Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 20-12, tại tiểu khu 309 thuộc khu rừng thông trồng trên địa bàn xã Ia Der, huyện Ia Grai, Ban chỉ huy Phòng chống cháy rừng tỉnh Gia Lai tổ chức đợt diễn tập phòng chống cháy rừng năm 2016 với sự tham gia của gần 300 người của các lực lượng: Kiểm lâm, Ban quản lý rừng, dân quân, bộ đội và công an.
Với kịch bản và tình huống giả định: khi xảy ra cháy rừng, các địa phương sẽ chỉ huy lực lượng chức năng tại chỗ chữa cháy theo phương châm “bốn tại chỗ”; đám cháy bắt đầu xuất hiện vào cao điểm mùa khô. Ngay sau đó, lực lượng chủ rừng, dân quân xã được huy động chữa cháy tại chỗ. Do lớp thực bì nhiều, hanh khô cộng với tốc độ gió cao khiến đám cháy lớn và lan rộng ra các khu vực khác.
Trước tình hình cấp bách trên, lực lượng chữa cháy rừng tại xã phải báo cáo xin chi viện từ Ban chỉ huy phòng chống cháy rừng cấp huyện huy động thêm lực lượng nhằm khống chế, dập tắt đám cháy. Huyện đã huy động thêm lực lượng kiểm lâm, quân đội đưa người và phương tiện vào điểm cháy rừng tiến hành tham gia dập tắt đám cháy, làm vòng cung tránh lửa chống cháy lan trên diện rộng.
Tuy nhiên, đám cháy tiếp tục cháy dữ dội và lan nhanh. Sau khi báo cáo xin tăng cường lực lượng, phương tiện chữa cháy của tỉnh, Lực lượng vũ trang gồm Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Chi cục kiểm lâm đã huy động các trang thiết bị chuyên dụng để chữa cháy và khống chế được đám cháy, không để lan sang các khu vực khác.
Sau buổi diễn tập, Ban chỉ huy Phòng chống cháy rừng tỉnh Gia Lai đã tổ chức rút kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực chỉ huy, sự phối kết hợp giữa các lực lượng chức năng cùng phương tiện và dụng cụ chữa cháy; yêu cầu các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về Phòng chống cháy rừng, nâng cao nhận thức, ý thức trong công tác phòng chống cháy rừng cho cán bộ, người dân. Đặc biệt khi đây là thời gian Tây Nguyên đang bước vào mùa khô, hanh dễ xảy ra cháy. (Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Vĩnh Phúc là tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp không lớn, nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, cân bằng hệ sinh thái không chỉ cho tỉnh mà cho cả vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Bắc.
Sau 20 năm tái lập, với việc triển khai nhiều chương trình, dự án phát triển rừng bền vững, đến nay, tỉnh ta đã gặt hái được nhiều thành công trong công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng, tạo động lực phát triển KT-XH của tỉnh.
Xác định vai trò, tầm quan trọng và giá trị của tài nguyên rừng đối với phát triển KT-XH của tỉnh và bảo vệ môi trường sinh thái, ngay khi tái lập tỉnh, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho Sở NN&PTNT, UBND tỉnh thực hiện rà soát quy hoạch 3 loại rừng; giao rừng cho tổ chức, cá nhân sử dụng; kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng bền vững trung hạn, dài hạn và các đề án, dự án về lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh; cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm.
Chỉ đạo các hạt kiểm lâm, kiểm lâm phụ trách địa bàn tham mưu giúp chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng, sử dụng rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn. Đến nay, tỉnh đã lập hồ sơ giao hơn 6.000 ha rừng cho 807 cá nhân, hộ gia đình và 5 tổ chức để quản lý sử dụng. Thành lập, củng cố 120 tổ xung kích chữa cháy rừng với hơn 1.500 người tham gia; duy trì hoạt động 6 ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), bảo vệ rừng (BVR) cấp huyện; kiện toàn 26 ban chỉ huy PCCCR, BVR cấp xã với 348 thành viên do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND cấp xã làm trưởng ban, 35 ban chỉ huy PCCCR, BVR của các chủ rừng.
Thực hiện Nghị định 02/CP và 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, tỉnh đã giao cho 5 tổ chức với diện tích gần 19.000 ha và gần 12.000 hộ gia đình với diện tích gần 13.000 ha; cấp 4.622 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích gần 8.000 ha.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được Chi cục đặc biệt quan tâm. Vì vậy, những năm qua, mỗi cán bộ kiểm lâm là một tuyên truyền viên tích cực phổ biến pháp luật, văn bản mới nhằm nâng cao ý thức cho toàn dân về công tác BVR tại gốc; phối hợp với nhà trường, giáo dục cho học sinh tình yêu rừng và ý thức bảo vệ rừng; ngăn chặn những hành vi phá rừng, đốt rừng.
Chỉ tính riêng năm 2016, Chi cục biên soạn và in ấn phát hành 2.500 tờ tuyên truyền về quản lý bảo vệ rừng, trồng cây, trồng rừng; cấp phát 50 băng zôn tuyên truyền, kẻ vẽ lại 31 bảng tin tuyên truyền, 11 bảng cấp dự báo cháy rừng, 9 bảng nội quy bảo vệ rừng và 60 khẩu hiệu, panô áp phích, trên vách đá; phối hợp với Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn tỉnh và Đài PT-TH tỉnh cảnh báo nguy cơ cháy rừng với tần suất 3 lần/tháng...,qua đó, đã hạn chế thấp nhất số vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
Nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, những năm qua, Chi cục Kiểm lâm đã tập trung triển khai các đề án, dự án về phát triển rừng, khuyến lâm, trồng cây phân tán và xây dựng cơ sở hạ tầng lâm nghiệp như phát triển rừng công nghiệp nguyên liệu giấy; dự án PAM, 327, trồng mới 5 triệu ha rừng của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ trồng rừng sản xuất; chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững; xây dựng hạ tầng lâm nghiệp về đường băng cản lửa, đường cứu hộ chữa cháy rừng; trồng rừng hỗn loài cây bản địa nâng cao khả năng phòng cháy rừng; tổ chức thực hiện các nội dung về khuyến lâm ứng dụng tiến bộ khoa học trồng rừng giống mới công nghệ cây mô, hom thâm canh cao…
Đến nay, toàn tỉnh trồng mới được gần 12.000 ha rừng, trung bình đạt 640 ha/năm; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 4.537 lượt ha, trung bình mỗi năm được 252 ha; bảo vệ rừng trồng, rừng tự nhiên gần 150.000 lượt ha, trung bình mỗi năm bảo vệ rừng được hơn 8.200 lượt ha..., đưa độ che phủ của rừng từ 19,1% (năm 1998) lên 24,2% (năm 2015).
Các vùng đất trống, đồi núi trọc cơ bản được phủ xanh, rừng tự nhiên được phục hồi sinh trưởng tốt, môi trường sinh thái, đa dạng sinh học được bảo vệ; rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất ngày càng được củng cố, phát triển, góp phần hạn chế lũ lụt, xói mòn đất, điều tiết nguồn nước, nguồn sinh thủy được cải thiện; tạo việc làm cho hàng nghìn lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất, ổn định đời sống, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Đồng thời, hệ thống rừng đặc dụng Vườn quốc gia Tam Đảo còn là nơi lưu giữ nguồn gen động thực vật quý hiếm (với 1.282 loài thực vật bậc cao, 1.600 loài động vật) và là địa điểm du lịch sinh thái được nhiều người biết đến.
Để phát triển rừng bền vững và giữ ổn định độ che phủ của rừng, thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục bảo vệ nghiêm diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; tăng cường trồng rừng, trồng rừng tập trung và trồng cây phân tán. Nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng; thay thế 100% giống mới bằng cây sinh trưởng nhanh, gỗ có giá trị kinh tế cao; rút ngắn chu kỳ kinh doanh, đầu tư trồng rừng thâm canh.
Hoàn thành vườn ươm công nghiệp tạo cây mô, hom và hệ thống vườn ươm bán công nghiệp, đáp ứng chất lượng giống cây trồng trên địa bàn tỉnh. Khuyến khích tích tụ đất lâm nghiệp, liên kết kinh doanh thu hút đầu tư; phát triển hình thức tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ khâu trồng, nguyên liệu đến khâu cung cấp và chế biến tiêu thụ sản phẩm lâm sản. Nghiên cứu, chuyển giao một số mô hình trồng xen cây dược liệu trong các khu rừng phòng hộ... (Báo Vĩnh Phúc 20/12) đầu trang(
Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Mường Lát được UBND tỉnh giao quản lý, sử dụng 3.900 ha rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức cho nhân dân các xã trên địa bàn thực hiện các dự án lâm nghiệp trên diện tích 3.448 ha.
Nhằm bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, ngay từ đầu năm BQL rừng phòng hộ Mường Lát đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ.  Bằng nhiều hình thức, ban đã chủ động phối hợp với chính quyền các cấp và các đơn vị liên quan trên địa bàn tích cực tuyên truyền, vận động người dân vùng dự án chủ động phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ  rừng; ký cam kết không vi phạm những điều cấm về rừng; kiểm tra các khu rừng trọng điểm, kiểm soát nghiêm nguồn lửa đem vào rừng. Kết quả, đến cuối tháng 12-2016,  toàn bộ  diện tích rừng hiện có được bảo vệ an toàn, không xảy ra các vụ chặt phá rừng, cháy rừng.
Ngoài ra,  trong năm 2016,  ban đã cung ứng cây giống lâm nghiệp; hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa  bàn  huyện Mường Lát  trồng mới được  320  ha  rừng sản xuất,  hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2016. Bà con tham gia các dự án trồng và bảo vệ  rừng đã được BQL rừng phòng hộ  Mường Lát tổ chức hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng  tận gốc gắn với sản xuất, kinh doanh nghề rừng hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống...
Cùng với bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả, trong các tháng vừa qua, BQL rừng phòng hộ Mường Lát đã chủ động sản xuất 400.000 cây giống xoan ta và lát hoa cung cấp cho các đơn vị, địa phương trồng mới rừng sản xuất năm 2017.  (Báo Thanh Hóa 20/12) đầu trang(
Chia sẻ với Báo Đại biểu Nhân dân, Phó Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Yên Bái ĐINH ĐĂNG LUẬN nhấn mạnh: Để quản lý tài nguyên rừng hiệu quả và bền vững, chúng ta cần cơ chế phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Ông cho biết: Các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ lâu đời trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam. Truyền thống quản lý rừng của họ được thể hiện ở những tục lệ giữ rừng, trồng cây, xây dựng hương ước, quy ước, luật tục bảo vệ rừng, bảo vệ cây cối của nhiều làng xã.
Về mặt pháp lý, “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương” (Điều 2, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004).
Do đó, để quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả và bền vững, không thể bỏ qua việc phát huy vai trò của cộng đồng người dân sống gần rừng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng... Phát huy vai trò tham gia của các cộng đồng trong việc quản lý nguồn tài nguyên này vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc vừa có thể tạo ra cách quản lý rừng có hiệu quả và bền vững hơn.
Mặc dù Luật Đất đai 2013, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và một số văn bản khác đã quy định cộng đồng dân cư thôn thuộc đối tượng giao đất, giao rừng, có quyền quản lý và sử dụng rừng nhưng địa vị pháp lý của cộng đồng vẫn chưa đầy đủ và rõ ràng.
Bộ luật Dân sự 2015 quy định một tổ chức được công nhận là một pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: Được cơ quan có thẩm quyền thành lập hoặc công nhận; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản; tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập. Cộng đồng dân cư thôn, bản chưa hội đủ các điều kiện trên nên không phải là một pháp nhân. Đây là một trong những nguyên nhân đã và đang làm hạn chế sự tham gia của cộng đồng vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo ông, cần bổ sung một số cơ chế cụ thể: Phải thừa nhận cộng đồng là một chủ thể tham gia quản lý tài nguyên rừng; xác định rõ cộng đồng dân cư là hình thức tổ chức gì? Xác định và làm rõ quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng và đất rừng đối với cộng đồng; Quy định rõ tình trạng rừng giao cho cộng đồng quản lý; Rừng làng, rừng bản đã được cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống từ trước đến nay, hầu như không có sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn và kỹ thuật. Chính quyền địa phương mặc nhiên công nhận.
Do đó, cần phải giải quyết vướng mắc này trong việc hợp pháp hóa loại rừng này. Chỉ giao rừng cho cộng đồng quản lý khi ở đâu mà phong tục còn giữ được; già làng, trưởng thôn có uy tín, rừng còn nhiều lâm sản, mang lợi ích thiết thực cho cộng đồng thì quản lý rừng cộng đồng mới có hiệu quả.
Ngoài ra, các chính sách về công tác giao khoán, bảo vệ rừng hiện nay chỉ ưu tiên dành cho các cá nhân, hộ gia đình được hưởng, còn đối với tập thể cộng đồng lại không được hưởng một nguồn kinh phí nào, trong khi tập thể cộng đồng đóng vai trò hết sức quan trọng trong các hoạt động như: phòng cháy, chữa cháy rừng; hoạt động tuần tra bảo vệ và phát hiện các hành vi chặt phá, khái thác rừng trái phép... Khi ban hành chính sách cần giải quyết hài hòa lợi ích của hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Yên Bái là tỉnh miền núi, diện tích đất có rừng chiếm khoảng gần 430 nghìn ha, địa hình phức tạp, lại bị chia cắt. Do đó, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương và sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền các địa phương, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã dần đi vào ổn định, hiệu quả.
Các chủ rừng là tổ chức đã tiến hành giao khoán rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình nên đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng được chi trả tiền khoanh nuôi bảo vệ và dịch vụ môi trường rừng không còn xảy ra. (Đại Biểu Nhân Dân 21/12) đầu trang(
Hôm 20/12, Ban Chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) thành phố Lai Châu tổ chức Hội nghị tổng kết công tác BV&PTR, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2016; triển khai nhiệm vụ, ký cam kết BV&PTR năm 2017. Đồng chí Lê Bá Anh - Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban Chỉ đạo BV&PTR thành phố Lai Châu chủ trì Hội nghị.
Trong năm 2016, Ban Chỉ đạo BV&PTR thành phố luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố trong công tác tuyên truyền, phố biến giáo dục pháp luật về công tác BV&PTR trên địa bàn thành phố. Đặc biệt, lực lượng kiểm lâm thực hiện tốt vai trò tham mưu cho chính quyền các cấp thường xuyên kiện toàn Ban Chỉ đạo và thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng; tăng cường lực lượng thường xuyên tuần tra, cảnh báo lửa rừng ở cơ sở và hướng dẫn Nhân dân đốt nương theo quy định.
