng trên, từ năm 2013, tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến 2030. Theo đó, tỉnh đã quyết định dành hơn 105 tỷ đồng để thực hiện 9 nhóm dự án ưu tiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh, tập trung vào một số khu vực trọng tâm như Na Hang, Lâm Bình, Sơn Dương. Tuy nhiên, theo Sở Tài nguyên và Môi trường, do nguồn lực hạn chế, đến nay 4 dự án phải hoàn thành từ năm 2013 đến nay gồm: Dự án điều tra khảo sát và đề xuất các biện pháp ngăn chặn kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; xây dựng mô hình trồng dược liệu cho dân cư vùng giáp ranh khu bảo tồn Na Hang và Cham Chu; phát triển du lịch sinh thái gắn với cộng đồng tại các khu bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Tuyên Quang; tăng cường năng lực quản lý cho các khu bảo tồn Na Hang, Cham Chu và Tân Trào đều chưa có kinh phí thực hiện.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để không ngừng nâng cao chất lượng quản lý, bảo tồn hệ sinh thái trên địa bàn, tỉnh đã thành lập 3 khu bảo tồn: Khu bảo tồn Na Hang được thành lập năm 1994; Rừng đặc dụng Tân Trào thành lập năm 1997; Khu bảo tồn Cham Chu thành lập năm 2001 với nhiệm vụ là quản lý bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn tài nguyên sinh vật và nghiên cứu khoa học, tuyên truyền giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Đồng thời, thực hiện nhiều dự án liên quan bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: Dự án trồng rừng theo Chương trình 327; chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng với mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc gắn với phát triển kinh tế - xã hội và dự án bảo vệ các loài động vật quý hiếm như dự án bảo tồn voọc mũi hếch, voọc đen má trắng tại Na Hang, Lâm Bình.
Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu cũng xây dựng dự án điều tra, đánh giá hiện trạng các loài động, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm và đưa ra các giải pháp để bảo tồn và phát triển bền vững các loài động, thực vật tại đây. Các khu bảo tồn kết nối với các tổ chức phi chính phủ thực hiện các dự án bảo tồn hơn 50 cá thể voọc mũi hếch ở Na Hang; dự án bảo tồn hơn 60 cá thể voọc đen má trắng tại Lâm Bình.
Tại một số địa bàn có hệ sinh thái đa dạng, tỉnh thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung (Na Hang); Khu bảo vệ cảnh quan Tân Trào; chuẩn bị thành lập Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Khuôn Hà, Thượng Lâm (Lâm Bình). Bên cạnh đó, ngành Kiểm lâm tỉnh tập trung tuyên truyền, nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc quản lý, bảo vệ hệ sinh thái trên địa bàn. (Báo Tuyên Quang 24/7) đầu trang(
Tác giả Lê Phước Chín (trú tại Đà Nẵng) vừa chụp được bức ảnh một con vật được cho là mèo rừng quý hiếm trên bán đảo Sơn Trà (TP Đà Nẵng).
Bức ảnh được tác giả đăng trên trang Facebook cá nhân với nội dung: “mèo hay đốm báo” đã nhận được nhiều bình luận. Nhiều người khẳng định đó là mèo rừng và cho rằng tác giả đã thật may mắn khi chụp được nó, nhưng cũng có người cho rằng đó là báo con, chồn hương…
Chia sẻ với phóng viên Dân trí, anh Lê Phước Chín cho biết, bức ảnh được anh chụp vào buổi sáng ngày 14/7 trên bán đảo Sơn Trà.
“Tôi đi chụp voọc, đang trên đường về thì bất ngờ gặp. Lúc này tôi đã đóng máy rồi nên không kịp lấy máy ảnh mà chỉ kịp lấy điện thoại ra chụp. Vì thế, bức ảnh không được nét lắm”, anh Chín nói.
Vì không rành là mèo hay đốm báo nên anh đăng lên Facebook để mọi người chia sẻ. Và anh có hỏi những người bên Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) chuyên nghiên cứu về động vật trên Sơn Trà bên thì họ khẳng định là mèo rừng quý hiếm.
Theo anh Chín, mặc dù là người đã có hai năm gắn bó với bán đảo Sơn Trà nhưng đây là lần đầu tiên anh gặp mèo rừng.
Nhiều người biết đến anh Lê Phước Chín với vai trò là tác giả những bức ảnh thiên nhiên tuyệt đẹp về bán đảo Sơn Trà.
Anh cho biết, hai năm nay, đều đặn hàng ngày, cứ 5h sáng là anh lên Sơn Trà chụp phong cảnh, động vật,... 9h sáng anh trở về. Có thời điểm anh đi cả ngày đến tối mới về.
“Số lượng ảnh tôi chụp về Sơn Trà hiện có khoảng 4.000 - 5.000 ảnh. Kho clip cũng rất phong phú, riêng về voọc có khoảng 200 clip”, anh Chín chia sẻ.
Anh Lê Phước Chín cũng chính là người đã chụp bức ảnh bán đảo Sơn Trà bị đào xới nham nhở và đăng lên mạng xã hội. Bức ảnh được báo chí đưa tin, sau đó cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra thì phát hiện 40 móng biệt thự đã được xây dựng trái phép tại đây. (Dân Trí 25/7) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 84.682,35 ha rừng và đất lâm nghiệp được quy hoạch rừng đặc dụng thuộc 2 Vườn Quốc gia (Bến En, một phần Vườn Quốc gia Cúc Phương), 3 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) (Xuân Liên, Pù Hu, Pù Luông), 2 khu bảo tồn loài (sến Tam Quy và các loài hạt trần quý, hiếm Nam Động), 4 khu di tích lịch sử văn hóa (Lam Kinh, Hàm Rồng, đền Bà Triệu, Trường Lệ - Sầm Sơn).
Trong những năm qua, ban quản lý các khu rừng đặc dụng đã tích cực thực hiện bảo vệ nguyên vẹn, an toàn diện tích rừng hiện có, bảo vệ tài nguyên động thực vật rừng, hạn chế người dân địa phương vào rừng để khai thác lâm sản và canh tác nông nghiệp.
KBTTN Xuân Liên hiện có 1.142 loài thực vật bậc cao, trong đó, 35 loài được ghi trong sách Đỏ Việt Nam, 18 loài khác được thế giới và ngành lâm nghiệp đưa vào danh sách quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng; 1.631 loài động vật, trong đó có 80 loài thú, nhiều loài đặc biệt quý hiếm được kê trong sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Trong những năm qua, KBTTN Xuân Liên đã xây dựng kế hoạch bảo tồn các loài động, thực vật nguy cấp, quý hiếm trên cả 3 mức độ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Mọi hoạt động của KBT luôn được gắn với bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng, ít bị tác động, tính nguyên sinh cao.
KBT cũng xây dựng hệ thống hồ sơ quản lý đến tiểu khu rừng, hệ thống tuyến tuần tra cố định thuộc rừng vùng lõi, cập nhật thông tin về các loài động, thực vật quý hiếm đến từng cá thể, quần thể và hệ sinh thái đặc trưng. Những số liệu thống kê, nghiên cứu trên thực địa được bản đồ hóa, sau đó ứng dụng công nghệ thông tin, các trang thiết bị đồng bộ để quản lý. KBT triển khai thực hiện có hiệu quả dự án “Tăng cường năng lực quản lý và thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn đa dạng sinh học” nhằm nâng cao đời sống, kinh tế của các hộ gia đình sống trong và ven KBT. Hàng năm, KBT, chính quyền các xã trong vùng, xây dựng các quy chế phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tuy nhiên, hiện nay việc bảo đảm sinh kế cho người dân vùng lõi và vùng đệm ở các khu rừng đặc dụng mới chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ bước đầu xây dựng mô hình phát triển kinh tế chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng trọt ở phạm vi một số thôn, bản điển hình. Do đó, nguy cơ xâm hại tới tài nguyên đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh còn tiềm ẩn.
Để bảo đảm bền vững trong bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh, các ngành chức năng của tỉnh, ban quản lý các khu rừng đặc dụng sớm quy hoạch sử dụng đất vùng đệm các khu rừng đặc dụng và xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp. Thực hiện phương án giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp; đẩy mạnh công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng; tăng cường thực hiện các chương trình điều tra, nghiên cứu về sinh thái rừng. Tích cực tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò và lợi ích bảo tồn đa dạng sinh học; tạo sự đồng thuận, tự nguyện tham gia của cộng đồng vào các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Thanh Hóa 25/7) đầu trang(
22.7, Cơ quan CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) Công an tỉnh Tây Ninh cho biết cơ quan này đã khởi tố vụ vận chuyển trái phép 3.500 cá thể cá sấu con từ Campuchia về VN.
Đồng thời PC46 cũng đã khởi tố 4 bị can gồm: Trần Minh Hưởng (38 tuổi), Phạm Huỳnh Thế Hùng (34 tuổi), Lý Huỳnh Na (38 tuổi) và Giang Tâm (20 tuổi, cùng ngụ Bạc Liêu) để điều tra làm rõ hành vi vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới.
Trước đó, lúc 21 giờ ngày 11.7, trên đường ĐT 793 (thuộc địa phận ấp Thạnh Hiệp, xã Thạnh Tân, TP.Tây Ninh) cán bộ PC46 đã bắt quả tang Hưởng, Hùng, Na và Tâm đang vận chuyển trái phép số cá sấu trên trong xe ô tô 7 chỗ do Hùng điều khiển chạy từ hướng cửa khẩu Xa Mát (H.Tân Biên) về TP.Tây Ninh.
Qua điều tra, những người trên khai nhận số cá sấu con trên được Hưởng mua từ Campuchia với giá 170.000 đồng/con. Hưởng thuê Na làm thông dịch tiếng Campuchia và hỗ trợ giao dịch, Tâm bốc vác và Hùng làm tài xế.
Cả 4 người khai nhận, đây là lần thứ 8 thực hiện việc mua bán, vận chuyển trái phép cá sấu từ Campuchia về Bạc Liêu bán. (Thanh Niên 23/7) đầu trang(
Thời gian qua, bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã huy động lực lượng, tổ chức kiểm tra tại các điểm “nóng” phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR. Nhờ vậy, tình trạng cháy rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng đã giảm đáng kể.
Theo ngành Nông nghiệp tỉnh, để hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép và cháy rừng trong mùa khô, Chi cục Kiểm lâm (KL) tỉnh đã hướng dẫn Hạt KL các địa phương rà soát, xác định diện tích trên 150.887 ha rừng trồng, đất chưa có rừng trạng thái Ia, Ib, Ic có nguy cơ cháy rừng cao và hơn 175.407 ha rừng, đất lâm nghiệp thường xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Diện tích rừng có nguy cơ cháy cao và diện tích rừng thường bị xâm hại đều đã được thể hiện rõ trên bản đồ phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của các địa phương và các chủ rừng. Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: “Sau khi xác định các khu vực rừng cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát, chúng tôi đã phân công cán bộ đứng chân địa bàn, phối hợp với chính quyền các địa phương, các hội-đoàn thể hướng dẫn, giám sát các chủ rừng trong quản lý BVR&PCCCR; huy động lực lượng tổ chức kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật BV&PTR; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của KL địa bàn, tạo điều kiện cho lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đơn vị cũng thường xuyên kiểm tra và đôn đốc 28 Ban chỉ huy BVR&PCCCR của các huyện, thị xã, thành phố và các chủ rừng triển khai các biện pháp cấp bách trong quản lý BVR&PCCCR”.
Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các địa phương đã tổ chức 153 đợt tuyên truyền, phổ biến Luật BV&PTR cho 14.677 người dân và tổ chức cho 1.436 người ký cam kết không vi phạm Luật BV&PTR. Hạt KL các địa phương cũng đã tổ chức 724 đợt tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng dễ xảy ra cháy rừng và các “điểm nóng” phá rừng, qua đó đã phá hủy tại rừng 0,38 m3 gỗ các loại, 125 lò than, 33.800 kg than hầm, 31 ster củi, 35 lán trại…
Chi cục KL tỉnh cũng tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản tại các địa phương và các cụm, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm truy xuất nguồn gốc lâm sản; kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã. Bên cạnh đó, rà soát, đánh giá thực trạng công tác giao rừng, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại các địa phương, các công ty lâm nghiệp.
Công tác tuần tra, truy quét các tụ điểm khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép và xử lý các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR cũng được tăng cường. Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các huyện cùng Đội KL cơ động và PCCCR của tỉnh đã lập biên bản 170 vụ vi phạm Luật BV&PTR, trong đó đã xử lý vi phạm hành chính 139 vụ và xử lý hình sự 6 vụ (KL trực tiếp khởi tố hình sự 3 vụ, Công an khởi tố 3 vụ). Các địa phương cũng đã phát hiện và xử lý 3 vụ cháy rừng, 25 vụ phá rừng; phá nhổ 159,36 ha cây trồng trên diện tích đất lâm nghiệp bị lấm chiếm trái phép.
Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý BVR&PCCCR nên đã hạn chế được tình trạng cháy rừng, phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ cháy rừng giảm 17 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 93,97 ha; số vụ phá rừng giảm 49 vụ, diện tích rừng bị phá giảm 66,68 ha; diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm giảm 13,45 ha.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Hiện đang là mùa khô, cháy rừng, phá rừng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khó khăn thách thức trong công tác quản lý BVR&PCCCR vẫn còn nhiều. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Sở NN&PTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật BV&PTR cho người dân sống gần rừng và vận động bà con cùng tham gia BVR&PCCCR. Bên cạnh đó, đôn đốc các chủ rừng (các Công ty TNHH lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng, doanh nghiệp, cá nhân trồng rừng) tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Phối hợp với ngành chức năng điều tra truy tìm đối tượng, củng cố hồ sơ các vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp còn tồn đọng để xử lý.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Hạt KL các địa phương, Đội KL cơ động và PCCCR phối hợp với các chủ rừng thường xuyên kiểm tra, truy quét tại các “điểm nóng” khai thác, vận chuyển lâm sản và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Chủ động bố trí lực lượng triển khai các phương án PCCCR, kịp thời xử lý các tình huống có thể xảy ra.
Cũng theo ông Phan Trọng Hổ, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp, UBND các huyện, thị xã, thành phố cũng cần chủ động triển khai các biện pháp PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ). Chỉ đạo các tổ chức, hội-đoàn thể cùng chung tay phối hợp với ngành chức năng và các xã, phường, thị trấn vận động, tuyên truyền hội viên của mình tham gia tích cực công tác BVR&PCCCR. Các chủ rừng cũng cần tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, phối hợp chặt chẽ với ngành chức năng ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác trái phép lâm sản trong các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, đầu nguồn. (Báo Bình Định 25/7) đầu trang(
Thống kê của ngành chức năng tỉnh Gia Lai cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh phát hiện 345 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong số đó, phá rừng trái phép 32 vụ, vi phạm về vận chuyển, mua bán, cất giữ lâm sản trái phép 272 vụ, vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác 25 vụ, vi phạm quy định về chế biến gỗ và lâm sản khác 4 vụ, về mua bán động vật hoang dã 01 vụ, vi phạm khác 11 vụ.
