Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 23 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Vào lúc 10 giờ ngày 22/12, đã xảy ra vụ cháy rừng tại đường dẫn lên Đèo Lim, đoạn giáp ranh với rừng quốc gia Yên Tử, thuộc xã Thượng Yên Công (Uông Bí, Quảng Ninh). Theo Ban quản lý rừng quốc gia Yên Tử, vạt rừng bị cháy thuộc sở hữu của bà Lý Thị Nhã và vạt rừng bị cháy lan phía trên là của gia đình ông Bùi Văn Hiển.
Nguyên nhân ban đầu của vụ cháy được các lực lượng chức năng xác định là do người dân đốt thực bì sau khai thác, nhưng do chủ quan, không kiểm soát được nên dẫn đến cháy lan trên diện rộng.
Đến 15 giờ 30 cùng ngày, ngọn lửa đã được các lực lượng chức năng khống chế, không để cháy sang khu rừng quốc gia Yên Tử; ước tính gần 2ha rừng bị thiệt hại do vụ cháy. (Vietnam + 22/12) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, toàn tỉnh hiện có gần 34 ngàn ha rừng, chiếm 16,97% diện tích tự nhiên.
Do địa hình 3/4 là đồi núi có độ dốc cao, nguồn vật liệu cháy dưới tán rừng lớn; khí hậu vào mùa khô có gió Đông Bắc thổi mạnh và liên tục, nguồn nước từ các suối cạn kiệt, độ ẩm không khí rất thấp; diện tích rừng và đất lâm nghiệp nằm xen với đất nông nghiệp, dân cư sống trong và ven rừng nhiều... nên nguy cơ cháy rừng rất cao.
Bước vào mùa khô 2016-2017, trước diễn biến phức tạp của thời tiết, tình trạng khô hanh, hạn hán tiếp tục kéo dài, với phương châm “phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời, triệt để và an toàn”,  Chi Cục Kiểm lâm tỉnh đã đề ra 9 biện pháp phòng cháy, chữa cháy, gồm: phân vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao 5.163ha ở 8 huyện, thành phố; tuyên truyền nâng cao nhận thức trong cộng đồng về PCCC rừng; tổ chức cảnh báo rừng và phát hiện sớm các điểm cháy; nâng cao năng lực chữa cháy rừng bằng phần mềm phát hiện sớm cháy; kiểm soát các nguồn sinh lửa, nhiệt gây cháy; hướng dẫn nghiệp vụ PCCC rừng; kiểm tra an toàn về phòng cháy; xây dựng các công trình PCCC rừng; trang thiết bị phòng cháy chữa cháy rừng... (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 22/12) đầu trang(
Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Ba Rền được giao thực hiện quản lý, bảo vệ phát triển rừng (BVPTR) trên diện tích 11.920 ha thuộc địa bàn 3 xã: Vĩnh Ninh, Trường Xuân và Trường Sơn (huyện Quảng Ninh). Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng BQL đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần giữ màu xanh cho những cánh rừng.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Chí Tấn - Giám đốc BQL - cho biết: Xác định công tác quản lý BVPTR là nhiệm vụ quan trọng nhất, BQL đã thường xuyên kiểm tra phát hiện, xử lý và ngăn chặn kịp thời hàng chục vụ vi phạm.
Từ năm 2010 đến nay, BQL đã lập biên bản, đề nghị các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh 40 vụ vi phạm về các quy định trong công tác quản lý BVPTR. Đồng thời thu giữ 46,65 m3 gỗ các loại, 21 dụng cụ, phương tiện vi phạm (trong đó có 1 ô tô, 2 xe máy, 18 cưa xăng). Ngoài ra, BQL còn thường xuyên phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh kiểm tra, truy quét, lập biên bản thu giữ mốt số vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép khác trên địa bàn, nhờ đó mà toàn bộ diện tích rừng trong phạm vi quản lý được bảo vệ tốt.
Bên cạnh đó, BQL cũng luôn coi trọng công tác phòng chống cháy rừng, thường xuyên phân công cán bộ xuống địa bàn các xã tham mưu cho chính quyền cơ sở làm tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô. Tổ chức theo dõi việc sử dụng lửa đối với các gia đình sống gần bìa rừng. Do vậy, trong những năm qua, trên địa bàn quản lý đã không có vụ cháy rừng phòng hộ xảy ra.
Đối với công tác giao khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi phục hồi rừng, từ năm 2010 đến nay, trên cơ sở nguồn vốn Dự án Phát triển rừng bền vững, BQL đã hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng diện tích 4.000 ha; khoanh nuôi phục hồi rừng 500 ha và 200 ha nguồn vốn Dự án JICA2 về phát triển rừng phòng hộ cho các lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng chuyên trách; các hộ đồng bào dân tộc; ban công an, xã đội thuộc 2 xã: Trường Xuân, Trường Sơn và Đồn Biên phòng Làng Mô.
Cũng theo ông Lê Chí Tấn, trên cơ sở những kết quả đạt được, năm 2017, BQL sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện công tác trồng rừng theo chỉ tiêu kế hoạch được giao; tập trung giám sát các hộ, đơn vị, cá nhận khoán thực hiện chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng; tuần tra, bám sát địa bàn về tình hình phát nương làm rẫy nhằm ngăn chặn các vụ xâm hại rừng, phối hợp với cơ quan chức năng xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm.
Tuy nhiên, để công tác quản lý BVPTR và phòng chống cháy rừng được hiệu quả hơn, BQL đề nghị nhà nước đầu tư thêm kinh phí, chế độ và công cụ hỗ trợ cho lực lượng bảo vệ và phòng chống cháy rừng, do lực lượng này thực hiện nhiệm vụ chủ yếu trên các địa bàn đi lại khó khăn, thông tin liên lạc hạn chế, cộng với lực lượng mỏng lại hoạt động ở vùng sâu, vùng xa có tính chất đơn lẻ, trong khi lâm tặc hoạt động ngày càng tinh vi, liều lĩnh ảnh hưởng không nhỏ đến công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
BQL rừng phòng hộ Ba Rền đã chủ động ký kết hợp đồng phối kết hợp công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng với 3 xã, Trường Xuân, Vĩnh Ninh và Trường Sơn; Đồn Biên phòng Làng Mô và 4 thôn bản với 200 hộ đồng bào dân tộc tham gia. (Công Thương 22/12) đầu trang(
Đảm bảo TTATGT là kết quả hoạt động của hệ thống chính trị xã hội, cũng như luôn cần có sự phối hợp với các cơ quan, ban ngành khác để xử lý vi phạm.
Để đảm bảo trật tự ATGT trước, trong và sau Tết Nguyên đán Đinh Dậu, Trạm CSGT Hàm Yên đã chủ động nắm chắc tình hình, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đảm bảo an ninh trật tự, an toàn giao thông trong mọi tình huống. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý kiên quyết những trường hợp vi phạm, nhất là ô tô khách chở quá số người quy định; chạy quá tốc độ cho phép; điều khiển phương tiện khi đã uống rượu, bia, nồng độ cồn trong máu vượt quá mức cho phép; vận chuyển hàng hóa, thực phẩm, gỗ.. không rõ nguồn gốc…
Thứ nhất, ngày 02/12/2016 tại Km28, QL2, trạm CSGT huyện Hàm Yên đã kiểm tra và phát hiện xe ô tô BKS 88B-00490, do ông Phan Thanh Phương lái xe theo hướng Vĩnh Phúc – Hà Giang, vận chuyển 457 kg lòng trâu, bò không có giấy tờ kiểm định, đã bốc mùi hôi thối. Sau đó, Trạm Cảnh sát giao thông Hàm Yên đã chuyển cho Đội quản lý thị trường số 1 tỉnh Tuyên Quang để xử lý, tiêu hủy và phạt 8,2 triệu đồng.
Thứ hai, vào khoảng 4h sáng ngày 05/12/2016, Trạm CSGT Hàm Yên cũng phát hiện lái xe Nguyễn Văn Lạc, thường trú tại phường Ngọc Hà, TP.Hà Giang, lái xe mang BKS 24N-3636, vận chuyển 54 thanh hộp gỗ Nghiến xẻ với khối lượng 0,863 m3 theo hướng Hà Giang – Hà Nội. Trạm CSGT Hàm Yên đã bàn giao toàn bộ phương tiện và số gỗ trên cho Hạt kiểm lâm huyện Hàm Yên xử lý.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Hàm Yên cho biết: “Hiện tại số gỗ trên Hạt kiểm lâm đang tạm giữ, báo cáo lên cấp trên để tiến hành xử lý theo đúng quy định của pháp luật…”.
Trung tá Đào Việt Hà, Trưởng Trạm Cảnh sát giao thông Hàm Yên cho biết: “Với quyết tâm đảm bảo TTATGT trên tuyến, Trạm bố trí lực lượng tập trung vào việc tuần tra, kiểm soát phát hiện xử lý nghiêm các lỗi vi phạm trực tiếp dễ xảy ra tai nạn giao thông như xe chạy sai làn đường, lái xe uống rượu, bia vượt quá nồng độ cho phép... Ngoài ra, các chiến sỹ của Trạm cũng chú trọng tuyên truyền luật giao thông cho người điều khiển phương tiện, phối hợp với các ban ngành để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật”.
Tết Nguyên đán Đinh Dậu đang tới gần, với việc triển khai đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông cùng với sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ, chiến sỹ Trạm CSGT Hàm Yên, nâng cao ý thức chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông, từng bước hình thành nét đẹp văn hóa khi tham gia giao thông của người dân sẽ góp phần mang lại một mùa xuân bình yên và hạnh phúc cho mọi người, mọi gia đình, nhất là dịp trước, trong và sau tết nguyên đán Đinh Dậu 2017. (Gia Đình Và Pháp Luật 23/12) đầu trang(
Thực hiện nhiệm vụ công tác tuần tra kiểm soát đảm bảo TTATGT trên tuyến QL14. Đội TTKS số 1, phòng PC67 Công an tỉnh Đăk Nông phát hiện nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo thông tin phản ánh, phóng viên tòa soạn có buổi làm việc với lãnh đạo phòng PC67 Công an tỉnh Đăk Nông thì được biết, vào lúc 23 giờ ngày 23/11/2016, tổ TTKS số 1 do đồng chí Văn Ngọc Tường – Đội trưởng làm Tổ trưởng, đang làm nhiệm vụ tại Km 735 – QL14 thộc xã Tâm Thắng, huyện Cư Jút.
Trong quá trình TTKS phát hiện xe ôtô khách BKS: 81B – 009.79 do Trần Văn Bảo (sinh năm 1975) điều khiển. Xe khách BKS: 81B – 007.29, do Trần Cảnh Hùng (sinh năm 1970) điều khiển và xe khách BKS: 81B – 011.49, do Nguyễn Văn Trung (sinh năm 1974) cùng trú tại TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai điều khiển, phát hiện trên xe có chở bàn ghế, giường tủ, cánh cửa làm bằng gỗ, lái xe không xuất trình được giấy tờ hợp pháp. Tổ TTKS đã tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật và bàn giao cho Công an huyện Cư Jút tiếp tục điều tra xử lý.
Lúc 22 giờ 30 phút ngày 02/12/2016, tổ TTKS đo Đại úy Bùi Xuân Trung – Phó Đội trưởng làm Tổ trưởng, phát hiện xe ôtô đầu kéo BKS: 15C – 140.73 kéo rơmooc BKS: 15R – 071.42, do Trần Trường Giang (sinh năm 1985), trú xã Vĩnh Trung, huyện Vũng Liên, tỉnh Vĩnh Long điều khiển. Qua công tác kiểm tra phát hiện trên xe chở khoảng 17m3 gỗ căm xe, (gỗ nhóm 2) lái xe không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp. Tổ TTKS đã tiến hành lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện và bàn giao cho Công an huyện Cư Jút tiếp tục điều tra làm rõ.
