Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 22 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Từ ngày 20 đến 24-12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh tổ chức tập huấn phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và cập nhất diễn biến rừng năm 2016 cho 82 cán bộ kiểm lâm thuộc các hạt, đội cơ động và các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh.
Trong thời gian tập huấn, các học viên được tìm hiểu các nội dung như: quy trình quản lý và PCCCR; hướng dẫn lập phương án PCCCR cấp huyện và chủ rừng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị PCCCR và vận hành thiết bị ngoài thực địa; giới thiệu về giao diện sử dụng của ứng dụng “Hệ thống theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp”; quy trình cập nhật theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp; nhập số liệu diễn biến rừng năm 2016…
Lớp tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ của cán bộ kiểm lâm trong việc PCCCR, góp phần nâng cao hiệu quả công tác PCCCR tại các địa phương và khu vực rừng do đơn vị mình quản lý; áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong việc thu thập số liệu, cập nhật chính xác diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. (Báo Đắk Lắk 20/12) đầu trang(
Mới đây thôi, có một tiến sĩ còn cho rằng "hồ thủy điện chỉ là nơi nước trời mượn đường chảy qua về hạ lưu". Nhưng dư luận cho đó là một lời bào chữa "vô cảm".
Miền Trung - sau sự cố môi trường là bão lụt sớm, muộn, rải đều không sót tỉnh nào và kéo dài như chưa từng xẩy ra. Vừa thiên tai lại vừa nhân tai. Chắc không ai còn nghi ngờ cái bóng ma "biến đổi khí hậu" chực chờ lâu nay, không còn nguy cơ mà nó đã sồng sộc đến. Cũng không ai lấp liếm được những lời cảnh báo không ngừng: chớ "đổi môi trường lấy lợi nhuận", chớ tàn phá rừng và thiên nhiên vì những lợi ích thiển cận trước mắt.
Hơn hai trăm đồng bào chết hoặc mất tích trong bão lụt, hàng chục ngàn ngôi nhà bị cuốn trôi hoặc chìm ngập hư hỏng. râu bò lợn gà, cá trong ao bị trôi theo dòng nước lũ phũ phàng. Khoai lúa, vườn tược trù phú hái ra tiền, những cánh đồng lúa chín chưa kịp gặt...biến mất trong nước. Cả khúc ruột miền Trung từ Hà Tĩnh tới Bình Thuận nối tiếp nhau hoặc cùng lúc oằn người lên, gồng mình lên chống lại tai ương. Không chỉ nông dân, ngư dân mà cả người thành thị, hệ thống du lịch, thương mại cũng trực tiếp hoặc gián tiếp chịu nạn.
Tai ương này hiếm khi xảy ra, đau thương này là nghiêm trọng, to lớn với một miền đất nghèo. Nhưng miền Trung đã rẽ nước đứng lên. Đau nhưng không bi lụy. Hình ảnh một con bò bị treo đầu lên vật lộn với nước lũ cũng dậy sóng trên mạng và hàng triệu người mừng rỡ khi biết nó được cứu sống. Với sự chia lửa và tình thương yêu của cả nước và nỗ lực của địa phương, cuộc sống và sản xuất nông nghiệp đang nhanh chóng trở lại trong làng mạc và trên những cánh đồng chỉ mới lộ ra dưới làn nước lũ lạnh lùng vừa mới rút.
Miền Trung là thế. Nơi thiên nhiên đẹp vô cùng nhưng cũng khắc nghiệt vô cùng, nơi con người là hiện thân của sự can trường và nghị lực hiếm thấy. Người miền Trung đã tự cứu lấy mình, với phương châm "tại chỗ", mọi sự cứu trợ đều đáng quý nhưng không gì so sánh được với nội lực của chính người dân.
Dù chúng ta đang sống trong một nền văn minh có những bước đột phá to lớn về kỹ thuật nhưng hãy còn rất, rất lâu nữa con người mới có thể dự báo chính xác thiên tai dài hạn để đề phòng, chưa nói tới khắc phục hay chống lại thiên nhiên và những lưỡi hái của nó như động đất, bão lụt. Hãy canh chừng ảo tưởng quá lố.
Gió mưa là bệnh của trời. Nhưng con người cũng góp phần không nhỏ, có lúc, có nơi con người không những tiếp tay mà còn là thủ phạm chính gây ra tai ương. Sai lầm có thể vô tình, cũng có thể lóa mắt vì tham lam mà quên bảo vệ cái nôi, cũng có thể do dốt nát, kém hiểu biết về bản thân mình và môi trường mình đang sống. Con người đã từng gây ra nhiều đại nạn cho chính mình mà không chờ trời. Vụ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở xứ Nga ba mươi năm sau vẫn còn nóng bỏng là một dẫn chứng.
Rõ ràng là con người cũng không thể vô can trong thiên tai Miền Trung. Thói tục đốt rừng làm rẫy và nhu cầu gỗ của một xã hội tiêu dùng vô hạn độ cùng lợi nhuận do rừng mang lại đã ngốn mỗi năm hàng chục ngàn ha rừng, kể cả rừng nguyên sinh đầu nguồn. Nếu có rừng đại ngàn, mỗi giọt nước mưa rơi xuống sẽ ngấm  vào đất hoặc phải len lỏi qua tán rừng, rễ cây rừng mất hàng tháng trời mới đến hạ lưu góp vào biển lũ. Khi rừng bị phá trụi, miền hạ lưu phải đối mặt ngay tức thì với những cơn mưa tận đầu nguồn!
Nếu rừng bị chặt phá biến lưu vực các con sông thành đất trống thì các hồ thủy điện được xây dựng khá nhiều ở miền Trung đã góp lũ không kém. Ngay các nhà khoa học cũng chưa thống nhất về vai trò của thủy điện đối với lũ lụt. Mới đây thôi, có một tiến sĩ cho rằng "hồ thủy điện chỉ là nơi nước trời mượn đường chảy qua về hạ lưu". Nhưng dư luận cho đó là một lời bào chữa " thừa vô cảm". Cảnh dân chúng tao tác vơ quét đồ đạc, lương thực chạy lụt ngay sau khi hồ thủy điện xả lũ là một kiểu mô hình thực tế không lý luận, học thuyết nào có thể bào chữa được.
Nước được trữ lại để làm ra lợi nhuận cho nhà đầu tư đã được sổ lồng trong một thời gian ngắn, gây ra những đợt lũ cục bộ bất ngờ. Thường muốn kết luận thủy điện tác động lên môi trường như thế nào khi xả lũ thì phải làm mô hình kỹ thuật trước khi xây dựng.
Nhưng đó là chuyện nước người. Nước mình ĐTM (đánh giá tác động môi trường) như ở dự án thủy điện Đồng Nai I và II (đã bị xóa bỏ) được chép lại từ một dự án trước đó! Với hàng trăm hồ thủy điện xả lũ để cứu đập nước vừa qua, miền Trung đã phải trả giá là một thực tế khó chối cãi.
Cơn ác mộng năm nay có thể đã qua. Nhưng mùa mưa năm tới cũng không xa gì. Miền Trung quặn đau đang trụ lại để đứng vững chờ những trận bão lũ mới. Năm nay khắc nghiệt nhưng chỉ là một năm gian truân trong lịch sử một miền Trung gian truân chưa có điểm dừng... (Dân Việt 22/12) đầu trang(
Là một trong những nước chịu tác động nặng nề của BĐKH, công tác bảo vệ rừng đối với Việt Nam được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy sáng kiến REDD+ đã sớm được quan tâm.
Trong nhiều năm qua, các quốc gia đang ra sức “xoa dịu” phản ứng của mẹ thiên nhiên do những hoạt động ảnh hưởng xấu đến môi trường gây nên bởi con người. Vấn đề được đề cập đến chính là hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) và giải pháp khắc phục.
Thiệt hại về kinh tế do BĐKH gây ra ngày càng tăng theo nhiệt độ trái đất. Như một phản ứng dây chuyền, khi nhiệt độ toàn cầu tăng thì thiên tai như bão lũ, hạn hán cũng sẽ xuất hiện.
Các cơn bão, lũ lớn không những làm mùa màng thất bát, tiêu phí nhiều tỉ đô la mà còn có thể cướp đi hàng ngàn sinh mạng mỗi khi nó xuất hiện (năm 2013, Chính phủ Philippines thống kê có gần 1.800 người thiệt mạng sau khi siêu bão Haiyan càn quét qua).
Con người là tác nhân chính gây ra hiện tượng BĐKH thông qua các hoạt động sản xuất, mở rộng đất xây dựng, sinh hoạt và chặt phá rừng. Nhận thức được tầm quan trọng của rừng nhưng ý thức bảo vệ rừng của con người không cao, điều đó dẫn đến việc mỗi ngày, theo ước tính có ít nhất 32.300 ha rừng biến mất khỏi bề mặt trái đất và ít nhất 32.300 ha rừng khác bị suy thoái.
Trên thế giới, nạn phá rừng gây thiệt hại tới 45 tỷ USD/năm. Tại Việt Nam xét riêng địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong năm 2010, đã xảy ra liên tiếp 2 trận lũ, làm 51 người chết, tổng thiệt hại tài sản ước tính 6.374 tỷ đồng.
Một trong những nguyên nhân chính là do diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn bị thu hẹp. Tính từ năm 2011 đến cuối 2015, thiên tai tại nước ta đã làm 1.128 người chết và mất tích, thiệt hại khoảng 660 triệu USD mỗi năm.
Từ năm 1992, trong khuôn khổ Liên Hợp Quốc, các nước đã tổ chức nhiều cuộc họp thường niên xoay quanh vấn đề về nhiệt độ trái đất tăng nhanh bất thường.
Tới năm 1997, hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí rằng hiện tượng nhiệt độ toàn cầu tăng nhanh là do lượng phát thải khí nhà kính lớn, chủ yếu từ các hoạt động đốt các loại nhiên liệu hoá thạch (chiếm 46%), nông nghiệp (chiếm 9%) và phá rừng nhiệt đới đóng góp khoảng 18% vào lượng gia tăng khí nhà kính. CO2 là loại khí nhà kính chủ đạo, chiếm gần 90% lượng khí nhà kính phát thải (gồm CO2, Metan, O3, hơi nước, CFC...).
Theo đó chương trình giảm phát thải khí nhà kính được đề xuất, và bảo tồn, phát triển diện tích rừng là một trong những đề án chủ chốt cần được thực hiện trước nhất trong quá trình hạn chế lượng phát thải khí nhà kính hiện nay. Đó là mục đích ra đời của sáng kiến REDD+.
Là một trong những nước chịu tác động nặng nề của BĐKH, công tác bảo vệ rừng đối với Việt Nam được đặt lên hàng đầu, chính vì vậy sáng kiến REDD+ đã sớm được quan tâm.
Từ năm 2009, Việt Nam đã triển khai thực hiện nhiều hoạt động để sẵn sàng tham gia vào cơ chế của REDD+. Trong năm 2010, mạng lưới REDD+ quốc gia và Tổ công tác REDD+ được thành lập, kể từ đó hàng loạt những chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề BĐKH được ban hành.
Ngày 27/06/2012, chương trình hành động quốc gia về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng” (gọi tắt là Chương trình REDD+) giai đoạn 2011 – 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 799/QĐ-TTg.
Đẩy mạnh thực hiện Chương trình hành động quốc gia về REDD+, ngày 10/01/2013 Bộ trưởng Bộ NN- PTNT đã ban hành Quyết định số 58/QĐ-BNN-HTQT thành lập dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam” do Quỹ đối tác các-bon trong Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới tài trợ.
Tổng kinh phí của dự án này là 4,432 triệu USD (trong đó vốn viện trợ không hoàn lại 3,8 triệu USD; vốn đối ứng 632.000 USD). Dự án thực hiện trong vòng 3 năm từ 2013-2015, thí điểm trên địa bàn ba tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị, và Đắk Nông.
Tổng kết giai đoạn 2009 – 2014, đã có 44 dự án liên quan đến REDD+ được triển khai với tổng lượng vốn cam kết là 84,31 triệu USD. Trong đó, 24 dự án đã kết thúc với tổng số vốn cam kết thực hiện là 18,65 triệu USD và 20 dự án đang hoạt động với tổng số vốn là 65,66 triệu USD.
Bên cạnh đó các cuộc hội thảo, tập huấn cho các Bộ ngành liên quan, các cơ quan truyền thông cũng đã và đang được thực hiện đan xen nhằm nâng cao nhận thức, năng lực quản lý và công tác tuyên truyền đại chúng về tầm quan trọng của REDD+ cũng như vai trò của rừng đối với cuộc sống của con người.
Có thể thấy công tác chuẩn bị của Việt Nam được tiến hành sớm, có tính hệ thống cao, một số dự án đã đi vào hoàn thiện. Tính tới hiện tại, những dự án đang trong tiến trình thực hiện được duy trì hoạt động hiệu quả theo đúng lộ trình, bên cạnh đó chúng ta tiếp tục lên kế hoạch triển khai cho những chương trình, dự án khả thi trong tương lai.