Cơ quan chức năng đã xử lý 348 vụ (trong đó xử lý hình sự 15 vụ), tịch thu 670 m3 gỗ các loại, 90 phương tiện các loại (máy cưa, ô tô, xe máy, máy kéo…), thu nộp ngân sách gần 4,5 tỷ đồng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đã tổ chức ký kết hợp tác quản lý, bảo vệ rừng với các tỉnh giáp ranh. Song song với đó là tăng cường quản lý và bảo vệ, các đơn vị đã tích cực triển khai công tác tuyên truyền quản lý bảo vệ để rừng để nâng cao ý thức của người dân góp phần vào công tác bảo vệ rừng trên địa bàn. (Tài Nguyên & Môi Trường 25/7) đầu trang(đầu trang(
Trong gian bếp chật chội với những chiếc xoong bám đầy nhọ nồi treo trên tường, “bếp trưởng” Lê Xuân Long, Phó trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 2, Vườn quốc gia Bù Gia Mập đưa tay quệt vội những giọt mồ hôi trên trán nói: Ở đây cuộc sống thiếu thốn, xa chợ, xa trung tâm, điện năng lượng mặt trời không đủ xài tủ lạnh… nên thực phẩm phải giữ trong thùng xốp. Điện thoại thì sử dụng mạng Metphone của Campuchia với giá cước cao, tháng nào dùng ít cũng gần 1 triệu đồng.
Cuộc sống công việc, khó khăn, thu nhập thấp, trong khi đi rừng các kiểm lâm viên phải liên lạc nhiều, có người phải thanh toán cước điện thoại từ 2-3 triệu đồng nên gần đây một số công chức kiểm lâm đã chuyển công tác khác.
Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập đang quản lý, bảo vệ 25.788,6 ha, trong đó đất có rừng 25.595,9 ha, chiếm 99,26%, còn lại đất chưa có rừng và đất khác. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm của ban là bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; tuyên truyền giáo dục môi trường và dịch vụ môi trường rừng; đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng phát triển vùng đệm phục vụ công tác bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy khối lượng công việc nhiều nhưng ban chỉ có 3 phòng, 2 trung tâm và 1 hạt kiểm lâm cùng 15 đơn vị, cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng với trên 300 lao động ở 3 xã vùng đệm là Quảng Trực (Tuy Đức - Đắk Nông) và Đắk Ơ, Bù Gia Mập (Bù Gia Mập).
Ông Lê Quang Hợi, Trưởng phòng Tổ chức hành chính của ban cho biết: Diện tích rừng lớn, hệ thống giao thông trải dài, lại tiếp giáp tỉnh Đắk Nông và Vương quốc Campuchia. Theo quy định cứ 500 ha có 1 công chức kiểm lâm, tương đương với 52 người nhưng hiện vườn chỉ có 43 công chức. Do điều kiện làm việc khó khăn, lại thu nhập không đủ trang trải cuộc sống, từ năm 2014 đến nay, đã có 5 người chuyển công tác nên số lượng công chức của ban chỉ còn 38 người, chủ yếu trung cấp. Nhân sự của đơn vị thiếu, để đảm bảo công việc, vườn đã ký hợp đồng với 13 lao động vào vị trí kiểm lâm.
Nhân lực thiếu nên công chức kiểm lâm chỉ được nghỉ phép về thăm gia đình, người thân 5-6 ngày/tháng vào mùa mưa và 4 ngày/tháng vào mùa khô. Trong khi quy định của Nhà nước là nghỉ 8 ngày/tháng. Anh Lê Xuân Long, Phó trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 2 cho biết: Anh em có nhà ở gần vườn thì 1 tháng về khoảng 4 ngày, còn tôi ở Quảng Bình nên thỉnh thoảng mới nghỉ phép về quê.
“Năm 2008, tôi nhận khoán bảo vệ rừng. Nhờ làm tốt nên Ban quản lý vườn nhận tôi làm kiểm lâm hợp đồng từ năm 2014. Tôi được giao quản lý 42 người nhận khoán, chịu trách nhiệm bảo vệ 7 tiểu khu (4, 8, 16, 17, 19, 20 và 27) với gần 4.000 ha. Diện tích rộng, công việc nhiều nhưng tổng thu nhập chỉ được 4,8 triệu đồng/tháng nên cuộc sống của kiểm lâm hợp đồng gặp nhiều khó khăn. Làm công tác bảo vệ rừng phải đi tuần thường xuyên. Đối với diện tích đơn vị quản lý, sáng đi chiều về, mỗi ngày cũng phải đi bộ bình quân 20km; còn ở vùng lõi, đi tuần 4 lần/tháng, mỗi lần 3 đến 4 ngày, các đội tuần tra phải ăn ngủ trong rừng. Tuy nhiên, kiểm lâm hợp đồng lại bị hạn chế quyền hạn khi xử lý các vụ vi phạm bắt được trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng và không được trang bị vũ khí nóng như công chức kiểm lâm, khi bắt người vi phạm phải áp giải về trạm không được lập biên bản xử lý” - anh Điểu Chót, phụ trách chốt cộng đồng thôn 3, Vườn quốc gia Bù Gia Mập cho biết.
Cũng là kiểm lâm hợp đồng, anh Điểu Đa, Phụ trách Trạm kiểm lâm số 3 cho biết: “Tôi làm kiểm lâm hợp đồng được 5 năm, tổng thu nhập hiện nay chưa tới 5 triệu đồng/tháng, ngày đầu mới vào 3,7 triệu đồng/tháng. Tôi quản lý 6 người nhận khoán, bảo vệ 2 tiểu khu với diện tích 1.800 ha. Đơn vị thường phối hợp với anh em cơ động, các trạm khác đi tuần. Khi làm nhiệm vụ, khó khăn lớn nhất là gặp phải lâm tặc vì họ chủ động chống đối trước, trong khi kiểm lâm hợp đồng không được phép lập biên bản vi phạm, còn dẫn về trạm thì không còn hiện trường, tang vật vi phạm. Trong khi mình không được trang bị vũ khí phục vụ công việc và bảo vệ bản thân giống như công chức kiểm lâm”.
Các kiểm lâm hợp đồng như anh Điểu Đa, Điểu Chót rất mong được gắn bó lâu dài với nghề, với rừng. “Tôi rất yêu rừng, yêu nghề nên mong muốn được đào tạo nâng cao nghiệp vụ, trở thành công chức kiểm lâm để có điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ được giao và ổn định cuộc sống” - anh Điểu Đa chia sẻ.
“Để làm tốt công tác bảo vệ rừng, Ban quản lý vườn đề nghị UBND tỉnh cho đơn vị thi tuyển bổ sung 5 công chức kiểm lâm và nâng cao trình độ cho kiểm lâm bằng cách cấp kinh phí đào tạo ngắn hạn do đào tạo hệ vừa học vừa làm rất tốn kém. Đồng thời, sớm giải quyết nhân sự cho 2 trung tâm: Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường rừng; Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật (được thành lập theo 2 quyết định số 2913/QĐ/UBND và 2914/QĐ/UBND, ngày 14-11-2016 của UBND tỉnh) để sớm đi vào hoạt động” - ông Nguyễn Đại Phú, Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập nói. (Báo Bình Phước 25/7) đầu trang(
Theo ông Lê Viết Sinh, Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song, trong 6 tháng đầu năm, các ngành chức năng của huyện đã kiểm tra, phát hiện và lập biên bản xử lý 169 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn biến phức tạp với 119 vụ, hơn 40 ha rừng thiệt hại; vận chuyển lâm sản trái phép 18 vụ; khai thác lâm sản trái phép 13 vụ và các vi phạm khác...
Hiện tại, cơ quan chức năng đã xử lý 162 vụ (xử phạt hành chính 160 vụ, chuyển điều tra xử lý hình sự 2 vụ), tịch thu hơn 51m3 gỗ các loại và thu nộp ngân sách trên 470 triệu đồng. (Báo Đắc Nông 25/7) đầu trang(
Theo nguồn tin báo từ nhân dân, tại khu vực rừng thuộc làng Klot, tiểu khu 461, xã Kon Gang, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai đang bị lâm tặc xẻ thịt, hơn trăm cây rừng hàng chục năm tuổi bị chặt hạ. Tìm hiểu thực hư, phóng viên Báo Gia Lai đã đến tận nơi để ghi nhận thực tế tại đây.Tìm hiểu nội dụng như người dân phản ánh, phóng viên tìm gặp người đứng đầu UBND xã Kon Gang. Tại đây, chiều 24-7, ông Phạm Văn Hảo- Phó Chủ tịch UBND xã cho biết: Ban đầu khi nhận thông tin tại cuộc họp trên huyện vào giữa tháng 7 vừa qua, chúng tôi ngỡ ngàng trước việc trình báo. Ngay sau đó, để kiểm chứng thông tin, trưa 14-7, xã thành lập nhóm để kiểm tra thực tế.
Sau hơn 1 giờ lội dốc, khi đến ngọn núi, chúng tôi chia nhau ra tìm khắp nơi khu vực có nhiều cây rừng nguyên sinh còn sót lại. Sau vài giờ ra soát, thực tế kiểm tra phát hiện có 8 cây gỗ đường kính từ 40-60cm, thuộc nhóm 2 và nhóm 4 bị kẻ lạ chặt hạ nằm ngổn ngang quanh giữa ngọn đồi. Vụ việc xã đã báo cáo huyện và đang bàn giao lực lượng chuyên trách điều tra, xử lý- Ông Hảo nói.
Về nguyên nhân dẫn đến vụ rừng Kon Gang bị chặt phá, ông Hảo cho rằng: Theo kế hoạch trồng rừng được phân bổ, năm 2017, xã có 141 ha diện tích đất rừng cần được phủ xanh đồi trọc. Theo đó, xã đã ký hợp đồng giao khoáng trồng rừng đến các hộ dân và có 63 hộ đăng ký.
Để việc trồng rừng hiệu quả, các hộ đăng ký thuê người đến dọn thực bì. Chính việc dọn này, một số người dân lợi dụng sự thiếu giám sát để chặt hạ các cây rừng trên đỉnh núi. Đó là sai xót trong công tác quản lý của xã khi để xảy ra sự việc. Hiện toàn bộ công tác dọn thực bì, trồng mới rừng được tạm dừng. Đồng thời, sau khi kiểm soát, xã đã họp dân để thông báo toàn bộ tình hình vụ việc đến người dân biết rõ cũng như cùng giám sát cho rõ chứ không hề có chuyện cả trăm cây rừng bị đốn hạ như trình báo.
Để kiểm chứng thực hư sự việc dân trình báo và kiểm tra thực tế của UBND xã Kon Gang. Được sự tạo điều kiện phía chính quyền, đi cùng chúng tôi có cán bộ kiểm lâm địa bàn, công an xã, địa chính.
Theo con đường chính từ UBND xã, di chuyển chừng 2km về hướng Bắc, khi đến phía chân núi làng Klot, thuộc tiểu khu 461, toàn bộ phương tiện xe mô tô đều phải dừng lại tại đây.Trong cơn mưa rừng, chúng tôi bất đắc dĩ “chinh phục” ngọn núi trong sự khó khăn bởi con đường đầy đất đỏ, trơn trượt và nước chảy ào ào dưới chân.
Sau hơn một giờ vượt qua những con dốc dựng đứng, có lúc tưởng chừng phải dừng lại vì đồng nghiệp không thể tiếp bước, và rồi với sự hướng dẫn chúng tôi cũng đến được nơi những cây rừng vừa bị đốn hạ.
Nếu không có sự chỉ dẫn, một người lạ khi đến ngọn núi này không thể nào biết được những cây rừng nào vừa bị chặt phá, bởi toàn bộ khu vực quanh tầm mắt những cây Sao Xanh, chừng 5 năm tuổi phát triển còi cọc. Sau một lúc “vạch lá tìm cây”, trượt xuống con dốc với nhiều bụi le rừng, trước mắt chúng tôi là một gốc cây được che phủ bởi cỏ, lá. Đến tận nơi mới thấy được gốc cây đầu tiên với vết cắt vẫn còn rất mới, theo ghi nhận đó là cây gỗ Sao Xanh, đường kính hơn 2 gan tay, lát cắt nằm sát mặt đất. Cách đó không xa là một gốc cây Sao Xanh khác chỉ còn lại phần gốc, lát cưa phải là rất lành nghề. Cả 2 cây Sao Xanh này không biết được độ dài.Một vài lối khác là những những tấm gỗ dài tầm 3- 5m là phần vỏ bị bỏ lại hiện trường, các tấm gỗ nằm xếp lớp nằm ngỗn ngang. Cây gỗ này được cán bộ kiểm lâm cho biết đó là cây bằng lăng đỏ.
Không dừng lại ở đây, chúng tôi phát hiện còn vài gốc gỗ khác không rõ chủng loại bị đống, thân cây to gãy nằm chèn lên hàng chục cây rừng khác quanh khu vực. Một điều lạ những gốc này dù được cưa thành cục vuông vức nhưng vẫn chưa được lâm tặc di chuyển khỏi rừng.
Qua tìm hiểu, quanh ngọn đồi có đúng 8 gốc cây bị cắt hạ, đường kính từ 40 – 60 cm với đủ chủng loại như bằng lăng, chôm chôm rừng, sao xanh … nằm ở nhiều vị trí dưới lưng chừng dốc quanh đồi về phía Bắc và Đông.
Bên cạnh các cây bị đốn hạ được ghi nhận, dọc 2 bên đường lên núi được người dân tự phát để dọn thực bì phục vụ cho việc trồng rừng, còn nhiều cây gỗ nhỏ đường kính từ 10-20 bị cưa, xô đỗ nằm dạt 2 bên.
Về con đường này, theo giải thích đó là đường do dân tự san ủi bằng cơ giới. Là khu vực rừng đang được tái sinh nhưng việc làm tự phát cục dân không hề được sự giám sát nào và đó cũng chính là lý do biện minh cho việc gần chục cây rừng mấy mươi năm tuổi bị kẻ xấu lợi dụng đốn hạ mà chính quyền không hề hay biết.
Ngay sau vụ việc phá rừng xảy ra và sự tích cực trong kiểm tra, ra soát đối tượng liên quan. Đến nay, theo nguồn tin từ UBND xã Kon Gang, sau vài ngày xác minh, xã đã mời một đối tượng là người địa phương trú tại xã lân cận đến làm việc. Tại đây, người này bước đầu khai nhận chỉ là người làm thuê và là người cưa hạ các cây rừng nói trên. Tuy nhiên, ai là người đứng đằng sau, chi tiền và chuyển các cây rừng đi đâu, bao nhiêu khối vẫn đang được UBND xã tích cực làm rõ.