Tiếp đến, ngày 11/12/2016, tổ TTKS do đồng chí Thiếu tá Đậu Văn Hoành – Phó đội trưởng làm Tổ trưởng đang làm nhiệm vụ tại Km 737 QL 14, phát hiện xe ôtô BKS: 93C – 028.23, do Nguyễn Mạnh Đông sinh năm 1979 trú tại, thị trấn Đăk Mil, huyện Đăk Mil điều khiển có biểu hiện nghi vấn, ra hiệu lệnh dừng kiểm tra và phát hiện trên xe chở khoảng 0,92m3 gỗ hương (nhóm 1) không có giấy tờ.
Tổ TTKS lập biên bản tạm giữ tang vật và phương tiện bàn giao cho Công an huyện Cư Jút tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trong vòng 18 ngày Đội TTKS số 1, phòng PC67 Công an tỉnh Đăk Nông đã phát hiện 05 vụ vẩn chuyển lâm sản trái phép, Bắt giữ 01 đối tượng, 02 xe ôtô, 17m3 gỗ căm xe, 0,92m3 gỗ hương, bàn giao người và tang vật cho cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ, đã tạo niền tin trong quần chúng nhân dân, ngăn chặn nạn khai thác rừng và vận chuyển lâm sản trái phép.
Được biết, Đội TTKS số 1, PC67 Công an tỉnh Đăk Nông, TTKS trên tuyến đường QL14, thuộc địa bàn huyện Cư Jút có nhiều “điểm đen” mất TAGT. Địa bàn đơn vị quản lý là giáp ranh tỉnh Đăk Lăk, là cửa ngỏ vận chuyển hàng hóa giao thương của các tỉnh Tây Nguyên đi TP Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ và ngược lại, số lượng phương tiện TGGT gia tăng đột biến trong những tháng cuối năm tiềm ẩn nguy cơ gây mất TTATGT là rất lớn. (Gia Đình Và Pháp Luật 22/12) đầu trang(
Ngày 22/12, lực lượng chức năng phát hiện 2 vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh. Trong đó, 1 vụ vận chuyển 2,5m3 gỗ trái phép tại xã Đăk Long (huyện Đăk Glei và 1 vụ cất giấu 8 hộp gỗ xẻ trái phép tại xã Văn Lem (huyện Đăk Tô).
Vào lúc 3h ngày 22/12, Tổ công tác đặc biệt của xã Đăk Long làm nhiệm vụ chốt chặn tại thôn Đăk Ák (xã Đăk Long, huyện Đăk Glei) kiểm tra ô tô tải mang biển kiểm soát 77C-115.02 và phát hiện trên xe chở khoảng 2,5m3 gỗ xẻ (chủng loại dổi và re hương, thuộc nhóm III).
Trong quá trình xử lý, một số đối tượng có hành vi manh động, liều lĩnh cản trở lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ. Tổ công tác đặc biệt đã tiến hành trấn áp, lập biên bản vụ việc, bắt giữ phương tiện và gỗ tang vật; các đối tượng gây rối chạy thoát.
Đến trưa 22/12, phương tiện và gỗ tang vật đã được đưa về trụ sở UBND xã Đăk Long để bàn giao cho cơ quan chức năng lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vào lúc 7h30’, ngày 22/12, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Tô phối hợp với UBND xã Đăk Trăm, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô và Đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng số 1 (Chi cục Kiểm lâm) tiến hành kiểm tra tại khu vực nhà rông thôn Đăk Rơ Gia, xã Văn Lem (huyện Đăk Tô).
Trong quá trình kiểm tra đã phát hiện 8 hộp gỗ xẻ, khối lượng 0,856m3 (chủng loại dổi, thuộc nhóm III) đang cất giấu tại bãi đất bên đường đi vào khu vực sản xuất, cạnh nhà rông của thôn Đăk Rơ Gia. Toàn bộ số gỗ trên không có dấu búa kiểm lâm.
Đoàn kiểm tra đã tiến hành lập biên bản, vận chuyển số gỗ trên về Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Tô tạm giữ để xác minh, xử lý theo quy định. (Báo Kon Tum 22/12) đầu trang(
Hội đồng Bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt tỉnh Kon Tum đang thông báo bán đấu giá lô tài sản gồm: 4,052m3 gỗ sưa xẻ, sưa tròn và gốc rễ, cành ngọn cây sưa; 0,541m3 gỗ hương, gỗ trắc và 11 xe mô tô đã qua sử dụng.
Lô tài sản này hiện đang được trưng bày tại kho của Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Giá trị khởi điểm của lô tài sản này là gần 8 tỷ đồng; bước giá theo quy chế đấu giá là 300 triệu đồng/bước giá. Lô tài sản sẽ được tổ chức bán đấu giá vào lúc 8 giờ ngày 9/1/2017.
Được biết, Hội đồng Bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt tỉnh Kon Tum được thành lập để tổ chức bán đấu giá số gỗ tang vật còn lại ở huyện Đăk Hà. Hội đồng sẽ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 4/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản và các quy định khác có liên quan. (Đấu Thầu 22/12) đầu trang(
Nhiều giải pháp đã được áp dụng nhằm bảo tồn đa dạng sinh học cho Vườn quốc gia U Minh Thượng
Vườn quốc gia U Minh Thượng thuộc khu dự trữ sinh quyển tỉnh Kiên Giang có diện tích 21.107 ha, gồm vùng lõi 8.038 ha, vùng đệm 13.069 ha. Khu vực này là một trong những vùng đất ngập nước quan trọng nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Cháy rừng xảy ra năm 2002 đã tàn phá và làm suy thoái nhiều rừng tràm ở Vườn quốc gia U Minh Thượng. Tiếp theo là phương án giữ nước ngập sâu để phòng cháy chữa cháy rừng kéo dài nhiều năm đã làm biến đổi đáng kể sự phát triển tự nhiên của rừng tràm, kéo theo giảm tính đa dạng sinh học của các loài khác.
Trước thực tế trên, Vườn quốc gia U Minh Thượng tiếp tục nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học. Các nhà khoa học và nhà quản lý đã thống nhất phương án quản lý nước mới cho phép giảm mực nước trong vùng lõi Vườn quốc gia để đảm bảo sự phát triển bình thường của rừng tràm và đáp ứng mục tiêu phòng cháy chữa cháy rừng.
Ông Phạm Quốc Dân, Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Thượng cho biết: Sau khi thay đổi phương án quản lý nước vào năm 2010, hệ sinh thái rừng tràm đã được phục hồi và đa dạng sinh học rừng tràm đã có những thay đổi theo hướng tích cực. Đến nay, Vườn quốc gia U Minh Thượng đã hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế và triển khai khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên 550 ha; chăm sóc rừng trồng lần 2, năm thứ nhất 90 ha; năm thứ ba là 220 ha; khu căn cứ Tỉnh ủy Kiên Giang 1,1 ha và chăm sóc cây phân tán các tuyến kênh đã trồng năm 2015; triển khai trồng thêm 350 ha rừng.
Bên cạnh đó, Vườn mở cống điều tiết nước đảm bảo cho rừng sinh trưởng và phát triển, đóng cống giữ nước duy trì độ ẩm cho rừng trong suốt mùa khô năm 2016 - 2017. Vườn quốc gia U Minh Thượng tiếp tục triển khai lập báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học, điều tra lập danh lục các loài động thực vật nguy cấp quý hiếm.
Vườn đóng các cống đập trong vùng lõi để đảm bảo công tác phòng cháy chữa cháy rừng, vừa đảm bảo cho rừng tràm phát triển cũng như công tác trồng rừng năm 2016. Cùng với đó, Vườn hoàn thiện kế hoạch bảo vệ môi trường bảo tồn đa dạng sinh học năm 2017; xây dựng kế hoạch nghiên cứu, điều tra, giám sát đa dạng sinh học năm 2017, làm cơ sở khoa học cho bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi tài nguyên rừng, duy trì cân bằng hệ sinh thái, tăng độ che phủ rừng.
Để thực hiện công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn đa dạng sinh học thời gian tới,  Vườn quốc gia U Minh Thượng tiếp tục hoàn thành trồng rừng 399,33 ha; khoanh nuôi tái sinh 550 ha; chăm sóc rừng trồng năm thứ nhất là 90 ha, năm thứ hai 220 ha; chăm sóc 310 ha lần 2; khoanh nuôi súc tiến tái sinh có trồng bổ sung 50 ha; chăm sóc 22,3 ha cây phân tán; chăm sóc 19,89 ha tre gai; trồng cây phân tán 25,2 ha.
Tiếp đó là hoàn thành lập báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học Vườn quốc gia U Minh Thượng theo quy định của luật đa dạng sinh học. Vườn tiếp tục điều tra khảo sát, đánh giá lập danh lục các loài sinh vật quý hiếm cần bảo tồn; hoàn thành việc gieo ươm, trồng 4.000 cây bản địa tại những khu rừng trên đất than bùn đã bị suy thoái; triển khai kiểm soát, cô lập, diệt trừ loài thực vật ngoại lai xâm hại… (Tin Tức 22/12) đầu trang(
Từ năm 2005 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã thực hiện 5 chuyến khảo sát, nghiên cứu sự đa dạng sinh học tại các vùng biển Việt Nam trên tàu Viện sĩ Operin.
Hơn 40 nhà khoa học của các viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) và Viện Hàn lâm Khoa học Nga (FEBRAS) đã tham dự hội thảo tổ chức vào ngày 22/12 tại tỉnh Khánh Hòa, nhằm đánh giá kết quả bước đầu trong chuyến khảo sát hỗn hợp lần thứ 5 trên tàu Viện sĩ Opein tại vùng biển miền Trung Việt Nam.
Tham gia đoàn khảo sát hỗn hợp lần thứ 5 có 15 nhà khoa học của các viện thuộc VAST (gồm: Viện Hải dương học, Viện TN&MT biển, Viện Hóa sinh biển, Viện Hóa các hợp chất thiên nhiên, Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ Nha Trang), cùng 20 nhà khoa học đến từ Viện Hóa sinh hữu cơ Thái Bình Dương và Viện Sinh học biển thuộc FEBRAS.
Chuyến khảo sát, nghiên cứu khoa học biển trên tàu Viện sĩ Operin kéo dài từ 20/11-21/12. Phạm vi khảo sát, nghiên cứu là vùng biển từ tỉnh Quảng Trị đến Bình Thuận, phân bổ từ các vùng lân cận các đảo đến các vùng biển có độ sâu tối đa 400 mét, với hơn 50 điểm được khảo sát, thu thập mẫu vật, dữ liệu.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết không thuận lợi, nhưng các nhà khoa học đã thu thập khoảng 300 mẫu vật và nhiều tư liệu về đa dạng sinh học và cấu trúc quần thể sinh vật, về địa chất và môi trường.