Tổ chức phối hợp với UBND các xã, phường tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, các văn bản chính sách liên quan, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được 35 buổi với 2.787 lượt người tham gia. Đối với công tác phát triển, trồng rừng cũng được các cấp, các ngành chú trọng quan tâm, với tổng diện tích trồng rừng theo Nghị quyết của HĐND thành phố giao là 109,27ha (trồng mới 100ha, chuyển tiếp năm 2015 sang là 9,27ha), chủ yếu trồng các loại cây thông mã vĩ, xoan nhừ, giổi…
Tại Hội nghị, Ban Chỉ đạo BV&PTR thành phố cũng đã thông qua dự thảo kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện công tác BV&PTR, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2017. Theo đó, các cơ quan, đơn vị chuyên môn, địa phương của thành phố tăng cường tổ chức tuyên truyền các quy định của pháp luật về BV&PTR bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của Nhân dân trong BV&PTR; rà soát, bổ sung phương án, kế hoạch BVR phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương; tăng cường tuần tra, kiểm tra, cảnh báo nguy cơ cháy rừng; chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện phòng cháy chữa cháy với phương châm “4 tại chỗ”…
Thảo luận tại Hội nghị, các đại biểu thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá những mặt tồn tại, hạn chế, khó khăn vướng mắc trong công tác quản lý, BVR trên địa bàn thành phố.
Kết luận Hội nghị, đồng chí Lê Bá Anh - Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban Chỉ đạo BV&PTR thành phố yêu cầu: Thời gian tới, các thành viên Ban Chỉ đạo thành phố phối hợp với Ban Chỉ đạo các xã, phường chỉ đạo công tác trồng dặm, chăm sóc, bảo vệ rừng trồng cũng như diện tích rừng được đầu tư khoanh nuôi, bảo vệ để thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ban Chỉ đạo các xã, phường tăng cường phối hợp với cơ quan chuyên môn tuần tra, kiểm soát ngăn chặn, xử lý các hành vi phá rừng làm nương, khai thác rừng trái phép. Tuyên truyền, vận động, yêu cầu các chủ rừng thực hiện đúng cam kết đã ký trong hợp đồng…
Tại Hội nghị, UBND thành phố và UBND các xã, phường tiến hành ký cam kết BV&PTR năm 2017. (Báo Lai Châu 20/12) đầu trang(
Hàng năm, mỗi khi vào mùa khô hanh là cấp ủy, chính quyền các cấp, các ban, ngành, đoàn thể ở huyện vùng cao Trạm Tấu lại đau đáu lo cho những cánh rừng tự nhiên phòng hộ và rừng trồng phòng hộ trên địa bàn bị “giặc lửa” xâm hại.
Mùa khô hanh năm 2015 - 2016, trên địa bàn huyện xảy ra liên tiếp 4 vụ cháy rừng trong tháng 3 và tháng 4/2016, làm thiệt hại hàng chục héc-ta rừng. Khi mỗi vụ cháy rừng xảy ra, huyện lại phải huy động lực lượng chữa cháy rừng với phương châm “4 tại chỗ” để “cứu” rừng.
Đồng chí Vũ Trọng Huân - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu, Phó Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) huyện cho biết: “Xác định nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào trong vụ khô hanh, vì đây cũng là vụ sản xuất nương rẫy của đồng bào vùng cao nên cứ vào đầu vụ khô hanh hàng năm, UBND huyện Trạm Tấu lại ra quyết định kiện toàn Ban Chỉ đạo BV&PTR huyện và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên.
Chỉ đạo UBND các xã, thị trấn kiện toàn ban chỉ đạo BV&PTR, các tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tại địa phương mình, thường xuyên tổ chức, kiểm tra, đôn đốc các thành viên ban chỉ đạo cấp xã, các tổ, đội của các thôn, bản, các chủ rừng triển khai nhiệm vụ BVR và PCCCR; canh gác để nhắc nhở nhân dân trong việc sử dụng lửa để sản xuất nương rẫy, huy động nguồn nhân lực tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra”.
Ngay từ đầu vụ khô hanh năm 2015 - 2016, huyện Trạm Tấu đã kiện toàn  Ban Chỉ đạo BV&PTR huyện và 13 ban chỉ đạo BV&PTR cấp xã, thị trấn và Ban Quản lý Rừng phòng hộ với 314 thành viên tham gia; thành lập 12 tổ cơ động với trên 253 người của 12 xã, thị trấn tham gia; thành lập 49 tổ, đội BVR và PCCCR tại các thôn, bản ở 12 xã, thị trấn với trên 614 người tham gia...
Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Ban Quản lý Rừng phòng hộ và UBND các xã trong huyện tiến hành rà soát, thống kê nương rẫy gần rừng của các hộ gia đình đang sản xuất có nguy cơ cháy lan vào rừng và tổ chức hướng dẫn cho các hộ dân đốt nương rẫy theo đúng quy trình kỹ thuật; đồng thời, ngăn chặn không để các hộ dân đốt nương vào những ngày thời tiết nắng nóng, khô hanh kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao…
Mặc dù các ngành chức năng của huyện và UBND các xã đã kiên quyết ngăn chặn các hành vi có thể gây ra cháy rừng nhưng trong vụ khô hanh năm 2015 - 2016 trên địa bàn huyện vẫn xảy ra 4 vụ cháy rừng. Ngày 20/3/2016, xảy ra liên tiếp 2 vụ cháy rừng tại thôn Háng Xê và thôn Sáng Pao, xã Xà Hồ. Vụ cháy tại thôn Háng Xê làm thiệt hại 3 ha rừng; trong đó, rừng trồng phòng hộ là 0,7 ha và rừng tự nhiên phòng hộ là 2,3 ha. Nguyên nhân là do Phàng Thị Mủa, trú tại thôn Háng Xê sản xuất nương rẫy, đốt dọn thực bì do bất cẩn gây cháy lan vào rừng.
Cũng vào thời điểm đó xảy ra vụ cháy tại thôn Sáng Pao làm thiệt hại 1 ha rừng tự nhiên phòng hộ. Nguyên nhân là do Thào Thị Dua và Thào Thị Mo, trú tại thôn Sáng Pao sản xuất nương rẫy, đốt dọn thực bì do bất cẩn gây cháy lan vào rừng. Tiếp đến ngày 5 và 6/4/2016, trên địa bàn huyện lại xảy ra 2 vụ cháy rừng tại thôn Mù Cao và thôn Mông Đơ, xã Bản Mù. Vụ cháy tại thôn Mù Cao làm thiệt hại 3,4 ha rừng tự nhiên phòng hộ.
Nguyên nhân là do Giàng Thị Dở, trú tại thôn Mù Cao sản xuất nương rẫy, đốt dọn thực bì do bất cẩn gây cháy lan vào rừng. Còn vụ cháy tại thôn Mông Đơ làm thiệt hại 5 ha rừng tự nhiên phòng hộ do Tráng A Giang, trú tại thôn Mông Đơ sản xuất nương rẫy, đốt dọn thực bì do bất cẩn gây cháy lan vào rừng. Các đối tượng gây ra cháy rừng đã bị Tòa án nhân dân huyện xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật...
Nguyên nhân các vụ cháy rừng trong vụ khô hanh năm 2015 - 2016 và những năm trước đây cũng chủ yếu là do tập tục canh tác nương rẫy của người dân trong mùa khô hanh gây ra cháy rừng. Vì vậy, để giữ rừng trong mùa khô hanh năm nay, các cấp chính quyền ở Trạm Tấu cần mạnh tay, kiên quyết hơn trong việc xử lý các đối tượng phát lấn rừng, sản xuất nương rẫy trái phép; ngăn chặn kịp thời các đối tượng cố tình đốt nương rẫy vào những ngày thời tiết nắng nóng kéo dài, gió Lào; mang lửa vào rừng...
Quan trọng hơn, huyện nên đưa nhiệm vụ BVR và  PCCCR vào chỉ tiêu thi đua giữa các xã, thị trấn và một số ngành chức năng của huyện, có sơ kết, tổng kết, khen thưởng, kỷ luật... Như vậy, mới có thể giữ được diện tích rừng trồng phòng hộ, rừng tự nhiên phòng hộ trên địa bàn huyện không bị “giặc lửa” tấn công trong vụ khô hanh. (Báo Yên Bái 21/12) đầu trang(
Trong khi ở một số địa phương, những cánh rừng thiêng, rừng gỗ quý bị tàn phá nghiêm trọng, thì ở xã Hơ Moong, huyện Sa Thầy (Kon Tum) vẫn có một khu rừng xanh ngắt dưới chân núi Sạc Ly - nơi trước đây từng bị đế quốc Mỹ rải thảm chất độc hóa học khiến cỏ cây chết cháy.
Người Gia Rai ở làng Kà Bầy (xã Hơ Moong) đã trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Nay cánh rừng ấy đã cung cấp nguồn nước sạch dồi dào cho bà con trong những ngày hạn hán khốc liệt nhất.
Bây giờ, với mỗi người dân Gia Rai ở làng Kà Bầy thì cánh rừng phía thượng nguồn chính là “rừng thiêng” và cũng là “rừng cấm” của họ, bởi nơi đó không chỉ là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho gần 140 hộ gia đình trong làng, mà còn là nơi cư ngụ của thần rừng, của hồn thiêng người dân trong làng đã khuất. Nhiều năm qua, đồng bào nơi đây đã dày công trồng, chăm sóc và bảo vệ.
Giữa năm 2013, khi nghe cán bộ xã phổ biến về việc triển khai dự án hỗ trợ giao đất, giao rừng gắn bảo vệ nguồn nước cho cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) tái định cư của dự án thủy điện Plei Krông, bà con trong làng ai cũng vui mừng.
Một thời gian sau, được Viện Tư vấn Phát triển (CODE); Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật tỉnh Kon Tum; Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với UBND huyện Sa Thầy hỗ trợ kinh phí tổ chức thí điểm giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng gắn với bảo vệ nguồn nước cho cộng đồng làng Kà Bầy. Đến đầu tháng 12 năm 2013, khi được mời đến Nhà rông để nhận rừng, ai ai cũng tập trung đông đủ. Vậy là dự án giao quản lý và sử dụng rừng và đất rừng đã đến với bà con nhân dân làng Kà Bầy, 30,8 ha đã được giao cho 135 hộ quản lý.
Không chỉ giao đất rừng, Dự án còn hỗ trợ bà con dân tộc Gia Rai 1.000 cây giống gỗ quý gồm trắc, hương, cẩm lai và sao đen để trồng xen giữa rừng đầu nguồn. Tất cả cây giống do dự án cung cấp, loáng một cái đã trồng xong... Già làng A Sinh theo sau đám thanh niên trồng rừng hồ hởi: “Làng đã có rừng, nước cũng sẽ theo về. Lễ cúng Giọt nước của làng sẽ được tổ chức theo đúng nghi thức mà cha ông truyền lại. Rừng thiêng sẽ mãi xanh nhờ sự bảo vệ của dân làng”. Cũng kể từ đó, rừng đầu nguồn của làng Kà Bầy bắt đầu hành trình phục hồi, âm thầm nhưng mạnh mẽ.
Chỉ tay về cánh rừng xanh thẳm đầu nguồn, Trưởng thôn A Đứu và già làng A Sinh cho biết: Để có được cánh rừng ngằn ngặt xanh ấy, họ đã sử dụng cả luật pháp và luật tục của người Gia Rai. Được biết, kể từ hôm được giao rừng, già làng A Sinh đã nói rất nhiều. Già hứa hẹn với chính quyền; già nhắn gửi và giao nhiệm vụ cho mỗi người dân trong làng.
Già làng A Sinh nhấn mạnh: Khi được giao cái rừng mó nước (rừng bảo vệ đầu nguồn nước) rồi, phải bảo vệ. Ai vi phạm thì làng phạt, già phạt. Vi phạm nhẹ thì phạt một con heo 20 kg; vi phạm nặng hơn thì con heo 50 kg; nặng nữa thì cứ thế tăng dần. Ai có công bảo vệ thì được khen, được thưởng. Giữ cái rừng sẽ có nước. Giữ cái rừng sẽ có cây. Bất kể ai từ nhỏ đến lớn đều phải biết điều đó để làm. Nhà nào đã trót trồng mỳ vào một số điểm của rừng năm nay, năm sau không trồng nữa... Cả làng vỗ tay rào rào, bày tỏ sự đồng thuận và hưởng ứng.
Kể từ ngày già làng A Sinh tuyên bố với bà con, hứa hẹn với chính quyền địa phương, cây rừng càng ngày càng xanh tốt. Cũng từ ngày sử dụng luật tục của làng không ai dám phát rẫy trồng mỳ nữa. Khi chúng tôi hỏi đã có ai vi phạm bị làng phạt chưa, Trưởng thôn A Đứu nhẩm tính, rồi lắc đầu: Mình không nhớ được từ ngày nhận rừng đến nay đã ngăn chặn được bao nhiêu vụ xâm hại rừng. Nhưng, đã có hai vụ xâm hại rừng bị làng phạt theo luật tục.
Đó là đầu năm 2014, một hộ dân từ xã ngoài vào xâm lấn và khai hoang đất để làm rẫy, bị làng phạt một con heo 20 kg và buộc phải chấm dứt việc vi phạm đất rừng của làng. Hay như tháng 5 năm 2015, vì dựng lều ở tạm và sử dụng nước suối đầu nguồn của làng để tắm giặt, sinh hoạt, gây ô nhiễm nguồn nước, một hộ dân đã bị làng phạt một con heo 50 kg và một con gà.
Bên cạnh việc sử dụng luật tục của làng, một “Tổ nòng cốt” giữ rừng cũng được dân làng bầu ra để thực hiện các hoạt động tuần tra, bảo vệ rừng thường xuyên. Qua đó, kịp thời phát hiện các trường hợp vi phạm cây rừng, đất rừng và nguồn nước từ rừng của cộng đồng. Để có kinh phí cho “Tổ nòng cốt” thực hiện nhiệm vụ, mỗi hộ dân trong làng tự nguyện góp 20 ngàn đồng/năm. Cũng nhờ “Tổ nòng cốt” này, bất cứ ai có hành vi xâm hại đến “rừng thiêng” đều bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Tuy chỉ xử phạt theo luật tục của làng, nhưng lại hiệu quả vô cùng.
Sau hơn 2 năm được bảo vệ nghiêm ngặt, những mầm non mới bật lên ngày nào đã vươn cành xanh lá. Bây giờ đứng từ làng Kà Bầy nhìn về phía rừng thiêng đã thấy ngằn ngặt màu xanh của những tán cây. Từ rừng đầu nguồn, những dòng nước mát đã tuôn chảy không bao giờ cạn phục vụ cho sinh hoạt của bà con dân làng, cho dù trên địa bàn xảy ra những ngày hạn hán khốc liệt nhất. Và cũng từ đây, bà con dân tộc Gia Rai ở làng Kà Bầy càng thêm yêu quý “rừng thiêng” hơn. (Báo Văn Hóa 21/12) đầu trang(
Năm 2016 Hạt Kiểm lâm Bố Trạch (Quảng Bình) phối hợp với các cơ quan chức năng, đã phát hiện và lập biên bản xử lý 178 vụ vi phạm lâm luật.
