|
Ngày 27 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 25-7, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh đã tổ chức lễ gắn biển "Bảo tồn cây cổ thụ" ở buôn Mliêng, xã Đắk Liêng (huyện Lắk).
Tại buổi lễ, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh đã công bố Quyết định và gắn biển “Bảo tồn cây cổ thụ” cho cây đa trên 200 tuổi trong khuôn viên Nhà Văn hóa cộng đồng buôn.
Theo lời kể của các cụ cao niên trong buôn, từ khi các cụ còn nhỏ thì cây đã to như bây giờ. Như vậy, tính ra, cây đa này có tuổi đời hơn 2 thế kỷ.
Việc gắn biển bảo tồn cây cổ thụ lâu năm nhằm nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ cây và chăm sóc cây cổ thụ ngày càng tốt tươi, phát triển...
Cùng ngày, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh đã phối hợp với UBND xã Đắk Liêng tổ chức lớp tập huấn bảo vệ môi trường cho gần 50 người dân trong buôn Mliêng. Theo đó, học viên được cung cấp một số kiến thức cơ bản về Luật Bảo vệ môi trường như: bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh; quy trình quản lý và xử lý chất thải; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức thành viên về bảo vệ môi trường… (Báo Đắk Lắk 25/7) đầu trang(
Sau loạt bài phản ánh của Pháp luật Việt Nam về nạn “lâm tặc” hoành hành ở vùng rừng Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, lực lượng chức năng đã cùng bắt tay vào cuộc và ngăn chặn được nạn khai thác, vận chuyển gỗ lậu trái phép tại đây.
Trước đó, Báo Pháp luật Việt Nam đã có loạt bài viết thông tin về tình trạng gỗ lớn trong vùng rừng tự nhiên rộng hàng trăm hecta ở Hóa Sơn – khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng bị lâm tặc khai thác. Loạt bài viết đã nhận được sự quan tâm của bạn đọc và dư luận đã đặt ra câu hỏi lớn về trách nhiệm của chủ rừng, kiểm lâm, biên phòng cũng như chính quyền địa phương.
Ngay sau đó, Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc kiểm điểm, kỷ luật các tập thể, cá nhân liên quan và tăng cường công tác bảo vệ nghiêm ngặt khu vực rừng này.
Thực hiện chỉ đạo, Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình đã tiến hành kiểm điểm, kỷ luật đối với các cá nhân, đơn vị liên quan. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình và Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng (đơn vị thuộc Ban quản lý VQG này) cũng tiến hành họp kiểm điểm, rút kinh nghiệm, kiểm điểm trách nhiệm các đơn vị, cá nhân không làm tốt nhiệm vụ, để xảy ra nạn lâm tặc phá rừng.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh Quảng Bình cũng có văn bản đồng ý việc lập chốt liên ngành đặt trên con đường độc đạo nối từ xã Hóa Sơn ra đường Hồ Chí Minh để thuận lợi cho việc kiểm soát, kiểm tra lâm sản. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã ban hành ngay quyết định về việc thành lập tổ công tác thực hiện nhiệm vụ chốt chặn, truy quét lâm tặc, kiểm tra kiểm soát lâm sản tại địa bàn xã Hóa Sơn. Quyết định cũng đề xuất lực lượng Chi nhánh Lâm trường Minh Hóa (đơn vị thuộc Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình), Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Đồn Biên phòng Cà Xèng, Công an huyện Minh Hóa sự tham gia thực hiện nhiệm vụ tại chốt kiểm tra liên ngành này.
Chốt kiểm tra liên ngành có gác chắn barie được đặt tại bản Lương Năng, xã Hóa Sơn và có quy chế hoạt động rõ ràng giữa các lực lượng. Theo ghi nhận của Pháp luật Việt Nam, sau khi chốt kiểm soát đi vào hoạt động, các hành vi vi phạm lâm luật, khai thác, vận chuyển lâm sản đã giảm đi rõ rệt. Trước đây, khi tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản diễn ra phức tạp ở Hóa Sơn, nhiều người dân địa phương đã bỏ hoang đất sản xuất để vào rừng khai thác lâm sản. Nhưng đến nay, ý thức người dân đã thay đổi, họ đã trở lại với những mảnh đất mà trước đó họ đã bỏ hoang để trồng trọt.
Cụ thể, từ đầu năm đến nay, chốt kiểm soát liên ngành đã cùng phối hợp xử lý 9 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó, có 5 vụ vi phạm hành chính, tạm giữ 1 xe ô tô, 4 chiếc xe máy, 1,6 m3 gỗ lậu các loại từ nhóm II đến nhóm VI. Tình trạng chống đối, hành hung người thi hành lâm luật ở Hóa Sơn trước đây đã không còn tái diễn.
Riêng lực lượng Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn – Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã chủ động phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động người dân giao nộp được 26 khẩu súng tự chế; vận động gia đình ông Đinh Ngọc Toàn (ở thôn Thuận Hóa) tự nguyện giao nộp 1 cá thể khỉ vàng cho Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật thuộc Ban quản lý VQG này cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên.
Ông Trần Mạnh Luật - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Minh Hóa cho biết: “Từ đầu năm đến nay, công tác quản lý bảo vệ rừng ở Hóa Sơn đã được triển khai thường xuyên, kịp thời và hiệu quả. Chốt kiểm soát liên ngành đi vào hoạt động đã cắt đứt được đường dây khai thác, mua bán và vận chuyển gỗ lậu của các đối tượng lâm tặc. Ngoài ra, chúng tôi còn phối hợp với chính quyền địa phương và các lực lượng khác thường xuyên thực hiện kiểm tra, kiểm soát không chỉ ở Hóa Sơn mà còn mở rộng ra các địa bàn giáp ranh như: Trung Hóa, Thượng Hóa, Trọng Hóa, Hóa Tiến… để tạo ra được một vành đai bảo vệ rừng ổn định cho cả khu vực rừng này”.
“Rừng Hóa Sơn là một trong những vùng đệm quan trọng của vùng lõi VQG Phong Nha – Kẻ Bàng. Nỗ lực của các lực lượng liên ngành đã “xóa sổ” được điểm nóng gỗ lậu này và tránh được nguy cơ “lâm tặc” sẽ tràn vào vùng lõi VQG – nơi có diện tích rừng nguyên sinh rất rộng lớn nhưng lực lượng lại mỏng và đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác bảo vệ” - ông Lê Thanh Tịnh - Giám đốc Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phấn khởi cho biết. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Hơn bảy tiếng nước biển dâng kèm theo sóng lớn đã cuốn trôi nhiều diện tích rừng đặc dụng ở bãi biển cồn Vành, xã Nam Phú (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình) vào chiều tối qua. Đây là đợt biển xâm thực nghiêm trọng nhất trong nhiều năm qua tại địa bàn khiến người dân lo lắng.
Cả ngày nay, phóng viên Nhân Dân điện tử có mặt tại địa bàn cùng với cán bộ kiểm lâm tỉnh Thái Bình ghi nhận lại sự việc. Cả dải bờ biển với chiều dài khoảng một cây số bị sạt lở nghiêm trọng. Sóng cùng triều cường dâng cao đã phá hỏng toàn bộ bờ kè do người dân tự xây để giữ đất, bảo vệ rừng đặc dụng cồn Vành.
Theo ghi nhận của nhân dân địa phương, bắt đầu từ 16 giờ chiều qua nước dâng bất thường tràn qua mặt cồn Vành (chủ yếu là cồn đất), sóng to đánh ngang những thân cây phi lao có chiều cao từ 8-10m. Triều cường kéo dài đến hơn 22 giờ đêm mới kết thúc. Lực lượng bộ đội biên phòng cửa Ba Lạt đã ra thông báo cấm người dân và phương tiện ra biển trong thời gian này.
Ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tiền Hải (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Bình) thông tin nhanh với phóng viên: Theo thống kê sơ bộ, có hơn 1.000m chiều dài bờ biển cồn Vành, thuộc khu vực xã Nam Phú bị sạt lở nghiêm trọng, trong đó có khoảng 300m có rừng đặc dụng (cây phi lao) và sóng đã ngoạm sâu vào bờ khoảng ba mét, cuốn đi toàn bộ đất và cây rừng.
Theo số liệu kiểm kê năm 2015 của Hạt kiểm lâm huyện Tiền Hải, tại xã Nam Phú có 302,35 ha rừng đặc dụng, trong đó diện tích rừng phi lao là 76,2 ha. Năm 2014, UBND tỉnh Thái Bình công nhận đây là rừng đặc dụng, tuy nhiên trước đó UBND xã Nam Phú ký đã ký hợp đồng với hộ dân trong thời hạn 25 năm để trồng cây, gây rừng. Đến nay, thời gian hợp đồng vẫn còn nguyên giá trị gây nhiều khó khăn cho lực lượng kiểm lâm trong quản lý, bảo vệ nguyên vẹn rừng đặc dụng theo qui định hiện hành. (Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Sau hơn 1 năm Thủ tướng Chính phủ ban hành lệnh đóng cửa rừng, nhiều tỉnh thành tại miền Trung vẫn tái diễn tình trạng phá rừng, trong đó có TP. Đà Nẵng.
Những ngày cuối tháng 5, đầu tháng 6 vừa qua, người dân xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng) phát hiện một nhóm công nhân mang máy móc, thiết bị vào khu vực Khe Đương để tàn sát rừng đầu nguồn. Sau khi nhận được phản ánh, chúng tôi cùng lực lượng Kiểm lâm Hoà Vang đã trực tiếp lên hiện trường và phát hiện hàng chục m3 gỗ được “lâm tặc” vùi lấp dưới lớp lá cây rừng để ngụy trang sau khi bị phát hiện và bỏ trốn ra khỏi rừng.
Hầu hết các cây gỗ bị “lâm tặc” chặt hạ có đường kính từ 20 - 50 cm. Con đường mòn dẫn vào hiện trường rừng bị chặt hạ chỉ rộng gần 1 m, dài 1 km. Đây cũng chính là con đường độc đạo dẫn vào rừng đầu nguồn Khe Đương. Ông Lê Đình Thám, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang cho biết, nhiều vụ phá rừng xảy ra tại xã Hòa Bắc do được người dân địa phương nhanh chóng phát hiện và báo cho lực lượng chức năng nên vụ việc sau đó được phát hiện và ngăn chặm sớm, tránh tình trạng rừng đầu nguồn bị “chảy máu”.
Trước tình trạng tàn sát rừng đầu nguồn Khe Đương, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang đã tăng cường tuân tra, ngăn chặt phá rừng như vừa qua. Về việc có hay không tình trạng lực lượng kiểm lâm địa phương buông lỏng quản lý rừng, ông Trần Viết Phương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, kiêm Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN) TP. Đà Nẵng, cho rằng do lực lượng kiểm lâm còn mỏng và phần lớn đều ở độ tuổi ngoài 50 nên quá trình công tác, tuần tra và bảo vệ rừng còn hạn chế.
“Trước tình hình trên, Chi cục Kiểm lâm TP đã xây dựng và củng cố được 11 trạm kiểm lâm cửa rừng, nhất là tại khu vực rừng đầu nguồn Bà Nà – Núi Chúa. Do nhiều khu vực có diện tích rừng đặc dụng lớn lại nằm giáp ranh với các tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Nam đã khiến công tác tuần tra, bảo vệ rừng của đội ngũ kiểm lân gặp khó khăn. Việc để xảy ra tình trạng phá rừng, trách nhiệm trước tiên phải thuộc về chính quyền và cơ quan quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương” - ông Phương khẳng định.
Theo ông Trần Viết Phương, TP đã có quyết định đóng cửa rừng từ năm 2004. Theo số liệu mới nhất của Chi cục Kiểm lâm TP, Đà Nẵng hiện có tới gần 32.000 ngàn ha rừng đặc dụng có độ bao phủ rất rộng và phần lớn phân bố ở khu vực Bà Nà – Núi Chúa, thuộc huyện Hòa Vang, với diện tích gần 27.000 ha. Các diện tích rừng đặc dụng còn lại phân bố đều tại khu vực núi Sơn Trà (2.500 ha), tại khu vực rừng Nam Hải Vân (2.200 ha) và phân bố tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang khoảng gần 1000 ha. Toàn bộ diện tích rừng đặc dụng trên thuộc sự quản lý của TP. Riêng đối với diện tích rừng sản xuất và rừng trồng trên đất khác, chính quyền địa phương được phép quản lý theo quy định.
Trước đây, sau khi để xảy ra vụ phá rừng quy mô lớn tại khu vực rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa, gần trạm bảo vệ rừng Cà Nhông, Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa đã được TP quyết định chuyển về và giao cho Chi cục Kiểm lâm TP trực tiếp quản lý để sắp xếp, tổ chức và điều hành cho thông suốt bộ máy, tránh tình trạng cán bộ kiểm lâm cấu kết với lâm tặc để phá rừng, gây hậu quả nghiêm trọng.
Vào tháng 3/2016, UBND TP đã có quyết định giao hơn 445 ha rừng nghèo tại khu vực đèo Mũi Trâu, xã Hòa Bắc cho hơn 100 dân thuộc 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí, xã Hòa Bắc để phát thực bì lấy đất, ổn định cuộc sống. Trong quá trình lấy đất, người dân phát dọn rừng một cách ào ạt, nhiều cây gỗ lớn bị người dân chặt hạ và tận thu gỗ để bán. Hiện Sở NN&PTNN TP đã yêu cầu người dân tạm dừng việc dọn rừng nghèo đã được giao để lấy đất nhằm kiểm soát, kiểm tra và hướng dẫn người dân cách xử lý dọn rừng đúng quy định trong thời gian tới.
Ông Trần Viết Phương cho rằng rất khó khăn để biết và ngăn chặn tình trạng phá rừng trên toàn địa bàn do gỗ rừng có giá trị rất cao, đặc biệt Đà Nẵng hiện có tới 18.000 ha là rừng giàu. Ngoài ra, việc người dân định cư gần rừng cũng khiến nhiều diện tích rừng bị phá để lấy đất rừng canh tác.
“Để giải quyết thực trạng trên, TP đã thực hiện xã hội hóa về chi trả dịch vụ bảo vệ rừng. Cụ thể, người dân địa phương được nhận vào các nhóm hộ bảo vệ rừng và được nhận tiền hỗ trợ theo Nghị định 99 của Chính phủ. Qua đó, người dân thấy được lợi ích của việc vừa bảo vệ rừng vừa có thu nhập để cải thiện cuộc sống” - ông Phương, cho biết. (Tài Nguyên & Môi Trường 26/7) đầu trang(
Nhiều cánh rừng bị chặt hạ và dư luận mới biết khi báo chí vào cuộc. UBND tỉnh Gia Lai chỉ đạo thành lập đoàn kiểm tra thì phát hiện rừng bị phá công khai nhưng chưa ai bị xử lý trách nhiệm...
Đây không phải lần đầu tiên rừng ở Gia Lai bị chặt phá mà những năm qua vẫn âm ỉ từng ngày. Mới đây, tại khu vực tiểu khu 527, lâm phần của Ban Quản lý dự án KFW10 quản lý (Mang Yang, Gia Lai) hàng chục cây gỗ bị “xẻ thịt” không thương tiếc.
