Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 20 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Vào lúc 6h16 ngày 18/12 tại khu vực xã Minh Tân, huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội đã xảy ra một vụ cháykhiến hơn 10ha rừng bị thiêu rụi.
Ngay sau đó có thông tin đến vụ cháy, Tiểu đoàn 903, Lữ đoàn Hóa học 86 (Binh chủng Hóa học) đã huy động hơn 100 cán bộ, chiến sĩ cùng phương tiện phối hợp với nhân dân địa phương dập lửa cứu rừng. Đến 9h30 đám cháy đã được khống chế và dập tắt hoàn toàn.
Trước đó, từ ngày 9 – 12 tại khu vực đập Đồng Đòm xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn đã 4 lần xảy ra cháy rừng phòng hộ thuộc Trung tâm Lâm trường huyện Sóc Sơn, TP.Hà Nội. Sau khi nhận được tin báo, Tiểu đoàn 903 tổ chức lực lượng phối hợp với các lực lượng PCCC, kiểm lâm, dân quân tự vệ cùng người dân địa phương tham gia dập lửa cứu rừng và khống chế đám cháy.
Sau 4 lần tham gia dập lửa cứu rừng, Tiểu đoàn 903 (Binh chủng Hóa học) đã cử 450 lượt cán bộ chiến sĩ cùng nhiều phương tiện tham gia dập lửa cứu hàng trăm ha rừng. (Quân Đội Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Khoảng 15h ngày 16-12, tại khu vực núi Sơn Đào (thuộc xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên) xảy ra vụ cháy rừng. Thông tin ban đầu, do thời tiết hanh khô, đám cháy bùng phát và lan rộng sang khu vực núi thuộc xã Thủy Đường, cùng huyện Thủy Nguyên.
Ngay khi nhận được thông tin vụ việc, lãnh đạo UBND huyện đã nhanh chóng chỉ đạo các đơn vị chức năng, huy động lực lượng phối hợp tham gia dập lửa, phát quang cây cối, bụi rậm tạo thành đường băng cản lửa, ngăn đám cháy lan rộng. Đến 17h cùng ngày, các đám cháy được dập tắt hoàn toàn. Theo thống kê ban đầu, diện tích bị ảnh hưởng gần 2 ha, chủ yếu rừng thông và keo.
Vụ việc đang được huyện Thủy Nguyên, cơ quan chức năng điều tra làm rõ nguyên nhân song nhận định ban đầu do thời tiết hanh khô và có sự tác động của con người. Trước đó, trong tháng 10 và 11, cũng tại khu vực núi Sơn Đào, liên tiếp xảy ra 2 vụ cháy khá lớn, gây thiệt hại hơn 25 ha rừng. (An Ninh Hải Phòng 19/12) đầu trang(
Ban Chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng – Bảo vệ rừng huyện Tam Đường (Lai Châu) vừa chỉ đạo xã Bản Hon tổ chức diễn tập ứng phó cháy rừng – Tìm kiếm cứu nạn năm 2016 đạt loại giỏi. (Pháp Luật Việt Nam 20/12) đầu trang(
Năm 2017 ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu phải giảm được 20% vụ vi phạm về bảo vệ rừng và giảm 50% thiệt hại do các vụ vi phạm gây ra.
Ngày 19/12 Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) tổ chức hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm 2017 của ngành lâm nghiệp.
Theo thống kê của ngành lâm nghiệp, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp 10 tháng đầu năm 2016 tăng 6,3%, ước cả năm tăng 6-6,5%. Giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản 11 tháng năm 2016 đạt 6,49 tỷ USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2015, ước cả năm đạt 7,3 tỷ USD.
Về công tác nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đến nay tổng diện tích rừng trồng gỗ lớn của cả nước đạt 127.747 ha trong tổng số 3.556.294 ha rừng trồng, chiếm 3,7% diện tích rừng trồng cả nước. Trồng rừng thâm canh gỗ lớn là 29.296 ha, trong đó trồng lại sau khai thác 4.176 ha và trồng mới 25.119 ha; chuyển hóa rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn 2.650 ha. Tỉ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây con đạt 84%.
Một số tỉnh trọng điểm xuất khẩu dăm gỗ đã ban hành kế hoạch ngừng sản xuất dăm gỗ xuất khẩu từ năm 2015 nhằm tạo nguyên liệu gỗ lớn cho sản xuất, chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu.
Về phát triển kinh tế hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm, đến nay, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp với các địa phương xây dựng 5 mô hình điểm về kinh tế hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp, hiện có 2 tỉnh đang triển khai thực hiện.
Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi nhận định công tác phát triển thị trường của ngành lâm nghiệp cũng đang phát triển, đặc biệt là việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm đa dạng hóa thị trường.
Việc hoàn thành đàm phán và đã tuyên bố cơ bản kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (Tuyên bố chung ngày 18/11/2016) cũng mở ra nhiều cơ hội phát triển thị trường trong giai đoạn sắp tới.
Năm 2016, mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ tăng trưởng 5-10% so với năm 2015 tùy theo nhóm sản phẩm, nhưng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chỉ tăng 1% so với năm 2015 nguyên nhân chính do giá trị kim ngạch xuất khẩu dăm gỗ giảm và chỉ bằng 61% so với năm 2015. Nguyên nhân xuất khẩu dăm gỗ giảm so với năm 2015 là do giảm nhu cầu trên thế giới, đặc biệt là Trung Quốc; có sự cạnh tranh về giá bán dăm của một số nước có thế mạnh xuất khẩu dăm gỗ (Australia, Thái Lan và một số nước châu Phi); do Việt Nam tăng thuế xuất khẩu dăm gỗ từ 0% lên 2%.
Kết quả thực hiện chính sách chi trả Dịch vụ môi trường rừng đến ngày 10/12/2016, cả nước thu được hơn 1.218,2 tỷ đồng đạt 92% kế hoạch, trong đó Quỹ Trung ương thu được gần 852,1 tỷ đồng đạt 90% kế hoạch, Quỹ tỉnh thu được hơn 366,1 tỷ đồng đạt 99% kế hoạch năm.
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, ngành lâm nghiệp đã về đích cơ bản thành công nhưng vẫn có nhiều vấn đề cần đối mặt để duy trì tăng trưởng. Điều này cũng đồng nghĩa với những thách thức lớn phải vượt qua để có thể thực hiện tái cơ cấu ngành trong giai đoạn tới.
Sắp tới, ngành lâm nghiệp phải thích ứng với sự biến động của thị trường, dễ gặp các rào cản phi thuế quan. Vì vậy để thực hiện mục tiêu bảo vệ phát triển rừng, không chỉ nhìn vào ngân sách mà cần phải giải quyết cơ chế để xã hội đầu tư vào lâm nghiệp. Cùng với đó, việc đóng cửa rừng tự nhiên cũng sẽ tạo áp lực cho công tác bảo vệ rừng.
“Năm 2017, ngành phải giảm được 20% vụ vi phạm lâm luật và giảm 50% thiệt hại cho các vụ vi phạm gây ra", Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh. (Báo Chính Phủ 19/12) đầu trang(
Từ nhiều năm qua, tình trạng phá rừng trái phép tại địa bàn vùng giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng với các tỉnh lân cận luôn diễn ra “ nóng bỏng”. Đối tượng vi phạm tinh vi, manh động. Trong khi đó vùng rừng bị xâm hại lại nằm ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, gây khó khăn cho công tác tuần tra, xử lý của cơ quan chức năng.
Đây là những tang vật phá rừng gồm, xe máy, gỗ giáng hương, căm xe, gõ đỏ…, được Đội công tác liên ngành của tỉnh Lâm Đồng, gồm Chi cục kiểm lâm, Công an tỉnh phát hiện, thu giữ mới đây. Tiểu khu 727, thuộc xã Tam Bố, huyện Di Linh, địa bàn giáp ranh với tỉnh Bình Thuận, khu vực phát hiện vụ việc nhiều năm nay được xem là điểm “nóng’ phá rừng. Đơn vị chủ rừng Cty lâm nghiệp Tam Hiệp – Di Linh, khẳng định: công tác tuần tra, bảo vệ vùng rừng giáp ranh lâu nay được đơn vị hết sức chú trọng, tuy nhiên do đây địa bàn xa, nên khó khăn trong việc ngăn chặn, xử lý.
Ông Vũ Xuân Quang, Tổ bảo vệ rừng, Cty lâm nghiệp Tam Hiệp, Di Linh: “Quản lý rừng giáp ranh rất phức tạp, xa địa bàn, việc phối hợp với các địa phương bạn không được thực hiện cụ thể mà làm theo hướng độc lập nên không hiệu quả..”
Từ những vụ vừa và nhỏ, đến những vụ phá rừng quy mô tại địa bàn rừng giáp ranh ở Lâm Đồng diễn ra nghiêm trọng trong thời gian gần đây. Bên cạnh yếu tố khách quan, thì vấn đề chủ quan của các đơn vị chủ rừng và ban lâm nghiệp các xã vẫn còn hạn chế. Ngoài địa bàn Di Linh, việc vi phạm trong quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh ở Đam Rông, Bảo Lâm, Lạc Dương, Đức Trọng, Đạ Huoai, diễn biến phức tạp cả về ngăn chặn lẫn xử lý.