Đây là một sáng kiến quốc tế, được thực hiện tại các quốc gia đang phát triển, thông qua sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật từ cộng đồng quốc tế nhằm giảm phát thải khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, thông qua 5 hoạt động chính bao gồm: hạn chế mất rừng, hạn chế suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng các-bon rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, và tăng cường trữ lượng các-bon rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/12) đầu trang(
Ông Giàng A Phổng, Chủ tịch UBND xã Trung Thu (huyện Tủa Chùa) cho biết: Những năm qua, cấp ủy, chính quyền xã Trung Thu đã tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu về tầm quan trọng và lợi ích của việc bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này.
Đặc biệt, khi được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng người dân tích cực bảo vệ để hưởng lợi từ rừng. Xã Trung Thu có trên 3.200ha đất lâm nghiệp có rừng, phân bố đều khắp các thôn. Toàn bộ diện tích rừng của xã nằm trong lưu vực sông Đà và được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ – CP của Chính phủ. Số tiền dịch vụ môi trường rừng được chi trả hàng năm góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân.
Để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, hàng năm, chính quyền xã Trung Thu đã xây dựng quy ước, hương ước về bảo vệ và phát triển rừng, phổ biến rộng rãi tới các thôn, bản trên địa bàn. Các bản căn cứ vào quy ước, hương ước để xây dựng quy chế bảo vệ rừng phù hợp với điều kiện thực tế của từng thôn.
UBND xã phối hợp với kiểm lâm địa bàn thường xuyên lồng ghép trong các buổi họp thôn để tuyên truyền, giáo dục người dân về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; chính sách chi trả môi trường rừng và tổ chức cho người dân ký cam kết thực hiện đúng quy chế bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, xã tăng cường vận động, khuyến khích người dân tích cực tố giác và cùng với lực lượng chức năng xử lý các đối tượng vi phạm. Đặc biệt là, các hộ gia đình sống ở bìa rừng hoặc có nương sản xuất gần với các khu rừng được khoanh nuôi, bảo vệ...
Hiện nay, diện tích rừng của xã Trung Thu đang được quản lý, bảo vệ theo mô hình lâm nghiệp cộng đồng. 100% các thôn thành lập tổ bảo vệ, phối hợp với bảo lâm xã, kiểm lâm địa bàn thường xuyên tuần tra, kiểm soát rừng. Hàng năm, bản huy động người dân phát dây leo, cây bụi để cây rừng phát triển. Khi có cháy rừng, các bản đều thực hiện các biện pháp chữa cháy theo phương châm 4 tại chỗ, kịp thời dập tắt đám cháy.
Nhờ đó, trong 5 năm gần đây, xã Trung Thu không xảy ra cháy rừng, số vụ vi phạm lâm luật giảm đáng kể. Ông Lầu A Sinh, Trưởng thôn Bản Phô cho biết: Hiện nay, thôn Bản Phô có 566,2ha rừng được khoanh nuôi, bảo vệ. Rừng của thôn có nhiều diện tích cây gỗ nghiến hàng trăm năm tuổi. Do đó, công tác quản lý, bảo vệ rừng được thôn đặc biệt chú trọng.
Thôn thành lập tổ bảo vệ gồm 12 người, thường xuyên phối hợp với kiểm lâm địa bàn, bảo lâm xã đi tuần tra, kiểm soát rừng, nhất là những nơi tập trung diện tích gỗ nghiến lớn và các điểm giáp ranh các thôn khác trong xã. Nhờ đó, những năm qua, diện tích rừng của thôn được bảo vệ an toàn. Mỗi năm thôn Bản Phô được Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng tỉnh chi trả trên 200 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Hiện nay, ngoài diện tích rừng tự nhiên, một số hộ đã cải tạo diện tích nương bạc màu để trồng rừng sản xuất, chủ yếu là trồng cây tre, luồng.
Hiện nay, tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đã trở thành một trong những nguồn thu nhập của người dân xã Trung Thu. Từ năm 2011 đến nay, bình quân mỗi gia đình thu nhập 2-3 triệu đồng/năm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Sùng A Dì, Trưởng thôn Háng Cu Tâu cho biết: Ngày trước, người dân chưa hiểu rõ về lợi ích từ việc bảo vệ rừng nên thường đốt rừng làm nương, khai thác lâm sản trái phép. Từ khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai, người dân được hưởng lợi từ rừng nên đã chủ động, trách nhiệm hơn trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 21/12) đầu trang(
Với mục đích chính là hỗ trợ sinh kế, giảm thiểu sự tác động vào rừng, dự án Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mekong tại TT-Huế đã phát huy hiệu quả.
Một trong những nguyên nhân khiến người dân địa phương tham gia vào các hoạt động khai thác rừng trái phép là do họ không có việc làm. Giải pháp để giảm thiểu tình trạng này là hướng dẫn và đem đến những mô hình sản xuất phù hợp cho người dân. Với ý nghĩa đó, dự án Hành lang bảo tồn đa dạng sinh học tiểu vùng Mekong mở rộng đã được triển khai tại địa phương miền núi A Lưới, TT-Huế bước đầu đã phát huy hiệu quả.
Đến nay, hoạt động của dự án đã hỗ trợ 64 mô hình gia trại chăn nuôi bò cái cho bà con dân tộc 8 xã trên địa bàn, đồng thời cho 328 hộ vay vốn lãi xuất thấp với số tiền gần 3 tỷ đồng để phát triển kinh tế hộ gia đình. Bên cạnh đó, các nhóm bảo vệ rừng, phát triển cây lâm nghiệp…được thành lập giúp bà con có thu nhập ổn định.
Việc triển khai các mô hình sinh kế từ chăn nuôi đến lâm nghiệp phù hợp với tập quán, thói quen của những người dân vùng cao không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn gắn trách nhiệm người dân trong bảo vệ rừng, góp phần tăng tính đa dạng sinh học cho rừng tự nhiên vốn đang đứng trước nguy cơ bị tàn phá . (Đài Truyền Hình Việt Nam 21/12) đầu trang(
Xác định công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cũng như bảo vệ tài nguyên khoáng sản là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, năm 2016, Huyện ủy Lạc Dương đã tiếp tục ban hành nghị quyết chuyên đề về “Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện”. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, việc triển khai thực hiện Nghị quyết đã đem lại nhiều tín hiệu vui.
Lạc Dương có diện tích rừng và quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp là 116.573 ha (rừng đặc dụng: 56.432 ha, rừng phòng hộ: 40.634 ha, rừng sản xuất: 19.507 ha). Rừng Lạc Dương có hệ động thực vật rừng phong phú, đa dạng.
Năm 2010, Huyện ủy Lạc Dương đã ban hành Nghị quyết về việc “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện”.
Theo đó, công tác giao khoán quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng, trồng cây phân tán cũng như phát hiện, điều tra, truy tố để xét xử các vụ án vi phạm nghiêm trọng Luật Bảo vệ và phát triển rừng, công tác phòng cháy chữa cháy rừng, giải tỏa lấn chiếm đất rừng… được thực hiện có hiệu quả.
Nhờ vậy đã hạn chế tình trạng khai thác, lấn chiếm đất rừng, đào đãi khoáng sản trái phép, không để xảy ra các vụ cháy rừng trên quy mô lớn. Vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền đoàn thể, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tài nguyên khoáng sản ngày càng được nâng lên.
Tuy nhiên, tình trạng di dân tự do, phá rừng, hủy hoại cây rừng để lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác vận chuyển mua bán trái phép lâm sản, khoáng sản vẫn còn diễn ra và diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi. Trước tình hình đó, đầu năm 2016, Huyện ủy Lạc Dương tiếp tục ban hành Nghị quyết số 02 về vệc này. Dựa trên tình hình thực tế địa phương, Nghị quyết xác định những mục tiêu cụ thể như: duy trì tỷ lệ che phủ rừng là 84%, giảm tỷ lệ số vụ vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển rừng mỗi năm từ 10%. Giải tỏa 100% đất lâm nghiệp bị lấn chiếm…
Đặc biệt, Nghị quyết còn xác định lấy người dân làm trọng tâm. Cụ thể, công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng sản phải gắn với việc nâng cao đời sống nhân dân, góp phần làm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của địa phương; từng bước ổn định và nâng cao đời sống của người dân. Điều này được thể hiện rõ nhất trong việc thực hiện giao khoán quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) cho bà con.
Tổng diện tích giao khoán QLBVR của các đơn vị chủ rừng nhà nước trên địa bàn huyện năm 2016 là: 97.961,190 ha; hiện đang giao khoán cho 2.982 hộ dân và 13 đơn vị tập thể bằng nguồn vốn dịch vụ môi trường rừng. Trên địa bàn huyện, hầu hết các hộ nghèo tại các xã đều được các đơn vị chủ rừng ký hợp đồng nhận khoán.
Già K’Rế - người đã có nhiều năm nhận khoán nói: Công tác giao khoán QLBVR đã giúp cho người dân có một nguồn thu nhập ổn định, cải thiện cuộc sống, góp phần xóa đói, giảm nghèo tại địa phương; từ đó, góp phần làm giảm áp lực vào rừng; đồng thời nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng của bà con.
Để có được kết quả này, trong quá trình triển khai Nghị quyết các tổ chức đảng chính quyền địa phương cũng như các đơn vị liên quan đã tích cực, chủ động trong mọi tình huống.
Theo ghi nhận từ UBND huyện Lạc Dương, ngay từ đầu mùa khô 2015 - 2016, công tác QLBVR nói chung và công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nói riêng luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể đặc biệt quan tâm, với phương châm phòng là chính, cứu chữa khẩn trương, nhanh chóng và kịp thời. Vì vậy, công tác tuyên truyền, vận động là nhiệm vụ hàng đầu trong hoạt động QLBVR và PCCCR.
Trong 3 tháng cao điểm mùa khô 2015 - 2016, công tác tuần tra, kiểm tra rừng trong các tháng cao điểm mùa khô đã được thực hiện có hiệu quả, các điểm cháy rừng được phát hiện và ngăn chặn kịp thời, không để xảy ra các vụ cháy rừng gây thiệt hại tài nguyên rừng. Đến nay, trên địa bàn huyện Lạc Dương đã có 24/33 thôn, tổ dân phố xây dựng và triển khai thực hiện Quy ước bảo vệ rừng.
Với vai trò là nòng cốt trong việc BVR và tham mưu chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng tại cơ sở, kiểm lâm địa bàn thường xuyên bám dân, bám rừng, phối hợp với các đoàn thể và chính quyền tổ chức tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức để nâng cao ý thức chấp hành các quy định bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, thực hiện cam kết bảo vệ rừng.
Phối hợp với đơn vị chủ rừng, lực lượng nhận khoán tuần tra, kiểm tra rừng để ngăn chặn, phát hiện và xử lý kịp thời hành vi phá rừng, khai thác, lấn chiếm đất lâm nghiệp… Trong năm 2016, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Lạc Dương giảm 34 vụ so với cùng kỳ năm 2015. (Báo Lâm Đồng 21/12) đầu trang(
Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch vừa tổ chức khởi công công trình đường bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy phục vụ quốc phòng an ninh và phát triển du lịch trong Khu du lịch văn hóa tâm linh núi Bà Rá, thị xã Phước Long.
Dự lễ khởi công có Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Lợi, Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Trăm; đại diện các sở, ngành của tỉnh và thị xã Phước Long.
Công trình này do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư, đơn vị thi công là Lữ đoàn Công binh 25 (Quân khu 7). Theo đó, khu Bà Rá - Thác Mơ sẽ được đầu tư xây dựng các con đường từ đồi Bằng Lăng tới đỉnh núi Bà Rá dài 4 km, rộng 7,5 m; con đường dưới Đài truyền thanh tại đồi Bằng Lăng dài 1,2 km, rộng 7,5 m; con đường bên dưới trạm tiếp sóng trên đỉnh núi Bà Rá dài 400 m, rộng 7,5 m. Đến nay, công tác chuẩn bị đã được các đơn vị liên quan hoàn thành, đáp ứng tiến độ thời gian, đảm bảo cho lễ khởi công và tiến hành thi công xây dựng. Dự kiến công trình thi công trong khoảng thời gian 1 năm.
Việc khởi công xây dựng đường đường bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy phục vụ quốc phòng - an ninh và phát triển du lịch trong khu du lịch văn hóa tâm linh núi Bà Rá; tạo điều kiện thuận lợi trong công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng, góp phần phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, dịch vụ, phát triển kinh tế - xã hội khu vực. Ngoài ra,  con đường này còn đưa Khu du lịch văn hóa tâm linh núi Bà Rá trở thành khu du lịch văn hóa tâm linh mang tầm quốc gia, đáp ứng nhu cầu du lịch tâm linh của du khách Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Phước 21/12) đầu trang(
Ngày 20/12, Khối Quản lý bảo vệ và phát triển rừng, dịch vụ môi trường rừng thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Nguyên tổ chức tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017.
Năm 2016, mặc dù gặp nhiều khó khăn, song công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được nhiều kết quả cơ bản: công tác phát triển rừng thực hiện vượt kế hoạch giao; các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững gắn với phát triển kinh tế - xã hội đã được thực hiện có hiệu quả. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt gần 416 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch giao, tăng trưởng gần 7,2% so với năm 2015. Độ che phủ rừng được duy trì ổn định trên 50%.
Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ đầu tư được bố trí kịp thời để đơn vị chủ động triển khai thực hiện; việc chấp hành các quy định về quản lý, thanh toán, quyết toán được thực hiện nghiêm túc. Nhận thức của người dân về công tác phát triển rừng cũng được nâng lên.
Chính sánh chi trả dịch vụ môi trường rừng có tác động tích cực đến công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn; trong năm đã huy động các nguồn thu được gần 4,3 tỷ đồng. Cùng với các nguồn lực và thông qua các giải pháp, các hoạt động triển khai thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng một cách đồng bộ đã góp phần giảm số vụ xâm nhập, phá rừng…
Năm 2017, Ngành đã đặt ra những kế hoạch cụ thể như: đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, tập huấn bằng nhiều hình thức về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng; xây dựng và tổ chức thực hiện hiệu quả Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đặc biệt là quan tâm đến chế biến lâm sản và trồng rừng gỗ lớn, tạo động lực phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Về công tác dịch vụ môi trường rừng, phấn đấu duy trì nguồn thu đạt khoảng trên 4,2 tỷ đồng, hoàn thiện việc ký kết các hợp đồng ủy thác dịch vụ môi trường rừng với các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng chưa ký. Thực hiện trồng rừng thay thế theo quyết định phê duyệt mức đầu tư của UBND tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thái Nguyên 22/12) đầu trang(
Ngày 21/12, Thường trực tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị đánh giá thực hiện các chính sách, quy định bảo vệ và phát triển rừng. Đồng chí Hoàng Văn Chất, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Dự Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Đắc Quỳnh, Phó Bí thư Thường trực tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh; Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Bùi Minh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nhâm Thị Phương, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Lò Minh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ngành liên quan.
Hội nghị đã nghe UBND tỉnh báo cáo tình hình thực hiện chi trả các chính sách liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và đấu tranh phòng chống vi phạm các quy định trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng; báo cáo tình hình triển khai Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12/9/2016 của Ban Thường vụ tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020. Đồng thời, nghe đại diện các sở, ngành thảo luận và đưa ra các giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn...
Trong những năm qua, trên cơ sở các quy định, cơ chế chính sách về quản lý bảo vệ và phát triển rừng của Đảng, Nhà nước, vận dụng vào điều kiện thực tiễn của địa phương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quy định, cụ thể hóa để tìm hướng đi, cách thức tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.
Trong đó, đã tổ chức quản lý tốt diện tích rừng hiện còn, tập trung triển khai một số chương trình và chính sách thí điểm trọng tâm trong phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng, như: Chương trình giao rừng, giao đất lâm nghiệp; chương trình phát triển cây cao su; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; chính sách trồng rừng hỗ trợ gạo và nhiều chương trình, chính sách quan trọng khác.
Hiện, toàn tỉnh có gần 780.000 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, 599.634 ha đất lâm nghiệp có rừng, độ che phủ rừng đạt 42,3%, chiếm 40% tổng diện tích rừng 4 tỉnh phía Tây Bắc. Trong quý IV, triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 04, tỉnh ta đã tổ chức được 1.422 cuộc tuyên truyền tại các xã, bản với trên 70.000 lượt người tham dự; vận động trên 3.000 hộ tham gia ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ động vật hoang dã.
Các ngành chức năng tăng cường phối hợp với chính quyền cơ sở tuyên truyền, ngăn chặn kịp thời tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật; kiên quyết bắt giữ, tịch thu phương tiện, tang vật và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh từng bước được ngăn chặn hiệu quả. Qua triển khai, đã ban hành được nhiều văn bản quy định, cụ thể hóa chủ trương về công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đến năm 2020...
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Hoàng Văn Chất đánh giá cao những nỗ lực, kết quả đạt được trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Đồng thời, đề nghị UBND tỉnh triển khai rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất); báo cáo Ban Thường vụ tỉnh ủy trước khi làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và có đề nghị với Bộ cho phép Sơn La được bố trí vốn trồng rừng các huyện, dùng vốn trồng rừng để trồng cây phân tán và trồng cây ăn quả vào trồng bù rừng thủy điện... (Báo Sơn La 22/12) đầu trang(
Lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, vừa sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng vừa có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh - quốc phòng.
Vì vậy, trong những năm qua, tỉnh Bắc Kạn luôn coi trọng công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Bắc Kạn có có tổng diện tích tự nhiên là 485.941ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có 423.026ha, chiếm 87% diện tích tự nhiên. Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, ngoài các quy định chung của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 về việc ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh.
Qua đó công tác bảo vệ rừng đã được các cấp, các ngành, địa phương chú trọng thực hiện; lực lượng Kiểm lâm từ tỉnh đến cơ sở đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong công tác tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, chống chặt phá rừng.
Để bảo vệ rừng có hiệu quả, Bắc Kạn đã tăng cường giao đất, giao rừng cho người dân. Đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện giao khoán rừng đến từng tổ chức kinh tế, từng hộ gia đình trên 70% diện tích, bảo đảm cho rừng có chủ thực sự. Nhân dân đã chủ động phát triển vốn rừng; xây dựng mô hình quản lý rừng cộng đồng thôn, bản một cách hiệu quả.
Ngoài ra, UBND tỉnh đã giao cho Vườn Quốc gia Ba Bể hơn 10.000ha đất lâm nghiệp; Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ hơn 14.000ha; Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc gần 2.000ha. Những diện tích rừng được giao cho nhân dân quản lý, sử dụng, người dân an tâm đầu tư phát triển, chăm sóc, qua đó nâng cao được hiệu quả của việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, luôn được cấp ủy, chính quyền các cấp trên địa bàn tỉnh quan tâm, chỉ đạo quyết liệt; thường xuyên xây dựng các phương án bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; phân công trách nhiệm cụ thể cho các đơn vị liên quan...
Các lực lượng chức năng của tỉnh luôn phối hợp với UBND các xã có rừng xây dựng lực lượng tại chỗ, bám sát địa bàn, khu vực có rừng, thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Vì vậy, trong những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh không để xảy ra các vụ cháy rừng lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng và tài sản của nhân dân.
Cùng với đó, Bắc Kạn cũng đã thực hiện tốt chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020 theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Qua đó, người dân đã thay đổi căn bản về nhận thức, thái độ, hành vi đối với công tác quản lý bảo vệ rừng; tích cực, chủ động tham gia, thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng. Cụ thể như tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc, người dân đã phối hợp với lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, tuần rừng; cộng đồng dân cư ở vùng lõi, vùng đệm chủ động nhận giao khoán bảo vệ rừng…
Đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, người dân tự nguyện đăng ký, giao gửi cưa xăng cho Ban quản lý Khu bảo tồn; xây dựng các bếp đun tiết kiệm củi để giảm áp lực khai thác củi trên rừng; cộng đồng thôn, bản nằm trong Khu bảo tồn đã nhận giao khoán bảo vệ trên 9.200ha rừng…
Cùng với bảo vệ rừng, tỉnh Bắc Kạn cũng đang đẩy mạnh sản xuất lâm nghiệp hàng hóa theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển lâm nghiệp bền vững tiến tới cấp chứng chỉ rừng FSC (chứng chỉ hệ thống các tiêu chuẩn về chứng nhận nguồn gốc gỗ cho các nhà khai thác do Hội đồng quản trị rừng quốc tế cấp).
Những năm qua, thông qua các chương trình, dự án, nhất là các mô hình nông - lâm kết hợp, diện tích rừng của Bắc Kạn ngày càng tăng cao. Trong 5 năm (từ 2011 đến 2016), toàn tỉnh đã trồng mới được 61.635ha rừng, trung bình mỗi năm trồng 10.272ha; sản lượng khai thác gỗ hàng năm đạt trên 150.000m3. Bên cạnh đó, Bắc Kạn đã có nhà máy chế biến gỗ Sahabak và trên 40 xưởng bóc gỗ, 200 xưởng mộc… đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu thụ và chế biến sản phẩm từ rừng.
Kết quả đạt được lớn nhất của Bắc Kạn trong phát triển rừng chính là trồng rừng từ chỗ chỉ để hưởng các chính sách ưu đãi nay đã trở thành phong trào; rừng đã làm giàu cho rất nhiều gia đình. Giờ đây, ngày càng nhiều người dân trên địa bàn tỉnh đã chủ động tự bỏ vốn đầu tư phát triển rừng trồng rừng.
Đơn cử như anh Quản Trọng Quỳnh ở thôn Đon Liên, xã Bình Trung được coi là điển hình trồng rừng tại huyện Chợ Đồn nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung. Năm 2004, anh Quỳnh bắt đầu bén duyên với nghề trồng rừng. Từ diện tích đất hoang hoá khai phá trước đây để phát triển sản xuất, hễ cứ nghe thấy ở đâu bán đất lâm nghiệp là anh lại đến đặt vấn đề hỏi mua, mua đến đâu anh lại phát dọn để trồng rừng đến đó.
Anh bám sát các dự án trồng rừng của xã triển khai để liên hệ cây giống. Dần dà, nhờ dày công trong trồng rừng, đến nay, anh Quản Trọng Quỳnh đã có 25ha rừng chủ yếu là keo, mỡ. Ngoài ra, anh còn cùng với bạn bè góp vốn trồng chung 35ha keo, mỡ và bồ đề. Để tận thu được tối đa sản phẩm của rừng, năm 2014, anh Quỳnh còn đầu tư mua máy móc tự mở xưởng chế biến gỗ bóc; trung bình mỗi tháng cho ra hơn 100m3 sản phẩm, tạo việc làm thường xuyên cho 8 lao động địa phương với mức lương từ 4 - 5 triệu đồng/người/tháng.
Diện tích rừng trồng nhiều nên việc mua cây giống khá tốn kém, vì vậy, anh Quỳnh đã đầu tư vườn ươm giống cây con với diện tích 7.000m2. Trừ các khoản chi phí, hàng năm từ việc bán cây giống, vườn ươm cũng đã đem lại khoảng 200 triệu đồng cho gia đình. Mô hình của anh Quản Trọng Quỳnh phản ánh chính xác hiệu quả kinh tế từ trồng rừng mang lại cho rất nhiều hộ dân tại Bắc Kạn. Việc tìm ra một tỷ phú trồng rừng tại Bắc Kạn giờ cũng không còn là hiếm.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ XI (nhiệm kỳ 2015 - 2020) đã xác định: Tập trung nguồn rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ để nâng cao giá trị kinh tế rừng được xác định là “cú huých” quan trọng trong phát triển lâm nghiệp của Bắc Kạn.
Theo đó, trong giai đoạn 2015 - 2020, Bắc Kạn tập trung trồng rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ để nâng cao giá trị kinh tế rừng, phấn đấu đến năm 2020, toàn tỉnh có trên 90.000ha rừng trồng, trong đó có trên 10.000ha rừng trồng là cây gỗ lớn; huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng 500km đường lâm nghiệp, gắn trồng rừng với chế biến, tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị rừng trồng.
Đồng thời chú trọng phát triển cây dược liệu dưới tán rừng và các cây lâm sản ngoài gỗ, góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng...
Với những hướng đi, giải pháp cụ thể, thiết thực, việc bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Bắc Kạn những năm qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Trên địa bàn tỉnh, rừng được bảo vệ ổn định và ngày càng phát triển về số lượng lẫn chất lượng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người lao động, đặc biệt là một bộ phận người dân sống ven rừng, đồng thời góp phần quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ cảnh quan môi trường. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 21/12) đầu trang(
Những năm gần đây, tình hình an ninh rừng khu vực giáp ranh 2 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An đang dần ổn định nhưng chưa thực sự vững chắc.
Tình trạng khai thác gỗ non từ huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) sang bán cho các nhà máy chế biến lâm sản tại Thanh Hóa vẫn còn xảy ra... Tình trạng săn bắt động vật hoang dã chưa chấm dứt...
Trước thực trạng trên, các hạt kiểm lâm có rừng giáp ranh giữa 2 tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An đã phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể thường xuyên tổ chức tuyên truyền công tác bảo vệ rừng (BVR), phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đến cộng đồng dân cư. Trong năm 2016, các hạt kiểm lâm của tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo kiểm lâm viên địa bàn (KLVĐB)  các xã vùng giáp ranh tham mưu tổ chức 123 hội nghị tuyên truyền ở các thôn, bản với 4.612 lượt người tham gia; tuyên truyền trên loa truyền thanh của xã, thôn, bản 192 lần; thành lập 61 tổ đội BVR, PCCCR với 355 người tham gia.
KLVĐB xã Bát Mọt (Thường Xuân) tham mưu cho UBND xã Bát Mọt vận động nhân dân bản Vịn ký cam kết không xâm canh thêm đất rừng, không khai thác, phá rừng làm rẫy vào khu vực bản Cần, Liềm, xã Thông Thụ, huyện Quế Phong (Nghệ An). Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tổ chức tuyên truyền 92 cuộc, với hơn 8.500 lượt người tham gia; tuyên truyền trên loa đài 175 lần; phối hợp với Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt (Nghệ An) và UBND xã Bát Mọt tổ chức hội nghị tuyên truyền tại bản Vịn, với 192 người tham gia.