Theo Chi cục Kiểm lâm Gia Lai kiểm tra báo cáo lại thì có 16 gốc cây gỗ bị chặt hạ, thiệt hại gần 20m3 gỗ từ nhóm 2-6. Tại hiện trường thể hiện quy mô khai thác gỗ được hình thành từ các lán trại, vết kéo xe trâu, vết gỗ trượt in trên cánh rừng...
Theo Chi cục Kiểm lâm Gia Lai báo cáo tổng khối lượng gỗ thiệt hại ở các tiểu khu xác định ban đầu trên 21,4m3 (gỗ nhóm 2-6); chỉ còn lại ở hiện trường khoảng 10m3...
Một vụ phá rừng khác thuộc làng Knol, xã Kon Gang (Đăk Đoa, Gia Lai) cũng hết sức phức tạp. Hàng loạt cây sao xanh có đường kính 40-60 cm bị chặt sát đến tận gốc, dấu cưa vẫn còn ứa nhựa. Đi sâu vào cánh rừng già ở đây còn có những cây Bằng Lăng có đường kính 60-80cm bị triệt hạ không thương tiếc. Ngọn núi làng Konl đang là tâm điểm phá rừng.
Lãnh đạo UBND xã Kon Gang cho biết, địa bàn có hơn 500ha rừng tự nhiên, trong đó có khoảng 141ha đất rừng cần phải phủ xanh đồi trọc, UBND xã Kon Gang đã giao cho 63 hộ tham gia đăng ký trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, người dân đã lên khu vực đỉnh núi làng Konl để dọn thực bì nhằm phòng tránh cháy rừng, nên có khả năng các đối tượng xấu cũng lợi dụng để khai thác trái phép lâm sản trên rừng. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Từ đầu năm 2017 tới nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La luôn được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, số vụ vi phạm phá rừng làm nương có chiều hướng gia tăng, công tác bảo vệ rừng vẫn có những diễn biến phức tạp ở một số địa bàn như huyện Mộc Châu, Mường La.
Theo số liệu kiểm kê rừng giai đoạn 2013-2015, diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La giảm từ 633.714 ha xuống còn 599.463,3 ha, tương ứng tỷ lệ che phủ giảm từ 44,6,% xuống 42,3%.
Trong năm 2017, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ, phát triển rừng cho người dân, Chi cục Kiểm lâm Sơn La đã phối hợp các cấp chính quyền, tổ chức, đoàn thể tại địa phương có rừng tổ chức tuyên truyền Luật Bảo vệ, phát triển rừng cho người dân sống gần rừng; hướng dẫn xây dựng nội quy, quy ước bảo vệ rừng theo đúng mốc giới quy định, thực hiện tốt các biện pháp PCCCR trong mùa khô hanh, hạn chế tới mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.
6 tháng đầu năm, toàn lực lượng đã phối kết hợp chính quyền các cơ sở mở 416 hội nghị cấp xã, bản có nội dung tuyên truyền công tác bảo vệ rừng và PCCCR trong mùa khô với 20.770 lượt người nghe; làm mới 234 biển cấm, biển báo; cấp phát 17.280 tờ rơi; sửa chữa pa-nô tuyên truyền lớn về công tác bảo vệ rừng, PCCCR.
Phối hợp các huyện, thành phố kiện toàn lại Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng, 204 Ban chỉ đạo cấp xã, phường, thị trấn. Bố trí 260 kiểm lâm địa bàn luôn có mặt tại cơ sở hướng dẫn phối hợp chính quyền địa phương về bảo vệ rừng, PCCCR; thường trực công tác bảo vệ rừng, PCCCR và thực hiện phương châm 4 tại chỗ.
Tăng cường các biện pháp, phối hợp các ngành chức năng tổ chức tuần tra, kiểm soát, truy quét các cá nhân, tổ chức, đối tượng phá rừng, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Nguyễn Huy Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La cho biết: Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2017, số vụ vi phạm phá rừng làm nương có chiều hướng gia tăng; công tác bảo vệ rừng vẫn có những diễn biến phức tạp, ở một số địa bàn như huyện Mộc Châu, Mường La. Cụ thể, trong 6 tháng, toàn lực lượng đã kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ 344 vụ vi phạm, tăng 38 vụ so với cùng kỳ.
Trong đó, có 128 vụ vi phạm phá rừng làm nương rẫy trái phép, thiệt hại 20,13 ha rừng. Khai thác lâm sản trái phép 15 vụ, tịch thu 25,7 m3 gỗ các loại. Buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép 136 vụ, tịch thu 49,5 m3 gỗ các loại. Cất giữ lâm sản 51 vụ, tịch thu 69,0 m3 gỗ các loại. Cháy rừng 04 vụ, thiệt hại 5,1 rừng phòng hộ, trạng thái IIa. Hiện đã xử lý 329 vụ, thu nộp ngân sách hơn 2 tỷ đồng.
Từ nay tới cuối năm 2017, nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng, PCCCR, lực lượng kiểm lâm Sơn La sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với các địa phương tập trung làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng tận gốc, không để hình thành các “điểm nóng” về bảo vệ rừng. Tổ chức khoanh vùng xác định các “điểm, khu vực” có nguy cơ cháy cao kịp thời tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện có hiệu quả công tác PCCCR.
Bên cạnh đó, sửa chữa, củng cố, làm mới các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng như chòi quan sát phát hiện cháy rừng, hệ thống biểm cấm, biển báo, biển chỉ dẫn về PCCCR, hệ thống theo dõi, thông tin liên lạc... Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vụ vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 26/7) đầu trang(Đắk Nông: Vụ án hành hung cán bộ kiểm lâm có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm?!
Bị hành hung trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng với mức giám định thương tật 15% và biết rõ đối tượng hành hung cùng nhiều nhân chứng, vật chứng quan trọng. Song, theo người bị hại, cơ quan điều tra huyện Krông Nô (Đắk Nông) lại “ngâm tôm”, thậm chí “bỏ sót” chứng cứ khiến vụ án có nguy cơ bỏ lọt tội phạm (?!).
Đó là nội dung đơn thư của anh Phạm Xuân Ngọc, ở thôn 10, xã Nâm Nung, huyện Krông Nô phản ánh đến báo Kinh tế nông thôn.
áo Kinh tế nông thôn đã có loạt bài phản ánh về việc anh Ngọc bị hành hung trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng.
Cụ thể, khoảng 17 giờ ngày 23/3/2016, trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng, anh Phạm Xuân Ngọc và anh Phạm Văn Hưng, cán bộ của Công ty TNHH MTV Nam Nung (Công ty Nam Nung), phát hiện 02 xe càng (máy cày lắp thùng kéo) chở gỗ (một xe chở gỗ trên thùng sau có hai đối tượng trên xe; một xe đang dùng cáp kéo gỗ cũng có hai đối tượng trên xe) từ dưới khe suối thuộc vùng giáp ranh giữa xã Đắk Moi và xã Nam Nung lên đường mòn thuộc tiểu khu 1294, xã Nam Nung.
Sau khi phát hiện, anh Ngọc gọi điện về cho anh Lê Đình Tùng (cán bộ Công ty Nam Nung) đến hỗ trợ để chặn kiểm tra 02 xe chở gỗ.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh Lê Đình Tùng đến hiện trường để cùng tham gia chốt chặn, kiểm tra 02 xe gỗ. Lúc này, có hai thanh niên không rõ lai lịch, mỗi người vác 01 cưa xăng từ dưới khe suối, nơi có hai xe càng chở gỗ, đi lên. Anh Ngọc, anh Tùng, anh Hưng đã kiểm tra và tạm giữ hai cưa xăng của hai đối tượng trên, sau đó tiếp tục chốt chặn đợi kiểm tra hai xe gỗ.
Lúc này, hai đối tượng trên gọi điện cho ông Nguyễn Đăng Đoàn và ông Đoàn yêu cầu đưa máy cho anh Ngọc nghe điện thoại, nhưng anh Ngọc không nghe và đề nghị các đối tượng sáng mai đến công ty làm việc.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Đăng Đoàn cùng Hoàng Văn Định (em rể của Đoàn) chạy xe máy đến hiện trường. Đối tượng Đoàn đã dùng tay, chân đánh anh Ngọc gây thương tích ở ngực, hàm trên, dưới và gãy răng. Còn đối tượng Hoàng Văn Định dùng cây gậy cao su (của tổ bảo vệ rừng) đánh gây thương tích vùng trán của anh Ngọc. Sau đó, anh Ngọc bỏ chạy khỏi hiện trường vào nhà dân nhờ sơ cứu và được chuyển đi cấp cứu tại bệnh viện.
Ngay sau đó, anh Ngọc đã thông báo lên các cơ quan chức năng. Đến nay đã hơn 1 năm, anh Ngọc cho biết, cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô vẫn “ngâm tôm” vụ việc. Thậm chí, theo anh Ngọc, cơ quan này còn “bỏ sót” chứng cứ dẫn đến có nguy cơ bỏ lọt tội phạm (?!) và phiên tòa sơ thẩm phải hoãn xử?
Ông Vũ Y Định, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng (Công ty Nam Nung), cho biết: Sau khi sự việc diễn ra, cơ quan có gửi văn bản báo cáo công an và các cơ quan liên quan trên địa bàn đề nghị làm rõ vụ cán bộ bảo vệ rừng bị đánh. Thấy vụ việc lâu chưa được xử lý, mang lại công bằng, gần đây, chúng tôi tiếp tục gửi văn bản lên các cơ quan chức năng, nhưng vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Trước “sức ép” của dư luận, ngày 8/8/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Krông Nô thông báo đến người bị hại rằng: Sau quá trình tiến hành điều tra, xác minh, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Krông Nô đã có đủ cơ sở xác minh sự việc anh Phạm Xuân Ngọc bị đối tượng Nguyễn Đăng Đoàn đánh gây thương tích vào tối 23/03/2016 đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.
Trên cơ sở đó, ngày 8/8/2016, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Krông Nô ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 40/QĐKTVA đối với vụ án “cố ý gây thương tích” để tiến hành điều tra.
Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô cũng có văn bản trả lời các nội dung đơn thư ông Ngọc ngày 13/3/2017 do Phó viện trưởng Đỗ Văn Huyến ký nêu rõ: “1- Yêu cầu xem xét khởi tố đối tượng Hoàng Văn Định về tội “cố ý gây thương tích” theo khoản 2, Điều 104 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không đủ căn cứ chứng minh được đối tượng Hoàng Văn Định, về tội “cố ý gây thương tích.
2- Về xác minh nguồn gốc 02 xe càng chở gỗ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh vào ngày 23/3/2016 tại thời điểm tiểu khu 1295, xã Nâm Nung, huyện Krông Nô không có vụ chặt phá rừng nào. Mặt khác, việc xác định 02 chiếc xe càng chở gỗ (theo ông trình bày) tại hiện trường là không có cơ sở.
3- Về xác minh hành vi chống người thi hành công vụ của bị can Nguyễn Đăng Đoàn. Quá trình điều tra, nhận thấy việc mâu thuẫn giữa ông và bị can Đoàn là mâu thuẫn cá nhân dẫn đến bị can Nguyễn Đăng Đoàn đã gây thương tích cho ông. Ông Nguyễn Đăng Đoàn đã bị khởi tố hình sự và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị can đã gây ra theo đúng quy định của pháp luật”.
Chia sẻ với phóng viên báo Kinh tế nông thôn, ông Phạm Xuân Ngọc bức xúc: “Tôi đã gửi đơn nhiều lần nhưng Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không trả lời thỏa đáng. Bởi, theo trả lời của Viện Kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Krông Nô thì xác định mâu thuẫn giữa tôi và các đối tượng Nguyễn Đăng Đoàn, Hoàng Văn Định là mâu thuẫn cá nhân, vụ án xảy ra không phải thời gian tôi thi hành công vụ theo yêu cầu của công ty. Tôi hoàn toàn không chấp nhận vấn đề này, báo cáo của Công ty Nam Nung, giấy tờ công tác của tôi, bản thân tôi và lời khai của các đương sự, nhân chứng đều xác định rõ tôi không có mâu thuẫn cá nhân với các đối tượng trên. Vụ án xảy ra do các đối tượng trên khai thác, vận chuyển gỗ trái phép và tôi – trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, được công ty giao đã phát hiện và xử lý hành vi vi phạm của các đối tượng trên. Từ đó, họ đã cản trở công vụ, gây thương tích cho tôi và cướp lại hai xe gỗ tại hiện trường”.
Về vấn đề này, theo phân tích của luật sư Hồ Quang Khánh (Văn phòng luật sư Đức Lưu, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk): Qua tiếp cận hồ sơ thấy lời khai của bị hại, của các người làm chứng đều thống nhất nội dung: Mục đích anh Ngọc và tổ công tác chốt chặn kiểm tra, bắt giữ hai xe máy cày, một xe chở gỗ, một xe kéo gỗ đi lên hướng hiện trường vụ án. Có việc bị cáo Đoàn rủ anh Hoàng Văn Định đến hiện trường để giải quyết việc bắt cưa và sau khi đánh anh Ngọc chạy khỏi hiện trường. Bị cáo Đoàn, anh Hoàng Văn Định cùng hai người làm công cho bị cáo Đoàn bị bắt cưa và một số đối tượng khác mang hai cưa bị tạm giữ về cùng với hai xe máy cày. Ngoài bị cáo Đoàn đánh anh Ngọc bằng tay, anh Hoàng Văn Định đã dùng gậy cao su của anh Lê Đình Tùng mang vào để trước chòi rẫy đánh anh Ngọc.
Không dừng lại ở đó, nội dung lời khai của bị cáo Đoàn và anh Hoàng Văn Định cũng mâu thuẫn nhau về nội dung vụ án, dù các tình tiết vụ án có bị cáo Đoàn và Định tham gia không nhiều.
Cụ thể, thứ nhất: Khai mâu thuẫn về nội dung các đối tượng làm công cho bị cáo Đoàn gọi về cho bị cáo Đoàn thông báo bị bắt cưa.
Thứ hai: Khai mâu thuẫn về phương thức bị cáo Đoàn thông báo cho Định và lý do bị cáo Đoàn gọi Định và cùng Định đi vào hiện trường vụ án.
Thứ ba: Khai mâu thuẫn về việc hai xe càng chở gỗ cho bị cáo Đoàn. Các bản khai của bị cáo Đoàn không đề cập đến bất cứ điểm nào về hai xe gỗ này trong khi các bản khai của Hoàng Văn Định lại đề cập đến hai xe càng trên.
Thứ tư: Khai mâu thuẫn về số lần bị cáo Đoàn đánh anh Ngọc. Cả bị cáo Đoàn và Hoàng Văn Định lúc thì khai đánh một lần, cuối cùng thì khai đánh hai lần.