Ông Đào Xuân Nam, Hạt phó Hạt kiểm lâm Đạ Huoai: “Mỗi vùng có mỗi khó khăn khác nhau, nhất là ngăn chặn vận chuyển lâm sản trên các tuyến đường giao thông, và việc dùng các phương tiện khác như xe máy, trâu chuyển chở…”
Rừng giáp ranh với Lâm Đồng gồm có 7 tỉnh, bảo gồm Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước và Đồng Nai. Trong đó, các điểm “nóng nhất” nằm trên các vùng giáp với tỉnh Bình Thuận trên 200km, Ninh Thuận 75km, Đắc Nông 60km.
Lãnh đạo Chi cục kiểm lâm tỉnh, khẳng định: Ngoài thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 30 của Tỉnh ủy và Kết luận 36 của Chủ tịch Ủy ban dân tỉnh Lâm Đồng về công tác bảo vệ rừng nói chung, để quản lý rừng giáp ranh hiệu quả thì đơn vị sẽ tăng cường tuần tra, kiểm soát, đẩy mạnh quy chế phối hợp và xử lý nghiêm các vụ vi phạm.
Ông Nguyễn Cảnh Thìn, Chủ tịch HĐTV, Cty lâm nghiệp Tam Hiệp, Di Linh: “Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tăng cường phối hợp, đồng thời chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện các giải pháp tuần tra, kiểm tra, thường trực các địa bàn nóng…”
So với năm 1999, sau 15 năm diện tích rừng của tỉnh đã giảm 11%, tương đương với trên 100.000ha, còn lại trên 532.000, với độ che phủ rừng trên 52%. Như vậy, việc bảo vệ rừng lúc này là cần thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân cùng tham gia giữ rừng,; tăng cường tốt quy chế phối hợp với các tỉnh có rừng giáp ranh, thì chính trách nhiệm của các cấp, các ngành của Lâm Đồng có vai trò đặc biệt quan trọng trong “cuộc chiến” giừ rừng giáp ranh hiệu quả hiện nay. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Lâm Đồng 19/12) đầu trang(
Ngày 19-12, UBND tỉnh Bình Phước đã tổ chức Lễ khởi công xây dựng công trình “Đường bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy, phục vụ an ninh Quốc phòng và phát triển du lịch trong Khu du lịch văn hóa tâm linh Núi Bà Rá”.
Công trình do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch làm chủ đầu tư và Lữ đoàn 25 thuộc Quân khu 7 là đơn vị thi công.
Công trình nằm trong Di tích lịch sử và thắng cảnh núi Bà Rá - Thác Mơ, được xây dựng từ nguồn vốn huy động tài trợ, có chiều dài toàn tuyến 4.886,34m, chiều rộng mặt đường 3,9m; được đầu tư đồng bộ với hệ thống cống thoát nước và hệ thống an toàn giao thông nhằm bảo đảm công tác phòng cháy chưa cháy, phục vụ Quốc phòng an ninh và phát triển du lịch tâm linh.
Với quy mô trên, khi hoàn thành và đưa vào sử dụng sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các công trình trong Khu du lịch văn hóa tâm linh Bà Rá và phát huy tiềm năng du lịch vốn có của địa phương.
Phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước Nguyễn Văn Trăm đề nghị Thị ủy Phước Long và các cơ quan, đơn vị liên quan đảm bảo an ninh trong quá trình thi công, thực hiện đúng quy định đối với diện tích đất có rừng. Mặt khác, phải tuân thủ các quy định về thủ tục, tiêu chuẩn, quy trình để công trình được triển khai đúng tiến độ. Trong quá trình thi công không được làm ảnh hưởng đến môi trường sống của hệ sinh thái động vật tại núi Bà Rá. (Công An Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Kiểm tra 2 xe tải, Công an TP Tuyên Quang phát hiện nhiều hộp gỗ nghiến xẻ, xếp trên thùng bịt kín được vận chuyển từ hướng huyện Chiêm Hóa.
Theo thông tin ban đầu, vào khoảng 20h30', ngày 18/12/2016, Công an thành phố Tuyên Quang (tỉnh Tuyên Quang) đã tiến hành bắt giữ 2 xe tải vận chuyển số lượng lớn gỗ nghiến xẻ nhóm 2A tại khu vực phường Nông Tiến, TP Tuyên Quang.
Nhận được nguồn tin báo từ quần chúng nhân dân, cơ quan chức năng đã chốt chặn các điểm nghi vấn các đối tượng có thể vận chuyển gỗ nghiến đi qua.
Vào thời điểm trên, 2 chiếc xe tải thùng bịt kín (mang BKS 89C-07992 và 34C-06403) chạy hướng Chiêm Hóa về TP Tuyên Quang tới địa bàn phường Nông Tiến thì bị kiểm tra bắt giữ. Tại thời điểm kiểm tra các tài xế không xuất trình được hóa đơn chứng từ nguồn gốc gỗ .
Trao đổi với phóng viên Phapluatplus.vn, một vị lãnh đạo Công an TP Tuyên Quang xác nhận thông tin trên, tuy nhiên vụ việc đang trong quá trình điều tra nên chưa thể cung cấp thông tin cụ thể cũng như danh tính các đối tượng vận chuyển.
Được biết trong thời gian gần đây, nhiều vụ vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã bị các lực lượng chức năng phát hiện bắt giữ. Hầu hết các vụ việc đều do quần chúng nhân dân phát giác, phối hợp cùng cơ quan công an kịp thời ngăn chặn.
Nhiều xe gỗ nghiến xẻ nhóm 2A thuộc diện nguy cấp quý hiếm, được vận chuyển với số lượng lớn qua các trạm chốt trực có camera giám sát 24/24 của lực lượng kiểm lâm.
Điều này đã và đang dấy lên những nghi vấn về công tác quản lý bảo vệ rừng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang . (Pháp Luật + 19/12) đầu trang(
Lần theo những thông tin người dân địa phương phản ánh về việc thời gian qua, những cây gỗ Du Sam cổ thụ và nhiều loại gỗ quý hiếm khác tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (tỉnh Đắc Nông) bị lâm tặc đốn hạ một cách ngang nhiên, chúng tôi đã có chuyến thâm nhập thực tế để kiểm chứng thực hư sự việc.
Lường trước những khó khăn, chúng tôi đã nhờ một người dân địa phương dẫn đường để vào "lãnh địa" gỗ Du Sam với nhiều trang bị cần thiết: thức ăn nấu sẵn, lương khô, nước uống... Thuê xe ôm chở đến đầu rừng, chúng tôi cuốc bộ vào những cánh rừng già thăm thẳm khi sương núi còn che mờ lối đi. Sau 3 giờ đồng hồ đánh vật với con đường rừng trơn trượt sau trận mưa rừng đêm qua, tôi và anh bạn đồng nghiệp đã thấm mệt, phải đề nghị người dẫn đường dừng lại nghỉ lấy sức...
Nói về gỗ Du Sam người dẫn đường cho biết, loại gỗ này chỉ tập trung trong Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, thuộc các tiểu khu 1132, 1133 và 1618, lâm phần của Công ty TNHH Đức Hòa trước đây. Anh ta còn thông tin, gỗ Du Sam nằm ở đỉnh hình chóp nón của Khu bảo tồn. Ở đó có rất nhiều cây cổ thụ, cây to phải 4, 5 người ôm mới xuể...
Sau câu chuyện của người dẫn đường, chúng tôi lại tiếp tục băng rừng lội suối để tiếp cận được khu bảo tồn. Lúc này, tại bãi đất trống trước mắt, bắt đầu xuất nhiều vết chân và đường mòn có vết xe cày xới. Vừa đi được thêm chừng hơn 50m, chúng tôi phát hiện gốc cây Du Sam đường kính khoảng hơn 2m đã bị đốn hạ từ lâu. Càng tiến sâu vào bên trong, chúng tôi thấy hàng chục cây Du Sam, cây dầu gió đường kính từ 1,8m đến trên 2 mét bị đốn hạ ngổn ngang.
Con đường vào khu bảo tồn in hằn vết xe cày, hai bên là những cây gỗ Du Sam đã được xẻ hộp chờ vận chuyển ra bên ngoài. "Từ tiểu khu 1133 đi ra ngoài phải qua khá nhiều trạm kiểm soát của kiểm lâm. Những hộp gỗ này mùi còn thơm, chứng tỏ mới bị lâm tặc đốn hạ"-người dẫn đường nhận định...
Khi chúng tôi đặt vấn đề về những gì đã nhìn thấy, ông Đặng Xuân Lộc-Giám đốc, kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung cho biết, cơ quan đang phối hợp với CA tỉnh Đắc Nông trực tiếp vào tiểu khu 1133 và 1132, nơi quần thể Du Sam đang bị triệt hạ gây bức xúc dư luận suốt thời gian qua.