Ông Nguyễn Văn Hảo, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An), cho biết: huyện Nghĩa Đàn có khoảng 10.000 ha rừng giáp ranh với huyện Như Xuân (Thanh Hóa), thực hiện chương trình phối hợp bảo vệ rừng giáp ranh giữa Thanh Hóa và Nghệ An, hàng năm hai bên phối hợp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong công tác BVR, PCCCR; nâng cao đời sống của người dân miền núi thông qua các chương trình, dự án phát triển sản xuất được Nhà nước hỗ trợ; tăng cường phối hợp và trao đổi thông tin giữa các đơn vị, ngành chức năng.
Đồng thời, tăng cường tuần tra, kiểm tra an ninh rừng tại gốc nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm; tổ chức kiểm tra, truy quét các đường dây, ổ nhóm phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Việc thực hiện đồng bộ những giải pháp, an ninh rừng trên địa bàn vùng giáp ranh đã ổn định hơn các năm trước đây.  (Báo Thanh Hóa 21/12) đầu trang(
Ngày 21-12, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo (Cục Hải quan Quảng Bình) xác nhận đã bàn giao 0,45 m3 gỗ Trắc cùng 9 cá thể Don nhập lậu từ Lào do đơn vị bắt giữ cho Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa tiếp tục xử lý.
Ngày 9-12, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo chủ trì phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu Cha Lo, Đội Kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan Quảng Bình) kiểm tra xe ô tô 9 chỗ mang BKS Lào do ông Võ Văn Thành (sinh năm 1981, trú tại Đô Thành, Yên Thành, Nghệ An) điều khiển nhập cảnh từ Lào vào Việt Nam) phát hiện, thu giữ 64 que gỗ Trắc tận dụng (gốc, cành ngọn) trọng lượng 297 kg (0,45 m3) giấu phía dưới hầm hàng tự chế được đóng, mở bằng kích thủy lực, không giấy tờ hợp lệ, không khai báo hải quan.
Tiếp đó, ngày 10-12, lực lượng chức năng kiểm tra, khám xét xe ô tô tải mang BKS: 73C-02193 do ông Trần Hữu Mạnh (sinh năm 1974, trú tại phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) điều khiển nhập cảnh từ Lào vào Việt Nam, phát hiện có 9 cá thể Don (động vật thuộc họ nhím), tổng trọng lượng 30kg giấu phía trong thùng đựng phụ tùng, không giấy tờ hợp lệ, không khai báo hải quan. (Hải Quan 21/12) đầu trang(
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, ngày 19-12 đã ký quyết định sa thải lái xe Phạm Văn Tuyên do cố ý sử dụng tài sản công để thực hiện việc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngành; đồng thời ban hành quyết định kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Trần Công Bình, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình do buông lỏng trong công tác quản lý tài sản Nhà nước.
Trước đó, Báo Nhân Dân đã đưa: hồi 12 giờ 25 phút ngày 26-11-2016, trên tuyến đường ĐT 190 thuộc thôn 4, xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng đã phối hợp Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Tuyên Quang kiểm tra, phát hiện anh Phạm Văn Tuyên, sinh năm 1984 trú tại tổ 10 thị trấn Na Hang, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, là nhân viên lái xe của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình (Tuyên Quang) điều khiển xe ô-tô biển kiểm soát 22C – 0387 theo hướng từ huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang về thành phố Tuyên Quang, vận chuyển trái pháp luật 43 đoạn gỗ nghiến (gỗ tròn), nhóm II, thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhóm IIA; khối lượng 0,459m3.
Qua xác minh ban đầu, lái xe Phạm Văn Tuyên không xuất trình được hồ sơ lâm sản hợp pháp của số gỗ trên. Lái xe Tuyên khai nhận toàn bộ số gỗ nghiến được vận chuyển trái phép trên xe là gỗ mua ở Bản Nhùng, xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. (Nhân Dân 21/12) đầu trang(
Vườn Quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn) không chỉ đẹp, thơ mộng bởi 3 hồ nước tự nhiên nối liền trên núi cao, mà thảm thực vật còn nguyên sơ nảy nở trên những ngọn núi đá vôi, tạo nguồn sinh thủy vô tận, hấp dẫn du khách gần xa...
Năm 1992, Chính phủ chính thức công nhận Vườn Quốc gia Ba Bể cũng là lúc việc nghiêm cấm khai thác rừng, đánh bắt cá diễn ra nghiêm ngặt hơn.
Có những lúc mâu thuẫn lợi ích giữa những người làm công tác bảo vệ rừng và người dân sống trong vùng lõi của vườn rất căng thẳng. Bởi hàng loạt những quy định của vườn được triển khai nghiêm túc, từ việc cấm người dân đánh bắt cá trong mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 6 trong năm, cấm đánh bắt cá theo hình thức hủy diệt như: Thuốc nổ, ruốc lá độc, đánh lưới vét, đánh vó bè và những phương tiện hiện đại khác, nhằm bảo tồn các loài cá tự nhiên của vùng lòng hồ.
Trên rừng, vườn cũng cấm phát nương làm rẫy, cấm khai thác cây rừng dưới mọi hình thức, đặc biệt là các loại gỗ, lâm sản quý hiếm. Song song với cấm khai thác rừng, việc cấm săn bắt chim thú, động vật hoang dã, côn trùng cũng được triển khai tới từng chủ hộ. Các gia đình phải ký cam kết không vi phạm các quy định về bảo vệ và phát triển rừng...
Đỉnh điểm nhất là vụ việc xảy ra vào năm 1997, khi ông Bùi Văn Định, Giám đốc Vườn đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm bắt cho được chiếc xe tải chở gỗ nghiến quý hiếm (loại gỗ thuộc nhóm 2a) của một đầu nậu gỗ lớn tại huyện Ba Bể (mãi sau này ông cũng mới biết, vụ việc đó là do chính con rể của một vị quan chức huyện này đứng sau). Cũng từ đây, VQG Ba Bể tiếp tục “mâu thuẫn” cả với chính quyền sở tại, thế là hàng loạt vụ việc cứ từ trên huyện “đè” xuống Ban lãnh đạo vườn, lúc đó tưởng như bế tắc.
Qua hàng loạt sóng gió đến với vườn, đã làm ông Bùi Văn Định cứ tưởng mình đã bị rơi xuống hồ Ba Bể khi không còn phao cứu sinh! Nhưng thật may mắn, cuộc chiến bảo vệ rừng của ông đã có hồi kết tốt, ông lại được khôi phục đầy đủ các chức danh trước khi chuyển lên tỉnh làm Chi cục trưởng Kiểm lâm của Bắc Kạn cho đến ngày nghỉ hưu.
Đối với VQG Ba Bể, tên của ông Bùi Văn Định được gắn theo nhiều sự kiện nhất, bởi ông cũng là người có nhiều sáng kiến trong bảo vệ rừng, biết tìm tòi quảng bá những cái hay, hang động đẹp cho du khách tham quan. Ông Định luôn tâm huyết với vườn như chính ngôi nhà của mình. Mặc dù mang nặng vết thương từ thời chống Mỹ, chân đau nhức hoành hành mỗi khi thời tiết thay đổi, nhưng ngày nào ông cũng có mặt ở vườn từ lúc sáng sớm, sau 9 giờ tối mới chịu về nhà ở, mặc cho nhà ông cách chỗ làm việc gần 18km.
Ông Định đã làm việc ở vườn quanh năm, suốt tháng, kể cả ngày nghỉ, ngày lễ trong suốt 15 năm quản lý khu vườn. Từ công việc chỉ đạo điều hành, đến tham gia mật phục trong rừng lúc nửa đêm để truy bắt lâm tặc, rồi tổ chức trồng rừng, tự tay đi mua cây quý hiếm như: Đinh, lát hoa… để trồng quanh khu vực trung tâm vườn.
Ai có dịp đến VQG Ba Bể, đều thấy hàng cây lát hoa xanh ngát quanh khu vực văn phòng, bãi đỗ xe, rồi cây xanh trải dài cho đến tận bến thuyền sát bờ hồ Ba Bể. Chính những cây do ông khởi xướng trồng và ông là người dày công chăm sóc, để hôm nay du khách đến Ba Bể được đi dưới tán cây xanh ngát.
Vốn là người năng động, ông đã tìm kiếm các nguồn vốn trồng rừng, các dự án phi chính phủ để giúp trồng cây bổ sung nơi đất trống, đồi núi trọc. Ông đã chỉ đạo cán bộ, nhân viên của vườn phối hợp với người dân sống trong vùng lõi trồng nhiều diện tích cây rừng bản địa lâu năm, ưu tiên những loại cây có quả, để làm thức ăn tự nhiên cho chim thú.
VQG Ba Bể rộng hơn 10 nghìn ha, bao gồm 7 xã: Khang Ninh, Cao Thượng, Cao Trĩ, Quảng Khê, Nam Mẫu, Hoàng Trĩ, Nam Cường. Có hơn 3.000ha vùng lõi được bố trí bảo vệ nghiêm ngặt. Vườn có 3 hồ nước tự nhiên nối liền nhau, hơn 500ha mặt nước, kéo dài khoảng 8km, nơi rộng nhất 800m, độ sâu trung bình từ 17 - 25m và ở độ cao 145m so với mặt nước biển.
Nơi đây núi rừng hiểm trở, các dòng sông chia cắt những dãy núi cao, tạo ra các vách núi đá vôi dựng đứng, xuất hiện nhiều hang động tự nhiên đẹp như: Động Puông, Hua Mạ, cùng với bạt ngàn cây rừng xanh thẳm và thác Đầu Đẳng hùng vĩ nối liền với huyện Na Hang của tỉnh Tuyên Quang, đã giúp cho Ba Bể luôn là điểm khám phá của du khách trong ngoài nước.
Do làm tốt việc bảo vệ rừng, đã tạo nguồn sinh thủy bền vững từ những dãy núi đá vôi bao quanh Ba Bể, góp phần làm nên sự khép kín về núi rừng, sông, hồ một cách tự nhiên, đã trở thành điểm lưu trú của hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu chỉ có ở Ba Bể.
Theo các nhà khoa học, ở Ba Bể có loại trúc dây là đặc hữu nhất. Với thân mình mềm mại, kết gióng dài như loài tre, nứa. Thân nhỏ như chiếc đũa, thả tua như thảm cỏ, trúc dây có ở Ba Bể từ bao giờ không ai hay, nhưng chính loài cây này giúp cho Ba Bể có nét đặc trưng riêng biệt so với các hồ tự nhiên khác trong khu vực và trên thế giới.
Với hàng loạt nét đặc trưng hiện hữu, Ba Bể được xếp vào 21 Khu du lịch quốc gia của Việt Nam. Vào năm 1995, Ba Bể đã được hội nghị Hồ nước ngọt thế giới tại Mỹ, công nhận là 1 trong 20 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới cần bảo vệ. Đến năm 2004, VQG Ba Bể được xếp vào Vườn Di sản ASEAN. Gần nhất vào năm 2011, UNESCO đã công nhận Ba Bể là Khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng của thế giới) thứ 3 của Việt Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/12) đầu trang(
Chiều 21/12, trao đổi với PV, ông Hoàng Quốc Huấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết, cơ quan chức năng hiện đã xác định được danh tính người đăng những hình ảnh súng, giết hại động vật hoang dã lên facebook gây xôn xao dư luận vừa qua.
Theo đó, danh tính chủ tài khoản facebook có tên Đ.T được xác định là Trần Mạnh T. (SN 1999, học sinh lớp 12A9, trường THPT Hương Khê, Hà Tĩnh). Sau khi xác định được danh tính, Công an huyện Hương Khê đã mời T. lên trụ sở công an để làm việc những vấn đề liên quan.
Tại buổi làm việc, cơ quan chức năng xác định T. có sử dụng 1 khẩu súng tự chế dùng để săn bắn động vật nên đã tịch thu khẩu súng này.
T. khai nhận, ngày 10/12 đã đăng tải các hình ảnh chụp với các loại động vật hoang dã lên facebook cá nhân. Tuy nhiên T. cho biết đó không phải con vật mình săn bắn mà T. chụp của một số người dân trong vùng đi săn về.
"Hiện chúng tôi đang tiếp tục chờ xác minh xem các vật chứng, các loại động vật đó là thuộc con gì, nhóm nào và người này có trực tiếp săn bắn động vật hoang dã đó không rồi mới có căn cứ xử lý", ông Huấn nói.
Cũng theo ông Huấn, về khẩu súng tự chế này, cơ quan chức năng đang hoàn tất hồ sơ để xử lý nam sinh T. về tội sử dụng súng tự chế trái phép. Còn việc có phải săn bắn động vật hay không hiện đang được làm rõ.
Thầy Phan Quốc Thanh - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Hương Khê cho biết, phía nhà trường đã nắm được thông tin về việc nam sinh T. đăng hình ảnh săn bắn động vật hoang dã lên facebook.