Mặt khác, lời khai của bị hại Phạm Xuân Ngọc, người làm chứng Lê Đình Tùng, Phạm Văn Hưng, xác định có 2 xe máy cày chở gỗ ở gần hiện trường vụ án; việc các anh Ngọc, Tùng, Hưng lập chốt chặn vì mục đích chặn và kiểm tra tính pháp lý của việc khai thác 02 xe gỗ trên. Ngay cả lời khai của Hoàng Văn Định cũng xác định có hai chiếc xe máy cày của bị cáo Đoàn ở gần hiện trường, sau đó hai máy cày này được người làm công điều khiển về cùng với anh Định và bị cáo Đoàn.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, các biên bản lấy lời khai, hỏi cung, đối chất của các đương sự, cơ quan điều tra gần như “bỏ quên”, chưa xác minh, làm rõ thông tin tố giác trên, chỉ tập trung xoáy vào việc bị cáo Đoàn gây thương tích cho anh Ngọc để khởi tố vụ án cố ý gây thương tích.
"Với các thông tin trên, có thể thấy có dấu hiệu của tội Hủy hoại rừng theo quy định tại Điều 189, Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa xác minh, làm rõ và điều tra vấn đề này. Đây là thiếu sót nghiêm trọng trong quá trình điều tra dẫn đến việc xác minh không đầy đủ, khách quan, toàn diện vụ án", luật sư Khánh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, vật chứng là cây gậy cao su đã được anh Lê Đình Tùng giao nộp cho cơ quan điều tra. Thương tích của anh Ngọc đã được giám định và kết luận tổng cộng 15%.
Hiện trường xảy ra xô xát chỉ có một bên là bị cáo Đoàn và Hoàng Văn Định, một bên là tổ chốt chặn gồm bị hại anh Ngọc, anh Tùng và anh Hưng. Như vậy, trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ lời khai của bị hại, người làm chứng; có vật chứng thu thập được; có thương tích thực tế xảy ra; có đối tượng gây thương tích; có động cơ gây thương tích, có hiện trường vụ án tuy nhiên, cơ quan điều tra không xem xét các yếu tố trên.
"Trường hợp xác định Hoàng Văn Định dùng gậy cao su gây thương tích 11% cho anh Ngọc thì các bị can trong vụ án này không thể bị truy tố theo khoản 1, Điều 104, Bộ luật Hình sự mà phải bị truy tố theo khoản 2, Điều 104, Bộ luật Hình sự với khung hình phạt cao hơn và nhiều tình tiết tăng nặng hơn, mức độ nguy hiểm của tội phạm cũng phải được xem xét ở mức cao hơn rất nhiều vì có yếu tố phạm tội có tổ chức", ông Khánh phân tích.
Bà Nguyễn Thị Thọ, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, cho biết: Quan điểm của Viện là phải đảm bảo xử đúng người, đúng tội, khách quan với đầy đủ chứng cứ. (Kinh Tế Nông Thôn 26/7) đầu trang(
Gần chục năm nay, hơn 641 ha rừng phòng hộ đang được người dân xã An Bình, huyện Văn Yên quản lý và bảo vệ tốt, không còn tình trạng lấn chiếm, chặt phá rừng bừa bãi. Kết quả này có được từ khi rừng được giao cho cộng đồng thôn, bản quản lý.
Xã An Bình, huyện Văn Yên có trên 711 ha rừng, trong đó có 641 ha rừng phòng hộ, còn lại là rừng tự nhiên sản xuất. Rừng ở đây từ bao đời nay đã cho người dân bao nguồn lợi và cung cấp nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, do diện tích rừng nằm giáp ranh với nhiều xã như: Khánh Hòa, Trúc Lâu (Lục Yên), Lâm Giang (Văn Yên), địa hình đi lại khó khăn, trong khi đó rừng lại chỉ được giao cho một vài nhóm hộ, dẫn đến rừng thường xuyên bị “chảy máu”. Năm 2007, có 641 ha rừng phòng hộ được giao cho cộng đồng 2 thôn: Khe Trang và Khe Dòng, xã An Bình quản lý. Trong đó, thôn Khe Trang có 217 hộ với hơn 1.000 nhân khẩu được giao quản lý và bảo vệ 409,3 ha rừng.
Từ khi rừng được giao cho cộng đồng thôn, mọi người đã cùng nhau giữ rừng để hưởng những lợi ích từ rừng. Bà con ai cũng hiểu, có rừng là có nguồn nước để trồng cấy, có nhiều sản vật dưới tán rừng để khai thác. Để giữ rừng, người dân đã xây dựng được quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng, ký cam kết thực hiện quy ước với từng hộ.
Anh Chương Văn Vĩnh - Tổ trưởng Tổ quản lý bảo vệ rừng thôn Khe Trang cho biết: “Khác với giao khoán quản lý bảo vệ rừng của nhiều năm trước, giờ đây toàn bộ diện tích rừng được giao cho cộng đồng thôn bản quản lý nên bà con ai cũng có trách nhiệm với rừng”. Không chỉ diện tích rừng ở Khe Trang, mà 232 ha rừng cộng đồng ở Khe Dòng cũng được quản lý nghiêm ngặt.
Anh Vi Văn Bảo ở thôn Khe Dòng cho biết: “Nếu không có cộng đồng thôn quản lý thì rừng ở đây bị xóa sổ lâu rồi. Để quản lý bảo vệ rừng, thôn thành lập các nhóm thường xuyên tuần tra, kiểm soát. Người nào vào rừng không được sự cho phép của cộng đồng thôn sẽ bị xử phạt. Số tiền xử phạt vi phạm được nộp quỹ phát triển và bảo vệ rừng của thôn. Những hộ nghèo, đặc biệt khó khăn, gia đình chính sách được phép khai thác gỗ, củi và các lâm sản phụ nhưng phải theo kế hoạch và chỉ được lấy gỗ khi có nhu cầu làm nhà với điều kiện phải được nhân dân trong bản, chính quyền đồng ý”.
Ông Lê Cao Tấn - Phó Chủ tịch UBND xã An Bình cho biết: “Từ khi giao rừng cho cộng đồng quản lý, bên cạnh việc tuyên truyền cho người dân hiểu về việc phải bảo vệ rừng, Ban Quản lý rừng cộng đồng các thôn thành lập các nhóm bảo vệ rừng với 27 thành viên thường xuyên tuần tra, kiểm soát rừng. Các nhóm bảo vệ rừng còn phối hợp với xã, cán bộ kiểm lâm địa bàn tổ chức tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ rừng; từ đó, tạo chuyển biến trong người dân về ý thức bảo vệ rừng. Nhờ vậy, rừng cộng đồng được quản lý nghiêm ngặt, không còn tình trạng chặt phá, rừng bừa bãi”.
Việc giao rừng cho cộng đồng quản lý đã phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, rừng ở An Bình chủ yếu là rừng giang nên người dân được hưởng lợi từ rừng còn hạn chế. Để rừng cộng đồng phát triển bền vững, cần có chính sách hỗ trợ cộng đồng xây dựng mô hình tăng thu nhập từ rừng như: trồng cây dưới tán rừng, xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp để cộng đồng được hưởng lợi từ giữ rừng, góp phần nâng cao đời sống của người dân. (Báo Yên Bái 26/7) đầu trang(
Mùa khô năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy rừng, giảm 39 vụ so với cùng kỳ năm 2016, gây thiệt hại 6,51ha rừng (rừng sản xuất 3,53ha; rừng đặc dụng 0,86ha; rừng trồng 2,12ha), chủ yếu tập trung tại các huyện: Mường Ảng, Điện Biên và Mường Nhé. Năm nay, cháy rừng giảm mạnh cả về số vụ và diện tích thiệt hại.
Để chủ động các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), ngay từ đầu mùa khô 2016 - 2017, UBND các huyện, thị, thành phố đã chủ động kiện toàn Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR cấp huyện, xã; thành lập, bổ sung các tổ, đội quản lý bảo vệ rừng cấp xã, thôn bản. Đồng thời, tích cực đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR.
Ngoài ra, công tác nghiệm thu rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và triển khai các dự án chuyên ngành lâm nghiệp, như: Trồng cây phân tán, nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng; các chính sách được triển khai đầy đủ đến người dân, chủ rừng, góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Năm 2016, Tuần Giáo là 1 trong 4 huyện để xảy ra nhiều vụ cháy rừng và diện tích rừng thiệt hại lớn nhất tỉnh. Tuy nhiên, năm nay, nhờ chủ động trong công tác phòng chống cháy rừng nên huyện Tuần Giáo giảm cả 2 tiêu chí: Số vụ và diện tích thiệt hại.
Ông Đinh Văn Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo, cho biết: Năm 2016, huyện Tuần Giáo xảy ra 5 vụ cháy rừng lớn, làm trên 580ha rừng phòng hộ bị thiệt hại từ 30 - 70%. Bước vào mùa khô năm 2017, Hạt Kiểm lâm huyện chủ động kiểm tra, khoanh vùng các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao để chỉ đạo, hướng dẫn người dân trong khu vực thực hiện nghiêm túc công tác PCCCR; đồng thời xác định các tình huống xung yếu và khó khăn riêng biệt để có hướng chỉ đạo kịp thời. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và kết hợp với các cuộc họp dân, Hạt Kiểm lâm huyện đã triển khai lồng ghép các thông báo nguy cơ cháy rừng, quy chế bảo vệ rừng, PCCCR đến người dân.
Từ đầu mùa khô đến nay, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã tuyên truyền tại 200/236 bản của 19 xã, thị trấn, với hơn 10.000 lượt người tham gia. Tổ chức tập huấn, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các văn bản có liên quan đến công tác bảo vệ rừng và PCCCR cho các trưởng thôn, bản, cán bộ chủ chốt của xã, thành viên các ban, đoàn thể của các xã; củng cố, thành lập 200 tổ, đội xung kích PCCCR ở các thôn, bản. Nhờ đó, năm nay, huyện Tuần Giáo không xảy ra các vụ cháy rừng lớn, diện tích thiệt hại không đáng kể.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, 6 tháng đầu năm 2017 toàn tỉnh phát hiện 183 vụ phá rừng gây thiệt hại 165,89ha rừng (55,62ha rừng sản xuất; 110,27ha rừng phòng hộ), chủ yếu tập trung tại huyện Mường Nhé với 132 vụ gây thiệt hại 135,315ha. Bà Đường Thu Hường, Trưởng phòng Quản lý và Bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm cho biết: Số vụ phá rừng năm 2017 tăng so với những năm trước nhưng công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn lại có nhiều chuyển biến tích cực.
Điều này nghe có vẻ nghịch lý bởi số vụ phá rừng tăng là do năm nay các lực lượng chức năng đẩy mạnh công tác đấu tranh, qua đó phát hiện và xử lý nhiều vụ phá rừng (đã xử lý 24 vụ, trong đó: 15 vụ xử lý hình sự với 16 bị can). Đặc biệt là thực hiện Kế hoạch 420/KH-UBND, ngày 22/2/2017 của UBND tỉnh, nhiều vụ phá rừng đã bị phát hiện và đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật. Trong số 183 vụ phá rừng có rất nhiều vụ đã xảy ra từ năm 2015 - 2016 được các lực lượng chức năng điều tra, làm rõ trong năm 2017. (Báo Điện Biên Phủ 26/7) đầu trang(
Khu vực rừng Động Châu-khe Nước Trong (Kim Thủy, Lệ Thủy) có vị trí địa lý đặc biệt, là nơi bắt nguồn của hai lưu vực sông Kiến Giang ở phía đông và sông Long Đại ở phía tây, được giới chuyên môn xác định là một trong ít nơi trên đất nước ta đang sở hữu tính đa dạng sinh học độc đáo.
Năm 2012, Bộ NN-PTNT đã đồng ý cho tỉnh thành lập một khu bảo tồn thiên nhiên tại đây nhằm bảo vệ hệ sinh thái rừng đất thấp với tính đa dạng sinh học độc đáo mang tầm quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên, đến nay, do khó khăn về nguồn lực, tỉnh vẫn chưa thành lập được khu bảo tồn.
Khu vực khe Nước Trong (KNT) có diện tích khoảng 20.000 ha rừng đất thấp. Đây là một phần của dải rừng đất thấp rộng lớn (82.700 ha) bao gồm cả hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị. Nơi đây còn lưu giữ được những dải rừng lá rộng thường xanh trên đất thấp, là sinh cảnh sống của nhiều loài quý hiếm đặc hữu đã được ghi nhận.
Cụ thể: có 5/7 loài chim ở vùng phân bố hẹp, trong đó có loài gà lôi lam mào trắng là loài bị đe dọa cực kỳ nguy cấp và cũng là loài đặc hữu của Việt Nam chỉ có vùng phân bố ở vùng đất thấp miền Trung từ Nghệ An vào đến Thừa Thiên-Huế. Có 4 loài thú mới phát hiện cho khoa học gần đây ở Việt Nam là sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, thỏ vằn.
Khu vực còn có nhiều loài thú khác với tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu ở cấp độ khác nhau, như: tê tê Java, vượn đen má trắng, chà vá chân nâu, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn và gấu ngựa; 51 loài thực vật ghi trong Sách đỏ thế giới, Sách đỏ Việt Nam hoặc Nghị định 32 của Chính phủ. Đặc biệt có tới 6 trong tổng số 7 loài họ dầu bị đe dọa rất nguy cấp...
Bên cạnh đó, rừng vùng KNT có diện tích thảm thực vật rừng ở đai thấp (dưới 800m) rất lớn. Mặc dù rừng bị chiến tranh tàn phá và khai thác, nhưng vẫn còn khoảng 40% rừng ít bị tác động, tầng tán vẫn còn nguyên vẹn.
Rừng khu vực KNT trước đây do Lâm trường Kiến Giang và Lâm trường Khe Giữa quản lý. Tháng 11-2006, UBND tỉnh có quyết định thành lập Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Động Châu. Theo quy chế quản lý, đây là rừng được bảo vệ, không được phép khai thác gỗ và săn bắn các loài động vật quý hiếm. Tuy nhiên, cũng giống như các khu rừng khác trên cả nước, vùng rừng Động Châu - KNT đang đối mặt với nhiều mối đe dọa tài nguyên rừng, làm mất đi tính đa dạng sinh học.
Trong đó, hoạt động khai thác gỗ, săn bẫy động vật hoang dã trái phép và lấn chiếm đất rừng hay chuyển đổi đất rừng tự nhiên sang trồng rừng kinh tế diễn ra thường xuyên. Ngoài ra, vẫn còn những hoạt động có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc nguy cơ đến sự suy giảm của các loài động vật hoang dã bao gồm việc tìm kiếm trầm hương, tìm kiếm mật ong, đánh bắt cá bằng phương pháp hủy diệt...
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, trước thực tế vùng rừng Động Châu - KNT đối mặt với nhiều mối đe dọa có thể làm mất đi tính đa dạng sinh học độc đáo của vùng này, từ năm 2011-2012, Chi cục Kiểm lâm, UBND tỉnh đã xúc tiến lập luận chứng khoa học và dự án thành lập khu bảo tồn thiên nhiên KNT. Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT đã đồng ý cho tỉnh thành lập khu bảo tồn thiên nhiên KNT trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay, vì nguồn lực của tỉnh còn hạn chế nên vẫn chưa thành lập được khu bảo tồn.