"Chúng tôi đã thống kê, số lượng cất giữ gỗ trái phép tập trung tại lô 2, 45, 50, 66 khoảnh 2; lô 39 khoảnh 5 và lô 12, 13, 21 khoảnh 7 thuộc tiểu khu 1133. Tổng số cây bị đốn hạ 40 cây, trong đó có 25 cây Du Sam, 13 cây dầu gió (gỗ dổi) và 2 cây kền kền. Với số lượng  97,666m3 gỗ tròn, riêng gỗ Du Sam là 82,061m3" - ông Lộc thông tin.
Ông Lộc cho biết thêm, vụ việc có tính chất phực tạp và nghiêm trọng nên đã giao cho CAH Đắc Song điều tra theo đúng thẩm quyền. Đơn vị đang phối hợp với CAH vào hiện trường xác minh, vận chuyển số tang vật ra trụ sở CAH theo đúng thẩm quyền để xử lý.
Vụ việc khai thác gỗ Du Sam trái phép, có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, ngày 9-11, CAH Đắc Song đã khởi tố vụ án "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng" xảy ra tại tiểu khu 1133 thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung. Đồng thời với việc cùng với lực lượng kiểm lâm vào thực tế kiểm tra, giám sát tại hiện trường, CAH Đắc Song đã hợp đồng với người dân, vận chuyển số gỗ tang vật về trụ sở đúng thẩm quyền để xử lý.
Trước đó, ngày 26-10-2016 trên đường vào hiện trường kiểm tra, giám sát việc thu gom tang vật vụ án tại thiểu khu 1133, lực lượng kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung phát hiện 1 xe càng (xe công nông), trên xe có 3 hộp gỗ (2 hộp hình dạng tròn, 1 hộp hình vuông) Du Sam có đường kính từ 40 đến 70 cm, tổng khối lượng 1,9m3. Khi kiểm tra thực tế, số gỗ này không phải là tang vật của vụ án mà CAH Đắc Song đã khởi tố trước đó. Người điều khiển xe càng là Trần Văn Hưng và phụ xe Trần Văn Hải (trú xã Đắc N'Drung, H. Đắc Song) cho biết được CAH Đắc Song hợp đồng thuê chở gỗ tang vật chứng.
Tuy nhiên, kiểm tra cho thấy, số gỗ Du Sam nói trên không lấy từ tiểu khu 1133, mà được lấy từ tiểu khu 1132. Theo báo cáo của Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, gỗ Du Sam từ tiểu khu 1133 đến tiểu khu 1132 có khoảng cách khoảng 1 km. Mở rộng điều tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện có 10 cây gỗ đã bị đốn hạ, trong đó có 8 cây Du Sam (có 2 cây dấu vết đã cũ, 6 cây còn lại dấu vết còn mới) và 2 cây gỗ Dầu gió, tổng khối lượng 33,308 m3.
"Ngày 29-10, trong khi đang đưa xe và tang vật về Khu bảo tồn để xử lý thì có 3 đồng chí CAH Đắc Song đề nghị đưa số gỗ và phương tiện về trụ sở CAH. Sau khi CAH Đắc Song xác nhận Trần Văn Hưng là người được cơ quan này thuê chở tang vật của vụ án, chúng tôi trả phương tiện để ông Hưng tiếp tục thực hiện hợp đồng vận chuyển. Chúng tôi quyết định lập biên bản thu giữ số gỗ Du Sam vì không phải là tang vật của vụ án. Ông Hưng khai, khi vào hiện trường cứ thấy gỗ là bốc xếp lên, và không xác định được số gỗ nói trên là tang vật của vụ án hay không?" - ông Đặng Xuân Lộc thông tin.
Việc người vận chuyển không chở gỗ tang vật của vụ án mà chở gỗ ở địa phận khác ra khỏi rừng là điều rất bất thường. Câu hỏi dư luận đặt ra là có hay không việc lợi dụng được thuê chở gỗ tang vật để chở gỗ lậu. Trao đổi về vấn đề này, Trung tá Phạm Quốc Lập, Trưởng CAH Đắc Song xác nhận, chiếc xe càng  bị Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung bắt giữ là phương tiện được cơ quan này thuê để chở số gỗ tang vật của vụ án phá rừng trước đó.
"Khi vào hiện trường vận chuyển gỗ có cơ quan chức năng giám sát. Còn việc chở gỗ trái phép là do cơ quan chức năng chưa vào kịp nên họ bốc nhầm. Số gỗ này do lâm tặc khai thác bỏ giữa đường và không có chuyện lợi dụng việc vận chuyển gỗ tang vật để khai thác, vận chuyển gỗ trái phép"-Trung tá Phạm Quốc  Lập khẳng định. (Công An TP.Đà Nẵng 20/12) đầu trang(
Chiều 19/12, TAND huyện Quỳ Châu (Nghệ An) mở phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với bị cáo Hoàng Anh Tuấn (SN 1976), trú tại Bản Toóng 2, xã Châu Phong, huyện Quỳ Châu về tội danh “cố ý gây thương tích” và “chống người thi hành công vụ”.
Theo cáo trạng, sáng 25/7, Tuấn cùng một đối tượng tên Hùng đi xe ô tô mang BKS 37C – 041.22 vào khu vực xã Châu Hoàn, huyện Quỳ Châu (Nghệ An) chở gỗ lậu. Khi các đối tượng đang chở gỗ ra ngoài thì bị phát hiện, thấy vậy các đối tượng này đã đánh xe vào con hẻm bên đường chờ thời cơ.
Nhận được tin báo, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống đã thành lập tổ công tác cơ động gồm 4 kiểm lâm viên vào khu vực xã Châu Hoàn để kiểm tra, truy bắt các đối tượng vẫn chuyễn gỗ lậu.
Khi lực lượng chức năng vào xã Châu Hoàn phát hiện bên đường có chiếc xe ô tô chở gỗ lậu của Tuấn. Qua kiểm tra trên thùng xe có 6 tấm gỗ đã xẻ, tổ công tác yêu cầu Tuấn xuất trình giấy tờ của số gỗ trên. Tại đây không những Tuấn không xuất trình giấy tờ mà còn dùng lời lẽ lăng mạ và chửi bới các kiểm lâm viên đang làm nhiệm vụ. Lúc này Hùng đã bỏ trốn.
Một lúc sau, Tuấn dùng một chiếc gậy sắt trên xe ô tô dí vào đầu và dọa đánh lực lượng làm nhiệm vụ. Trong khi giằng co, Tuấn đã dùng gậy đánh vào đầu, vào người kiểm lâm viên Nguyễn Chí Việt, khiến anh bị ngã xuống và chảy máu rất nhiều. Lợi dụng các kiểm lâm khác sơ hở khi sơ cứu cho anh Việt, Tuấn đã bỏ trốn khỏi hiện trường.
Lúc này thấy anh Việt mất máu nhiều nên mọi người đã đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Quỳ Châu, sau đó chuyển xuống Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nghệ An điều trị. Trưa ngày 25.7.2016, Tuấn đã đến trụ sở Công an huyện Quỳ Châu đầu thú nhưng được cho tại ngoại ngay sau đó.
Chiều 19/12, TAND huyện Quỳ Châu tuyên phạt bị cáo Hoàng Anh Tuấn 2 năm tù giam và buộc Tuấn phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Chí Việt hơn 17 triệu đồng.
Đặc biết, sau khi gây án 2 ngày, ngày 27.7.2016 đối tượng Hoàng Anh Tuấn đã bị TAND huyện Quỳ Châu xử phạt 15 tháng tù và cho hưởng án treo về tội danh “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Trước đó, vào năm 2007 Tuấn cũng bị TAND tỉnh Nghệ An tuyên phạt 2 năm tù về tội danh “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.  (Công Lý 20/12; Tiền Phong 19/12, Infonet 20/12) đầu trang(
Cục bảo tồn Đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường đã thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ về “Nghiên cứu thử nghiệm khoanh tạo rừng ngập mặn bãi bồi Vườn quốc gia Mũi cà Mau”.
Đề tài này đã và đang là cơ sở cần thiết áp dụng nhân rộng cho các vùng sinh thái tương đồng. Mô hình này 100% dựa vào cây tái sinh tự nhiên, đẩy nhanh quá trình hình thành rừng, giúp tiết kiệm được chi phí trồng rừng ngập mặn ven biển.
Dựa trên các tiêu chí của đề tài, Cục bảo tồn Đa dạng sinh học đã lựa chọn khu bãi bồi của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau làm khu vực xây dựng mô hình khoanh tạo rừng, thuộc tiểu khu IB.1 xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển. Phương pháp khoanh tạo bằng cách đắp các dãy bờ bao bằng xáng múc để thiết lập thành hệ thống vật cản sóng biển. Thời điểm xây dựng mô hình vào tháng 10/2010, trước mùa rụng quả của rừng ngập mặn (chủ yếu là cây mắm trắng và cây đước đôi).
Mô hình được xây dựng gồm 2 phần chính là diện tích trên bờ đê và diện tích trong đê. Phần diện tích đối chứng không được đắp đê nằm từ khu rừng hiện hữu đến phía ngoài bãi bồi. Mô hình thử nghiệm đã mang lại kết quả rất khả quan. Cụ thể như trên bờ đê khu vực khoanh tạo, cây tái sinh với mật độ rất cao và tăng mạnh từ tháng 3 đến tháng thứ 12.