Chúng tôi sẽ làm hết sức để điều tra, nếu vượt quá thẩm quyền sẽ báo cáo về huyện tiếp tục xử lý. Riêng việc cây rừng bị chặt hạ là trách nhiệm của xã, chúng tôi nhận trách nhiệm và chờ lãnh đạo huyện đưa ra hình thức kỷ luật- ông Hảo, Phó Chủ tịch UBND xã Kon Gang nói.Một vấn đề chúng tôi quan tâm hiện nay, dù con đường dốc trơn trượt, nhưng các đối tượng vẫn ung dung cưa, cắt cả chục cây rừng rồi di chuyển đi nơi khác mà chính quyền không hề biết đến. Mùa khô đến, con đường này thuận lợi hơn, thì liệu những cây rừng to lớn đang hiện hữu có còn đứng vững, phát triển hàng chục năm qua.
Về phía cơ quan chức năng là Hạt kiểm lâm huyện Đak Đoa, qua trao đổi nhanh, ông Nguyễn Hữu Long, Hạt trường cho biết: Chúng tôi đã nắm được thông tin, hiện đang phối hợp cùng địa phương tích cực xác minh và xử lý nghiêm các đối tượng liên quan theo quy định pháp luật. (Báo Gia Lai 25/7) đầu trang(
Trong lúc làm vườn, ông Dũng bắt được 1 cá thể cu li nhỏ và sau khi tìm trên mạng mới biết đây là loài động vật quý hiếm, có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Sáng 25/7, UBND xã Mỹ Thành (Yên Thành) phối hợp với gia đình anh Nguyễn Đình Dũng, xóm 10 đã bàn giao cá thể cu li nhỏ cho Hạt kiểm lâm huyện Yên Thành.
Trước đó, vào ngày 21/7, trong lúc đang làm vườn, gia đình anh Dũng bắt được 1 cá thể cu li nhỏ, có trọng lượng khoảng 350 gam nhưng không biết được là loài gì.
Sau khi nuôi nhốt, chăm sóc một thời gian, gia đình anh Dũng tra cứu trên mạng và biết được đây là loài động vật quý hiếm, thuộc nhóm I, cần được bảo vệ khẩn cấp. Gia đình anh Dũng đã báo ngay cho các cơ quan chức năng.
Sau khi tiếp nhận được thông tin, Hạt Kiểm lâm Yên Thành đã phối hợp với chính quyền địa phương sở tại làm thủ tục tiếp nhận và thả cá thể cu li về với tự nhiên theo đúng quy định. (Báo Nghệ An 25/7) đầu trang(
Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh đã và đang được triển khai thực hiện hiệu quả. Diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn được quản lý, bảo vệ tốt, còn ít những điểm nóng về tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái quy định như trước đây.
Đến nay, gần 600.000 ha rừng hiện còn tiếp tục được bảo vệ, phát triển tốt, góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển KT-XH, bảo đảm QP, AN của tỉnh... Để có được kết quả đó, ngoài sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh, vào cuộc của lực lượng kiểm lâm và cấp ủy, chính quyền các cơ sở, phải kể tới vai trò của nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ này...
Để thấy rõ hơn vai trò của nhân dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, chúng tôi đã tới thực tế tại một số địa bàn từng được coi là điểm nóng về phá rừng làm nương hay khai thác, vận chuyển và buôn bán lâm sản trái quy định. Điểm đến đầu tiên là xã Mường Do, huyện Phù Yên - nơi một thời cấp ủy, chính quyền từ xã đến các bản cũng như lực lượng chức năng dường như bất lực trước tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái quy định. Thậm chí, những cán bộ, người dân nào tham gia đấu tranh, tố giác về phá rừng thì ngay sau đó sẽ bị các đối tượng xấu dọa, trả thù...
Vậy mà mấy năm gần đây, không những rừng được quản lý, bảo vệ và phát triển tốt mà người dân còn tích cực tham gia bảo vệ rừng. Trong đó, phải kể tới bản Kiểng, một trong những bản nhờ có sự tham gia tích cực của nhân dân mà trong nhiều năm liên tục, bản không để xảy ra cháy rừng, phá rừng làm nương và không có tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép...
Chúng tôi tới bản Kiểng để tìm hiểu, vì sao một bản có nhiều giá trị lâm sản, nằm trên địa bàn xã từng là điểm nóng về tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép mà giờ đây đã giữ được màu xanh của rừng, được biết: Cũng nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, có sự vào cuộc của cả hệ thống nên việc giữ rừng ở bản còn thu hút được sự đồng thuận cao trong nhân dân và rừng được giao cho nhân dân quản lý bảo vệ.
Đồng chí Hà Văn Thoi, Bí thư chi bộ bản Kiểng, thông tin: Bản có trên 80 hộ với hơn 350 nhân khẩu, được giao quản lý bảo vệ gần 80 ha rừng, trong đó có nhiều loại gỗ quý. Cùng với phát huy vai trò của đội quản lý và bảo vệ rừng, bản còn phát huy hiệu quả vai trò của nhân dân trong bản. Cùng với việc đưa nội dung bảo vệ rừng vào hương ước của bản, hằng năm chi bộ bản còn ra nghị quyết chuyên đề về công tác bảo vệ rừng, trong đó phân công và giao trách nhiệm cụ thể cho từng đảng viên phụ trách từng nhóm hộ; hằng năm, bản tổ chức ký kết bảo vệ rừng với từng hộ... Cũng nhờ sự tham gia tích cực của nhân dân, trong nhiều năm qua, bản chưa phải áp dụng các quy định để xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Đến bản Cao Đa 1, xã Phiêng Ban (Bắc Yên), một trong những bản có diện tích rừng lớn, giáp ranh với nhiều bản. Đa phần diện tích rừng của bản Cao Đa 1 trải dọc Quốc lộ 37 và gần khu dân cư, nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn… Nhiều năm qua, công tác quản lý và bảo vệ rừng, nhất là công tác phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được bản Cao Đa 1 đặc biệt quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng.
Ông Hoàng Văn Đại, Trưởng bản Cao Đa 1, cho biết: Hiện tại, bản có 334 ha rừng rự nhiên, trên 60 ha rừng trồng thuộc Dự án 661. Hơn 20 năm qua, trong bản không để xảy ra cháy rừng. Ban quản lý bản cũng như cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn chưa phải lập biên bản để xử lý các hộ, cá nhân trong bản về hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Để làm được điều đó, ngoài vai trò của các lực lượng thì sự tham gia của nhân dân trong bản đóng vai trò quan trọng. Hằng tháng, quý và năm, bản đều có kế hoạch cụ thể, phân công cho Tổ bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, như: có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các hộ trong bản cũng như kiểm lâm địa bàn làm tốt công tác bảo vệ rừng, tuyên truyền cho người dân vào những lúc cao điểm về nắng nóng.
Hàng tháng, Tổ bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tổ chức cùng nhân dân đi tuần rừng 5 đợt. Vào thời điểm cuối năm hay từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, việc đi tuần rừng nhiều hơn và được chia làm 2 nhóm thay nhau đi vào ngày lẻ và ngày chẵn. Để duy trì được sự tham gia của nhân dân, hằng năm, bản đã hỗ trợ kinh phí cho các hộ dân tham gia từ nguồn quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng và tiền thuộc dự án KW7. Cách làm của bản là chấm theo ngày công và đều gắn trách nhiệm với từng thành viên là các hộ dân trong bản...
Qua câu chuyện giữ rừng tại các bản của huyện Phù Yên và Bắc Yên, cho thấy: Để giữ được rừng, ngoài sự vào cuộc của cấp ủy, chính quyền các cấp thì vai trò của nhân dân đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi nếu mỗi người dân tại các cơ sở đều coi việc giữ rừng cũng quan trọng như việc bảo vệ chính gia đình mình thì câu chuyện phá rừng, khai thác, buôn bán và vận chuyển lâm sản trái quy định sẽ không phải vấn đề khó giải quyết. Song hành với đó, cần hơn cả là sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền trong việc tuyên dương, động viên kịp thời các hộ dân tích cực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Có như vậy, vai trò của mỗi người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng mới được phát huy... (Báo Sơn La 26/7) đầu trang(
Nhiều khối gỗ được khai thác, vận chuyển ngay cạnh trạm bảo vệ rừng của Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm, nhưng không thấy cơ quan chức năng nào kiểm tra, ngăn chặn. Thậm chí, một người dân dẫn đoàn phóng viên vào rừng, xác minh thông tin về tranh chấp đất rừng với Công ty này, còn bị “lâm tặc” hành hung.
Khi trao đổi với phóng viên Báo điện tử Ngày mới Online về tình trạng trên, ông Dương Văn Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp (Công ty) Buôn Ja Wầm cho rằng: “Với đối tượng này, bắt vào, thả ra rất nhiều lần, mỗi lần bị bắt, vợ hắn lại giở trò tụt quần, cởi áo, nên không ai dám đụng vào…”…
Chiều 23/7/2017, nhóm phóng viên Báo điện tử Ngày mới vào rừng Buôn Ja Wầm để xác minh thông tin, về việc người dân xã Eakiết tranh chấp đất rừng với Công ty Buôn Ja Wầm, do đoàn không rõ đường, nên nhiều người dân dẫn đoàn vào các điạ điểm đang tranh chấp. Khi đến dốc Ba Tầng, thuộc lâm phần của Công ty Buôn Ja Wầm quản lí, cách trạm bảo vệ rừng khoảng 50m, thì có 2 xe độ chế đang kéo nhiều khối gỗ ra đường. Nhóm phóng viên dừng xe hỏi gỗ của ai, một người tên Tương đi trước dẫn đường thấy vậy thì quay xe lại, lập tức bị một người đàn ông tên là Hải xông ra đánh túi bụi, mặc dù các phóng viên đã can ngăn, nói rõ là đi việc khác, nhưng người này vẫn xông vào đánh anh Tương. Vợ ông Hải còn dọa phóng viên, nếu quay phim sẽ đập máy.
Trao đổi sự việc trên với ông Dương Văn Sơn, Chủ tịch HĐQT Công ty Buôn Ja Wầm, ông Sơn phàn nàn: “Đối tượng này ai cũng sợ, không dám bắt, vợ hắn ghê gớm lắm, cứ bị bắt xe gỗ là chị ta lại tụt quần…”.
Theo ông Sơn, mặc dù Công ty được giao quản lí rừng, nhưng trách nhiệm bảo vệ thuộc các cơ quan chức năng của địa phương. Nhiều trường hợp Công ty có văn bản đề nghị Kiểm lâm, Công an huyện xử lí, nhưng cứ bắt vào rồi thả ra, vì chưa đủ điều kiện khởi tố. Do đó, đối tượng trở nên nhờn luật…
Nhiều người dân ở xã EaKiết phản ánh: Sở dĩ đối tượng này khai thác và vận chuyển gỗ công khai, ngay cạnh trạm bảo vệ rừng của Công ty Buôn Ja Wầm là có Công ty và các cơ quan chức năng bảo kê. Nếu không có bảo kê, thì chỉ cưa một que bằng cổ tay cũng bị bắt ngay, chưa nói đến mỗi ngày vài chục khối. Điều đáng nói nữa là, tại địa điểm này, nhiều hec-ta rừng vừa bị chặt hạ, cây, lá còn tươi nguyên.
Công ty Buôn Ja Wầm được giao quản lí, bảo vệ gần 9.000ha rừng, nhưng đến nay phần lớn thành đất trống đồi trọc. Nhiều năm qua, rất nhiều bài báo phản ảnh về nạn phá rừng ở đây, nhưng không có cơ quan chức năng nào vào cuộc.
Câu hỏi đặt ra, thế lực nào bảo kê cho Công ty Buôn Ja Wầm mà không ai dám đụng đến, mặc dù trước đó phóng viên đã gửi hình ảnh, tài liệu cho Ban Nội chính Tỉnh ủy Đắk Lắk.
Với sự bất lực của các cơ quan chức năng địa phương, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công an và các cơ quan chức năng của Trung ương điều tra, xử lí nghiêm theo quy định của pháp luật.(Ngày Mới 25/7) đầu trang(
Chiều 25/7, Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An và Sở Nông lâm tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) đã tổ chức hội nghị Trao đổi kinh nghiệm công tác quản lý và ngăn chặn hoạt động mua bán tài nguyên rừng tại khu vực biên giới giữa hai tỉnh.
Các đồng chí: Nguyễn Tiến Lâm - Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An; Dông Tia Lò - Phó giám đốc Sở Nông lâm tỉnh Xiêng Khoảng đồng chủ trì hội nghị.
Hội nghị được tổ chức lần này, bên cạnh để lập kế hoạch hợp tác trong việc bảo vệ tài nguyên rừng và động vật rừng giữa hai tỉnh Xiêng Khoảng - Nghệ An, còn nhằm trao đổi kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học dưới hình thức có sự tham gia của cộng đồng.
Tại hội nghị, đại diện lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An đã trình bày về công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý động vật rừng, trồng dâu nuôi tằm và một số nội dung liên quan; đại diện Sở Nông lâm Xiêng Khoảng trình bày về kinh nghiệm quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng (rừng bảo tồn và rừng phòng hộ); việc thực thi Luật Biên giới (những vấn đề phát hiện và biện pháp củng cố); lộ trình và phương pháp hợp tác.
Hội nghị đã đi đến thống nhất, giai đoạn 2018 - 2020, sẽ nhất trí đưa công tác quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng tại khu vực biên giới giữa hai tỉnh vào vấn đề chung của hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng, nhằm làm cho tình hình rừng tại khu vực biên giới được phát triển bền vững, bảo đảm an ninh ngày càng cao.
Hai bên cần trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn trong lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học đối với 3 loại rừng; tăng cường việc thực thi Luật Biên giới tại các cửa khẩu biên giới của hai tỉnh, trường hợp phát hiện vi phạm hai bên sẽ phối hợp giải quyết kịp thời; thiết lập mạng lưới, điểm phối hợp ở cấp bản, cấp huyện để thuận lợi cho việc báo cáo tình hình kịp thời. Đồng thời xây dựng dữ liệu chung, hợp tác trong bảo vệ rừng, không để xảy ra cháy rừng tại khu vực biên giới; thường xuyên phối hợp kiểm tra, giám sát và ngăn chặn các hành vi phá hoại rừng, mua bán lén lút tài nguyên, động vật rừng.
Kết luận hội nghị, hai bên thống nhất cần quy định việc lập kế hoạch hợp tác rõ ràng, cụ thể để cùng thực hiện, đảm bảo việc bảo vệ rừng và động vật rừng tại khu vực biên giới đạt hiệu quả cao. Đồng thời, để phát huy mối quan hệ hữu nghị, hợp tác phát triển giữa hai bên, nhất trí luân phiên tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm công tác quản lý tài nguyên rừng và động vật rừng tối thiểu 1 lần/năm để thông tin về tình hình tổ chức thực hiện, những vấn đề khó khăn, thách thức, cùng nhau tìm biện pháp giải quyết và ngăn chặn kịp thời. (Báo Nghệ An 25/7) đầu trang(
Cơ quan chức năng tỉnh Đồng Nai khẳng định đã phát hiện 2 quần thể voọc Chà Vá chân đen với số lượng trên 30 cá thể tại khu vực núi Chứa Chan.