Trao đổi với phóng viên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bố Trạch – Phạm Văn Tân chia sẻ: “Nhờ sự hỗ trợ của Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, chính quyền huyện, năm 2016 Hạt kiểm lâm huyện Bố Trạch trở thành Hạt kiểm lâm điển hình của Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình trong công tác phòng chống cháy rừng cũng như hoạt động quản lý lâm sản, bảo tồn các loại động vật hoang dã”.
Đặc biệt, năm 2016 Hạt Kiểm lâm Bố Trạch (tỉnh Quảng Bình) phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương đã phát hiện và lập biên bản xử lý 178 vụ vi phạm lâm luật. Trong đó một vụ chống người thi hành công vụ, 34 vụ vi phạm hành chính, 144 vụ không có người nhận.
Cụ thể, tổng khối lượng lâm sản tịch thu được xung vào công tũy nhà nước bao gồm 198,838m3 gỗ các loại, củi 95 ster, 2000kg mây nước, 33 kg động vật rừng. Các phương tiện thu được bao gồm 25 xe máy, 1 xe ba gác, 16 xe bò lốp, 2 máy cưa xăng xách tay, 7 cây rựa. Tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 1.387.501.000 đồng.
“Theo đó các vụ vi phạm trên địa bàn đều được xử lý kịp thời, đúng trình tự, đúng người, đúng lỗi theo quy định của Pháp luật, không để những sai sót lớn xảy ra trên địa bàn” - Đồng chí Hạt trưởng cho biết thêm
Được biết, địa bàn huyện Bố Trạch có 4 trạm kiểm lâm, các cán bộ đã liên tục tham mưu đồng thời có biện pháp triệt để để xử lý các vụ việc trên địa bàn, vì thế tình trạng khai thác lâm sản năm 2016 đã giảm rõ rệt.
Mới đây Hạt kiểm lâm Bố Trạch đã tiến hành bắt giữ một xe ô-tô chở gỗ lậu tại xã Sơn Lộc. Hiện xe chở gỗ lậu đã được đưa về Hạt kiểm lâm huyện để phối hợp với các cơ quan liên ngành chờ xử lý theo quy định của Pháp luật.
Trước đó, Hạt kiểm lâm huyện đã tiến hành lập hồ sơ tạm giữ một xe tải ben chở 4 lóng gỗ lậu với trọng lượng 1.453m3 gỗ để xử phạt hành chính. (Đời Sống Và Pháp Luật 20/12) đầu trang(
Tại tiểu khu 241, thuộc địa phận xã Hương Lâm, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) vừa xuất hiện nhóm đàn ông đang cùng nhau vận chuyển một lượng gỗ trái phép.
Trước đó, khoảng 17h30” ngày 18/12/2016, tại địa điểm trên có 4 người đàn ông điều khiển 3 xe máy và xe lôi tiến hành vận chuyển 5 khúc gỗ tròn (mỗi khúc dài 3-3,5m, đường kính khoảng 30-35cm) từ trên đồi rừng xuống đường tỉnh lộ 17 phía gần đỉnh dốc Mục Bài (địa phận xã Hương Lâm) để đưa đi tiêu thụ.
Bị phát hiện, nhóm người này điều khiển xe máy kéo xe lôi chạy thoát thân để lại tang vật là 5 khúc gỗ đã được đẽo gọt.
Nhận được tin, Trạm Bảo vệ rừng Mục Bài thuộc Công ty TNHH TM&DV Chúc A phối hợp với Đồn Biên phòng Bản Giàng tiến hành thu hồi số gỗ trên để xử lý. (Báo Hà Tĩnh 21/12) đầu trang(
Nhiều khi, cả tháng trời ông không vào bờ, râu ria mọc xồm xoàm. Nom ông bì bõm tuần tra dưới tán rừng sú, vẹt, phu biển đùa: “Rõ là người rừng!”. Ông là Phạm Văn Bổng, người đàn ông 30 năm sống trong căn chòi cô quạnh, thiếu thốn ở vùng đất ngập mặn...
Ông là Phạm Văn Bổng, người đàn ông 30 năm sống trong căn chòi cô quạnh, thiếu thốn ở vùng đất ngập mặn xã Giao An (huyện Giao Thủy, Nam Định) còn nhiều hơn cả ở nhà để... giữ rừng không công.
Căn chòi nhỏ thó, rúm ró của “người rừng” Phạm Văn Bổng (53 tuổi) nằm lẩn khuất phía sau những tán rừng ngập mặn, cách đất liền chừng 30 phút chèo xuồng. Nơi ông ở chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc bếp cũ mèm, vài cái nồi và những chiếc can nhựa đựng nước ngọt. Nếu không có cái đài cát-sét văng vẳng giọng phát thanh viên, chẳng ai nghĩ nơi ấy tồn tại cuộc sống văn minh.
Ông Bổng bảo, làm một căn chòi nhỏ bằng trụ gỗ thông và vòm tre nứa lợp bạt ở giữa sóng nước mất khoảng 30 triệu đồng. Nếu không có giông bão quá lớn thì tuổi thọ của cái chòi được 5 - 6 năm. Và đời ông đã dựng đến cái chòi thứ 6 ở vùng cửa biển Ba Lạt rồi.
Những người sống cô đơn hay tìm chén rượu, điếu thuốc lào làm bạn. Ông Bổng cũng thế, lúc một mình đối diện với mưa trời, bão biển, buồn quá lại lôi bình “giải sầu” ra uống.
“Có hôm sáng say, tối xỉn, chiều lơ đơ cô ạ!”, ông bộc bạch.
Nói đoạn, ông cầm đôi đũa tre, gõ nhịp vào chiếc bát sứ mà cất lên mấy câu hát. Nhịp là của bài “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” nhưng lời bài hát đã được “chế” rất tếu táo, khiến chúng tôi hể hả.
Rất nhiều lần, ông Bổng ở lại chòi cả tháng trời, vừa để tuần rừng, vừa khai thác thủy sản. Ông kể: “Chỉ cần đo râu là biết mình ở chòi được thời gian bao lâu. Vì ngoài này làm gì có dao cạo, dẫu có cũng chẳng dùng đến vì đẹp cũng đâu có ai xem. Khi nào tôi ở ngoài này chừng hơn 1 tháng, ai đi qua cũng ví tôi là người rừng vì râu tóc quá rậm”.
Gần 30 năm qua, ông làm cái việc mà nhiều người bảo là... gàn dở. Bởi bình thường chẳng ai lại tự viết đơn xin tình nguyện giữ rừng, những 80 hecta chứ không ít. Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, nhiều diện tích rừng ngập mặn ở Vườn Quốc gia Xuân Thủy “tứa máu” vì nạn chặt cây lấy gỗ. Trước cảnh tượng ấy, Chính phủ Đan Mạch, Nhật Bản đã đầu tư trồng mới hàng trăm hecta rừng ở vùng đất ngập mặn xã Giao Thủy.
Khi những cây sú, vẹt non chưa cắm sâu rễ thì rộ lên phong trào bắt cua rèm giống, ngao giống khiến nhiều cây con chết la liệt. Bao công sức trồng rừng đứng trước nguy cơ đổ sông đổ bể. Một tổ tự quản rừng gồm 12 người được thành lập, các thành viên thay phiên nhau gác chòi và tuần rừng để bảo vệ, trong đó có ông Bổng. Vài năm sau, khi nguồn kinh phí hỗ trợ bảo vệ rừng cạn kiệt, tổ tự quản cũng tan rã.
Nhớ những ngày vùng đất ngập nước này không có mầm xanh bao phủ, mỗi lần gió bão, sóng đánh sạt từng mảng đê, dân làng biển nháo nhào sơ tán. Ông nghĩ, bằng mọi giá phải giữ những vạt rừng này để con cháu mình được sống yên ổn muôn đời.
Thế là, ông viết đơn tình nguyện giữ rừng không một đồng trợ cấp, chính quyền xã và lãnh đạo Vườn Quốc gia Xuân Thủy giơ cả hai tay ủng hộ. Từ ấy đến giờ, ông chẳng còn nhớ đã bao nhiêu lần hứng chịu những cơn bão biển, và cả những cơn bão “rèm pha” của người đời. Nhưng, ông chưa từng nghĩ sẽ từ bỏ.
Mỗi tuần vài lần, ông lái xuồng đi tuần rừng vài lần. Chiếc xuồng mộc cũ mèm lắp thêm động cơ nổ xình xịch và nhiều khói, đôi khi át cả tiếng kể chuyện. Năm nào ông cũng phải sửa con “cá gỗ chạy động cơ” này, mỗi lần mất dăm đến bảy triệu đồng.
Với tay lái nhiều năm kinh nghiệm, ông đưa xuồng đi theo lộ trình là những lạch nước mà người ngoài nghề như tôi chẳng hiểu được. Vừa đi, ông vừa giới thiệu nào sông Vọp, nào cửa Ba Lạt, nào Cồn Lu, cồn Ngạn… với những câu chuyện ly kỳ đầy cuốn hút. Để đi hết khu rừng mà ông nhận trông giữ mất cả một ngày, chi phí xăng dầu hàng tháng không hề nhỏ nhưng ông Bổng chẳng mảy may tính toán.
Dù mới ngoài 50 tuổi, nhưng trông ông già hơn tuổi với dáng vẻ khắc khổ. Mái tóc lơ phơ bạc và những nếp nhăn in hằn rõ trên khuôn mặt xương xương. Khi ông đưa vạt tay lên trán gạt mồ hôi, cánh tay có làn da đen sạm, có chỗ bị bong tróc vẩy lộ ra. Chừng 10 năm về trước, người ta phá rừng làm đầm tôm, lấy củi hay săn bắn chim khiến rừng ngập mặn suy kiệt. Đôi tay chai sạn này đã gỡ hàng ngàn tấm lưới bẫy cò mà cánh thợ săn giăng mắc.
Và, cũng chính đôi tay có làn da đen đúa này đã lái xuồng đi vận động người dân không chặt phá rừng, bắt chim hay lấy trứng cò. Nhờ những hành động nhỏ nhặt và bền bỉ ấy suốt bao năm của ông Bổng mà không ít người đã ủng hộ, thay đổi nhận thức về việc trồng rừng, bảo tồn rừng.
Ông trải lòng, khổ nhất vẫn là những ngày bão to, không thể về đất liền mà chòi cũng không thể ở vì sợ gió quật đổ, ông lại đi sâu vào trong các cồn rừng neo thuyền vào những thân cây sú, vẹt nằm ngủ. Bởi, ở đó gió lặng.
Những ngày trời nồm ẩm, muỗi to và nhiều như vãi trấu. Bọ cánh trắng và bọ cánh đen bay đầy vào chòi, đốt vào da thịt người ngứa đến phồng rộp. Ông chỉ còn cách trùm chăn thật kín để đỡ bị côn trùng đốt.
Cuộc sống xa bờ vất vả là vậy, nhưng ông Bổng vẫn thích ở chòi hơn ở nhà. Chỉ khi nào trong nhà có việc ông mới vào đất liền. Còn không, ngày ngày ông vẫn ở rừng mò cua, bắt cá rồi bán để trang trải sinh hoạt hằng ngày.
Ông Nguyễn Viết Cách, Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy kể: Những năm 1990 trở về trước, “quân đoàn” săn chim kéo vào rừng đông như đánh trận. Chốc chốc lại nghe tiếng súng đùng đoàng vang vọng lại. Người không có súng thì dùng lưới, dùng ná thun hoặc vào rừng nhặt trứng chim trong tổ... Đồng hành cùng với cánh săn chim còn có hàng chục, hàng trăm người đốn củi. Rừng bị “tứa máu”, chết dần chết mòn. Cán bộ của vườn quá mỏng, lại không có kinh phí thuê người trông giữ. May thay, nhờ có những người tâm huyết giữ rừng như ông Phạm Văn Bổng, Vườn Quốc gia mới phát triển được như hôm nay. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/12) đầu trang(
Xã Ngọc Chiến - Mường La là một điểm đến mới trên bản đồ du lịch của Sơn La nói riêng và vùng Tây Bắc, nằm cách TP Sơn La khoảng 80km về phía Đông Bắc, ở độ cao trung bình trên 1.800m so với mực nước biển, Ngọc Chiến được coi là vùng đất cao nhất của huyện Mường La.
Đặc biệt, ở đây vẫn đang có hơn 1.000 ngôi nhà sàn làm hoàn toàn bằng gỗ pơmu và mái lợp cũng bằng gỗ pơmu. Nơi đây đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn trên cung đường khám phá Tây Bắc…
Ngôi nhà sàn của ông Lò Văn Pẩu, ở bản Mường Chiến, có 1 tầng, 4 mái và một lầu tứ giác nhỏ ở trên bên trái. Ngôi nhà khá đẹp và được bố trí ngăn nắp, chia thành nhiều gian. Ông Pẩu chỉ cho mọi người thấy từng cái cột, kèo, tới cầu thang, cửa sổ, cửa chính, và cách làm mái lợp từ gỗ pơmu như thế.
Ông bảo, để dựng được một ngôi nhà sàn thì dễ nhưng để có một ngôi nhà hoàn toàn bằng gỗ pơmu thì rất khó, gia đình ông mất hơn 5 năm ròng để tích gỗ. Việc chọn gỗ cũng rất phức tạp, như từng cây gỗ mình phải nhớ gốc và ngọn để khi dựng nhà không cắm ngọn xuống đất…
Ông Lò Văn Án, Trưởng bản Mường Chiến cho biết, nhà ông dựng cách đây cũng gần 40 năm, ngồi trong nhà khi nắng dần buông xuống ông lấy 1 cây gậy dài khoảng 3m, đẩy tấm lợp trên mái nhà trở lại vị trí cũ. Ông bảo, mỗi nhà đều có 1 cây gậy như vậy dùng để đẩy ngói lấy ánh sáng, hoặc khi mưa gió thì kéo trở lại.
Nhà sàn của người Thái trắng ở Mường Chiến rất độc đáo, không ở đâu có được, bởi toàn bộ nhà đều làm bằng gỗ pơmu, dựng theo kiểu truyền thống với đủ 34 cột vuông và 2 cầu thang, kiến trúc đầu tròn, đầu xà, kèo cột, các hoa văn họa tiết ở cột kèo được thiết kế khá tinh xảo hình rồng, phượng hoặc hình hoa lá.