Tại hội thảo, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã trình bày một số kết quả sơ bộ với các lĩnh vực chuyên ngành, đánh giá một số kết quả chung của đoàn khảo sát. Qua đó, các nhà khoa học hai nước dự kiến tiếp tục phân tích mẫu vật, nghiên cứu chuyên đề và công bố các kết quả nghiên cứu trên một số lĩnh vực, như: Sự đa dạng sinh học biển, chú trọng đối với vùng biển sâu của miền Trung Việt Nam; sinh thái học rạn san hô và khả năng tái tạo tự nhiên của san hô tạo rạn; sự tích lũy kim loại nặng trong động vật thân mềm; đánh giá hoạt tính của một số hoạt chất sinh học trong động vật không xương sống biển Việt Nam, phục vụ cho nghiên cứu y-sinh-dược học…
Từ năm 2005 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam và Nga đã thực hiện 5 chuyến khảo sát, nghiên cứu tương tự trên tàu Viện sĩ Operin tại các vùng biển Việt Nam, qua đó góp phần tăng cường hợp tác giữa các viện nghiên cứu khoa học của hai nước; phát triển khoa học, công nghệ và đào tạo các bộ nghiên cứu về biển cho Việt Nam. (Báo Chính Phủ 22/12) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh ngày 22-12 cho biết chủ Facebook Điên Tài khoe chiến tích sát hại động vật hoang dã là Trần Mạnh Tài (17 tuổi, trú huyện Hương Khê). Người này đã giao nộp cơ quan chức năng một khẩu súng tự chế.
Ông Hoàng Quốc Huấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh, cho biết khi bị mời đến cơ quan công an làm việc, Tài giao nộp khẩu súng tự chế và khai hình ảnh khỉ đăng trên Facebook không phải do Tài săn bắn mà là chụp lại từ một số người trên địa bàn huyện Hương Khê. Công an đang hoàn tất hồ sơ để xử lý Tài về hành vi tàng trữ, sử dụng súng tự chế trái phép. Đồng thời xác minh động vật trong ảnh Tài chụp thuộc nhóm nào, ai săn bắn. (Pháp Luật TP.HCM 23/12) đầu trang(
Sáng 22/12, tại huyện Ea Súp (Đắk Lắk), Trung Tâm Bảo tồn voi (thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk) tổ chức Hội nghị triển khai chính sách bảo tồn voi và Hội thảo các giải pháp giảm thiểu xung đột voi người.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe lãnh đạo Trung tâm Bảo tồn voi thông qua Nghị quyết về quy định một số chính sách bảo tồn voi của HĐND tỉnh, Quyết định về trình tự, thủ tục thực hiện các chính sách về bảo tồn voi trên địa bàn tỉnh…
Cùng với đó, các đại biểu đã được Trung tâm Bảo tồn voi báo cáo tình hình xung đột voi người trong thời gian qua.
Cụ thể, theo điều tra giám sát voi hoang dã của Trung tâm Bảo tồn voi hiện ở Đắk Lắk có khoảng 5 đàn voi với số lượng từ 60 đến 70 cá thể, trong đó khu vực Ea Súp có một đàn voi khoảng 30-34 cá thể, huyện Buôn Đôn có khoảng 4 đàn với số lượng từ 30 đến 36 cá thể.
Theo đánh giá của Trung tâm Bảo tồn voi thì hiện số lượng đàn voi ở Đắk Lắk đang bị suy giảm nghiêm trọng, tính bền vững của đàn voi như cấu trúc tuổi, tỷ lệ đực/cái cũng mất cân đối. Trong các đàn voi hiện nay, số cá thể voi già chiếm đại đa số, voi non và voi trưởng thành chiếm tỷ lệ ít, số voi cái nhiều hơn số voi đực. Những yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo tồn và phát triển bền vững voi hoang dã trên địa bàn tỉnh.
Theo số liệu Trung tâm bảo tồn voi thống kê, từ tháng 6/2012 đến nay đã có trên 80 đợt voi hoang dã di chuyển đến những khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp.
Riêng năm 2016, đến thời điểm hiện nay đã có 25 đợt voi hoang dã xuất hiện phá hoại nhiều diện tích hoa màu, chòi rẫy, lán tạm.. của nhân dân và doanh nghiệp. Điển hình, tại huyện Buôn Đôn, đàn voi rừng đã tấn công làm chết 1 voi nhà đang thả kiếm ăn trong Vườn quốc gia Yok Đôn; phá hoại hơn 10 ha hoa màu của người dân buôn Đrang Phốc gây thiệt hại hơn 284 triệu đồng.
Ở huyện Cư M’gar đàn voi đã kéo về khu vực xã Ea Kiết kiếm ăn, phá chuối, mỳ của nhân dân. Trong lúc đi kiếm ăn 1 cá thể voi rơi xuống giếng nước chết. Ở huyện Ea Súp, đàn voi 34 cá thể kéo về kiếm ăn phá hoại nhiều hoa màu và tấn công làm 1 người bị gãy chân…
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến xung đột giữa voi hoang dã với con người, nhưng nguyên nhân chính dẫn đến xung đột là do diện tích rừng bị thu hẹp khiến môi trường sống của voi bị ảnh hưởng.
Cụ thể những năm gần đây, tình trạng di cư tự do, phá rừng chiếm đất lâm nghiệp diễn ra phức tạp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp và người dân sản xuất nông, lâm nghiệp xen kẽ trong khu vực có voi hoang dã cư trú, di chuyển và trồng các loại cây như lúa, ngô, chuối, đậu…là những thức ăn mà voi ưu thích khiến cho xung đột giữa người và voi luôn diễn ra. Và đặc biệt khi voi rừng bị săn bắn, sát hại ngày càng trở nên hung giữ, tăng nguy co voi tấn công người…
Hội nghị là dịp để người dân hiểu hơn công tác bảo tồn voi cấp bách của tỉnh cũng như Nhà nước ta hiện nay, cùng với đó hướng dẫn người dân cách thức bảo vệ mình và tài sản trước sự tấn công của voi hoang dã và chung tay cùng bảo tồn, phát triển đàn voi rừng và voi nhà tren địa bàn. (Đại Đoàn Kết 22/12; Nhân Dân 22/12) đầu trang(
Ngày 22-12, Cục Hải quan Quảng Bình cho biết đang lập hồ sơ bàn giao số số gỗ trắc cùng 9 cá thể Don nhập lậu cho Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa để tiếp tục xử lý.
Trước đó, ngày 9-12, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cha Lo phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu Cha Lo, Đội Kiểm soát Hải quan - Cục Hải quan Quảng Bình kiểm tra xe ô tô 9 chỗ mang BKS Lào do ông Võ Văn Thành (SN 1981), trú Yên Thành, Nghệ An điều khiển nhập cảnh từ Lào vào Việt Nam phát hiện, thu giữ 64 khúc gỗ trắc có trọng lượng 297 kg cất giấu phía dưới hầm hàng tự chế được đóng, mở bằng kích thủy lực, không giấy tờ hợp lệ, không khai báo hải quan. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ.
Tiếp đó, ngày 10-12, lực lượng chức năng kiểm tra xe ô tô tải mang BKS: 73C - 021.93 do ông Trần Hữu Mạnh (SN 1974, trú tại phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình điều khiển nhập cảnh từ Lào vào Việt Nam, phát hiện có 9 cá thể Don thuộc động vật họ nhím, tổng trọng lượng 30kg cất giấu phía trong thùng đựng phụ tùng, không giấy tờ hợp lệ, không khai báo hải quan. Tổ công tác lập biên bản bàn giao lực lượng Kiểm lâm huyện Minh Hóa xử lý thoe quy định. (An Ninh Thủ Đô 22/12) đầu trang(
Ngày 20/12, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã tổ chức một chuỗi hoạt động nhân Ngày Gấu Việt Nam trên địa bàn 15 tỉnh, thành phố lớn ở Việt Nam, nhằm kêu gọi cộng đồng cùng hành động để chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật tàn nhẫn và trái phép.
Ngành công nghiệp mật gấu là mối đe dọa lớn và trực tiếp đối với sự tồn vong của các loài gấu trong tự nhiên, không chỉ ở Việt Nam mà cả đối với các nước khác trong khu vực.
Hoạt động khai thác mật gấu cũng như các quan niệm truyền thống về sử dụng mật gấu là các yếu tố chính gây nên tình trạng suy giảm về số lượng loài không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước lân cận. Người Việt Nam và một số quốc gia tại châu Á đặc biệt ưa chuộng thịt và các sản phẩm chế biến từ động vật hoang dã với lý do sử dụng thịt và sản phẩm từ động vật hoang dã sẽ mang lại "sức mạnh" từ thiên nhiên. Từ đó, nhu cầu tiêu thụ các động vật dũng mãnh như hổ, gấu rất lớn.
Hoạt động khai thác mật gấu ở Việt Nam phát triển khá nhanh kể từ cuối những năm 1990 nhờ sự tăng trưởng về kinh tế và mức sống tăng lên rõ rệt, đặc biệt là ở các khu vực thành thị, thu nhập cao của nhiều người dân cho phép họ tiêu dùng những mặt hàng xa xỉ. Theo báo cáo của EVN, có tới 22% người Việt Nam từng sử dụng mật gấu, Hà Nội có tỷ lệ sử dụng mật gấu cao hơn nhiều so với Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Hà Nội có tới 35% số người được hỏi đã sử dụng mật gấu, trong khi con số ở TP. Hồ Chí Minh là 16% và Đà Nẵng là 15%.
Ở Việt Nam, có hai loại đang được nuôi ở là gấu ngựa và gấu chó. Trong đó, gấu ngựa là loại đang được nuôi phổ biến vì có hàm lượng kháng viêm ursodeoxycholic axit (UDCA) cao. Theo pháp luật Việt Nam, cả hai loài này đều được pháp luật bảo vệ ở mức độ cao nhất, thuộc nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Việc săn, bắn, bẫy, tàng trữ, giết mổ, buôn bán hay quảng cáo gấu và các sản phẩm từ gấu đều là những hành vi vi phạm pháp luật.
Mặt khác, gấu còn được liệt kê trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP. Mọi hành vi vi phạm liên quan đến gấu, tùy theo mức độ nghiêm trọng và tang vật có thể bị xử phạt hành chính lên đến 500 triệu đồng đối với cá nhân và 1 tỷ đồng đối với tổ chức theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP và Nghị định 179/2013/NĐ-CP) hoặc xử lý hình sự lên đến 7 năm tù giam (Điều 190 Bộ luật Hình sự 1999 - sửa đổi bổ sung năm 2009).
Ngoài ra, gấu được bảo vệ theo Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp CITES.
Trong 10 năm qua, nhờ có nhiều nỗ lực của các cơ quan chức năng, các tổ chức phi Chính phủ và cộng đồng mà tình trạng nhốt gấu lấy mật gấu tại Việt Nam dần được xóa bỏ. Số lượng gấu nuôi nhốt tại các cơ sở đã giảm từ 4.300 cá thể vào năm 2005 xuống còn khoảng 1.200 cá thể hiện nay. Theo một khảo sát của ENV năm 2014, nhu cầu tiêu thụ mật gấu cũng giảm mạnh tới 61% so với 5 năm trước đó.
Khi hoạt động kinh doanh mật gấu đang dần bị xóa bỏ, nhiều chủ trại gấu cũng đã chủ động tình nguyện từ bỏ hoạt động kinh doanh này. Chỉ trong năm nay, hàng chục cá thể gấu đã được chuyển giao cho Nhà nước. Đầu tháng 12 vừa qua, một chủ nuôi gấu ở Đắk Lắk đã quyết định tự nguyện chuyển giao 6 cá gấu đã nuôi nhốt hơn 10 năm cho cơ quan chức năng.
Mặc dù, rất tự hào về những thành quả đã đạt được, song các chuyên gia vẫn bày lo ngại bởi hoạt động khai thác mật gấu tồn tại ở Việt Nam bất chấp luật pháp ngăn cấm vì rất nhiều nguyên nhân, trong đó, có quan niệm chích hút và sử dụng mật gấu không phải là một hành động trái đạo đức, xuất phát từ truyền thống văn hóa và quan niệm lâu đời về công dụng chữa bệnh của mật gấu. Hơn nữa, các cơ quan chức năng khi phát hiện gấu nuôi nhốt trái phép thường vẫn còn thiếu sự quyết tâm và cam kết lâu dài để xử lý vi phạm theo đúng tinh thần của luật pháp bảo vệ động vật hoang dã.