Hạt kiểm lâm liên huyện Xuân Lộc và TX Long Khánh (tỉnh Đồng Nai) vừa có công văn đề nghị, xin ý kiến chỉ đạo của UBND huyện Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai) và Chi cục kiểm lâm Đồng Nai về công tác bảo tồn đàn voọc Chà Vá chân đen tại khu vực núi Chứa Chan.
Theo thông tin từ hạt kiểm lâm liên huyện (HKLH), trong quá trình HKLLH Xuân Lộc và TX Long Khánh phối hợp cùng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý di tích Quốc gia danh lam thắng cảnh núi Chứa Chan tiến hành khảo sát phát triển du lịch, đoàn liên ngành đã phát hiện 9 cá thể voọc tại khu vực Láng Da (thuộc núi Chứa Chan, qua 2 xã Suối Cát và Xuân Hiệp, huyện Xuân Lộc). Bước đầu qua mắt thường, đoàn công tác nhận định đây là loài voọc Chà Vá chân đen (thuộc loài động vật quý hiếm nhóm IB).
Trước sự việc nói trên, HKLLH đã báo cáo với các ngành chức năng tỉnh Đồng Nai và sau đó, giữa năm 2017, nhiều đơn vị có liên quan đã phối hợp ghi hình, chụp ảnh để xác định về phát hiện nói trên. Đoàn khảo sát tiếp tục phát hiện và ghi hình rõ nét được nhiều đàn voọc Chà Vá chân đen tại khu vực núi Chứa Chan có diện tích khoản 24ha, ở địa hình đá lộ thiên có dây leo, độ dốc cao, thảm thực vật rừng tự nhiên, phía dưới đá có nguồn nước chảy ngầm.
Đến nay (tháng 7/2017), tại khu vực núi Chứa Chan, HKLLH đã phát hiện 2 quần thể voọc Chà Vá chân đen với số lượng trên 30 cá thể. Đoàn liên ngành đã tổ chức tuyên truyền đến nhân dân đang có các hoạt động sản xuất gần khu vực voọc xuất hiện nâng cao ý thức bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã. Đồng thời, HKLLH đang phối hợp với lực lượng Công an, UBND, dân phòng các xã liên tục, thường xuyên tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ đàn voọc. Ngoài ra, trong quá trình tuần tra, các ngành chức năng sẽ tiếp tục ghi nhận các loài khác hiện có tại núi Chứa Chan. (Kiến Thức 26/7) đầu trang(
Nhiều cựu lãnh đạo tỉnh Phú Yên kiến nghị làm rõ, xử lý trách nhiệm liên quan các dự án có sai phạm mà báo Pháp Luật TP.HCM đã phản ánh.
Vì sao đến nay các đoàn thanh tra của trung ương vẫn chưa công bố kết luận thanh tra các dự án có liên quan đến phá rừng mà báo chí phản ánh thời gian qua ở Phú Yên? Ông Lê Văn Hữu, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, đặt vấn đề như vậy tại cuộc tiếp xúc cử tri là các nguyên lãnh đạo tỉnh với đại biểu HĐND tỉnh chiều 25-7.
Ông hỏi: "Các cuộc thanh tra này đều có công bố thời hạn thanh tra, đến nay đều đã kết thúc nhiều tháng rồi nhưng vẫn chưa công bố kết luận cho nhân dân biết. Thanh tra các vụ việc là bình thường nhưng để kéo dài quá lâu chưa công bố thế này đã trở thành chuyện không bình thường”.
Đồng quan điểm trên, ông Nguyễn Văn Chín, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên, kiến nghị Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) phải công bố kết luận thanh tra cho người dân biết. Nếu chưa thể công bố thì giải thích cho người dân biết lý do.
Ông Chín cùng nhiều nguyên lãnh đạo tỉnh kiến nghị HĐND tỉnh tiến hành giám sát đối với UBND tỉnh trong việc cho triển khai các dự án liên quan đến phá rừng.
“Tôi kiến nghị HĐND tỉnh giám sát việc UBND tỉnh ra quyết định chuyển mục đích sử dụng hơn 273 ha rừng tự nhiên tại hai tiểu khu 310, 311 tại huyện Sông Hinh rồi cho triệt phá, giao cho doanh nghiệp thực hiện dự án nuôi bò. Việc làm của UBND tỉnh là trái ngược hoàn toàn với lệnh đóng cửa rừng của Thủ tướng và Chỉ thị 13 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã ban hành trước đó.
Tôi cũng kiến nghị HĐND tỉnh giám sát việc UBND tỉnh tự cho mình cái quyền quyết định về cơ chế đặc thù, cho hàng loạt dự án vừa thi công vừa làm thủ tục, hoặc bỏ qua thủ tục mà cứ làm ào ào, bất chấp các quy định của pháp luật” - ông nói.
Ông Chín viện dẫn việc UBND tỉnh Phú Yên cho triệt phá 116 ha rừng phòng hộ ven biển tại TP Tuy Hòa để làm dự án Khu du lịch New City khi chưa trình Thủ tướng chuyển mục đích sử dụng, chưa thực hiện nhiều thủ tục pháp lý như chưa giao đất, chưa có đánh giá tác động môi trường…
“Tỉnh cho làm như vậy là có đúng thẩm quyền không? Phú Yên là một quốc gia riêng biệt hay sao mà cho làm như vậy? Rõ ràng là trái với các quy định của pháp luật. Tôi yêu cầu làm rõ, xử lý trách nhiệm các cơ quan, cá nhân liên quan và trả lời rõ ràng cho nhân dân. Tôi cũng nói rõ là nếu thanh tra Tổng cục Lâm nghiệp mà kết luận tỉnh cho phá rừng tự nhiên để nuôi bò là đúng, tôi sẽ bỏ tiền lương ra Hà Nội gặp trực tiếp Ban Bí thư để kiến nghị” - ông Chín nói.
Ông Nguyễn Văn Trúc, nguyên Quyền Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên, chất vấn lãnh đạo UBND tỉnh: “Chính quyền là cơ quan hướng dẫn, giám sát dân làm đúng pháp luật mà sao lại đi làm sai?”.
Các cử tri nguyên là lãnh đạo tỉnh Phú Yên cũng viện dẫn các nội dung phản ánh của báo Pháp Luật TP.HCM về hai dự án có dấu hiệu sai phạm và yêu cầu làm rõ, xử lý trách nhiệm. Đó là dự án Khu đô thị mới Bắc Lục Khẩu tại thị xã Sông Cầu do Công ty TNHH MTV Việt Long Phú Yên làm chủ đầu tư và dự án BV đa khoa Quốc tế do Công ty CP Pymepharco làm chủ đầu tư.
Các nguyên lãnh đạo cho rằng UBND tỉnh đã làm trái quy định, ngược quy trình khi cho Công ty Việt Long thi công dự án trước khi có quyết định chủ trương đầu tư, cho doanh nghiệp này phân lô bán nền, thu hơn 50 tỉ đồng khi chưa hoàn tất thủ tục theo quy định, chưa xây dựng hạ tầng, cấp 87 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp trong khi chưa hoàn thành nghĩa vụ tài chính…
Các vị này cũng không đồng tình với việc tỉnh cho Công ty CP Pymepharco chuyển nhượng dự án BV đa khoa Quốc tế cho doanh nghiệp khác trong khi không triển khai dự án này nhiều năm liền...
Ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, không giải trình tại cuộc tiếp xúc mà hứa sẽ có văn bản giải trình từng nội dung vụ việc mà các vị cựu lãnh đạo phản ánh, kiến nghị. (Pháp Luật TPHCM 25/7) đầu trang(
Thời gian qua, bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR), ngành chức năng và chính quyền các địa phương đã huy động lực lượng, tổ chức kiểm tra tại các điểm “nóng” phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, đồng thời xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR. Nhờ vậy, tình trạng cháy rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, phá rừng đã giảm đáng kể.
Theo ngành Nông nghiệp tỉnh, để hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép và cháy rừng trong mùa khô, Chi cục Kiểm lâm (KL) tỉnh đã hướng dẫn Hạt KL các địa phương rà soát, xác định diện tích trên 150.887 ha rừng trồng, đất chưa có rừng trạng thái Ia, Ib, Ic có nguy cơ cháy rừng cao và hơn 175.407 ha rừng, đất lâm nghiệp thường xảy ra tình trạng phá rừng, khai thác, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép.
Diện tích rừng có nguy cơ cháy cao và diện tích rừng thường bị xâm hại đều đã được thể hiện rõ trên bản đồ phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) của các địa phương và các chủ rừng. Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục phó phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: “Sau khi xác định các khu vực rừng cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát, chúng tôi đã phân công cán bộ đứng chân địa bàn, phối hợp với chính quyền các địa phương, các hội-đoàn thể hướng dẫn, giám sát các chủ rừng trong quản lý BVR&PCCCR; huy động lực lượng tổ chức kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật BV&PTR; đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của KL địa bàn, tạo điều kiện cho lực lượng này thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đơn vị cũng thường xuyên kiểm tra và đôn đốc 28 Ban chỉ huy BVR&PCCCR của các huyện, thị xã, thành phố và các chủ rừng triển khai các biện pháp cấp bách trong quản lý BVR&PCCCR”.
Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các địa phương đã tổ chức 153 đợt tuyên truyền, phổ biến Luật BV&PTR cho 14.677 người dân và tổ chức cho 1.436 người ký cam kết không vi phạm Luật BV&PTR. Hạt KL các địa phương cũng đã tổ chức 724 đợt tuần tra, kiểm soát các khu vực rừng dễ xảy ra cháy rừng và các “điểm nóng” phá rừng, qua đó đã phá hủy tại rừng 0,38 m3 gỗ các loại, 125 lò than, 33.800 kg than hầm, 31 ster củi, 35 lán trại…
Chi cục KL tỉnh cũng tiến hành kiểm tra các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản tại các địa phương và các cụm, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm truy xuất nguồn gốc lâm sản; kiểm tra, giám sát các cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã. Bên cạnh đó, rà soát, đánh giá thực trạng công tác giao rừng, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp đổi, cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp tại các địa phương, các công ty lâm nghiệp.
Công tác tuần tra, truy quét các tụ điểm khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép và xử lý các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR cũng được tăng cường. Từ đầu năm đến nay, Hạt KL các huyện cùng Đội KL cơ động và PCCCR của tỉnh đã lập biên bản 170 vụ vi phạm Luật BV&PTR, trong đó đã xử lý vi phạm hành chính 139 vụ và xử lý hình sự 6 vụ (KL trực tiếp khởi tố hình sự 3 vụ, Công an khởi tố 3 vụ). Các địa phương cũng đã phát hiện và xử lý 3 vụ cháy rừng, 25 vụ phá rừng; phá nhổ 159,36 ha cây trồng trên diện tích đất lâm nghiệp bị lấm chiếm trái phép.
Nhờ thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý BVR&PCCCR nên đã hạn chế được tình trạng cháy rừng, phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép tại các địa phương. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ cháy rừng giảm 17 vụ, diện tích rừng bị cháy giảm 93,97 ha; số vụ phá rừng giảm 49 vụ, diện tích rừng bị phá giảm 66,68 ha; diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm giảm 13,45 ha.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết: Hiện đang là mùa khô, cháy rừng, phá rừng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, khó khăn thách thức trong công tác quản lý BVR&PCCCR vẫn còn nhiều. Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Sở NN&PTNT sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Luật BV&PTR cho người dân sống gần rừng và vận động bà con cùng tham gia BVR&PCCCR. Bên cạnh đó, đôn đốc các chủ rừng (các Công ty TNHH lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng, doanh nghiệp, cá nhân trồng rừng) tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác lâm sản trái phép. Phối hợp với ngành chức năng điều tra truy tìm đối tượng, củng cố hồ sơ các vụ phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp còn tồn đọng để xử lý.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Hạt KL các địa phương, Đội KL cơ động và PCCCR phối hợp với các chủ rừng thường xuyên kiểm tra, truy quét tại các “điểm nóng” khai thác, vận chuyển lâm sản và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. Chủ động bố trí lực lượng triển khai các phương án PCCCR, kịp thời xử lý các tình huống có thể xảy ra.
Cũng theo ông Phan Trọng Hổ, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Nông nghiệp, UBND các huyện, thị xã, thành phố cũng cần chủ động triển khai các biện pháp PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ). Chỉ đạo các tổ chức, hội-đoàn thể cùng chung tay phối hợp với ngành chức năng và các xã, phường, thị trấn vận động, tuyên truyền hội viên của mình tham gia tích cực công tác BVR&PCCCR. Các chủ rừng cũng cần tăng cường trách nhiệm bảo vệ tốt diện tích rừng được Nhà nước giao, phối hợp chặt chẽ với ngành chức năng ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác trái phép lâm sản trong các khu rừng phòng hộ, đặc dụng, đầu nguồn. (Báo Bình Định 25/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Những năm gần đây, được sự quan tâm của các cấp chính quyền thông qua các chương trình như Chương trình 30a, nông thôn mới, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã triển khai nhiều mô hình sản xuất mới để tăng thêm thu nhập. Điển hình như mô hình trang trại trồng trọt, chăn nuôi, kết hợp trồng rừng kinh tế đã giúp nhiều người dân vượt qua đói nghèo.
Nằm cách thành phố Thanh Hóa gần 60 km, huyện miền núi Như Xuân có diện tích 52.614 ha rừng và đất lâm nghiệp, cuộc sống của nhân dân nơi đây còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các xã vùng cao, vùng đệm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nhân dân còn thiếu đất sản xuất và sinh sống chủ yếu dựa vào rừng tự nhiên, theo tập quán cũ nên công tác xây dựng các mô hình phát triển kinh tế trang trại kết hợp trồng rừng còn gặp khó khăn.
Từ thực tế đó, chính quyền huyện Như Xuân đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân thâm gia phát triển kinh tế trang trại và trồng rừng nhằm góp phần ổn định kinh tế lâm nghiệp, tăng giá trị sản xuất, tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân và duy trì ổn định độ che phủ rừng.
Theo thống kê của Phòng nông nghiệp huyện Như Xuân, toàn huyện có khoảng 162 trang trại tiêu biểu, có 38 trang trại chăn nuôi, còn lại là trang trại cây ăn quả, trang trại nông, lâm kết hợp. Nhờ sự hướng dẫn, tư vấn sản xuất của cán bộ nông nghiệp, người dân các bản, làng đã thực hiện tốt các phương pháp sản xuất có quy mô, có giá trị thu nhập của các trang trại ngày càng tăng.