Theo thầy Thanh, T. là học sinh của trường nhưng đã bỏ học khoảng 2 tuần nay. Lúc còn đi học, T. là một trong những học sinh cá biệt.
"Chúng tôi sẽ cho kiểm tra lại để có phương án xử lý nghiêm đối với nam sinh này", thầy Thanh nói.
Trước đó vào ngày 10/12, T. đã đăng lên facebook có tên Đ.T nhiều hình ảnh khoa "chiến tích" săn bắn chim trời, khỉ, mang rừng.
Ngoài hình ảnh trên, T. còn đăng ảnh bàn nhậu thịt động vật hoang dã, cầm súng tự chế với nhiều con chim trời vừa bị bắn chết.
Nhiều người sau khi xem hình ảnh thì vào khuyên nhủ nam sinh này nên xoá để tránh bị ảnh hưởng. Bỏ qua những lời can ngăn, T. vẫn tỏ ra rất hả hê và trả lời những người góp ý với giọng đầy thách thức. (Sức Khỏe Cộng Đồng 22/12) đầu trang(
Trước khi giết thịt, nhiều động vật hoang dã bị nhiều người trói chân, hành hạ rồi khoe 'chiến tích' trên facebook.
Mới đây, một nam sinh lớp 12 có tên facebook là Điên Tài (được cho là ở Hương Khê, Hà Tĩnh),  đã đăng nhiều hình ảnh một nhóm người hành hạ động vật hoang dã và chim trời.
Trong số ảnh được chia sẻ, có ảnh một người dùng tay bóp cổ một con khỉ đang nằm trong bao tải, người bên cạnh giữ chặt chân con vật. Tiếp đó là hình ảnh một nhóm thanh niên dùng súng tự chế bắn chết chim trời, kéo cánh ra hai bên. Góc ảnh khác ghi nhận một con nai con bị trói bốn chân…
Theo ông Hoàng Quốc Huấn, Chi cục trưởng Kiểm lâm Hà Tĩnh, các con vật trên thuộc nhóm quý hiếm, nghiêm cấp khai thác sử dụng vì mục đích thương mại. Khi được mời lên làm việc, nam sinh khai nhận đã sử dụng súng cồn tự chế để săn chim trời. Việc đăng trên Facebook của mình là để "mua vui".
Những hành động của nhóm này đã gây bức xúc trong cộng đồng. Nhiều người bình luận tỏ vẻ sự giận giữ và không hài lòng.
“Thật kinh khủng. Hình như cũng nhóm này có video hành hạ chó hoang, vượn... Phải phạt đánh 100 roi mỗi đứa thật nặng giữa cộng đồng xã hội và chuyển lên trồng rừng khổ sai 10 năm mới vừa với bọn dã nhân này....”, một bạn trẻ bình luận.
Trước đó, ông Thiều Quốc Kỳ, cán bộ Trung tâm khuyến nông huyện Tây Giang chia sẻ trên facebook  một số hình ảnh về ba con chồn bay - loại động vật quý hiếm nhóm 1 nằm trong sách đỏ. Ông Kỳ cầm hai chân con chồn kéo căng ngược ra hai bên.
Ông Kỳ lý giải không biết chồn bay nằm trong sách đỏ vì chúng được bán rất nhiều trong quán nhậu trên địa bàn. Thấy người ta bán chồn bay ngoài chợ nên ông xen vào chụp ảnh rồi đăng lên Facebook chứ không tham gia săn bắt hay giết thịt.
Ngay sau đó, vị cán bộ này đã gỡ các bức ảnh này xuống.
Dương Công Ly (25 tuổi) và Phạm Thành Trường (24 tuổi, cùng trú huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) cũng đăng ảnh xách 2 con chồn vừa bị đánh chết trên Facebook. Hình ảnh phản cảm này khiến nhiều người xem bất bình.
Sau khi Hạt kiểm lâm Duy Xuyên vào cuộc,  xác định do bị chồn từ trên núi xuống tấn công vịt nuôi trong trang trại, Hồ Phước Hiệp (31 tuổi) và Nguyễn Ry (44 tuổi, cùng trú xã Duy Sơn) lập mưu giăng bẫy. Hai chủ trang trại này rủ thêm Ly và Trường cùng tham gia.
Sau nhiều giờ đuổi bắt, nhóm người này đánh chết 2 con chồn. Trước khi làm thịt, Ly và Trường chụp ảnh cho nhau để đăng lên Fcebook khoe "chiến tích".
Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định, người nào săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi, nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
Nếu phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ quyền hạn, sử dụng các phương tiện săn bắt bị cấm, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng… thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. (Phụ Nữ News 20/12) đầu trang(
Ngày 21-12, Công an huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cho biết đang tạm giữ hình sự đối tượng Trần Văn Kiền (SN 1978), trú tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm.
Trước đó, ngày 19-12, tổ công tác Công an huyện Duy Tiên làm nhiệm vụ tuần tra đã bắt quả tang đối tượng Kiền chở 10 cá thể tê tê, tổng trọng lượng 28,2 kg,  bán cho một người tại Khu đô thị mới Đồng Văn, thị trấn Đồng Văn, tỉnh Hà Nam.
Qua điều tra ban đầu, đối tượng khai nhận số tê tê trên mua gom trôi nổi tại các tỉnh miền Trung, sau đó mang đi tiêu thụ ở Hà Nội, Hải Phòng.
Hiện, toàn bộ tang vật đã được bàn giao cho Trung tâm bảo tồn động vật thuộc Viện Hàn Lâm để điều tra, xử lý theo thẩm quyền. Theo quy định, tê tê là loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ thuộc Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ. Ở Việt Nam tê tê được bảo vệ ở mức độ cao nhất. Mọi hành vi săn bắt, buôn bán, gây nuôi tê tê có nguồn gốc từ tự nhiên vì mục đích thương mại đều bị nghiêm cấm. (An Ninh Thủ Đô 21/12) đầu trang(
Nhiều người tỏ ra thích thú khi lần đầu tiên thấy cáo Bắc cực được thuần dưỡng và sống khu vực có khí hậu nhiệt đới như ở Việt Nam.
Sở hữu những con cáo này là anh Phan Minh Hồng, chủ trang trại nuôi và kinh doanh thú cưng ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ngoài nuôi cáo Bắc cực, anh Hồng còn có hàng chục loại vật nuôi “độc, lạ” như gà, chim…
Theo anh Hồng, trang trại của anh có hơn chục con cáo Bắc cực. Những cá thể cáo này được nhân giống từ một cặp cáo bố mẹ được nhập về thông qua một công ty trung gian. Cáo Bắc cực có tên khoa học là Vulpes lagopus, loài cáo này thường được anh và những người nuôi gọi là Hồ Ly.
“Cáo Bắc cực sống ở các khu vực có khí hậu lạnh, âm hàng chục độ C. Tuy nhiên, qua lai tạo nhiều lần và thuần hóa nên những loài này có thể sống ở nơi có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam và ăn được các thức ăn khô dạng viên công nghiệp. Cáo cũng không còn hung dữ như sống ngoài hoang dã. Nuôi nó cũng giống như nuôi chó, mèo trong gia đình vậy”, anh Hồng chia sẻ.
Chủ trang trại cho biết, trong công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp thì loài này không nằm trong danh mục thuộc các động vật hoang dã nguy cấp.
“Đã có nhiều người tìm đến trang trại của tôi để tận mắt thấy những con Hồ Ly này. Nhiều người đã sẵn sàng bỏ ra cả chục triệu để sở hữu nó làm thú nuôi”, anh Hồng nói.
Anh Trần Khang một người đến tham quan cho biết: “Lần đầu tiên tôi nhìn thấy con cáo này ngoài đời. Bộ lông trắng muốt của nó đẹp quá. Từ hồi giờ cứ thấy cáo trong phim ảnh chứ có biết ở Việt Nam mình cũng nuôi được cáo đâu”.
Một cán bộ quản lý chương trình bảo tồn thú ăn thịt và tê tê thuộc Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã khuyến cáo, cáo Bắc cực là loài hoang dã hoặc dù là loài thuần chủng cũng không nên lơ là. Bởi cũng có rất nhiều bài học từ việc nuôi chó Phú Quốc, loài tấn công người rất nguy hiểm. (Dân Việt 21/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù. Tuy nhiên, hiện nay ngành lâm nghiệp của chúng ta đang phải đương đầu với những thách thức như biến đổi khí hậu, môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi.
Đáng lưu ý, đa phần người dân vùng rừng có mức sống thấp, tập quán canh tác lạc hậu, du canh du cư, dân số tăng nhanh... đã tạo ra sức ép lớn lên rừng tự nhiên.
Lâm nghiệp là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, vừa sản xuất hàng hóa và dịch vụ từ rừng vừa có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường. Rừng và kinh tế rừng còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, xóa đói, giảm nghèo, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng. Thực hiện nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, trong thời gian qua, ngành lâm nghiệp đã có những thay đổi đáng kể.
Nâng cao giá trị thực hiện tái cơ cấu, trong giai đoạn vừa qua, ngành lâm nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái. Lâm nghiệp đã đưa độ che phủ của rừng liên tục tăng từ 32% năm 1998 lên 39,7% năm 2011; và 40,84% năm 2015.  Sản xuất lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị đã và đang trở thành một xu hướng.
Nhiều địa phương đã tích cực, chủ động triển khai công tác quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, trồng rừng gỗ lớn theo hướng thâm canh, chuyển hóa rừng kinh doanh gỗ nhỏ sang gỗ lớn. Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây con tính đến thời gian này đã đạt 85%. Trong đó đã xây dựng nhiều mô hình chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, mô hình rừng trồng gỗ lớn, trồng rừng thâm canh gỗ lớn...
Bên cạnh việc thay đổi này, năng suất và chất lượng rừng được cải thiện đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đồ gỗ và lâm sản liên tục tăng mạnh góp phần tạo việc làm, thu nhập cho hàng triệu lao động. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt bình quân 6,57%/năm, vượt mục tiêu của Đề án Tái cơ cấu đề ra là 5,5 – 5,6%/năm. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng trưởng mạnh, gấp hơn 2 lần trong vòng 5 năm, từ 3,035 tỷ USD/năm giai đoạn 2010 – 2012 lên 6,2 tỷ USD/năm.
Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường quốc tế diễn biến phức tạp nhưng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tiếp tục tăng. Bình quân mỗi năm cả nước trồng khoảng 230 nghìn ha rừng tập trung, trong đó 90% là rừng sản xuất. Trong năm 2016, giá trị xuất khẩu ước cả năm đạt 7,1 – 7,3 tỷ USD.
Tuy vậy, hiện nay ngành lâm nghiệp của chúng ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức đặt ra trong bối cảnh biến đổi khí hậu cũng như môi trường trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi. Xu thế hội nhập mạnh mẽ kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới được thực thi. Nhiều hiệp định như Hiệp định với Hàn quốc, Hiệp định thương mại tự do với EU… thị trường gỗ ngày càng yêu cầu chặt chẽ hơn về nguồn gốc gỗ hợp pháp…
Nhưng hiện nay, theo đánh giá của giới chuyên gia, các quy định của luật pháp về rừng chưa theo kịp đã đặt ra những đòi hỏi, đã tạo ra cạnh tranh quyết liệt hơn cho ngành lâm nghiệp. Bên cạnh đó, Ngành cũng phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đa phần người dân vùng rừng có mức sống thấp, tập quán canh tác lạc hậu, du canh du cư, dân số tăng nhanh... đã tạo ra sức ép lớn lên rừng tự nhiên.
Tình hình quản lý, bảo vệ rừng khó kiểm soát, một số điểm nóng kéo dài. Phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, tranh chấp đất đai phức tạp, trọng điểm là khu vực Tây Nguyên. Tình trạng suy giảm diện tích rừng tự nhiên vẫn diễn ra ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên nhưng khôi phục, phát triển rừng hiện nay được coi là khó khăn, do không thu hút được nguồn vốn đầu tư, xa thị trường tiêu thụ, giao thông không thuận tiện...
Ở những vùng có khả năng phát triển trồng rừng sản xuất thì việc nâng cao giá trị, năng suất, chất lượng rừng chưa có đột phá, mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng mô hình, chưa lan rộng, phổ biến vào quy trình sản xuất, kinh doanh. Vốn đầu tư, hỗ trợ của nhà nước cho công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như các nguồn vốn ODA không hoàn lại ngày càng thắt chặt, khó khăn hơn.
Để phát huy thế mạnh, ngăn ngừa những thách thức, tái cơ cấu rừng là giải pháp được đưa ra. Trong đó trọng tâm nhất vẫn là bố trí nguồn lực để thực hiện tốt Chương trình mục tiêu Phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Điều chỉnh cơ chế, chính sách hiện hành, cụ thể; rà soát, đề xuất chính sách khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh lâm sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng qua chế biến. Bên cạnh đó cần phát huy chính sách phát triển rừng theo chuỗi, phát huy giá trị kinh tế của rừng đặc dụng, phòng hộ…
Các tỉnh phía bắc có tổng diện tích rừng tự nhiên là 10,3 triệu ha, chiếm 31% diện tích rừng toàn quốc, với 6,2 triệu ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp. Tuy nhiên, kết quả trồng rừng thay thế của nhiều tỉnh còn thấp. Để hoàn thành mục tiêu trồng 80 nghìn ha rừng mới, chăm sóc 200 nghìn ha, trồng 10 triệu cây phân tán trong năm 2017; tăng độ che phủ rừng trong khu vực lên 51,3%; các tỉnh phía bắc thống nhất thực hiện đồng bộ tám giải pháp.