Về thành phần loài, chỉ có 2 loài tái sinh trong mô hình là cây mắm trắng và đước đôi. Trong đó loài mắm trắng chiếm ưu thế tuyệt đối. Sau 24 tháng, đường kính trung bình của rừng mắm tái sinh trên bờ đạt 4,8cm, chiều cao 2,4m.
Sau 12 tháng khoanh tạo (2 mùa rụng quả), tỷ lệ mật độ cây tái sinh trong đê thuộc khu vực khoanh tạo so với mật độ cây trên đê thấp hơn nhiều. Nguyên nhân do tác động của chế độ thủy triều nên vùng đất phía trong đê bằng phẳng nên ngập sâu, rất khó cho các hạt cây rừng ngập mặn có thể cố định để nảy mầm.
Sau 24 tháng khoanh tạo (3 mùa rụng quả), mật độ cây tái sinh trong bờ đê lại tăng đột biến nhờ tác dụng của bờ đê vừa làm giảm sóng biển, vừa giúp ổn định cấu trúc nền đất phía trong đê, tạo nên “giá đỡ” cho các cây rừng ngập mặn cố định và phát triển.
Còn khu vực đối chứng là bãi bồi có điều kiện tự nhiên, môi trường tương đồng và liền kề với khu vực xây dựng mô hình khoanh tạo, nhưng lại có sự khác biệt rất lớn về mật độ, khả năng tái sinh và tốc độ sinh trưởng. Mật độ ở đây chỉ đạt 820 cây/ha so với khu khoanh tạo 13.260 cây/ha trong bờ đê, 41.455 cây/ha ở trên bờ đê. Chiều cao của cây khu đối chứng cũng thấp hơn hẳn so với khu khoanh tạo.
Điều đó cho thấy mô hình khoanh tạo rừng ngập mặn bãi bồi Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã mang lại kết quả khả quan, giúp cho số lượng, mật độ, tốc độ sinh trưởng, phát triển của cây tái sinh rừng ngập mặn. Đồng thời làm gia tăng tốc độ bồi lắng và khả năng hình thành rừng rất cao.
Sự thành công của mô hình đã mở rộng diện tích rừng ngập mặn, tạo môi trường sinh cảnh cho các loài động, thực vật, tạo nơi trú ngụ cho các loài chim nước di cư... làm tăng số lượng các loài động, thực vật.
Bên cạnh đó, sự hình thành nên những cánh rừng từ mô hình khoanh tạo giúp tăng khả năng phòng hộ, chống xói lở, tạo môi trường cảnh quan, điều hòa khí hậu, làm sạch nguồn nước. Có thể hạn chế các chất độc hại do giao thông đường thủy, nước thải sản xuất thủy sản, nước thải sinh hoạt gây nên.
Sự thành công của mô hình này cũng được kỳ vọng như là một giải pháp giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau - nơi nhạy cảm và chịu nhiều tổn thương của nhiệt độ tăng và nước biển dâng hiện nay. (Tin Tức 19/12) đầu trang(
Nằm cách đất liền 14,6 km, đảo Hòn Khoai thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau là một cụm đảo nhỏ gồm các đảo Hòn Khoai, Hòn Tương, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ, trong đó Hòn Khoai là đảo lớn nhất với diện tích 4,2km2.
Đây được coi là một trong những hòn đảo đẹp nhất cực Nam Tổ quốc. Do đảo không có cư dân sinh sống nên việc giữ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học trên đảo phụ thuộc hoàn toàn vào những lực lượng đóng quân trên đảo như biên phòng, kiểm lâm.
Diện tích rừng ở cả cụm đảo gồm 701 ha trong đó trên đảo Hòn Khoai là gần 500 ha rừng trên núi đá, thuộc hệ sinh thái rừng nhiệt đới hải đảo. Trong đó, hệ thực vật rất phong phú, với hơn 1.400 loài và có nhiều loại cây có giá trị kinh tế rất cao. Cây ăn trái gồm xoài, dừa... Cây lấy gỗ gồm lim, bằng lăng, chiêu liêu, vân vân, dầu rái, muỗng, quế quan, rè vàng, thị rừng, sao, trám mạo, trâm trắng… Cây làm thuốc có cốt toái bổ lá lớn, cốt toái bổ lá nhỏ, dây tiết dê, huyết rồng, khoai mài, ngũ gia bì, quế quan, sầu đâu, thần thông, thiên kim đằng, thiên niên kiện…
Cơ bản, rừng ở đây được giữ nguyên vẹn do không có dân sinh sống. Nhưng vất vả lớn nhất của những người giữ rừng ở đây chính là công tác phòng chống cháy rừng do đặc thù rừng trên núi đá, khi đã cháy rất khó dập. Khoảng tháng 10 hàng năm, đảo bắt đầu bước vào mùa khô. Từ khoảng thời gian này đến hết tháng 6 năm sau, các lực lượng trên đảo luôn phải thường xuyên tuần tra 24/24 giờ để phát hiện, ngăn chặn những dấu hiệu nguy hiểm đến rừng.
Công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng luôn được coi là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của các lực lượng đóng quân trên đảo. Bởi vậy, không kể ngày đêm, họ vẫn thay phiên nhau tuần tra, canh gác để giữ cho được cánh rừng nguyên vẹn giữa biển khơi. (Vietnam + 19/12) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn có diện tích tự nhiên khoảng 22.450 ha, nằm trọn trên địa bàn xã An Toàn (huyện An Lão).
Để bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) trên địa bàn, vừa qua UBND tỉnh Bình Định đã phối hợp cùng Trung tâm Bảo tồn ĐDSH Việt Nam tiến hành nghiên cứu, xây dựng “Quy hoạch bảo tồn ĐDSH tỉnh Bình Định giai đoạn 2015-2025 định hướng đến 2030”.
Nhóm nghiên cứu đã kiến nghị Trung ương công nhận khu dự trữ thiên nhiên An Toàn nằm trên địa bàn xã An Toàn (huyện An Lão, Bình Định) là khu bảo tồn cấp Quốc gia.
Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn có diện tích tự nhiên khoảng 22.450 ha, nằm trọn trên địa bàn xã An Toàn (huyện An Lão). Theo kết quả điều tra, nghiên cứu ban đầu cho thấy, đây là khu vực có độ che phủ của rừng tự nhiên còn rất cao, hơn 88%.
Trong đó diện tích rừng nguyên sinh còn giữ được các mẫu chuẩn của tự nhiên còn khá lớn, hơn 52%. Khu hệ thực vật và động vật có tính đa dạng sinh học cao.
Về thực vật, ban đầu đã thống kê được 547 loài bậc cao có mạch thuộc 304 chi và 110 họ; về động vật có 300 loài thuộc 89 họ và 28 bộ của 4 lớp thú, chim, bò sát và lưỡng thê.
Đặc biệt trong số đó có 10 loài thực vật, 72 loài động vật thuộc diện quý hiếm và nguy cấp được ghi trong Sách đỏ Việt Nam; và có 04 loài thực vật cùng 14 loài động vật thuộc loài đặc hữu đang tồn tại nơi đây.
Có thể kể 1 số loài động vật đặc hữu, quý hiếm và nguy cấp như chà vá chân xám, chà vá chân đen, vượn má hung, khỉ mặt đỏ, nai, gà lôi vằn, mang lớn, trĩ sao; và các loài thực vật như trắc mật, trầm hương, du mooc, hoa khế...
Ông Nguyễn Hùng Nam, Giám đốc BQL Rừng đặc dụng An Toàn, cho biết Khu dự trữ thiên nhiên An Toàn cùng với Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng (Gia Lai) tạo thành một liên khu bảo tồn Trung Trường Sơn, có những hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên còn tương đối nguyên vẹn. Những kiểu địa hình núi non xen kẽ cao nguyên cùng với rừng tự nhiên đã tạo nên một cảnh quan tự nhiên hùng vĩ, sinh động và hấp dẫn.
Cũng theo ông Nam, khu rừng An Toàn còn có chức năng phòng hộ đầu nguồn cho sông Kôn, con sông lớn nhất tại Bình Định, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, cung cấp nguồn nước chính cho hệ thống thủy điện trên sông Kôn và hồ Định Bình.
Khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn có những đặc điểm tự nhiên hết sức thuận lợi cho công tác bảo tồn. Bao bọc xung quanh là hệ thống núi non trùng điệp và hiểm trở, cách ly xa với vùng dân cư tập trung.
Hệ thống thuỷ văn với nhiều sông suối, thác ghềnh quanh năm nước chảy và nhiều cảnh quan hùng vĩ cùng với đặc điểm khí hậu quanh năm mát mẻ, hơi lạnh về mùa đông. Đây là những lợi thế để phát triển du lịch sinh thái.
Theo tiến sĩ Lại Minh Hiền, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn ĐDSH Việt Nam, trên địa bàn Bình Định có 8  hệ sinh thái cơ bản, như hệ sinh thái rừng tự nhiên, rừng thứ sinh; rừng tre nứa, trảng cỏ, cây bụi; hệ sinh thái nông nghiệp; thủy vực nước ngọt; đầm phá; rạn san hô…
Trong đó, hầu hết các hệ sinh thái đều có tính ĐDSH cao, chưa bị tác động nhiều bởi các hoạt động phát triển kinh tế và sự can thiệp trực tiếp của con người, trong đó có ĐDSH của khu dự trữ thiên nhiên An Toàn.