Tổng diện tích đất sử dụng của các trang trại khoảng 1.909 ha, chủ yếu trồng cây hàng năm, cây công nghiệp ngắn ngày như mía, sắn, rau màu và các loại cây lâm nghiệp lâu năm, kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm. Nhờ đó, góp phần xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động, cải thiện đời sống nhân dân và duy trì ổn định độ che phủ rừng.
Anh Lê Minh Hải, thôn 8, xã Xuân Hoà cho biết đã khởi nghiệp từ năm 2008 thông qua sự hỗ trợ của chương trình nông thôn mới. Anh vay mượn thêm tiền của người thân, tổng cộng số vốn ban đầu là 15 triệu và dùng số tiền này mua cây giống, xây dựng trang trại nhỏ để phát triển kinh tế. Ban đầu vốn ít nên anh chỉ trồng sắn, trồng mía, cỏ voi. Sau đó, anh mua thêm 3 ha đất để trồng cây lâm nghiệp, kết hợp chăn nuôi. Đến nay, trang trại của anh đã có diện tích lên tới 15 ha, thu nhập bình quân trang trại anh khoảng 215 triệu đồng/năm.
Anh Lê Duy Vĩnh, thôn 6 xã Bãi Trành chia sẻ, khởi đầu từ năm 2007, gia đình anh chỉ có 1 con lợn sinh sản cùng 0,4 ha cây cao su, 200 cây mía. Đến nay, trang trại của anh đã được mở rộng diện tích lên tới 10 ha, 1 quả đồi trồng cây cao su, cây keo cùng 5 con lợn, 100 con gà, vịt. Hiện thu nhập bình quân của trang trại anh khoảng 1 tỷ đồng/năm.
Nói về vấn đề phát triển lâm nghiệp gắn với kinh tế trang trại, ông Phạm Văn Tuấn, Trưởng phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND huyện Như Xuân cho biết, huyện đã hướng dẫn các hộ dân nghèo xây dựng mô hình trang trại nông lâm tổng hợp để phát triển kinh tế, cũng như phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục thực hiện tốt công tác bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng ở những nơi đất rừng nghèo kiệt; khuyến khích các chủ rừng đầu tư sản xuất kinh doanh rừng. Đồng thời, làm tốt công tác thị trường, tiêu thụ sản phẩm qua đó, góp phần xây dựng nền nông nghiệp của huyện phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao trong cơ chế thị trường.
Như Xuân cũng phấn đấu đến năm 2020 sẽ trồng hơn 900 ha rừng kinh doanh gỗ lớn, xây trên 200 trang trại có hiệu quả kinh tế cao gồm 80 trang trại chăn nuôi, 120 trang trại nông lâm kết hợp. Qua đó, nâng tổng số lao động làm việc thường xuyên trong trang trại là 1.500 lao động. (Báo Ảnh Dân Tộc & Miền Núi 26/7) đầu trang(
Huyện Cam Lộ có trên 21.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên của huyện. Những năm qua, mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư của nhà nước hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhưng với sự quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, lĩnh vực lâm nghiệp huyện Cam Lộ đã từng bước phát triển đúng hướng và đạt được kết quả đáng khích lệ.
Tốc độ tăng trưởng hàng năm 29%; tỷ lệ che phủ rừng tăng qua các năm, đến cuối năm 2016 độ che phủ rừng đạt 51,2%, hiệu quả sản xuất trên đơn vị diện tích từng bước được nâng lên, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng định và đang giữ vai trò to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thá
Trên cơ sở phân tích tiềm năng, thế mạnh vùng gò đồi, Đảng bộ, chính quyền huyện Cam Lộ tập trung chỉ đạo lồng ghép nhiều chương trình, dự án như khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo vệ rừng, trồng mới 5 triệu héc ta rừng và một số dự án trồng rừng kinh tế như dự án trồng rừng nguyên liệu gỗ lớn theo Chứng chỉ FSC để phát triển lâm nghiệp bền vững. Việc giao đất, giao rừng ổn định lâu dài đã tạo động lực cho người dân đầu tư sản xuất hiệu quả gắn với phát triển sinh kế và quản lý rừng bền vững. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ tín dụng góp phần đưa giá trị sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp từ 21,2 tỷ đồng năm 2010 tăng lên 99,8 tỷ đồng năm 2016; số hộ có thu nhập chính từ lâm nghiệp từ 139 hộ năm 2011 tăng lên 412 hộ.
Đặc biệt năng suất, sản lượng, chất lượng lâm sản và công tác bảo vệ rừng được cải thiện rõ rệt. Trên địa bàn huyện đã liên kết hộ với 11 nhóm, hình thành trên 563 ha chuyên canh sản xuất rừng trồng gỗ lớn theo Chứng chỉ FSC, nâng giá trị gia tăng từ 25 - 30% so với rừng trồng rừng thuần túy. Các địa phương cũng đã chuyển đổi gần 2.900 ha đất lâm nghiệp sang trồng trọt, chăn nuôi có giá trị gia tăng cao hơn, trong đó có 2.530 ha chuyển trồng cao su; 100 ha mây phụ thu xung quanh bìa rừng; trên 200 ha xây dựng mô hình chăn nuôi nông- lâm kết hợp theo hướng trang trại, gia trại. Toàn huyện phát triển trên 11.500 ha rừng trồng sản xuất gỗ dăm, 1.617,4 ha rừng tự nhiên được giao cho gia đình, cá nhân để bảo vệ và quản lý.
Thời gian qua, huyện Cam Lộ đã huy động lồng ghép nhiều nguồn lực đầu tư xây dựng trên 160 km đường lâm nghiệp cùng với hệ thống đường mòn, từng bước tạo điều kiện cho việc bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng, trồng rừng và khai thác, vận chuyển gỗ, vật tư cho việc đầu tư thâm canh góp phần nâng cao thu nhập và quản lý bảo vệ rừng. Nhân dân đã thay đổi cơ bản việc ứng dụng giống gieo hạt sang giống giâm hom từ một số dòng keo lai có năng suất cao đã được khẳng định để đưa vào trồng rừng như dòng BV16, BV32,BV33,TB11, TB12; áp dụng kỹ thuật thâm canh rừng để tăng năng suất, chất lượng.
Một số mô hình quản lý kinh doanh lâm nghiệp bền vững trên địa bàn huyện bước đầu có hiệu quả như các mô hình trồng rừng gắn liền với cấp chứng chỉ rừng (FSC); trồng rừng gỗ lớn, chuyển hóa rừng trồng gỗ dăm sang kinh doanh gỗ lớn, liên doanh, liên kết với Công ty Cổ phần Tổng công ty thương mại Quảng Trị ... góp phần tạo điều kiện thuận lợi đầu ra cho các sản phẩm gỗ xuất khẩu, đáp ứng mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý quy hoạch, phát triển rừng trên địa bàn huyện Cam Lộ còn nhiều bất cập; công tác giao đất, khoán rừng, cho thuê đất chậm so với yêu cầu.
Công tác bàn giao thực địa theo quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh, đến nay huyện mới nhận bàn giao 6.462/7.137ha, song sau khi bàn giao phần lớn diện tích đã trồng rừng không rõ chủ dẫn đến việc quy chủ, quy hoạch cấp lại cho nhân dân quản lý, khai thác sử dụng gặp nhiều khó khăn. Tiềm năng đất đai lớn, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng giá trị lĩnh vực lâm nghiệp thấp, chỉ chiếm khoảng 8,7% (giai đoạn 2010 - 2015) trong tỷ trọng cơ cấu ngành. Tư duy sản xuất của một số chủ rừng chậm thay đổi, chưa có sự đầu tư thâm canh đúng mức, thiếu sự liên kết, mặc dù nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách khuyến khích các chủ rừng phát triển theo định hướng nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng và nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến, xuất khẩu.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai vùng gò đồi, thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, UBND huyện Cam Lộ đã ban hành Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2017- 2020, định hướng đến năm 2025, với mục tiêu tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững hiệu quả 21.000 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị rừng và giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích đất lâm nghiệp gắn với quản lý rủi ro thiên tai, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới. Phát triển lâm nghiệp toàn diện theo hướng bền vững, sản xuất hàng hoá; tạo thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển rừng sản xuất theo hướng thâm canh, xây dựng chứng chỉ rừng FSC, kinh doanh tổng hợp tạo thành vùng nguyên liệu tập trung gắn với nhà máy chế biến và thị trường tiêu thụ.
Tổ chức thực hiện tốt việc lồng ghép các chương trình, dự án để xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp bao gồm: Đường lâm nghiệp, đường ranh cản lửa, công trình phòng cháy chữa cháy rừng... Triển khai thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo phương án quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng trồng gắn với việc bao tiêu sản phẩm gỗ rừng, phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 130 tỷ đồng, chiếm 14% trong cơ cấu ngành và giữ ổn định độ che phủ của rừng là trên 51 %. Hoàn thành cơ bản việc quy chủ, cắm mốc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phương án giao đất của các tổ chức giao lại trên toàn huyện để tất cả đất rừng phải được quy chủ và có chủ thực sự, từ đó bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Thông qua việc giao rừng, vận động nhân dân tham gia trồng rừng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, tổ chức trồng rừng sản xuất cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trên địa bàn huyện, tỉnh và trong khu vực nhằm giải quyết việc làm hàng năm từ khoảng 1.500 - 2.000 lao động, góp phần tăng thu nhập cho người dân và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của huyện. (Báo Quảng Trị 25/7) đầu trang(
Phát triển lâm nghiệp bền vững không chỉ là trồng, bảo vệ rừng mà theo nhiều chuyên gia, còn phải nâng cao đời sống của người dân, gắn lợi ích của dân với rừng.
Theo báo cáo của Bộ NN - PTNT về thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020 và tổng kết dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2016, thời gian qua, công tác bảo vệ, phát triển rừng đã thu được những kết quả tích cực.
Giá trị, sản lượng, hiệu quả từ sản xuất lâm nghiệp tăng cao hơn so với trước; tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất lâm nghiệp đạt 6,57%/năm trong giai đoạn 2013 - 2016 trong khi giai đoạn 2010 - 2012 chỉ tăng bình quân 5,03%/năm; sản lượng gỗ rừng trồng tăng hơn 3,3 lần, từ 5,16 triệu m3 năm 2011 lên 17,3 triệu m3 năm 2016; 6 tháng đầu năm 2017 đạt 8,9 triệu m3, cả năm ước đạt trên 17 triệu m3. Khai thác rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ, giảm mạnh về quy mô.
Công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng có nhiều tiến bộ, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng giảm dần, diện tích rừng bị thiệt hại giảm từ 5.546ha/năm giai đoạn 2006 - 2010 xuống 2.948ha/năm giai đoạn 2012 - 2016. Công tác trồng rừng được triển khai tích cực, bình quân hàng năm trồng được 225.000ha rừng tập trung. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 40,7% năm 2012 lên 41,19% năm 2016, năm 2017 ước đạt khoảng 41,45%. Diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt khoảng 225.000ha.
Bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác, liên kết giữa công ty chế biến, sản xuất sản phẩm đồ gỗ với người trồng rừng. Dịch vụ môi trường rừng trở thành nguồn tài chính quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát triển rừng; tăng thu nhập cho chủ rừng.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2016 cũng còn một số tồn tại. Vẫn còn những điểm nóng về phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép và chống người thi hành công vụ. Kết quả trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, trồng rừng thay thế còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch. Năng suất, chất lượng rừng thấp, đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm (80% diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo), giá trị thu nhập trên 1ha rừng sản xuất, bình quân chỉ đạt khoảng 7 - 8 triệu đồng/ha/năm. Hầu hết hộ gia đình quản lý diện tích rừng nhỏ dưới 3ha/hộ, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập, đời sống rất khó khăn.
Khẳng định giá trị của rừng trong phát triển kinh tế bền vững, đặc biệt với việc chống biến đổi khí hậu, tuy nhiên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Lê Trọng Quảng cho rằng, vẫn còn mâu thuẫn giữa phát triển rừng với xóa đói giảm nghèo. Theo đó, cần nâng cao giá trị của rừng, làm sao để người dân sống được từ rừng, bằng nghề rừng thông qua việc nâng cao giá trị chi trả dịch vụ rừng. Ông Quảng cũng nhấn mạnh, với các tỉnh miền núi, trồng gỗ rất khó vì diện tích trồng manh mún, việc vận chuyển khó khăn. Do đó, với các tỉnh đặc thù như Lai Châu cần trồng các cây có giá trị kinh tế cao, ví dụ như cây mắc ca khi trồng với mật độ thích hợp sẽ có tác dụng như trồng rừng. Tuổi thọ của loại cây này lên tới hàng trăm năm, mà giá trị thu từ hạt mắc ca đạt từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ha.
Đồng quan điểm trên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Minh Tiến nhìn nhận, không có gì bằng người dân bảo vệ rừng, mà muốn vậy phải tạo sinh kế cho họ. Hiểu một cách đơn giản, khi rừng nuôi sống con người thì sẽ không ai phá rừng. Chính người dân sẽ bảo vệ, phát triển rừng hiệu quả nhất. Vì thế, cần nhân rộng những mô hình trồng thảo dược dưới tán rừng để có thêm nguồn thu nhập. Cùng với đó, cần có cơ chế, kinh phí cho việc nghiên cứu giống để tạo những giống gỗ tốt, có hiệu quả kinh tế cao bởi hiện nay giống cây để phát triển rừng chủ yếu là cây keo, giá trị kinh tế còn thấp.
Dưới góc độ doanh nghiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền cho rằng, muốn phát triển lâm nghiệp bền vững phải có cơ chế phát triển rừng và sử dụng gỗ bền vững. Theo ông Quyền, khi tăng sử dụng gỗ thì phải tăng diện tích khai thác, do vậy, sử dụng gỗ bền vững là phải tận dụng tối đa hiệu quả của cây gỗ. Cùng với đó cần thay đổi tư duy trồng rừng. Nếu như trước đây chỉ là phủ xanh đất trống, đồi núi trọc thì nay phải trồng cây có chất lượng, hiệu quả cao và suất đầu tư phải tăng lên. Song song với đó, cơ chế chính sách phải lâu dài, ổn định thì các doanh nghiệp mới đưa ra được chiến lược sản xuất, kinh doanh dài hơi, vừa giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận, vừa giúp lâm nghiệp phát triển ổn định, bền vững. (Đại Biểu Nhân Dân 25/7) đầu trang(
25/7, Ban quản lý chương trình UN-REDD tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo truyền thông REDD+ về biến đổi khí hậu. Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II là một phần trong sáng kiến hợp tác của Liên hợp quốc về giảm phát thải khí nhà kính do mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và tăng cường trữ lượng các-bon rừng giai đoạn 2011-2020 được thực hiện tại 6 tỉnh: Bắc Cạn, Hà Tĩnh, Lào Cai, Bình Thuận, Lâm Đồng và Cà Mau.