Vì vậy, để bảo vệ và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học độc đáo vùng rừng KNT, lưu giữ lại một mẫu chuẩn của vùng rừng đất thấp Trung bộ, theo ông Phạm Hồng Thái, trước hết phải sớm triển khai kế hoạch quản lý, bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học toàn bộ khu vực; tăng cường năng lực cho BQLRPH Động Châu về quản lý, bảo vệ rừng và đa dạng sinh học.
Đồng thời, tỉnh huy động sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng và đa dạng sinh học; tìm kiếm nguồn tài trợ để hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng địa phương sống gần rừng và đang phụ thuộc vào tài nguyên rừng; huy động nguồn lực cho chương trình bảo tồn tiến tới chuyển đổi vùng rừng KNT thành khu bảo tồn thiên nhiên trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam.
Trong đó, những việc thiết thực cụ thể cần làm ngay là đẩy mạnh hoạt động truyền thông với sự tham gia của cộng đồng về bảo vệ rừng, động vật hoang dã và ý nghĩa bảo vệ môi trường, nguồn nước của rừng triển khai rộng rãi trong cộng đồng. Đồng thời, còn hỗ trợ giao khoán bảo vệ rừng và quy hoạch lại đất sản xuất cho các thôn bản Rum-Ho, An Bai, Trốc và Hà Lẹc (xã Kim Thủy), từ đó, thay đổi hành vi của cộng đồng người dân sống gần rừng nhằm giảm thiểu hoạt động khai thác gỗ và săn bẫy động vật hoang dã trái phép, đặc biệt là các loài quý hiểm (loài có nguy cơ tuyệt chủng).
Các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác thực thi pháp luật bảo vệ rừng; tổ chức cho những người dân tại địa phương ký cam kết không mua bán, vận chuyển trái phép tài nguyên rừng. Hoạt động tuần tra rừng và giám sát đa dạng sinh học cần được thực hiện giữa nhóm bảo vệ rừng cộng đồng, cán bộ hiện trường dự án và cán bộ bảo vệ rừng Động Châu.
Công tác đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ của BQLRPH Động Châu cần được chú trọng để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học; cung cấp trang thiết bị cần thiết và nâng cấp cơ sở hạ tầng để thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, đồng thời tiếp tục điều tra đa dạng sinh học nhằm bổ sung thêm thông tin cho các nhóm loài chủ chốt trong chương trình giám sát đa dạng sinh học và góp phần cho kế hoạch quản lý.
“Hiện tại, khu vực rừng Động Châu-KNT đang được quản lý theo quy chế quản lý rừng phòng hộ. Vì vậy, để gìn giữ những giá trị bảo tồn của khu vực có hệ sinh thái rừng đất thấp với tính đa dạng sinh học độc đáo này cần phải có sự hỗ trợ về nguồn lực, pháp lý để thực thi pháp luật bảo vệ rừng và năng lực bảo tồn”, ông Phạm Hồng Thái nhấn mạnh. (Báo Quảng Bình 26/7) đầu trang(
Để bảo vệ an toàn diện tích rừng trên địa bàn, đặc biệt là diện tích rừng phòng hộ nằm trên địa bàn 7 xã của huyện Quỳ Hợp, Ban QLRPH Quỳ Hợp đã ký hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ cho các hộ dân sinh sống gần rừng. Sau 3 năm thực hiện, việc giao khoán đã cho thấy hiệu quả tích cực.
Năm 2014, gia đình ông Sầm Ngọc Tùng ở bản Huống xã Châu Hồng được Ban QLRPH Quỳ Hợp giao khoán quản lý bảo vệ 8 ha rừng. Để bảo vệ diện tích rừng được giao, hàng tháng ông Tùng phối hợp với cán bộ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Châu Hồng đi tuần tra ở những khu rừng còn giàu tài nguyên. Ngoài ra, ông cùng với ban quản lý bản còn tuyên truyền, vận động người dân nhận rừng bảo vệ và không xâm hại đến rừng. Nhờ vậy, ở bản Huống không có tình trạng người dân vào rừng khai thác gỗ, an ninh rừng luôn được giữ vững.
“Nhờ có chủ trương của Nhà nước giao khoán đất rừng phòng hộ giao cho hộ dân, gia đình tôi thì có 3 khẩu cũng được giao 8ha rừng phòng hộ, hàng tháng gia đình tôi cùng với Ban QLRPH đi kiểm tra rừng, bảo vệ rừng. Bây giờ thì gia đình tôi cũng có thu nhập từ trồng rừng, trồng keo nên kinh tế gia đình cũng ổn định”- ông Tùng chia sẻ.
Bản Huống có 61 hộ với 275 khẩu, 100% là đồng bào dân tộc Thái. Hàng trăm năm nay cuộc sống của bà con đều chủ yếu dựa vào rừng. Được Ban QLRPH Quỳ Hợp giao khoán bảo vệ rừng, bà con không chỉ được Nhà nước trả tiền công hàng tháng mà còn được phép khai thác những lâm sản phụ như: nứa, vầu, cây dược liệu dưới tán rừng theo Quyết định 178 của Chính phủ. Nhờ vậy, bà con dân bản có thêm việc làm, thu nhập ổn định, đời sống được nâng lên. Từ việc được hưởng chính sách khi nhận khoán bảo vệ rừng nên nhận thức của người dân về lợi ích của rừng đã được nâng lên.
“Từ khi giao khoán rừng, rừng được bảo vệ an toàn, không có người vô rừng chặt gỗ, tinh thần người dân cũng rất tự giác bảo vệ rừng. Bản quản lý xóm bản cùng với nhân dân và trạm thường xuyên đi kiểm tra rừng, bảo vệ rừng”- ông Lương Văn Hòa- Trưởng bản Huống cho biết thêm.
Ban QLRPH Quỳ Hợp được giao trách nhiệm quản lý, bảo vệ gần 6300ha, bao gồm 6100ha rừng phòng hộ, 210ha rừng sản xuất, được phân bổ trên địa bàn 7 xã của huyện Quỳ Hợp. Đa số diện tích rừng phòng hộ đều tiếp giáp với các huyện Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuông và Quỳ Châu và rừng đặc dụng của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, điều kiện tự nhiên phức tạp, địa hình hiểm trở, người dân sống gần rừng có điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ dân trí thấp, cuộc sống mưu sinh chủ yếu dựa vào rừng nên thường gây áp lực đến rừng. Vì thế, Ban QLRPH Quỳ Hợp đã giao khoán ổn định, lâu dài 1.430 ha rừng cho 158 hộ dân sống gần rừng. Bình quân mỗi hộ nhận 10ha để bảo vệ. Song song với công tác giao khoán bảo vệ rừng, lực lượng bảo vệ rừng ở các trạm thường xuyên kết hợp với các chủ hộ nhận khoán đi kiểm tra thường xuyên mỗi tháng một lần.
Đặc biệt, Ban QLRPH Quỳ Hợp còn chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, và kiểm lâm địa bàn tăng cường tuần tra, kiểm tra rừng tận gốc, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý rừng, bảo vệ rừng. Mặt khác thường xuyên tổ chức các đợt tuyên truyền pháp luật về bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, ký cam kết thực hiện công tác PCCCR với các hộ dân.
“Rừng phòng hộ ở đây là rừng đầu nguồn chủ yếu, vì vậy, để bảo vệ rừng, nhà nước phải có những chủ trương chính sách, có nguồn vốn phân bố về, có chương trình dự án để giao khoán cho người dân, thì người dân mới làm tốt được và mới sống được nhờ bảo vệ rừng. Từ đó bà con mới làm tốt công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, để làm tốt công tác bảo vệ rừng thì chính quyền địa phương, các ngành chức năng phải có sự phối hợp nhịp nhàng công tác BVR và xử lý triệt để các hành vi vi phạm đến rừng”- Ông Trần Đại Nghĩa - Trưởng phòng Kế hoạch Kĩ thuật- Ban QLRPH Quỳ Hợp trao đổi.
Dự kiến giai đoạn 2016 - 2020, Ban QLRPH Quỳ Hợp tiếp tục khoán bảo vệ rừng phòng hộ 4000ha/năm; trồng 165 ha rừng gỗ lớn và rừng bằng cây bản địa, Gieo ươm 10 vạn cây keo để cung ứng cho các hộ dân trên địa bàn trồng rừng. Để đạt được mục tiêu đề ra, thời gian tới, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Quỳ Hợp tiếp tục chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền, vận động người dân trên địa bàn tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng. (Đài PTTH Nghệ An 26/7) đầu trang(
Rừng đầu nguồn là thảm thực vật tạo ra nguồn sinh thuỷ cho các hồ, đập chứa nước, đảm bảo các công trình này đạt được mực nước an toàn. Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng để đảm bảo nguồn nước cho các hồ đập là giữ gìn, phát triển và quản lý chặt chẽ diện tích rừng đầu nguồn.
Tuy nhiên, qua khảo sát của các đơn vị chuyên môn, hiện có không ít hồ đập có diện tích rừng đầu nguồn là rừng sản xuất, đất trống đồi núi trọc không đảm bảo cho việc giữ nước. Cụ thể trong tổng số 38.616ha rừng đầu nguồn toàn tỉnh, hiện có 8.929ha rừng sản xuất và 1.955ha đất trống đồi núi trọc. Trong đó rừng sản xuất chủ yếu là cây keo, tính đa dạng kém, thảm thực vật nghèo, nguồn sinh thuỷ ít, một số diện tích đã đến chu kỳ khai thác, nên thảm thực vật bị tác động mạnh, độ che phủ thấp. Một số diện tích rừng đầu nguồn khác mặc dù được quy hoạch là rừng phòng hộ, song có hiện trạng rừng không đảm bảo về mật độ cây rừng hoặc loại cây trồng giống rừng sản xuất, diện tích nhỏ, lại gần khu dân cư, nên thảm thực vật đã nghèo lại còn dễ bị tác động, dẫn đến tính đa dạng không cao, nguồn sinh thuỷ thấp. Đây được cho là nguyên nhân khiến cho nhiều hồ đập chứa nước trên địa bàn tỉnh thời gian qua rơi vào tình trạng bị cạn kiệt nguồn nước.
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, trên địa bàn tỉnh hiện có 179 hồ chứa nước lớn nhỏ với tổng dung tích khoảng 349 triệu m3; trong đó có 27 hồ có dung tích lớn, từ trên 1 triệu m3 trở lên. Thời gian qua, do diện tích rừng đầu nguồn không đảm bảo đã khiến cho hàng chục công trình hồ, đập bị suy giảm nguồn nước, như: Hồ Khe Cá (TP Cẩm Phả); hồ Khe Mai, hồ Mắt Rồng, đập Thác Nhòng, hồ Ngọc Thuỷ (huyện Vân Đồn); hồ Tân Bình (huyện Đầm Hà); hồ Đoan Tĩnh, hồ Vạn Gia (TP Móng Cái). Trong đó có nhiều công trình cạn kiệt ở mức báo động, như hồ Mắt Rồng, đập Thác Nhòng (huyện Vân Đồn). 2 công trình này vốn là nguồn cấp nước chính cho Nhà máy nước Đồng Ho và Vân Đồn, song thời điểm trước ngày 12-5-2017 mực nước suy giảm dưới ngưỡng tràn 20-30cm, thấp nhất từ trước đến nay, khiến cho không đủ cung cấp để các nhà máy nước hoạt động.
Theo các đơn vị chuyên môn, để khắc phục tình trạng trên của đập Thác Nhòng và hồ Mắt Rồng, trước mắt không có cách nào khác là chờ mưa, về lâu về dài phải thực hiện cải tạo, lát tấm bê tông mái cũng như nạo vét bùn đất bồi lắng khu vực thượng lưu, nạo vét lòng hồ... để tăng dung tích chứa với chi phí đầu tư rất lớn. Ngoài ra, hồ Khe Cát (huyện Tiên Yên) mặc dù mới đưa vào sử dụng từ đầu mùa mưa năm nay, đang trong tình trạng trữ nước tốt, tuy nhiên với hơn 200ha rừng đầu nguồn của công trình đều là rừng sản xuất, thảm thực vật nghèo, nguồn sinh thuỷ ít, thì nguy cơ cạn nước vào những mùa khô là hoàn toàn có thể xảy ra. Điều này là rất nguy hiểm, bởi hồ Khe Cát có dung tích lớn 6,68 triệu m3, có nhiệm vụ cấp nước cho 1.570ha đất sản xuất nông nghiệp, 900ha đất nuôi trồng thuỷ sản và cấp nước sinh hoạt cho 8.500 người dân...
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để đảm bảo nguồn nước cho các hồ, đập trữ, chứa nước đã đến lúc phải tính đến bài toán hỗ trợ chuyển đổi diện tích 8.929ha rừng sản xuất thành rừng phòng hộ hoặc nếu duy trì rừng sản xuất thì phải chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp. Đối với diện tích 1.955ha đất trống đồi núi trọc, cần phải được trồng rừng bổ sung; diện tích rừng phòng hộ hiện có cũng cần được trồng cây bản địa dưới tán rừng nhằm tăng độ che phủ rừng, đảm bảo khả năng phòng hộ đầu nguồn. Về lâu về dài, tỉnh cần có chính sách, cơ chế hỗ trợ người dân, tổ chức, doanh nghiệp trồng rừng gỗ lớn trong phần diện tích đất rừng đầu nguồn các hồ chứa, nhằm kéo dài chu kỳ khai thác gỗ, góp phần đảm bảo nguồn sinh thuỷ cũng như chất lượng nước hồ chứa. (Báo Quảng Ninh 26/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chỉ trong thời gian ngắn, nhiều địa phương trong tỉnh Bắc Kạn đã xảy ra tình trạng phát phá, cải tạo trái phép rừng tự nhiên hỗn giao với diện tích lớn. Việc xử lý hậu quả bằng các biện pháp theo quy định của pháp luật đã và đang được thực hiện, tuy nhiên, xử lý một số người dân vi phạm ở khung hình sự đang gây băn khoăn cho các ngành chức năng.
Xin đơn cử 03 vụ phát phá, cải tạo rừng trái phép nhưng chung mục đích là trồng rừng sản xuất trên địa bàn 3 huyện Chợ Đồn, Ba Bể và Na Rì gây thiệt hại hơn 40ha rừng tự nhiên, hỗn giao.
Tại xã Yên Thịnh (Chợ Đồn), sau khi một hộ dân phát phá, cải tạo rừng mà không thấy vấn đề gì, hàng chục hộ dân ở các thôn, bản Nà Nhàm, Nà Khuốt, Pác Cộp, Bản Bây, Chè Ngù đã đồng loạt phát phá, cải tạo rừng. Chỉ sau thời gian ngắn hàng chục héc-ta rừng tự nhiên, hỗn giao (vầu + gỗ) đã được phát dọn, xử lý thực bì để trồng rừng mới.
Hiện nay bà con phát rừng đều sử dụng cưa xăng nên việc phát rừng rất nhanh gọn. Một người sử dụng máy cưa có thể phát phá 0,3ha trong một ngày.