Về điều này, các chuyên gia y học cho rằng, sẽ chẳng có ai chết vì thiếu mật gấu. Ngược lại, còn trở nên bệnh tật hơn, thậm chí, có thể chết vì sử dụng mật gấu. Mật gấu không phải là “thần dược” để thay thế thuốc điều trị bệnh
Các nỗ lực bảo vệ gấu đòi hỏi phải xóa sổ "ngành công nghiệp" khai thác mật gấu. Song song với việc tăng cường thể chế luật pháp và thực thi pháp luật, việc giảm thiểu nhu cầu về mật gấu cũng như tác động đến thái độ, hành vi và quan niệm về sử dụng mật gấu vốn đã tồn tại hàng bao thế kỷ nay cũng là những nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu chấm dứt tình trạng buôn bán và tiêu thụ mật gấu.
Kế hoạch xóa bỏ tình trạng nuôi nhốt gấu thông qua tiêu hao về số lượng là bước đi đầu tiên cực kỳ quan trọng và cấp bách trên chặng đường dài này. Tuy vậy, sự kiểm chứng những cam kết này nằm ở những nỗ lực tăng cường luật pháp và thực thi pháp luật đồng thời các chiến dịch nâng cao nhận thức sẽ giúp dần xóa đi nhu cầu sử dụng mật gấu. (Tài Nguyên Và Môi Trường 21/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Nghị định về một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu Chính phủ ban hànhvừa qua, các địa phương rà soát, chuyển đổi những diện tích đất ven biển quy hoạch trồng rừng sản xuất hoặc thuộc các loại đất khác mà đang bị xói lở hoặc bị ảnh hưởng của cát bay, cát di động nghiêm trọng, để quy hoạch trồng rừng phòng hộ ven biển.
Trường hợp khu rừng ven biển đã giao cho hộ gia đình, tổ chức kinh tế nhưng có tầm quan trọng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu thì Nhà nước xem xét thu hồi, mua lại hoặc bồi thường giá trị tài sản mà hộ gia đình, tổ chức đó đã đầu tư theo quy định của pháp luật để quy hoạch trồng rừng phòng hộ ven biển.
Các địa phương tổ chức rà soát, chuyển các công trình xây dựng có ảnh hưởng hoặc nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ của rừng ven biển ra khỏi khu vực quy hoạch rừng phòng hộ ven biển xung yếu và rất xung yếu, hành lang bảo vệ bờ biển. Đối với diện tích đất quy hoạch để bảo vệ và phát triển rừng ven biển nhưng người sử dụng đất tự ý chuyển đổi sai mục đích và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm thì Nhà nước thu hồi đất.
Các dự án đầu tư có chuyển mục đích sử dụng rừng và đất rừng ven biển thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật về đất đai.
Nghị định nêu rõ, ngân sách các địa phương bảo đảm kinh phí cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển theo kế hoạch, dự toán được duyệt và quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước, gồm: Thống kê rừng, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; tổ chức giao, cho thuê rừng ven biển; hoạt động của bộ máy Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định; tuyên truyền, giáo dục; khuyến lâm; nâng cao năng lực, nhận thức về vai trò, chức năng của rừng ven biển trong ứng phó với biến đổi khí hậu; nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng ven biển; đầu tư, hỗ trợ kinh phí ngoài mức hỗ trợ và đầu tư từ ngân sách trung ương theo điều kiện thực tế của địa phương.
Ngân sách Trung ương bảo đảm kinh phí sự nghiệp kinh tế cho khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên rừng ven biển. Cụ thể, mức kinh phí hỗ trợ khoán bảo vệ rừng ven biển tối đa bằng 1,5 lần so với mức bình quân khoán bảo vệ rừng phòng hộ theo quy định hiện hành; mức kinh phí khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 4 triệu đồng/hécta trong thời gian 5 năm (bình quân 800.000 đồng/hécta/năm); kinh phí lập hồ sơ khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên 50.000 đồng/hécta, chỉ thực hiện năm đầu tiên đối với diện tích mới khoán.
Ngân sách Trung ương đầu tư phát triển rừng ven biển theo dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, gồm: Điều tra, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ven biển; trồng rừng mới, cải tạo rừng ven biển chất lượng kém không có khả năng phục hồi theo định mức kinh tế kỹ thuật, thiết kế, dự toán được duyệt với thời gian trồng và chăm sóc 5 năm; khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung theo định mức kinh tế kỹ thuật, thiết kế, dự toán được duyệt đối với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng ven biển là rừng tự nhiên chất lượng kém, chưa đủ tiêu chí thành rừng... (Vietnam + 22/12) đầu trang(
Trong giai đoạn 2011- 2015, chỉ tiêu trồng rừng mới đạt 51% kế hoạch giao, công tác phát triển rừng còn yếu, chưa ổn định, bền vững; rừng trồng còn manh mún, phân tán, cơ cấu cây trồng nghèo nàn, tỷ lệ thành rừng chưa cao, rừng trồng vẫn còn nguy cơ xâm lấn trồng cây nông nghiệp, đó là những tồn tại được chỉ ra tại Hội nghị đánh giá thực hiện các chính sách và quy định bảo vệ, phát triển rừng tổ chức vào sáng nay. Đồng chí Hoàng Văn Chất, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì Hội nghị.
Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Đắc Quỳnh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, đồng chí Cầm Ngọc Minh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, UBND tỉnh; lãnh đạo các huyện, thành phố.
Trên cơ sở rút kinh nghiệm trong công tác bảo vệ và phát triển rừng thời gian qua, cụ thể hóa Nghị quyết số 04 ngày 12.9.2016 của Tỉnh ủy về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng trên địa bàn tỉnh đến năm 2020, UBND tỉnh đã xây dựng các kế hoạch phát triển lâm nghiệp bền vững, với quy mô quy hoạch đất lâm nghiệp đến năm 2020 khoảng 779. 595 ha, bảo vệ diện tích 599.000 ha rừng hiện có.
Rà soát đưa ra khỏi quy hoạch đất lâm nghiệp 138.000 ha để ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển kinh tế nông lâm nghiệp, các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội; tập trung phát triển lâm sản ngoài gỗ mà các địa phương có thế mạnh, như: vùng nguyên liệu Sơn Tra, vùng nguyên liệu mây, tre, sa nhân và dược liệu gắn với chế biến tiêu thụ lâm sản. Phê duyệt phương án trồng rừng thay thế đạt 81% , đã trồng  thay thế được 783 ha; xây dựng phương án chuyển đổi với Công ty THHH Nhà nước một thành viên lâm nghiệp Sốp Cộp, Phù Yên, Mộc Châu, Mường La và Sông Mã.
Để thực hiện có hiệu quả những chính sách về bảo vệ và phát triển rừng trong thời gian tới, Đ/c Hoàng Văn Chất yêu cầu UBND tỉnh đã xây dựng các kế hoạch, chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp cho từng năm. Xác định khâu đột phá trong khai thác sử dụng đất lâm nghiệp chưa có rừng gắn với rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng.
Kiến nghị Chính phủ, Bộ NN và PTNT có cơ chế và quy định cụ thể về hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp đa mục đích, cây ăn quả, cây nông nghiệp trên đất lâm nghiệp để tạo hành lang pháp lý và sử dụng hiệu quả tiềm năng, thế mạnh về đất đai; phân bổ chỉ tiêu và hướng dẫn về kinh phí thể thực hiện rà soát diện tích rừng phòng hộ kém chất lượng sang đất rừng sản xuất; bổ sung trồng cây ăn quả đối với dự án trồng bù rừng tại các nhà máy thủy điện. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 22/12) đầu trang(
Được thực hiện trong 5 năm (2010 - 2015), Dự án “Quản lý rừng bền vững vùng đầu nguồn Tây Bắc” do tổ chức JICA (Nhật Bản) hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã góp phần nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, nâng cao độ che phủ của rừng, cải thiện đời sống người dân...
Mục tiêu mà Dự án Quản lý rừng bền vững vùng đầu nguồn Tây Bắc (gọi tắt là Dự án) đặt ra là kéo dài chu kỳ của rừng từ 10 - 20 năm trước khi khai thác, vừa đảm bảo tính cân bằng phát triển sinh kế của người dân vừa bảo tồn rừng. Qua hơn 5 năm triển khai, dự án đã thu hút được hàng nghìn hộ dân ở 36 bản trên địa bàn các huyện: Điện Biên, Mường Chà, Điện Biên Đông và TP. Điện Biên Phủ tham gia. Kết thúc dự án, các huyện, thị trên đã trồng được 680ha rừng, hơn 5.000ha rừng được bảo vệ và gần 1.000ha rừng được khoanh nuôi tái sinh. Nhiều diện tích đất đồi trước đây trơ trọi, bạc màu được phủ xanh bằng các loại cây keo lai, keo lá tràm...
Dự án kết thúc đã để lại hiệu ứng tích cực trong công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, đặc biệt ở các xã: Mường Phăng (huyện Điện Biên), Mường Mươn (huyện Mường Chà) và xã Tà Lèng (TP. Điện Biên Phủ). Khi dự án kết thúc, xã Mường Phăng đã vận động người dân trồng được hơn 200ha rừng mới, khoanh nuôi và bảo vệ được gần 1.500ha rừng.
Riêng xã Mường Mươn do diện tích đất trống đồi trọc ít hơn nên diện tích trồng đạt gần 100ha, còn diện tích khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ đạt gần 4.000ha rừng... Cũng theo kết quả đánh giá sau khi kết thúc dự án, ở những nơi dự án được triển khai tỷ lệ mất rừng ít hơn, ví như xã Mường Mươn chỉ mất 4% và ít nhất là xã Mường Phăng chỉ mất 1,94%.
Thăm cánh rừng ở xã Tà Lèng, TP. Điện Biên Phủ, chúng tôi được ông Ngô Văn Chinh, người chăm sóc bảo vệ rừng ở bản Kê Nênh kể về những ngày đầu tham gia dự án. Đó là năm 2011, gia đình ông Chinh rất khó khăn, nhà có hơn 1ha đất để trống, không mang lại nguồn thu nhập. Nhờ cán bộ dự án đến hướng dẫn cách tạo sinh kế từ việc trồng, quản lý và bảo vệ rừng kết hợp với chăn nuôi lợn, ông quyết định vay vốn của Ngân hàng Chính sách - Xã hội TP. Điện Biên Phủ đầu tư trồng rừng và chăn nuôi. Được dự án hỗ trợ cây giống và tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc nên diện tích rừng của gia đình ông ngày càng xanh tốt.
Đến nay, sau 5 năm, gia đình ông Chinh đã sở hữu gần 3ha rừng. Dù chưa được thu hoạch nguồn lợi từ rừng song nhờ lồng ghép chăn nuôi dưới tán rừng, ông Chinh đã dần trả hết nợ, đời sống của gia đình bớt khó khăn hơn.
Gia đình ông Ngô Văn Chinh và hàng ngàn hộ dân trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã nỗ lực vượt qua khó khăn, từng bước thoát nghèo nhờ dự án. Ông Lê Văn Thiết, Phó Chủ tịch UBND xã Tà Lèng chia sẻ: Khi chưa thực hiện dự án, diện tích rừng ở trên địa bàn xã thường bị xâm hại, người dân tự ý vào chặt cây làm củi. Tuy nhiên, từ khi thực hiện Dự án Quản lý rừng bền vững vùng đầu nguồn Tây Bắc đến nay, diện tích rừng đã được bảo vệ nghiêm ngặt, tình trạng phá rừng không còn nữa. Tính đến thời điểm dự án kết thúc, xã Tà Lèng đã trồng mới hơn 100ha rừng; quản lý, bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh hơn 200ha, góp phần bảo vệ chung rừng đầu nguồn Tây Bắc.