Theo đó, tập trung phân cấp mạnh và rõ ràng trách nhiệm của chủ rừng và chính quyền các cấp; lực lượng kiểm lâm phải “bám rừng, bám dân”; đẩy mạnh chi trả dịch vụ môi trường rừng để tăng nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào tạo giống, trồng, chăm sóc và chế biến nhằm nâng cao năng suất, giá trị rừng trồng để người dân có thể sống ổn định, có thu nhập khá từ nghề rừng. (Đại Đoàn Kết 22/12) đầu trang(
Để lấy lòng tin của khách hàng, Vinalinks đã hô biến thông báo của UBND thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) thành... quyết định. Việc làm này nhằm mục đích gì?
Như ở kỳ trước báo Người Đưa Tin đã phản ánh trong bài viết "Hô biến đất rừng thành dự án ma: Bánh vẽ ‘một vốn bốn lời’(1) và bài viết “Hô biến đất rừng thành dự án 'ma': Địa phương nghe tên phải giật mình”, càng đi sâu tìm hiểu hoạt động của công ty cổ phần công nghiệp Việt Nam liên kết (Vinalinks), PV không khỏi giật mình, khi công ty này trưng ra một loạt tài liệu được “hô biến” để khách hàng tin tưởng đặt bút ký hợp đồng và chuyển tiền.
Việc “biến hoá” những giấy tờ tài liệu liên quan đến diện tích đất rừng khiến khách hàng tin tưởng tuyệt đối thể hiện sự cao tay và có sự tính toán của chủ đầu tư ở dự án “ma” này.
Một trong những văn bản được công ty Vinalinks dẫn ra trong các hợp đồng góp vốn ký với khách hàng là việc công ty này căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC231306 cấp ngày 27/8/2010 cho ông Nguyễn Tuấn Anh cho diện tích đất 37 nghìn m2.
Căn cứ vào “quyết định” số 974/HC-UBND của UBND thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) ký ngày 30/12/2010 cho phép cải tạo lô đất trên.
Tuy nhiên theo tìm hiểu của PV được biết, cụ thể “quyết định” mà công ty Vinalinks viện dẫn trong các hợp đồng góp vốn thực chất chỉ là một thông báo của UBND thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) liên quan đến việc cải tạo rừng.
Theo đó, thông báo 974 của UBND thị xã Phúc Yên nêu rõ: “Đồng ý cho ông Nguyễn Tuấn Anh cải tạo rừng từ rừng trồng sản xuất sang trồng rừng sản xuất, kết hợp sản xuất nông lâm ngư nghiệp với diện tích 3,7 ha tại lô S3, khoảnh II, tờ bản đồ giao đất lâm nghiệp, thuộc thôn Thanh Cao, xã Ngọc Thanh…
Diện tích được cải tạo phục vụ cho sản xuất nông lâm kết hợp, xây dựng hạ tầng tối đa không quá 30%, diện tích chưa có rừng theo Quyết định 186 ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
Việc cải tạo rừng trồng kết hợp với sản xuất nông lâm ngư nghiệp, chủ rừng phải thực hiện theo đúng kế hoạch, quy hoạch đảm bảo sản xuất hiệu quả, đảm bảo môi trường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất kinh doanh, chấp hành đầy đủ quy định pháp luật của Nhà nước và địa phương”.
Công ty Vinalinks hô biến một thông báo hành chính về việc chấp thuận cho chủ rừng là cá nhân được phép cải tạo rừng từ trồng rừng sản xuất đơn thuần sang trồng rừng kết hợp hợp sản xuất nông lâm ngư nghiệp, chứ không phải là một quyết định như theo thể thức văn bản quy phạm pháp luật mà Nhà nước quy định. Không hiểu vì lý do gì mà Công ty Vinalinks lại “hô biến” thông báo thành quyết định để “lòe” các nhà đầu tư?
Ngoài ra, trong các bản hợp đồng ký kết với khách hàng, Vinalinks mập mờ khi chỉ ghi chung chung là căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng 37 nghìn m2 đất cho ông Nguyễn Tuấn Anh, chứ không nêu cụ thể việc giấy chứng nhận BC231306 là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp. Điều này cũng góp phần làm cho khách hàng thêm tin tưởng.
Chính sự mập mờ này khiến nhiều nhà đầu tư tin tưởng và xuống tiền đầu tư. (Người Đưa Tin 22/12) đầu trang(
Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) cho biết sau 10 năm triển khai dự án phát triển ngành lâm nghiệp (FSDP) còn gọi là dự án WB3 đã góp phần vào cải thiện đời sống kinh tế xã hội của người dân trong vùng dự án, xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động tại các tỉnh miền Trung.
Nằm trong khuôn khổ Chương trình phát triển ngành lâm nghiệp giữa chính phủ VN và Ngân hàng Thế giới, WB3 là dự án cho vay trồng rừng thương mại đầu tiên tại VN với 2 trọng tâm chính: phát triển trồng rừng sản xuất ở một số tỉnh miền Trung VN và Quỹ bảo tồn thiên nhiên.
Dự án triển khai tại 6 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Thừa Thiên-Huế, Thanh Hóa, Nghệ An. Mặc dù 31.3.2015 là thời gian kết thúc việc NHCSXH rút vốn từ Bộ Tài chính, tuy nhiên hoạt động cho vay nguồn vốn quay vòng vẫn được NHCSXH duy trì thực hiện 20 năm nữa, để tạo điều kiện cho nhiều hộ nông dân được tiếp tục vay vốn trồng và chăm sóc rừng.
Theo NHCSXH, tính đến 31.10.2016 tổng dư nợ của dự án đạt gần 492 tỉ đồng với trên 15.000 khách hàng còn dư nợ. (Thanh Niên 21/12) đầu trang(
Ngày 20-12, UBND tỉnh đã có Chỉ thị số 35/CT-UBND về việc phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Đinh Dậu và triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2017.
Năm 2016, mặc dù thời tiết có nhiều diễn biến bất lợi đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất lâm nghiệp, nhưng toàn tỉnh đã trồng mới được 10.500 ha rừng tập trung, trồng 2,2 triệu cây phân tán các loại, đưa độ che phủ rừng đạt hơn 52%. Kết quả trên đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập và ổn định đời sống cho nhiều hộ gia đình trong tỉnh, cải thiện môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu, phát huy tác dụng phòng hộ, giảm thiểu tác hại do thiên tai gây ra.
Để thiết thực hưởng ứng và tổ chức triển khai “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Đinh Dậu năm 2017 đạt kết quả tốt, tạo không khí thi đua sôi nổi trong mọi tầng lớp nhân dân, góp phần hoàn thành thắng lợi kế hoạch trồng cây, trồng rừng năm 2017, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu giám đốc các sở, trưởng các ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố khẩn trương tổ chức tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều hình thức đến đông đảo quần chúng nhân dân, cấp ủy, chính quyền các cấp về mục đích, ý nghĩa của “Tết trồng cây”, vai trò, tác dụng, lợi ích toàn diện và giá trị nhân văn của việc trồng cây, trồng rừng, gắn liền với phát triển kinh tế  - xã hội, bảo vệ môi rường sinh thái và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Đồng thời, mỗi huyện, thị xã, thành phố chọn một xã, phường tổ chức lễ phát động Tết trồng cây và chủ động mời các đồng chí lãnh đạo tỉnh tham dự và chỉ đạo lễ phát động, sau đó phát động rộng rãi ở các xã trên địa bàn để các cấp, các ngành, các đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện cùng tham gia.
Thời gian tổ chức lễ phát động tiến hành vào đầu Xuân Đinh Dậu, không trồng cây vào những ngày rét đậm, rét hại (nhiệt độ dưới 15 độ C).
Ngoài ra, xây dựng kế hoạch tết trồng cây Xuân Đinh Dậu phải gắn liền với triển khai thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2017 và kế hoạch trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác, đảm bảo hoàn thành kế hoạch trồng mới 10.000 ha rừng tập trung, chú trọng phát triển rừng trồng gỗ lớn, tăng cường quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu qủa kinh tế rừng trông; báo cáo UBND tỉnh trược ngày 12-1-2017. (Thanh Hóa 21/12) đầu trang(
Nâng cao năng suất và hiệu quả của trồng rừng để nâng sức cạnh tranh của sản xuất lâm nghiệp là một đòi hỏi cấp bách của ngành lâm nghiệp, trong đó giống đóng vai trò then chốt. Nhưng hiện nay việc tìm ra nguồn cây giống đảm bảo chất lượng tốt đối với người trồng rừng trên địa bàn tỉnh, đặc biệt đối với việc trồng rừng gỗ lớn theo chứng chỉ FSC vẫn là bài toán nan giải.
Trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Trị hiện có hơn 20 vườn ươm cây giống lâm nghiệp được cấp phép hoạt động. Ngoài ra còn có hàng trăm hộ gia đình, cá nhân có vườn ươm nhỏ lẻ, hàng năm tạo ra hàng chục vạn cây giống lâm nghiệp phục vụ nhu cầu trồng rừng. Trên thực tế, việc kinh doanh hạt giống, cây giống có xuất xứ từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh đưa về không xác định được nguồn gốc, không được kiểm nghiệm, từ đó việc tạo cây giống, cây trồng với năng suất, chất lượng đảm bảo chưa đạt yêu cầu.
Nhiều cây giống có năng suất, chất lượng thấp vẫn được các hộ dân sử dụng trồng rừng, ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng, hiệu quả kinh tế không cao. Biểu hiện rõ nhất là đối với các hộ dân tham gia trồng rừng gỗ lớn cấp chứng chỉ FSC, việc mua phải cây giống không đảm bảo chất lượng dẫn đến hậu quả cây trồng chỉ ba, bốn năm tuổi gặp điều kiện thời tiết gió, bão rất dễ gãy đổ, hoặc cây mới trồng vài năm tuổi thì tẻ nhánh, không đạt yêu cầu.
Ông Lê Biên Hòa, thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn (Gio Linh), người có nhiều năm kinh nghiệm tham gia trồng rừng chứng chỉ FSC cho biết: “Hiện tại hộ trồng rừng ở thôn Kinh Môn còn 13 ha rừng đã được 8 năm tuổi lâm vào cảnh sinh trưởng chậm, chất lượng gỗ không đạt do nguồn giống chất lượng kém. Chúng tôi đang đề nghị cho chi hội Kinh Môn điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, thanh lý sớm số rừng này để có diện tích trồng mới vì không thể tiếp tục kéo dài”.
Mua phải nguồn giống không đảm bảo chất lượng để trồng rừng gỗ lớn là tình trạng chung của nhiều hộ dân tham gia trồng rừng cấp chứng chỉ FSC trên địa bàn tỉnh.
Ông Duy, ở thôn Quật Xá, xã Cam Nghĩa, Cam Lộ cho biết: “Hiện tại nguồn giống vẫn là nỗi lo nhất của người tham gia trồng rừng gỗ lớn. Nếu cây giống dâm hom không đảm bảo thì trong quá trình sinh trưởng rất dễ gãy đổ khi gió bão. Chúng tôi mong muốn có chính sách để có thể hợp đồng một vườn ươm đạt chuẩn, chất lượng chứ mua giống trôi nổi trên thị trường, không ai chịu trách nhiệm đối với thiệt hại của dân khi cây giống không hiệu quả”.
Những hộ trồng rừng có quy mô lớn như ông Lê Biên Hòa thì tìm mua hạt giống ở Viện Sinh học nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội về gây giống để trồng rừng. Ông Hòa cho biết thêm: “Hạt giống của Viện có giá thành 8,6 triệu/kg, trong khi ở thị trường thì có loại giống chỉ 300.000 - 350.000đ/ kg và rõ ràng chất lượng gỗ từ cây giống của Viện có sự vượt trội. Như tôi đã thử nghiệm trồng thì trong 3 năm đã đạt 50 kg gỗ/cây, tốc độ sinh trưởng tốt. Hiện tại có nhiều hộ dân cũng tìm mua nguồn giống ở chỗ tôi giới thiệu”.
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh đã chỉ đạo ứng dụng thành công các loại cây lâm nghiệp trên cơ sở đa dạng các loại cây trồng để ổn định bền vững và lâu dài, ứng dụng các tiến bộ về sinh học vào các vườn ươm để tạo ra nhiều giống cây lâm nghiệp phát triển tốt như các loại keo, tràm, phi lao…
Đặc biệt đã ứng dụng thành công sản xuất giống keo lai bằng phương pháp dâm hom tạo ra giống cây keo lai có tốc độ phát triển nhanh, rừng phát triển đồng đều, ít bị phân hóa. Trong năm 2016, các đơn vị đã gieo tạo được trên 80 vạn cây bản địa, đảm bảo nhu cầu trồng rừng tập trung đạt 6.000 ha.