Cà Mau có 6 huyện thuộc chương trình REDD+ từ năm 2014 là Năm Căn, Ngọc Hiển, Phú Tân, Đầm Dơi, U Minh và Trần Văn Thời. Mục tiêu đến năm 2020, chương trình góp phần giảm phát khí thải nhà kính thông qua các hoạt động REDD+, nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc lên 42% và diện tích các loại rừng đạt 14,4 triệu ha. Trong đó, bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên là mục tiêu quan trọng nhất. (Báo Cà Mau 25/7) đầu trang(
Chiều 25-7, đoàn công tác của Trung ương Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã làm việc với UBND tỉnh về công tác phối hợp giữa Hội CTĐ và Sở NN&PTNT Thanh Hóa trong các hoạt động phối hợp thực hiện trồng rừng ngập mặn, tham gia phòng chống thiên tai và xây dựng nông thôn mới.
Các đồng chí: Nguyễn Thị Xuân Thu, Chủ tịch Trung ương Hội CTĐ Việt Nam; Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, đồng chủ trì hội nghị. Cùng tham dự có đại diện lãnh đạo một số sở, ngành chức năng và địa phương ven biển.
Từ năm 1997 đến năm 2015, Hội CTĐ Thanh Hóa được thực hiện Dự án “Trồng rừng ngập mặn và giảm thiểu rủi ro thảm họa” do Hội CTĐ Nhật Bản tài trợ thông qua Hiệp hội CTĐ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Toàn tỉnh đã trồng được 2.256ha rừng ngập mặn tại một số xã của các huyện Hoằng Hóa, Hậu Lộc và Nga Sơn. Tuy nhiên, do hà bám và sâu bệnh, chỉ còn gần 540ha rừng ngập mặn còn sống. Hiện tại số rừng còn sống đang phát triển tốt, hiệu quả của rừng được khẳng định qua các trận bão lũ; những nơi có rừng thì đê biển và các bờ đầm nuôi trồng hải sản được giữ vững, người dân thu được hoa lợi… Cùng với trồng, bảo vệ rừng ngập mặn, công tác trong phòng, chống thiên tai đã được các cấp hội CTĐ phối hợp với các địa phương thực hiện hiệu quả, góp phần giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra…
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Xuân Thu, Chủ tịch Trung ương Hội CTĐ Việt Nam đánh giá cao hiệu quả việc triển khai dự án trồng rừng ngập mặn tại Thanh Hóa. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, khai thác diện tích rừng hiện có, đồng chí đề nghị tỉnh tiếp tục chỉ đạo các sở, ngành liên quan thực hiện nghiêm túc bản ghi nhớ giữa Trung ương Hội CTĐ Việt Nam và Bộ NN&PTNT trong phối hợp công tác phòng chống thiên tai, trồng rừng phòng hộ và xây dựng nông thôn mới. Ngoài ra, trong lúc dự án chuẩn bị kết thúc, chờ giao tập thể, cá nhân quản lý, tỉnh tiếp tục giao cho Hội CTĐ tỉnh quản lý, bảo vệ diện tích rừng ngập mặn hiện có. Trung ương Hội CTĐ Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ, ngành chức năng của Trung ương nghiên cứu xây dựng thí điểm mô hình quản lý rừng ngập mặn tại Thanh Hóa để triển khai nhân rộng.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền cảm ơn Trung ương Hội CTĐ Việt Nam và Bộ NN&PTNT đã quan tâm, tạo điều kiện để Thanh Hóa triển khai hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai, trồng rừng phòng hộ và xây dựng nông thôn mới. Đồng chí mong muốn Trung ương Hội CTĐ Việt Nam và Bộ NN&PTNT tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện để tỉnh thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng ngập mặn, nhất là sớm triển khai thí điểm mô hình thành lập ban quản lý rừng phòng hộ ngập mặn do Hội CTĐ tỉnh là chủ rừng nhằm bảo vệ, khai thác hiệu quả diện tích rừng hiện có. Trung ương Hội CTĐ Việt Nam tiếp tục quan tâm để ngày càng có nhiều hộ nghèo trong tỉnh được nhận bò thông qua phong trào “Phát triển ngân hàng bò” và công tác cứu trợ nhân đạo. (Báo Thanh Hóa 25/7) đầu trang(
Sau 3 năm triển khai thực hiện Đề án 04 (Đề án trồng rừng trên đất lâm nghiệp do người dân lấn chiếm sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2014 - 2019), Lâm Hà đã tổ chức trồng được 762,09 ha/1.241,3 ha được phê duyệt, đạt 61,4% kế hoạch, đạt 15,3% kế hoạch 5 năm của đề án, với tổng kinh phí hỗ trợ 587,5 triệu đồng.
Theo ông Nguyễn Đức Tài, Chủ tịch UBND huyện, trong quá trình thiết kế, xây dựng phương án kế hoạch phải lựa chọn, thiết kế tập trung theo từng tiểu khu và theo từng đơn vị hành chính cấp xã, tránh thiết kế những diện tích manh mún, nhỏ lẻ; lập các thủ tục kịp thời có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với từng cá nhân, hộ gia đình khi tham gia trồng rừng trên đất lâm nghiệp do chính họ lấn chiếm. Hướng dẫn quy trình kỹ thuật, phương thức trồng xen trên diện tích cây cà phê; chuẩn bị tốt nguồn cây giống đạt cả về chất lượng, số lượng quy cách để kịp thời cung cấp cho người dân; đối với những diện tích trồng qua các năm đạt hiệu quả thì lập hồ sơ giao khoán theo quy định và cùng với người dân tổ chức quản lý, bảo vệ tốt số cây đã trồng. (Báo Lâm Đồng 25/7) đầu trang(
UBND tỉnh Hà Giang vừa ban hành Kế hoạch số 205/KH – UBND về Hành động “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng” đến năm 2030
Kế hoạch nhằm góp phần thực hiện thành công Chương trình Quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất rừng và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng các bon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (Chương trình REDD+) đến năm 2030; thực hiện mục tiêu Qui hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giai đoạn 2011 – 2020; phát huy giá trị của đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen quý hiếm, nâng cao giá trị lâm sản, cải thiện đời sống người dân, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số và các hộ nghèo sống gần rừng, nâng cao giá trị phòng hộ của rừng, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn sạt lở đất, bảo vệ nguồn nước…
Theo Kế hoạch, trong giai đoạn 2017 - 2020, góp phần giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hoạt động REDD+, đẩy nhanh tiến độ các dự án trồng rừng, trồng lại rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, nâng độ che phủ rừng từ 55,1% vào cuối năm 2016 lên 58% vào năm 2020; nâng cao chất lượng rừng tự nhiên 368.802,2 ha và 68.066,1 ha rừng trồng, nhằm gia tăng tích lũy các bon và dịch vụ môi trường rừng; nhân rộng các mô hình trồng rừng hiệu quả; nâng cao chất lượng và sử dụng bền vững rừng tự nhiên; khai thác có hiệu quả du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng tại các khu rừng đặc dụng.
Thực hiện hiệu quả các chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng, trồng rừng thay thế; chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2015 – 2020. Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đưa các giống mới vào trồng rừng, khuyến khích thay thế một số diện tích rừng trồng loài cây không phù hợp với điều kiện lập địa kém hiệu quả bằng các giống có năng suất, chất lượng cao, đặc biệt quan tâm đến trồng rừng gỗ lớn góp phần nâng cao chất lượng rừng, tăng khả năng hấp thu khí CO2 của rừng, tăng sinh khối để tăng tích trữ các bon và đảm bảo cung cấp gỗ cho sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Khuyến khích thực hiện mô hình quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Trong giai đoạn 2021 – 2030, Hà Giang sẽ ổn định diện tích rừng tự nhiên đến năm 2030 ít nhất bằng diện tích đạt được tại năm 2020, góp phần định hướng tăng trưởng xanh của tỉnh; tiếp tục triển khai các dự án trồng rừng, trồng lại rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, nâng tỷ lệ che phủ của rừng đạt 60% vào năm 2030, trong đó của rừng tự nhiên là 48,9%. Nhân rộng các mô hình hiệu quả cao về REDD+ và quản lý rừng bền vững, lồng ghép REDD+ với trình phát triển lâm nghiệp bền vững. Hoàn thiện khung hành động của Chương trình REDD+ và tiếp cận các nguồn tài chính chi trả dựa vào kết quả phù hợp với các yêu cầu quốc tế.
Tỉnh Hà Giang sẽ tiến hành rà soát, điều chỉnh qui hoạch 03 loại rừng trên địa bàn tỉnh theo hướng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng bền vững có hiệu quả. Cải thiện quản trị rừng và cải thiện sinh kế cho người dân sống trong và gần rừng. Tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Bên cạnh đó, Hà Giang sẽ triển khai đánh giá và nhân rộng các mô hình kinh doanh rừng năng suất cao, xây dựng các mô hình chuyển hóa rừng, trồng rừng kinh doanh gỗ lớn; thí điểm đánh giá và nhân rộng mô hình quản lý rừng tự nhiên bền vững, bảo vệ, bảo tồn và phục hồi rừng; tranh thủ các nguồn vốn đầu tư tài chính cho lâm nghiệp…(Đảng Cộng Sản VN 26/7) đầu trang(
Như Báo Xây dựng đã phản ánh, với “chỉ tiêu áp” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đưa ra là 100.000ha rừng, trong đó “đặc biệt” nhất là tỉnh Gia Lai có đến 50.000ha được “phát quang”, chỉ trong phút chốc, “rừng nghèo” được tháo khoán, cởi trói cho doanh nghiệp vào chặt phá.
Và… chẳng biết vì lý do gì, các doanh nghiệp lớn có tiềm lực kinh tế, kinh nghiệm chuyên môn và gắn với nhu cầu an sinh xã hội, giải quyết công việc, tạo nguồn thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ chỉ được bàn giao những diện tích cao su phân mảnh, không thuận lợi để phát triển cao su… còn ngược lại, các công ty dạng “con ông cháu cha”, quen biết lại nhận được những vùng rừng “béo bở”, để rồi những công ty này mặc sức “thảm sát” rừng không tiếc tay. Mục đích cũng chỉ vì những khối gỗ đắt tiền mà thôi…
Tại Hội nghị quán triệt và tổ chức thực hiện việc chuyển rừng nghèo sang trồng cao su được tổ chức tại TP Pleiku ngày 31/5/2008, đại diện Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (CNCSVN) đã có ý kiến khi doanh nghiệp được Thủ tướng chỉ đạo là đơn vị chủ trì việc mở rộng, phát triển diện tích cao su trên Tây Nguyên.
Theo đó, doanh nghiệp này đã chi hàng tỷ đồng khảo sát mấy chục ngàn hecta đất rừng nhưng chỉ được tỉnh Gia Lai giao tỷ lệ rất nhỏ là 1.935,8ha đất trồng cao su trong năm 2008: “Chúng tôi cần mở rộng diện tích trồng cao su trên cơ sở năng lực tài chính, năng lực chuyên môn của 4 Cty cao su trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã được thẩm định rõ ràng. Vì vậy, UBND tỉnh Gia Lai nên tạo điều kiện để các Cty cao su phát triển diện tích gắn với trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động tại chỗ, đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội”. Tuy nhiên, đề nghị của đại diện Tập đoàn CNCSVN tại Hội nghị không được lãnh đạo UBDN tỉnh Gia Lai ghi nhận.
Cũng tham dự Hội nghị này, đại diện Binh đoàn 15 cho biết: Doanh nghiệp đã thực hiện quá trình khảo sát nhưng khi được UBND tỉnh giao đất, doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khan, nhiều diện tích đất được giao lại xâm phạm vào đất sản xuất của dân, đất đang tranh chấp và trùng lặp lẫn nhau giữa các doanh nghiệp. Để giải quyết vấn đề này, UBND tỉnh cần phân bổ lại diện tích cho hợp lý để các doanh nghiệp có điều kiện gắn với trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội.
Việc giao đất phân mảnh, không liền thửa, liền khoảnh cho nhiều doanh nghiệp khác nhau được dự báo sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến mục tiêu chủ trương chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của Chính phủ. Không cần dự đoán, một điều chắc chắn xảy ra khi hơn 6.000ha đất rừng tại xã Ia Blứ, huyện Chư Sê được UBND tỉnh giao cho cùng lúc cho 7 doanh nghiệp, nhiều khả năng hứa hẹn những “cuộc chiến” tranh chấp mủ cao su, nguồn lao động, đồng thời phát sinh hàng loạt bất đồng trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tại chỗ sau này.
Ngày 03/3/2008, Bộ NN&PTNT ra Thông tư số 39/TT-BNN cho chủ trương xác định rừng tự nhiên nghèo là rừng sản xuất bao gồm cả rừng non phục hồi, rừng hỗn giao được xác định theo chỉ tiêu và định lượng như sau: đối với rừng gỗ lá rộng thường xanh, có trữ lượng gỗ bình quân nhỏ hơn 130m3/ha; rừng khộp trữ lượng gỗ dưới 100m3/ha và rừng hỗn giao tre nứa có trữ lượng gỗ bình quân nhỏ hơn 70m3/ha. Chỉ đạo của Bộ NN&PTNT cũng nhấn mạnh đến vai trò Sở NN&PTNT các tỉnh, Chi cục Lâm nghiệp, Chi cục Kiểm lâm trong việc tiến hành kiểm tra đối tượng và hiện trạng rừng chuyển sang trồng cây cao su và có biện pháp tận thu gỗ hợp lý.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ, các cơ quan chức năng tại Gia Lai đang đối mặt với một thực tế: Khi chuyển đổi hơn 51.000ha rừng nghèo sang trồng cao su nếu các cơ quan, ban ngành quản lý và tận thu gỗ tốt sẽ đem về một nguồn ngân sách hàng nghìn tỷ đồng, tạo điều kiện tốt để phát triển kinh tế, đời sống văn hoá xã hội. Để cụ thể hoá chỉ đạo của Bộ NN&PTNT, ngày 08/5/2008, UBND tỉnh Gia Lai ra Quyết định số 239/QĐ-UBND ban hành quy chế tiêu thụ gỗ và lâm sản khác tận thu trên diện tích chuyển đổi mục đích sang trồng cao su. Quyết định này đề cập đến các nguyên tắc, phạm vi đối tượng áp dụng, thành lập các tổ giám sát, kiểm tra và thành lập hội đồng đấu giá cụ thể nhằm khai thác triệt để nguồn tài nguyên gỗ.
Tuy nhiên, tại nhiều diện tích đất bàn giao cho các doanh nghiệp đã xuất hiện hiện tượng khai thác tràn lan, hàng trăm m3 gỗ bị ủi ra bờ lô để đốt, gỗ bị vùi lấp xuống đất. Tại tiểu khu 1136 Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn, trong ngày 23 đến 27/6/2008, Đoàn giám sát Thường trực HĐND tỉnh Gia Lai đã phát hiện trên những diện tích khai hoang của Cty CP Tập đoàn Đức Long một lượng lớn gỗ đã được tập kết ra bờ lô để đốt, vùi lấp xuống đất.