“Trong mục tiêu bảo tồn ĐDSH tại Bình Định đến năm 2025, đối với các khu bảo tồn được điều tra, độ che phủ rừng được nâng lên 90%, hướng đến nâng cấp khu dự trữ thiên nhiên An Toàn lên cấp Quốc gia. Các nhà khoa học cũng đề nghị xây dựng hệ thống hành lang ĐDSH nối khu dự trữ thien nhiên An Toàn với khu bảo tồn Kon Chư Răng (Gia Lai) và khu bảo tồn Tây Ba Tơ (Quảng Ngãi)”, ông Trần Đình Chương, Phó Giám đốc Sở TN-MT Bình Định cho biết. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/12) đầu trang(
Ngày 20/12, ông Nguyễn Cự Duẩn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Khê (Hà Tĩnh) cho biết: Bước đầu tiến hành xác minh, đã xác định thanh niên đăng ảnh săn bắn động vật hoang dã lên facebook trú tại huyện Hương Khê. Hiện, đơn vị đang cử lực lượng xuống địa bàn, tiến hành tiếp cận đối tượng, để lập hồ sơ xử lý theo quy định.
Theo đó, tài khoản facebook có tên Điên Tài đã đăng tải một loạt hình ảnh khoe "chiến tích" săn bắt chim trời, khỉ, mang rừng..., với dòng trạng thái thể hiện cảm xúc vui vẻ, trước những con thú tội nghiệp sắp lên bàn nhậu.
Trước đó, vào ngày 10/12, tài khoản Điên Tài đăng tải trên trang facebook cá nhân của mình, với nội dung: “Tôi thích cuộc sống làng quê nó ấm áp và bình dị vui vẻ”, kèm theo đó là nhiều hình ảnh gồm: Bàn nhậu, con mang rừng bị trói 4 chân, chú khỉ tội nghiệp bị dây bẫy trói ngang cổ, 3 thanh niên cầm súng tự chế với con chim trời vừa bị bắn chết… Cạnh những con vật tội nghiệp là sự có mặt của một nam thanh niên, được cho là chủ nhân trang facebook tên Điên Tài.
Sau khi đăng tải hình ảnh này lên, chủ tài khoản đã gặp phải sự phán ứng của cộng đồng mạng xã hội. Mốt số người còn nói rằng, người đăng tải những hình ảnh này sẽ bị xử phạt. Tuy nhiên, tài khoản Điên Tài tỏ ra rất hả hê và trả lời với giọng đầy thách thức.
Mấy ngày gần đây, do bị cộng đồng mạng xã hội phán ứng và lên án, chủ nhân facebook Điên Tài đã khoá tài khoản của mình, để tránh sự truy xét của cơ quan chức năng.
Liên quan đến việc đăng tải hình ảnh săn bắn động vật hoang dã lên facebook, trước đó, ngày 7/1/2016, lực lượng chức năng tỉnh Nghệ An đã triệu tập và xử phạt đối tượng Chu Văn Cường (SN 1990), trú phường Quỳnh Lập, TX Hoàng Mai (Nghệ An), về hành vi đăng ảnh giết khỉ lên trang facebook. (Người Đưa Tin 20/12) đầu trang(
Ngày 19-12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bến Tre cho biết, đơn vị này đang tạm giữ 2 cá thể mèo rừng quý hiếm do tịch thu được của đối tượng Nguyễn Thanh Phúc (SN 1992, ngụ xã An Phú Trung, huyện Ba Tri) đã nuôi, nhốt và rao bán trên mạng.
Theo đó, ngày 13-12, nhận được tin báo, Chi cục kiểm lâm tỉnh Bến Tre phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh và Công an xã An Phú Trung (huyện Ba Tri, Bến Tre) đến kiểm tra hộ gia đình của Nguyễn Thanh Phúc. Tại đây cơ quan chức năng phát hiện, Phúc có nuôi nhốt 2 cá thể mèo rừng.
Đoàn kiểm tra lập biên bản vi phạm và tạm giữ 2 cá thể mèo rừng trên, đưa về bảo quản chăm sóc tại Chi cục kiểm lâm tỉnh. Làm việc với cơ quan chức năng, Phúc khai nhận, hai cá thể mèo rừng trên do mua của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) săn bắt chim, cò mang theo.
Gặp người đàn ông này, ban đầu Phúc định mua chim, cò, nhưng thấy người này có mang theo 2 con mèo đẹp, lạ nên hỏi mua với giá 380.000 đồng, đem về nhà nuôi làm thú cảnh. Sau 10 ngày nuôi tại nhà, vì loài này chỉ ăn cá sống có mùi hôi tanh nên Phúc có ý định bán đi. Phúc chụp hình các cá thể mèo đăng lên mạng để rao bán.
Đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bến Tre cho biết, cá thể mèo rừng thuộc giống mèo quý hiếm cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Theo nghị định 157/NĐ- CP ngày 11-11-2013 của Chính phủ quy định về hành vi nuôi, nhốt động vật hoang dã tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính từ 50 triệu đến 100 triệu đồng và tịch thu tang vật.
Tuy nhiên, xét hành vi nuôi nhốt cá thể mèo rừng của Phúc, cơ quan chức năng nhận định, Phúc không kinh doanh, mua bán động vật hoang dã và chưa am hiểu pháp luật về cấm nuôi, nhốt loài động vật rừng nguy cấp, quý hiếm, nên Chi cục Kiểm lâm tỉnh có đề xuất kiến nghị không xử phạt vi phạm hành chính đối với Phúc.
Riêng về 2 cá thể mèo rừng trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, sẽ liên hệ với Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã ở huyện Hòn Me (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang) đến tiếp nhận về chăm sóc và bảo tồn động vật hoang dã quý hiếm. (An Ninh Thủ Đô 20/12) đầu trang(
Ngày 19-12, Quỹ quốc tế bảo tồn thiên nhiên (WWF) đã công bố báo cáo mang tên “Các loài kì lạ”. Theo báo cáo này, có 163 loài mới được phát hiện tại Tiểu vùng sông Mekong mở rộng, trong đó có tới 87 loài được phát hiện ở Việt Nam.
Trong số 163 loài mới có 9 loài lưỡng cư, 11 loài cá, 14 loài bò sát, 126 loài thực vật và 3 loài động vật có vú. Riêng tại Việt Nam, một số loài kì lạ đã được phát hiện như loài ếch thân dài chưa tới 3cm, loài rắn đầu bảy sắc cầu vồng, loài thằn lằn có hình dáng giống hệt rồng…
Việt Nam được đánh giá là quốc gia phong phú về đa dạng sinh học. Tuy nhiên, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị săn bắt trái phép cũng như việc thay đổi sinh cảnh theo hướng tiêu cực.
Mới đây, WWF Việt Nam đã phối hợp với Vườn quốc gia Yok Đôn khởi động Kế hoạch hành động bảo tồn voi khẩn cấp tại Tây Nguyên, nơi có quần thể voi rừng lớn nhất cả nước. Sắp tới, WWF Việt Nam sẽ hỗ trợ Thừa Thiên - Huế thực hiện cam kết thành phố không tiêu thụ động vật hoang dã.  (Công An Nhân Dân 19/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Từ khi chính sách chi trả DVMTR ra đời, các chủ rừng là tổ chức nhà nước được Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tuyên Quang tăng cường giao khoán, mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng.
Diện tích rừng được chi trả tiền DVMTR gần 131 nghìn ha, chiếm 31,5% diện tích rừng toàn tỉnh.
Đến nay đã có 3 huyện Chiêm Hóa, Nà Hang, Lâm Bình có diện tích cung ứng DVMTR nằm trong phạm vi lưu vực Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang và Nhà máy thủy điện Chiêm Hóa đã thành lập Ban chi trả DVMTR cấp huyện, 25 xã có diện tích rừng cung ứng dịch vụ môi trường thành lập Ban chi trả DNMTR cấp xã.
Năm 2015, tỉnh Tuyên Quang đã giải ngân trên 7,5 tỷ đồng chi trả DVMTR, trong đó chi cho các đối tượng cung ứng dịch vụ là trên 7 tỷ đồng; chi phí quản lý điều hành là trên 488 triệu đồng. Năm 2016, tỉnh tiếp tục chi trả 4,6 tỷ đồng cho các đối tượng cung ứng DNMTR. Đây là nguồn tài chính quan trọng kết hợp với nguồn vốn ngân sách góp phần đảm bảo nhu cầu công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đặc biệt, đã tháo gỡ về tài chính cho UBND các xã có kinh phí triển khai công tác bảo vệ rừng, các hộ nhận khoán rừng có thêm thu nhập cải thiện đời sống. Các chủ rừng là hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn và hộ nhận khoán bảo vệ rừng cũng được hưởng toàn bộ tiền DVMTR chi trả.