Tuy vậy, để có nguồn giống hiệu quả phục vụ cho trồng rừng gỗ lớn với chu kỳ kinh doanh 10 -12 năm tuổi cho người dân địa phương thì vẫn đang là bài toán khó. Đối với việc trồng rừng gỗ lớn, chất lượng gỗ được quyết định bởi nhiều yếu tố như nguồn giống, kỹ thuật tỉa thưa, kỹthuật lâm sinh khai thác, trong đó yếu tố giống tốt được coi trọng hàng đầu. Thực tế hiện nay người trồng rừng gỗ lớn cũng đang tự mày mò, loay hoay với nguồn hạt giống, cây giống, mua cả ở trong tỉnh lẫn ngoài tỉnh và “đánh cược” với chất lượng, hiệu quả.
Ông Nguyễn Các, hộ trồng rừng có diện tích hơn 70 ha ở thôn Tràng Sòi, xã Triệu Ái (Triệu Phong) bày tỏ: “Chúng tôi mong muốn có đơn vị nào đứng ra hỗ trợ xây dựng vườn sản xuất giống thân thiện môi trường, có chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng trên địa bàn để cung cấp cho các hộ trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh. Nếu được như vậy thì chúng tôi rất an tâm với chất lượng nguồn giống, làm sao mua được giống “có bảo hành” chứ mua đứt bán đoạn như hiện tại, thiệt hại chỉ có người dân chịu hết”.  Đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 20.966 ha diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC. Ngành nông nghiệp đang tích cực tuyên truyền vận động các chủ rừng rà soát lại các diện tích rừng trồng có đủ điều kiện chuyển sang trồng rừng kinh doanh gỗ lớn, đối với các diện tích đã khai thác trồng lại rừng, khuyến khích các chủ rừng sử dụng các loại giống tốt và chọn các biện pháp thâm canh rừng thích hợp, tạo ra các khu rừng đạt năng suất, chất lượng cao để cung cấp gỗ xẻ cho công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.
Phấn đấu mỗi năm trồng 5.500 - 6.000 ha rừng tập trung và 2,5 triệu cây phân tán. Định hướng đến năm 2020, mỗi năm ngành lâm nghiệp tỉnh sẽ cung cấp cho thị trường khoảng từ 200.000 - 250.000 m3 gỗ xẻ và đến năm 2025 trên 500.000 m3 gỗ xẻ. Giải quyết vấn đề xây dựng vườn ươm cây giống tốt ngay trên địa bàn tỉnh phục vụ nhu cầu trồng rừng gỗ lớn chính là một trong những yếu tố quyết định hoàn thành các mục tiêu này. (Báo Quảng Trị 20/12) đầu trang(
Ngoài chức năng lưu giữ, cung cấp nguồn nước và gỗ, rừng còn cung cấp rất nhiều lâm sản ngoài gỗ (LSNG) vô cùng đáng quý.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, ẩm với nguồn tài nguyên động thực vật rừng phong phú đa dạng. Ngoài chức năng lưu giữ, cung cấp nguồn nước và gỗ, rừng còn cung cấp rất nhiều lâm sản ngoài gỗ (LSNG) vô cùng đáng quý.
LSNG thường có giá trị cao, khối lượng nhẹ, vận chuyển dễ dàng hơn so với gỗ, khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm hơn gỗ, giá trị, năng suất kinh tế cao, ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình nên dễ được người dân chấp nhận trong các chương trình xã hội nghề rừng, phát triển kinh tế hộ gia đình và cộng đồng.
Việc sản xuất LSNG hầu như không tổn hại đến rừng và môi trường sinh thái trong khi vẫn thu được nhiều lợi ích. Ước tính, có khoảng 24 triệu người đang sinh sống tại miền núi, trong đó có khoảng 1/3 là đồng bào các dân tộc thiểu số sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng trong đó có tài nguyên LSNG.
Hoạt động bảo tồn, gây trồng, khai thác, buôn bán và sử dụng LSNG mang lại thường giá trị sản xuất gia tăng cao, không chỉ gắn liền với đời sống hàng ngày mà còn là một trong những nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội cho nhiều cộng đồng dân cư, nhất là cộng đồng dân cư miền núi. Qua đó, mang lại giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp tương đối lớn, đóng góp thực sự vào sự phát triển của nền kinh tế, xã hội và môi trường ở nước ta.
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG đối với phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, giá trị sản xuất của ngành, từng bước đáp ứng nhu cầu lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững, Bộ NN-PTNT đã ban hành Quyết định số 2366/QĐ-BNN-LN ngày 17/8/2006 về phê duyệt đề án "Bảo tồn và Phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006-2020" và Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN ngày 8/7/2013 về phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trong đó có nội dung trọng tâm về LSNG.
Theo TS. Phan Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam), hoạt động sản xuất LSNG không chỉ mang lại giá trị sản xuất của ngành lớn mà còn là một trong những nguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày, góp phần tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho một bộ phận cư dân sống dựa vào rừng.
Gây trồng LSNG trên diện tích đất lâm nghiệp được giao hoặc thu hái LSNG từ rừng tự nhiên đã thu hút hàng triệu lao động khu vực nông thôn miền núi. Theo số liệu điều tra của Tổ chức Phát triển Hà Lan, ước tính riêng các hoạt động liên quan đến cây quế, hồi, thảo quả ở 4 tỉnh Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai và Yên Bái đã thu hút và tạo việc làm cho 50.000 người lao động của gần 12.000 hộ gia đình ở địa phương.
Nhìn chung, việc sản xuất và phát triển các sản phẩm LSNG ở nước ta đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống cho cộng đồng người dân khu vực miền núi. Các sản phẩm này không những được sử dụng tại chỗ phục vụ cho đời sống của người dân địa phương như cung cấp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu làm phân bón, thuốc chữa bệnh... từ đó góp phần đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống.
“Hiện nay, ước tính giá trị sản xuất LSNG chiếm khoảng 15% - 20% giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm (khoảng 1,2 tỷ USD) tập trung vào một số sản phẩm chủ lực chính như quế, hồi, thảo quả, sa nhân, thông, dầu rái…và hàng thủ công mỹ nghệ.
Cho đến nay, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu này có tốc độ tăng trưởng tăng trưởng bình quân cao nhất so với các nhóm hàng LSNG hàng năm từ 25 - 35%. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng quế, hồi, thảo quả là 96 triệu USD”, TS Phan Văn Thắng. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/12) đầu trang(
Việt Nam vừa kết thúc đàm phán với Cao ủy Liên minh châu Âu về thực hiện việc bảo vệ rừng. Theo đó, các doanh nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này phải thận trọng hơn trong việc sử dụng nguyên liệu.
Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) là một hiệp định thương mại có sự ràng buộc về mặt pháp lý giữa Liên minh châu Âu (EU) và một nước sản xuất gỗ bên ngoài EU. Mục đích của VPA nhằm đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu vào EU có nguồn gốc hợp pháp.
Năm 2010, Việt Nam và EU đã khởi động đàm phán VPA tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản. Hai bên chính thức đàm phán vào cuối năm 2011. Cuối tháng 11 vừa qua, Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn cùng Cao ủy EU công bố kết thúc cơ bản đàm phán VPA tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản giữa Việt Nam và EU.
Như vậy, sau gần 6 năm với 10 phiên đàm phán cấp cao, 18 phiên đàm phán kỹ thuật, Việt Nam và EU đã cơ bản kết thúc các nội dung của hiệp định. Đây chính là tiền đề quan trọng để thúc đẩy ngành chế biến, xuất khẩu gỗ của Việt Nam phát triển bền vững và mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là vào EU. Theo Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, hiệp định này được xem như “giấy thông hành” để các sản phẩm gỗ của Việt Nam xuất khẩu vào EU không phải giải trình về truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp theo Quy chế gỗ của EU.
Ông Karmenu Vella, Cao ủy về Môi trường, các vấn đề hàng hải và thủy sản của Ủy ban châu Âu cũng thông tin, mới có 6 quốc gia (Ghana, Liberia, Indonesia, Cameroon, Cộng hòa Congo và Cộng hòa Trung Phi) đã ký VPA với EU. Các quốc gia này đang hoàn thiện hệ thống cho việc kiểm soát, chứng thực và cấp phép đối với gỗ hợp pháp. Còn lại 9 nước khác, trong đó có Việt Nam, Lào, Thái Lan và Malaysia đang trong quá trình đàm phán.
Ông Trần Văn Thành, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Kiến Phúc (huyện Trảng Bom), chuyên sản xuất mặt hàng gỗ xuất khẩu, cho rằng các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu của  Việt Nam đã sử dụng gỗ nguyên liệu có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều năm qua. Vì vậy, việc tham gia vào VPA sẽ giúp ngành chế biến gỗ của Việt Nam thêm phần uy tín. Ông Thành nói: “Khi tham gia vào hiệp định này, các doanh nghiệp chế biến gỗ cũng như cơ quan kiểm soát Nhà nước sẽ chú trọng hơn các thủ tục liên quan để việc kiểm soát nguồn gốc gỗ theo đúng tiêu chuẩn”.
Hiệp hội Gỗ và thủ công mỹ nghệ Đồng Nai (Dowooha) cảnh báo với việc siết chặt nguồn gốc gỗ của EU, cũng như Việt Nam tham gia vào VPA, các doanh nghiệp sử dụng nguồn gỗ nhập khẩu từ  những quốc gia có mức rủi ro cao sẽ bị xem xét nghiêm ngặt về tính hợp pháp của gỗ. Chính vì vậy, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc hơn khi nhập khẩu nguồn hàng từ các thị trường này.
Ông Phan Văn Bình, Chủ tịch Dowooha, cho biết các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu gỗ sang 2 thị trường Mỹ và EU cũng đã quen với những quy định về nguồn gốc xuất xứ của gỗ nguyên liệu nên sẽ không gặp phải khó khăn nhiều trong thời gian tới. Lãnh đạo của hiệp hội này còn cho rằng đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp tiếp tục chuẩn hóa nguồn hàng đáp ứng cho thị trường khó tính.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn, thị trường EU chiếm hơn 10% kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ của Việt Nam. (Báo Đồng Nai 21/12) đầu trang(
Năm 2017 Trung Quốc sẽ đóng cửa rừng. Như vậy, nước này sẽ thiếu hụt 50% gỗ nguyên liệu. Lượng thiếu này sẽ được nhập khẩu và thị trường gần nhất của Trung Quốc là Việt Nam.
Lệnh đóng cửa rừng từ năm 2017 của Trung Quốc đang gây lo lắng lớn cho DN ngành gỗ Việt Nam. Hơn 120 DN thuộc các Hiệp hội VIFORES, HAWA, BIFA, FPA Bình Định đã cùng bày tỏ sự quan ngại về nguy cơ ngành chế biến gỗ rơi vào khủng hoảng.
Ngành chế biến gỗ Việt Nam đã phát triển rất nhanh trong 10 năm qua. Hiện cả nước đã có hơn 4.000 DN chế biến gỗ (năm 2000 cả nước mới chỉ có 741 DN chế biến gỗ và lâm sản), cùng gần 1.000 làng nghề với hàng vạn hộ gia đình, cơ sở chế biến gỗ. Nhu cầu gỗ nguyên liệu ngày càng tăng với tốc độ rất nhanh. Lượng gỗ nguyên liệu sử dụng ở năm 2013 chỉ  là 25,7 triệu m3 gỗ quy tròn, thì đến năm 2014 đã tăng lên 28,6 triệu m3, năm 2015 là 31,3 triệu m3. Riêng 10 tháng 2016, tổng lượng gỗ mà ngành này sử dụng đã ở mức 26,7 triệu m3.
Nhu cầu nhiều như vậy, nhưng nguồn gỗ rừng trồng trong nước chỉ cung cấp được khoảng 40%, số còn lại đang phải nhập khẩu từ 120 nước trên thế giới.
Thời gian gần đây, các DN phản ánh tình trạng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và thương nhân Trung Quốc đội lốt DN Việt Nam, đã hình thành những hệ thống nhà máy và cơ sở thu mua nguyên liệu gỗ ở hầu khắp các vùng, từ miền Nam ra đến khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đặc biệt, về giá gỗ cao su, chỉ từ tháng 9 đến nay, đã tăng 20%. Có đến 80% nguồn cung gỗ cao su ở Tây Nguyên đã được thương nhân Trung Quốc bao mua. Họ mở nhiều xưởng cưa xẻ ngay tại chỗ, ứng tiền mặt thuê người dân đi mua gom, trả giá cao và thanh toán ngay.
Thừa nhận là chưa thể kiểm chứng những phản ánh về tình trạng mua tranh gỗ nguyên liệu của thương nhân Trung Quốc như phản ánh, song ông Tô Xuân Phúc, Tổ chức Forest Trend  cho biết, năm 2017 Trung Quốc sẽ đóng cửa rừng. Như vậy, nước này sẽ thiếu hụt 50% gỗ nguyên liệu. Lượng thiếu này sẽ được nhập khẩu và thị trường gần nhất của Trung Quốc là Việt Nam.