Bà Đặng Thị Thu Hiền, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Điện Biên cho biết: Khác một số dự án triển khai trước đó, trọng tâm của Dự án Quản lý rừng bền vững vùng đầu nguồn Tây Bắc không phải là tuyên truyền nâng cao nhận thức, hay tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát, mà tập trung vào việc tạo nguồn sinh kế thay thế cho người có rừng bằng các tổ, nhóm vay vốn; hướng dẫn, hỗ trợ chăn nuôi gia súc và sản xuất nông nghiệp mà không làm ảnh hưởng đến rừng.
Việc tạo thu nhập cho người dân cũng được thực hiện thông qua nhiều nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy việc quản lý bền vững diện tích rừng tự nhiên và phát triển rừng trồng; cung cấp nguyên liệu thô cho chế biến công nghiệp nhờ có hệ thống giao thông tiện lợi. Song song với đó là hướng dẫn hoạt động các tổ tuần tra rừng cấp thôn, bản làm cơ sở để quản lý rừng dựa vào cộng đồng và hệ thống theo dõi diễn biến tài nguyên rừng từ dưới lên.
Đối với bản thân người dân vùng dự án, từ năm 2010 - 2015, thu nhập tiền mặt tại các điểm thử nghiệm ban đầu đã tăng hơn 48% và 42% số hộ tham gia dự án khẳng định, hỗ trợ phát triển sinh kế là lí do chính để họ tích cực tham gia và có tinh thần trách nhiệm cao trong các hoạt động quản lý rừng, 76% chỉ ra được rằng họ có động lực hơn để bảo vệ rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/12) đầu trang(
Nhờ tích cực trồng rừng, mạnh dạn đầu tư sản xuất, nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã thoát nghèo, làm giàu từ mô hình trồng rừng gắn với chế biến lâm sản.
Anh Nông Đình Dung, thôn Pác Pạu, xã Bình Trung là người đã thành công với mô hình phát triển kinh tế từ trồng rừng và chế biến lâm sản của địa phương.
Anh Dung là người Định Hóa (Thái Nguyên). Năm 1999, anh xây dựng gia đình sau đó lập nghiệp tại xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn. Với số vốn dành dụm được, gia đình anh mở quán nhỏ. Năm 2005 anh chị mua được một mảnh đất, dựng một ngôi nhà sàn để ổn định cuộc sống. Sau đó anh làm thêm tại xưởng chế biến lâm sản để có thêm nguồn thu nhập.
Anh Dung chia sẻ: Làm việc ở xưởng chế biến gỗ, anh thấy nhiều hộ gia đình ở đây có cuộc sống ổn định, kinh tế bền vững từ chính nghề trồng rừng. Sau một thời gian trăn trở, tính toán, năm 2009, anh mạnh dạn vay Hội nông dân xã 50 triệu để mua cây keo giống về trồng khoảng 8ha. Mấy năm sau diện tích rừng trồng cho thu hoạch, anh có thêm vốn để đầu tư mở rộng đất trồng. Năm 2016, gia đình anh trồng thêm được hơn 20ha cả keo và mỡ. Đến nay gia đình anh Dung đã có khoảng 30ha rừng.
Diện tích rừng ngày càng được mở rộng, cùng với kinh nghiệm làm chế biến lâm sản trong nhiều năm, anh Dung quyết định đầu tư phát triển nghề chế biến lâm sản với các sản phẩm đa dạng như ván gỗ bóc phục vụ các công trình xây dựng, dăm gỗ cung cấp cho các nhà máy giấy..., vừa nâng cao thu nhập của gia đình, vừa tạo điều kiện giúp người dân tiêu thụ sản phẩm, nâng cao giá trị lâm sản và tạo việc làm cho hàng chục lao động địa phương.
Chúng tôi theo chân anh Dung đến thăm khu nhà xưởng sản xuất dăm gỗ. Tiếng máy băm dăm rộn ràng, át cả tiếng nói. Hơn chục công nhân làm việc miệt mài theo băng chuyền, xe hàng thi nhau ra vào. Không khí thu mua nhộn nhịp khắp khu xưởng.
Anh Dung chia sẻ, năm 2015 anh vay vốn ngân hàng mở nhà xưởng, đầu tư máy băm dăm và một xe tải 8 tấn phục vụ việc chở gỗ. Anh Dung cho biết, giá gỗ keo mua tại xưởng là 850 đồng/kg, mỡ là 600 đồng/kg. Giá bán gỗ dăm thành phẩm là 2.000 đồng/kg. Hiện nay, xưởng băm sản xuất bình quân 60 tấn gỗ dăm mỗi ngày, có những ngày năng suất cao đạt 100 tấn/ngày, tạo công việc và thu nhập cho hơn 10 lao động tại địa phương.
Từ lợi nhuận của xưởng sản xuất dăm gỗ, anh Dung có thêm kinh phí để đầu xưởng tinh bột sắn. Trung bình xưởng tinh bột sắn đạt năng suất 30 tấn tinh bột/ngày. Xưởng chủ yếu hoạt động từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, tạo công việc theo thời vụ cho 14 lao động.
Khởi nghiệp từ nghề trồng rừng, đến nay, anh Dung đã có trong tay cơ ngơi khá giả với một xưởng chế biến gỗ dăm, một xưởng chế biến tinh bột sắn, mang lại thu nhập bình quân khoảng 600 triệu đồng/năm.
Đồng chí Hà Văn Duẩn, Chủ tịch UBND xã Bình Trung cho biết: Nhận thấy hiệu quả cao từ kinh tế rừng mang lại, trong những năm qua Đảng ủy, UBND xã Bình Trung đã tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng kinh tế. Chủ trương này đã nhận được sự hưởng ứng cao trong nhân dân.
Để thực hiện tốt các chỉ tiêu về trồng rừng, hàng năm UBND huyện Chợ Đồn cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp chặt chẽ với các địa phương thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, từ đó phong trào trồng rừng trong toàn huyện được phát triển sâu rộng. Nhiều hộ dân đã chủ động chuyển đổi đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng rừng sản xuất, điển hình là tại các xã Bình Trung, Ngọc Phái, Yên Mỹ, Yên Nhuận, Đại Sảo.
Có thể thấy, mô hình phát triển kinh tế từ rừng trồng như hộ anh Nông Đình Dung là một cách làm hiệu quả, không những phát triển kinh tế gia đình mà còn góp phần làm thay đổi bộ mặt địa phương; cho thấy nghề trồng rừng chính là hướng đi bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 22/12) đầu trang(
Ngày 22-12, Tòa án nhân dân tỉnh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự và tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh (38 tuổi, ngụ tại huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận) 16 năm tù, Nguyễn Thị Anh (26 tuổi, ngụ tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An) 1 năm 7 tháng 13 ngày tù (bằng thời gian tạm giam).
Theo cáo trạng, trong năm 2009, trên nhiều địa phương trong tòan quốc xuất hiện thông tin dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc có nguồn vốn của tổ chức Phi Chính Phủ viện trợ không hoàn lại, nên Minh và một số cá nhân dù không có diện tích rừng cũng đã thu gom sổ lâm bạ để nộp cho Nguyễn Viết Quý (Công ty TNHH Quý Nhân) nhằm hưởng tiền dịch vụ khi được giải ngân.
Khoảng đầu năm 2013, do không thấy việc giải ngân dự án, mặt khác các cá nhân đòi lại sổ lâm bạ nên Minh đã đi tìm Nguyễn Viết Quý để đòi lại nhưng Quý đã bỏ trốn khỏi địa phương và lúc đó Minh mới phát hiện dự án là không có thật.
Biết là dự án không có thật, nhưng thấy các ông bà: Trịnh Văn Trịnh, Bùi thị Hợi, Phạm Văn Hùng, Phạm Khắc Vỹ, Nguyễn Thị Nhung vẫn tin tưởng dự án có thật nên Minh nảy sinh ý định tiếp tục đưa thông tin là dự án vẫn đang được triển khai thực hiện và nói dối Nguyễn Phước (Giám đốc Công ty Thịnh Phước là đơn vị được Chính Phủ giao giải ngân dự án trên. Minh còn nói thêm, nếu ai có sổ lâm bạ đất rừng nộp cho Minh thì khi giải ngân, Minh sẽ trích thưởng hoa hồng theo diện tích đất rừng thu gom được. Trong trường hợp không có sổ lâm bạ thì đầu tư tiền để thu gom sổ lâm bạ nhằm chiếm đoạt tiền của những người này.
Qua cách làm trên, Minh đã chiếm đoạt của anh Trịnh Văn Thịnh, chị Trần Thị Hợi (vợ anh Thịnh), chị Nguyễn Thị Nhung, anh Nguyễn Đình Châm, anh Phạm Khắc Vỹ, anh Phạm Thế Hùng tổng cộng số tiền hơn 2,8 tỷ đồng.
Đối với Nguyễn Thị Anh là người đi cùng Minh thu gom sổ lâm bạ và nhận tiền của anh Trịnh Văn Thịnh 500 triệu đồng để chuyển tiền vào tài khoản của Tào Thị Hương và Minh theo sự chỉ đạo của Minh. Tuy nhiên, Anh không được bàn bạc với Minh trong việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cũng như không được hưởng lợi từ hành vi phạm tội của Minh. Anh phát hiện Minh có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Thịnh, nhưng không tố giác đến cơ quan chức năng có thẩm quyền. (Báo Đồng Nai 23/12) đầu trang(
Ngày 22/12, thông tin từ UBND tỉnh Đắk Nông cho biết, tỉnh vừa có công văn chỉ đạo UBND huyện Đắk Song báo cáo giải trình, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan và xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật trong việc đề xuất và cấp sổ đỏ trên đất rừng cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, nguyên Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông) và bà Từ Thị Khanh (Chánh văn phòng Sở LĐ-TBXH tỉnh Đắk Lắk).
Trước đó, theo báo cáo của Sở TN-MT tỉnh Đắk Nông và tổ công tác 2006 (tổ công tác thành lập ngày 18-11-2016 do Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông ra quyết định), trong thời gian từ năm 2003 – 2008, UBND huyện Đắk Song đã giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 13 thửa đất cho vợ chồng ông Sơn. Tuy nhiên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Sơn tại một số thửa đất sai thẩm quyền, sai đối tượng, hồ sơ thiếu…
Như Dân trí đã đưa tin, vào năm 2014, UBND huyện Đắk Song đã đề xuất tỉnh thu hồi 13,5ha đất lâm nghiệp (thuộc tiểu khu 1665 của Công ty TNHH Lâm nghiệp Trường Xuân) để huyện cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Từ Thị Khanh.
Hiện tỉnh Đắk Nông chưa đồng ý cấp sổ, nhưng vợ chồng ông Sơn vẫn đang quản lý, sử dụng trên đất lâm nghiệp này. Bên cạnh đó, UBND huyện Đắk Song còn cấp nhiều sổ đỏ trái phép cho vợ chồng ông Sơn bà Khanh. (Dân Trí 22/12) đầu trang(
Chiều 22-12, Ban chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh Bắc Giang tổ chức hội nghị tổng kết dự án điều tra, kiểm kê rừng giai đoạn 2013-2016.