Trong đó, ở đầu các cột nhà, các đố đỡ đều được tạo hình đầu voi với cái vòi vươn dài khá cầu kỳ. Đặc biệt, mỗi tấm lợp mái nhà được bổ từ gỗ pơmu rộng 50cm và dài 1m đan lồng lên nhau... Với ngôi nhà này, có thể sau 100 năm mới phải tu sửa.
Nhà ông Pẩu, ông Án chỉ là hai trong số hơn 1.000 ngôi nhà sàn gỗ pơmu ở Ngọc Chiến. Sự tồn tại của hơn 1.000 ngôi nhà sàn gỗ pơmu nguyên bản có tuổi đời ít nhất nửa thế kỷ không chỉ đơn giản là những ngôi nhà sàn, mà trở thành nét độc đáo của Ngọc Chiến.
Chủ tịch UBND xã Ngọc Chiến Lò Văn Pháng cho biết, Ngọc Chiến được coi là xứ sở của pơ mu, ở đây có 21.000ha rừng trong đó có khoảng 12.000ha rừng nguyên sinh, đa phần là cây pơmu. Hầu hết những ngôi nhà gỗ pơmu trong bản được dựng cách đây hơn nửa thế kỷ, có ngôi nhà tuổi đời gần 100 năm. Từ khi pơmu nằm trong danh sách đỏ Việt Nam từ năm 1996, tới lệnh đóng cửa rừng, người dân đã không vào rừng khai thác nữa.
Để giữ được những cánh rừng xanh, ngày một phát triển giữa đại ngàn Tây Bắc là niềm tự hào của mỗi người dân Ngọc Chiến.
Theo lý giải của ông Lò Văn Pháng, giữ được rừng tất cả đều từ hương ước của người dân, mỗi bản làng đều có hương ước riêng về việc bảo vệ rừng, bất kể ai cũng đều tôn trọng và rừng vẫn sống với người dân.
Đến nay, phần lớn rừng đã được giao khoán cho các hộ dân, tuy nhiên tại bản Nà Tâu vẫn còn có một khu rừng chung và ai cũng chung tay bảo vệ, cùng trồng rừng và cùng khai thác. Bản có hơn 100 hộ nhưng không có tệ nạn xã hội, không có tình trạng trộm cắp, ANTT được đảm bảo…
Đến Ngọc Chiến những ngày giữa mùa đông giá lạnh, ngắm những ngôi nhà sàn độc đáo, mới thấy được nét hoang sơ, bình dị giữa đại ngàn của người dân vùng Tây Bắc, một điểm hấp dẫn đối với người ưa khám phá và trải nghiệm.
Bà Vũ Giang Biên, Giám đốc Công ty Thiên đường Á Châu cho rằng, Ngọc Chiến có đầy đủ yếu tố để trở thành một điểm đến hấp dẫn trong hành trình Tây Bắc, nhất là trong phát triển du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, để xây dựng được điểm đến thì trước tiên chính nội tại người dân Ngọc Chiến phải giữ được nét văn hoá đặc trưng, từ ngôi nhà sàn cổ, tránh bị bê tông hoá.
Đồng tình với ý kiến trên, ông Trần Trọng Lưu, Giám đốc Công ty Du lịch đường sắt Hà Nội cũng cho rằng, bảo tồn những ngôi nhà cổ là đặc biệt quan trọng ở Ngọc Chiến. Bên cạnh đó rất cần sự tập huấn cụ thể theo kiểu cầm tay chỉ việc cho người dân trong phát triển du lịch cộng đồng, tránh sự bùng phát mạnh ai nấy làm, mà phải có quy hoạch cụ thể.
Ông Nguyễn Văn Sáng - Trưởng phòng Văn hoá, thông tin huyện Mường La cho biết, để phát triển du lịch cộng đồng ở Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La đã bước đầu hỗ trợ cho xã 6 tỷ đồng để đầu tư xây dựng hạ tầng. Dự kiến trong thời gian tới, nguồn kinh phí này sẽ xây dựng 1 cơ sở đón tiếp khách, xây dựng nhà vệ sinh, mở các lớp tập huấn, và tuyên truyền người dân về làm du lịch homestay. (Công An Nhân Dân 21/12) đầu trang(
Ngoài nhiệm vụ tuần tra, bảo vệ rừng, các kiểm lâm viên thuộc 2 trạm kiểm lâm di tích: Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Đông còn có nhiệm vụ giới thiệu, hướng dẫn các du khách tới tham quan.
Công việc của kiểm lâm viên 2 trạm kiểm lâm di tích: Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Đông vui nhiều hơn buồn, bởi sau những chuyến tuần rừng trở về họ được chuyện trò thân mật với nhiều vị khách đến thăm rừng già. Nhờ vậy, họ sớm quên đi mỏi mệt và tình yêu rừng luôn trỗi dậy trong mình.
Có mặt ngay từ buổi đầu Khu di tích Trung ương Cục miền Nam được thành lập, Trạm phó Trạm Kiểm lâm di tích Trung ương Cục miền Nam Trần Ngọc Tuấn có nhiều câu chuyện lý thú và đầy tâm linh kể cho du khách nghe.
Ông Tuấn cho hay nơi rừng già này, mùa mưa đất mềm, ẩm ướt, còn mùa nắng thì đất khô cứng. Sau những trận đánh, tập kích của địch, nhiều chiến sĩ giải phóng quân hy sinh và được đồng đội chôn cất vội vàng. Do đây là vùng rừng già, mùa nắng đồng đội chỉ đào hố chôn khoảng 60-80cm thì vướng rễ cây rừng nên không đào sâu được nữa. Hố cạn nên mùa mưa gặp lũ rừng, thi hài của các liệt sĩ bị cuốn trôi hoặc mất dấu vết.
Khu di tích Trung ương Cục miền Nam và Khu ủy miền Đông rộng trên 32 hécta, với nhiều đền đài, nhà bia, nhà nghỉ cho du khách và hệ thống địa đạo… Theo các kiểm lâm viên ở đây, ngoài việc tiếp các đoàn đến thăm, các kiểm lâm viên còn có nhiệm vụ giới thiệu cho du khách về lịch sử, hệ thống địa đạo. Đặc biệt, các kiểm lâm viên còn hay kể cho du khách trẻ (học sinh, sinh viên, đoàn viên) những câu chuyện lịch sử về các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh, như: liệt sĩ Lê Văn Xem kiên quyết nhường thuốc để cứu chữa cho đồng đội bị thương nhẹ hơn.
Lúc hy sinh, liệt sĩ Lê Văn Xem còn nhắn với đồng đội: “Lấy tiền sinh hoạt phí tháng 3, đóng giùm Đảng phí tháng 3 giúp tôi”, hay câu chuyện về mối tình lãng mạn của anh xem với chị Sáu Chiến, câu chuyện tiêu diệt cọp 3 móng hung dữ… và cả những câu chuyện tâm linh đầy sức sống.
Theo lời kiểm lâm viên Trần Ngọc Tuấn, vào đêm giao thừa năm 2005, ông và đồng nghiệp trẻ Nguyễn Xuân Bá đón giao thừa tại khu di tích với một ít bánh mứt và con gà luộc. Sau khi thắp nén nhang đón giao thừa tại ngôi miếu thờ các liệt sĩ và mời các liệt sĩ “chung vui” cùng với mình, ông Tuấn bỗng giật mình khi nghe tiếng rừng chuyển động. Nhìn xung quanh, ông chẳng thấy bóng người hoặc cơn gió, con thú nào. “Lời mời vui lúc giao thừa của tôi được các liệt sĩ nghe thấy nên họ rủ nhau “vào nhà” rần rần” - ông Tuấn nói vui.
Còn kiểm lâm viên Nguyễn Văn Tâm (Trạm Kiểm lâm di tích Khu ủy miền Đông) thì kể, ngày rằm và dịp lễ, tết, kiểm lâm viên trong trạm thường mua hoa quả về thắp nhang cho liệt sĩ tại các miếu thờ. Một lần kiểm lâm viên Dũng mua cặp dưa hấu từ ngoài thị trấn vào để thắp nhang cho liệt sĩ. Cặp dưa hấu được kiểm lâm viên Dũng cột bằng dây ny-lông sau yên xe.
Đường mùa khô vào khu di tích gồ ghề, dây ny-lông buộc cặp dưa bị bung ra lúc nào không hay. Vào đến khu di tích, kiểm lâm viên Dũng ngỡ ngàng nhìn cặp dưa không neo buộc vẫn còn yên vị sau yên xe. “Có lẽ các liệt sĩ biết kiểm lâm viên Dũng mua dưa vào thắp nhang cho mình nên họ quyết tâm gìn giữ, không để quả dưa bị rớt dọc đường” - kiểm lâm viên Tâm kể.
Trạm Kiểm lâm di tích Khu ủy miền Đông quản lý 3 ngàn hécta rừng và khu vực di tích rộng 28 hécta. Trạm phó Trạm Kiểm lâm di tích Khu ủy miền Đông Quách Thanh Bình cho biết trạm có 8 người, nhiệm vụ chính của trạm là bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã và khu di tích. Vì vậy, kiểm lâm viên trong trạm ngoài nhiệm vụ trực tiếp và phối hợp với các trạm khác trong Khu bảo tồn tuần tra, canh gác bảo vệ rừng, bảo vệ động vật hoang dã và phòng, chống cháy rừng…, còn là hướng dẫn viên cho du khách đến tham quan và quét dọn khu vực di tích hàng ngày. Công việc tuy vất vả nhưng mọi người rất vui và tự hào khi được cấp trên phân công nhiệm vụ.
Để có những kiểm lâm viên kiêm hướng dẫn viên di tích giỏi việc, Khu bảo tồn luôn có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo cho đội ngũ kiểm lâm viên 2 trạm kiểm lâm di tích: Khu ủy miền Đông và Trung ương Cục miền Nam về công tác hướng dẫn viên du lịch, cách giao tiếp… Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm di tích Trung ương Cục miền Nam Nguyễn Văn Nhân cho hay do nhiệm vụ đặc thù của trạm, kiểm lâm viên sau ca tuần rừng vất vả về còn phải tranh thủ tiếp khách, hướng dẫn du khách tham quan. “Khi có khách lưu trú qua đêm, anh em trong trạm phải chia lực lượng ra làm nhiệm vụ tuần tra rừng, đồng thời cắt cử người ở lại thức cùng khách để khám phá rừng về đêm, giao lưu văn nghệ” - ông Nhân bày tỏ.
Vốn là người có nhiều kinh nghiệm trong công tác kiểm lâm, hướng dẫn du khách, kiểm lâm viên Phạm Đình Tá (thuộc Trạm Kiểm lâm di tích Trung ương Cục miền Nam) tâm sự, qua nhiềm năm làm nhiệm vụ hướng dẫn du khách, đôi mắt của các kiểm lâm viên trong trạm rất nhạy bén trong việc phân biệt đâu là du khách với tấm lòng hướng về rừng, hướng về khu di tích và đâu là “lâm tặc” cố ý trà trộn vào rừng để dòm ngó, thăm dò.
Có những thời điểm, mọi người dồn lực lượng tiếp các đoàn khách quan trọng, nhưng “lâm tặc” không dễ đụng vào rừng, cũng như thú rừng vì khu vực rừng do đơn vị bảo vệ đã được các trạm kiểm lâm bạn hỗ trợ canh phòng. Chiều xuống, các cánh rừng ở Khu di tích Khu ủy miền Đông và Trung ương Cục miền Nam thêm u tịch bởi những nén hương, nấm mồ, câu chuyện tâm linh do các kiểm lâm viên tại các trạm kiểm lâm nơi đây kể lại. Mỗi gốc cây trong rừng, bước chân rậm rịch về đêm nơi chốn rừng thiêng do các anh gìn giữ, với chúng tôi nó mãi là kỷ niệm đẹp, niềm tự hào và tình yêu rừng không ranh giới của kiểm lâm viên các trạm kiểm lâm di tích thuộc Khu bảo tồn. (Gia Đình Và Pháp Luật 20/12) đầu trang(
"Ngoài tổ bảo vệ, chúng tôi mua các cây thép phi 20 - 25 dài hàng chục mét về bẻ khum chuồng gà, hàn tứ bề xung quanh để các đối tượng không thể nào cắt cây sưa được", ông Tú nói.
Hai cây sưa ở chùa làng thôn Phụ Chính (Chương Mỹ, Hà Nội) có độ tuổi hơn trăm năm, cao hàng chục mét, đường kính hơn 1m và phải 2-3 người ôm mới xuể nhưng đang có biểu hiện chết khô một phần do quá già.
Người dân ở đây cho biết, vào khoảng năm 2010, khi giá gỗ sưa tăng chóng mặt, thậm chí gỗ sưa còn được ví ngang vàng ròng thì các một số chủ buôn đã định giá 2 gốc này ít nhất là 150 tỷ đồng. Trong đó, cây sưa lớn có giá khoảng 100 tỷ và cây nhỏ giá khoảng 50 tỷ.
Ông Nguyễn Xuân Ngợi (Hội người cao tuổi của thôn) cho hay, năm 2010, khi một số cành sưa ở gốc lớn bị gãy đổ vì mưa bão, các cụ trong thôn họp bàn với người dân khai thác thêm phần cành sưa già cỗi bán đấu giá lấy tiền sửa đình, chùa và các công trình khác.
Ngày 13/9/2010, dân làng cúng làm lễ xin khai thác những phần gỗ mục ở 2 cành sưa, cộng với phần gãy đổ được 1,9 tấn.
Sau khi làm đầy đủ thủ tục, người dân thôn Phụ Chính xin ý kiến UBND xã và thông báo rộng rãi trong thời gian 1 tháng để bán đấu giá. Nhiều người buôn gỗ đã tham gia đấu giá và ông Dương Văn Thái (trú Đồng Kỵ, Bắc Ninh) trúng đấu 2,506 m3 với số tiền hơn 20,5 tỷ đồng.
Tuy nhiên, khi xe của ông Thái  đi qua địa bàn xã Đồng Phú thì bị Công an huyện Chương Mỹ bắt và thu giữ toàn bộ số gỗ. Số tiền hơn 20,5 tỷ đồng mà lái buôn trả vào tài khoản ngân hàng được chia thành 11 sổ tiết kiệm cũng bị cơ quan chức năng phong tỏa cho đến hiện nay.
Cũng theo ông Ngợi, chính vì giá trị quá lớn của hai gốc sưa và lần bán đấu giá với số tiền thu về hơn 20,5 tỷ trên mà ngôi làng vốn luôn bình yên này bắt đầu gặp không ít rắc rối, cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Liên tục những người lạ mặt, thậm chí xăm trổ đầy mình và các nhóm "sưa tặc" đã tìm đến thôn Phụ Chính, đêm ngày phục kích, chờ dân làng sơ hở để ra tay "chặt trộm" gỗ sưa.
