|
Ngày 25 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Pù Hu trực thuộc Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Pù Hu đóng trên địa bàn huyện Quan Hóa đã triển khai có hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, các trạm, kiểm lâm viên phụ trách tiểu khu đã phối hợp cùng các tổ đội bảo vệ rừng tại các thôn, bản gần rừng đặc dụng tổ chức được 598 lần tuần tra, kiểm tra rừng tại các tiểu khu được giao phụ trách, tập trung chủ yếu vào các tiểu khu còn giàu tài nguyên, có nguy cơ xảy ra khai thác, cháy rừng cao. Qua kiểm tra cho thấy an ninh rừng cơ bản ổn định, không phát hiện có tụ điểm, điểm nóng về khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, không có cháy rừng xảy ra.
Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra việc khai thác gỗ nhỏ lẻ để làm nhà, làm quan tài và tình trạng người dân vào rừng thu hái lâm sản phụ và săn bắn động vật hoang dã trái phép, nguy cơ cháy rừng còn nhiều tiềm ẩn. Trong quá trình tuần tra, kiểm tra, đơn vị đã xử lý 10 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng về khai thác rừng trái phép; xử lý hành chính nộp ngân sách Nhà nước 46,5 triệu đồng; tịch thu 0,713 m3 gỗ xẻ nhóm IV đến nhóm VI và 1,065 m3 gỗ tròn nhóm VI.
Hiện Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Pù Hu đang tập trung cao cho công tác quản lý nương rẫy và phòng, chống cháy rừng, nhất là tại các điểm trọng điểm cháy. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra rừng để ngăn chặn, chống chặt phá, khai thác gỗ trái phép, săn bắn động vật hoang dã; huy động sự tham gia của cộng đồng vào tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng. Thực hiện nghiêm túc việc sử dụng GPS trong tuần tra, kiểm tra rừng. (Báo Thanh Hóa 23/7) đầu trang(
Mặc dù, có nhiều sự quan tâm của các cấp các ngành và sự nỗ lực của những người kiểm lâm nhưng hiện nay lực lượng còn thiếu hụt khá lớn, trang thiết bị cho việc tuần tra, bảo vệ rừng còn hạn chế, dẫn tới công tác bảo vệ và phát triển rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Toàn tỉnh có gần 600.000 ha rừng trong đó rừng đặc dụng có diện tích khoảng 80.000 ha. Theo Nghị định 119 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm lâm, thì cứ gần 1.000 ha rừng phòng hộ phải có 1 kiểm lâm viên và 500 ha rừng đặc dụng cần 1 kiểm lâm viên phụ trách. Như vậy, tỉnh Sơn La cần khoảng gần 600 biên chế cho lực lượng kiểm lâm chưa bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, văn phòng, tuy nhiên đến nay số lượng này mới chỉ khoảng trên 400, trong đó kiểm lâm phụ trách địa bàn mới chỉ có khoảng 230 người.
Ông Phạm Ngọc Cừ- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La: Nếu theo quy định của chính phủ thì định mức giữa diện tích rừng và biên chế, thì bình quân cứ 1.000 ha rừng có 1 biên chế, còn với rừng đặc dụng và khu bảo tồn là 500 ha. Nếu như vậy với tỉnh Sơn La có gần 80.000ha rừng đặc dụng thì chúng ta cần 160 kiểm lâm, còn lại là 520 biên chế, như vậy là cần khoảng 600 kiểm lâm nữa. Nhưng hiện nay biên chế của lực lượng kiểm lâm mới chỉ đáp ứng được 67% so với định mức của Chính phủ.
Xã Chiềng Xuân và Xuân Nha huyện Vân Hồ có trên 11.000 ha rừng nằm trọn trong rừng đặc rụng Xuân Nha. Đây chủ yếu là rừng lõi với nhiều loại gỗ quý hiến như pơ mu, xa mu, xa mộc, chò chỉ, thông… Để bảo vệ tốt diện tích rừng, kiểm lâm phụ trách địa bàn đã thường xuyên phối hợp với các cấp chính quyền cơ sở, cùng các lực lượng chức năng đứng chân trên địa bàn thường xuyên tuần tra, kiểm tra các các khu rừng đặc biệt là những khu vực cửa rừng có đông người qua lại. Đồng thời, tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ và phát triển rừng của các chủ rừng và những người dân sống gần rừng. Qua đó, giúp người dân hiểu hơn về trách nhiệm của mình từ đó giữ vững diện tích rừng hiện còn.
Ông Mùa A Thào- Trưởng bản Khò Hồng, xã Chiềng Xuân, Vân Hồ, Sơn La: Vai trò của kiêm lâm phụ trách địa bàn, có đồng chí kiểm lâm địa bàn về phối hợp cùng ban quản lý bản với bà con nhân dân trong các cuộc họp có kiểm lâm xuống tuyên truyền cho bà con về trách nhiệm bảo vệ rừng, qua đó thì bà con cũng hiểu rất nhiều về rừng nên giữ rừng rất tốt.
Trong những năm qua, trên địa bàn 2 xã Chiềng Xuân và Xuân Nha không xảy ra những sự việc trọng điểm nào về vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Có được kết quả đó, một phần là nhờ sự đóng góp thầm lặng của những người kiểm lâm phụ trách địa bàn, khi không ngại gian khổ, giữ vững từng ha rừng. Tuy nhiên, việc quản lý 11.000 ha rừng mà chỉ có 2 kiểm lâm viên phụ trách, cùng với việc các đối tượng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày càng tinh vi, manh động nên việc quản lý diện tích rừng còn gặp nhiều khó khăn.
Chị Hà Thị Duyên- Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Chiềng Xuân, Xuân Nha, Hạt kiểm lâm rừng Đặc dụng Xuân Nha: Đây là địa hình miền núi, đi lại hiểm trở, khó khăn trong khi đó các đối tượng lâm tạc càng ngày càng tinh vi, có đầy đủ các phương tiện. Hơn nữa, trong địa bàn có người dân sinh sống trong rừng đặc dụng chủ yếu là người mông nhận thức và học vấn còn kém lên ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng đặc dụng. Xuất phát từ những khó khăn đó thì các đồng chí trong tổ trạm cũng như tôi luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ luôn đi tuần tra kiểm tra vận động từng bản, tuyên truyền vận động người dân nâng cao nhận thức bảo vệ rừng. Tổ trạm cũng phối hợp với các cơ quan chuyên môn tuần tra, tuyên truyền nhờ đó công tác bảo vệ rừng tốt hơn. Tôi xin kiến nghị với cơ quan cấp trên hỗ trợ phương tiện tuần tra, thông tin liên lạc với người dân ở vùng núi mở rộng hơn, tuyên truyền thuận lợi hơn.
Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha quản lý gần 19.000 ha rừng nằm trải dài trên 4 xã thuộc 2 huyện Mộc Châu và Vân Hồ. Đây là khu vực có địa hình hiểm trở, nhiều núi cao, vực sâu, lại giáp ranh với tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình và biên giới với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nên việc tuần tra bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn. Hiện nay, Hạt có 24 biên chế bảo gồm cả viên chức quản lý, văn phòng, trong đó 6 cán bộ biệt phái tại các đơn vị khác, lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn chỉ có 8 người cùng phương tiện hỗ trợ thô sơ dẫn tới việc quản lý, bảo vệ rừng, tuyên truyền vận động nhân dân còn nhiều hạn chế.
Ông Bàn Đức Quang – Phó hạt trưởng hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha: Diện tích rừng 18.000 ha rất nhiều đường lối có thể khai thác, vân chuyển gỗ ra được, nên chúng tôi chỉ có 18 biên chế trong đó chỉ có 8 kiểm lâm phụ trách địa bàn, quản lý rừng dài 50 km, trong đó dân sống ở nơi có rừng được chúng tôi thường xuyên tổ chức cho cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn tuyên truyền, thường xuyên tuần tra bảo vệ không xảy ra tình trạng phá rừng. Cũng mong cấp trên quan tâm hơn nữa bố trí biên chế cho hạt đặc dụng Xuân Nha.
Huyện Sốp Cộp có diện tích rừng khá lớn khoảng gần 67.000 ha, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên hiện nay trên địa bàn toàn huyện chỉ có 7 kiểm lâm phụ trách địa bàn. Do lực lượng quá mỏng, một công chức kiểm lâm cùng lúc phải phụ trách địa bàn nhiều xã, diện tích theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp có nơi hơn 10.000ha. Ngoài nhiệm vụ thường xuyên, hầu hết kiểm lâm viên phụ trách địa bàn đang phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác trong hoạt động kiểm tra, thanh tra, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Anh Nguyễn Văn Hữu- Kiểm lâm phụ trách địa bàn xã Nậm Lạnh, Mường Và, Hạt kiểm lâm Sốp Cộp: Là kiểm lâm phụ trách địa bàn tôi phải phụ trách 2 xã nên gặp nhiều khó khăn, thứ nhất là diện tích rừng được giao lớn trên 42.000 ha, nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, đường xá đi lại khó khăn, chính sách hỗ trợ cho kiểm lâm địa bàn đôi khi chưa được đáp ứng, kiếm nghị với các cấp các ngành có chính sách hỗ trợ để kiểm lâm địa bàn làm tốt công tác bảo vệ rừng.
Ông Ngô Văn Độ - Phó Hạt trưởng hạt Kiểm lâm Sốp Cộp: Đề nghị với chi cục kiểm lâm tăng cường kiểm lâm địa bàn để làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng, giảm gánh nặng cho các đồng chí kiểm lâm địa bàn hiện nay, đề nghị với tỉnh có những chính sách hỗ trợ với kiểm lâm địa bàn chúng tôi vì địa bàn đến các xã quá xa.
Tuy nhiên, theo đề án tinh giảm biên chế của tỉnh Sơn La trong giai đoạn 2015- 2021 thì việc bổ xung biên chế cho lực lượng kiểm lâm là vô cùng khó khăn. Trước tình hình đó, một trong những giải pháp cấp bách được ngành kiểm lâm đưa ra đó là nâng cao chất lượng đội ngũ, trong đó chú trọng tới việc đào tạo, tập huấn, bổ xung kiến thức, xử lý nhanh các tình huống nghiệp vụ chuyên ngành, làm tốt công tác tham mưu cho UBND các xã trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của của cấp ủy, chính quyền cơ sở và nhân dân trong công tác bảo vệ rừng cũng được đặc biệt chú trọng.
Ông Phạm Ngọc Cừ- Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La: Cái quan trọng nhất hiện nay, công tác quản lý, bảo vệ rừng xác định và nhiệm vụ của toàn đảng toàn dân, toàn quân, nhiệm vụ của cơ quan chuyên ngành mang tính chất tham mưu và hướng dân, như vậy số lượng cán bộ với chất lượng cán bộ, lấy chất lượng cán bộ làm trọng tâm, tăng cường đào tạo bồi dưỡng một thế hệ cán bộ ngoài phẩm chất chính trị ra, tinh thần ra thì phải yêu ngành thì mới có thể giúp cấp ủy chính quyền tổ chức triển khai nhiệm vụ đó. Chúng tôi kiến nghị các cấp mở rộng nội dung đưa đa dạng các nội dung vào tập huấn để anh em kịp thời cập nhật, tiếp thu triển khai công việc trong thực tế.
Thực tế, công tác quản lý và bảo vệ rừng không chỉ của lực lượng Kiểm lâm mà của toàn xã hội. Tuy nhiên, với vai trò là lực lượng nòng cốt, bài toán nguồn nhân lực cho ngành Kiểm lâm cũng cần sớm có lời giải. Có như vậy, mới đảm bảo tốt cho việc giữ vững diện tích rừng hiện còn của tỉnh và từng bước nâng cao độ che phủ rừng, phấn đấu đạt chỉ tiêu đến năm 2020 độ che phủ rừng đạt 50%. (Đài PTTH Sơn La 24/7) đầu trang(
Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào khu rừng như đang đếm từng gốc cây.
Cánh rừng săng lẻ không chỉ là biểu tượng du lịch của Tương Dương, mà còn đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của người Thái.
Chúng tôi gặp ông Vi Dương Cảnh trong lúc vị cựu chiến binh này đang cuốc bộ dọc con đường mòn bao quanh cánh rừng săng lẻ ở bản Quang Thịnh (xã Tam Đình, huyện Tương Dương). Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào cánh rừng như đang đếm từng gốc cây.
Ông Cảnh hiện là 1 trong 11 hộ dân được giao bảo vệ rừng săng lẻ, mặc dù cánh rừng này do Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương quản lý hơn 20 năm nay.
“Một mình kiểm lâm giữ rất khó, phải có dân bản cùng tham gia. 11 hộ luân phiên, mỗi ngày 2 người có nhiệm vụ tuần tra. Nếu phát hiện điều gì bất thường sẽ trình báo ngay cho lực lượng kiểm lâm”, ông Cảnh nói và cho biết thêm, tổ bảo vệ rừng này được thành lập từ năm 2016, lựa chọn từ những người uy tín, có tâm huyết với rừng nhất ở bản Quang Thịnh.
Không chỉ với rừng săng lẻ, họ còn có nhiệm vụ bảo vệ hơn 170 ha vùng đệm của cánh rừng mà họ vẫn gọi là “rừng cấm” này.
Riêng cánh rừng săng lẻ hơn 70 ha nhiều năm nay không chỉ trở thành biểu tượng du lịch của huyện Tương Dương, mà còn là đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của bản làng người Thái ở đây.
“Bây giờ nó chuẩn bị trở thành khu du lịch sinh thái rồi. Nhưng ít ai biết rằng, để giữ được nó đối với người dân là cả một cuộc chiến dai dẳng với lâm tặc”, ông Cảnh kể. Ngôi nhà ông Cảnh nằm ngay sát Quốc lộ 7, sát sau nhà là những cây săng lẻ cổ thụ cao chót vót.
Nói về công lao giữ cánh rừng này, người ta thường hay nhắc đến cụ Vi Chính Nghĩa - nguyên Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Nghệ An. Cụ Nghĩa vừa mất cách đây 2 năm ở tuổi 87. Tuy nhiên, ông Cảnh và các bậc cao niên ở đây cho biết, cụ Nghĩa chỉ là một trong những người con của bản Quang Thịnh tiếp nối truyền thống giữ rừng săng lẻ đã có từ nhiều đời nay.
“Cụ Nghĩa là chú ruột của tôi. Trước khi cụ lập chòi giữa rừng để quản lý, bản này cũng đã có hương ước bảo vệ nó. Chúng tôi xem đó như rừng cấm, rừng thiêng vậy”, ông Cảnh nói.