Dự án kiểm kê rừng có tổng kinh phí hơn 5,3 tỷ đồng, trong đó ngân sách địa phương hơn 2,8 tỷ đồng, còn lại là ngân sách T.Ư và vốn của các chủ rừng. Nội dung kiểm kê gồm: Diện tích rừng đã trồng nhưng chưa thành rừng, các trạng thái thực bì trên đất chưa có rừng; diện tích đất chưa có rừng được giao và cho thuê với mục đích phát triển rừng; diện tích rừng ngoài đất quy hoạch cho lâm nghiệp.
Giai đoạn 2013-2016, các ngành, cơ quan liên quan đã kiểm kê đối với khoảng 27 nghìn chủ rừng thuộc 164 xã, thị trấn, trên tổng diện tích hơn 173 nghìn ha. Kết quả cho thấy, công tác giao đất, giao rừng, quy hoạch các loại rừng trên địa bàn tỉnh được thực hiện tốt, độ che phủ đạt 36,44% (chưa tính rừng mới trồng)... Kết quả này phục vụ cho công tác quản lý và các chương trình, đề án liên quan đến ngành lâm nghiệp. (Báo Bắc Giang 22/12) đầu trang(
Những năm gần đây, trồng rừng đã trở thành một trong những hướng phát triển kinh tế hiệu quả của huyện M'Đrắk. Với “đầu ra” của sản phẩm luôn ổn định, việc đẩy mạnh cho vay vốn tại các ngân hàng cũng đã hỗ trợ đáng kể để người nông dân phát huy thế mạnh địa phương nhằm nâng cao đời sống.
Là một trong những hộ giàu lên nhờ trồng keo tại xã Cư Króa, bà Ngô   Thị Vân (thôn 2) hiện có trên 50 ha rừng keo. Để có được diện tích trồng keo lớn như vậy, bà Vân đã phải trải qua nhiều giai đoạn khó khăn. Bà kể, năm 1993, bà cùng gia đình vào Cư Króa để lập nghiệp. Với hai bàn tay trắng, vợ chồng bà đã phải khai hoang từng mảnh đất nhỏ. Không có vốn đầu tư cây giống, ông bà phải tách từng gốc keo con trong vườn để trồng dặm.
Vất vả là thế, nhưng thu nhập mang lại cũng chẳng được là bao. Đến năm 1997, được sự bảo lãnh của Giám đốc Ngân hàng NN-PTNT Chi nhánh huyện M'Đrắk (Agribank M'Đrắk) Nguyễn Đình Diệu (lúc ấy đang là cán bộ tín dụng), bà Vân vay được 30 triệu đồng. Số tiền tuy không lớn, nhưng cũng giúp gia đình bà mở rộng thêm được diện tích và đầu tư chăm sóc rừng cây. Cứ thế, sau mỗi lần thu hoạch rừng, gia đình bà lại mở rộng diện tích. Đến năm 2013, trong tay gia đình bà Vân đã có đến gần 100 ha rừng keo.
Với diện tích lớn nên càng cần phải có tiền đầu tư, ông bà lại được Agribank M'Đrắk cho vay, lúc cao điểm số tiền vay lên đến trên 2 tỷ đồng. Đến năm 2015, gia đình bà Vân thu hoạch toàn bộ số keo, sau khi trừ chi phí đã thu lại được gần 6,9 tỷ đồng. Với số tiền này, bà Vân không những trả hết nợ cho Agribank M'Đrắk mà còn gửi lại vào ngân hàng này trên 1 tỷ đồng.
Bà Vân vui vẻ: “Nhờ sự hỗ trợ kịp thời của ngân hàng mà tôi từ “con nợ” lớn, nay đã lại thành “chủ nợ” của Agribank M'Đrắk...”. Trường hợp như gia đình bà Ngô Thị Vân không phải hiếm ở huyện M'Đrắk, nhất là ở những xã có diện tích rừng keo lớn như Cư Króa, Ea Trang, Krông Á...
Kinh tế rừng nói chung, trồng rừng nói riêng đòi hỏi phải có thời gian đầu tư dài trước khi có thu nhập. Do vậy, nói việc trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế là đúng, nhưng đòi hỏi phải có nguồn lực vốn lớn. Ông Bùi Văn Tý (thôn 5, xã Cư Króa) cho biết, để có sản phẩm thu hoạch, mỗi vườn cây phải có chu kỳ trồng, chăm sóc ít nhất 4 năm. Do đặc thù của cây rừng, nên trong thời gian này không thể trồng xen loại cây khác theo dạng “lấy ngắn, nuôi dài”.
Vì vậy, vốn vay ngân hàng là giải pháp tối ưu và là “đòn bẩy” tài chính cần thiết. Hiện nay, trên địa bàn huyện M'Đrắk, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và Agribank M'Đrắk là hai đơn vị chủ lực trong cho vay phát triển kinh tế rừng. Phó Giám đốc Phòng giao dịch NHCSXH M'Đrắk Hồ Xuân Dựng cho biết, chỉ tính riêng  dư nợ của đơn vị tại những xã trọng điểm trồng rừng của huyện như Cư Króa, Ea Trang, Krông Á lên đến 42 tỷ đồng, trong đó phần lớn dư nợ được đầu tư vào việc trồng rừng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Còn tổng dư nợ đầu tư trồng rừng của Agribank M'Đrắk hiện trên 18 tỷ đồng. Ông Nguyễn Đình Diệu cho hay, vốn vay đầu tư vào trồng rừng đã được các hộ dân trong huyện sử dụng rất hiệu quả, mà bằng chứng rõ nét nhất là những khoản vay này đều được trả đúng hạn, không phát sinh nợ xấu.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, phát triển kinh tế rừng còn tạo hiệu ứng xã hội rất lớn. Đến nay, nhận thức về phát triển kinh tế của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đã thay đổi rất nhiều. Nhờ biết tận dụng những chính sách hỗ trợ của địa phương và nhiều nguồn vốn vay ưu đãi từ phía ngân hàng để phát triển diện tích rừng trồng nên nhiều gia đình trước đây thuộc diện nghèo, nay đã khấm khá hơn. Không những vậy, kinh tế rừng còn làm thay đổi tập quán khai thác rừng bừa bãi của người dân, hướng tới phát triển rừng một cách bền vững.(Báo Đắk Lắk 22/12) đầu trang(
Trong năm 2016  Ban quản lý rừng An Biên – An Minh đã kết hợp với UBND các xã có rừng ven biển trên địa bàn 2 huyện tổ chức khảo sát, lập hồ sơ cho 14 hộ nhận khoán được nạo vét mương cũ để nuôi trồng thủy sản với diện tích 18,69 ha; 04 hộ gia cố bờ bao với diện tích 2,13 ha, 02 hộ khai thác tận thu rừng đước chết diện tích 4,25ha.
Để bảo vệ và phát triển tốt rừng phòng hộ ven biển. Trong những năm qua, khi thực hiện Quyết định số 25 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang về trồng rừng, bảo vệ rừng và sử dụng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang có 07 chương và 20 điều. Trong đó, có chương 3 và chương 4 có nội dung được quy định rõ: Về giao khoán, trồng rừng,chăm sóc rừng, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận khoán.
Được biết, từ khi thực hiện Quyết định này của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tình hình trồng rừng, phát triển rừng cũng như công tác quản lý bảo vệ diện tích rừng phòng hộ ven biển được đảm bảo có hiệu quả. Đa số hộ dân nhận khoán rừng phòng hộ ven biển có điều kiện nuôi trồng thủy sản phát triển kinh tế gia đình trên diện tích được sử dụng theo quy định  của Quyết định là 30/70 % mạt nước và trồng rừng.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nẩy sinh một số bất cập như : tình trạng khai thác, nạo vét và trồng lại rừng, trồng đủ diện tích 70% rừng của 1 số hộ nhận khoán lai không thực hiện đúng theo Quyết định.
Trao đổi với P/v Báo TN&MT, ông Lê Tuấn Kiệt - Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm An Biên – An Minh đã cho biết một số tình hình không thực hiện theo quyết định UBND tinh của 1 số hộ nhận khoán như sau: “ Trong quá trình thực hiện nhận khoán trồng rừng thì có một số hộ san ủi ban bờ ao nuôi tôm, không chú trộn trồng rừng nên chưa đạt số diện tích rừng giao khoán. Việc giao khoán và phân bổ kinh phí,cây giống kế hoạch trồng thì do Ban quản lý rừng, còn lực lượng kiểm lâm chỉ kiểm tra khi đã phát triển thành rừng nên không nắm được số hộ dân và dienj tích phải trồng. Trong thời gian tới lực lượng Kiểm lâm sẽ phối hợp với Ban quản lý rừng và chính quyền các xã có rừng kiểm tra dối các hộ không thực hiện trồng rừng chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý theo quy định” ông Kiệt cho biết.
Thực hiện dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển giai đoạn 2016 – 2020, Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn giao chỉ tiêu cho Ban quản lý rừng An Biên – An Minh rà soát, phối hợp thiết kế trồng rừng, trồng rừng thay thế và chăm sóc rừng, tổng số 306,72ha.
Còn ông Nguyễn Thanh Linh-Phó Giám Đốc Ban quản lý rừng An Biên – An Minh thì cho biết : “ Để thực hiện hiệu quả các dự án trồng rừng phòng hộ ven biển thích ứng Biến đổi Khí hậu hiện đang gặp rát nhiều khó khăn theo 70% như kế hoạch đề ra năm 2016. Mặc dù đã có kinh phí hỗ trợ cho người dân như ban bờ, trái giống và cả nhân công nhưng người dân vẫn không chịu trồng rừng” ông Linh nói.
Theo đó, để thực hiện hoàn thành kế hoạch trồng rừng thích ứng Biến đòi Khí hậu ở Khu vực đang diễn ra sạt lở nghiêm trộng tại An Biên-An Minh thiết nghĩ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý, Hạt Kiểm lâm liên huyện An Biên – An Minh và Ủy Ban Nhân Dân các xã có rừng trên địa bàn quản lý để công tác phòng chống chặt phá rừng, đào bới đất rừng trái phép ngày càng giảm; ý thức bảo vệ rừng được nâng lên trong đại bộ phận các hộ nhận khoán và các tổ quản lý bảo vệ rừng được đảm bảo căn bản bền vững hơn. (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/12) đầu trang(
Điều kiện tự nhiên ưu đãi cho Việt Nam một hệ sinh thái rừng tự nhiên phong phú và đa dạng nguồn gen, có tiềm năng lớn về tài nguyên lâm sản ngoài gỗ (LSNG), trong đó có rất nhiều LSNG mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Việt Nam hiện có hơn 100 loài tre nứa, hơn 50 loài song mây, 113 loài cây cho chất thơm, 800 loài cho tanin, 93 loài chứa chất làm thuốc nhuộm, 458 loài có tinh dầu, 473 loài chứa dầu và 3.948 loài cây làm thuốc, trên 800 loài lan, 20 loài tuế. Trong đó, có hơn 750 loài cây trồng phổ biến, cho khai thác, cung cấp cho nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu, bình quân mỗi năm khai thác khoảng triệu tấn các loại.
Vùng phân bố các loài cây LSNG được phân bố rộng khắp trên toàn lãnh thổ, trải dài trên 9 vùng sinh thái lâm nghiệp, từ khí hậu nhiệt đới núi cao đến vùng trung du phía Bắc, ĐBSH, Bắc Trung Bộ, vùng núi cao Tây Nguyên, Nam Bộ và ĐBSCL.
Nhiều loài cây LSNG giá trị kinh tế cao, quý. Trong đó có nhiều loài đặc hữu như sâm Ngọc Linh, hồi, lùng, quế, sa nhân tím, sâm vũ diệp, tam thất hoang, bách hợp, thông đỏ, vàng đắng, hoàng liên ô rô, hoàng liên gai, thanh thiên quỳ, ba gạc Vĩnh Phú...