Đến năm 2012, trong một cơn bão, lợi dụng nửa đêm, mưa to gió lớn, "sưa tặc" đã cắt cửa khóa cổng vào chùa và chặt 1 nhánh ở cây sưa lớn. Ngọn sưa bị cưa cụt lủn, dưới gốc chỉ còn mấy khúc gỗ nhỏ sót lại, bức tường xây bo xung quanh bị đập tan nát.
Từ sau sự việc đó, dân làng họp lại, thành lập ban bảo vệ và suốt 4 năm qua, cả làng đã thay phiên nhau trông giữ ngày đêm, bất kể nắng hay mưa.
Thậm chí, theo ông Trần Anh Tú, Tổ trưởng tổ bảo vệ 2 gốc gỗ sưa này, dịp cuối năm 2015, tối 30 Tết, khi được người dân thông báo là có một nhóm sưa tặc sẽ hoạt động thì cả tổ bảo vệ lại được tập hợp tuần tra.
Bên cạnh đó, hàng rào bảo vệ bằng bê tông xây trước đó cũng được thay thế bằng những thanh thép phi lớn hàn với nhau thành lồng, bao bọc toàn bộ thân cây.
"Trước đây, khi chưa mất thì không ai nghĩ đến bảo vệ nhưng đúng là mất bò với lo làm chuồng. Ngoài tổ bảo vệ thì chúng tôi cũng mua các cây thép phi 20 - 25 dài hàng chục mét về bẻ khum chuồng gà, hàn tứ bề xung quanh để các đối tượng không thể nào cắt cây sưa được", ông Tú nói.
Ngoài hàng rào sắt xoắn xung quanh hai gốc sưa cổ thụ này còn một lượt dây thép gai để không ai có thể trèo lên được.
Cũng theo ông Ngợi, ngoài việc liên tục phải thay phiên nhau bảo vệ cây gỗ sưa trăm tỷ, vào thời gian cao điểm giải quyết các "lùm xùm" xung quanh số gỗ sưa bị công an bắt giữ được đem ra đấu giá và người buôn gỗ muốn lấy lại số tiền đã bỏ ra mua thì nỗi bất an trong làng lại càng lớn.
Đã không ít lần các đối tượng xã hội đen tìm về làng và đe dọa, chửi bới các cụ, dân làng. Thậm chí, ông Vũ Viết Binh, nguyên Phó Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) còn nhận được không ít lời đe dọa.
"Có đối tượng còn vứt giấy vào nhà tôi với nội dung là nếu ông muốn yên thì dừng ngay việc này lại. Sau khi nhận được giấy, tôi có ý kiến và công an hình sự đã về tận nơi lập biên bản và bảo tôi yên tâm, cơ quan chức năng sẽ bảo vệ", ông Binh kể lại.
Còn ông Trần Anh Tú cũng chia sẻ, vào thời gian cao điểm của vấn đề gỗ sưa, chuyện bị các đối tượng lạ mặt về đe dọa, thậm chí chửi bới là bình thường và dù có thế nào thì các mọi người vẫn cương quyết bảo vệ cây, bảo vệ lợi ích của làng.
"Có báu vật trong làng vừa tự hào nhưng đi kèm theo đó cũng là không ít bức xúc, trăn trở chưa biết đến khi nào mới giải quyết xong...", ông Nguyễn Xuân Ngợi nói thêm.
Trước đó, ông Vũ Văn Tuyến, Trưởng thôn Phụ Chính cũng cho hay, sau vụ bị trộm chặt mất một phần gỗ sưa, lực lượng Công an xã Hòa Chính đã thắt chặt an ninh trong khu vực, điều tra số gỗ sưa bị mất trộm nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra thủ phạm.
Theo Tổng Cục Kiểm lâm, 2 cây sưa trong khuôn viên chùa Phụ Chính có tên khoa học là Dalbergia tonkinensis Prain thuộc loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IA. Hai cây này có độ tuổi khoảng 127 - 132 năm. (Trí Thức Trẻ/ Soha News 21/12) đầu trang(
Từ cảng An Thới (thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc, Kiên Giang), chiếc tàu gỗ chở nhóm cán bộ kỹ thuật Khu bảo tồn biển Phú Quốc nổ máy rời bến, trực chỉ hướng nam.
Vừa cách cảng vài trăm mét, tàu vào giữa lòng Kênh Nhứt, eo biển hẹp nối giữa đảo lớn Phú Quốc và Hòn Dừa, là gặp ngay những lượn sóng cao hơn 1m. Chiếc tàu trồi lên hụp xuống. Chiếc phao tiêu tròn như quả bóng, nặng hai người khiêng lúc lắc trên 
boong tàu.
Anh Nguyễn Linh Ngọc - trưởng phòng kỹ thuật Khu bảo tồn biển Phú Quốc - lấy ổ bánh mì ra gặm. Với dân đi biển, ra khơi không gặp sóng là mất đi phần thi vị.
Khoảng 20 phút sau tàu đến Hòn Rỏi và dừng lại ngoài khơi chờ ông Nguyễn Văn Hải (56 tuổi) đi xuồng máy ra để gia nhập đoàn.
Ông Hải tham gia nhóm dự án trồng tái tạo san hô của Khu bảo tồn biển Phú Quốc từ những ngày đầu trong vai trò là cộng tác viên cộng đồng. Sau đó tàu tiếp tục cưỡi sóng hướng ra Hòn Đụng, Hòn Móng Tay, vùng lõi của Khu bảo tồn biển Phú Quốc.
Càng trưa, gió càng thổi mạnh. Tàu căng mình theo từng con sóng.
Đến khoảng giữa Hòn Đụng và Hòn Móng Tay, anh Tha - nhân viên kỹ thuật Khu bảo tồn biển Phú Quốc - một tay cầm chiếc máy định vị GPS, một tay níu chặt thành tàu, miệng hô từng câu khẩu lệnh để người tài công đưa tàu vào đúng vị trí thả neo: Qua trái tí nữa! Tới chút nữa! Quăng!
Nhóm kỹ thuật ba người gồm: Ngọc, Tha, Đạt - do Ngọc làm trưởng nhóm - khẩn trương ra boong sau mặc quần áo thợ lặn, mang bình hơi, dụng cụ cá nhân rồi lần lượt nhảy ùm xuống biển.
Bên dưới, ở độ sâu 7m nước là một vườn ươm san hô rộng chừng 40m2 vừa được nhóm gây trồng cách đây vài tháng.
Vị trí này dòng nước chảy luồn qua giữa hai hòn đảo nên vận tốc khá mạnh. Công việc của nhóm hôm nay là kiểm tra khả năng sống của từng cá thể và trồng giặm những vị trí đã chết.
Dưới biển, các nhành (mỗi nhành là một cá thể) san hô được cấy chặt vào các giá đỡ là những khung nhựa gắn cố định xuống đáy biển. Hầu hết các nhành san hô đều sống và có dấu hiệu phát triển tốt với những ngọn chồi nhú lên trắng nõn. Cả nhóm đưa ngón tay cái ra hiệu vẻ hài lòng.
Anh Nguyễn Linh Ngọc cho biết để xây dựng được một vườn ươm san hô dưới đáy biển cần cả một thời gian dài. Giá thể để cấy san hô là những ống nhựa PVC được hàn thành những khung vỉ rộng khoảng 3m2, trên đó gắn sẵn những đoạn ống cao khoảng 12cm, cách nhau 40cm để đón những nhành san hô cấy vào.
“Bản thân san hô là động vật, rất nhạy cảm với môi trường nên địa điểm để đặt vườn ươm cũng phải thỏa những điều kiện rất khắt khe như nguồn nước không được ô nhiễm, không quá sâu và cũng không quá cạn, đặc biệt là tránh xa những tác động của con người” - anh Ngọc giải thích.
Theo anh Ngọc, việc chọn các rạn san hô để chiết nhành cấy nhân giống cũng phải theo những nguyên tắc nhất định.
Hiện nay, Khu bảo tồn biển Phú Quốc chỉ mới nhân giống đối với san hô gạc nai, là loài san hô cành. San hô gốc phải là những cụm đang phát triển tốt, nhiều nhánh. Khi chọn được cụm san hô gốc, các kỹ thuật viên sẽ cắt nhành giống dài không quá 
gang tay.
Những nhành san hô sau khi cắt được cho vào các thùng nước biển sục khí oxy và di chuyển tới khu vực chờ sẵn.
Tại đây, các kỹ thuật viên sẽ cấy từng nhành san hô giống vào các cọc chuẩn bị sẵn và cố định lại bằng đinh ốc, đảm bảo không bị xê dịch hoặc cuốn trôi do dòng chảy. Những nhành san hô sau khi được cấy vào vườn ươm sẽ bắt đầu cuộc sống tự lập.
“Cái khó của san hô là sự sinh trưởng của nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân và môi trường tự nhiên xung quanh, con người không thể tiếp sức theo kiểu bón phân, phun thuốc. Vì thế, nhiều cá thể sau khi cấy không thích nghi phải âm thầm chấm dứt sự sống” - anh 
Ngọc nói.
Cũng theo anh Ngọc, thông thường thời gian quyết định mỗi nhành san hô sau khi cấy có thành công hay không là trong khoảng 2-3 tuần đầu. Nếu không đủ sức duy trì sự sống thì nhành san hô sẽ tự ngả màu rồi chết 
sau đó.
Tuy nhiên, để tiếp tục lớn lên và tái sinh thành một cụm san hô mới lại là một chuỗi thời gian rất dài. Thời gian một nhành san hô gạc nai sống và trưởng thành trên giá thể tại vườn ươm kéo dài khoảng hai năm. Trong suốt thời gian này, các nhân viên kỹ thuật phải lặn theo dõi thường xuyên.
Sau hai năm, các cơ thể san hô đã sinh trưởng khỏe khoắn sẽ được tách khỏi vườn ươm để đưa tới trồng cố định tại các vùng rạn san hô đã bị phá. Và thời gian để các cá thể san hô bám rễ đâm chồi chính thức trở thành một “cư dân” mới trong lòng biển mất thêm khoảng ba năm nữa.
Các kết quả khảo sát được công bố cho thấy các rạn san hô ở Phú Quốc có tổng diện tích gần 500ha, hơn 250 loài, thuộc 49 giống với 14 họ san hô cứng và 19 họ san hô mềm.
Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy hệ sinh thái rạn san hô một số nơi ở Phú Quốc những năm qua cũng bị suy giảm đáng kể.
Về tự nhiên, theo Khu bảo tồn biển Phú Quốc, tình trạng biến đổi khí hậu những năm gần đây với biểu hiện là nắng kéo dài khiến nhiệt độ nước biển ven bờ các hòn đảo nóng lên làm chết san hô.
Trong khi đó, việc khai thác du lịch của con người như lặn biển ngắm san hô cũng tác động đáng kể khi nhiều tàu chở du khách quăng neo ngay trên vùng rạn san hô, hay du khách tiện tay hái san hô đem về.
Nhưng đáng kể nhất là họạt động đánh bắt hải sản diễn ra ngay trên các vùng biển có rạn san hô. Ước tính có hơn 150 loài cá thuộc 31 họ sinh sống ở các rạn san hô Phú Quốc, trong đó nhiều họ cá có giá trị kinh tế cao như cá mú (13 loài), cá mó (11 loài), cá dìa (8 loài), cá hồng (7 loài)... Chưa kể hơn 130 loài thân mềm (gồm các loài ốc, trai, sò,...) và hàng chục loài da gai (hải sâm) cũng có mặt tại đây.
Ông Nguyễn Văn Hải vốn là một thợ lặn bắt cá hàng chục năm kinh nghiệm ở các vùng biển Hòn Thơm, nay đã giải nghệ.
Ông kể: “Cá mú thường sống trong rạn. Dân lặn mang theo lưới, lặn xuống phát hiện cá là co chân vừa chạy vòng tròn vừa vung lưới ra để vây. Lúc đó chỉ có chạy thôi, đạp lên đá, lên san hô mà chạy cho kịp, chậm chân là không kịp với nó”.
Ông Hải thừa nhận mình đã có thời đối xử với san hô như thế. “Hồi đó chỉ lo chuyện con cá miếng cơm, đâu kịp nghĩ rằng khi san hô không còn thì cá cũng bỏ đi, đâu còn lại gì cho con cháu. Giờ mới thấy tiếc!” - ông Hải nói.
Có lẽ thế mà mấy năm nay ông đã chọn việc tham gia hỗ trợ nhóm dự án trồng san hô làm niềm say mê sau khi bỏ nghề lặn cá.
Theo ông Hải, đáng lo ngại là những năm gần đây dân lặn còn sử dụng cả hóa chất để bơm vào các hang hốc, rạn san hô làm các loài cá bị tê liệt tạm thời để bắt sống. San hô bản chất là động vật nên rất nhạy cảm với hóa chất, vì thế hình thức đánh bắt cá này là cực kỳ nguy hiểm.
“Chi phí để trồng 1m2 rạn san hô khoảng 3 triệu đồng và mất khoảng năm năm. Một rạn san hô bị tàn phá không chỉ phải tốn công tốn của trồng lại mà cả hệ sinh thái, nguồn lợi hải sản kèm theo cũng mất đi. Đó là một cái giá rất lớn” - anh Nguyễn Linh Ngọc nói.
Theo ông Hà Thế Phong - giám đốc Khu bảo tồn biển Phú Quốc, các hoạt động du lịch lặn biển ngắm san hô, đánh bắt hải sản có xâm hại trực tiếp đến các rạn san hô trong phạm vi khu bảo tồn biển diễn ra khá phổ biến.
Nhiều nhất là tình trạng ngư dân không am hiểu, vì áp lực mưu sinh mà vô tình hủy hoại san hô. Ngoài ra, còn có việc du khách bẻ san hô để chụp ảnh hoặc mang về.
Tuy nhiên, khu bảo tồn biển không có thẩm quyền xử phạt các vi phạm này. Muốn xử phạt phải kết hợp với các cơ quan chức năng khác như UBND, cơ quan quản lý về tài nguyên - môi trường địa phương, biên phòng...
“Các cơ quan có phối hợp kiểm tra nhưng do kinh phí hạn hẹp nên chỉ làm theo đợt, theo kế hoạch nên hầu như không phát hiện, không xử lý được. Đến giờ chưa có trường hợp xâm hại san hô nào bị xử phạt” - 
ông Phong nói. (Tuổi Trẻ 20/12) đầu trang(
Giá cá sấu ở ĐBSCL hiện chỉ còn 20.000 đồng/kg, cao hơn đôi chút so với... giá cá làm thức ăn cho cá sấu. Người nuôi cá sấu lâm vào tình cảnh lao đao, bán thì lỗ nặng, còn không bán thì không đủ chi phí để tiếp tục nuôi.
Huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được xem là thủ phủ của nghề nuôi cá sấu với số lượng hơn 200.000 con. Đã có nhiều hộ đổi đời, thậm chí thành tỉ phú nhờ nuôi loài động vật hoang dã này. Tuy nhiên, hiện giá cá sấu thương phẩm quá thấp, không tiêu thụ được nên lượng cá sấu đến lứa bán còn tồn trong dân lên cả trăm ngàn con.
Ông Nguyễn Văn Dương (ấp Long Hải, thị trấn Phước Long, huyện Phước Long), người có thâm niên hơn 10 năm nuôi cá sấu, cho biết ông chưa từng chứng kiến cảnh giá cá sấu thương phẩm lại rớt thảm hại như hiện nay. 150 con cá sấu của ông đã tới lứa bán nhưng đành nằm chờ vì thương lái không chịu thu mua. Cách đây gần một tháng, thương lái có vào coi chuồng cá sấu của ông và ngã giá 100.000 đồng/kg, sau đó sụt xuống 80.000 đồng/kg, 50.000 đồng/kg và hiện chỉ còn 20.000 đồng/kg.
“Đến nước này thì đành chịu chứ bán ra chỉ có lỗ, không giải quyết được gì. Nhiều người vì không trang trải nổi tiền thức ăn, vệ sinh chuồng trại cho cá sấu đành bán tháo nhưng thương lái vẫn không chịu mua. Cứ đà này, không bao lâu nữa người nuôi sẽ đổ nợ” - ông Dương than thở.
Anh Nguyễn Văn Quýt (xã Phước Long, huyện Phước Long) cho biết cách đây 3 tháng, anh bấm bụng bán 50 con cá sấu với giá 90.000 đồng/kg nhưng vẫn bị lỗ đứt gần 20 triệu đồng. Giờ anh còn 60 con chưa bán được do giá cá sấu xuống quá thấp. “Tôi định bán hết để chuyển đổi mô hình vì không biết bao giờ giá mới tăng trở lại” - anh Quýt chán nản.
Theo ông Lê Văn Tần, Phó Chủ tịch UBND huyện Phước Long, thị trường tiêu thụ cá sấu hiện nay chủ yếu là Trung Quốc, xuất theo đường tiểu ngạch. Giá cá sấu thương phẩm tại thị trường này lên tới gần 200.000 đồng/kg. Tuy nhiên, do đa số người nuôi tự phát, số hộ nuôi ngày càng tăng, lại chủ yếu bán qua thương lái chứ không còn đường tiêu thụ nào khác, không liên kết với nhau để định giá cho sản phẩm của mình, từ đó thương lái lợi dụng, mặc sức thao túng thị trường, chèn ép giá. “Với giá cá sấu như hiện nay, người dân bán cũng “chết” mà không bán cũng “chết”. Bài toán đầu ra cho cá sấu hiện tại thật sự quá khó và quá tầm đối với địa phương” - ông Tần lo ngại.
Ông Nguyễn Văn Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bạc Liêu, cho biết đơn vị vừa có văn bản gửi Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện khuyến cáo bà con nông dân thận trọng trong việc nuôi cá sấu, không nên đầu tư nuôi mới.
“Bạc Liêu có lợi thế là có trang trại được Cites (Công ước Quốc tế buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp) công nhận cho phép mua bán cá sấu quốc tế nhưng hiện chỉ có thị trường Trung Quốc nên chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ cho nông dân. Sở Công Thương tỉnh đang tìm thêm các thị trường khác, bảo đảm các trang trại Cites này xuất khẩu nhiều hơn, từ đó hy vọng giá cá sấu sẽ tăng” - ông Phúc cho biết.
Theo ông Lê Văn Tần, việc xem xét thành lập hiệp hội chăn nuôi cá sấu là vấn đề cần đặt ra. Hiệp hội này không chỉ giúp cơ quan chức năng làm tốt vai trò định hướng trong tổ chức sản xuất, hoạch định kế hoạch phát triển nghề chăn nuôi động vật hoang dã gắn với công nghệ chế biến mà còn làm tốt hơn công tác quản lý, thay vì để nông dân phát triển chăn nuôi tự phát như lâu nay.
Trước thực trạng giá cá sấu thấp chưa bán được, Chi cục Kiểm lâm đã khuyến cáo bà con nếu muốn giữ đàn cá chờ giá thì cần hạn chế cho cá sấu ăn để tiết kiệm chi phí bởi cá sấu có thể nhịn ăn trong thời gian dài. Bên cạnh đó, chi cục phối hợp với các ngành hữu quan, các địa phương rà soát, kiểm tra lại chuồng trại ở các hộ nuôi để phòng ngừa do giá rẻ, bà con lơ là để cá sấu sổng chuồng, gây nguy hiểm cho cộng đồng. (Người Lao Động 20/12) đầu trang(
Trong ngày Gấu Việt Nam 20-12, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cùng các tình nguyện viên trong Mạng lưới Bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) của ENV đã tổ chức một chuỗi các hoạt động nâng cao nhận thức tại 15 thành phố lớn trên cả nước.
Mục tiêu của các hoạt động này là nhằm khuyến khích cộng đồng cùng hành động để chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu lấy mật tàn nhẫn và phạm pháp.
Trong chuỗi hoạt động được tổ chức tại các trường đại học, siêu thị, chợ, công viên và trung tâm thương mại hôm nay, hàng nghìn người dân đã thay mặt các thành viên trong gia đình mình cam kết “Không sử dụng mật gấu và các sản phẩm từ gấu”.
Trong 10 năm qua, nhờ có nhiều nỗ lực của các cơ quan chức năng, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng mà tình trạng nhốt gấu lấy mật gấu tại Việt Nam đã và đang dần được xóa bỏ. Số lượng gấu nuôi nhốt tại các cơ sở đã giảm từ 4.300 cá thể vào năm 2005 xuống còn khoảng 1.200 cá thể hiện nay. Theo một khảo sát của ENV năm 2014, nhu cầu tiêu thụ mật gấu cũng giảm mạnh tới 61% so với 5 năm trước đó.
Khi hoạt động kinh doanh mật gấu đang dần bị xóa bỏ, nhiều chủ trại gấu cũng đã chủ động tình nguyện từ bỏ hoạt động kinh doanh này. Chỉ trong năm nay, hàng chục cá thể gấu đã được chuyển giao cho Nhà nước. Đầu tháng 12 vừa qua, một chủ nuôi gấu ở Đác Lắc đã quyết định tự nguyện chuyển giao sáu cá gấu đã nuôi nhốt hơn 10 năm cho cơ quan chức năng. .
“Số lượng các trường hợp tự nguyện chuyển giao gấu ngày càng nhiều là một tín hiệu rất đáng mừng. Điều này cho thấy các chủ nuôi đã nhận thức hoạt động nuôi nhốt gấu lấy mật đang dần đi tới hồi kết” bà Nguyễn Thị Phương Dung, Phó Giám đốc ENV nhận định. “Những trang trại nuôi nhốt gấu sẽ không còn lý do tồn tại nếu mọi người kiên quyết nói không với việc sử dụng mật gấu. Và chỉ có như vậy, loài gấu trong tự nhiên mới không còn phải đối mặt với nguy cơ bị săn bắt nhằm phục vụ cho hoạt động trích hút mật.”
Trước đó, vào tháng 11, Vụ bảo tồn thiên nhiên thuộc Tổng cục lâm nghiệp đã hợp tác với một số tổ chức phi chính phủ (Hiệp hội Bảo vệ Động vật thế giới, tổ chức Four Paws Việt Nam, Four Paws International và ENV) tổ chức Hội thảo nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và thúc đẩy những nỗ lực tại các địa phương để sớm chấm dứt tình trạng nuôi nhốt gấu tại Việt Nam. Hội thảo có sự tham gia của đại diện Chi cục Kiểm lâm từ các địa phương, những điểm nóng về nuôi nhốt gấu. (Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã vào cuộc quyết liệt, đấu tranh, triệt phá nhiều vụ vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã (ĐVHD) và mẫu vật ĐVHD (ngà, sừng, xương, da...). Tuy nhiên, loại tội phạm này vẫn chưa giảm mà ngày càng có nhiều thủ đoạn tinh vi hơn, vì thế cần có những giải pháp hiệu quả để đấu tranh, ngăn chặn.
Tại Hội thảo “Chia sẻ kinh nghiệm tố tụng các vụ án về ĐVHD" do Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Trường Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát TP Hồ Chí Minh phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức mới đây, ông Hoàng Thành, đại diện Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) cho hay: Chỉ trong vòng 5 năm (2009-2013), Việt Nam đã phát hiện 152.851 vụ vi phạm có liên quan đến động vật hoang dã, trong đó có 129.930 vụ xử phạt hành chính, 1.520 vụ tiến hành truy tố (chiếm 1% số vụ vi phạm), 227 vụ có tuyên án (chiếm 0,15% số vụ vi phạm).
Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Nam Phạm Đăng Anh cho rằng: Bộ luật Hình sự quy định về xác định giá trị của ĐVHD và mẫu vật ĐVHD để tiến hành xử lý hình sự. Tuy nhiên, ĐVHD có nhiều loại, sinh sống ở nhiều nơi và cũng được phát hiện ở nhiều nơi. Khi phát hiện rồi lại rất khó định giá bởi ĐVHD và mẫu vật ĐVHD có con lớn con nhỏ, rồi chủng loại, nhóm động vật cũng khác nhau... Do đó, dù đã có quy định về định giá nhưng định giá như thế nào thì chưa có hướng dẫn cụ thể khiến cơ quan tố tụng xử lý các hành vi buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD gặp rất nhiều khó khăn.
Bà Phạm Thị Mến, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hải Phòng cho biết: Từ năm 2012 đến nay, TP Hải Phòng đã khởi tố 10 vụ án liên quan đến ĐVHD. Trong đó, cơ quan điều tra và Cục Hải quan thành phố khởi tố 9 vụ án vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.
Các đối tượng phạm tội bằng nhiều phương thức, thủ đoạn khác nhau như: Tạm nhập tái xuất, để lẫn hàng hóa ĐVHD, mẫu vật ĐVHD với nhau, vận chuyển trong xe đông lạnh, công-ten-nơ chở cùng với các hàng hóa phức tạp khác. Để đánh lừa việc kiểm tra của hải quan, các đối tượng đã chọn mặt hàng có thể gây nhầm lẫn và cất giấu ngà voi trong các sừng bò lớn... Khi cơ quan điều tra triệu tập, ghi lời khai, các cá nhân là đại diện chủ hàng có tên trong vận đơn đều từ chối nhận hàng và khẳng định gửi nhầm hoặc công ty không ký hợp đồng với công ty nước ngoài nào.
Hiện nay, quá trình bảo quản, giám định ADN các sản phẩm ĐVHD có nhiều bất cập, ảnh hưởng tới việc xử lý các vụ án vận chuyển, buôn bán ĐVHD trái phép. Đối với sản phẩm của ĐVHD và động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ thì khi thu giữ phải được niêm phong để tiến hành giám định ADN nhằm xác định đúng loài, chủng loại để có căn cứ xử lý.
Tuy nhiên, thực tế gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo quản, lưu giữ sản phẩm vì trong nhiều trường hợp, việc bảo quản, lưu giữ cần được thực hiện trong điều kiện đặc biệt với những thiết bị như: Tủ cấp đông, tủ lạnh đạt tiêu chuẩn, mà không phải cơ quan tiến hành tố tụng nào cũng có. Một khó khăn, bất cập nữa phải kể tới là những loài ĐVHD không có ở Việt Nam, chỉ có ở nước ngoài thì việc giám định ADN cũng không hề đơn giản.
Việc định giá theo thị trường phụ thuộc vào thị hiếu mỗi nơi, mỗi vùng khác nhau. Vì vậy, hiện quy định giá ĐVHD để làm căn cứ xác định hành vi, mức độ vi phạm của các đối tượng buôn bán, vận chuyển ĐVHD hay săn bắt trái phép rất khó. Một khó khăn, bất cập nữa là lực lượng mỏng, ngân sách đầu tư trang thiết bị để giám định vẫn còn hạn chế. Việc phát hiện, bắt giữ các vụ buôn bán, vận chuyển ĐVHD và mẫu vật ĐVHD đã khó, việc xử lý còn khó hơn.
Để khắc phục tình trạng này, ông Phạm Đăng Anh, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Quảng Nam cho rằng, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể việc định giá ĐVHD để các cơ quan tố tụng cũng như cơ quan chức năng thực hiện việc xử lý theo căn cứ pháp luật, để bảo đảm xử lý nghiêm, đúng người, đúng tội, tránh “bỏ lọt” tội phạm, tránh gây oan sai. Cùng với đó, cần phải tập huấn tăng cường kiến thức, kinh nghiệm cho đội ngũ tham gia tố tụng về xử lý các hành vi buôn bán, vận chuyển ĐVHD trái phép; tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức.
Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn thẳng thắn: Đúng là việc quy định về định giá ĐVHD và mẫu vật ĐVHD để xác định mức độ các hành vi vi phạm là không hề đơn giản. Theo quy định của pháp luật hiện hành, để định giá ĐVHD và mẫu vật ĐVHD cần có hội đồng liên ngành định giá ở các địa phương. Nếu như các cơ quan bảo vệ pháp luật linh hoạt, chủ động trong việc phối hợp định giá ĐVHD và mẫu vật ĐVHD thì vẫn có thể xử lý được.
Tuy nhiên, một số đại diện của các viện kiểm sát lại cho rằng, nên thay việc định giá ĐVHD để xử lý hình sự bằng việc xác định số lượng cá thể, các bộ phận cấu thành cá thể ĐVHD làm căn cứ để xác định hành vi phạm tội.
Bà Bùi Thị Hà, Phó giám đốc phụ trách chương trình Chính sách-Pháp luật của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên Việt Nam (ENV) cho hay: Để bảo vệ các loài ĐVHD nguy cấp, quý hiếm như: Hổ, tê giác và tê tê, Việt Nam cần điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng cầm đầu các đường dây buôn bán ĐVHD trái phép. Đặc biệt, đã đến lúc chúng ta cần gắn trách nhiệm của chính quyền địa phương với việc kiểm soát, ngăn chặn, chấm dứt tình trạng tiêu thụ ĐVHD trái phép. (Quân Đội Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Ngày 20/12, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kon Plông đã tiếp nhận từ Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plông toàn bộ hồ sơ, tang vật vụ án hình sự vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm để điều tra, làm rõ theo thẩm quyền.