Tại các tiểu khu 919A, 920, 921, 922, 924, 928, 935, 936 và 937, xã Ia Puch, huyện Chư Prông, nhiều diện tích chuyển rừng nghèo sang trồng cao su, gỗ cũng đã được đơn vị khai hoang ủi ra bờ lô đốt. Được biết, lượng gỗ trong các khu rừng khai hoang này đều được Cty CP Quốc Cường khoán trắng cho đơn vị khai hoang mà không hề có chủ rừng hay lực lượng Kiểm lâm kiểm tra, giám sát, quản lý việc khai thác gỗ.
Được UBND tỉnh Gia Lai giao đất rừng tại tiểu khu 722, 723, 724 thuộc lâm phần do xã Ia Pnôn, huyện Đức Cơ quản lý nhưng hoạt động khai thác tài nguyên của Cty TNHH 30/4 chính quyền địa phương không hề được đóng góp trong vai trò giám sát, kiểm tra theo chỉ đạo của Bộ NN&PTNT. Làm việc với chúng tôi, ông Đặng Sĩ Khoa, Phó Chủ tịch UBND xã: Rừng tại xã Ia Pnôn chưa đến nỗi nào nhưng từ khi có quyết định của UBND tỉnh Gia Lai giao 1.032,2ha đất lâm nghiệp cho Cty TNHH 30/4, doanh nghiệp này đã tiến hành khai hoang, khai thác gỗ mà chính quyền địa phương không có quyền giám sát.
Cũng theo ông Đặng Sĩ Khoa, hơn 1.032ha rừng dọc biên giới chủ yếu là gỗ dầu, bằng lăng, sao, căm se, cà chít… nhưng sau khi hoàn thành công đoạn khai hoang, theo số liệu thống kê của Cty TNHH 30/4: Toàn bộ khối lượng gỗ khai thác trên 1.000ha rừng tại xã Ia Pnôn chỉ suýt soát gần… 4.000m3!?! Như vậy, khác nào mỗi hecta rừng tại các tiểu khu 722, 723, 724 thuộc lâm phần do xã Ia Pnôn quản lý chỉ có vỏn vẹn gần 4m3 gỗ?
Với những kiểu “khai hoang kết hợp với tận thu gỗ, củi từ rừng” của các doanh nghiệp trên, một nguồn tài nguyên lớn của tỉnh Gia Lai đang bị chảy máu từng ngày nhường chỗ cho cao su. (Xây Dựng 25/7) đầu trang(
Gần 10 năm qua, việc thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh miền núi Sơn La đã và đang góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ rừng, nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh, nhất là tại các xã đặc biệt khó khăn, khu vực vùng sâu, vùng xa...
Đó là những kết quả nổi bật trong thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La. Thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng từng bước được nâng cao. Cơ bản người dân đã có ý thức hơn trong thực hiện công tác bảo vệ, phát triển rừng trên cơ sở hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mình. Ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, chính quyền cơ sở ở Sơn La đã thực sự vào cuộc một cách tích cực.
Từ công tác vận động, tuyên truyền đến tổ chức, điều hành quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng chống chữa cháy rừng đã dần được quan tâm thực hiện tốt hơn. Qua đó giúp giảm đáng kể tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh về cả số vụ và mức độ thiệt hại. Theo thống kê, so với năm 2010, số vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép ở Sơn La đã giảm trên 700 vụ. Trên địa bàn tỉnh không có các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Đồng chí Bùi Mạnh Cường - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mường La (Sơn La) cho biết: “Thành công lớn nhất của chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là tác động đến nhận thức của người dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng. Từ khi thực hiện chính sách, người dân đã có ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng; tích cực trồng, chăm sóc các diện tích rừng được giao”.
Tìm hiểu được biết, bắt đầu triển khai từ năm 2009, đến nay việc thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở tỉnh Sơn La đã và đang trở thành bước đột phá trong việc giải quyết nhiều vấn đề gắn với công tác nhiệm vụ phát triển rừng theo hướng bền vững. Không chỉ góp phần giảm thiểu suy thoái rừng mà còn góp phần nâng cao chất lượng rừng, làm tăng khả năng phòng hộ của rừng, đảm bảo cân bằng sinh thái giảm thiểu biến đổi khí hậu, hạn chế hạn hán, lũ lụt; chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng còn giúp các chủ rừng và hộ nhận khoán rừng có thêm điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập.
Qua 8 năm triển khai, bình quân mỗi năm đã có khoảng trên 100 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả cho các đối tượng. Riêng trong giai đoạn 2011-2015, tổng nguồn thu tiền ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đạt hơn 437 tỷ đồng. Năm 2016, Sơn La đã chi trả hơn 114 tỷ đồng cho gần 47.000 chủ rừng, với diện tích 609.483ha trên địa bàn 12 huyện, thành phố. Kinh phí chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đồng thời cũng đã tạo nguồn tài chính lớn, ổn định phục vụ có hiệu quả cho công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Anh Lò A Sông ở bản Nậm Nghiệp, xã Ngọc Chiến, huyện Mường La (Sơn La) vui vẻ cho biết: “Từ khi được chi trả tiền dịch vụ bảo vệ rừng, người dân trong bản ai cũng phấn khởi. Những hộ có rừng đều tự bảo nhau tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng vì rừng đã mang lại nguồn thu nhập ổn định hơn trước rồi”.
Thực tế thời gian qua ở Sơn La cho thấy, kinh phí chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng có vai trò quan trọng trong kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng tại các địa phương. Theo đó, việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã trực tiếp giúp nhiều địa phương có kinh phí để triển khai công tác bảo vệ rừng; các chủ rừng và các hộ nhận khoán rừng có thêm thu nhập cải thiện đời sống. Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền dịch vụ môi trường rừng chi trả. Việc thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng vì vậy về cơ bản đã có những tác động tích cực đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở các khu vực, địa phương có cung ứng dịch vụ môi trường rừng nói riêng.
Một điểm nổi bật góp phần khẳng định rõ hiệu quả chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đó là cấp uỷ, chính quyền các cấp đã thực hiện tốt việc tuyên truyền, vận động gom các chủ rừng có diện tích nhỏ lẻ thành quản lý theo cộng đồng. Tại những mô hình quản lý rừng theo cộng đồng, nguồn kinh phí thanh toán chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ được sử dụng để bảo đảm cho hoạt động của các tổ, đội quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời được sử dụng cho các nội dung hoạt động chung của cộng đồng dân cư.
Với cách làm này, những năm qua trên địa bàn tỉnh Sơn La đã có hàng nghìn công trình nông thôn như nhà văn hóa, vệ sinh môi trường nông thôn, đường giao thông, công trình nước sạch... được triển khai xây dựng mới hoặc tu sửa trên cơ sở kinh phí chi trả trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Các công trình này đã vừa đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày của nhân dân, vừa góp phần giúp các địa phương đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.
Đồng chí Nguyễn Thị Hoa - Phó Chủ tịch UBND huyện Mộc Châu (Sơn La) chia sẻ: “Thực hiện gom các chủ rừng có diện tích nhỏ lẻ thành quản lý theo cộng đồng đã góp phần tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng dân cư, vừa giúp bảo vệ rừng tốt hơn vừa có thêm nguồn lực để xây dựng, duy tu các công trình phúc lợi xã hội. Tại nhiều địa phương, một phần nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng phục vụ phát triển giao thông nông thôn đã giúp việc tiêu thụ nông sản của người dân dễ hơn, thu nhập cao hơn, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt”.
Tuy nhiên, việc thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La hiện nay cũng đang đứng trước một số vấn đề khó khăn. Theo thống kê, đến nay kinh phí bảo đảm trả tiền dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đang được duy trì trên cơ sở nguồn thu theo quy định từ các nhà máy thủy điện và nhà máy sản xuất nước sinh hoạt, với khoảng 100-120 tỷ đồng/năm. Trong khi toàn tỉnh đang có tới hơn 600 nghìn ha rừng nên thực tế đơn giá chi trả còn thấp, người dân tuy đã được hưởng lợi nhưng nguồn thu nhập từ rừng cũng chỉ giúp bảo đảm một phần cuộc sống. Cùng với đó, mức chi trả giữa các khu vực còn có sự chênh lệch khá lớn.
Cụ thể, trong khi mức chi trả cho các chủ rừng thuộc lưu vực sông Đà là 269.000 đồng/ha/năm thì lưu vực sông Mã chỉ được chi trả 38.800 đồng/ha/năm. Điều này ít nhiều đang gây tâm lý thắc mắc, so bì giữa các chủ rừng, các hộ nhận giao khoán rừng, nhất là tại những khu vực có đơn giá chi trả thấp.
Được biết hiện nay, để tạo thêm nguồn thu, tỉnh Sơn La đang triển khai thực hiện dự án nghiên cứu, đề xuất đối tượng phải chi trả, mức chi trả, phương thức chi trả. Theo đó, sẽ đề xuất bổ sung thêm vào danh sách chủ thể phải đóng góp phí dịch vụ môi trường rừng là những những đối tượng như: Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước; các cơ sở nuôi trồng thủy sản; các đối tượng kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng... Đây sẽ là điều kiện để Sơn La tăng cường thêm nguồn lực, góp phần tăng thu nhập cho các chủ rừng và các hộ nhận khoán rừng.
Có thể thấy, việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Sơn La đã và đang mang lại nhiều hiệu quả tích cực. Để tiếp tục phát huy hơn nữa những kết quả này, cùng với việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với những đối tượng có nghĩa vụ đóng phí dịch vụ môi trường rừng, các địa phương cần chú trọng đẩy mạnh việc tuyên truyền, vận động người dân trong tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng từ đó có điều kiện được hưởng lợi ngày càng nhiều từ rừng. Đây vừa là cơ sở để Sơn La tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng; vừa là điều kiện để phát huy vai trò của tích cực của người dân trong tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng theo hướng thiết thực, bền vững. (Đảng Cộng Sản VN 26/7) đầu trang(
UBND tỉnh Tây Ninh vừa ban hành kế hoạch xử lý các trường hợp trồng cây nông nghiệp sai quy định trên đất quy hoạch lâm nghiệp tại khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc và khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng.
Theo đó, tỉnh phấn đấu đến cuối năm 2018 sẽ giải quyết dứt điểm các trường hợp vi phạm, thu hồi và đưa toàn bộ 1.320,3 ha đất trồng cây nông nghiệp không đúng quy định tại 2 dự án rừng này để chuyển sang trồng rừng và khoanh nuôi, tái sinh lại cây rừng theo đúng quy định của pháp luật.
Để công việc xử lý các vi phạm đúng theo kế hoạch, đạt hiệu quả, tỉnh yêu cầu các đơn vị được giao nhiệm vụ xử lý các trường hợp vi phạm như Sở Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; UBND các huyện Tân Biên, Tân Châu phải kiên quyết xử lý các đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm công khai, minh bạch, đúng đối tượng, công bằng, nghiêm minh.
Đối tượng vi phạm là cán bộ, công chức, viên chức tỉnh, huyện, xã và viên chức, người lao động đang làm việc tại Ban quản lý các dự án rừng hoặc đã nghỉ hưu phải xử lý trước để làm gương; nếu không chấp hành sẽ thông báo cho đơn vị hoặc địa phương để kiểm điểm, xử lý.Theo kết quả rà soát diện tích đất trồng cây nông nghiệp trái quy định trên đất trồng cây lâm nghiệp tại 2 khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc và khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, tỉnh ghi nhận còn 1.320,3 ha của trên 800 đối tượng đang bao chiếm trồng các loại cây cao su, cây ăn quả, sắn, lúa... sai quy định. Trong đó, khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng có gần 1.230 ha và khu rừng văn hóa - lịch sử Chàng Riệc 90,8 ha.
Phương thức xử lý được tỉnh đưa ra là xác định đối tượng vi phạm, vận động người đang sử dụng thu hoạch ngay sản phẩm, thanh lý vườn cây để chuyển đất sang hợp đồng nhận khoán trồng rừng theo mô hình phù hợp. Nếu không chấp hành, củng cố hồ sơ, hoàn chỉnh thủ tục cưỡng chế, Ban quản lý rừng thu hồi lại đất, tổ chức giao khoán cho các hộ dân khác trồng rừng.Đối với diện tích đất thuộc vùng trảng, trũng ngập nước theo mùa đang trồng lúa, sau khi xử lý tạm thời cho người dân tiếp tục sử dụng để sản xuất, ổn định cuộc sống, người sử dụng phải cam kết (được UBND xã xác nhận) không được phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khi có mô hình trồng rừng phù hợp, phải chuyển sang trồng rừng theo quy định. (Tin Tức 25/7) đầu trang(
Sáng ngày 25.7, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đã có buổi làm việc với tỉnh Kon Tum về định hướng phát triển nông, lâm nghiệp trong việc tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững.
Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum cho biết, với lợi thế và tiếm năng của mình, tỉnh Kon Tum đã và đang tiếp tục chú trọng đầu tư phát triển một số sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su, rau hoa xứ lạnh, dược liệu và đại gia súc…; trong đó tập trung vào khâu tổ chức sản xuất theo chuỗi và liên kết với doanh nghiệp trong việc sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Hiện nay, tỉnh Kon Tum đã thu hút được nhiều dự án sản xuất các sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao với quy mô lớn; trong đó, dự án quản lý bảo vệ rừng, kinh doanh du lịch và nhân giống, phát triển cây dược liệu kết hợp chăn nuôi dê sữa với trên 3.000 con và 100ha trồng cỏ… đã bước đầu thành công và cho sản phẩm sữa cung cấp trên thị trường.
Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Y tế tỉnh Kon Tum, hiện trên địa bàn có 853 loại cây thuốc và nấm làm thuốc, 30/853 loaih cây thuốc có nhu cầu lớn cho thị trường và khoảng 25 loài cây thuốc được trồng, sử dụng nhiều, có giá trị chữa bệnh và kinh tế cao. Riêng đối với cây sâm ngọc linh, tỉnh Kon Tum đã trồng được trên 315 ha và một số dược liệu như hồng đăng sâm, đương quy… đang phát triển tốt. Tuy nhiên theo đánh giá, việc phát triển vùng trồng dược liệu ở đây còn nhỏ lẻ và các khâu như: nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất giống, chế biến sau thu hoạch … chưa được quan tâm đúng mức và chuẩn hóa. Bên cạnh đó, chưa có sự liên kết vùng trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ dược liệu...
“Lợi thế về phát triển dược liệu đã rõ và mong muốn của tỉnh là phát triển loại cây này gắn với chế biến với mục tiêu phấn đấu đưa tỉnh Kon Tum trở thành vùng dược liệu trọng điểm của quốc gia; nhưng với những khó khăn thực tại rất cần chủ trương, chính sách hỗ trợ từ Trung ương ” - ông Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum kiến nghị.