Theo ông Vi Võ Tuấn - Trưởng bản Quang Thịnh, trước đây xung quanh khu vực này có rất nhiều săng lẻ, mọc chủ yếu thưa thớt, sau đó bị dân làng đốn hạ để lấy đất làm rẫy, dựng nhà.
“Chỉ riêng cánh rừng hiện tại là đặc biệt, vì nó mọc dày đặc, san sát nên cây cao chót vót, thẳng tắp, nhìn rất đẹp. Ở đây vốn được xem là “chảo lửa Đông Dương” vì nắng nóng cao điểm vào mùa hè, nhưng cứ vào rừng là khí hậu lại mát rười rượi. Vì thế nên từ xa xưa, cha ông chúng tôi đã có hương ước truyền miệng phải giữ được cánh rừng”, ông Tuấn nói.
Theo kiểm đếm hiện nay, mỗi ha có đến 240.000 cây săng lẻ loại lớn. Cánh rừng hơn 70ha tương đương gần 17 triệu cây chen chúc nhau, mỗi cây cao từ 30 - 40m. Có những cây, 3 người ôm không xuể. “Bây giờ mới làm con đường tuần tra bao bọc cánh rừng, còn trước đây ranh giới của nó là các khe suối.
Dân ở đây muốn làm nhà cũng không ai dám vào cánh rừng đó để chặt mà chấp nhận đi xa. Ai cũng ý thức được lời răn dạy của người đi trước. Vả lại, vào rừng chặt cây nếu bị dân làng phát hiện sẽ bị phạt rất nặng”, ông Tuấn nói thêm.
Năm 1964, “báu vật” của người dân bản Quang Thịnh đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Lúc này, Lâm trường Tương Dương xin UBND tỉnh Nghệ An khai thác rừng săng lẻ. Lập tức, Vi Chính Nghĩa, một người con của bản đang làm Bí thư Huyện ủy gửi đơn xin giữ lại cánh rừng này và được tỉnh chấp thuận.
Đến năm 1989, bản Quang Thịnh chính thức có hương ước bằng văn bản với những điều cấm để bảo vệ cánh rừng. Theo đó, người dân trong bản không được chặt hạ săng lẻ với bất kỳ lý do nào, không được chăn thả gia súc vào rừng.
“Nếu muốn đốn gỗ làm nhà, người dân phải trình qua bản xem xét. Rồi bản sẽ chỉ định chặt bao nhiêu gỗ, chặt ở cánh rừng nào thì mới được chặt. Ngoại trừ rừng săng lẻ hiện nay thì không được đụng vào”, ông Vi Dương Cảnh nói. Ngoài ra, người dân trong bản cũng có trách nhiệm thường xuyên tổ chức vào rừng dọn dẹp, phát quang những cây dây leo bám vào săng lẻ.
Ông Cảnh cho hay, có lần một người dân trong bản trong lúc thiếu gỗ làm nhà, đã lén lút vào rừng chặt một cây săng lẻ kéo về. Vụ việc bị dân làng phát giác, hộ này sau đó phải bán trâu để nộp phạt.
Hương ước đã bảo vệ được cánh rừng không bị dân làng chặt hạ làm nhà, lấy đất làm rẫy, lâm trường cũng không thể khai thác vì tỉnh đã cho phép huyện giữ lại. Nhưng với lâm tặc từ địa phương khác, cánh rừng săng lẻ như một “miếng mồi ngon”.
Quốc lộ 7 chạy xuyên qua cánh rừng hơn 1km, chỉ cần ít phút, lâm tặc có thể đốn hạ những cây cổ thụ ven đường chất lên xe, “cao chạy xa bay”. Căng thẳng nhất là giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hầu hết cánh rừng xung quanh đã bị tàn phá thành những đồi trọc thì rừng săng lẻ là nỗi thèm khát của biết bao lâm tặc.
Khu rừng lúc này đã thuộc sự quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương. Trước sự nhòm ngó của lâm tặc, Hạt quyết định giao ông Cảnh làm chòi giữa rừng để bảo vệ. “Tôi vào đó bảo vệ nhưng chỉ được một thời gian, tình trạng lâm tặc lén lút chặt phá còn xảy ra”, ông Vi Dương Cảnh nhớ lại. Hạt Kiểm lâm huyện sau đó phải “cầu viện” cụ Vi Chính Nghĩa. Lúc này cụ Nghĩa đã nghỉ hưu, về quê ở bản Quang Thịnh sinh sống.
“Cụ Nghĩa sau đó xin huyện một khoảng đất nhỏ giữa rừng săng lẻ, cạnh Quốc lộ 7 để dựng chòi canh, đưa luôn cả vợ ra đó sinh sống. Cụ rất khỏe, ngày nào cũng cuốc bộ trong rừng để tuần tra. Là người rất có uy tín ở địa phương, thời gian đầu có một vài trường hợp vi phạm bị cụ phát hiện trình báo cho kiểm lâm xử phạt rất nặng nên lâm tặc dường như “khiếp vía” cụ, không dám bén mảng tới khu rừng”, ông Cảnh nhớ lại.
Từ đó đến nay, cánh rừng săng lẻ dường như vẫn còn nguyên vẹn. Năm 2008, lúc này cụ Nghĩa đã “chùn chân, mỏi gối”, khó khăn trong việc tuần tra nên cụ xin nghỉ, giao việc bảo vệ rừng cho một người khác uy tín trong bản.
Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tặng Huân chương Lao động hạng Nhì vì những thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho cụ Vi Chính Nghĩa.
Trưởng bản Quang Thịnh cho hay, sau khi cụ Nghĩa mất, ngôi nhà giữa rừng của vợ chồng cụ vẫn được giữ nguyên mặc dù không có ai ở. Nhớ đến công lao của cụ, dân làng vẫn thường xuyên tới đây lo hương khói. (Người Lao Động 24/7) đầu trang(
Từ trong rừng già, đoàn xe công nông nối đuôi nhau chở gỗ ra khỏi rừng, hiên ngang qua trụ sở UBND xã giữa ban ngày trong sự bất lực của chính quyền địa phương.
Rời khỏi rừng tự nhiên Cư Yang, chúng tôi tiếp tục di chuyển về xã Krông Á (huyện M’đrắk, tỉnh Đắk Lắk) để tận mắt chứng kiến tình trạng khai thác lâm sản trái phép nơi đây. Có mặt tại khu vực cửa rừng tự nhiên thuộc thôn 7 (xã Krông Á) vào lúc 8 giờ sáng, chúng tôi chứng kiến hai chiếc xe công nông được cải tiến thồ hàng chục khối gỗ đỗ tại khu vực thôn 7. Tất cả gỗ trên hai chiếc xe này đã được cưa xẻ vuông vắn, dài khoảng 3-3,5m, dày khoảng 30-40cm. Nhóm thanh niên khoảng 4-5 người đang cặm cụi nhóm lửa nấu cơm ngay bên cạnh hai chiếc xe chở gỗ. Chúng tôi phỏng đoán, chắc những người đi rừng chở gỗ mệt nên bình tâm nghỉ ngơi...
Trong vai một người hỏi đường vào rừng lấy thuốc, chúng tôi được nhóm thanh niên này tận tình hướng dẫn đi bộ gần chục kilômét thì đến khu vực rừng già thuộc địa bàn xã Krông Á. Men theo con đường mòn rộng khoảng 3m, hình ảnh xe của lâm tặc cày xới thành vệt sâu hõm và chạy dài tít tắp vào rừng. Cứ một đoạn, lại gặp những khúc gỗ có chiều rộng khoảng 50cm, dày 18cm được cắt thành hộp nằm bên vệ đường, như sẵn sàng chờ tới lượt rời khỏi rừng. Chai chứa xăng, nhớt để chạy máy vứt ngổn ngang ngay cạnh đó. Cách đó chưa đầy 500m, chúng tôi tiếp tục bắt gặp điểm tập kết khai thác gỗ giữa rừng tự nhiên, với dấu mùn cưa còn tươi rói.
Sau nhiều giờ lội bộ dưới cái nắng oi bức, chúng tôi lọt hang ổ của lâm tặc với hàng chục điểm tập kết gỗ. Hàng chục khúc gỗ với chiều dài từ 3-5m đã được cưa xẻ thành hộp nằm la liệt giữa rừng già. Không chỉ vậy, nhiều khúc gỗ sau khi cắt xẻ được lâm tặc xếp gọn gàng ngay giữa đường mòn để chờ xe tới bốc đi. Xung quanh các điểm tập kết này, vết mùn cưa vẫn còn mới tinh, nhiều khúc gỗ chưa kịp cưa xẻ có đường kính từ 50-60cm.
Tiếng cưa máy vang lên khắp các quả đồi, tiếng lâm tặc gọi nhau ý ới, tiếng công nông tời gỗ làm náo nhiệt cả một vùng. Xung quanh vị trí mà chúng tôi ghi nhận đều có bóng dáng của lâm tặc. Tất cả những hình ảnh ấy khiến cho khu vực nơi đây chẳng khác nào một đại tụ điểm khai thác gỗ rầm rộ, hiên ngang mặc cho trụ sở UBND xã Krông Á chỉ cách đó hơn 10km. Không khí tang thương bao trùm lên một cánh rừng, sự tàn phá không thương tiếc của con người. Đi bất cứ nơi đâu trong cánh rừng tự nhiên này, chúng tôi cũng bắt gặp hình ảnh gỗ rừng bị triệt hạ.
Rất nhiều cây rừng có đóng tấm bảng ghi rõ dòng chữ: “Cấm chặt phá rừng làm nương rẫy”, nhưng ở giữa thung lũng của rừng cây bị đốn hạ và xẻ không thương tiếc. Một thanh niên người Ê Đê (ngụ xã Krông Jing) chia sẻ, vào nhận khoán, trồng keo trên đất rừng cho một người đàn ông người kinh được hai ngày nay.
Thế nhưng, khi chúng tôi đề nghị được cung cấp tên tuổi của người thuê trồng thì nhận được câu trả lời: “Có biết mình cũng không dám nói đâu”. Cũng tại khu vực này, chúng tôi còn bặt gặp hình ảnh người dân “tận dụng” thời gian trong lúc đi trồng cây để cưa hạ cây dầu có đường kính khoảng 30cm, dài hơn 40m rồi đưa xe công đông độ chế vận chuyển. Không chỉ vậy, nhiều thanh niên người M’nông còn đưa xe máy độ chế lên tận đỉnh núi để đưa gỗ ra khỏi rừng. Rừng bị rút ruột, chặt tỉa những cây gỗ to, gỗ quý; còn lại cây tạp, cỏ tranh lau lách...
Rời khỏi rừng tự nhiên, chúng tôi quay trở lại địa bàn thôn 7 với nhiều câu hỏi, tại sao UBND xã Krông Á chỉ cách rừng tự nhiên khoảng chục kilômét nhưng rừng vẫn bị phá tan hoang, gỗ rừng bị khai thác rậm rộ, công khai giữa ban ngày. Phải chăng, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng làm ngơ, hay đã có sự tiếp tay cho lâm tặc phá rừng?
Vào khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/7, đoàn 3-4 chiếc công nông lần lượt chở gỗ rời khỏi cửa rừng, trong đó hai chiếc xe công nông chở hàng chục khúc gỗ hộp phía sau mỗi xe chạy với tốc độ cao hướng về trung tâm xã Krông Á. Hai chiếc xe này chạy hiên ngang qua trụ sở UBND xã Krông Á nhưng không có bất cứ bóng dáng cán bộ nào ra ngăn chặn. Đi theo hai chiếc xe công nông độ chế này là hai thanh niên chạy xe máy bám sát phía sau và 3-5 thanh niên ngồi trên đống gỗ. Khi phóng viên định đưa máy ghi lại hình ảnh thì lập tức bị những thanh niên điều khiển xe máy bám theo, tìm cách đánh lạc hướng.
Trên tuyến đường hướng về thị trấn M’đrắk, chỉ vài trăm mét, chúng tôi lại nhìn thấy một đối tượng “chim xanh” của lâm tặc đứng canh chừng, gác ở các lối rẽ ra vào khu vực dân cư. Phát hiện phóng viên liên tục bám theo, các đối tượng tỏ ra nghi ngờ và tìm cách đánh lạc hướng rồi mất dạng vào nhà dân chỉ sau vài phút. Ngay sau đó, phóng viên đã lùng sục vào nhiều đường hẻm, thậm chí vào tận nhiều nhà dân nhưng vẫn không nhìn thấy bóng dáng của nhóm thanh niên và 2 chiếc xe chở gỗ.
Không bỏ cuộc, phóng viên quay trở lại khu vực trung tâm xã Krông Á thì tiếp tục ghi nhận 2 xe công nông chở gỗ với khối lượng ước tính khoảng 4-5 m3 chạy công khai trên đường liên xã rồi tấp vào một nhà dân ngay bên đường. Trong lúc phóng viên đang nỗ lực tìm kiếm nơi ẩn nấp của những chiếc xe công nông chở gỗ thì một nhóm thanh niên xuất hiện mang theo hung khí, thậm chí chụp lại hình ảnh biển số xe của phóng viên. Thực tế này cho thấy, các đối tượng tỏ ra manh động, bất chấp mỗi khi bị phát hiện.
Không dừng lại ở đó, vào khoảng 21 giờ tối 18/7, một chiếc xe tải không biển số, che bạt xanh tấp đầy gỗ trên xe. Thế nhưng, ngay khi phát hiện có dấu hiệu bị bám theo, đối tượng trên xe đã điều khiển xe tải ẩn nấp vào nhà dân rồi biến mất ngay sau đó.
Sáng 19/7, phóng viên đã liên hệ với ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng IV để phản ánh về tình trạng rừng tự nhiên tại khu vực xã Krông Á bị tàn phá, khai thác gỗ tràn lan. Sau khi nhận được tin báo ông Tài cho biết: “Tôi sẽ chuyển tin báo này cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk để làm rõ”.
Trước những thông tin mà chúng tôi cung cấp, ông Y Sy Hdơk, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk cho hay: “Tôi sẽ cử lực lượng xuống phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện M’đrắk xuống xác minh, làm rõ những thông tin phản ánh của phóng viên”. (Tài Nguyên & Môi Trường 23/7) đầu trang(
Thông tin từ Trạm CSGT Quảng Xương – PC67 Công an tỉnh Thanh Hóa, đơn vị vừa phát hiện, bắt giữ một xe tải đang vận chuyển một số lượng lớn gỗ quý hiếm, không rõ nguồn gốc.
Theo đó, tổ tuần tra kiểm soát giao thông - Trạm CSGT Quảng Xương nhận được nguồn tin báo về việc xe ô tô mang BKS 74C-023.55 có chở số lượng lâm sản trái pháp luật đang trên đường di chuyển ra Bắc tiêu thụ nên tổ chức phương án đón lõng.