Phát hiện sự việc, lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản, tiến hành thống kê đo đạc. Tổng số hộ vi phạm lên tới 28 hộ, với tổng diện tích bị phát phá là 23,053ha. Qua thống kê, phân loại thì có 13 hộ, tổng diện tích là 4,409ha nằm trong khung xử lý hành chính, với diện tích phát phá của mỗi hộ dưới 0,5ha; còn 15 hộ, tổng diện tích là 18,641ha có dấu hiệu tội phạm hình sự (vượt khung xử lý hành chính), với diện tích phát phá của mỗi hộ trên 0,5ha.
Tại huyện Na Rì, việc phát phá rừng trái phép cũng giống như huyện Chợ Đồn, nhưng đối tượng thực hiện, ngoài những hộ dân nghèo ở địa phương còn có những người ở địa phương khác đến mua đất, cải tạo để trồng rừng. Riêng tại xã Đổng Xá đã để xảy ra 03 vụ nghiêm trọng, làm thiệt hại hơn 13ha rừng. Cụ thể, ông Nguyễn Văn Quảng, cư trú tại thôn Chùm Chiến, xã Bình Thuận, huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đến mua đất rừng của các hộ dân ở thôn Khuổi Nạc, xã Đổng Xá với diện tích hơn 2,7ha. Toàn bộ diện tích đất trên đã được làm thủ tục chuyển đổi sang tên ông Quảng, đồng thời gia đình ông phát phá, cải tạo, mở đường lâm nghiệp.
Tại thôn Khuổi Cáy, hai ông Lường Văn Đông ở xã Yên Trạch, huyện Phú Lương (Thái Nguyên) và ông Triệu Phúc Minh, thôn Khuổi Cáy, xã Đổng Xá, sau khi thuê đất của người địa phương đã cùng “phối hợp” phát phá trái phép hơn 2ha đất rừng tự nhiên, hỗn hợp. Tại thôn Nà Thác, hộ ông Bàn Nguyên Đặng đã phát phá trái phép hơn 1,8ha rừng tự nhiên sản xuất khi chưa lập hồ sơ cải tạo theo quy định. Khi phát hiện sự việc, lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường thì hầu hết các hộ trên đã chấp hành và đều chưa tiến hành trồng rừng.
Cũng tương tự như ở xã Yên Thịnh (Chợ Đồn) và Đổng Xá (Na Rì), 05 hộ đồng bào Dao thôn Lủng Cháng, xã Hà Hiệu và thôn Phiêng Giản, xã Phúc Lộc (Ba Bể) cũng đã tự ý phát phá, cải tạo 7,9ha rừng tự nhiên, sản xuất với mục đích để trồng rừng. Sau khi phát hiện, lực lượng chức năng của huyện Ba Bể đã lập biên bản, đình chỉ vụ việc, bà con chấp hành giữ nguyên hiện trường nên diện tích phát phá cải tạo trên chưa được trồng rừng mới.
Trao đổi với phóng viên, ông Đặng Chàn Rồng- trưởng thôn Lủng Cháng, xã Hà Hiệu (Ba Bể) cho biết: Diện tích rừng bị phát phá đều toàn cây tạp nên bà con cải tạo để trồng cây xoan sẽ có hiệu quả hơn; việc tuyên truyền thì thôn cũng đã làm nhưng bà con ít đi họp nên không được nghe.
Ông Tô Văn Thức- Hạt Trưởng Kiểm lâm Ba Bể cho rằng: Để xảy ra sự việc trên là do công tác tuyên truyền phổ biến quy định, chính sách trồng mới rừng của cán bộ kiểm lâm và cán bộ xã chưa sâu sát, cụ thể.
Còn ông Ma Ngọc Quỳnh- trưởng thôn Nà Nhám, xã Yên Thượng (Chợ Đồn) cho rằng bà con phát phá trái phép là sai, nhưng mục đích cũng là trồng rừng theo chủ trương của Nhà nước, trong khi diện tích rừng đều đã cấp sổ cho dân nhưng toàn cây gỗ tạp và nứa, nếu để lâu sau này cũng chẳng có giá trị bao nhiêu. Sau khi phát phá cải tạo, bà con đều đã trồng rừng, nhiều cây đã cao qua đầu người.
Được hỏi về công tác tuyên truyên, phổ biến quy định, điều kiện về trồng rừng, ông Quỳnh cho biết thêm: Việc tuyên truyền vẫn thực hiện ở các buổi họp thôn nhưng chỉ đọc cho người dân nghe, để hiểu cụ thể chắc cũng ít người hiểu. Hiện nay, những hộ dân phát phá rừng diện tích nhiều đang lo lắng vì nghe nói vi phạm phát luật của Nhà nước mà hầu hết việc phát phá cải tạo rừng này đều cả nhà đi làm.
Đưa chúng tôi đi thăm cánh rừng Khuổi Nế (bị phát phá trái phép) của anh Hoàng Mạnh Cường, cả cánh rừng trồng cây keo vừa được phát cỏ, vun gốc, nhiều cây đã vươn cao tầm 1m. Anh Cường cho biết, toàn bộ diện tích rừng của bà con trong thôn cải tạo trái phép đều đã trồng rừng và cây phát triển tốt như thế này.
Có thể nói, việc phát phá cải tạo rừng trái phép của người dân tại 03 huyện nêu trên đã vi phạm quy định của Nhà nước mà nguyên nhân trước hết thuộc về lực lượng chức năng địa bàn và chính quyền cơ sở đã thiếu sâu sát trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đặc biệt là công tác tuyên truyền, phổ biến những văn bản, quy định mới về công tác phát triển rừng chưa được quan tâm thực hiện khiến cho người dân thiếu hiểu biết, thiếu thông tin dẫn tới tình trạng trên. Ngoài ra, những vụ việc trên còn đặt ra một vấn đề mới trong công tác quản lý và bảo vệ rừng trước tình trạng người ở địa phương khác đến mua đất để trồng rừng đang diễn ra hầu khắp trên địa bàn tỉnh. (Backan.org.vn 25/7) đầu trang(
Vừa qua, đoàn công tác Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Bộ NN-PTNT đã làm việc với UBND tỉnh Thanh Hóa, bàn về giải pháp trồng rừng ngập mặn, tham gia phòng chống thiên tai và xây dựng NTM.
Dự án “Trồng rừng ngập mặn, giảm thiểu rủi ro thảm họa” được Hội Chữ thập đỏ (CTĐ) Việt Nam triển khai liên tục từ năm 1994 đến nay dưới sự tài trợ đặc biệt của Hội CTĐ Nhật Bản thông qua Hiệp hội CTĐ – Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế. Qua khảo sát, hiện diện tích rừng ngập mặn do Hội trực tiếp triển khai chiếm trên 4,27% tổng diện tích cả nước.
Năm 1997, Thanh Hóa được Hội hỗ trợ trồng rừng ngập mặn tại 3 huyện là Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa với 2.256ha. Do tình trạng biến đổi khí hậu cũng như dịch bệnh, lúc này chỉ còn khoảng 540ha. Qua khảo sát, rừng đang phát triển tốt (cây bần chua cao 10-12m, cây trang cao từ 3-4m), bảo vệ hiệu quả hệ thống đê biển và các bờ đầm nuôi trồng hải sản.
Bà Nguyễn Thị Xuân Thu, Chủ tịch Trung ương Hội CTĐ Việt Nam đề nghị các Sở, ban, ngành liên quan tham mưu tích cực cho UBND các tỉnh nhằm xác nhận số diện tích rừng ngập mặn và có phương án hỗ trợ kinh phí bảo vệ hằng năm để các cấp Hội triển khai chăm sóc và phát triển.
Hội cũng đề nghị Bộ NN-PTNT cùng các đơn vị liên quan cho phép được tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển rừng bền vững; thí điểm mô hình phát triển sinh kế cho người dân gắn với quản lý và bảo vệ rừng và thực hiện tiêu chí xã an toàn về phòng, chống thiên tai trong xây dựng NTM.
Ông Nguyễn Đức Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa khẳng định, vấn đề bất cập nhất hiện nay là chưa xác định được chủ rừng. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tỉnh đề nghị Bộ NN-PTNT thống nhất chủ trương, giao cho Hội những diện tích rừng do Hội trực tiếp triển khai để thuận lợi hơn trong công tác quản lý, bảo vệ và khai thác. (Nông Nghiệp VN 27/7) đầu trang(
Thực hiện Kế hoạch truyền thông năm 2017 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi trong việc quản lý bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có hiệu quả, thúc đẩy các hoạt động phát triển sinh kế của các hộ gia đình, cá nhân; ngày 18/7/2017, tại nhà Rông thôn Te Pen xã Văn Lem, huyện Đăk Tô; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tổ chức Hội nghị tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng kết hợp tập huấn quản lý sử dụng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Tham dự Hội nghị có Lãnh đạo UBND xã Văn Lem, các tổ chức, đoàn thể của xã Văn Lem; Kiểm lâm địa bàn; Già làng, Thôn trưởng và các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, giao rừng và người dân trên địa bàn xã (100 người).
Tại Hội nghị, đại diện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tuyên truyền công tác quản lý, bảo vệ rừng và phổ biến chính sách chi trả DVMTR theo các Nghị định của Chính phủ: số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 và số 147/2016/NĐ-CP ngày 02/11/2016 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ; tình hình quản lý, bảo vệ rừng và chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn xã (Vai trò của nguồn lực tài chính trong phát triển sinh kế của hộ gia đình, cá nhân; thông báo số tiền chi trả DVMTR của hộ gia đình, cá nhân được nhận trong năm 2016; Hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR; Giải pháp quản lý và bảo vệ rừng bền vững); tập huấn quản lý sử dụng tiền DVMTR trong phát triển sinh kế hộ gia đình, cá nhân (Giới thiệu một số loại hình phát triển sinh kế: hoạt động sản xuất nông nghiệp; hoạt động sản xuất lâm nghiệp; hướng dẫn bà con sử dụng tiền DVMTR trong phát triển sinh kế hộ gia đình).
Với phương pháp có sự tham gia của người dân, bằng các hình thức làm bài tập nhóm, giới thiệu các nhóm tự lên trình bày, trao đổi trực tiếp người dân đã tham gia sôi nổi vào tất cả các nội dung.
Qua Hội nghị lần này, người dân trên địa bàn xã Văn Lem, huyện Đăk Tô đã phần nào hiểu rõ và nắm được cách thức áp dụng kiến thức được cung cấp vào việc quản lý và sử dụng tiền DVMTR có hiệu quả, góp phần phát triển sinh kế, quản lý bền vững tài nguyên rừng, qua đó giúp cho người dân gắn bó với rừng và bảo vệ rừng tốt hơn. (Quỹ Bảo Vệ & Phát Triển Rừng Kon Tum 25/7) đầu trang(
Theo Quyết định của UBND tỉnh Lâm Đồng, từ ngày 20/7, nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương về lĩnh vực lâm nghiệp không thuộc Hạt Kiểm lâm mà thuộc Phòng NN&PTNT ở các huyện và Phòng Kinh tế ở 2 thành phố Đà Lạt, Bảo Lộc.
Công tác chuyển giao và tiếp nhận nhiệm vụ trên giữa Hạt Kiểm lâm và hai phòng nêu trên bao gồm: biên chế, nhân sự, kinh phí, hồ sơ, tài liệu và kế hoạch đang thực hiện về lĩnh vực lâm nghiệp; và hoàn thành trước ngày 31/7/2017. (Báo Lâm Đồng 26/7) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Võ Ngọc Thành vừa ký Quyết định số 551/QĐ-UBND về thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016 - 2020, trên cơ sở tổ chức lại Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2011-2020.
Theo đó, Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững của tỉnh giai đoạn 2016 - 2020 là ông Kpă Thuyên - Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo là ông Trương Phước Anh-Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Các thành viên khác của Ban Chỉ đạo là đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh và các sở ban ngành liên quan của tỉnh.
Đồng thời theo quyết định này, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là cơ quan Thường trực giúp việc cho Ban Chỉ đạo, để triển khai các nội dung công việc theo quy định và các nhiệm vụ liên quan. (Báo Gia Lai 26/7) đầu trang(
UBND huyện Đạ Tẻh cho biết, hầu hết các dự án đầu tư ngoài ngân sách trong lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn đến nay đều triển khai chậm.
Theo đó, hiện Đạ Tẻh có 22 dự án đầu tư trồng cao su, trồng rừng kinh tế với tổng diện tích được cấp phép 8.323 ha, trong đó trồng cao su 4.957 ha, trồng rừng kinh tế 1.120 ha, quản lý bảo vệ rừng 2.245 ha. Đến nay, diện tích trồng cao su chỉ trên 2.328 ha, đạt 47%, còn diện tích trồng rừng kinh tế gần 547 ha, đạt 49%. Nguyên nhân triển khai chậm do các đơn vị gặp khó khăn về tài chính.
Huyện Đạ Tẻh đã yêu cầu các đơn vị cần tiếp tục đầu tư chăm sóc diện tích đã trồng cao su, trồng rừng và tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng đã được giao quản lý bảo vệ. (Báo Lâm Đồng 26/7) đầu trang(
Huyện Thạch Thất vừa đánh giá kết quả triển khai thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện. Đây là một trong những địa phương của TP Hà Nội có diện tích rừng khá nhiều.
Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Thạch Thất Nguyễn Kim Loan, diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Thất hơn 3.448ha, trong đó diện tích đất có rừng hơn 2.580ha, đất lâm nghiệp chưa có rừng hơn 867ha. Rừng trên địa bàn huyện chủ yếu là rừmg sản xuất của hộ gia đình tự đầu tư trồng rừng, được tập trung tại các xã Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung, Thạch Hòa, Bình Yên, Đồng Trúc, Kim Quan, Phú Kim và Cần Kiệm. Rừng trên địa bàn được xen kẽ trong các khu dân cư, doanh trại quân đội và vùng đệm của Vườn quốc gia Ba Vì, giá trị kinh tế không cao nhưng có giá trị rất lớn trong việc cân bằng môi trường sinh cảnh quan du lịch của huyện Thạch Thất và Thủ đô Hà Nội.
Xác định tầm quan trọng của tài nguyên rừng, đi đôi với công tác tuyên truyền, tập huấn Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, huyện Thạch Thất quan tâm đến việc trang bị phương tiện phục vụ công tác PCCC rừng như: đầu tư xây dựng công trình và mua sắm phương tiện, trang thiết bị PCCC và đã bàn giao cho các xã có rừng và chủ rừng quản lý sử dụng. Nhìn chung, công tác quản lý, bảo vệ và vận hành sử dụng các loại công trình, máy móc, phương tiện, thiết bị phòng chống cháy rừng luôn đảm bảo được yêu cầu theo phương châm "4 tại chỗ". Các loại máy móc, phương tiện trang thiết bị thực sự phát huy hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác bảo vệ rừng và PCCC rừng. Ngoài ra, huyện đã chỉ đạo, đôn đốc các xã có rừng, chủ rừng đầu tư mua sắm dụng cụ, phương tiện, thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng và PCCC rừng.
Trên địa bàn huyện đã đầu tư các công trình PCCC cháy rừng gồm 17 biên nội quy bảo vệ rừng, 6 biển cấp dự báo cháy rừng, 40 biển báo cấm lửa đặt tại các xã có rừng, 1 chòi quan sát lửa rừng tại xã Thạch Hòa và 2 bể chứa nước phục vụ công tác PCCC rừng tại xã Yên Trung và Tiến Xuân.