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR về cơ bản đã có những tác động nhất định đến công tác quản lý và bảo vệ rừng trên phạm vi toàn tỉnh nói chung và ở lưu vực có cung ứng DVMTR nói riêng. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/12) đầu trang(
Những năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã mang lại nhiều thay đổi trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, ngày 02/12/2016, UBND tỉnh Kon Tum đã tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2016 - 2020 kết hợp với tuyên dương các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh, nhằm phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được, góp phần quản lý bền vừng tài nguyên rừng và cải thiện sinh kế cho người dân sống gắn bó với rừng trên địa bàn tỉnh.
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả chính sách này, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tham mưu UBND tỉnh Kon Tum ban hành Kế hoạch 2441/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020. Theo đó, tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR trên địa bàn sẽ tăng từ 360.103 ha (năm 2015) đến 460.103 ha (năm 2020), với tiềm năng huy động khoảng 150 tỷ đồng/năm nguồn thu từ DVMTR. Kế hoạch đến năm 2020, độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 63,75% và giảm tỷ lệ hộ nghèo trong giai đoạn 2016 - 2020 từ 3 - 4%/năm.
Một điểm mới trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2016 - 2020 đó là Chính phủ đã ban hành Nghị định số 147/2016/NĐ-CP thay đổi đơn giá chi trả DVMTR. Theo đó, đối với các đơn vị sử dụng DVMTR là các nhà máy thủy điện sẽ nâng mức chi trả lên 36 đồng/kwh và nâng mức chi trả lên 52 đồng/m3 nước đối với các đơn vị sử dụng dịch vụ là các nhà máy nước sạch.
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 147/2016/NĐ-CP trên, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã chủ động phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum tham mưu UBND tỉnh ban hành văn bản số 2947/UBND-NNTN ngày 28/11/2016 để chỉ đạo các ngành, các cấp chuẩn bị nội dung, triển khai thực hiện ngay khi Nghị định số 147/2016/NĐ-CP có hiệu lực thi hành.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn tiếp theo cũng còn nhiều khó khăn. Ông Hồ Thanh Hoàng – Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum cho biết: “Theo quy định tại Nghị định số 147/2016/NĐ-CP trên, tiền DVMTR của các xã, thị trấn là nguồn thu của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp xã, do đó đối với những địa phương có ít diện tích rừng, không đủ tiêu chí thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp xã phải giao đất, giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, nhưng ngân sách của địa phương hạn chế, khó đáp ứng được nguồn kinh phí để thực hiện công tác giao đất, giao rừng cho người dân”.
Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã chủ động, phối hợp với Ban quản lý dự án IPFES Trung ương xây dựng và tham mưu UBND tỉnh Kon Tum ban hành kế hoạch thực hiện chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Kon Tum, để lồng ghép kế hoạch chi trả DVMTR vào kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Kon Tum như là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Với cách làm này, kế hoạch thực hiện chính sách chi trả DVMTR được định hướng dài hơi hơn (5 năm, so với hàng năm trước đây), chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng sẽ được thực hiện; đảm bảo công bằng, minh bạch, hiệu quả trong phân bổ các nguồn lực; tạo điều kiện để phát huy chức năng phòng hộ và các giá trị tổng hợp của rừng, góp phần hạn chế tác hại của thiên tai, quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên rừng.
Cũng tại hội nghị, UBND tỉnh Kon Tum, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kon Tum đã trao tặng Bằng khen, Giấy khen cho các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Kết thúc giai đoạn 2011 - 2015, chính sách chi trả DVMTR tại tỉnh Kon Tum bước đầu đã mang lại nhiều chuyển biến trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nguồn thu từ DVMTR không những tăng cường năng lực cho các chủ rừng, mà còn khuyến khích người dân tích cực tham gia giữ rừng. Hy vọng trong những năm tới, chính sách này sẽ còn phát huy hơn nữa những kết quả đã đạt được với mục tiêu chung là bảo vệ và phát triển bền vừng nguồn tài nguyên rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 19/12) đầu trang(
Có thể khẳng định, đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng để chấm dứt tình trạng phá rừng và góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương.
Đến nay, tỉnh Bình Phước đã hơn 4 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Có thể khẳng định, đây là một trong những yếu tố góp phần quan trọng để chấm dứt tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, góp phần cải thiện đời sống cho người dân địa phương.
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước, toàn tỉnh có hơn 178.400ha đất lâm nghiệp, phần lớn nằm trên lưu vực các sông Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Bé. Hầu hết diện tích này được giao cho các chủ rừng là vườn quốc gia, khu di tích, các nông lâm trường trực thuộc công ty Nhà nước, ban quản lý rừng, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học lâm nghiệp... Với diện tích, hiện trạng, quy hoạch, được giao và cho thuê như trên thì rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước có khả năng cung ứng được cả 5 loại DVMTR (theo Nghị định số 99 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR).
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước, đến nay đã xác định được 9 đơn vị chủ rừng đủ điều kiện cung ứng dịch vụ môi trường rừng gồm 2 VQG là Bù Gia Mập và Cát Tiên, BQL rừng phòng hộ Bù Gia Phúc, Hạt Kiểm lâm Phước Long, các công ty cao su: Sông Bé, Phước Long, Bình Phước, Phú Riềng, Trung tâm Ứng dụng khoa học lâm nghiệp Nam Bộ. Các đơn vị chủ rừng này là tổ chức được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp với tổng diện tích rừng cung cấp DVMTR trên 68.700ha.
Ông Trần Văn Lộc, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Bình Phước cho biết, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR có những thuận lợi, đó là toàn bộ diện tích tự nhiên của tỉnh phân bố trên ba lưu vực lớn là sông Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Bé. Đây là những lưu vực có tiềm năng cho sản xuất thủy điện, nước sản xuất và nước sinh hoạt ở khu vực miền Đông Nam Bộ. Phần lớn diện tích rừng phân bổ ở những khu vực phát huy được giá trị DVMTR, đặc biệt là điều tiết và duy trì nguồn nước.
Việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã có những tác động tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đó là tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm hẳn. Môi trường rừng từng bước được cải thiện, tăng khả năng phòng hộ, điều tiết và duy trì nguồn nước cho các cơ sở sử dụng DVMTR.
Bên cạnh đó, rừng trên địa bàn tỉnh có khả năng cung ứng cả 5 loại DVMTR. Mặt khác, các chủ rừng và các cơ quản lý Nhà nước về lĩnh vực lâm nghiệp có đội ngũ cán bộ kỹ thuật ngành lâm nghiệp đủ năng lực để thực hiện việc chi trả DVMTR. Ngoài ra, góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
“Từ đầu năm 2013, tỉnh Bình Phước bắt đầu triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Chi trả tiền DVMTR là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi sử dụng cả nguồn nước và lưu vực sông. Thực tế mức phí hiện áp dụng đối với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện là rất thấp. Để kế hoạch thu, chi được đảm bảo, thời gian qua Quỹ thực hiện đẩy mạnh công tác tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp.
Đồng thời, phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức thẩm định các chương trình, dự án, phi dự án để hỗ trợ đầu tư khi có nguồn vốn thu được. Ngoài ra, tổ chức kiểm tra, nghiệm thu, giám sát các đối tượng cung ứng DVMTR theo đúng quy định và thực hiện việc chi trả DVMTR đến các chủ rừng”, ông Lộc nói.
“Thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những tạo nguồn tài chính góp phần đầu tư trực tiếp vào việc bảo vệ và phát triển rừng, giảm gánh nặng ngân sách cho Nhà nước, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa nghề rừng mà còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong việc phát triển tài nguyên rừng, cải thiện môi trường sống, hạn chế các hành vi gây tổn hại đến rừng, góp phần nâng cao chất lượng DVMTR”, ông Lộc cho biết thêm.
Hiện nay, toàn bộ diện tích VQG Bù Gia Mập đã được giao khoán cho 13 cộng đồng thôn bản gồm 150 hộ với hơn 240 người là đồng bào thiểu số S’tiêng ở hai xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập. Theo tính toán của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, với mức chi trả DVMTR 180 ngàn đồng/ha/năm thì một hộ dân nhận khoán bình quân 40ha rừng, mỗi năm sẽ nhận được hơn 11 triệu đồng. Số tiền DVMTR được nhận chiếm khoảng 15 -20% trong cơ cấu thu nhập của một hộ dân. Nếu xét về giá trị sử dụng thì nguồn thu nhập này thấp so với mức biến động giá cả thị trường nhưng thật sự có ý nghĩa với người dân nghèo ở đây.
Anh Điểu Phong, 33 tuổi, một hộ nhận khoán bảo vệ rừng thôn 3, xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập nói: “Tôi rất vui vì được Nhà nước nhận vào làm bảo vệ rừng. Hai vợ chồng tôi có 3 đứa con. Trước đây nhà tôi rất nghèo nhưng từ khi được làm bảo vệ rừng đã tốt hơn, không còn nghèo đói nữa.
Không chỉ được trả tiền, các cán bộ còn cho anh em lấy của rừng những thứ được cho lấy như măng, rau rừng, hoa quả của rừng để cho thêm vào bữa ăn, vì vậy nay đã có cuộc sống ấm no hơn trước. Đi rừng nhiều nay đã thành quen rồi, không đi lại nhớ. Trước đây rừng bị người ta phá dữ lắm nhưng mấy năm nay do có anh em bảo vệ nên rừng không còn bị phá nữa”.