Đến khoảng 5h ngày 23/7, phát hiện chiếc xe này tại km378 QL1A, đoạn thuộc địa phận xã Trường Lâm (Tĩnh Gia) nên ra tín hiệu yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra hành chính.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện có 357 thanh gỗ xẻ cẩm lai (nhóm 1), 272 thanh gỗ hương (nhóm 1) và 700kg gỗ cẩm lai tận dụng. Tổng khối lượng 6,012m³.
Toàn bộ lô hàng gỗ quý hiếm nói trên không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Bước đầu tài xế Phan Minh Tân (SN 1980, trú tại: P.An Đôn, TX.Quảng Trị, Quảng Trị) khai nhận, chở lô hàng này từ Quảng Trị ra Ninh Bình tiêu thụ. (Nông Nghiệp VN 24/7) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn đã ký kết quy chế phối hợp về công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới với 17 đơn vị, cơ quan chức năng trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông.
Triển khai quy chế phối hợp này, VQG Yok Đôn cùng với các cơ quan chức năng đã tổ chức 24 đợt tuần tra truy quét, qua đó phát hiện, xử lý 13 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu hơn 10,5 m3 gỗ các loại.
Trong đó VQG Yok Đôn phối hợp với Công an xã Krông Na và Công an xã Ea Huar (huyện Buôn Đôn) phát hiện, xử lý 6 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, tịch thu là 2,13 m3 gỗ gáng hương và 4,497 m3 gỗ căm xe; phối hợp với Đồn biên phòng 741,743 tổ chức 6 đợt tuần tra truy quét đã phát hiện, xử lý 2 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, tịch thu 0,3 m3 gỗ giáng hương và 4 xe máy; phối hợp với Công an xã Ea Bung (huyện Ea Súp) tổ chức 4 đợt tuần tra, truy quét phát hiện, xử lý 1 vụ cất giấu lâm sản trái phép, tịch thu 3,588 m3... (Báo Đắk Lắk 20/7) đầu trang(
Theo thông tin từ UBND huyện Đức Trọng, từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng trong huyện đã tiến hành kiểm tra, xử lý 35/41 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 12 vụ so với cùng kỳ).
Trong số đó, khai thác rừng trái pháp luật 8 vụ, 21,257 m3 lâm sản bị thiệt hại, giảm 11 vụ; vận chuyển lâm sản trái phép 14 vụ, tăng 4 vụ; mua bán, cất giữ lâm sản trái với các quy định của nhà nước 12 vụ, giảm 11 vụ so với cùng kỳ; phá rừng trái pháp luật 6 vụ, tăng 6 vụ so với cùng kỳ này năm ngoái…
Ngoài việc tiếp tục xử lý giải tỏa diện tích rừng bị lấn chiếm theo kết luận của Thanh tra tỉnh và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Đức Trọng còn tăng cường công tác kiểm tra tình hình khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản trái phép; lấn chiếm đất rừng và chế biến khoáng sản trái phép để phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật; chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch trồng rừng, trồng cây phân tán; phối hợp với các đơn vị chủ rừng kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng, chăm sóc rừng trồng…(Báo Lâm Đồng 24/7) đầu trang(
Cây ở rừng phòng hộ đang xanh tốt bỗng chết úa với những "thương tích" chỉ có thể do con người gây ra
Vụ việc cây rừng phòng hộ bỗng nhiên chết hàng loạt xảy ra gần đây nhất là tại Phân trường Trảng Táo - Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc (nằm trên địa bàn xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai). Phóng viên Báo Người Lao Động đã có mặt ghi nhận.
Tại hiện trường, có đến hơn 240 cây gỗ dầu, gỗ sao bị héo úa và chết. Các cây bị đầu độc thuộc loại gỗ lớn. Đây là các lứa cây được trồng từ đầu những năm 2000, hiện cao trên 10 m. Thật đau xót khi quan sát, thấy các cây này đều có dấu hiệu bị khoan, đục ít nhất 3 lỗ ở gốc, có dấu hiệu bị đổ thuốc diệt cỏ vào, có những lỗ khoan còn bị bịt bằng bông gòn để thuốc không chảy ra ngoài, sau đó phủ lá cây lại nhằm che giấu.
Vùng có cây bị hạ độc nằm trong diện tích rừng hơn 7 ha mà Ban Quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc giao khoán cho hộ gia đình ông Nguyễn M. (ngụ tại khu vực) quản lý chăm sóc và bảo vệ. Theo hợp đồng giữa ông M. và đơn vị quản lý rừng, thì ông này được trồng xen cây điều hoặc các cây công nghiệp khác trong diện tích rừng nói trên, đồng thời giữ nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ rừng.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Văn Hiện, Trưởng Phân trường Trảng Táo, cho biết các cây có dấu hiệu bị đầu độc cách đây khoảng nửa tháng. Tuy nhiên hiện tại, đã 3 lần phân trường mời người được giao khoán chăm sóc rừng là ông Nguyễn M. lên làm việc nhưng ông vẫn không đến. Các cán bộ phân trường cho hay ngay sau khi phát hiện vụ việc, xác định có tính chất nghiêm trọng, đơn vị đã báo lên cơ quan công an và chuyển toàn bộ hồ sơ để cơ quan thực thi pháp luật vào cuộc điều tra.
"Các cây của rừng phòng hộ chết trong khi vườn cây công nghiệp vẫn tươi tốt là điều bất thường, những dấu hiệu cây bị hạ độc khá rõ. Hiện tại, chúng tôi đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra. Mong mọi việc được làm rõ, xử lý nghiêm để không còn tái diễn tình trạng này" - ông Hiện nói.
Tình trạng hạ độc cây lâu năm trong rừng phòng hộ tại Đồng Nai không phải xảy ra lần đầu, trong những năm gần đây xảy ra nhiều vụ việc tương tự. Các cơ quan quản lý từng cho rằng nhiều vụ việc xảy ra có dấu hiệu cây rừng bị "hạ độc thủ" để giành đất và không gian. Ở một số vụ việc, lực lượng chức năng đã đặt giả thiết và điều tra theo hướng các "chủ rừng" đã âm mưu hủy hoại cây rừng để giành không gian cho các loại cây công nghiệp, được cho trồng xen kẽ trên diện tích rừng giao khoán, tuy nhiên cuối cùng vẫn chưa được làm rõ.
Cách đây vài năm, trên địa bàn huyện Tân Phú, cũng xảy ra vụ hạ độc tương tự với hơn 140 cây rừng có độ tuổi từ 10-15 năm tại rừng giá tỵ (gỗ tếch) thuộc sự quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Tân Phú. Thời điểm này, đơn vị quản lý cũng xác định các cây trong khu vực rừng được giao khoán đã bị hạ độc bằng cách chặt sâu vào gốc và đổ thuốc diệt cỏ để cây chết dần, xen kẽ giữa các cây rừng khô rụi là những cây vườn xanh tốt, mức thiệt hại của nhà nước ước tính hàng tỉ đồng. Lúc đó, lực lượng chức năng đã mật phục, phát hiện vài trường hợp hạ độc cây nhưng do tính chất lẻ tẻ nên việc xử lý vẫn như "bắt cóc bỏ dĩa". Chính quyền địa phương cho hay đã gặp khó khăn trong việc ngăn chặn tình trạng này và chỉ có cách động viên người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng.
Tại huyện Định Quán (khu vực ấp Mít Nài, xã La Ngà), chúng tôi từng thâm nhập khu rừng phòng hộ có hàng trăm cây gỗ tếch, săng lẻ bị tàn phá. Các cây có dấu hiệu bị hạ độc, triệt hạ từ gốc cháy khô và chết dần nhưng vẫn không lần ra thủ phạm. Theo thống kê, rừng Đồng Nai hiện có diện tích 185.000 ha (gồm cả rừng phòng hộ, vườn quốc gia, khu bảo tồn, khu dự trữ sinh quyển), hệ thống rừng phòng hộ được hình thành cách đây vài chục năm trên các địa bàn huyện Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc. Tuy nhiên, từ những năm 2000, nạn phá rừng phòng hộ bùng phát, số cây bị triệt hạ đã lên tới con số hàng chục ngàn.
Liên quan vụ việc hạ độc cây vừa xảy ra tại huyện Xuân Lộc, ông Nguyễn Hữu Lộc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, cho biết đơn vị đang củng cố thông tin để trực tiếp làm rõ, sau đó phối hợp với các bên đề ra hướng xử lý.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động ngày 24-7, Công an huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai cho biết đang gấp rút điều tra làm rõ vụ việc hàng trăm cây gỗ dầu và gỗ sao ở rừng phòng hộ thuộc Phân trường Trảng Táo chết một cách bất thường.
Trong khi đó, ông Huỳnh Thành Vinh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai, khẳng định việc xâm phạm, hủy hoại hoặc không làm tròn trách nhiệm trong việc giám sát, giữ gìn rừng phòng hộ sẽ bị xử lý nghiêm. "Bảo vệ rừng hiện là nhiệm vụ cấp bách, nghiêm ngặt. Các hành vi gây hại sẽ được điều tra làm rõ và xử lý nghiêm. Ý thức bảo vệ rừng phải được nâng cao…" - ông Vinh nhấn mạnh. (Xây Dựng 24/7) đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét để ngăn chặn tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đốt than, lấn chiếm đất rừng làm rẫy.
Qua tiếp xúc với đại biểu HĐND tỉnh, cử tri xã Ninh Ích phản ánh tình trạng đốt than trên địa bàn xã tồn tại đã nhiều năm nay, cứ khi nào lực lượng kiểm lâm, lực lượng của xã tổ chức truy quét, triệt phá lò than thì tình trạng này tạm lắng một thời gian, sau đó tái diễn. Nếu tình trạng này không được giải quyết dứt điểm thì sẽ ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng trên địa bàn.
Theo thông tin từ Hạt Kiểm lâm thị xã Ninh Hòa, qua tổ chức kiểm tra, nắm bắt tình hình, các đối tượng đốt than tại khu vực này chủ yếu là người dân xã Vĩnh Lương (TP. Nha Trang). 6 tháng đầu năm 2017, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã phối hợp với UBND xã Ninh Ích và Đồn Biên phòng Vĩnh Lương tổ chức nhiều đợt kiểm tra, phá hủy các hầm, lò than tại Tiểu khu 101 và 103, xã Ninh Ích. Qua đó, đã đập phá và tháo dỡ 11 hầm, lò than kiên cố; tiêu hủy tại rừng khoảng 1.600kg than hầm và một số lều bạt.
Nhờ tổ chức tuần tra kiểm tra thường xuyên, đến nay, tình hình khai thác lâm sản đốt than tại khu vực đã có dấu hiệu giảm. Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm Ninh Lộc phối hợp với UBND xã Ninh Ích và Đồn Biên phòng Vĩnh Lương tăng cường tuần tra rừng tại khu vực này để tránh tình trạng người dân tiếp tục vào rừng đốt than.
Nhận được tin báo của quần chúng, tại khu vực Trường Bơi (xã Ninh Lộc) xảy ra tình trạng phá rừng lấn chiếm đất làm rẫy trái pháp luật, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa đã chỉ đạo Trạm Kiểm lâm Ninh Lộc phối hợp với UBND xã Ninh Lộc kiểm tra và phát hiện 1 lô đất có diện tích khoảng 2.000m2 thuộc khoảnh 1, Tiểu khu 96 (đất ngoài quy hoạch 3 loại rừng, do UBND xã Ninh Lộc quản lý theo kết quả kiểm kê rừng năm 2016) là rẫy cũ, hầu hết là cây bụi và dây leo đã được phát dọn nhưng chưa đốt, khu vực xung quanh liền kề là rẫy chuối. Cơ quan chức năng đang xác định đối tượng phát dọn khu rẫy này để tiến hành các bước xử lý theo quy định.
Ngoài ra lực lượng chức năng thị xã Ninh Hòa chú trọng đến việc ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép tại khu vực rừng trọng điểm như: khu vực thượng nguồn thủy điện Ea Krong Rou, tuyến Tỉnh lộ 8B, khu vực Ninh Lộc - Ninh Hưng, tuyến Quốc lộ 26 từ xã Ninh Tây về phường Ninh Hiệp. Theo lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, thời gian qua, Đội Kiểm tra liên ngành bảo vệ rừng của thị xã đã phối hợp tốt với các chủ rừng, trạm kiểm lâm, các địa phương kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại các khu vực trọng điểm, qua đó đã hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm hại rừng, không để phát sinh điểm nóng về phá rừng trên địa bàn. Đặc biệt, lực lượng chức năng đã tổ chức nhiều đợt truy quét, ngăn chặn triệt để tình trạng đưa phương tiện vào khu vực hồ thủy điện Ea Krong Rou để vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, thời gian tới, Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa sẽ tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức cho quần chúng nhân dân về công tác bảo vệ rừng. Hạt sẽ xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; thường xuyên tổ chức kiểm tra các khu vực rừng trọng điểm, khu vực giáp ranh với các huyện và tỉnh bạn, không để phát sinh điểm nóng phá rừng, ngăn chặn tình trạng dùng xe máy để vận chuyển trái phép lâm sản ở các khu vực.
Cùng với đó, hạt chỉ đạo các trạm kiểm lâm tăng cường công tác tuần tra kiểm soát tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trên địa bàn quản lý, nhất là khu vực hồ thủy điện Ea Krong Rou, khu vực các điểm tập kết gỗ, các cơ sở chế biến và kinh doanh lâm sản hoạt động trên địa bàn thị xã; nắm bắt thông tin các xe tải vận chuyển lâm sản trên các tuyến: Tỉnh lộ 8B, Quốc lộ 26, Quốc lộ 1 để có kế hoạch kiểm tra, ngăn chặn…(Báo Khánh Hòa 24/7) đầu trang(
Quảng Bình: Liên tục nhận được thú quý hiếm do người dân giao nộp
Vừa qua, cán bộ Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (VQG PN-KB) đã vận động người dân địa phương giao nộp được 2 cá thể thú linh trưởng nguy cấp, quý- hiếm để cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên.
Cụ thể, vào ngày 20-7, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật (VQG PN-KB) đã tiếp nhận 1 cá thể khỉ vàng (Macaca mulatta) có trọng lượng 1,5 kg trước sự chứng kiến của Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn và tổ công tác Biên phòng Hóa Sơn. Cá thể khỉ này được ông Đinh Ngọc Toàn trú tại thôn Thuận Hóa, xã Hóa Sơn, huyện Minh Hóa, bắt được trong một lần đi rừng vào tháng 1 năm 2017. Sau đó, ông giao lại cho bố ruột nuôi để làm cảnh.