Trước đó, ngày 16/12, ông Võ Minh Văn- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kon Plông đã ra Quyết định số 04/QĐ-KTVAHS-KL khởi tố vụ án hình sự vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Theo hồ sơ vụ án, ngày 22/11/2016, Hạt Kiểm lâm Kon Plông tiếp nhận từ ông Trần Quốc Việt (giáo viên Trường Phổ thông Trung học cơ sở Măng Bút) 1 cá thể gấu ngựa (tên khoa học Ursus thibetanus), nặng 24,4 kg và 1 cá thể voọc Chà vá chân xám (tên khoa học Pygathrix cinerea) nặng 9,4 kg.
Cả 2 cá thể động vật hoang dã này đều trong tình trạng đã chết, không còn nội tạng và nằm trong danh mục nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Ông Trần Quốc Việt cho biết: ngày 20/11/2016, có 2 người dân địa phương (không rõ họ tên, địa chỉ) đến bán cho ông 2 cá thể động vật hoang dã này. Nhận thấy đây là loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm, Nhà nước cấm mua bán dưới mọi hình thức, ông Việt vận động người dân giao nộp cho cơ quan chức năng.
Sau khi tiếp nhận, Hạt Kiểm lâm huyện đã gửi hình ảnh cho Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) giám định loài và quyết định khởi tố vụ án hình sự sau khi nhận được kết quả giám định. (Báo Kon Tum 20/12) đầu trang(
Ngày 20/12, Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết đang truy tìm chủ tài khoản Facebook có tên “Điên Tài” đã đăng nhiều bức hình hành hạ, săn bắt động vật hoang dã và chim trời để có hướng xử lý.
Trước đó, vào  ngày 10/12, chủ tài khoản Facebook cá nhân có tên “Điên Tài” (được cho là của nam thanh niên trú tại huyện Hương Khê – Hà Tĩnh) đã đăng tải  dòng status “Tôi thích cuộc sống làng quê nó ấm áp, bình dị và vui vẻ” kèm theo những bức ảnh săn bắt nhiều động vật hoang dã của chủ tài khoản Facebook đã làm cộng đồng mạng hết sức bất bình và bức xúc.
Trong số này có bức ảnh một người dùng tay bóp cổ một con khỉ đang nằm trong bao tải, người bên cạnh giữ chặt chân con vật. Tiếp đó là hình ảnh một nhóm thanh niên dùng súng tự chế bắn chết chim trời, kéo cánh ra hai bên.
Ngay sau khi đăng những bức ảnh trên, chủ tài khoản facebook đã vấp phải những sự “phản pháo” của cộng đồng mạng, vì hành động giết động vật dã man và kèm những lời cảnh báo sẽ bị phạt. Tuy nhiên, chủ tài khoản facebook trên còn tỏ ra hả hê, thách thức và cho rằng đây chỉ số lượng nhỏ. (Pháp Luật Việt Nam 21/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Khó khăn do biến đổi khí hậu và giai đoạn chuyển đổi cơ chế đang đòi hỏi ngành lâm nghiệp phải hành động quyết liệt, sáng tạo để giữ vững tăng trưởng và đem lại giá trị kinh tế thực thụ từ mục tiêu phát triển rừng bền vững.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Hà Công Tuấn cho biết điều này trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Chính phủ về câu chuyện tăng trưởng của ngành lâm nghiệp.
Ông Hà Công Tuấn cho biết: Theo nhìn nhận của ông, ngành lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng 6,5% trong năm nay là đã về đích thành công. Mặc dù thị trường khó khăn nhưng xuất khẩu vẫn tăng trưởng dương (kim ngạch ước đạt 7,3 tỷ USD).
Tuy nhiên cũng phải nhìn thẳng vào thực tế con số tăng trưởng này là đang có xu hướng tụt lùi so với năm 2015 khi xuất khẩu năm 2016 cũng chỉ tăng được 0,8% chứ không đạt 1% như kỳ vọng ban đầu.
Nguyên nhân chủ yếu khiến tăng trưởng và xuất khẩu của ngành vẫn còn “cầm chừng” thì về khách quan, chúng ta thấy tác động của những hiện tượng thời tiết cực đoan rất rõ. Năm 2016, hạn hán, rét đậm, rét hại không chỉ gây thiệt hại cho trồng trọt chăn nuôi mà còn gây thiệt hại rất lớn cho cho lâm nghiệp. Từ phát triển những khu rừng đã có sẵn, đến việc chuẩn bị giống để tái tạo cho rừng cũng rất khó khăn trong điều kiện bất lợi như đã nói.
Cùng với đó, chúng ta phải thích ứng với các điều kiện của thị trường, thị trường luôn biến động mà sản xuất phải theo chuỗi, cần phải kiểm soát được nguồn gỗ, cả trong nước và nhập khẩu, theo các chương trình quản lý nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Đặc biệt, chúng ta luôn phải thận trọng khi hội nhập kinh tế với các hiệp định về truy xuất nguồn gốc gỗ hợp pháp hoặc các rào cản phi thuế quan trong hàng hóa lâm sản. Hàng hóa muốn xuất khẩu được phải rà soát lại quản lý theo chuỗi.
Yếu tố thứ ba phải kể đến đó là kinh phí hạn hẹp. Muốn thực hiện thành công mục tiêu bảo vệ phát triển rừng, chúng ta không thể nhìn vào nguồn vốn ngân sách mà cái chính là phải giải quyết cơ chế, chính sách để xã hội hóa đầu tư lâm nghiệp. Hiện nay đầu tư của cả xã hội vào lâm nghiệp cũng lớn nhưng vẫn còn nhiều dư địa. Do đó, cần xác định cần dành kinh phí của Nhà nước để đầu tư cho rừng phòng hộ và đặc dụng.
Một quyết định rất quan trọng với ngành lâm nghiệp trong năm 2016 đó là quyết định đóng cửa khai thác rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ. Việc này cũng tạo áp lực cho việc bảo vệ rừng. Nhưng với yêu cầu và quyết tâm thực hiện mục tiêu đó, ngành lâm nghiệp phải bảo đảm giảm được ít nhất 20% số vụ vi phạm và giảm 50% thiệt hại do các hành vi xâm hại rừng trái pháp luật gây ra. Nếu không đạt mục tiêu này thì công tác bảo vệ rừng coi như thất bại. Để làm được điều này, cần phải xem xét kỹ lưỡng công tác tổ chức cán bộ.
Việc đóng cửa khai thác rừng tự nhiên cũng đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa việc trồng rừng thay thế. Hiện nay, chúng ta mới đạt 55% chỉ tiêu trồng rừng thay thế. Đáng mừng là trong số đó, các công trình thủy điện đã trồng thay thế theo yêu cầu đến năm 2016 đạt 91%, phần còn lại đã nộp tiền vào các quỹ bảo vệ phát triển rừng của các tỉnh.
Tuy nhiên, số lượng trồng rừng thay thế bằng vốn ngân sách đến giờ đạt rất thấp nên phải có cơ chế để xử lý kinh phí đầu tư cho nhiệm vụ này.
Trong nhiệm vụ tái cơ cấu ngành, phải xác định phải sắp xếp trên thực tế 134 công ty lâm nghiệp mà Thủ tướng đã phê duyệt phương án tổng thể. Đây không chỉ là khó khăn với Tổng cục Lâm nghiệp mà còn liên quan đến việc thực hiện ở địa bàn các địa phương do việc sắp xếp đất đai, quản lý được tài nguyên rừng phải làm đồng bộ. Nếu chỉ sắp xếp các công ty lâm nghiệp, còn phần diện tích đất và rừng còn lại nếu để vô chủ, đất và rừng sẽ bị xâm lấn. Chính vì vậy, ngoài việc ngành lâm nghiệp (chủ trì) thì cần sự vào cuộc thực sự của địa phương.
“Chúng tôi xác định ngành lâm nghiệp phải được xã hội hóa cao độ. Theo tinh thần đó Bộ NN&PTNT được giao sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 theo hướng điều chỉnh các hành vi xã hội theo chuỗi của ngành lâm nghiệp (trồng rừng-sản xuất-kinh doanh-thị trường). Chúng tôi cũng mong muốn nhận được sự đồng tình của xã hội để quản lý theo chuỗi, từ đó, Luật Lâm nghiệp “phủ” được các khâu từ tạo ra rừng, sản xuất, kinh doanh và thị trường. Có luật theo chuỗi đó, chúng ta có thể hạn chế được việc lợi dụng các chính sách nhằm mưu lợi cá nhân hoặc tạo ra “tăng trưởng bong bóng” thành tích nhưng không có lợi cho ngân sách mà còn gặp rủi ro về thương mại...” ông cho hay. (Báo Chính Phủ 21/12) đầu trang(
Tại tỉnh Lai Châu, nhờ có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh đã góp phần bảo vệ và phát triển rừng (BVPTR) bền vững.
Đồng thời góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân tham gia nhận khoán BVPTR.
Theo UBND tỉnh Lai Châu, 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, lợi ích có thể nhìn thấy rõ là tăng độ che phủ rừng từ 41,6% lên 45,4% năm 2015, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng khả năng phòng hộ của rừng, điều hòa khí hậu, giữ và cung cấp nước cho các nhà máy thủy điện, nước sinh hoạt và sản xuất.
Chính sách chi trả DVMTR còn giúp xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân. Cụ thể, thu nhập bình quân của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng rừng đạt 2 – 2,6 triệu đồng/năm.
Hàng năm, Quỹ BVPTR còn phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, kê khai, đàm phán và ký kết hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR với các nhà máy thủy điện sử dụng DVMTR có lưu vực tại tỉnh. Đến nay, đã ký kết với 6/6 nhà máy thủy điện như Chu Va 12, Nậm Lụng, Nậm Cát, Nậm Mở 3, Bản Chát và Nậm Na 2.
Từ đó đôn đốc, tiếp nhận tiền trồng rừng thay thế của các đơn vị. Thu ủy thác tiền DVMTR được hơn 712 tỷ đồng. Thu tiền trồng rừng thay thế được 83/123 tỷ đồng. Đồng thời, rà soát diện tích rừng, xác định chủ rừng, xây dựng phương án khoán bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR với diện tích chi trả 429.676ha (năm 2015).
Triển khai hỗ trợ 13 chương trình dự án chi phí quản lý nguồn DVMTR với tổng kinh phí 16 tỷ đồng từ nguồn DVMTR như hỗ trợ 13 chốt gác bảo vệ rừng; hỗ trợ 3 trạm quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ xây dựng vườn ươm cây nông nghiệp, lâm nghiệp, ăn quả…
Năm 2016, UBND tỉnh đã phê duyệt 14 dự án trồng rừng thay thế với trên 4.200ha. Đến nay, công tác trồng rừng đang được triển khai tốt với gần 3.000ha rừng đã trồng.
Tại huyện Mường Tè, rừng không chỉ điều hòa khí hậu mà còn giữ và cung cấp nước cho 3 nhà máy thủy điện trọng điểm là Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình…Toàn huyện có diện tích đất lâm nghiệp 257.930ha, chiếm 96,2% diện tích tự nhiên. Diện tích rừng 167.704ha, trong đó rừng đặc dụng 21.207ha, phòng hộ 75.917ha, rừng sản xuất 70.579ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,6%.
Ông Tống Thanh Dương, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Tè cho biết, để thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR, huyện đã tổ chức 68 hội nghị tuyên truyền cấp xã cho trên 1.400 lượt người. Tổ chức 412 cuộc họp bản với trên 19.000 lượt người tham gia. Xây dựng được 88 biển tuyên truyền ở các khu rừng do các xã, thị trấn quản lý, phát tờ rơi và tranh bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng...
Xã Tá Bạ (huyện Mường Tè) năm 2015 đã nhận được 1,26 tỷ đồng tiền chi trả DVMTR từ nguồn của thủy điện Hòa Bình, Sơn La và các thủy điện nhỏ. Theo ông Phùng Xi Che, Bí thư Đảng ủy xã, xã đã thành lập tổ chuyên trách của từng bản, từng dòng họ làm nhiệm vụ BVPTR. Đồng thời, phát động phong trào “4 tại chỗ”, phát hiện lửa từ xa, tổ chức cứu chữa kịp thời. Cùng với đó, giao trách nhiệm quản lý đến tận khu rừng, vận động thực hiện hương ước, quy ước về rừng.
Theo ông Dương, những năm qua, người dân trong huyện đã ý thức hơn trong việc BVPTR. Công tác tuần tra bảo vệ rừng đã được thực hiện, các bản đã xây dựng hương ước, quy ước bảo vệ rừng của thôn, bản. Nhờ đó, độ che phủ rừng của Mường Tè tăng từ 51,9% năm 2011 lên 62,6% năm 2015.
Cũng nhờ đó, số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị thiệt hại do cháy giảm rõ rệt (từ 19 vụ năm 2011 xuống còn 3 vụ năm 2015). Trên địa bàn huyện không có tụ điểm lớn về phá rừng, kinh doanh lâm sản trái pháp luật.
Cũng nhờ chính sách này, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, nhiều hộ đã sử dụng tiền chi trả DVMTR để mua cây giống, gia súc, đầu tư cho con cái ăn học. Ông Vàng Hà Chừ ở bản Lạ Pê I, xã Tá Bạ cho biết, năm 2015, gia đình ông đã nhận được trên 16 triệu đồng tiền chi trả DVMTR. Từ số tiền này, ông mua sắm đồ dùng tiện nghi, trang trải sinh hoạt, mua thêm phân bón sản xuất, nuôi các con ăn học.
Mới đây, tại cuộc tổng kết 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, ông Lê Trọng Quảng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu nhấn mạnh, thời gian tới các địa phương cần tiếp tục củng cố, kiện toàn BQL rừng phòng hộ, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình để phát huy được hiệu quả công việc.
Đồng thời, nghiên cứu phương án sáp nhập hay không sáp nhập BQL rừng phòng hộ với Hạt Kiểm lâm. Tăng cường công tác rà soát, thanh, kiểm tra các đơn vị quản lý rừng, diện tích rừng chi trả và trồng mới. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/12) đầu trang(
Dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao được khoe khoang xây dựng ở xã Ngọc Thanh Thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc. Thế nhưng, chính quyền sở tại tỏ ra bất ngờ khi được nhắc đến tên dự án này.
Như báo Người Đưa Tin đã đăng tải ở kỳ trước, từ những năm 2011, nhiều trang mạng về BĐS liên tiếp đăng tải lời mời chào, rao bán, thậm chí bán trả góp cho tất cả những ai có nhu cầu mua đất trong quần thể “Dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải” tại khu vực hồ Thanh Niên, thôn Thanh Cao, xã Ngọc Thanh (Phúc Yên, Vĩnh Phúc).