Cùng với đó, điều lo ngại nữa của các DN nội là các DN Trung Quốc ồ ạt đầu tư vào Việt Nam để tận dụng lợi thế ưu đãi khi Việt Nam hội nhập, ông Lưu Phước Lộc - Giám đốc Công ty Chế biến gỗ Mtrade, Phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương (BIFA) lên tiếng tại một buổi tọa đàm của các DN ngành gỗ mới đây. Cụ thể, ông Lộc cho biết, hiện nay đang có làn sóng các DN gỗ của Trung Quốc đầu tư vào tỉnh Bình Dương, vấn đề ở chỗ hàng hóa của họ mang sang gần như đã là thành phẩm, phần việc tại Việt Nam chỉ là lắp ráp và phủ sơn.
“Mục đích của các DN Trung Quốc là muốn lấy C/O của Việt Nam, vì hiện nay họ không được cấp C/O sang thị trường Hoa Kỳ do bán phá giá. Hơn nữa, họ cũng muốn tận dụng nguồn nhân công giá rẻ của Việt Nam. Trong cạnh tranh về giá, các DN Trung Quốc luôn có lợi thế bởi luôn sản xuất với quy mô cực lớn. Đây là sức ép rất lớn, thậm chí có thể gây nguy cơ khủng hoảng gỗ nguyên liệu tại các DN trong nước ở TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bình Định”, ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA) phát biểu.
Trước tình hình này, ông Tô Xuân Phúc khuyến nghị, ngành chế biến gỗ Việt Nam cần giải quyết tốt bài toán về nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu.
Theo đó, cần có những bước đột phá, giao đất cho hộ gia đình làm tăng tỷ lệ che phủ rừng. Trong chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, vấn đề này đã được đề ra nhưng đến nay vẫn lúng túng trong thực hiện. Cùng với đó, liên kết cũng được xem là một giải pháp cho ngành gỗ phát triển bền vững. Đó không chỉ là sự liên kết giữa người trồng với DN chế biến, mà còn là sự kết nối giữa các DN với nhau.
Cùng với đó, các DN đề nghị tăng kiểm tra giám sát để hạn chế việc thương nhân nước ngoài thu gom, khống chế thị trường gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước và lẩn tránh thuế xuất khẩu bằng cách giảm giá bán, kê khai không đúng quy cách gỗ nguyên liệu xuất khẩu. (Thời Báo Ngân Hàng 21/12) đầu trang(
Làng nghề Đồng Kỵ trở thành điểm tham quan cho du khách trong và ngoài nước sẽ tạo cầu nối đưa sản phẩm gỗ mỹ nghệ nội địa vươn ra thế giới.
Có kinh nghiệm hơn 26 năm trong ngành gỗ tại làng nghề Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh), bà Vũ Thị Mai - Tổng giám đốc Công ty Đồ gỗ Mỹ nghệ Hướng Mai luôn trăn trở tìm hướng đi mới để quảng bá cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ nơi đây. Nữ doanh nhân này ấp ủ tham vọng đưa đồ gỗ mỹ nghệ làng nghề xuất khẩu sang các nước. Bà cũng là một trong những người khởi xướng ý tưởng đưa Đồng Kỵ trở thành điểm du lịch, tham quan cho khách du lịch trong và ngoài nước.
Với vai trò đại sứ thân thiện làng nghề Đồng Kỵ, bà tích cực tham gia các hoạt động quảng bá, truyền cảm hứng, động viên các nghệ nhân nâng cao chất lượng và đưa những giá trị tinh hoa của người Việt vào sản phẩm.
"Thông qua hoạt động quảng bá ngay tại làng nghề cho du khách đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, chúng tôi hy vọng sẽ tiến cận được khách hàng tại các thị trường mục tiêu, giúp đưa sản phẩm Đồng Kỵ ra khắp năm châu", bà Mai chia sẻ.
Quy trình chế hoàn toàn bằng tác thủ công với bàn tay của những nghệ nhân lâu năm đã cho ra đời các sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ hết sức tinh xảo, hòa quyện văn hóa truyền thống và thiết kế hiện đại hoàn toàn có thể tạo nên những sản phẩm du lịch thu hút. Đến với Đồng Kỵ và trung tâm Đồ gỗ Hướng Mai, du khách sẽ được thưởng lãm bàn tay tài hoa của những nghệ nhân Việt thổi hồn vào từng thớ gỗ một cách chăm chút, tỉ mỉ.
Để hiện thực hóa hướng đi này, nữ giám đốc đưa 3 xưởng sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ diện tích 2.000m2 với hơn 200 nghệ nhân lành nghề cùng trung tâm Hướng Mai Center trưng bày sản phẩm vào thành một tour du lịch. Khách đến với trung tâm Hướng Mai sẽ bước vào một không gian chế tác nghệ thuật gỗ đặc sắc và tinh xảo từ công đoạn đầu tiên đến thành phẩm.
Trung tâm đồ gỗ Hướng Mai nằm ở số 1 làng Đồng Kỵ, gồm 9 tầng với tổng diện tích gần 10.000m2, không chỉ là nơi mua bán sầm uất của giới sành đỗ gỗ mà còn là điểm tham quan, du lịch hút khách. Các sản phẩm trưng bày tại đây là sự kết hợp độc đáo và đặc sắc của nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới, từ những kiệt tác phương Đông phỏng theo lối giả cổ, cho đến những tác phẩm mang phong cách hiện đại.
Đồ gỗ mỹ nghệ Hướng Mai đang đặt mục tiêu xuất khẩu vào thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan… Đây là những quốc gia có nhu cầu sử dụng đồ gỗ cao nhưng rất chọn lọc, sức ép cạnh tranh lớn. Vì vậy một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là nâng cao tay nghề cho đội ngũ nghệ nhân để các sản phẩm phải tinh xảo và đạt chất lượng cao hơn. Tiếp đến là giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn nguyên liệu, chất lượng nguyên vật liệu. Bên cạnh đó việc cải thiện năng lực tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh trong bối cảnh thị trường mở rộng và theo hướng quốc tế hóa cũng quan trọng không kém.
Cụ thể công ty dành ra quỹ đất 1.500m2 để phát triển thêm nhà xưởng, thêm 1.500m2 xây trường dạy nghề. Tại đây, các nghệ nhân của làng Đồng Kỵ học cách chế tác sản phẩm tinh xảo, đáp ứng thị hiếu nước ngoài. Đồng thời họ còn nắm bắt cách thức truyền tải văn hóa người Việt vào từng sản phẩm.
"Đây chính là chiến lược khác biệt hóa mà tôi đang áp dụng cho doanh nghiệp của mình để tạo chỗ đứng và khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm của Hướng Mai nói riêng và Đồng Kỵ nói chung khi vươn ra biển lớn", bà Mai nhấn mạnh.
Nhằm thực hiện thành công chiến lược này, bà Mai còn tìm đến các chuyên gia trong chương trình "CEO - Chìa khóa thành công", tham gia các buổi trao đổi, tư vấn về chủ đề mua bán và sáp nhập trong lĩnh vực kinh doanh đồ gỗ. Nhờ vậy bà không chỉ nâng cao kiến thức và kỹ năng điều hành mà còn hoạch định chiến lược rõ ràng và bài bản hơn để thực hiện thành công những tham vọng của mình.
"Chương trình giúp tôi biết được làm thế nào để dẫn đầu, cách thức doanh nghiệp chuyên nghiệp hơn để hội nhập. Với cá nhân mình, chương trình cho tôi cách phân tích và cái nhìn quyết đoán để nhanh chóng ra quyết định khi doanh nghiệp đứng trước những cơ hội phát triển", bà Mai nhận xét. (VnExpress 22/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Bằng niềm đam mê và tình yêu thương của mình dành chó sói, một doanh nhân ở Trung Quốc đã nuôi dưỡng 150 cá thể này tại “Thung lũng sói hoang”.
“Vua sói” là biệt danh mà người dân ở khu tự trị Tân Cương đặt cho Yang Changsheng, một doanh nhân 71 tuổi. 9 năm qua, ông đã nuôi nấng và chăm sóc khoảng 150 con sói thuộc 8 giống khác nhau tại một khu vực được gọi là “Thung lũng sói hoang”.
Năm 2007, Yang Changsheng nhận ra niềm đam mê của mình với những chú sói vào một dịp tình cờ. Trong một lần đến thăm nhà một người bạn, ông thấy bạn mình nuôi một con sói cái bị nhốt trong lồng. Khi đó, 4 chân và cổ của nó đều bị xích chặt. Động lòng trước con vật tội nghiệp, ông bảo bạn mình mở cửa lồng để ông nới lỏng bớt dây xích trên người con vật. Nhiều người nghĩ rằng, ông là kẻ điên rồ và liều lĩnh khi tiếp xúc trực tiếp với con vật hoang dã và hung dữ này. Thế nhưng, thật bất ngờ, ngay khi cửa lồng mở ra, con sói không hề vẫy vùng hay cảm thấy sợ hãi trước Yang, mà nó còn nằm phục xuống đất như thú nuôi trong nhà.
Quá ấn tượng, người bạn của Yang đã tặng cho ông cả đàn con sói như là một món quà kỉ niệm, gồm sói mẹ bị nhốt trong lồng và một vài con sói con vừa ra đời trước đó vài hôm. Nhận được món quà đặc biệt ấy, ông Yang đã hết lòng chăm sóc và nuôi nấng chúng. Bên cạnh đó, ông cũng chủ động sưu tầm các loài sói hoang về để chăm sóc và đến nay, số lượng loài sói tại “Thung lũng sói hoang” đã lên đến 8 loài.
Việc nuôi giữ loài động vật nguy hiểm này đã khiến vị doanh nhân vấp phải sự phản đối kịch liệt từ gia đình. Họ không đồng ý để ông nuôi chó sói trong nhà. Tuy nhiên, tình yêu và sự đam mê dành cho loài sói quá lớn, ông Yang vẫn quyết định làm theo ý mình. Năm 2008, ông xin được giấy phép nuôi chó sói và đã tiến hành xây dựng một khu trại rộng khoảng 20ha để làm nhà cho đàn sói cưng.
Yang Jie - con gái của ông Yang cho biết, mọi người trong gia đình từng kiên quyết phản đối việc làm của bố cô. Thế nhưng, khi chứng kiến ông Yang một mình vật lộn để chăm sóc đàn sói, Jie thay đổi suy nghĩ và quyết định giúp đỡ bố mình. Cô đến trang trại sống cùng ông, dọn vệ sinh chỗ ở cho những chú sói, cho chúng ăn uống và tiêm thuốc cho những cá thể sói bị bệnh.
Nhờ bàn tay chăm sóc của Yan Jie, đàn sói dần dần hồi phục. Trải qua thời gian, Jie cảm nhận được tình cảm của những con sói dành cho những thành viên trong gia đình cô. Mỗi lần Jie đến trại, bầy sói quây quanh cô và đồng loạt quẫy đuôi, liếm láp với thái độ mừng rỡ. Cô cho rằng, các loài động vật được sinh ra với khả năng nhận thức đặc biệt. Chúng sẽ không trở nên thân thiết với bạn nếu cảm thấy tin tưởng. Đó thật sự là một cảm giác hết sức tuyệt với đối với Jie.
Với sự giúp đỡ của con gái mình, từ 12 con sói được tặng, Yan đã gây giống và nâng số lượng cá thể sói tại trại lên đến 150 con. Ông cũng đã bỏ ra tổng cộng 170 triệu Nhân dân tệ (khoảng 25 triệu USD) để phát triển trại sói của mình. Hiện nơi đây đã trở thành điểm thu hút khách du lịch tại Trung Quốc, tạo cơ hội cho du khách được tìm hiểu và tiếp xúc với cuộc sống của loài động vật hoang dã này.
Yang Jie cho biết, gia đình cô muốn mang đến cho đàn sói môi trường sống tốt hơn và việc nhiều khách đến tham quan trại sói đã giúp gia đình cô có thêm chi phí để hiện thực hóa mong muốn đó.
Trong khi đó, ông Yang Changsheng cho biết, mình chỉ bị sói cắn một lần duy nhất. Thế nhưng, khi thấy chủ nhân bị tấn công, những con sói khác trong đàn đã bao vây con sói kia để bảo vệ chủ của mình. Ông nói rằng, chúng có thể tấn công người khác, nhưng không bao giờ tấn công ông. Chúng hầu như hiểu được và biết ơn những gì mà ông đã làm cho chúng trong những năm qua.
Hiện mỗi ngày, ông Yang phải chi hơn 2.000 Nhân dân tệ (khoảng 300 USD) để mua thức ăn cho đàn sói, chưa kể các chi phí y tế và tiền thuê nhân công cho trại. Trong lương lai, ông dự định nhân giống để tăng số lượng đàn sói lên con số 1.000 con và sau đó thả chúng trở về sống trong môi trường thiên nhiên hoang dã. (Thế Giới Và Việt Nam 21/12) đầu trang(./.