Tuy nhiên, được sự tuyên truyền, giải thích và vận động của các cán bộ Kiểm lâm Trạm Kiểm lâm Hóa Sơn, ông Toàn đã tự nguyện giao nộp cá thể này cho Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật để cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên tại VQG PN-KB.
Tiếp đó, ngày 21-7, trước sự chứng kiến của Trạm Kiểm lâm Khe Gát và đại diện Chính quyền địa phương xã Xuân Trạch, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật tiếp tục tiếp nhận thêm 1 cá thể khỉ mốc (Macaca assamensis), có trọng lượng 3kg từ ông Hoàng Văn Chiến trú tại thôn 1 Xuân Trạch, huyện Bố Trạch.
Cá thể khỉ mốc được ông Chiến nuôi làm cảnh từ năm 2015. Sau khi được các cán bộ Trạm kiểm lâm Khe Gát tuyên truyền, vận động, ông Chiến đã tự nguyện giao nộp lại cho Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật để tiến hành chăm sóc, cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên.
Tại thời điểm tiếp nhận, 2 cá thể khỉ mốc và khỉ vàng có nhiều biểu hiện cho thấy đã bị suy giảm nghiêm trọng về các tập tính hoang dã do bị nuôi nhốt quá lâu ngày. Cả hai cá thể này là loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ quy định về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
Trên cơ sở đó, các đơn vị trực thuộc đã khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ, trong đó tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân không săn bắn, bẫy bắt và nuôi nhốt trái phép các loài thú linh trưởng. Chủ động nắm bắt thông tin và trực tiếp vận động người dân tự nguyện giao nộp các cá thể linh trưởng đang nuôi nhốt trái phép trên địa bàn các xã vùng đệm để cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên tại VQG PN-KB.
Trước đó như Thương gia và Thị trường đã đưa tin, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật (Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng) tính đến ngày 18/07 cũng đã tổ chức tiếp nhận và nuôi cứu hộ 59 cá thể động vật hoang dã. Như vậy cho thấy ý thức của người dân ngày càng cao trong việc bảo vệ động vật quý hiếm. (Tạp Chí Thương Gia & Thị Trường 23/7) đầu trang(
Nhiều loài động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh đang ngày càng suy giảm mạnh, trong khi công tác cứu hộ, bảo tồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trước thực tế đó, mới đây, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch hành động khẩn cấp để bảo tồn các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài linh trưởng nguy cấp, quý hiếm.
Vài năm trở lại đây, khi Trung tâm Cứu hộ Bảo tồn và Phát triển Sinh vật (Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh) được thành lập đã tiếp nhận cứu hộ và tái thả về môi trường tự nhiên nhiều cá thể có nguồn gốc động vật hoang dã như: mèo rừng, rùa đất, rắn ráo, khỉ lông vàng, khỉ đuôi lợn… Các cá thể động vật này phần lớn bị cơ quan chức năng tịch thu từ các vụ vi phạm pháp luật hoặc người dân tự nguyện giao nộp để thả chúng về sinh sống trong môi trường tự nhiên.Ông Trần Văn Thụ-Phó Giám đốc Trung tâm Cứu hộ Bảo tồn và Phát triển Sinh vật (Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh), cho hay: Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh có hệ động-thực vật khá phong phú và đa dạng. Đặc hữu của Vườn là loài voọc chà vá chân xám, còn khỉ thì rất nhiều và đa dạng như khỉ lông vàng, khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn… Những năm qua, cùng với việc bảo tồn, Trung tâm đã tiếp nhận nhiều cá thể động vật hoang dã do người dân tự nguyện giao nộp để cứu hộ, tái thả chúng về với môi trường tự nhiên. Bên cạnh đó, nhiều cá thể động vật có nguồn gốc hoang dã do các Hạt Kiểm lâm và các Đội Kiểm lâm Cơ động bắt giữ trong các vụ vi phạm bàn giao lại. Để đảm bảo môi trường sống mới cho các loài này, trước hết chúng tôi phải tổ chức cứu hộ, nuôi dưỡng một thời gian, sau đó mới tái thả về môi trường tự nhiên vì phần lớn đều nuôi nhốt lâu năm bằng nguồn thức ăn sẵn. Vì vậy, nếu thả sớm, chúng sẽ khó tìm được nguồn thức ăn như khi nuôi nhốt.
Mới đây, ông Nguyễn Văn Tuyến (thôn Hồ Nước, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê) đã tự nguyện giao nộp cho Hạt Kiểm lâm huyện Chư Sê một cá thể khỉ lông vàng có nguồn gốc từ động vật hoang dã do ông mua của một người dân tộc thiểu số tại xã Chư Pơng. Sau 7 năm nuôi dưỡng, đến nay, con khỉ này nặng 6 kg. Dù được một số người hỏi mua nhưng ông không bán mà giao nộp lại cho cơ quan chức năng để cứu hộ rồi thả về với môi trường tự nhiên. Sau khi tiếp nhận, Hạt Kiểm lâm huyện Chư Sê đã tổ chức bàn giao cho Trung tâm để cứu hộ và bảo tồn, tái thả vào môi trường tự nhiên.
Cũng theo ông Thụ, khó khăn hiện nay là khi tiếp nhận các loài động vật có nguồn gốc hoang dã, Trung tâm phải huấn luyện trước khi tái thả về môi trường tự nhiên. Đây là công việc đòi hỏi phải có thời gian và phải nắm được đặc điểm sinh học của từng loài, nhất là loài voọc chà vá và khỉ. Sau đó, Trung tâm mới phối hợp cùng chính quyền địa phương tái thả vào rừng tự nhiên để chúng sinh sống. Đặc biệt, cứu hộ các loài linh trưởng nhỏ phải mất cả năm, nhất là loài voọc chà vá và khỉ phải nuôi đến lớn mới cho tiếp cận môi trường tự nhiên rồi mới thả vào rừng. Công tác bảo tồn hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn về kinh phí, cơ sở vật chất, dụng cụ cứu hộ…
Vừa qua, UBND tỉnh đã có Công văn số 2496/ UBND-NL về việc xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, UBND tỉnh giao các sở: Nông nghiệp và PTNT, Tài nguyên và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị liên quan, đặc biệt là Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và Khu Bảo tồn Thiên nhiên Kon Chư Răng chủ động xây dựng thực hiện kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng hiện có phân bổ trong vùng quản lý của Vườn và Khu Bảo tồn.
Ông Ngô Văn Thắng-Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, cho biết: Sau khi có công văn của UBND tỉnh, Vườn đang tập trung nghiên cứu xây dựng kế hoạch hành động cụ thể để bảo tồn các loài linh trưởng hiện có một cách tốt nhất. Trong thời gian tới, Vườn sẽ tổ chức các buổi tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho người dân biết cần phải bảo tồn đa dạng các loài động-thực vật, tạo môi trường sống cho chúng ngày càng tốt hơn. (Báo Gia Lai 23/7) đầu trang(
Rộng chưa đầy 900ha, nhưng rừng tràm Trà Sư (RTTS) (Tịnh Biên, An Giang) được ví như “thế giới xanh đặc biệt” miền biên viễn. Bởi nơi đây không chỉ có màu xanh của cây, của lá... mà còn chứa đựng bên trong đó cả kho tàng cho tương lai xanh...
RTTS rộng 845ha, vắt mình trên 2 xã chủ yếu là Vĩnh Trung, Văn Giáo của huyện Tịnh Biên và một phần của xã Ô Long Vỹ của huyện Châu Phú (An Giang). Đây là vùng rốn của khu vực Tứ giác Long Xuyên. Đúng như tên gọi, RTTS là thế giới của cây tràm, loài cây thân gỗ đặc hữu của vùng đất ngập phèn ĐBSCL. Chính vì vậy mà nơi đây cũng trở thành thủ phủ của loài chim nước và nhiều loại thực, động vật ngập nước khác.
Ngoài sự hiện diện của trên 70 loài chim, cò, trong đó có 2 loài có tên trong “Sách đỏ Việt Nam” là cò lạo Ấn Độ (Giang Sen) và cò cổ rắn (Điêng Điểng), nơi đây còn là nơi cư trú của 22 loài bò sát, 11 loài thú, 23 loài thủy sản và 140 loài thực vật thuộc 52 họ và 102 chi, trong đó có gần 80 loài dược liệu.
Với không gian bạt ngàn màu xanh của tràm cùng với bức tranh muôn màu muôn vẻ của hệ thống thực, động vật..., RTTS không chỉ là “điểm đến khó thể bỏ qua” đối với du khách trong và ngoài nước đặt chân đến An Giang, mà còn được nhiều chuyên gia nước ngoài đánh giá là kho tàng hệ sinh thái đa dạng và phong phú tầm cỡ thế giới. Nói cách khác, RTTS còn là điểm đến lý tưởng cho các nhà lâm học, thủy sản học, môi trường - sinh thái học...(Lao Động 24/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Mặc dù Việt Nam đã tiếp cận quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng theo thông lệ quốc tế từ khá sớm, nhưng việc triển khai cấp chứng chỉ rừng bền vững, nhất là rừng trồng cao su còn chậm, các doanh nghiệp (DN) vẫn chưa đẩy mạnh triển khai trồng rừng theo hướng bền vững.
Đây là nhận định chung của các đại biểu tham dự hội thảo “Thúc đẩy trồng rừng cao su bền vững và chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) cho các DN cao su tại Việt Nam”, được tổ chức ngày 24/7 tại TPHCM.
Trong khi đó, hiện nay trên thị trường thế giới, xu hướng chuyển sang sử dụng sản phẩm từ rừng có nguồn gốc hợp pháp hoặc có chứng chỉ quản lý rừng bền vững ngày càng gia tăng.
Ông Võ Hoàng An, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho biết, với diện tích các vườn cây cao su thanh lý đang gia tăng trong thời gian gần đây, gỗ cao su ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng của ngành gỗ, sản phẩm gỗ; góp phần giảm áp lực nhập khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu cho ngành gỗ cũng như ngành cao su Việt Nam.
Theo số liệu của VRA, trong năm 2016, gỗ cao su đã đóng góp khoảng 31,7% vào tổng giá trị xuất khẩu 4,85 tỷ USD của toàn ngành, giúp tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành cao su tăng 16,4% so với 2015.
Mặc dù với ngành cao su, có một phần diện tích là rừng trồng, việc áp dụng chứng chỉ đã được các DN lớn quan tâm thực hiện nhưng đến nay vẫn gặp nhiều khó khăn đối với việc bảo đảm đáp ứng các tiêu chí của chứng chỉ trong thời gian dài.
Ông Trương Minh Trung, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam thừa nhận, Tập đoàn có khoảng 420.000 ha rừng trồng cao su (trong đó 300.000 ha trong nước và 120.000 ha ở nước ngoài) nhưng hiện vẫn chưa đạt được chứng chỉ FSC.
Ông Trung cho rằng, chứng chỉ FSC với rừng cao su là xu hướng chung toàn cầu, nhiều đối tác nhập khẩu cao su thiên nhiên cũng đã yêu cầu về chứng chỉ FSC. Tập đoàn nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này nên đang đẩy mạnh hợp tác với Hiệp hội cao su và đang tìm đơn vị tư vấn để cuối năm nay hoặc trong năm 2018 sẽ có ít nhất một đơn vị trong tập đoàn có rừng trồng đạt chứng chỉ FSC.
Chia sẻ về vấn đề này, bà Vũ Quế Anh, điều phối viên FSC tại Việt Nam cho biết, Việt Nam có hơn 200.000 ha được cấp chứng chỉ FSC với khoảng 538 DN có chứng chỉ FSC song với rừng trồng cao su thì vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân do nhận thức của DN và chủ rừng chưa cao; các cơ quan quản lý, tổ chức chưa có tác động mạnh cho chủ rừng hiểu về việc bắt buộc phải có chứng chỉ này…
Trong thời gian tới, Hiệp hội Cao su Việt Nam và tổ chức FSC sẽ tăng cường hỗ trợ cho các chủ rừng, DN nhằm giúp họ nâng cao nhận thức, trách nhiệm và đạt chứng chỉ trồng rừng, hướng tới phát triển bền vững ngành cao su Việt Nam. (Chính Phủ 24/7) đầu trang(
Nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, Chính phủ chủ trương trong 5 năm (2006-2010) chuyển rừng nghèo sang trồng 100.000ha cao su phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ… Tuy nhiên, ngay từ khi bắt tay thực hiện chủ trương này tại Gia Lai, việc rà soát tài nguyên rừng chưa hợp lý của cơ quan chức năng và cách lập dự án sơ sài, vừa nhập nhằng, vừa “tiền hậu bất nhất” của doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng đến đời sống hàng chục nghìn hộ dân.
Chủ trương của Thủ tướng Chính phủ về việc phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên là đúng đắn. Với định hướng cho phép chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, đất chưa sử dụng, chuyển đổi đất rừng tự nhiên thuộc rừng sản xuất nghèo phù hợp trồng cao su để chuyển sang trồng mới cao su, ở một số tỉnh ở Tây Nguyên hiện đã tiến hành trồng cao su. Gia Lai là tỉnh chuyển đổi cây trồng này nhiều nhất với tổng diện tích chuyển đổi là 50.000ha rừng.
Vậy 10 năm trôi qua, Tây Nguyên nói chung và Gia Lai (tỉnh có nhiều diện tích chuyển đổi nhất) đã “gặt hái” được gì hay chỉ là những chiêu trò “bẩn thỉu”, những dự án trá hình? Cỏ mọc lút đất, rừng tự nhiên bị tàn phá hết, cây cao su có thực sự mang lại điều tốt đẹp cho nông dân hay chỉ “nuôi béo” những doanh nghiệp tận thu khai thác gỗ?…
Đã đến lúc Ủy ban Kiểm tra Trung ương cần làm rõ trách nhiệm của các tập thể, cán nhân có liên quan đến việc chuyển đổi “rừng nghèo” ở Tây Nguyên trước khi quá muộn… Báo Xây dựng sẽ khởi đăng những bất cập trong việc trồng rừng cao su ở đây, từ đó làm rõ trách nhiệm về việc bảo vệ môi trường trước việc mấy chục ngàn hecta rừng bị tàn phá về ai.
Nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, chủ trương của Chính phủ trong 5 năm (2006-2010) chuyển rừng nghèo sang trồng 100.000ha cao su phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ… Tuy nhiên, ngay từ khi bắt tay thực hiện chủ trương này tại Gia Lai, việc rà soát tài nguyên rừng chưa hợp lý của cơ quan chức năng và cách lập dự án sơ sài, vừa nhập nhằng, vừa “tiền hậu bất nhất” của doanh nghiệp đã gây ảnh hưởng đến đời sống hàng chục nghìn hộ dân.