Bên cạnh phát triển cây LSNG bản địa, Việt Nam bắt đầu nhập nội một số loài cây LSNG có giá trị cao như Maccadamia và nhiều loài cây dược liệu để đưa vào gây trồng, phát triển.
Các điển hình về công tác phát triển LSNG gắn với bảo vệ rừng tốt ở các vùng trồng quế, thảo quả, hồi, sa nhân tím… đã nói lên vai trò của LSNG với việc bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ rừng. Nếu không có cây hổi, quế trồng hoặc cây thảo quả, sa nhân trồng dưới tán rừng, chắc chắn hàng trăm nghìn ha rừng có chất lượng tốt ở nhiều vùng trong cả nước đặc biệt ở vùng sâu vùng xa của nhiều tỉnh phía Bắc và miền Trung, Tây Nguyên đã trở thành đất nương rẫy, hay bị sa mạc hóa.
Theo TS Phan Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ (Viện Khoa học Lâm nghiệp VN), gây trồng và phát triển LSNG không những góp phần vào bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo ra cảnh quan đẹp, hấp dẫn, vừa có lợi cho sức khỏe con người, vừa đáp ứng nhu cầu giải trí tinh thần cho khách tham quan du lịch và gián tiếp mang lại nguồn thu nhập kinh tế cho địa phương. Do đó, hàng năm trong diện tích trồng rừng mới cây LSNG được người dân ở nhiều địa phương gây trồng trong rừng sản xuất, trồng kết hợp trong rừng phòng hộ, đã góp phần nâng cao độ che phủ của rừng.
Đặc biệt, xu thế nhu cầu sử dụng các loài sản phẩm có nguồn gốc sinh học ngày càng tăng trong phục vụ đời sống con người. Nhiều loài LSNG đã được nghiên cứu chọn giống đưa vào trồng thành công như quế, hồi, thảo quả, sa nhân, ba kích, giổi ăn hạt... và nhiều loài cây dược liệu khác đã thay thế hoàn toàn cho việc khai thác trong tự nhiên.
Là một cơ quan nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ về LSNG hàng đầu và duy nhất ở Việt Nam, trong gần 40 năm hoạt động, Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ đã đạt được một số kết quả nghiên cứu quan trọng và chuyển giao thành công vào sản xuất. Phát huy những kết quả đạt được, gần đây trung tâm đã chuyển giao thành công một số kết quả nghiên cứu vào sản xuất LSNG.
Trong đó, nổi bật là nghiên cứu và chuyển giao một số giống sa nhân tím có năng suất cao, chất lượng tốt, chịu khô hạn, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh Quảng Ninh, Lào Cai, Sơn La và Nghệ An. Nghiên cứu chọn và nhân giống thành công một số giống ba kích tím có năng suất cao, chất lượng tốt. Nghiên cứu chọn và chuyển giao một số giống cây giổi ăn hạt, thảo quả có năng suất quả cao vào sản xuất. Chọn một số giống quế có năng suất vỏ cao, hàm lượng tinh dầu tốt và sản xuất một số giống cây dược liệu đạt chuẩn...
Về lĩnh vực canh tác, đã nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật thâm canh cây hồi, quế, sa nhân, thảo quả vào sản xuất. Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật gây trồng và phục tráng rừng lùng, mây nước, mây nếp vào sản xuất.
Với lĩnh vực thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch: Đã nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưng cất tinh dầu quế từ lá ở mức độ quy mô vừa cho Yên Bái và Quảng Ninh. Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chưng cất tinh dầu hồi từ quả và lá ở quy mô nhỏ và vừa cho Lạng Sơn và Hà Giang. Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật trích nhựa thông ba lá, thông nhựa, thông mã vĩ cho Quảng Ninh, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Bình. Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và chuyển giao công nghệ chế biến collophan quy mô công nghiệp cho Quảng Bình. Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sơ chế song mây làm nguyên liệu thủ công mỹ nghệ cho Quảng Bình, Bình Định…
“Các mô hình LSNG hầu hết cho hiệu quả kinh tế cao như mô hình trồng quế ở Bắc Hà (Lào Cai), Văn Yên, Văn Chấn (Yên Bái) cho thu nhập trung bình 25 - 30 triệu đồng/ha/năm; hồi ở Văn Quan (Lạng Sơn), Chợ Mới (Bắc Kạn) cho thu nhập trung bình 25 -3 0 triệu đồng/ha/năm; thảo quả ở Tân Uyên (Lai Châu), Bát Xát (Lào Cai), Hoàng Su Phì (Hà Giang) cho thu nhập trung bình 20 - 25 triệu đồng/ha/năm; sa nhân ở Thuận Châu (Sơn La), Hoành Bồ (Quảng Ninh) cho thu nhập trung bình 35 - 50 triệu đồng/ha/năm; giổi ăn hạt ở Ngọc Lặc (Thanh Hóa), Thanh Sơn (Phú Thọ), Lạc Sơn (Hòa Bình) cho thu nhập trung bình 20 - 25 triệu đồng/ha/năm”, TS Phan Văn Thắng. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/12) đầu trang(
Theo các doanh nghiệp (DN) ngành gỗ trong nước, DN Trung Quốc đang tràn sang thu mua mua và kiểm soát tới 80% gỗ cao su tại Tây Nguyên.
Các hiệp hội gỗ đặt vấn đề về việc mua bất thường và có dấu hiệu lách thuế của DN Trung Quốc.
Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA), cho biết nhiều DN Trung Quốc sang ồ ạt thu mua gỗ cao su ở Tây Nguyên, Đông Nam bộ theo cách “triệt hạ” các DN nội.
Theo ông Lập, giá cao su đang tăng cao trong bối cảnh từ năm 2017, Trung Quốc sẽ đóng cửa toàn bộ rừng tự nhiên và nguồn nguyên liệu cho các DN chế biến nước này sẽ thiếu hụt…
“Chúng tôi đang cạnh tranh nguyên liệu gỗ với DN Trung Quốc nên nắm rất rõ điều này", ông Lập nói.
Về cách thu mua của DN Trung Quốc, Chủ tịch FPA cho biết: “Họ xách vali tiền sang đến các xưởng, nhà máy tại Việt Nam, đặt cọc vài trăm nghìn USD là  bình thường”. Bên cạnh đó, các DN Trung Quốc còn đặt các xưởng chế biến của Việt Nam hạ giá cấp gỗ, từ đó để hạ giá hàng hóa để lách thuế.
Trái với tình trạng ảm đạm thường thấy suốt thời gian dài, những tháng gần đây, giá cao su phục hồi trở lại. Ông Nguyễn Thanh Sơn, chủ một vườn cao su tiểu điền có diện tích 3 ha ở xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai khá tiếc nuối khi vừa bán hết cả vườn cây lẫn đất cho một công ty kinh doanh bất động sản.
Ông nói, suốt 3 năm liền giá cao su tụt dốc thu không đủ chi nên đã bỏ mặc không đầu tư chăm sóc. “Thấy họ cưa cao su, đào sạch gốc để bán gỗ cho thương lái Trung Quốc mà tiếc nhưng biết làm cách nào”, ông Sơn nói.
Bà Lê Thị Nguyệt, chủ 8 ha cao su tại huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước cũng vừa bán hết vườn cây 15 năm tuổi. Hiện 8 ha đất đã được bà Nguyệt cho thuê trồng sắn.
Ông Nguyễn Sư Sơn, Chủ tịch Công đoàn Cty CP cao su Đồng Phú, tỉnh Bình Phước, cho rằng có thời điểm cao su mất giá thì người ta chặt bỏ cao su hoặc bán gỗ. (Tiền Phong 23/12) đầu trang(
Theo Bộ NN&PTNT, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm 2016 đạt khoảng 7,3 tỷ USD, tăng 1% so với năm trước. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi cho biết: So với năm trước, giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ tăng trưởng 5-10%.
Hiện trong xuất khẩu gỗ, gỗ dăm vẫn là sản phẩm chủ lực và Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính. Bên cạnh đó, gỗ dăm Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh về giá bán với một số thị trường có thế mạnh như Thái Lan, Australia và một số nước Châu Phi… Để nâng cao chất lượng và chủ động nguồn nguyên liệu, Việt Nam cần nâng cao chất lượng rừng trồng.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, đến nay tổng diện tích rừng trồng gỗ lớn của cả nước là 127.747ha, chiếm 3,7%. Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây con đạt 84%. (Hà Nội Mới 23/12) đầu trang(
Vượt qua đà giảm của nhiều tháng trước, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ đang tăng trưởng trở lại. Cùng với việc nỗ lực chinh phục thị trường nội địa, toàn ngành đang khẩn trương hoàn thành mục tiêu năm 2016.
Bộ Công Thương ước tính, kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ 11 tháng qua đạt hơn 6,2 tỷ USD, tăng nhẹ 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù mức tăng không cao nhưng điểm đáng mừng là đã vượt qua đà giảm của những tháng trước để lấy lại đà tăng. Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), sự tăng trưởng của gỗ XK năm nay chủ yếu nhờ vào thị trường Hoa Kỳ và Nhật. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất của Việt Nam với 3,7% thị phần. Năm 2016, kim ngạch XK gỗ vào Hoa Kỳ tăng khoảng 15%. Đây được nhận định tiếp tục sẽ là thị trường chủ lực của đồ gỗ Việt trong tương lai vì nhu cầu còn rất lớn.
Thị trường Nhật Bản cũng khá khả quan khi tốc độ tăng trưởng kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường này tăng bình quân khoảng 13%/năm trong nhiều năm nay. Các mặt hàng XK quan trọng nhất của Việt Nam vào Nhật Bản gồm dăm gỗ, đồ nội thất phòng ngủ, đồ gỗ ngoài trời, ghế gỗ và đồ nội thất văn phòng.
Dù không phải là thị trường truyền thống của gỗ Việt nhưng Hàn Quốc đang nổi lên là một trong những thị trường XK đầy tiềm năng. Nhờ “lực đẩy” từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc, 10 tháng đầu năm, XK gỗ sang Hàn Quốc đã tăng tới 17,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trái ngược với đà tăng của những thị trường kể trên, sự sụt giảm kim ngạch XK ở một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, EU lại đang là nguyên nhân khiến kim ngạch XK đồ gỗ không cao như kỳ vọng. Do đó, Vifores dự báo, nếu những năm trước, kim ngạch XK gỗ và sản phẩm gỗ thường có mức tăng 2 con số, có năm tăng trên 15% thì năm nay, khả năng chỉ tăng nhẹ ở mức 4,3%, đạt khoảng 7,2 tỷ USD.
Thống kê từ Vifores cho thấy, hiện nay nhu cầu đồ gỗ trong nước đang gia tăng nhanh chóng. Ước tính doanh thu từ thị trường nội địa của ngành gỗ đạt khoảng 3 tỷ USD/năm (bằng một nửa doanh thu XK). Rõ ràng đây là một thị trường không nhỏ để các doanh nghiệp (DN) trong nước có thể tận dụng gia tăng doanh thu và thị phần.
Trên thực tế, nhiều DN đã có xu hướng quay lại thị trường nội địa. Theo đại diện Công ty CP Mỹ thuật Gia Long, sự phát triển về số lượng cửa hàng nội thất của DN trong nước thời gian gần đây, cũng như sự đa dạng sản phẩm cho thấy, DN gỗ nhìn nhận nghiêm túc hơn về thị trường nội địa.