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện có một số chủ rừng là đơn vị quân đội, tổ chức kinh tế tham gia quản lý diện tích rừng trồng nên việc theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, kiểm tra công tác bảo vệ rừng và PCCC rừng gặp khó khăn. Mặt khác, một số phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác PCCC rừng đã giao cho các xã có rừng, chủ rừng quản lý, sử dụng hiện tại đã cũ, bị hư hỏng chưa được sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ.
Để thực hiện hiệu quả công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng và PCCC rừng trên địa bàn, huyện Thạch Thất đề nghị sở, ngành liên quan tham mưu thành phố quan tâm hơn nữa đầu tư kinh phí cho công tác bảo vệ và phát triển rừng; có kinh phí chi cho hoạt động các ban chỉ đạo, tổ, đội xung kích bảo vệ rừng, PCCC rừng; có chế độ chính sách, hỗ trợ kinh phí chi cho cán bộ phụ trách lâm nghiệp tại các xã có rừng...(Hanoi.gov.vn 26/7) đầu trang(
Vụ trồng rừng năm nay, huyện Pác Nặm được giao trồng 430ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 400ha, trồng cây phân tán là 30ha. Đến thời điểm này, huyện đã trồng được trên 520ha, đạt trên 130% kế hoạch.
Trong đó, rừng sản xuất trồng được hơn 370ha, trồng cây phân tán được trên 150ha. Đến thời điểm hiện tại, một số ít diện tích nằm ở xã An Thắng do nằm ở những khu vực có đường đi lại khó khăn, thời tiết mưa nhiều nên huyện chưa cấp cây giống trồng rừng được. Ban quản lý Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Pác Nặm sẽ đôn đốc người dân trồng hoàn tất những diện tích này trong gian tới.
Được biết, tiến độ trồng rừng năm nay của huyện Pác Nặm nhanh hơn so với những năm trước. Sau khi hoàn thành việc trồng rừng, Ban quản lý Bảo vệ và Phát triển rừng huyện sẽ kiểm tra, nghiệm thu những diện tích rừng đã trồng. Những diện tích có tỷ lệ cây sống đạt 85% trở lên, người dân sẽ được hỗ trợ theo quy định của Nhà nước. (Đài PTTH Bắc Kạn 26/7) đầu trang(
Đó là chỉ đạo của Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử tại buổi làm việc giữa lãnh đạo Công ty cổ phần đầu tư Thúy Sơn và Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ trong việc liên kết quản lý, phát triển rừng bền vừng để đạt chứng nhận quốc tế FSC-FM (chứng nhận phát triển rừng bền vững gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội) vào chiều 26/7.
Từ năm 2011 đến nay, Công ty cổ phần đầu tư Thúy Sơn thực hiện dự án thuê đất trồng rừng cây keo lai và cây bản địa trên diện tích 710 ha, tại xã Khánh Thuận, huyện U Minh. Diện tích rừng của công ty đang quản lý rất hiệu quả cả về mặt kinh tế và môi trường, ở tầng cao trồng cây keo lai và cây tràm bản địa, tầng thấp trồng trồng cây đinh lăng và mấm linh chi; mặt nước nuôi trồng thủy sản, đang cho thu nhập khoảng 400 triệu đồng/ha/vụ.
Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử đánh giá cao định hướng chiến lược của Công ty cổ phần đầu tư Thúy Sơn về phát triển rừng FSC-FM, đồng thời, ủng hộ về mặt chủ trương để 2 công ty hợp tác với nhau nhằm nâng cao giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân dưới tán rừng.
Để tạo môi trường xanh, tạo vùng nguyên liệu gỗ Cà Mau cung ứng cho thị trường, thực hiện có hiệu quả đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo nâng nâng cao giá trị và phát triển rừng bền vững, việc hợp tác giữa Công ty cổ phần đầu tư Thúy Sơn với Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ và người dân để được quốc tế cấp chứng chỉ FSC-FM (chứng nhận phát triển rừng bền vững gắn với hiệu quả kinh tế - xã hội) là cần thiết. Theo kế hoạch liên kết, hợp tác phát triển gỗ được cấp chứng nhận FSC-FM giữa 2 công ty là khoảng 10 ngàn ha. (Báo Cà Mau 26/7) đầu trang(
Sáng 26/7, Tỉnh ủy Đắk Nông tổ chức giao ban định kỳ khối Nội chính quý II và triển khai nhiệm vụ quý III/2017. Các đồng chí Nguyễn Thị Hoa, UVTV, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Văn Úy, UVTV, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị thuộc khối Nội chính tham dự.
Trong quý II, tình hình nội biên, ngoại biên, tôn giáo, phòng chống tham nhũng, phòng chống tội phạm, bảo đảm trật tự giao thông, hoạt động tư pháp, an ninh nông thôn... cơ bản được kiểm soát, bảo vệ tốt.
Các cơ quan, đơn vị thuộc khối Nội chính đã có nhiều cố gắng, nỗ lực và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Nhờ đó, tình hình về tội phạm trên các lĩnh vực cơ bản được ngăn chặn, đẩy lùi, góp phần bảo vệ, giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn toàn tỉnh.
Tuy nhiên, vấn đề về phá rừng, tranh chấp đất đai diễn ra rất phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại một số địa phương. Trên toàn tỉnh đã xảy ra 335 vụ phá rừng, thiệt hại hơn 210 ha rừng tự nhiên và rừng sản xuất. Hiện nay đang có 24 trong số 44 dự án phát triển nông-lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh xảy ra tranh chấp đất giữa người dân với doanh nghiệp, dẫn đến số trường hợp khiếu kiện đông người. Tại khu vực dự án quản lý, bảo vệ rừng của Công ty TNHH Thương mại Nguyên Vũ, thuộc xã Quảng Sơn (Đắk Glong), tình trạng hủy hoại rừng, lấn chiếm đất trái phép diễn ra rất phức tạp.
Trong thời gian tới, các cơ quan nội chính tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động để nâng cao hiệu quả hơn nữa trong việc bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong đó, sẽ tập trung thực hiện các biện pháp để ngăn chặn, xử lý vấn đề phá rừng, tranh chấp và lấn chiếm đất đai; tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là việc giải quyết các vụ việc nổi cộm, kéo dài, phực tạp. Việc đấu tranh đối với các loại tội phạm, các thế lực thù địch cũng sẽ được thực hiện một cách kiên quyết, có hiệu quả cao hơn...(Báo Đăk Nông 26/7) đầu trang(
Tiếp tục chương trình công tác, chiều 25/7, đồng chí Dương Văn Thống - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XIV tỉnh Yên Bái đã có buổi làm việc với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; Đề án phát triển cây sơn tra dưới tán rừng phòng hộ trên địa bàn huyện.
Hiện nay, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu đang quản lý trên 43.600 ha rừng, trong đó có trên 24.100 ha rừng tự nhiên, trên 6.000 ha rừng trồng, còn lại là đất trống.
Trong những năm qua, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện đã làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, mỗi năm trồng mới trên 600 ha rừng các loại. Cùng với đó, Ban đã thực hiện tốt việc chi trả chính sách bảo vệ rừng, phí dịch vụ môi trưởng rừng cho người dân.
Thực hiện Đề án phát triển cây sơn tra, Ban phối hợp với các xã, thị trấn trồng mới được 600 ha sơn tra trong năm 2016. Trong đó, trồng trên đất quy hoạch rừng phòng hộ 200 ha, trên đất quy hoạch cho sản xuất 100 ha và 300 ha trồng dưới tán rừng tự nhiên nghèo kiệt.
Năm 2017, huyện được giao kế hoạch trồng mới 658 ha sơn tra. Hiện nay, nhân dân đã phát băng, cuốc hố, bón phân và trồng được trên 200 ha.
Để thực hiện tốt Đề án phát triển cây sơn tra, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện đã phối hợp với Trung tâm Ứng dụng khoa học công nghệ và Phân viện Tây Bắc Bộ tập huấn kỹ thuật ghép cấy sơn tra, đến nay 8 cán bộ của Ban đã thực hiện thành công kỹ thuật này. Cùng với đó, Ban đã xây dựng nguồn giống sơn tra đảm bảo chất lượng (10 ha rừng sơn tra giống và 12 cây trội đã được công nhận làm cơ sở để thực hiện nhân giống bằng phương pháp ghép).
Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu đề nghị tỉnh sớm cho chủ trương thực hiện ứng dụng phát triển cây sơn tra bằng phương pháp ghép để nâng cao chất lượng rừng trồng sơn tra thay thế nương rẫy, ở những diện tích phù hợp và có điều kiện thâm canh; hỗ trợ kinh phí để Ban chuyển giao kỹ thuật ghép mắt sơn tra cho nhân dân nhằm phát triển cây sơn tra ghép dần thay thế các cây trồng kém hiệu quả trên địa bàn.
Tại buổi làm việc, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Dương Văn Thống và các thành viên đoàn công tác của tỉnh đề nghị lãnh đạo huyện và Ban quản lý rừng phòng hộ làm rõ những vướng mắc liên quan đến công tác tổ chức bộ máy khi chuyển đổi từ Lâm trường sang Ban quản lý; đánh giá hiệu quả thực hiện Đề án phát triển cây sơn tra; tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ được quy hoạch để làm nương rẫy, bãi chăn thả; công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho nhân dân; việc chi trả chính sách bảo vệ rừng và phí dịch vụ bảo vệ môi trường rừng cho người dân, kinh phí hỗ trợ cây sơn tra giống và việc thực hiện phương châm “4 tại chỗ” trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Dương Văn Thống đánh giá cao công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Trạm Tấu. Cùng với việc thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương trong những tháng cuối năm 2017, đồng chí đề nghị huyện cần tiếp tục làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, thực hiện tốt việc trồng rừng mới, nhất là phát triển cây sơn tra.
Huyện cũng cần làm tốt công tác quản lý và khắc phục triệt để tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng phòng hộ để sản xuất nương rẫy, bãi chăn thả; tăng cường công tác quản lý, hạn chế tình trạng khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép.
Đối với các kiến nghị của huyện và Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu, đồng chí đề nghị các ngành chức năng của tỉnh xem xét, giải quyết kịp thời.
Trước đó, đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy cùng đoàn công tác của tỉnh đã đến dâng hương, dâng hoa kính viếng hương hồn các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang liệt sỹ huyện Trạm Tấu. (Yenbai.gov.vn 26/7) đầu trang(
Huyện Như Xuân (Thanh Hóa) trồng mới hơn 1.393 ha rừng sản xuất
Đến hết tháng 6-2017, huyện Như Xuân đã trồng mới hơn 1.393 ha rừng sản xuất, đạt 139,4% kế hoạch; nâng tổng diện tích rừng trồng toàn huyện lên 8.610,5 ha.
Công tác khoanh nuôi bảo vệ và chăm sóc rừng trồng được thực hiện có hiệu quả. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước đạt 257 tỷ đồng, bằng 56% kế hoạch, tăng 16,6% so với cùng kỳ.
Cùng với đó, huyện cũng làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao ý thức trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ rừng, đồng thời tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng, nâng độ che phủ rừng đạt 68,5%, vượt kế hoạch đề ra. Công tác phòng chống cháy rừng, bảo vệ động vật hoang dã trên địa bàn huyện được tăng cường, thực hiện tốt công tác dự tính, dự báo cấp cháy rừng; chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, phương tiện, lực lượng sẵn sàng xử lý tình huống. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện không xảy ra cháy rừng.
6 tháng, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ, lập hồ sơ xử lý 11 vụ vi phạm lâm luật, giảm 11 vụ so với cùng kỳ, tịch thu 18,2m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước 145,22 triệu đồng. (Báo Thanh Hóa 24/7) đầu trang(
Xã Xuân Tầm là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Văn Yên, với 98% dân số là dân tộc Dao. Mặc dù còn những khó khăn, song Xuân Tầm đã và đang phấn đấu thực hiện chương trình phát triển kinh tế đồi rừng nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế của người dân.
Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền xã Xuân Tầm cùng với sự cố gắng của người dân, cuộc sống của bà con nơi đây đang từng bước đổi thay. Nguồn thu nhập chính của nông dân trong xã từ phát triển kinh tế đồi rừng, với tổng diện tích rừng sản xuất trên 4.500 ha thì quế chiếm gần 3.400 ha.
Trong đó, trên 50% diện tích quế đến kỳ khai thác, mỗi năm xuất bán từ 500 - 600 tấn quế vỏ, hàng nghìn tấn cành, lá thu về hàng chục tỷ đồng. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, chính quyền xã đã tích cực vận động người dân, tạo điều kiện về đất trồng, cây giống, đặc biệt là cây quế. Hầu như gia đình nào ở Xuân Tầm cũng trồng quế, nhà ít thì 1 ha, nhà nhiều vài chục héc - ta.
Những gia đình trồng nhiều quế như: ông Triệu Tài Trình ở thôn Khe Lép 1 có trên 20 ha; ông Triệu Văn An ở thôn Khe Chung 3 có 20 ha; ông Đặng Phúc Huyện ở thôn Khe Chung 1 có 25 ha… Nhà xây, xe máy, ti vi, tủ lạnh hay con cái học hành đều từ quế mà ra.
Ông Triệu Văn An ở thôn Khe Chung 3 từng là một trong những hộ khó khăn trong thôn chia sẻ: “Kinh tế gia đình tôi trước kia chỉ trông chờ vào mấy mẫu ruộng chăn nuôi nhỏ lẻ. Trong khi đó gia đình đông con nên cuộc sống rất khó khăn. Từ khi chuyển sang trồng quế, kinh tế gia đình tôi mới khá lên. Hiện giờ, tôi lúc nào cũng duy trì nuôi 15 con lợn trở lên, cùng với 20 ha quế từ 1 - 20 năm tuổi. Mỗi năm từ khai thác quế, chăn nuôi, tôi cũng thu về trên 200 triệu đồng”.
So với các loại cây lâm nghiệp khác thì quế là cây có giá trị kinh tế cao hơn hẳn. Với ưu điểm sống được trên các diện tích đất bạc màu, đất xói mòn và phù hợp với khí hậu nên quế ở Xuân Tầm đã trở thành cây chủ lực để xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương.
Tuy nhiên, tiềm năng và cơ hội đã có nhưng việc phát triển kinh tế đồi rừng của Xuân Tầm vẫn còn không ít khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu do người dân vẫn quen lối canh tác lạc hậu, áp dụng khoa học, kỹ thuật còn nhiều hạn chế, giao thông đi lại ở các thôn, bản xa còn gây khó khăn trong quá trình khai thác, vận chuyển.
Ông Trần Đức Thịnh - Chủ tịch UBND xã cho biết: “Xuân Tầm là một xã còn nhiều khó khăn, cho nên chúng tôi luôn tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện để bà con tích cực xóa đói giảm nghèo. Mỗi năm, có tới 30.000 cây quế giống được hỗ trợ cho các hộ trên địa bàn theo Chương trình 135. Bên cạnh việc chuyển giao khoa học, kỹ thuật để bà con trồng rừng hiệu quả hơn cùng với việc phát triển rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được chính quyền rất chú trọng".