Giữa năm 2006, chủ trì Hội nghị phát triển kinh tế - xã hội - an ninh quốc phòng vùng Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo một số giải pháp đầu tư và huy động các nguồn lực để phát triển. Theo đó, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (CNCSVN) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) làm việc với chính quyền các tỉnh để trong 5 năm tới (từ 2006-2010), khu vực Tây Nguyên cần phát triển thêm 100.000ha cao su nhằm phát huy tiềm lực phát triển kinh tế, phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ nhất là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Tại thông báo 1420/TB-BNN-VP ra ngày 29/02/2008, Bộ NN&PTNT nhấn mạnh ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Cao Đức Phát tại Hội nghị bàn kế hoạch và giải pháp phát triển cao su tại Tây Nguyên: Các tỉnh cần lựa chọn những doanh nghiệp có đủ năng lực trong việc tổ chức và triển khai kế hoạch trồng cao su, ưu tiên những doanh nghiệp có chính sách hỗ trợ tốt hơn trong công tác tạo việc làm, nguồn thu nhập ổn định từng bước nâng cao đời sống của đồng bào DTTS tại chỗ.
Thực hiện chủ trương này, UBND tỉnh Gia Lai đã phân bổ chỉ tiêu cho 6 doanh nghiệp gồm: Tập đoàn CNCSVN, Binh đoàn 15, Cty TNHH 30/4, Cty CP Quốc Cường, Cty CP tập đoàn Đức Long và Cty CP Hoàng Anh Gia Lai tiến hành khảo sát 51.000ha rừng nghèo chuyển sang đất nông nghiệp trồng cao su. Sáu doanh nghiệp trên đã khảo sát, lập hồ sơ đề nghị chuyển 21.699,2ha rừng nghèo sang trồng cao su, chiếm hơn 42,5% tổng diện tích được UBND tỉnh giao khảo sát.
Ngay sau khi có kết quả khảo sát, UBND tỉnh Gia Lai đã giao 14.967,3ha đất rừng cho 14 doanh nghiệp cùng triển khai 19 dự án trong năm 2008. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp được giao đất lần này đều không tham gia quá trình khảo sát như: Cty cổ phần đầu tư và thương mại Sài Gòn; Cty TNHH xây dựng và thương mại 289; Cty TNHH Nhật Minh; Cty Đệ nhất Việt-Hàn; Cty TNHH Phúc Cường; Cty TNHH Hoàn Mỹ; Cty Xây dựng công trình 194… Điều khiến nhiều doanh nghiệp tham gia quá trình khảo sát bất bình là năng lực tài chính, năng lực chuyên môn cũng như điều kiện các dự án cần đáp ứng nhu cầu an sinh xã hội của các doanh nghiệp “mới bước đầu làm quen với cây cao su” vẫn chưa được thẩm định theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ NN&PTNN.
Điều lạ nữa là khi hầu hết các doanh nghiệp xây dựng dự án đầu tư cao su còn rất sơ sài, thiếu phương án tổng thể, chưa hoàn chỉnh dự án nhằm đảm bảo khả năng triển khai dự án trồng cao su, xây dựng cơ sở hạ tầng, đáp ứng các yêu cầu an sinh xã hội theo chủ trương của Chính phủ, tại thông báo số 119/TB-UBND, UBND tỉnh Gia Lai đã giao 14.036ha đất rừng cho doanh nghiệp Nhà máy lốp ô-tô để khảo sát, quy hoạch trồng cao su trong khi cho đến hiện nay, doanh nghiệp này chưa chính thức thành lập nên tất nhiên chưa đủ tư cách pháp nhân. Tại sao UBND tỉnh Gia Lai có thể tin tưởng giao hơn 14 nghìn hecta đất rừng để doanh nghiệp chưa hoạt động để thực hiện chủ trương lớn của Chính phủ là câu hỏi lớn cần lời đáp.
Xác định chủ trương phát triển 100.000ha cao su tại khu vực Tây Nguyên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2008 và những năm tiếp theo, ngày 24/1/2008, Bộ NN&PTNT ra công văn số 209 gửi UBND các tỉnh, thành phố nhắc nhở về việc chuyển đổi diện tích có rừng sang trồng cao su, trong đó khẳng định: Những dự án phải chuyển đổi diện tích có rừng sản xuất lớn hơn 1.000ha theo quy định tại Nghị quyết 66 ngày 29/6/2006 của Quốc hội là công trình trọng điểm quốc gia, các tỉnh phải báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để được cho phép chủ trương đầu tư.
Mặc dù chỉ đạo của Bộ NN&PTNT là vậy nhưng không hiểu vì sao UBND tỉnh Gia Lai lại giao những diện tích đất rừng rất nhỏ từ 100 đến 998,4ha cho 9 doanh nghiệp bao gồm: Cty cổ phần đầu tư và thương mại Sài Gòn: 200ha (1 dự án); Cty TNHH xây dựng và thương mại 289: 215,3ha (1 dự án); Cty TNHH Nhật Minh: 100ha (1 dự án); Cty Đệ nhất Việt-Hàn: 150ha (1 dự án); Cty TNHH Phúc Cường: 741,8ha (1 dự án); Cty TNHH Hoàn Mỹ: 420,7ha (1 dự án); Cty Xây dựng công trình 194: 998, 4ha và Cty CP trồng rừng công nghiệp: 995,7ha (1 dự án). Phải chăng các doanh nghiệp trồng cao su trên địa bàn tỉnh Gia Lai đang chủ động “lách” chủ trương, “xé nhỏ” dự án trồng cao su bằng cách chia nhỏ những diện tích liền thửa, liền khoảnh thành nhiều dự án chuyển đổi khác nhau hay UBND tỉnh Gia Lai cấp những quyết định giao rừng xấp xỉ 1.000 ha để qua mặt Quốc hội?
Như minh chứng cho nhận định này, tại huyện Chư Sê chỉ có hơn 7.000ha đất rừng được phân bổ chuyển sang trồng cao su nhưng đã có đến 8 doanh nghiệp được UBND tỉnh Gia Lai ký quyết định giao đất. Riêng tại xã Ia Blứ, huyện Chư Sê có hơn 6.015ha đất lâm nghiệp quy hoạch phát triển cao su nhưng đã có đến 7 doanh nghiệp được giao UBND tỉnh Gia Lai ký quyết định giao đất, trong đó Cty cổ phần tập đoàn Đức Long được giao 1.488ha nhưng được chia làm 2 dự án: Dự án 1 diện tích 980,4ha thuộc 2 tiểu khu 1136 và 1143 và dự án 2 là 508ha cũng tại tiểu khu 1136 Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Phú Nhơn!
Cũng như Cty cổ phần tập đoàn Đức Long, Cty Xây dựng công trình 194 được UBND tỉnh Gia Lai giao đất rừng ở xã Ia Le và Ia Blứ (vốn là 1 xã tách ra) từ năm 2006, dự án trước chuyển khoảng 800ha rừng sang trồng cao su, năm 2008, UBND tỉnh Gia Lai tiếp tục giao thêm 998,4ha rừng để chuyển sang trồng cao su. Vậy rõ ràng: Cty Xây dựng công trình 194 được UBND tỉnh giao hơn 1.798ha rừng liền thửa, liền khoảnh tại huyện Chư Sê nhưng chẳng biết do “vô tình” hay “cố ý” được chia thành 2 dự án, mỗi dự án đều dưới 1.000ha nên không cần phải báo cáo Chính phủ trình Quốc hội để được cho phép chủ trương đầu tư như chỉ đạo của Bộ NN&PTNT!?! (Xây Dựng 24/7) đầu trang(
UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo các ngành liên quan và chính quyền địa phương tiếp tục rà soát, kiểm tra, khảo sát để có đánh giá cụ thể từng loại rừng
Để có cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ lâm nghiệp sang đất nông nghiệp cho người dân sản xuất lâu năm.UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo các ngành liên quan và chính quyền địa phương tiếp tục rà soát, kiểm tra, khảo sát để có đánh giá cụ thể từng loại rừng, đặc biệt là những diện tích đất sản xuất của bà con đang nằm trong quy hoạch đất lâm nghiệp. Khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, tham mưu cho UBND tỉnh báo cáo Bộ nông nghiệp và triển nông thôn thôn thẩm định để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua trong thời gian sớm nhất, trên cơ sở đó để xác định số liệu cụ thể làm căn cứ thực hiện công tác quy hoạch, điều chỉnh 3 loại rừng.
Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 53.000ha đất nông nghiệp được người dân sản xuất ổn định lâu năm, trong đó một số diện tích đã được cấp quyền sử dụng đất theo Quyết định 450 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng vào năm 2008. Việc quy hoạch 3 loại rừng nhằm đảm bảo cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, đánh giá sự tăng, giảm các loại rừng hàng năm, đồng thời có giải pháp đầu tư, cải tạo, góp phần nâng độ che phủ rừng của tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020 đạt khoảng 55%. (Đài PTTH Lâm Đồng 24/7) đầu trang(
Các địa phương, đơn vị trên địa bàn TP. Đồng Hới đã tăng cường công tác quản lý việc khai thác và bảo vệ rừng.
Đến nay, toàn thành phố trồng được 980 cây xanh đường phố và gần 2.100 cây lâm nghiệp trồng phân tán; khoanh nuôi và bảo vệ 2.200 ha rừng bảo đảm an toàn không bị chặt phá.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ước đạt 35 m3, tăng 2% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ước thực hiện 8.050 triệu đồng, bằng 34,2% KH, tăng 5,9% so với cùng kỳ.
Qua kiểm tra, ngăn chặn, xử lý các vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thành phố đã xử lý 4 vụ vi phạm khai thác gỗ trái phép, giảm 4 vụ so với cùng kỳ. Số lượng gỗ tịch thu là 2,810 m3, trong đó gỗ xẻ hộp là 2,086 m3, tổng số tiền thu nộp ngân sách 68 triệu đồng, trong đó tiền phạt vi phạm hành chính 6 triệu đồng.
Nhằm tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, TP. Đồng Hới đã kiện toàn 1 Ban chỉ huy cấp thành phố, 14 ban chỉ huy cấp xã, phường và 35 tổ đội, đồng thời bổ sung thêm các phương tiện phòng, chống cháy rừng, bố trí lực lượng trực 24/24 giờ để chủ động xử lý kịp thời khi có tình huống xảy ra. (Báo Quảng Bình 24/7) đầu trang(
Ngày 21/7, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ và bảo vệ môi trường rừng Hồ Núi Cốc tổ chức Hội nghị tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, triển khai công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng năm 2017 cho cán bộ và nhân dân các xã Tân Thái, Phúc Xuân, Thành phố Thái Nguyên .
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được tuyên truyền một số nội dung về chính sách dịch vụ chi trả môi trường rừng theo chính sách xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chi trả theo dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 và Nghị định 41 của Chính phủ; chính sách pháp luật về bảo vệ rừng 2017. Với phương pháp thảo luận nhóm, các đại biểu trao đổi trực tiếp về những khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện các chính sách để hiểu rõ và nắm được các kiến thức quản lý và sử dụng hiệu quả dịch vụ chi trả môi trường rừng.
Thông qua Hội nghị nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân địa phương về trách nhiệm nghĩa vụ và quyền lợi trong việc quản lý bảo vệ rừng, góp phần thúc đẩy hoạt động phát triển sinh kế, quản lý bền vững tài nguyên rừng, qua đó giúp cho người dân gắn bó với rừng và bảo vệ rừng tốt hơn. (Đài PTTH Thái Nguyên 22/7) đầu trang(
Những tồn tại, hạn chế trong xử lý dự án chậm triển khai và công tác quy hoạch, bảo vệ, phát triển rừng là 2 nội dung được đại biểu đặc biệt quan tâm trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Với sự quyết liệt của đại biểu và cầu thị ngành chức năng, giải pháp đã rõ, còn lại là triển khai thực hiện.
Ghi nhận thời gian qua, UBND tỉnh đã triển khai nhiều giải pháp và quyết liệt xử lý các dự án chậm triển khai, nhưng qua TXCT, người dân vẫn bức xúc, đặc biệt là những dự án trên địa bàn huyện Tân Thành, như: Dự án khu dân cư đô thị Phú Mỹ A.T.A mở rộng; Dự án đường Tóc Tiên - Suối Nghệ; Dự án Trung tâm Văn hóa thể thao huyện Tân Thành; Dự án Bến xe kết hợp Trạm đăng kiểm. Dẫn thực tế, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lưu Tài Đoàn yêu cầu nói rõ hướng giải quyết của tỉnh đối với những dự án này?
Sau khi trình bày tình hình cụ thể của các dự án, Phó Giám đốc Sở KH - ĐT Lê Hoàng Hải thông tin: UBND tỉnh đã chỉ đạo theo hướng thu hồi, hủy bỏ chủ trương đầu tư đối với các dự án không đủ năng lực triển khai; rà soát, hủy bỏ các quyết định thu hồi đất không còn phù hợp; đồng thời thông báo cho người dân trong vùng quy hoạch biết tình hình cụ thể.
Làm rõ thêm băn khoăn của Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Đình Khoa về việc tại địa phương còn dự án nào chậm triển khai, kéo dài nữa hay không, Chủ tịch UBND huyện Tân Thành Nguyễn Văn Thắm khẳng định không có thêm và đề nghị các sở, ngành liên quan tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương xử lý các vấn đề tồn đọng, bảo đảm quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống cho người dân.
Trước yêu cầu của các đại biểu Nguyễn Vân Anh, Trần Phúc Chỉnh đề nghị làm rõ những bất cập trong công tác quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển đất rừng, Phó Giám đốc Sở NN - PTNT Trần Văn Cường đã nhận trách nhiệm khi chậm tham mưu, dẫn đến việc triển khai Kế hoạch, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 vẫn chưa được trình HĐND tỉnh.
Phó Giám đốc Sở NN - PTNT giải trình cụ thể: Từ năm 2014 đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 58,2ha rừng thay thế, trong đó 55ha tại Khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu, 3,2ha tại rừng phòng hộ xã Phước Thuận (huyện Xuyên Mộc). Còn về thu tiền trồng rừng thay thế, từ năm 2014 đến nay, các dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt số tiền trồng rừng thay thế nộp vào Quỹ Phát triển và Bảo vệ rừng hơn 5,387 tỷ đồng, kết quả đã thu được hơn 2,848 tỷ đồng. Các dự án còn lại đang lập thủ tục chuyển tiền vào tài khoản của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh. Số tiền thu được nói trên được sử dụng chủ yếu vào mục đích trồng lại rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích khác.