Theo ông Lộc, chính sách chi trả DVMTR đã đi vào cuộc sống, các đối tượng được hưởng lợi từ DVMTR đã chi trả tiền DVMTR ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các cấp. Thực hiện chính sách này phản ánh mối liên kết kinh tế mang tính bền vững giữa bên sử dụng và bên cung ứng DVMTR. Mặt khác, rừng trong vùng được hưởng chính sách chi trả DVMTR được bảo vệ tốt hơn, đời sống người lao động nghề rừng được cải thiện, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định an ninh chính trị tại địa phương.
Ngoài ra, bên sử dụng DVMTR (nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch) có nguồn nước đảm bảo cho việc sản xuất điện năng, nước sạch phục vụ cho đời sống nhân dân, tạo ra giá trị kinh tế lớn cho doanh nghiệp. Bên cung ứng DVMTR (các chủ rừng, hộ, nhóm hộ nhận khoán bảo vệ rừng, cộng đồng…) được trả tiền bằng chính kết quả lao động của mình, giá trị lao động của người lao động làm nghề rừng đã trở thành hàng hóa. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/12) đầu trang(
Đó là một trong những mục tiêu của Kế hoạch hành động “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng, suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng (REDD+)” tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2016 - 2020 vừa được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành vào ngày 16/12/2016.
Theo đó , kế hoạch hành động REDD+ của tỉnh gồm 3 hợp phần: Quản lý rừng, Xã hội và Môi trường, Quản lý.
Cụ thể, đối với hợp phần Quản lý rừng, tiến hành giao diện tích rừng còn lại (bao gồm giao lại), trong đó hoàn thoành giao toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp chưa giao vào giữa năm 2018; ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng cho ít nhất 50% diện tích đất lâm nghiệp của các chủ rừng lớn vào giữa năm 2018; thành lập tổ tuần tra rừng cấp thôn và tiến hành tuần ra toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp, bao gồm diện tích các cộng đồng quản lý trực tiếp và diện tích quản lý thông qua hợp đồng khoán bảo vệ rừng, tính đến cuối năm 2019; tối thiểu 5.000 ha được phân mốc và sử dụng cho hoạt động khoanh nuôi tái sinh tự nhiên vào giữa năm 2018; tính đến cuối năm 2020, tối thiểu 7.700 ha diện tích trồng Keo thuần loài thực tế được chuyển sang rừng trồng Keo với luân kỳ dài hơn, rừng trồng hỗ giao keo - cây bản địa hoặc rừng trồng thuần loài các cây bản địa.
Đối với hợp phần Xã hội và Môi trường, tiến hành các hoạt động gián tiếp giảm phát thải/hấp thụ cacbon, hỗ trợ sinh kế cho cộng đồng như: giảm lượng củi đun; phát triển sinh kế thông qua việc đánh giá nhu cầu và tính khả thi phát triển sinh kế, giới thiệu các hoạt động phát triển sinh kế cải tiến; nâng cao nhận thức về REDD+ và kế hoạch hành động (KHHĐ) REDD+ cấp tỉnh cho các cơ quan trong tỉnh và nâng cao nhận thức về quản lý rừng bền vững cho người dân địa phương.
Đối với hợp phần Quản lý, tiến hành nâng cao năng lực vận hành hệ thống theo dõi diễn biến rừng cải tiến; xây dựng năng lực quản lý rừng trồng bền vững; giám sát và đánh giá tiến độ thực hiện KHHD REDD+ cấp tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thừa Thiên - Huế 19/12) đầu trang(
Với những lời tung hô hứa hẹn về việc dự án sớm được triển khai cũng như những lợi ích mà khách hàng có được, nhiều người đã xuống tiền dưới hình thức góp vốn. Vậy thực chất dự án này là gì?
Những năm 2011, khi thị trường bất động sản đang trở nên nóng, các hoạt động xây dựng mua bán diễn ra rầm rộ đã có nhiều người “ăn nên làm ra” từ những khoản đầu tư vào thị trường này.
Tuy nhiên, cũng có nhiều người ngậm trái đắng. Trong đó phải kể đến dự án “ma” khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải do Công ty cổ phần Công nghiệp Việt Nam liên kết (VinaLinks) vẽ ra.
Với những lời tung hô hứa hẹn về việc dự án sớm được triển khai cũng như những lợi ích mà khách hàng có được, nhiều người đã xuống tiền dưới hình thức góp vốn. Thế nhưng, từ năm 2011 đến nay, khách hàng ngớ người khi đi sâu tìm hiểu về cái được gọi là “dự án” này.
Công ty cổ phần Công nghiệp Việt Nam liên kết (Vinalinks) được thành lập năm 2004 tại Hà Nội. Sau nhiều lần chuyển trụ sở từ tòa nhà Charm Vit Tower (Trần Duy Hưng, Cầu Giấy) rồi đến tòa nhà số 1 phố Duy Tân (Cầu Giấy, Hà Nội) và cuối cùng tọa lạc tại tầng 3 tòa nhà Sông Hồng (68 Lê Văn Lương, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội).
Trong phần giới thiệu về mình, trên website của công ty thể hiện, từ năm 2007 Công ty Vinalinks là một công ty đầu tư và kinh doanh bất động sản uy tín và chuyên nghiệp.
Sự hình thành và phát triển lĩnh vực bất động sản của công ty là một hệ quả tất yếu khi xâm nhập vào sự phát triển chung của nền kinh tế thị trường trong xu thế ngày càng đa dạng, đa chiều.
Lợi thế so sánh của công ty là tiềm lực tài chính vững mạnh; ưu thế sử dụng một cách hiệu quả những mối quan hệ hợp tác với nước ngoài; khả năng tiếp cận tốt với các Quỹ đầu tư trong và ngoài nước cùng các đối tác đầu tư sâu rộng; và quy trình quản lý khoa học, tiếp cận với các chuẩn mực Quốc tế về quản trị kinh doanh và phát triển thương hiệu.
Tuy nhiên trái ngược với những lời mĩ miều tự đánh bóng bản thân, công ty này lại có một dự án bị nhiều khách hàng “tố” là lừa đảo.
Theo bà Nguyễn Thị H., trú tại Hoàng Mai (Hà Nội) cho biết, năm 2011 bà được ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty Vinalinks giới thiệu là đang triển khai dự án Casablanca Villas Đại Lải có diện tích 3,7ha nhằm xây dựng dự án quần thể biệt thự sinh thái phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng cao cấp tiêu chuẩn 4 sao tại thôn Thanh Cao, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Do tin tưởng vào sự giới thiệu của chủ đầu tư cùng những lời hứa “chắc chắn” dự án sẽ được triển khai nên bà H. đã “xuống tay” ký hợp đồng góp vốn số tiền gần 1,3 tỷ đồng với Công ty Vinalinks.
Khi chuyển toàn bộ số tiền nói trên, bà H. đã nhiều lần yêu cầu phía công ty Vinalinks cung cấp những hồ sơ tài liệu liên quan đến việc thực hiện dự án cũng như tiến độ thực hiện. Tuy nhiên, lãnh đạo công ty này đã không có một bất kỳ phản hồi nào.
Đi sâu tự tìm hiểu, bà Hằng mới ngớ người về diện tích đất được Công ty Vinalinks gọi với cái tên đầy mĩ miều là “Dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải” thực chất là đất lâm nghiệp, và cũng không có dự án nào được các cấp chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt có tên và địa chỉ như Vinalinks tự rêu rao.
Theo tìm hiểu của PV báo Người Đưa Tin, diện tích 3,7ha mà Công ty Vinalinks vẽ lên dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải nằm tại lô S3 khoảnh II, thôn Thanh Cao xã Ngọc Thanh (Thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc). Khu đất này là đất lâm nghiệp được Hạt kiểm lâm Thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) giao cho ông Lê Văn Hữu (xã Ngọc Thanh) quản lý.
Sau đó, ông Hữu đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty Vinalinks. Đến ngày 28/7/2010, UBND thị xã Phúc Yên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC231306 cho ông Nguyễn Tuấn Anh với diện tích là 3,7ha, thuộc đất lâm nghiệp với mục đích là trồng rừng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng khi chưa có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, cho đến nay toàn bộ diện tích trên vẫn là đất lâm nghiệp.
Ông Lưu Văn Cường, cán bộ địa chính xã Ngọc Thanh (Thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc) cho biết, sau khi tiến hành mua bán và làm giấy chứng nhận cấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp, chủ rừng cũ và mới cũng không đến thông báo cho chính quyền địa phương, vì thế hồ sơ sổ sách theo dõi về phần diện tích đất này UBND thị xã quản lý.