Nhìn nhận thị trường trong nước là tiềm năng, nhưng các DN cũng cho rằng, điểm yếu của các sản phẩm gỗ Việt chính là chưa khẳng định được thương hiệu. Do đó, nhiều DN khi quay trở về đã tổ chức đầu tư khâu thiết kế, phát triển sản phẩm riêng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước, nhưng lại gặp khó khăn trong vấn đề phân phối, tiếp thị bán lẻ. Hiện doanh số khai thác thị trường nội địa đang chiếm khoảng 30% tổng doanh thu của các DN.
Cơ hội cho các DN ngành gỗ tăng XK đang rất lớn khi Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và EU vừa kết thúc đàm phán, được kỳ vọng giúp kim ngạch XK đồ gỗ vào EU sẽ tăng từ 800 triệu USD/năm hiện nay lên 2 tỷ USD/năm trong 3 - 4 năm tới. (Công Thương 22/12) đầu trang(
Ngành công nghiệp chế biến gỗ đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cụ thể, năm 2015 giá trị xuất khẩu gỗ và đồ gỗ đạt 6,9 tỷ USD, 10 tháng của năm 2016 đạt 5,59 tỷ USD. Tuy nhiên, việc khan hiếm nguồn gỗ nguyên liệu một lần nữa đặt ra nhiều thách thức đối với doanh nghiệp gỗ.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), nhu cầu gỗ nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ mỗi năm khoảng 31 triệu m3. Rừng tự nhiên Việt Nam hiện tại còn khoảng 10 triệu ha nhưng chủ yếu là rừng nghèo kiệt, trữ lượng gỗ rất ít và chất lượng kém. Tổng diện tích rừng trồng 3,8 triệu ha, trong đó rừng sản xuất 2,7 triệu ha, nhưng đến hết năm 2015 chỉ có từ 10 - 12% trong 1,7 triệu ha có gỗ đạt chất lượng và kích cỡ để làm hàng nội thất. Rừng cao su bình quân có thể khai thác 3 triệu m3 gỗ/năm.
Tình trạng đó đặt ra vấn đề phải có thêm nguồn cung gỗ tăng từ 10 - 15%/năm. Hiện nay, gỗ rừng trồng đã trở thành nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành chế biến gỗ, chiếm 30% - 40% tổng lượng nguyên liệu, đặc biệt là gỗ cao su và keo tràm.
Ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định nêu ra một thực trạng đáng lo ngại: trong tình trạng “người đông của ít” đó, thương nhân Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp (DN) Việt Nam xây dựng nhiều nhà máy và cơ sở thu mua gỗ để xuất sang Trung Quốc, tạo ra sức ép rất lớn, thậm chí là nguy cơ khủng hoảng gỗ nguyên liệu của các DN chế biến gỗ Việt Nam.
Sự thay đổi về chính sách xuất khẩu gỗ của nhiều quốc gia láng giềng càng làm cho thương nhân Trung Quốc tăng cường cạnh tranh gỗ nguyên liệu trong khu vực. Năm 2014, Myanmar ban hành lệnh cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ kích thước lớn. Năm 2016, Lào ban hành lệnh tương tự. Năm 2015, Chính phủ Trung Quốc cấm khai thác rừng tự nhiên ở vùng Đông Bắc và Nội Mông, tiến tới chấm dứt hoàn toàn khai thác gỗ rừng tự nhiên trên toàn quốc vào năm 2017.
Để đáp ứng cơn khát nguyên liệu, thương nhân Trung Quốc cạnh tranh mua gỗ tại các quốc gia mà Việt Nam nhập khẩu gỗ, và chính tại thị trường Việt Nam. Năm 2015, Trung Quốc nhập khẩu 107 triệu m3 gỗ quy tròn, kim ngạch lên đến 19,5 tỷ USD.
Từ năm 2009, thương lái Trung Quốc bắt đầu thu gom ồ ạt gỗ cao su xẻ, đẩy giá thành từ 3,5 triệu đồng/m3 lên 5,6 triệu đồng/m3 hiện nay. Theo số liệu của Forest Trends, lượng gỗ cao su xẻ xuất sang Trung Quốc tăng đột biến: năm 2015 dưới 120.000m3 thì chỉ 9 tháng năm 2016 đã lên đến 170.000m3 và vẫn không ngừng gia tăng.
“Họ thu mua ồ ạt bất kể chủng loại, chất lượng xấu tốt khiến DN gỗ Việt Nam điêu đứng. Trong khi nguyên liệu không ổn định thì giá đồ gỗ không thể tăng. Tôi nghĩ chúng ta cần cấm hẳn xuất khẩu gỗ tròn, cấm ngay không cần lộ trình”, bà Trương Mộng Trinh - Giám đốc Công ty TNHH Mộc Lục (Bình Dương) kiến nghị.
Đặt ra một loạt câu hỏi đầy bức xúc, bà Nguyễn Thị Kiều Nga (Công ty TNHH Phát triển ở Bình Dương) lo ngại: “DN Trung Quốc vẫn đang thu mua gỗ cao su ồ ạt nhưng họ mua để làm gì, mang về nước hay đi đâu, không ai biết. Họ đến tận xưởng cưa đặt tiền cọc rồi đưa xe đến chở gỗ đi đâu, không ai biết. Có mang ra cảng để xuất, đóng thuế hay không, cũng không ai biết. Hay là mang để ở đâu đó, chờ giá lên, bán ngược ra thị trường Việt Nam với giá cao, cũng không ai biết. Nạn nhân chính là DN Việt Nam sử dụng gỗ cao su phải mua với giá cao”.
Dự kiến đến năm 2020 xuất khẩu gỗ và đồ gỗ đạt 10 tỷ USD thì nguồn cung gỗ nguyên liệu sẽ thêm 4 - 5 triệu m3/năm. Đây là một thách thức không nhỏ mà ngành chế biến gỗ phải đối mặt.
Chất lượng gỗ rừng trồng có đường kính nhỏ là chủ yếu, năng suất lại thấp. Theo ông Bùi Như Việt (BIFA), gỗ tràm, keo, chu kỳ khai thác 7 - 10 năm mới đạt chất lượng nhưng hiện nay nông dân lại chuộng trồng các loại giống F4, F5 chỉ sau 4 - 5 năm là thu hoạch, chất lượng gỗ kém hẳn, không đủ kích cỡ để chế biến mà chủ yếu để băm dăm phục vụ ngành giấy”.
Bên cạnh đó, thách thức lớn chính là chứng chỉ cho gỗ. Đến nay mới chỉ có khoảng 200 ngàn ha gỗ rừng trồng ở Việt Nam được cấp chứng chỉ FSC, chiếm 8% diện tích rừng sản xuất của cả nước. Yêu cầu trong các năm tới phải có 100% gỗ có chứng chỉ FSC và gỗ hợp pháp là một thách thức lớn đối với DN gỗ Việt Nam, trong khi mối liên kết giữa nông dân với DN trồng rừng vẫn chưa có.
Theo ông Điền Quang Hiệp - Giám đốc Công ty MIFACO, ở Mỹ có hiệp hội gỗ cứng, còn ở Việt Nam các hiệp hội gỗ hầu hết là nơi quy tụ những DN chế biến gỗ (HAWA, BIFA...) chứ chưa có hiệp hội của những DN chuyên trồng rừng. Đây là một nguyên nhân khiến cho nguồn gỗ nguyên liệu chưa ổn định.
Để cứu vãn thị trường gỗ nguyên liệu, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định vừa kiến nghị Chính phủ ban hành các giải pháp hạn chế xuất khẩu gỗ bằng cách tăng thuế gỗ tròn và gỗ xẻ lên 20%, hạn chế thương nhân nước ngoài thu gom, khống chế thị trường gỗ nguyên liệu rừng trồng. Vấn đề quan trọng nữa là cần sự liên kết giữa các DN để đối phó với việc DN Trung Quốc cạnh tranh nguyên liệu.
Ông Nguyễn Chiến Thắng - Phó chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) góp ý: “Tôi từng sang Trung Quốc nhiều lần và nhận thấy độ liên kết giữa các DN gỗ với nhà cung ứng rất cao. Chỉ có liên kết DN mới tạo được niềm tin, giữ được chuỗi giá trị, hạ giá thành sản phẩm”. (Doanh Nhân Sài Gòn 23/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhật Bản đang thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích phụ nữ tham gia săn bắn để bảo vệ các trang trại khỏi sự tấn công của động vật hoang dã như hươu hay heo rừng.
Sau tiếng huýt, Chiaki Komada bóp cò nhắm bắn một con nai đực. Một lúc sau, cô cùng người bạn lần đầu đi săn tìm kiếm con vật bị bắn.
“Hãy lần theo vết máu”, Kodama chỉ dẫn khi cả hai cùng tìm kiếm con nai trên một sườn núi ở tỉnh Fukui, Nhật Bản.
Komada vốn là thợ làm tóc 28 tuổi. Cô là một trong số ít phụ nữ Nhật Bản tham gia săn bắn, công việc vốn dành cho nam giới. Trước kia, thậm chí việc nói chuyện với phụ nữ trước khi đi săn cũng bị coi là cấm kị ở xã hội này.
Theo thống kê của Hiệp hội Săn bắn Quốc gia Nhật Bản, trong số 105.000 thợ săn có đăng ký ở Nhật, 2/3 ở độ tuổi trên 60 và chỉ có 1.169 thợ săn là nữ.
Tuy nhiên, xu thế đang thay đổi và số lượng phụ nữ tham gia săn bắn ở Nhật đang tăng lên khi số lượng thợ săn ngày càng giảm. Phụ nữ đang trở thành người bảo vệ quan trọng cho các trang trại khỏi sự tấn công của động vật hoang dã.
Các nhóm săn bắn và chính quyền địa phương đang kêu gọi nữ giới tham gia đồng thời tổ chức nhiều chuyến đi săn và mở các lớp đào tạo cho họ. Trên trang web của Hiệp hội Săn bắn Quốc gia còn có blog riêng để phụ nữ viết về kinh nghiệm săn bắn.
“Có những trang trại đã bị tàn phá hoàn toàn”, Reuters dẫn lời Manabu Ushiyachi, một người nông dân ủng hộ cả hai giới đi săn để ngăn lợn rừng phá hoại rau màu, cho hay. Ông Ushiyachi nói bẫy động vật trước đó không có hiệu quả.
Theo thông tin được công bố vào tháng trước của bộ Nông nghiệp Nhật Bản, nông dân nước này mất 23 tỷ yên (170 triệu USD) mỗi năm kể từ 2008 khi số lượng hươu, nai, heo rừng, khỉ và các loài chim tăng mạnh.
Số lượng hươu ở nước này đã tăng từ 400 nghìn lên trên hơn 3 triệu cá thể từ cuối 1990 tới nay. Tương tự, số lượng lợn rừng nước này cũng tăng gấp đôi lên 1 triệu cá thể.
“Chúng tôi đã thử các phương pháp như xây dựng hàng rào hoặc xua đuổi các loài động vật này để tránh sát hại chúng nhưng làm vậy vẫn chưa đủ”, Kazuhirro Akiba, người đứng đầu cơ quan Quản lý Động thực vật hoang dã ở Fukui, nói.
Akiba cho biết việc săn bắn là cần thiết để “đảm bảo số lượng động vật nằm trong tầm kiểm soát, nhằm duy trì một hệ sinh thái lành mạnh”.
Komada và người bạn Aoi Fukuno lần theo vết máu và tìm thấy xác con nai bị bắn. Komada chỉ cho bạn cách móc ruột nai và đặt con vật dưới dòng suối để rửa sạch máu.
“Được tận mắt chứng kiến những gì tôi chỉ được đọc trong sách thật là thú vị”, Aoi chia sẻ. (Zing News 23/12) đầu trang(./.