Về băn khoăn đất rừng nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp tại TP Vũng Tàu có được thực hiện theo chế độ quy định bảo vệ và phát triển rừng; việc chuyển dịch đất từ đất rừng nằm ngoài lâm phần có tiềm ẩn tiêu cực như theo phản ánh của cử tri phường 2 (TP Vũng Tàu) Dự án Trùng Dương - Thái Sơn không phù hợp với quy định chuyển đổi đất rừng, Phó Giám đốc Sở NN - PTNT cho biết, rừng nằm ngoài quy hoạch lâm phần hay còn gọi là rừng cảnh quan là rừng được triển khai theo kế hoạch sử dụng đất và mục đích của dự án đầu tư. Nếu như chưa triển khai dự án, đất rừng này vẫn được quản lý, triển khai dự án bảo vệ chăm sóc rừng.
Đối với Dự án Trùng Dương - Thái Sơn, theo nhận định của lãnh đạo ngành NN - PTNT, dự án nằm ở phường 2 (TP Vũng Tàu) có thể nằm ngoài khu vực lâm phần. Còn về nội dung cụ thể Dự án này có phù hợp việc chuyển đổi đất rừng hay không, Sở sẽ có văn bản trả lời HĐND tỉnh sau khi phối hợp với các cơ quan, ban, ngành liên quan và UBND TP Vũng Tàu rà soát trình tự phê duyệt dự án.
Về việc chưa xây dựng, phê duyệt kế hoạch, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Hồng Lĩnh cho rằng, đây là lý do khiến tỉnh đã không thể làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng những năm qua. Bên cạnh đó, công tác trồng rừng thay thế cũng chưa được triển khai quyết liệt. Qua báo cáo những năm qua, diện tích trồng rừng chỉ thực hiện được vài chục hécta so với quỹ đất rừng đã đổi lấy phát triển là quá ít.
Để công tác bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả hơn, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị, thời gian tới UBND tỉnh phải quyết liệt giữ diện tích rừng hiện hữu một cách nghiêm ngặt, tăng cường quản lý, tuần tra tại các khu vực có rừng trọng điểm trên địa bàn, kéo giảm đến mức thấp nhất số vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, phải lập riêng một đề án cụ thể trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đến cuối năm 2017, Sở NN - PTNT phải hoàn thành kế hoạch, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn - Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh nhấn mạnh yêu cầu. (Đại Biểu Nhân Dân 23/7) đầu trang(
“Vừa qua, tỉnh đã có chủ trương qui hoạch lại đất rừng, mạnh dạn chuyển đổi gần 200.000ha đất lâm nghiệp sang thành đất sản xuất. Đó là một quyết định quan trọng có bước đột phá trong bảo vệ và phát triển vốn rừng ở Sơn La”
Tại các xã Háng Đồng, Hang Chú, Tà Xùa (Bắc Yên), Suối Tọ, Mường Thải, Mường Bang (Phù Yên); Tân Xuân, Xuân Nha, lóng Luông (Vân Hồ)… hàng ngàn hộ dân đang sinh sống và sản xuất ngay trên diện tích đất lâm nghiệp. Nói cách khác, những hộ dân này đang vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Đào Mạnh Phong - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mộc Châu, tâm sự: "Không chỉ riêng Sơn La mà các tỉnh có rừng đều vướng phải một thực tế là dân cư sinh sống và sản xuất ngay trên chính đất lâm nghiệp. Điều này nhìn về mặt luật pháp thì không ổn, nhưng nhìn về mặt lịch sử thì hiện tượng này luôn tồn tại bởi nó gắn với tập tục du canh, du cư đã có từ lâu đời. Bên cạnh đó là nhu cầu sản xuất của người dân ngày càng tăng trong khi đất sản xuất thì không biết sinh nở…"
Mộc Châu là một trong những huyện tiên phong ở Sơn La trong việc “đòi lại” hàng ngàn ha đất rừng bị nông dân xâm lấn làm đất nương và đã khá thành công. “Trong 5 năm vừa qua, ngoài việc tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn người dân trả lại diện tích đất lâm nghiệp đã xâm lấn làm nương, để việc trả lại đất rừng của nông dân diễn ra bền vững, tránh “bắt cóc bỏ đĩa”, Mộc Châu cũng đã mạnh dạn chấp nhận cho bà con được sản xuất trên chính diện tích đất lâm nghiệp mà họ đã tự giác trả lại rừng. Nghĩa là những diện tích ấy được trồng các loại cây lâm nghiệp mà người dân chính là chủ hưởng lợi khi cây ấy đến tuổi khai thác. Vì thế, bà con hăng hái trồng hàng ngàn ha xoan, ban đan xen cây ăn quả...
Ông Lương Ngọc Hoan - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La cho biết: Với quy hoạch trước đây, Sơn La có hơn 900.000ha đất lâm nghiệp. Nhưng trên thực tế thì hàng trăm ngàn ha đã bị người dân xâm lấn từ lâu để làm đất ở, đất sản xuất như tại các bản: Cột Mốc, Dân Quân trong rừng đặc dụng Xuân Nha; bản Năm Nhà, Làng Sáng trong rừng đặc dụng Tà Xùa… Sơn La cũng đã từng họp rất nhiều lần, triển khai nhiều đợt vận động di chuyển dân ra khỏi rừng nhưng rồi đâu lại hoàn đó bởi chính người dân ấy quá khó khăn thì mới vào nơi rừng sâu núi thẳm mà sinh sống. Vì thế, chủ trương quy hoạch lại đất rừng hiện nay của tỉnh Sơn La rất được người dân đồng thuận mà kiểm lâm chúng tôi cũng rất vui!
Ông Vì Văn Thiết ở bản Tát Ngoẵng, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu, thật thà cho hay: Bao năm nay các hộ lấn đất rừng vừa làm nương, vừa lo ngay ngáy bị phạt, bị thu lại đất. Bây giờ tỉnh có chủ trương quy hoạch lại đất lâm nghiệp, chuyển những diện tích đất rừng mà người dân đang ở, đang sản xuất sang cho người dân sử dụng hợp pháp, chúng tôi rất mừng. Có thêm đất sản xuất, chúng tôi no ấm hơn và sẽ bảo vệ rừng tốt hơn...
Trên chân đèo Chiềng Đông thuộc xã Chiềng Đông, huyện Yên Châu, nơi đây 17 năm trước Sơn La đã thực hiện cắm mốc chỉ giới rừng – nương rẫy. Nhưng có một thực tế là suốt 17 năm qua, mốc chỉ giới này luôn bị vi phạm. Ông Lò Văn Dịch - dân bản Chai, xã Chiềng Đông, tâm sự: "Vì là đất sản xuất vi phạm nên người dân chỉ dám trồng ngô, sắn chứ chẳng ai dám yên tâm đầu tư cây trồng dài ngày, vì thế tình trạng đất bị xói mòn, lở loét càng diễn ra mạnh hơn. Nay Nhà nước cho phép dân được sản xuất trên chính mảnh đất đó làm chúng tôi rất yên tâm. Hàng trăm hộ dân ở quanh đây đã mạnh dạn chuyển đất trồng cây ngắn ngày sang trồng những giống cây ăn quả lâu năm như: Xoài, nhãn, mận, bưởi, cam, chanh… Như thế là rừng vẫn xanh mà dân thì no ấm". (Dân Việt 25/7) đầu trang(
Là một trong những mặt hàng XK chủ lực của ngành nông nghiệp, hàng năm đem về nhiều tỷ USD, XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ dự kiến còn tiếp tục giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định với tiềm năng phát triển rộng mở.
Nhiều năm trở lại đây, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ có sự tăng trưởng khá mạnh mẽ. Số liệu của Bộ NN&PTTN cho thấy: Giá trị XK đồ gỗ và lâm sản đã tăng hơn 2 lần, từ 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006-2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn 2012-2015. Năm 2016, XK mặt hàng này cũng đạt tới 7,3 tỷ USD, trong đó xuất siêu 5,4 tỷ USD.
Bước sang nửa đầu năm 2017, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ tiếp tục đón nhận những tín hiệu tích cực khi giá trị XK ước đạt 3,6 tỷ USD, tăng trên 13% so với cùng kỳ năm 2016. Hoa Kỳ, Trung Quốc, và Nhật Bản - 3 thị trường NK gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm, chiếm 69,6% tổng giá trị XK. Điểm đáng chú ý là, nhiều thị trường lớn có giá trị XK gỗ tăng mạnh như Trung Quốc (trên 30%), Hoa Kỳ (16,8%), Hàn Quốc (11,5%), Đức (10%)…
Nhìn nhận về “bức tranh” XK gỗ và sản phẩm từ gỗ nửa đầu năm, ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores) cho rằng: Kết quả đạt được cũng là điều bình thường, không có gì đột biến. Những năm gần đây, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ vẫn có mức tăng trưởng trung bình khoảng 10-15%. Dự kiến, mức tăng trưởng này vẫn duy trì ổn định trong thời gian tới.
Với đà XK hiện tại, ngành lâm nghiệp dự báo, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ cả năm nay sẽ đạt mức 7,6-7,8 tỷ USD, tăng đáng kể so với con số 7,3 tỷ USD của năm 2016.
Phấn đấu xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USDLiên quan tới chế biến, XK gỗ, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết: Mục tiêu toàn ngành lâm nghiệp đặt ra là đến năm 2020, tốc độ gia tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân năm đạt từ 5,5-6%; nâng cao năng suất rừng trồng lên 20m3/năm; giá trị XK đồ gỗ và lâm sản đạt từ 8,0-8,5 tỷ USD.
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ quan trọng đặt ra là phát triển công nghiệp chế biến gỗ thông qua việc hỗ trợ các nhà máy chế biến gỗ, khu lâm nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ; tăng tỷ trọng đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở, hạ tầng và dịch vụ trong lâm nghiệp, nhằm giảm chi phí trồng, khai thác, vận chuyển và chế biến sản phẩm. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng hỗ trợ cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững với con số 100.000 ha rừng/năm, nhằm đảm bảo sản phẩm gỗ của Việt Nam đủ điều kiện đáp ứng được yêu cầu quốc tế.
Trên thực tế, thời gian qua, Bộ NN&PTNT đã khá tích cực trong khâu tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi; thúc đẩy, khuyến khích hình thành các DN quy mô vừa và lớn, lấy các DN mạnh làm trung tâm liên kết chuỗi đối với sản phẩm chủ lực, nhất là sản phẩm XK. Ngoài ra, các nội dung được đẩy mạnh còn là xây dựng, nhân rộng các mô hình kinh tế hợp tác và thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình cùng DN tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo mô hình “cánh đồng lớn”; đẩy mạnh công tác quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ gỗ rừng trồng theo tiêu chuẩn của Việt Nam phù hợp với quy đinh, thông lệ quốc tế.
Một trong những điểm không thể bỏ qua khi đề cập tới những động thái từ phía Bộ NN&PTNT nhằm phát triển ngành chế biến, XK gỗ là Bộ đã chủ động hội nhập, thực hiện đầy đủ cam kết quốc tế; có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa hợp lý, đồng thời đàm phán các hiệp định kỹ thuật, triển khai thực hiện Hiệp định đối tác tự nguyện VPA/FLEGT với EU nhằm mở rộng thị trường quốc tế cho XK lâm sản.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết: Để ngành lâm nghiệp nói chung, chế biến, XK gỗ và sản phẩm từ gỗ nói riêng phát triển ngày càng bền vững, Bộ NN&PTTN đề nghị Chính phủ ưu tiên bố trí các dự án ODA cho lâm nghiệp, nhất là đối với khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc, khu vực ven biển; sớm xem xét phê duyệt Đề án khôi phục, bảo vệ và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2025, cân đối bố trí vốn cho Dự án bảo vệ và phát triển rừng huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Bên cạnh đó, Bộ NN&PTNT cũng đề nghị Bộ Tài chính rà soát, sửa đổi ,bổ sung các thông tư hướng dẫn quản lý, thanh toán vốn sự nghiệp và vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 57/QĐ-TTg để chuyển sang thực hiện Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng chính phủ. (Hải Quan 24/7) đầu trang(
Yên Bái: Xuân Tầm phát huy thế mạnh đồi rừng
Xã Xuân Tầm là xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Văn Yên, với 98% dân số là dân tộc Dao. Mặc dù còn những khó khăn, song Xuân Tầm đã và đang phấn đấu thực hiện chương trình phát triển kinh tế đồi rừng nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế của người dân.
Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng bộ, chính quyền xã Xuân Tầm cùng với sự cố gắng của người dân, cuộc sống của bà con nơi đây đang từng bước đổi thay. Nguồn thu nhập chính của nông dân trong xã từ phát triển kinh tế đồi rừng, với tổng diện tích rừng sản xuất trên 4.500 ha thì quế chiếm gần 3.400 ha.
Trong đó, trên 50% diện tích quế đến kỳ khai thác, mỗi năm xuất bán từ 500 - 600 tấn quế vỏ, hàng nghìn tấn cành, lá thu về hàng chục tỷ đồng. Để đẩy mạnh phát triển kinh tế đồi rừng, chính quyền xã đã tích cực vận động người dân, tạo điều kiện về đất trồng, cây giống, đặc biệt là cây quế. Hầu như gia đình nào ở Xuân Tầm cũng trồng quế, nhà ít thì 1 ha, nhà nhiều vài chục héc - ta.
Những gia đình trồng nhiều quế như: ông Triệu Tài Trình ở thôn Khe Lép 1 có trên 20 ha; ông Triệu Văn An ở thôn Khe Chung 3 có 20 ha; ông Đặng Phúc Huyện ở thôn Khe Chung 1 có 25 ha… Nhà xây, xe máy, ti vi, tủ lạnh hay con cái học hành đều từ quế mà ra.
Ông Triệu Văn An ở thôn Khe Chung 3 từng là một trong những hộ khó khăn trong thôn chia sẻ: “Kinh tế gia đình tôi trước kia chỉ trông chờ vào mấy mẫu ruộng chăn nuôi nhỏ lẻ. Trong khi đó gia đình đông con nên cuộc sống rất khó khăn. Từ khi chuyển sang trồng quế, kinh tế gia đình tôi mới khá lên. Hiện giờ, tôi lúc nào cũng duy trì nuôi 15 con lợn trở lên, cùng với 20 ha quế từ 1 - 20 năm tuổi. Mỗi năm từ khai thác quế, chăn nuôi, tôi cũng thu về trên 200 triệu đồng”.