Chính Vinalinks được giới thiệu là chủ đầu tư cùng những lời giới thiệu có cánh về dự án “4 sao” này như : “Quần thể khu nghỉ dưỡng – biệt thự sinh thái Casablanca Villas mang đầy đủ yếu tố thân thiện và văn minh, gắn kết hài hòa với thiên nhiên... bạn còn được hưởng tiện nghi hàng đầu thế giới với những dịch vụ hoàn hảo như: bãi đỗ xe, bể bơi, quầy bar, khu vui chơi ngoài trời, sân chơi trẻ em, bến thuyền, nơi câu cá, khu thể thao đa năng, sân golf mini cao cấp…”.
Đáng nói khách hàng có thể mua các khu đất trong dự án với những mức giá khác nhau từ 3,8 triệu đồng đến 8 triệu đồng/m2. Ngoài ra, nếu khách hàng quan tâm đến các lô khác có thể chọn lô cụ thể “đồng giá” 5 triệu đồng/m2. Chính vì giá rất “vừa” nên không ít khách hàng xuống tiền cho công ty Vinalinks dưới hình thức “góp vốn” đầu tư.
Trao đổi với PV báo Người Đưa Tin, ông Lưu Tiến Chung, Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Thanh (Phúc Yên, Vĩnh Phúc) cho biết, trên địa bàn xã Ngọc Thanh cũng có nhiều dự án xây dựng biệt thự khu nghỉ dưỡng. Các dự án này đều được các cấp chính quyền địa phương cấp phép để chủ đầu tư tiến hành xây dựng.
Tuy nhiên tại địa phương không có dự án nào mang tên “Khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải” do công ty Cổ phần công nghiệp Việt Nam liên kết làm chủ đầu tư. Về mặt quản lý tại chính quyền, địa phương không có bất kỳ thông tin nào về dự án này.
Ông Chung cũng cho biết thêm, tại diện tích 3,7ha tại khu vực hồ Thanh Niên thuộc thôn Thanh Cao xã Ngọc Thanh (Phúc Yên, Vĩnh Phúc) là đất lâm nghiệp, chỉ được cải tạo trồng rừng và theo quy định không được cải tạo quá 30% diện tích đất rừng để làm mô hình nông lâm ngư nghiệp kết hợp. Vị trí đất đó, hoàn toàn không có dự án nào.
Theo quan sát thực tế của PV, vào đầu tháng 12/2016, khu đất 3,7ha tại khu vực Hồ Thanh Niên thôn Thanh Cao có tầm nhìn thoáng đãng và đẹp. Phía trước có hồ nước, có một quả đồi thấp rồi đến một vạt rừng thấp. Tuy nhiên, tại phần đất trên quả đồi đã bị đào xới nham nhở, không có cây cối gì được trồng. (Người Đưa Tin 21/12) đầu trang(
Tòa soạn liên tiếp nhận được thông tin, phản ánh về những vụ tàn phá đất rừng, rừng phòng hộ, khiến dư luận không khỏi xót xa cho những “lá phổi xanh” đang chảy máu từng ngày.
Trong khi đó, cơ quan chức năng thì lại “hầu như không hay, không biết”, chỉ đến khi báo chí vào cuộc mới “ngã ngửa, giật mình”. Tiếp nối câu chuyện tàn phá đất rừng này, mới đây tòa soạn có nhận được đơn tố cáo của công dân về việc rừng phòng hộ tại thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, đang bị “xẻ thịt’ và rao bán, cho thuê công khai.
Cụ thể, theo đơn thư tố cáo của ông Lê Văn Phương (HKTT: Phú Hạ, Minh Phú, Sóc Sơn, Hà Nội), thông qua môi giới, ông được biết ông Dương Chí Kiên (trú tại 598, đường Bưởi, phường Vĩnh Phúc, Ba Đình, Hà Nội) có nhu cầu bán 2 thửa đất số 43 và 43a, tờ bản đồ số 50, tại địa chỉ: Thanh Hà – Nam Sơn – Sóc Sơn – Hà Nội.
Qua trao đổi và gặp gỡ, ông Phương mới phát hiện ra sự thật rằng 2 thửa đất này nằm giữa cánh rừng phòng hộ, do lâm trường huyện Sóc Sơn quản lý. Hai thửa đất này được ông Dương Chí Kiên nhận chuyển nhượng từ hộ bà Nguyễn Thị Đôi và vợ chồng ông Trương Văn Tuấn, bà Ngô Thị Tiểu Ban, từ năm 2011.
Theo lời chia sẻ của ông Dương Chí Kiên, hai thửa đất này trước đó là đất rừng phòng hộ, tuy nhiên đã nhờ được một người ở công ty đo đạc Chiến Thắng, làm thủ tục chuyển đổi từ đất rừng thành đất vườn, rồi sau đó tiếp tục chuyển thành đất nhà “hợp pháp”.
Ngoài việc phán ánh chuyện “xẻ thịt” đất rừng rao bán, cho thuê đang công khai diễn ra tại thôn Thanh Hà, xã Nam Sơn, trong đơn tố cáo của mình, ông Lê Văn Phương còn cho biết: Thực trạng xẻ thịt, lấn chiếm đất rừng này cũng đang diễn ra ở xã Minh Phú (Sóc Sơn – Hà Nội). Điều đáng nói là, việc “xẻ thịt” đất rừng ở xã Minh Phú được thực hiện một cách “tinh vi và kín kẽ hơn”. Bằng chứng là tại xã Minh Phú, toàn bộ đất rừng bị lấn chiếm đều được phù phép bằng số tờ bản đồ 00, số thửa đất 00 để cấp đất.
Trước thông tin phản ánh của người dân, PV tòa soạn đã có buổi làm việc với cán bộ địa chính xã Nam Sơn, Sóc Sơn, Hà Nội. Trước những thông tin mà PV trao đổi, ông Nguyễn Quốc Uy – Cán bộ địa chính xã Nam Sơn cho hay số tờ bản đồ 50 và số thửa đất 43 và 43a mà người giao bán đất nói và đưa ra cho người mua đất xem là không có thực. Trên bản đồ địa chính xã Nam Sơn không có số bản đồ 50 và không có hai thửa đất 43, 43a này.
Ông Nguyễn Quốc Uy cũng khẳng định toàn bộ hai thửa đất này đều là đất rừng phòng hộ, đang do lâm trường của huyện Sóc Sơn trực tiếp chăm sóc và quản lý (?). Tiếp đó, vị cán bộ địa chính xã Nam Sơn này cũng lại ca bài ca “không biết” về việc đất rừng phòng hộ trên địa bàn xã bị “xẻ thịt” và giao bán công khai. Bây giờ báo chí về làm việc thì mới biết, mới hay…
Là “lá phổi” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Chính vì vậy, tại hội nghị bàn về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 – 2020 (6/2016), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu đưa vấn đề bảo vệ, phát triển rừng lên tầm cao mới trong trong nhận thức và hành động của cấp ủy, chính quyền các cấp. Thủ tướng khẳng định, quan điểm của Chính phủ là huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân quyết tâm khôi phục và phát triển rừng bền vững, phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, gắn với việc nâng cao đời sống người dân ở địa phương có rừng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế- xã hội.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, Chính phủ tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, không chuyển 2,25 triệu ha từng tự nhiên còn lại sang mục đích khác kể cả các dự án được phê duyệt, trừ các dự án liên quan đến quốc phòng, an ninh. Không có chủ trương chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng cây công nghiệp.
Thủ tướng đã chỉ đạo về công tác bảo vệ rừng, vậy nhưng xem ra tại Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội), vấn đề này vẫn chưa được chú trọng và quan tâm. Thế nên, mới lại có chuyện rừng bị “xẻ thịt” đem bán, nhưng cán bộ địa phương vẫn chẳng hay biết tí gì. Câu hỏi đặt ra là tại sao giữa một cánh rừng phòng hộ (xa dân cư) lại có 2 thửa đất được đem bán?
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất này có vi phạm pháp luật hay không? Liệu các cơ quan chức năng ở địa phương có bị “qua mặt”?...Những câu hỏi này xin gửi đến UBND Nam Sơn, UBND huyện Sóc Sơn cùng các đơn vị trực thuộc liên quan trả lời. (Gia Đình Và Pháp Luật 20/12) đầu trang(
Để chuẩn bị kế hoạch trồng rừng năm 2016, Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu đã chủ động gieo ươm 852.500 cây sơn tra, vối thuốc và tô hạp để cung ứng cho nhân dân trồng rừng đúng thời vụ.
Đồng thời, cử cán bộ xuống cơ sở chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật cho nhân dân trồng mới 200 ha rừng phòng hộ; trồng 100 ha rừng sản xuất tại các xã và trồng 300 ha cây sơn tra trong rừng tự nhiên nghèo kiệt, đạt 100% kế hoạch.
Trong đó, xã Bản Mù trồng được 50 ha cây sơn tra, xã Bản Công trồng được 100 ha, Trạm Tấu 100 ha, xã Pá Lau 50 ha, nâng diện tích cây sơn tra của huyện lên trên 1.700 ha. (Báo Yên Bái 20/12) đầu trang(
Ngành gỗ của Bình Dương trong năm 2016 đạt mức tăng trưởng 5% so với năm 2015. Hiện các doanh nghiệp (DN) gỗ đã hoàn tất kế hoạch sản xuất năm và chuẩn bị các đơn hàng trong năm 2017.
Trong năm 2016, thị trường xuất khẩu chủ yếu của các DN trong Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) là Mỹ chiếm 40%, Liên minh châu Âu (EU) chiếm 30%, Nhật chiếm 20%. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực của các DN này là bàn - ghế sân vườn, văn phòng, ván lót sàn, vật liệu kiến trúc…
Theo ông Nguyễn Liêm, Giám đốc Công ty Cổ phần Lâm Việt, Mỹ là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của BIFA. Tuy người dân nước Anh đã quyết định rời EU và Mỹ không còn mặn mà với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng hai thị trường này vẫn chiếm 70% giá trị xuất khẩu của ngành gỗ trong tỉnh và vẫn duy trì mức độ tăng trưởng ổn định.
Theo ông Huỳnh Quang Thanh, Chủ tịch BIFA, hiện nay áp lực không đến từ thị trường xuất khẩu mà đến từ trong nước. Nguyên nhân là do sản phẩm gỗ có xu hướng dịch chuyển từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan qua Việt Nam khiến doanh thu xuất khẩu tăng đột biến, dễ dẫn đến áp thuế chống phá giá từ các nước nhập khẩu. Trong khi đó, thương lái Trung Quốc đã đi thu mua nguyên liệu gỗ ở Việt Nam với giá cả cạnh tranh, ảnh hưởng khá nhiều đến việc sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu cho các DN trong hiệp hội. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu nhập khẩu cũng biến động tăng cao (15 - 17%) đã ảnh hưởng không nhỏ đến xuất khẩu của các DN.
Hiện đang là giai đoạn ngành gỗ Trung Quốc bị áp thuế chống phá giá ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó, xu hướng các DN Trung Quốc chuyển sang Bình Dương và một số tỉnh, thành khác trong nước, cùng với việc các thương lái Trung Quốc thu mua nguồn nguyên liệu trong nước sẽ gây ra bất ổn thị trường nguyên liệu gỗ.
Ông Thanh cho biết thêm, thuận lợi của ngành gỗ trong năm 2016 có sự đóng góp của ngành thuế và hải quan Bình Dương. Các cơ quan chức năng này đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp các DN dễ dàng thông quan, tiết kiệm thời gian và chi phí. Bên cạnh đó, nguồn điện phục vụ sản xuất, chế biến của DN cũng được phục vụ tốt. Hiện nhiều DN thành viên đã có đơn hàng sản xuất trong năm 2017, thậm chí một số DN có đơn hàng tới tháng 4-2017. Kết quả này minh chứng cho tên tuổi và uy tín của ngành gỗ Bình Dương trên thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên, trong năm 2017, ngành gỗ sẽ gặp khó khăn không ít bởi tỷ giá ngoại tệ chưa bảo đảm cho chiến lược phát triển của ngành gỗ trong năm mới. Cụ thể, tiền bảng Anh và đô la Mỹ biến động liên tục trong những ngày qua đã tạo nhiều làn sóng cho các DN gỗ trong nước nói chung, tại Bình Dương nói riêng khi xuất khẩu sang thị trường EU, Mỹ, Anh... Hiện nay, nhiều DN vẫn chưa thể tiếp cận được các gói vốn vay được hỗ trợ từ Nhà nước hay từ các ngân hàng. Một số DN đã tiếp cận được thì gặp phải tình trạng lãi suất vay cao nên cũng gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình này, BIFA đã kiến nghị, lãi suất vay ngân hàng bằng VNĐ cần thấp hơn hiện nay; đồng thời hình thành quỹ để xúc tiến thương mại thường kỳ; có chế độ miễn giảm thuế cho nhập khẩu thiết bị hiện đại của ngành gỗ (như máy CNC) để thay đổi công nghệ nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Hiệp hội cũng đề nghị áp dụng thuế suất xuất khẩu nguyên liệu gỗ cao su là 20% đối với tất cả các loại bề dày của gỗ, nhằm tránh gian lận trong thương mại tại thị trường trong nước hiện nay.
Theo các DN gỗ Bình Dương, nếu cơ quan chức năng có chính sách hỗ trợ kịp thời, ngành gỗ sẽ sớm vượt qua khó khăn và mở rộng thị trường. Hiện các DN đã chủ động tìm kiếm thị trường mới tại Trung Đông và một số quốc gia khác. Khả năng mở rộng thị trường mới là rất khả quan sau khi hiệp định ký kết tự nguyện (VPA) đã được Chính phủ ký kết. (Báo Bình Dương 20/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Hội nghị thường niên về đa dạng sinh học của Liên hợp quốc diễn ra trong 2 tuần đã kết thúc tại Cancun. Các nhà chức trách tại hội nghị đã nhất trí về một lộ trình nhằm thúc đẩy bảo tồn sự đa dạng sinh học trong việc đánh bắt thủy hải sản, trồng rừng, các nhóm ngành du lịch và ngành nông nghiệp để đạt được Nghị trình năm 2030 về phát triển bền vững.
Chủ đề chính của hội nghị năm nay là “Liên kết đa dạng sinh học để thịnh vượng”, hội nghị có sự tham gia của gần 10.000 người đến từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ cùng các bạn trẻ đến từ 140 quốc gia khác nhau tham dự hội nghị kéo dài trong 2 tuần. Hội nghị đề cập vấn đề phục hồi đa dạng sinh học và tái thiết hệ sinh thái nói chung.
Mục tiêu của hội nghị được đề ra là nhằm củng cố tính hiệu quả và tầm ảnh hưởng thông qua Nghị định thư Nagoia Cartagena. Hai Nghị định thư này đều nhằm bảo vệ đa dạng sinh học trước các biến đổi gien tiềm tàng do các công nghệ sinh học hiện đại mang lại, cùng với việc chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gien một cách công bằng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 20/12) đầu trang(./.