Đánh giá cao thành công và định hướng phát triển lĩnh vực nông, lâm nghiệp của tỉnh Kon Tum theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng, việc phát huy được tiềm năng các cây dược liệu quý là một hướng đi đúng và phù hợp với định hướng phát triển chung, không chỉ mang tính địa phương, vùng miền mà ở tầm quốc gia. Tỉnh Kon Tum dù sớm đã có những chính sách ưu đãi cho các tổ chức, cá nhân tham gia trồng và phát triển cây dược liệu; nhưng cũng rất cần sự hỗ trợ, đồng hành và hợp tác của các bộ, ngành để biến những lợi thế, tiềm năng này trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Kon Tum.
Tại buổi làm việc, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cũng ủng hộ và đánh giá cao định hướng phát triển của tỉnh Kon Tum về việc thành lập viện nghiên cứu giống cỏ và giống động vật quốc gia đặt tại Măng Đen; phương án quản lý rừng bền vững đã được cấp chứng chỉ của Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) và thành lập khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Kon Tum… Tuy nhiên, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng cần thực hiện một cách bài bản, khoa học, hiệu quả; nhất là sự cam kết trách nhiệm đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ quốc phòng, an ninh. (Dân Việt 25/7) đầu trang(
Với kim ngạch 3,6 tỷ USD trong sáu tháng đầu năm 2017, xuất khẩu (XK) gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam được đặt mục tiêu đạt 7,8 tỷ USD trong cả năm. XK gỗ được đánh giá có nhiều dư địa để phát triển, nhưng khi các FTA bắt đầu có hiệu lực, đòi hỏi các doanh nghiệp (DN ) Việt Nam cần có chiến lược tốt để cạnh tranh.
Số liệu thống kê mới nhất của Bộ NN&PTTN cho biết, 6 tháng đầu năm 2017, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ tiếp tục tăng trưởng tích cực, với kim ngạch ước đạt 3,6 tỷ USD, tăng hơn 13% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu lớn nhất trong nửa đầu năm 2017, chiếm 69,6% tổng giá trị XK.
Các thị trường lớn của XK gỗ Việt Nam cũng đều tăng mạnh về giá trị so với cùng kỳ năm 2016, điển hình như Trung Quốc tăng hơn 30%, Hoa Kỳ tăng 16,8%, Hàn Quốc tăng 11,5%, Đức tăng 10%…
Với đà tăng trưởng hiện tại, ngành lâm nghiệp và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES) dự báo, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ cả năm 2017 sẽ đạt mức 7,6 – 7,8 tỷ USD, tăng đáng kể so với con số 7,3 tỷ USD của năm 2016.
Ông Nguyễn Tôn Quyền – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VIFORES, nhận định: “Kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ nửa đầu năm nằm trong kế hoạch, không có nhiều đột biến. Những năm gần đây, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ vẫn có mức tăng trưởng trung bình khoảng 10 – 15%. Dự kiến, mức tăng trưởng này vẫn duy trì ổn định trong thời gian tới”.
Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTTN, giá trị XK đồ gỗ và lâm sản Việt Nam đã tăng hơn hai lần, từ 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006 – 2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn 2012 – 2015. Năm 2016, XK mặt hàng này đạt tới 7,3 tỷ USD, trong đó xuất siêu 5,4 tỷ USD.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết: “Gỗ và các sản phẩm từ gỗ đang là mặt hàng XK chủ lực của ngành nông nghiệp, với nhiều tiềm năng và dư địa để phát triển, tăng trưởng mạnh hơn. Mục tiêu tới năm 2020 là nâng cao năng suất rừng trồng lên 20m3/ha/năm, tăng giá trị XK đồ gỗ và lâm sản lên 8 – 8,5 tỷ USD”.
Để đạt mục tiêu này, theo ông Quyền: “Ngành gỗ Việt Nam cần hai giải pháp lớn. Thứ nhất, cần có chính sách ưu tiên phát triển mặt hàng ván nhân tạo vì đây là sản phẩm sử dụng gỗ rừng trồng trong nước và nhiều DN nội có đủ điều kiện, công nghệ để sản xuất. Thứ hai, cần phát huy tối đa tiềm năng từ các thị trường truyền thống như châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc. Đồng thời đa dạng hóa thị trường XK, hướng tới các thị trường mới tiềm năng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Đông…”.
XK gỗ và các sản phẩm đồ gỗ đang có tiềm năng và dư địa phát triển lớn, nhưng khi các FTA được thông qua, các hàng rào kỹ thuật về chất lượng, nguồn gốc sản phẩm sẽ trở nên khắt khe và khó khăn hơn, đòi hỏi các DN XK cần có đối sách phù hợp. Đơn cử, tại thị trường EU (thị trường lớn thứ tư của đồ gỗ Việt Nam), khi Hiệp định VPA/FLEGT được thông qua, Việt Nam sẽ phải phân loại DN thành hai nhóm là tuân thủ và không tuân thủ, với các quy định nghiêm ngặt về tính hợp pháp của nguyên liệu, các tiêu chuẩn về lao động, môi trường…
Ông Nguyễn Văn Hà – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, cho biết: “Việc phân loại DN sẽ dựa trên ba nhóm tiêu chí chính. Thứ nhất là các quy định về đăng ký đầu tư, đăng ký DN, nghĩa vụ thuế, lao động, BHXH, bảo vệ môi trường. Thứ hai là về tuân thủ hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ; tuân thủ quy định về quyền sở hữu rừng và quyền sử dụng đất; tuân thủ quy định về hồ sơ nguồn gốc lâm sản và hồ sơ lâm sản trong lưu thông. Thứ ba là các DN sẽ được đánh giá liệu có vi phạm pháp luật và bị xử phạt trong kỳ đánh giá hay không”.
Bà Miriam Garcia Ferrer – Tham tán thứ nhất, Phó trưởng Ban Kinh tế thương mại, đại diện Phái đoàn EU tại Việt Nam, cho rằng: “EVFTA và VPA/FLEGT sẽ là cú hích cho đồ gỗ Việt Nam vào thị trường EU. Theo lộ trình, các dòng thuế với sản phẩm đồ gỗ giảm từ 0 – 10%, sản phẩm nội thất giảm từ 2,7 – 5,7% khi EVFTA có hiệu lực”.
Tuy nhiên, theo Tổng cục Lâm nghiệp, để cấp giấy phép FLEGT cho lô hàng gỗ và sản phẩm gỗ đầu tiên sang EU, Việt Nam cần mất 3 – 4 năm nữa nếu có quyết tâm cao và nguồn lực đủ mạnh. Lý do là, để cấp giấy phép FLEGT, Việt Nam phải xây dựng hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp (VNTLAS), tức là tất cả đều phải có nguồn gốc hợp pháp, kể cả gỗ nhập khẩu.
Cơ hội đang rộng mở nhưng để hiện thực hóa cơ hội lại là “bài toán” không hề dễ dàng. Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, Bộ NN&PTNT đang tích cực trong khâu tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi, liên kết các DN. Bộ NN&PTNT cũng chủ động hội nhập, thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế, có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa hợp lý.
“Để phát triển bền vững, Bộ NN&PTTN đề nghị Chính phủ ưu tiên, bố trí các dự án ODA cho lâm nghiệp, nhất là với khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, khu vực ven biển, đồng thời sớm xem xét phê duyệt Đề án khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016 – 2025”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh. (Thời Báo Kinh Doanh 25/7) đầu trang(
Đến hết tháng 6-2017, huyện Như Xuân đã trồng mới hơn 1.393 ha rừng sản xuất, đạt 139,4% kế hoạch; nâng tổng diện tích rừng trồng toàn huyện lên 8.610,5 ha.
Công tác khoanh nuôi bảo vệ và chăm sóc rừng trồng được thực hiện có hiệu quả. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 257 tỷ đồng, bằng 56% kế hoạch, tăng 16,6% so với cùng kỳ.
Cùng với đó, huyện cũng làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng, nâng độ che phủ rừng đạt 68,5%, vượt kế hoạch đề ra. Công tác phòng chống cháy rừng, bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn huyện được tăng cường, thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo cấp cháy rừng; chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, phương tiện, lực lượng sẵn sàng xử lý tình huống. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện không xảy ra cháy rừng.
6 tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, lập hồ sơ xử lý 11 vụ vi phạm lâm luật, giảm 11 vụ so với cùng kỳ, tịch thu 18,2m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước 145,22 triệu đồng. (Báo Thanh Hóa 24/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Năm 2017 được ghi nhận là năm cháy rừng nghiêm trọng thứ 3 trong thập kỷ qua tại Mỹ. Tính đến thời điểm này trong năm, nước Mỹ phải hứng chịu tổng cộng hơn 35.000 vụ cháy rừng với các quy mô khác nhau.
Theo số liệu mới cập nhật từ Trung tâm Phòng cháy liên cơ quan quốc gia Mỹ (NIFC), đến ngày 24/7, chính quyền các địa phương tại Mỹ đã ghi nhận tổng cộng khoảng 38 vụ cháy rừng quy mô lớn xảy ra trên khắp nước Mỹ, trong đó 7 vụ tại bang California, 4 vụ tại các bang Idaho, Neveda, Utah và Washington, và 18 vụ tại Montana.
Chỉ riêng trong ngày 24/7 đã xảy ra 10 vụ cháy lớn.
Tổng diện tích rừng bị cháy tại Mỹ từ đầu năm tới nay đã lên tới con số 2,02 triệu km2, trong đó vụ cháy “Lodgepole Complex Fire” tại miền Trung Montana có thể được coi là nghiêm trọng nhất khi ngọn lửa lan rộng ra toàn bộ khu vực khoảng 914,6km2.
Trong khi đó, tại California, các vụ cháy rừng cũng bao phủ tổng diện tích khoảng trên 878,2 km2 – lớn hơn cả thành phố New York.
Vụ cháy rừng mới đây có tên “Detwiler Fire” là vụ tồi tệ nhất trong 7 vụ cháy lớn tại bang này, buộc hơn 4.000 cư dân địa phương phải đi sơ tán và đang đe dọa thị trấn cổ Mariposa bên ngoài khu vực Công viên Quốc gia Yosemits.
Cơ quan Lâm nghiệp và phòng chống cháy rừng California cho biết trong suốt một tuần qua, hơn 3.000 lính cứu hỏa đã được huy động để đối phó với đám cháy lan rộng trên diện tích 194km2 và dự kiến cần phải 2 tuần nữa mới có thể kiểm soát được hoàn toàn tình hình.
Giới chức bang quan ngại rằng cỏ dễ cháy và địa hình dốc sẽ gây khó khăn cho công tác dập lửa. (Vietnam+ 25/7) đầu trang(
24/7, đám cháy rừng rộng tới 900ha đã bùng phát trên đảo Corse, miền nam Pháp, đe dọa nhiều ngôi nhà, khiến người dân ở thị trấn Biguglia, bờ tây nam hòn đảo, phải sơ tán khẩn cấp. (An Ninh Thủ Đô 25/7) đầu trang(
Khoảng 1.500 lính cứu hỏa đã được triển khai để đối phó với 2 đám cháy rừng dữ dội tại các tỉnh Castelo Branco và Santarém của Bồ Đào Nha.
Các phương tiện truyền thông Bồ Đào Nha hôm qua (25/7) đưa tin, do ảnh hưởng của cháy rừng, nhà chức trách nước này đã buộc phải sơ tán 10 ngôi làng tại 2 tỉnh trên. Thị trưởng thành phố Mação thuộc tỉnh Santarém cho biết đám cháy rừng đang bùng phát “rất nghiêm trọng”.
Cơ quan Bảo vệ dân sự quốc gia Bồ Đào Nha hôm qua cho biết hơn 75.000 ha rừng tại nước này đã bị thiêu rụi từ đầu năm đến nay. Nhà chức trách Bồ Đào Nha trong năm nay cũng bắt giữ 64 người đã gây ra các đám cháy rừng.
Tại Pháp, cùng ngày hôm qua, hàng nghìn lính cứu hỏa cũng phải vật lộn với những đám cháy rừng đang hoành hành tại nhiều khu vực rộng lớn ở Đông Nam nước này.
Theo Bộ Tình trạng khẩn cấp Pháp, những đám cháy đã thiêu rụi 3.000 ha rừng chạy dọc theo bờ biển Địa Trung Hải và những khu vực nằm sâu trong núi. Gió mạnh và điều kiện thời tiết khô nóng đang khiến nỗ lực kiểm soát những đám cháy trở nên khó khăn. Chính phủ Pháp đã phải đề nghị sự trợ giúp của các đối tác trong Liên minh châu Âu (EU). (VOV 26/7) đầu trang(
Trước thực tế số thiên nga ngày càng giảm, chính phủ Anh cũng không ngừng đưa ra những chương trình hành động nhằm bảo vệ thiên nga trước cơ bị tuyệt chủng.
Nghi lễ đếm thiên nga tháng 7 không chỉ thu hút sự chú ý của dư luận như một hoạt động truyền thống mà còn là cảnh báo đầu tiên của mỗi năm về tình trạng loài chim quý cần được bảo vệ đặc biệt. Bên cạnh đó là hệ thống luật pháp được thắt chặt, trao cho thiên nga tư cách về pháp lý không kém gì con người.
Thiên nga trắng có lẽ là loài động vật có nhiều đặc quyền nhất ở Anh - mọi hành động liên quan đến chúng đều cần đến sự cho phép của Hoàng gia. Thậm chí, nước Anh có cả luật riêng cho thiên nga áp dụng từ thế kỷ XV. Theo đó, nếu sát hại một chú thiên nga cũng sẽ dẫn đến các hậu quả trầm trọng như sát hại một người và mọi hành vi phá hoại trứng hoặc tổ thiên nga cũng đều là phạm pháp.
Mỗi năm, Văn phòng đánh dấu thiên nga đều tổ chức các buổi dã ngoại miễn phí dành cho học sinh nhằm nâng cao nhận thực của các em về thực trạng thiên nga ngày càng khan hiếm. Chính phủ Anh coi giáo dục là giải pháp bền vững nhất trong công tác bảo tồn động vật. Đặc biệt, học sinh, sinh viên cũng được chào đón khi tham gia vào nghi lễ đếm thiên nga, tìm hiểu về sông Thames và các tập quán đặc biệt của loài chim này.
Thời Trung cổ, thiên nga được coi như một món quà cực kỳ giá trị và thường xuyên được trao đổi giữa những người có địa vị tại Anh. Ngày nay, người giữ thiên nga cũng có nhiệm vụ gửi thiên nga tới giới quý tộc khắp nơi trên thế giới nhân danh nữ hoàng, với hi vọng số lượng và giống loài thiên nga của Anh sẽ ngày càng được nhân rộng. (VTV 25/7)đầu trang(./.
|
|||