So với các loại cây lâm nghiệp khác thì quế là cây có giá trị kinh tế cao hơn hẳn. Với ưu điểm sống được trên các diện tích đất bạc màu, đất xói mòn và phù hợp với khí hậu nên quế ở Xuân Tầm đã trở thành cây chủ lực để xóa đói giảm nghèo cho người dân địa phương.
Tuy nhiên, tiềm năng và cơ hội đã có nhưng việc phát triển kinh tế đồi rừng của Xuân Tầm vẫn còn không ít khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu do người dân vẫn quen lối canh tác lạc hậu, áp dụng khoa học, kỹ thuật còn nhiều hạn chế, giao thông đi lại ở các thôn, bản xa còn gây khó khăn trong quá trình khai thác, vận chuyển.
Ông Trần Đức Thịnh - Chủ tịch UBND xã cho biết: “Xuân Tầm là một xã còn nhiều khó khăn, cho nên chúng tôi luôn tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện để bà con tích cực xóa đói giảm nghèo. Mỗi năm, có tới 30.000 cây quế giống được hỗ trợ cho các hộ trên địa bàn theo Chương trình 135. Bên cạnh việc chuyển giao khoa học, kỹ thuật để bà con trồng rừng hiệu quả hơn cùng với việc phát triển rừng, công tác bảo vệ rừng cũng được chính quyền rất chú trọng".
"Chúng tôi đã tích cực phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức các lớp tập huấn cho bà con ở các thôn, bản nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng trong quản lý, khai thác tài nguyên rừng bền vững. Giá trị kinh tế từ cây quế mang lại đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn xã xuống còn 50,2% đến thời điểm hết năm 2016” - ông Thịnh trao đổi.
Thấy được lợi ích và hiệu quả của cây quế, nên nhiều hộ trong xã tập trung mở rộng diện tích trồng quế. Quế rải khắp 20 thôn, bản; trong đó, tập trung nhiều nhất ở các thôn: Khe Chung 1, Khe Lép 1, Khe Đóm 1, Khe Chung 3, Khe Lép 2...
Đặc biệt, các thôn như Khe Chung 3 và Khe Lép 2 chỉ có hơn 5 ha ruộng nước, nhưng mỗi thôn có trên 200 ha quế. Đầu ra của sản phẩm quế cơ bản đều được các tiểu thương, doanh nghiệp thu mua và chế biến. Hợp tác xã Bách Lâm thu mua cành, lá, chế biến tinh dầu đóng ngay trên địa bàn xã. Đối với sản phẩm quế vỏ khô, xã cũng đã liên kết với Công ty Hương gia vị Sơn Hà (Bắc Ninh) để thu mua nhằm giữ giá cả ổn định và giúp nhân dân về kỹ thuật trồng quế, phát triển vùng nguyên liệu quế ổn định và bền vững.
Có thể thấy, những năm qua, chính quyền và nhân dân xã Xuân Tầm đã cố gắng khắc phục mọi khó khăn để tập trung sản xuất phát triển kinh tế đồi rừng. Phát huy tiềm năng và lợi thế về phát triển kinh tế đồi rừng chính là hướng đi đúng đắn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân, thực hiện hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa phương. (Báo Yên Bái 24/7) đầu trang(
Sáng 24/7, làm việc với tỉnh Quảng Ngãi về chính sách giảm nghèo, dân tộc, miền núi, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu lãnh đạo tỉnh phải quan tâm giao đất, giao rừng để bà con dân tộc vừa giữ rừng vừa có thu nhập.
Phó Thủ tướng đề nghị tỉnh Quảng Ngãi cần thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào miền núi, hướng dẫn, tạo điều kiện cho bà con chuyển đổi nghề, tiếp cận khoa học công nghệ để áp dụng vào sản xuất. Nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế hiệu quả trong trồng trọt, chăn nuôi và phát huy bản sắc của các dân tộc thiểu số, đẩy mạnh phát triển du lịch. Phấn đấu trong năm nay, giảm tỷ lệ hộ nghèo ở miền núi tỉnh Quảng Ngãi đạt 5,7%.
Nhân dịp này, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã đến thăm và tặng quà cho gia đình chính sách, người uy tín và học sinh ở huyện miền núi Tây Trà, thăm Mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Hồng ở phường Quảng Phú, thành phố Quảng Ngãi. (VTV 24/7) đầu trang(
Là một cựu chiến binh, thương binh Võ Văn Lâm, quê ở Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên - Huế đã từng đổ nhiều mồ hôi, nước mắt để có cánh rừng xanh tươi như hôm nay.
Hơn hai mươi năm qua ông đã trải qua muôn vàn khó khăn, miệt mài khai khẩn đất rừng ở vùng chiến khu xưa. Đến nay, ông đã có 1 cơ ngơi đáng mơ ước với hàng chục ha rừng, hơn 100 con bò cho thu nhập hàng trăm triệu đồng 1 năm.
Năm 1994, ông Lâm quyết định lên lập nghiệp tại chiến khu Dương Hòa. Thời đó, nơi đây là rừng núi hoang vu. Ngày ngày, ông trèo đồi núi gần 10 cây số để chăn bò. Người dân quanh vùng thấy bò của ông lớn nhanh, nên đem bò đến nhờ ông giữ rẽ, tức là chăm sóc đến khi bò đẻ, ông được chia đôi số bê con. Chăn bò tuy mệt, song không căng thẳng như khi bò ốm.Năm 1999, cả đàn bò bị dịch lở mồm long móng ông phải dốc sức để chạy chữa cho đàn bò.
Ông Võ Văn Lâm, Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế chia sẻ, năm 99, đàn bò ở Dương Hòa và đây bị lở mồm long móng cả đàn, cả ngày cả tháng, bữa mai dậy nấu cơm rồi làm thuốc, thuốc xong lại bứt đọt, bứt cỏ cho nó ăn, rồi để áo ướt, quần ướt ngồi ăn cơm, rồi đi lại cùng theo hướng dẫn của thú y mình làm nên rồi đàn bò khôi phục.
Sau 10 năm giữ bò rẽ ông có 130 con bò . Năm 2003, ông bán gần nửa đàn bò ,đầu tư trồng 40 ha rừng, rồi mỗi năm lại mở thêm diện tích. Rừng của ông hiện lên xanh bạt ngàn, với tổng diện tích hơn 80 ha. Để thuận lợi cho việc trồng rừng, hơn 10 năm qua, ông đã đầu tư gần 450 triệu đồng mở gần 5km đường từ trục đường chính của xã vào rừng.
Theo ông Lê Văn Kháng, Nguyên PCT UBND Xã Dương Hòa,Thị Xã Hương Thủy-Tỉnh TT Huế cho biết, lúc đầu ở đây không có con đường đâu, chỉ có 1 con đường nhỏ, bà con đi làm củi làm mây, đường sá khg có sau đó một thời gian, mấy năm gần đây, anh Lâm đã bỏ ra kinh phí mở 1 đoạn đường dài 4,5 km, sau khi anh Lâm mở đường, bà con rất thuận lợi đi lại làm rừng, phát triển kinh tế, phải nói công sức của anh rất lớn.
Không chỉ làm kinh tế giỏi, ông Lâm còn thường xuyên hỗ trợ địa phương , gia đình liệt sĩ tìm kiếm hài cốt liệt sỹ. Đến nay ông đã cùng đồng đội tìm kiếm được hơn 50 hài cốt. Ông đã bốn lần được tặng thưởng Huân chương giải phóng Hạng nhất, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú vv. Năm 2007 ông được khen thưởng tại Đại hội Toàn quốc tôn vinh thương binh Tàn mà không Phế. Hiện nay ông đang được Ban chỉ huy Quân sự Thị xã Hương Thủy đề nghị làm hồ sơ Tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Ông Nguyễn Văn Dũng, Nguyên Chủ tịch Hội CCB Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy, Tỉnh TT Huế cho biết, sau khi rời quân ngũ về với đời thường đồng chí Lâm khắc phục mọi khó khăn và tham gia Đảng bộ và phát huy truyền thống bộ đội cụ Hồ tham gia vào sản xuất trồng rừng, thành lập trang trại hiện nay đồng chí Lâm có cơ sở vật chất lớn.
Những thành quả trên có được, đều khởi nguồn từ Lẽ Sống mà ông luôn khắc cốt ghi tâm: Sống phải có mục đích , ước mơ, và không bao giờ sợ khó, sợ khổ, quyết tâm vượt qua mọi thử thách để đạt được ước mơ của mình. (ANTV 24/7) đầu trang(
“Kiến thức đào tạo không được nặng về khai thác, sử dụng rừng như trước đây, phải chuyển dần và rất nhanh sang quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên giảm nhẹ thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng chiến lược phát triển đào tạo ngành lâm nghiệp trong thời gian tới”
Ngày 21/7, trường ĐH Lâm Nghiệp Việt Nam phối hợp với Ủy ban Khoa học công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Tổng Cục Lâm Nghiệp, Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo: "Cơ sở khoa học và thực tiễn của dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)".
Phát biểu khai mạc Hội thảo, GS.TS. Trần Văn Chứ - Hiệu trưởng trường ĐH Lâm Nghiệp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phát triển Lâm nghiệp chung, cùng định hướng đào tạo nâng cao nguồn nhân lực phục vụ ngành lâm nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế hóa hiện nay.
Những nội dung của hội thảo được trao đổi tập trung vào các vấn đề như phân loại rừng; bảo vệ nguồn nước, sở hữu rừng và chuyển mục đích sử dụng rừng, những vấn đề về chủ rừng… Các ý kiến cần kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, đưa vào Luật sửa đổi những quy định đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật này với các Luật khác có liên quan.
“Thông qua hội thảo, tôi mong muốn các chuyên gia, các nhà khoa học tích cực đóng góp ý kiến, đề xuất nhằm xây dựng và hoàn thiện dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), góp phần phát triển và xây dựng ngành Lâm nghiêp rừng ngày càng bền vững” G.S Trần Văn Chứ hi vọng.
Đồng quan điểm, TS. Phùng Đức Tiến, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết: “Sau 12 năm (2003 - 2014) thực hiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, chuyển từ nền lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang nền lâm nghiệp xã hội với nhiều thành phần kinh tế tham gia; từ chủ yếu dựa vào khai thác rừng tự nhiên sang bảo tồn, bảo vệ, nuôi dưỡng, làm giàu rừng và trồng rừng”.
Tuy nhiên, ông Tiến cho rằng, trong quá trình vận dụng vào thực tiễn, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng còn tồn tại nhiều bất cập, bộc lộ những tồn tại, hạn chế, do vậy việc điều chỉnh, sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng là điều cần thiết.
Qua đây, TS. Phùng Đức Tiến đã đưa ra những định hướng cụ thể để các đại biểu tham dự Hội thảo thảo luận, góp ý nhằm hoàn thiện Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) sớm trình Ủy ban thường vụ Quốc hội trong kỳ họp tới.
"Xu hướng hiện nay trong cơ cấu ngành lâm nghiệp nói chung, đang chuyển dịch từ khai thác, sử dụng rừng sang trồng, bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời xây dựng môi trường, bảo vệ cảnh quan, nguồn gen… của rừng bền vững với công nghệ cao, sử dựng, khai thác rừng có kế hoạch hợp lí, hội nhập thương mại hóa quốc tế cho lĩnh vực lâm sản nói riêng là những vấn đề đang đặt ra trong toàn dân" - ông Tiến nhấn mạnh.
Đi đôi với bảo vệ và phát triển rừng là đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cần được đào tạo chuyên môn hóa ngày càng cao phù hợp với chuyển dịch cơ cấu ngành mà nhiều đại biểu quan tâm.
Ông Nguyễn Văn Tuấn – Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo trường Đại học Lâm nghiệp cho biết: “Từ trước đến nay, lĩnh vực lâm nghiệp đều nằm trong tình trạng tương đối khó khăn, đời sống của người lao động trong ngành thấp hơn so với mặt bằng chung của xã hội. Bên cạnh đó, đây là ngành học tương đối khó khăn, gian khổ và không phải điểm nóng về lựa chọn nghề nghiệp nên cũng ít sinh viên định hướng theo học.
Tuy nhiên, do đều đến từ những vùng có điều kiện kinh tế tương đối khó khăn nên công tác đào tạo, học tập của cả thầy và trò đều gặp những hạn chế như: khả năng tiếp nhận kiến thức, kết quả học tập, trình độ ngoại ngữ, kĩ năng mềm... Do đó, việc chuyển đổi đào tạo kĩ thuật cao, công nghệ hiện đại từ trồng cho tới tiêu thụ thương mại lâm sản gặp nhiều hạn chế.
Theo ông Tuấn, định hướng trong tương lai nhà trường bắt đầu chuyển hướng sang định hướng quản lý bền vững, tài nguyên rừng dựa trên cơ sở phát triển bền vững.
"Trước đây, kiến thức đào tạo của nhà trường nặng về khai thác, sử dụng rừng thì hiện nay nhà trường đang chuyển dần sang quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên giảm nhẹ thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng chiến lược chính trong đào tạo tất cả các ngành học" - ông Tuấn cho hay.
Cùng bàn thêm về chất lượng đào tạo của ngành Lâm nghiệp, GS.TS Phạm Văn Điển – Phó hiệu trưởng trường Đại học Lâm nghiệp kiêm Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà Giang cho rằng, dòng chảy của cuộc cách mạng 4.0 ngày càng mạnh mẽ, một nền lâm nghiệp kỹ thuật cao đang là mục tiêu phát triển mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đang hướng tới. Chính vì vậy, chiếu theo đòi hỏi ngày càng cao trong tương lai thì rõ ràng chất lượng nguồn nhân lực đào tạo của trường phải không ngừng được nâng cao.
Để khắc phục những yếu điểm và trang bị đẩy đủ kiến thức cho sinh viên bắt kịp với yêu cầu của nhà tuyển dụng, GS Điển cho biết thêm, trường ĐH Lâm nghiệp đang tích cực thay đổi chiến lược đào tạo lấy chất lượng sinh viên làm thước đo và cũng là lợi ích của người học làm mục tiêu phấn đấu. Bên cạnh đó, nhà trường cũng chỉnh sửa, bổ sung chiến lược phát triển của mình để bắt kịp với dòng chảy của xã hội, phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng.
"Hiện tại trên 70% sinh viên đã tốt nghiệp của trường đều đáp ứng tốt các đòi hỏi của nhà tuyển dụng lao động" - GS Điển cho hay.
GS.TS Điển thông tin thêm, ĐH Lâm nghiệp cũng đang đẩy mạnh đào tạo về lâm nghiệp công nghệ cao cho sinh viên, từ khâu đầu vào đến đầu ra. Đồng thời, đẩy mạnh đào tạo thương mại lâm nghiệp trong nước và quốc tế, giúp sinh viên đủ tự tin khởi nghiệp, làm giàu từ những kiến thức mình học được.