"Chúng tôi đã tích cực phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức các lớp tập huấn cho bà con ở các thôn, bản nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý, khai thác tài nguyên rừng bền vững. Giá trị kinh tế từ cây quế mang lại đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã xuống còn 50,2% đến thời điểm hết năm 2016” - ông Thịnh trao đổi.
Thấy được lợi ích và hiệu quả của cây quế, nên nhiều hộ trong xã tập trung mở rộng diện tích trồng quế. Quế rải khắp 20 thôn, bản; trong đó, tập trung nhiều nhất ở các thôn: Khe Chung 1, Khe Lép 1, Khe Đóm 1, Khe Chung 3, Khe Lép 2...
Đặc biệt, các thôn như Khe Chung 3 và Khe Lép 2 chỉ có hơn 5 ha ruộng nước, nhưng mỗi thôn có trên 200 ha quế. Đầu ra của sản phẩm quế cơ bản đều được các tiểu thương, doanh nghiệp thu mua và chế biến. Hợp tác xã Bách Lâm thu mua cành, lá, chế biến tinh dầu đóng ngay trên địa bàn xã. Đối với sản phẩm quế vỏ khô, xã cũng đã liên kết với Công ty Hương gia vị Sơn Hà (Bắc Ninh) để thu mua nhằm giữ giá cả ổn định và giúp nhân dân về kỹ thuật trồng quế, phát triển vùng nguyên liệu quế ổn định và bền vững.
Có thể thấy, những năm qua, chính quyền và nhân dân xã Xuân Tầm đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để tập trung sản xuất phát triển kinh tế đồi rừng. Phát huy tiềm năng và lợi thế về phát triển kinh tế đồi rừng chính là hướng đi đúng đắn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương. (Báo Yên Bái 24/7) đầu trang(
Để có được trên 9.000 ha rừng nguyên liệu giấy hiện nay, Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam (tiền thân là Công ty giấy Đồng Nai) đã trải qua rất nhiều thăng trầm, dâu bể…
Đã có đến 23 cán bộ, công nhân của công ty vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất vùng rừng núi cực Bắc Tây Nguyên này. Những ký ức về một thời gian khó như tiếp thêm động lực cho cán bộ, công nhân của công ty vượt qua thử thách để giữ lấy thành quả ấy...
Năm 2000, Công ty Nguyên liệu giấy Đồng Nai bắt đầu mở vùng nguyên liệu, trồng rừng ở tỉnh Kon Tum. Hơn 17 năm qua, để có được trên 9.000 ha rừng nguyên liệu giấy hôm nay, công ty đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, gian khó để trồng và giữ rừng. Bom mìn còn xót lại của chiến tranh, nước lũ, mưa nguồn, muỗi rừng, vắt suối…đã cướp đi tính mạng của 23 cán bộ, công nhân của công ty. Sự nghiệp trồng rừng đã in đậm dấu ấn của quá khứ khốc liệt nhưng đấy cũng chính là động lực để hàng trăm kỹ sư, cán bộ, công nhân của công ty bám rừng, bám đất, bạt núi, mở đường trên khắp 8 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Kon Tum, đưa cây thông 3 lá phủ xanh những vùng đất trơ trọi, hoang vu do chất độc đi-ô-xin của đế quốc Mỹ đã làm tàn lụi mọi gốc cây, ngọn cỏ trên đất rừng Kon Tum.
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm Giám đốc Tống Hữu Chân nhớ lại, vượt qua gian khó, từ năm 2000 đến 2004 công ty đã trồng được gần 17.000 ha rừng nguyên liệu giấy. Rừng đang phát triển tốt thì gặp phải khó khăn do không còn vốn để phát dọn thực bì, vì số rừng trồng đến năm thứ 3 thì hết quy trình chăm sóc theo quy định của Tổng Công ty giấy Việt Nam. Đất Tây Nguyên 6 tháng mùa khô không một giọt mưa, khắc nghiệt nên mùa khô năm 2003 - 2004, hơn 1.600 ha rừng của công ty bị lửa thiêu rụi. Rừng bị cháy kết hợp với việc nhà máy bột giấy Kon Tum ngừng xây dựng khiến việc giải ngân vốn cho công ty chăm sóc, bảo vệ và phòng chống cháy rừng hầu như ngừng trệ.
Không có tiền lo cho rừng, nguy cơ cháy luôn rình rập, công ty lâm vào cảnh khốn khó. Trong tổng số 232 cán bộ, công nhân của công ty có trên 100 người xin chuyển hoặc xin nghỉ việc, trong đó có gần 40 kỹ sư lâm nghiệp và cán bộ kỹ thuật. Phó Bí thư Đảng ủy Phạm Văn Hà nhớ lại: “Khi ấy nghĩ đến mùa khô, với nguy cơ hàng trăm tỷ đồng của Nhà nước bỏ vào rừng sẽ tiếp tục bị cháy mà xót xa, cám cảnh. Đây là thời điểm nguy nan nhất, khó khăn nhất của những người trồng rừng nguyên liệu giấy Kon Tum”.
Việc cháy rừng, mất rừng nguyên liệu giấy ở Kon Tum đã nhiều lần được đặt lên bàn nghị sự của Chính phủ. Bộ Công nghiệp lúc ấy đã chỉ đạo Tổng Công ty giấy phải kiên quyết giữ lấy gần 14.000 ha rừng còn lại. Công ty giấy Đồng Nai cùng lúc đó được chuyển đổi thành Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam với việc chuyển trụ sở đặt đại bản doanh chỉ huy tại tỉnh Kon Tum.
Chiếc ghế giám đốc của công ty này luôn “nóng” không kém gì sức nóng của lửa rừng. Đã có hai vị giám đốc xin “thoái vị” chiếc ghế nóng này. Năm 2005, Tổng Công ty giấy Việt Nam điều động một vị ở Vĩnh Phúc vào làm giám đốc thì cũng chỉ gần hai năm sau, vị giám đốc này cũng “cáo lui” xin thôi để trở lại Phú Thọ. Tống Hữu Chân từ Kế toán trưởng được tín nhiệm giao chức phó giám đốc rồi hơn một năm sau trở thành giám đốc. Trưởng thành từ công nhân rồi đến kế toán, Tống Hữu Chân đã gắn bó, đắm mình với công ty từ những ngày đầu gian khó. Nhìn thấy rừng bị cháy, người lao động bị mất việc làm anh không nỡ.
Anh tâm sự: “Biết là khó, cực kỳ khó khăn nhưng anh em, tổ chức tín nhiệm chẳng lẽ mình lại thoái thác. Hơn nữa mình là đảng viên lại nguyên là người lính mà đứng nhìn rừng bị mất từng ngày hay sao! Mình không được vô trách nhiệm khi hàng trăm tỷ đồng của Nhà nước đã đổ vào rừng rồi. Phải giữ lấy không còn con đường nào khác”.
Cùng với việc ngược xuôi lo tiền đầu tư tiếp cho rừng, Giám đốc Tống Hữu Chân và ban lãnh đạo lặn lội hết từng hang cùng, ngõ hẻm ở những vùng sâu như: Sa Thầy, Đak Tô, Ngọc Hồi, Tu Mơ Rông…để đánh giá, khảo sát thực trạng của rừng. Địa hình ở Kon Tum rất khó khăn, cách trở, với độ cao so với mặt nước biển từ 1.100 mét đến 1.300 mét, núi đồi chia cắt, đất dốc đồi cao, nơi xa trụ sở công ty nhất đến trên 100 km. “Nếu không sát, không lội hết rừng thì rất khó biết thực trạng để quản lý” - Giám đốc Chân tâm sự. Anh kêu gọi anh em xốc lại đội ngũ, bàn cách giữ lấy rừng. Cũng có một số ít người xin chuyển khỏi công ty vì chưa tin vào sự thành công của cơ chế mới, cách quản lý mới do Giám đốc Chân đưa ra. Đứng trước hàng trăm cán bộ, công nhân viên của công ty, giám đốc Chân dõng dạc: “Bây giờ là lúc chúng ta phải đoàn kết, chung sức lại để giữ lấy rừng, giữ lấy chính cuộc sống của chúng ta. Ai vì sự nghiệp chung, vì rừng thì hãy ủng hộ tôi…”
Sự tâm huyết, lăn xả vào công việc của giám đốc khiến mọi người dần thay đổi suy nghĩ, ủng hộ và tiếp tục bám rừng cùng ban giám đốc. Sự năng động, mạnh dạn quyết đoán của Tống Hữu Chân đã làm cho diện mạo của công ty có sức sống mới.
Để có tiền có vốn tiếp sức cho rừng, Tống Hữu Chân phải tất tả ngược xuôi đến các Bộ, ngành chức năng để thuyết phục, bảo vệ các phương án giữ rừng của mình. Công ty được Bộ Công thương phê duyệt dự án phòng cháy chữa cháy với kinh phí trên 27 tỷ đồng. Dự án đã được triển khai với việc xây dựng 400 bể nước, 20 lán trại trực chỉ huy phòng chống cháy, rà ủi khoảng 700 km đường cơ giới, đường ray cản lửa, đường bao lô, mua sắm dụng cụ, ống nước… để phục vụ công tác phòng , chữa cháy rừng. Tất cả đã và đang được đồng loạt triển khai trên những cánh rừng nguyên liệu giấy của tỉnh Kon Tum.
Luôn trẻ trung, xởi lởi với mọi người là phong cách sống hằng ngày của vị giám đốc 53 tuổi này. Khi mới nhận chức giám đốc, mọi người trong công ty chưa tin vì khả năng xốc lại đội ngũ để chống lại lửa rừng. Nhưng đến hôm nay, mọi việc đều đã thay đổi. Tiếp xúc với nhiều cán bộ, công nhân của công ty mọi người đều đánh giá cao tinh thần trách nhiệm thực tiễn đến lối sống bình dị, sâu sát nhưng cũng kiên quyết của Tống Hữu Chân.
Từ các trưởng phòng thuộc cấp như Nguyễn Nhã Hoàng, Nguyễn Trung Trực, Hà Bá Hường, Cao Vinh Quang… đến các trưởng ban và các Phó giám đốc Phạm Văn Hà, Võ Đình Lợi đều cho rằng: May mắn cho công ty khi đã lựa chọn được một giám đốc biết cách quản lý, sát người, sát việc, thấu lý, đạt tình và luôn lắng nghe, đối thoại để tìm ra giải pháp tốt nhất, chung tay giữ lấy sự nghiệp rừng nguyên liệu giấy của công ty.
Cuối năm 2014, một sự kiện làm nức lòng cán bộ, đảng viên và người lao động công ty. Đó là việc Tổng Công ty Giấy Việt Nam đã quyết định xây dựng nhà máy sản xuất ván Vener tại xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô do công ty quản lý. Nhà máy có công suất thiết kế 12.000 m3 ván vơ nia/năm với nguyên liệu đầu vào là số gỗ tỉa thưa hàng năm trên phần diện tích rừng thông trên 9.000 ha của công ty nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng trồng, tạo điều kiện cho rừng phát triển, giải quyết việc làm và thu nhập cho nhân dân huyện Đăk Tô. Đảng bộ công ty cũng vừa nhận cờ đơn vị 5 năm liền trong sạch vững mạnh tiêu biểu của Tỉnh ủy Kon Tum khen tặng. Bí thư Đảng ủy Tống Hữu Chân 12 năm liền đạt danh hiệu đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Hôm nay, những người đến với Công ty Nguyên liệu giấy Miền Nam đều nhận thấy, có một ngọn lửa đang cháy, nhưng không phải là ngọn lửa rừng mà là ngọn lửa lòng nhiệt huyết của Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch kiêm giám đốc Tống Hữu Chân đang cùng với những người lao động ở vùng cực bắc Tây Nguyên này giữ rừng, giữ lấy nguồn nguyên liệu chính để phục vụ cho công nghiệp sản xuất giấy và những ngành phụ trợ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum và những vùng lân cận. (Doanh Nhân & Pháp Luật 25/7) đầu trang(
Từ năm 2005 đến nay, tỉnh Bắc Kạn đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 12 doanh nghiệp trồng rừng với diện tích đất lên tới hơn 20.000ha, tổng mức đầu tư trên 1.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, qua đánh giá thưc tế, đến nay kết quả thực hiện dự án trồng rừng của các doanh nghiệp vẫn còn thấp.
Trong tổng số 12 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng thì chỉ có 4 doanh nghiệp có trồng rừng; 3 doanh nghiệp không trồng được cây nào còn 5 doanh nghiệp thậm chí còn bị rút giấy chứng nhận đầu tư do rất nhiều vi phạm. 4 doanh nghiệp thực hiện dự án trồng rừng, đó là Công ty TNHH Phúc Lộc, Công ty Cổ phần Điện và Gỗ Bình Minh Bắc Kạn, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn, Công ty TNHH một thành viên xuất khẩu Thành Đạt.
Tuy nhiên diện tích trồng rừng của các doanh nghiệp này còn rất khiêm tốn, tiến độ quá chậm so với giấy chứng nhận đầu tư được cấp. Công ty TNHH Phúc Lộc được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư từ năm 2010, đến nay mới trồng được 60ha, bằng 9,33% quy mô dự án; Công ty cổ phần điện và gỗ Bình Minh được cấp giấy chứng nhận đầu tư trồng rừng năm 2010, đến nay trồng được gần 300ha, bằng 2,71% quy mô dự án. Khá hơn cả là Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bắc Kạn thực hiện trồng được gần 3.000ha rừng, bằng 40% so với quy mô dự án. (Đài PTTH Bắc Kạn 25/7) đầu trang(
Theo kế hoạch trong năm 2017, huyện Kbang sẽ trồng hơn 683 ha rừng sản xuất với 1.124 hộ dân tham gia, trong đó chủ yếu là hộ nghèo và cận nghèo, hộ người Bahnar. Không chỉ góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, trồng rừng sản xuất còn tạo nguồn thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nghèo ở Kbang.