Cùng nói về định hướng phát triển đào tạo nguồn nhân lực Lâm nghiệp nói chung, T.S Phạm Xuân Phương – Chuyên gia độc lập về Lâm Nghiệp cho rằng: “Định hướng phát triển Lâm nghiệp trong tương lai nên bắt đầu chuyển hướng sang quản lý bền vững tài nguyên rừng dựa trên cơ sở phát triển bền vững. Kiến thức đào tạo không được nặng về khai thác, sử dụng rừng như trước đây, phải chuyển dần sang quản lý bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên giảm nhẹ thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng chiến lược phát triển chung, không chỉ riêng gì đào tạo lâm nghiệp".
Bài toán về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ngành lâm nghiệp còn nhiều khó khăn từ khâu học tập đến khâu sử dụng lao động của sinh viên sau khi ra trường; các nhà quản lí giáo dục cần định hướng đúng xu hướng hơn nữa trong thời gian tới. (Dân Trí 22/7) đầu trang(
Năm nay, huyện Na Rì có kế hoạch trồng mới 970ha rừng, kết thúc khung thời vụ, toàn huyện đã trồng được trên 1.000ha rừng, đạt 106% kế hoạch.
Trong đó, huyện trồng rừng sản xuất tập trung được 450ha, trên 310ha rừng phân tán, còn lại là rừng phòng hộ và rừng do dân tự trồng.
Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các địa phương, Ban quản lý Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng của huyện và cùng với việc cấp cây giống được triển khai kịp thời nên người dân đã triển khai trồng rừng theo đúng tiến độ đề ra.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được thì trong vụ trồng rừng vừa qua, do lực lượng kiểm lâm và chính quyền ở một số địa phương chưa sâu sát trong việc hướng dẫn người dân quy trình, thủ tục xử lý, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt để trồng rừng nên đã để xảy ra tình trạng tùy tiện khai phá rừng trái phép, làm thiệt hại hơn 13ha rừng ở xã Đổng Xá. Đây cũng là bài học cần được chính quyền và ngành chức năng của huyện Na Rì rút kinh nghiệm trong các vụ trồng rừng tiếp theo. (Đài PTTH Bắc Kạn 24/7) đầu trang(
Sở Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức Hội thảo khoa học về đề tài nghiên cứu ứng dụng công cụ kinh tế môi trường để đánh giá tác động của việc trồng cao su trên đất rừng khộp tại tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Ea Súp nói riêng.
Đề tài nghiên cứu của Sở Khoa học và Công nghệ đánh giá về tình hình trồng cao su; hiện trạng các dự án trồng cao su trên đất rừng khộp chuyển đổi; những vấn đề, bất cập và phát sinh từ thực tế triển khai thực hiện các dự án chuyển đổi rừng khộp sang trồng cao su; hiện trạng và kết quả. Nhóm nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá tổng hợp về sự phù hợp và thích nghi của các dự án; nghiên cứu xây dựng hệ thống các tiêu chí, chỉ số đánh giá tác động tổng hợp; phương pháp luận về phân tích lợi ích chi phí để đánh giá tác động kinh tế, xã hội, môi trường của việc chuyển đổi đất rừng khộp sang trồng cao su.
Tại hội thảo, đại diện các xã thị trấn, doanh nghiệp, công ty trên địa bàn huyện Ea Súp đã tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến cho quy hoạch phát triển cao su trên địa bàn; trong đó nêu rõ những khó khăn, tồn tại như: tình hình xâm canh, lấn chiếm đất khu vực dự án; địa hình đất rừng khộp không đồng nhất, cần được khảo sát kỹ lưỡng; vốn đầu tư cao, khó khăn về vay vốn; giá mủ biến động; nhiều dự án không quan tâm đến quản lý bảo vệ rừng; các chủ dự án triển khai không thành công thường thiếu hợp tác; khiếu kiện về tranh chấp đất đai kéo dài, mua bán sang nhượng đất trái phép; những ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, mất sinh cảnh của động vật hoang dã, mất cân bằng sinh thái. (Báo Đắk Lắk 24/7) đầu trang(
Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã được các cấp, các ngành, địa phương huyện Quảng Ninh luôn chú trọng thực hiện. Đến nay, độ che phủ rừng toàn huyện được nâng lên đáng kể, đạt gần 71%. Tuy vậy, hiện nay, Quảng Ninh vẫn tồn tại một số bất cập trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Huyện Quảng Ninh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 102.305ha; trong đó, rừng tự nhiên 78.746ha, rừng trồng 15.030ha và đất lâm nghiệp 8.528ha, với 3 loại rừng gồm: rừng đặc dụng 127,5 ha, rừng phòng hộ 44.778ha và rừng sản xuất 55.869ha.
Ông Nguyễn Ngọc Thụ, Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh cho biết, để bảo vệ và phát triển rừng bền vững, huyện Quảng Ninh đã tăng cường giao đất, giao rừng cho người dân. Đến nay, toàn huyện đã thực hiện giao khoán rừng đến từng tổ chức kinh tế, từng hộ gia đình, bảo đảm cho rừng có chủ thực sự. Nhân dân đã chủ động phát triển vốn rừng, xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng thôn, bản một cách hiệu quả. Với những diện tích rừng được giao quản lý, sử dụng, người dân đã yên tâm đầu tư phát triển, chăm sóc, qua đó nâng cao được hiệu quả của việc trồng và bảo vệ rừng.
Năm 2016, toàn huyện đã trồng được 952 ha rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng 2.536 ha, chăm sóc rừng trồng 1.496 ha, giao khoán bảo vệ rừng 16.116 ha; khai thác rừng trồng 462 ha với sản lượng 17.032m3, khai thác gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch tại Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn với khối lượng 6.653m3. Trong 6 tháng đầu năm 2017, Quảng Ninh trồng 128 ha rừng, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng đạt 12.403 m3, chăm sóc 3.626 ha rừng...
Công tác quản lý bảo vệ rừng đã được các cấp, các ngành, địa phương trong huyện chú trọng thực hiện, nhất là công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép, gây hủy hoại môi trường trên địa bàn.
Lực lượng Kiểm lâm từ huyện đến cơ sở đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và chống chặt phá rừng.
Trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, huyện xây dựng các phương án cụ thể; phân công trách nhiệm cho các đơn vị liên quan. Các lực lượng chức năng của huyện luôn phối hợp với UBND các xã có rừng xây dựng lực lượng tại chỗ, bám sát địa bàn, khu vực có rừng, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra, nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Vì vậy, trong những năm gần đây, trên địa bàn không để xảy ra các vụ cháy rừng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và tài sản của nhân dân.
Theo số liệu tổng hợp của Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh, năm 2016, các cơ quan chức năng của huyện đã phát hiện, lập biên bản xử lý 91 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, thu giữ gần 98 m3 gỗ, tổng số tiền xử lý hành chính trên 1 tỷ đồng.
Riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, lực lượng chức năng phát hiện, lập biên bản 29 vụ vi phạm lâm luật, tạm giữ 15,71m3 gỗ các loại (trong đó có 7,584m3 gỗ quý hiếm); đã xử lý 27 vụ, tịch thu 12,936m3 gỗ các loại (trong đó có 4,863m3 gỗ quý hiếm), thu nộp ngân sách Nhà nước 304 triệu đồng. Nhờ tích cực triển khai các giải pháp, nên tình hình bảo vệ rừng trên địa bàn đã giữ được ổn định, không có điểm nóng về phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Mậu Phấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện, công tác quản lý và phát triển rừng ở Quảng Ninh vẫn còn nhiều tồn tại. Kết quả phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng; chất lượng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm; đời sống của người dân sống liền rừng, ven rừng còn khó khăn, chủ yếu dựa vào rừng để mưu sinh. Công tác rà soát, bóc tách đất lâm nghiệp đề nghị UBND tỉnh thu hồi từ các đơn vị chủ rừng giao về địa phương quản lý để trồng rừng, phát triển lâm nghiệp ở xã Trường Sơn còn bất cập, chưa đạt được mục tiêu đề ra. Ở một vài nơi do quản lý, bảo vệ rừng chưa chặt chẽ đã xảy ra một số vi phạm.
Đặc biệt ở địa bàn xã Trường Sơn, người dân địa bàn vào rừng với số lượng khá lớn tại tiểu khu rừng dọc tuyến khe Lồ Ô và một số khu vực rừng do cộng đồng thôn bản quản lý để khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Thậm chí, bà con còn có hành vi chống đối khi bị ngăn chặn, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự và công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao đã bị chuyển đổi mục đích khác nhưng chưa xử lý kiên quyết, kịp thời.
Trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng “tại gốc” của một số chủ rừng và ban quản lý rừng cộng đồng chưa cao. Năng lực, trang bị của lực lượng quản lý bảo vệ rừng trực tiếp còn thấp; năng lực quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của đơn vị chủ rừng còn hạn chế...
Nhằm hạn chế những bất cập nêu trên, ông Nguyễn Ngọc Thụ cho biết, năm 2017 và những năm tiếp theo, huyện Quảng Ninh đề ra kế hoạch đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, phấn đấu đưa tỷ lệ che phủ rừng đạt 72% trở lên.
Trong đó, huyện tập trung nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng; chuyển mạnh mô hình tăng trưởng lâm nghiệp theo hướng từ trồng rừng cây gỗ nhỏ sang trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững cả về kinh tế - xã hội và môi trường.
Để thực hiện mục tiêu, huyện tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ, phát triển rừng trong nhân dân cùng với việc tiếp tục thực hiện sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý gắn với tăng cường bảo vệ tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp; tập trung quản lý bảo vệ tốt những diện tích rừng hiện có, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển.
Đồng thời, Quảng Ninh thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trên cơ sở tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật trong việc chọn tạo giống có chất lượng và năng suất cao cho nhóm cây chủ lực trồng rừng sản xuất; tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; nhân rộng các mô hình hợp tác trong lâm nghiệp, thúc đẩy tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình góp cùng doanh nghiệp tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô lớn; phát huy vai trò của trang trại, gia trại lâm nghiệp.
“Việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, thôn, hộ gia đình, cá nhân quản lý, sản xuất trên địa bàn thời gian qua đã mang lại kết quả tích cực. Do vậy, huyện Quảng Ninh tiếp tục đẩy mạnh công tác này bảo đảm tất cả diện tích rừng đều có chủ cụ thể và thực hiện phương thức đồng quản lý trong quản lý rừng; tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp thành vùng nguyên liệu chủ yếu bằng phương thức liên kết, liên doanh trồng rừng và doanh nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó, huyện cũng chú trọng đầu tư vốn để phát triển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng nhằm ổn định diện tích rừng, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai bền vững”- Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh, Nguyễn Ngọc Thụ nhấn mạnh. (Báo Quảng Bình 24/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Số lượng tê giác bị giết hại để lấy sừng ở Nam Phi đã giảm nhẹ trong nửa đầu năm nay, nhưng vẫn có hơn 500 cá thể động vật hoang dã quý hiếm này bị giết hại.
Phát biểu trong cuộc họp báo tại thành phố Johannesburg ngày 24/7, Bộ trưởng Môi trường Nam Phi Edna Molewa cho biết từ tháng Một đến nay, tổng cộng 529 cá thể tê giác đã giết hại bởi những đối tượng săn bắn trộm, giảm so với 542 con bị giết trong cùng thời kỳ năm ngoái.
Theo bà Molewa, mặc dù số lượng tê giác bị giết hại đã giảm nhẹ, nhưng vẫn đứng ở mức báo động. Đặc biệt, riêng Công viên quốc gia Kruger nổi tiếng của Nam Phi và châu Phi, đến nay số lượng loài động vật hoang dã quý hiếm này đã giảm 34%, so với cách đây 10 năm.
Trước đó, theo báo cáo của Tổ chức giám sát buôn bán động vật hoang dã thế giới (TRAFFIC), số lượng tê giác bị giết hại đã tăng mạnh từ 13 cá thể trong năm 2007 lên tới 1.215 cá thể vào năm 2014.
Chỉ riêng trong tám năm gần đây, khoảng 1/4 tổng số tê giác trên thế giới đã bị giết ở Nam Phi - quốc gia chiếm 80% tổng số loài động vật hoang dã quý hiếm này trên toàn cầu đang sinh sống. Theo TRAFFIC, Nam Phi đang phải đấu tranh quyết liệt với nạn săn bắt trộm loài tê giác bởi do nhu cầu sử dụng sừng của loài động vật hoang dã này gia tăng tại châu Á.
Cho đến nay, giới khoa học trên thế giới đã chứng minh sừng tê giác không phải là loại thuốc “chữa bách bệnh" như những đồn đại trong dân gian. (Vietnam+ 25/7) đầu trang(
Các nhà sinh vật học Mỹ vừa phát hiện ra 3 chủng cóc mới rất hiếm sinh sống tại vùng Hồ Lòng chảo lớn (Great Basin), bang Nevada (Mỹ). Đây là phát hiện rất hiếm ở Mỹ.
Theo thông tin đăng tải mới đây trên tạp chí khoa học, các nhà sinh vật học cho biết 3 loại cóc mới được tìm thấy trong cuộc khảo sát quy mô lớn vùng đáy hồ cổ. Tên khoa học của các loại này là Dixie Valley, Railroad Valley và Hot Creek.
Để xác định chính xác chủng loại của những con cóc này, các nhà khoa học phải sử dụng tới 30 nghiên cứu về hình dạng và mẫu DNA khác nhau. Qua đó, khẳng định đây là 3 giống cóc rất hiếm, đã tách khỏi họ nhà ếch từ hơn 650.000 năm trước.
Jenny Loda, một nhà sinh vật học ở Trung tâm nghiên cứu đa đạng sinh học Mỹ khẳng định "Phát hiện mới góp phần tăng hiểu biết của chúng ta về sự đa dạng của động vật lưỡng cư trong môi trường sống của chúng ta. Tuy nhiên, điều quan trọng là sự sự sống còn của loài vật này. Tôi hy vọng sự phát hiện này là kịp thời để có thể giúp các loài cóc thoát khỏi những đe dọa mà chúng phải đối mặt"
Kể từ năm 1985 đến nay, các nhà khoa học chỉ phát hiện được 3 loài ếch mới, còn các chủng cóc mới hầu như không được tìm thấy. Chủng cóc mới được phát hiện gần đây nhất là loài Wyoming, được các nhà khoa học tìm thấy ở miền bắc Mexico vào năm 1968. Chủng cóc này được nhận định đã tuyệt chủng. (Nông Nghiệp VN 24/7)đầu trang(./.
|
|||