Huyện Kbang hiện có khoảng 126,5 ngàn ha rừng, trong đó có 3.925 ha rừng trồng. Theo kế hoạch UBND tỉnh giao năm 2017, huyện Kbang phải hoàn thành gieo trồng 678 ha rừng, trong đó trồng rừng sản xuất 618 ha và trồng cây phân tán 60 ha (tương ứng 60.000 cây). Sau khi rà soát tình hình thực tế, huyện đã thống nhất sẽ thực hiện vượt kế hoạch UBND tỉnh giao. Cụ thể, từ nguồn vốn ngân sách huyện và vốn từ các chương trình, dự án, huyện sẽ trồng 683,73 ha rừng sản xuất với tổng số 1.124 hộ dân được hưởng lợi. Ngoài ra, Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Lơ Ku cũng trồng khoảng 105 ha rừng sản xuất trên lâm phần của đơn vị.Ngay sau khi thống nhất chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng, huyện Kbang đã phân bổ, giao chỉ tiêu cho các xã, thị trấn, đồng thời chỉ đạo rà soát nguồn vốn sự nghiệp nông nghiệp huyện năm 2017 để bố trí vốn thực hiện trồng rừng. Theo kế hoạch, thời gian thực hiện trồng rừng sẽ bắt đầu từ tháng 7 và kết thúc trong tháng 9-2017. Kinh phí huy động cho việc trồng rừng được sử dụng từ nhiều nguồn vốn khác nhau. Trong đó, chủ yếu là từ nguồn vốn sự nghiệp nông nghiệp huyện năm 2017 hỗ trợ với quy mô 778 hộ, tổng diện tích trồng rừng là 535,35 ha (474,84 ha keo lai, 44,11 ha bời lời đỏ và 16,3 ha bạch đàn). Từ nguồn hỗ trợ này, trung bình mỗi gia đình, cá nhân được hỗ trợ tối đa không quá 1 ha. Các hộ dân đăng ký trồng rừng trong phương án được phê duyệt tự liên hệ đơn vị cung ứng cây giống đủ năng lực, đảm bảo chất lượng, giá cả hợp lý để mua cây giống. Định mức hỗ trợ cây giống là 1.600 đồng/cây đối với cây keo lai hom và bạch đàn, 2.000 đồng/cây đối với cây bời lời đỏ.
Ngoài nguồn hỗ trợ trích từ ngân sách huyện, đối với tiểu khu 152, xã Nghĩa An sẽ được nhận hỗ trợ trồng rừng theo Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg với 27 hộ dân được hưởng lợi, tổng diện tích rừng trồng là 13,48 ha, tổng kinh phí trên 101 triệu đồng. Bên cạnh đó, từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới sẽ hỗ trợ cho 319 hộ dân thuộc các xã: Krong, Kon Pne, Tơ Tung với tổng diện tích trồng rừng là 135 ha, trong đó có 66,5 ha keo, 68,2 ha bời lời đỏ và 0,3 ha bạch đàn. Riêng phần thực hiện trồng cây phân tán sẽ giao về cho tất cả các xã, thị trấn để trồng tại khuôn viên công sở, trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa xã và dọc một số tuyến đường trục xã, thôn, làng…
Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Lơ Ku-đơn vị được giao khoán trồng 105 ha rừng sản xuất hiện đang đẩy nhanh tiến độ phát dọn thực bì để chuẩn bị tháng 8 tới sẽ tiến hành trồng rừng. Ông Trần Văn Trị-Giám đốc Công ty, cho biết: “Do thời tiết mưa nhiều nên công nhân chỉ tranh thủ ngày nắng ráo mới có thể phát dọn thực bì. Tuy nhiên, mưa nhiều sẽ là điều kiện thuận lợi cho cây sau khi trồng. Về công tác chuẩn bị cây giống, công ty đã ký hợp đồng với đơn vị cung ứng để nhập về khoảng 300.000 cây keo lai hom. Theo kế hoạch, việc trồng rừng sẽ được hoàn tất trong tháng 9”.
Hỗ trợ trồng rừng sản xuất không chỉ góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, đặc biệt là tại những vị trí đất khó có khả năng canh tác hiệu quả như: đất có độ dốc lớn, bị rửa trôi, bạc màu… mà còn tạo nguồn thu nhập, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ dân tộc Bahnar. Ngoài ra, việc trồng các loại cây xanh phân tán còn góp phần tạo cảnh quan xanh, sạch, đẹp, văn minh cho khu dân cư, công sở, trường học.
Đánh giá về công tác trồng rừng năm nay, ông Mã Văn Tình-Phó trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Kbang, nhận định: “Năm nay có mưa sớm với lượng mưa khá cao, rải đều sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác trồng rừng trên địa bàn, đảm bảo đúng tiến độ đề ra. Các loại cây dùng trồng rừng sản xuất đều có tính thích nghi cao với thổ nhưỡng, khí hậu địa phương, lại dễ canh tác nên người dân sẽ dễ dàng tiếp cận và làm chủ vườn rừng trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, sự quan tâm, vào cuộc nhiệt tình, trách nhiệm của các địa phương cũng như cơ quan chuyên môn đối với công tác trồng rừng trên địa bàn huyện cũng góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện”. (Báo Gia Lai 26/7) đầu trang(
Ngày 26/7, Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã tổ chức họp, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ quý II và triển khai nhiệm vụ quý III năm 2017. Đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, chủ trì cuộc họp.
Trong quý II, Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đã đàm phán với 11 đơn vị cung ứng nước sinh hoạt ký phụ lục hợp đồng về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ủy nhiệm chi và hướng dẫn Hạt Kiểm lâm các huyện, thành phố, Ban quản lý rừng đặc dụng thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các chủ rừng với tổng số tiền hơn 38 tỷ đồng. Bàn giao hồ sơ thiết kế và hiện trường trồng rừng thay thế năm 2017 cho Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Mê, Ban quản lý rừng đặc dụng Du Già. Thu tiền DVMTR lũy kế từ năm 2016 đến nay là gần 85 tỷ đồng; đã chi cho chủ rừng và hộ nhận khoán hơn 38 tỷ đồng. Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên.
Qua đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng cơ bản thực hiện tốt, tổng diện tích rừng được giao khoán bảo vệ và nhận tiền chi trả DVMTR 6 tháng đầu năm nay là hơn 275.000 ha, chiếm 61,8% diện tích rừng toàn tỉnh. Đã thực hiện trồng được trên 130 ha rừng thay thế, đạt 58% kế hoạch.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi họp, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Minh Tiến yêu cầu Chi cục Kiểm lâm tỉnh cần chấn chỉnh lại công tác chi trả DVMTR của các Hạt Kiểm lâm. Giao cho Quỹ tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các huyện có trách nhiệm chủ trì, lồng ghép các nguồn vốn hỗ trợ người dân. Rà soát lại quy định quản lý quỹ tại các thôn, đảm bảo tiền DVMTR chỉ trả vào đúng mục đích bảo vệ rừng. Cần lập kế hoạch kiểm tra, giám sát năm 2017; yêu cầu ban kiểm soát các huyện báo cáo kết quả trong 6 tháng đầu năm và phương án kiểm soát quỹ 6 tháng cuối năm. Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức hội nghị giao ban trực tuyến từ tỉnh đến huyện, xã và các thôn để tháo gỡ những vướng mắc ở cơ sở. Một số huyện còn chậm trồng rừng thay thế cần tăng cường tiến độ trồng rừng. Quỹ cần xây dựng quy chế phối hợp hoạt động với chính quyền địa phương và các Hạt Kiểm lâm. Từng bước nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn được chi trả DVMTR. (Hagiang.gov.vn 26/7) đầu trang(
Phát triển rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho các hộ gia đình, mà còn giúp giảm xói mòn, rửa trôi đất… góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và chống biến đổi khí hậu.
Hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ đã được khẳng định qua mô hình “Chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn” (keo lai và keo tai tượng) do Vụ Phát triển rừng, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2014 - 2016.
Dự án “Trồng rừng thâm canh gỗ lớn (keo lai, keo tai tượng) và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn” thuộc dự án Khuyến nông Trung ương do Vụ Phát triển rừng chủ trì được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016 tại các địa phương Yên Bái, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Đăk Nông với quy mô chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn 350ha (trong đó 140ha keo lai, 210ha keo tai tượng).
Theo báo cáo tổng kết dự án của Tổng cục Lâm nghiệp, tổng diện tích xây dựng mô hình là 370/350ha (đạt 105,7% kế hoạch), tại 28 xã, thuộc 24 huyện, 155 hộ tham gia xây dựng mô hình.
Th.S Nhữ Văn Kỳ, Chủ nhiệm dự án cho biết, mô hình chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn được chọn đúng đối tượng về loài cây, điều kiện lập địa, tuổi cây, nguồn gốc giống và tình hình sinh trưởng của rừng trước khi tác động chuyển hóa. Các biện pháp kỹ thuật chuyển hóa rừng thực hiện đúng theo quy trình được phê duyệt; các chỉ số sinh trưởng về đường kính, chiều cao, trữ lượng, năng suất bình quân/năm của mô hình đều vượt trội so với rừng trước khi chuyển hóa và rừng trồng không chuyển hóa cùng lập địa trong khu vực. Đường kính bình quân cao hơn 38%, trữ lượng bình quân cao hơn 10%, năng suất cao hơn 32,1% so với rừng không chuyển hóa.
Không chỉ tăng năng suất, mô hình trồng rừng gỗ lớn và chuyển rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn còn mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với trồng rừng kinh doanh gỗ nhỏ.
Theo đánh giá của Th.S Nhữ Văn Kỳ, so với trồng rừng gỗ nhỏ, lợi nhuận từ rừng gỗ lớn cao hơn nhiều lần tuỳ theo tuổi khai thác và đường kính cây. Chỉ tính riêng đối với loại cây trồng phổ biến là cây keo, đến năm thứ 6 vẫn còn là rừng trồng gỗ nhỏ nên chỉ có thể bán làm dăm gỗ, gỗ mỏ, giá trị đạt khoảng 80 triệu đồng/ha, thu nhập bình quân từ 12 - 15 triệu đồng/ha/năm.
Thế nhưng, khi trở thành rừng trồng gỗ lớn, tức là cây sau 10 - 14 năm trồng mới tiến hành khai thác, sản lượng đạt từ 200 - 240m3/ha và hầu hết các cây đã đạt đường kính trên 18cm, chiếm 50% trữ lượng khoảng 100 - 120m3/ha. Lúc đó, rừng sẽ được bán theo giá gỗ xẻ, gỗ chế biến với giá trị từ 1,8 - 2 triệu đồng/m3, tức là khoảng 250 - 300 triệu đồng/ha, lợi nhuận bình quân từ 22 - 25 triệu/ ha/năm, cao gấp hơn 1,5 lần giá trị rừng gỗ nhỏ và cao hơn giá trị kinh tế đối với rừng trồng gỗ lớn khác như thông, quế, sa mộc, lim xanh...
Ông Kỳ chia sẻ, ban đầu triển khai dự án trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng cung cấp gỗ nhỏ sang gỗ lớn, người dân không khỏi nghi ngờ về tính khả thi của dự án, bởi lâu nay phương thức trồng rừng gỗ nhỏ đã ăn sâu trong nếp nghĩ của người dân. Nhờ tích cực tuyên truyền vận động, cùng với sự hỗ trợ ban đầu của dự án về cây giống, phân bón, kỹ thuật chăm sóc, canh tác thông qua các buổi tập huấn, người dân đã dần hiểu và thấy được lợi ích của việc thâm canh rừng gỗ lớn và chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang trồng gỗ lớn.
Ông Trần Văn Hoành ở xã Xuân Du, huyện Như Thanh, Thanh Hóa phấn khởi cho biết: "Ban đầu tôi và nhiều hộ dân cũng khá nghi ngại để đăng ký tham gia mô hình, bởi vì chu kỳ trồng rừng gỗ lớn kéo dài từ 12 - 14 năm, gấp 2 lần so với chu kỳ trồng rừng thông thường. Tuy nhiên, sau khi được cán bộ Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa nhiệt tình hướng dẫn, giải thích về hiệu quả của rừng trồng gỗ lớn và nhận những hỗ trợ thiết thực như phân bón NPK 360kg/ha để bón chăm sóc cho cây, nên gia đình đã mạnh dạn chuyển đổi 5,1/8,6ha rừng sang trồng rừng gỗ lớn. Tuy rừng chưa đến chu kỳ thu hoạch, nhưng sau 2 năm chuyển hóa, mô hình đã cho thấy sự khác biệt và mang lại hiệu quả. Khi khai thác tỉa, gia đình đã tỉa thưa khoảng 3.000 cây, sản lượng 125m3, bán được 125 triệu đồng sau khi đã trừ chi phí khai thác và chăm sóc rừng còn lại 20 triệu đồng/ha".
Ông Lê Mơ ở xã Thanh Lâm, huyện Ba Chẽ, Quảng Ninh cho biết, gia đình ông nhận 100ha rừng, trong đó có 10ha rừng đang giai đoạn khép tán, chuẩn bị khai thác. Sau khi nghe cán bộ Trung tâm Khuyến nông Quảng Ninh tuyên truyền về lợi ích và giá trị kinh tế của rừng gỗ lớn, gia đình ông đã mạnh dạn chuyển đổi 5ha sang rừng kinh doanh gỗ lớn. Ông tiến hành chặt tỉa thưa những cây gỗ nhỏ, còi cọc, sâu bệnh, sinh trưởng kém để lại khoảng 600 - 700 cây để lấy gỗ lớn, sau đó trồng bổ sung cây ba kích dưới tán rừng.
Dự án “Xây dựng mô hình trồng rừng thâm canh và chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ cung cấp gỗ lớn giai đoạn 2014 - 2016” đã đạt được những mục tiêu đề ra, góp phần nâng cao nhận thức cho người dân về hiệu quả phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn. Đặc biệt đối với các địa phương tham gia xây dựng mô hình, người dân được trang bị những kiến thức và kỹ năng cơ bản về trồng rừng thâm canh và chuyển hóa rừng trồng cung cấp gỗ lớn, tạo điều kiện và thúc đẩy việc phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn trên phạm vị toàn quốc.
Theo thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp, tính đến hết năm 2016, cả nước đã trồng thâm canh được 140.713ha rừng cung cấp gỗ lớn. Một số địa phương có diện tích trồng lớn như: Thanh Hóa 16.600ha, Quảng Trị 3.833ha, Bắc Giang 3.428ha; Chuyển hóa rừng được 26.408ha, tiêu biểu như Quảng Trị 11.452ha, Thanh Hóa 400ha, Thừa Thiên - Huế 429ha...
Theo Th.S Nhữ Văn kỳ, điều kiện và khả năng nhân rộng mô hình chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn trong thời gian tới là rất khả thi, trên cơ sở phát huy tiềm năng về diện tích trồng rừng sản xuất hàng năm rất lớn (từ 190.000 - 200.000ha/năm), trong đó diện tích trồng lại sau khai thác (khoảng 130.000ha/năm) là đối tượng rất thích hợp để chuyển đổi mục đích kinh doanh rừng, đồng thời Việt Nam đã kết thúc cơ bản đàm phán hiệp định VPA/FLEGT với EU. Gỗ, đồ mộc, đồ gia dụng của Việt Nam đã vào được thị trường khó tính này là điều kiện để nâng giá gỗ lên cao trong thời gian tới.
Để nhân rộng mô hình công tác tuyên truyền về hiệu quả kinh tế về trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa rừng trồng cần được tăng cường kết hợp thực hiện chủ trương xã hội hóa các nguồn lực và sự hỗ trợ của nhà nước cùng các chính sách hỗ trợ đi kèm như bảo hiểm rừng trồng, hỗ trợ tín dụng… để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng trồng cung cấp gỗ lớn.
Với những kết quả khả quan mang lại từ dự án, việc nhân rộng triển khai mô hình tại các địa phương có lợi thế về phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là các tỉnh còn gặp nhiều khó khăn sẽ góp phần gia tăng thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo cho bà con các dân tộc vùng vùng cao. (Nông Nghiệp VN 26/7) đầu trang(./.
|
|||