“Theo luật, sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp thì chủ rừng phải đến thông báo với cán bộ quản lý địa chính tại địa phương để vào sổ theo dõi quản lý. Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà trường hợp này lại có sự khác biệt như thế...”, ông Cường chia sẻ. (Người Đưa Tin 20/12) đầu trang(
Do sức ép về phát triển kinh tế, rừng ngập mặn đang bị phá để làm đầm nuôi tôm, diện tích rừng ven biển đang bị thu hẹp nhanh chóng và suy thoái nghiêm trọng. Thế nhưng trái ngược với thực trạng chung đó, huyện Hậu Lộc vẫn đang ngày một nhân rộng mô hình trồng rừng ngập mặn để bảo vệ đê biển. “Bức tường xanh” đó đã ngăn bao cơn sóng dữ, bảo vệ những người dân làng chài.
Khoa học đã khẳng định, nếu có rừng ngập mặn tiến ra phía biển 100m thì sóng sẽ hạ 50% khi vào tới bờ, những con đê biển chắn sóng được vững vàng hơn do giảm áp lực của nước; cân bằng được môi trường sinh thái. Thực tế được chứng minh tại huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
Tháng 9/2005 cơn bão Damrey đi qua các tỉnh phía bắc đã làm vỡ đê phòng hộ phá huỷ nhà cửa, gây thiệt hại về hoa màu và vật nuôi tại các xã nghèo ven biển. Thế nhưng tại xã Đa Lộc nhờ vành đai rừng ngập mặn bao quanh trước đê biển mà tuyến đê đó không bị vỡ. Từ đó người dân ở đây nhận thức được tầm quan trọng của rừng ngập mặn.
Từ năm 2006, Tổ chức Nâng cao năng lực trong lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai - CARE (Australia) đã tài trợ cho hai xã Đa Lộc và Hải Lộc trồng thêm 200ha rừng ngập mặn trong 3 năm. Năm 2010, Quỹ hỗ trợ phòng tránh thiên tai miền Trung cũng đã tài trợ về kỹ thuật và kinh phí hơn 7 tỷ đồng để triển khai dự án trồng rừng ngập mặn trên địa bàn xã Minh Lộc và Đa Lộc. Sau hơn 5 năm thực hiện đã có 106 ha rừng ngập mặn chủ yếu là cây bần chua được trồng thành công, chiều cao trung bình của cây hiện đã đạt từ 8 đến 23cm, đường kính gốc có cây đạt trên 25cm.
Rừng ngập mặn được trồng thành công tại các xã ven biển huyện Hậu Lộc góp phần bảo vệ các tuyến đê, giữ gìn môi trường sinh thái tự nhiên, nâng cao ý thức cho nhân dân trong việc khai thác thủy, hải sản. Rừng ngập mặn phát triển trở thành nơi trú ngụ của nhiều loại chim, tôm và cá. Người dân các xã được hưởng lợi từ trồng rừng ngập mặn cũng đã từng bước nâng cao thu nhập từ việc nhân giống cua biển và nuôi ong dưới tán rừng.
Có dịp về các xã ven biển huyện Hậu Lộc bạn sẽ được thấy dọc tuyến đê biển phủ một màu xanh bạt ngàn của rừng ngập mặn gồm bần chua, sú, vẹt... Những khu rừng ngập mặn hàng chục năm tuổi, cây cao 3 - 5m góp phần tạo cảnh quan và điều hòa khí hậu cho nhiều xã dọc sông, biển. Đây cũng là nơi trú ngụ của những đàn cò lớn, dưới tán là hệ sinh thái đang hồi sinh với tôm, cua, ốc, cáy...
Nhờ có hệ thống rừng ngập mặn mà đời sống của người dân được cải thiện đáng kể. Hàng trăm hộ dân ở các xã ven biển Hậu Lộc đang hưởng lợi từ rừng ngập mặn mang lại. Những gia đình khó khăn không có tàu thuyền đi biển, hàng ngày vẫn có thể bắt cua, ốc, cáy ở rừng ngập mặn để mưu sinh kiếm sống.
Chị Nguyễn Thị Hương, thôn Yên Lộc, xã Đa Lộc phấn khởi cho biết: Trước đây gia đình có nhiều khó khăn, chỉ trông chờ vào chồng đi biển nên thu nhập bấp bênh. Từ năm 2012 đến nay, hệ thống rừng ngập mặn phát triển mạnh, đã có rất nhiều cáy, ốc về trú ngụ, nên sáng tranh đi bắt cáy, ốc một buổi cũng cho thu nhập trên dưới 150.000 đồng.
Không những thế, trên địa bàn xã Đa Lộc cũng có gần 100 hộ nuôi ong lấy mật từ hoa của cây bần chua, sú, vẹt. Bình quân 1 năm cũng cho thu hoạch 4-5 tấn mật ong.
Ông Vũ Văn Đỉnh  - Chủ tịch UBND xã  Đa Lộc nhớ lại: Cơn bão số 7 năm 2005 đã làm vỡ hàng ngàn mét đê khiến nước ồ ạt tràn vào thôn xóm. Điều lạ là những đoạn đê có rừng ngập mặn vây quanh đều không hề hấn gì. Từ đó, chính quyền và người dân Hậu Lộc nhận ra tác dụng to lớn của rừng ngập mặn. Nhờ sự tài trợ kinh phí, hỗ trợ về kĩ thuật của nhà nước cũng như nhiều tổ chức xã Đa Lộc đã trồng được 451ha rừng ngập mặn. Hiện tại diện tích rừng ngập mặn vẫn đang phát triển rất tốt và sẽ còn được nhân rộng hơn nữa.
Với quyết tâm cao của chính quyền, cộng đồng dân cư và nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động với nhiều hình thức, bà con đã hiểu và chung sức với chính quyền trong nhiệm vụ bảo vệ rừng. Đến nay, toàn huyện đã trồng mới được hơn 300ha rừng ngập mặn
Trồng rừng trước đê biển để chắn sóng là kinh nghiệm của cha ông nhiều đời nay, cần được tuyên truyền, nhân rộng. Để sau mỗi cơn bão đi qua mỗi chúng ta không phải giật mình trước hậu quả của nó để lại. Mô hình trồng rừng ngập mặn ở các xã ven biển huyện Hậu Lộc cần được nhân rộng. Để làm “bức tường xanh” bảo về hệ thống đê biển cũng chính là bảo vệ tài sản và tính mạng của con người trước những cơn sóng dữ. (Tài Nguyên Và Môi Trường 19/12) đầu trang(
Trồng rừng kinh tế đang được coi là mô hình chủ lực để huyện Mường Nhé, Điện Biên tạo sinh kế cho người dân, giảm thiểu tình trạng phá rừng làm nương đang diễn ra hiện nay.
Bí thư Huyện ủy Mường Nhé Nguyễn Quang Sáng cho biết: Mường Nhé xưa nay nổi tiếng với “5 cái nhất cả nước”: Phá rừng nhiều nhất, đói nghèo nhất, lớp học tạm nhiều nhất, lộn xộn trong quản lý dân cư nhất và khoảng trống chính trị cơ sở cao nhất. Bởi vậy, Ban Thường vụ Huyện ủy xác định trồng rừng kinh tế là mô hình hiệu quả nhất để xử lý tình trạng thiếu đất sản xuất, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và quản lý dân cư hiện nay.
Bắt đầu từ tháng 6.2016, huyện Mường Nhé đã triển khai trồng rừng, với giống cây chủ yếu là keo được gieo ươm ngay trên địa bàn. Toàn bộ 11 xã đều triển khai mô hình này, trong đó 9 xã giao cho người dân trồng rừng kinh tế, riêng xã Sín Thầu và Sen Thượng giao cho Bộ đội Biên phòng trồng rừng phòng hộ thay thế.
Với các chính sách được hưởng từ Nghị định 75 của Chính phủ, mỗi hộ tham gia trồng rừng sẽ được hỗ trợ 15kg gạo/khẩu/tháng trong vòng 7 năm; 10 triệu đồng/ha rừng trồng trong 4 năm gồm giống, công trồng, chăm sóc bảo vệ và được vay 15 triệu đồng/ha để chăm sóc cho đến khi cây có thể khai thác. Ngoài ra, mỗi hộ sẽ được vay ưu đãi không dưới 50 triệu đồng để chăn nuôi.
Như vậy, kể từ khi được giao khoảng 4ha để trồng rừng, mỗi hộ sẽ được hỗ trợ và vay ưu đãi khoảng 80 triệu đồng, để trồng và chăm sóc từ 4.000 - 5.000 cây trên diện tích đất được giao cho đến khi thu hoạch. Đến nay, diện tích rừng trồng phát triển khá tốt, nhiều cây sau 3 tháng đã cao 40cm. Người dân có thể trồng cỏ trên diện tích này để chăn nuôi đại gia súc, làm vườn rau, chăn nuôi gia cầm để cải thiện cuộc sống.
Để mô hình đạt hiệu quả hơn, huyện Mường Nhé đang thử nghiệm gieo cây trực tiếp trên diện tích quy hoạch trồng rừng nhằm tiết kiệm thời gian, nhân công; đồng thời để cây dễ thích nghi với môi trường hơn.
Chủ tịch UBND xã Leng Su Sìn Trịnh Duy Giáp cho biết, xã đăng ký trồng 130ha tại địa bàn các bản Leng Su Sìn, Cà Là Pá, Pứ Ma và A Di… là những địa bàn bị phá rừng nhiều nhất. Đến thời điểm này, người dân đã trồng được 103ha, đang đề nghị Nhà nước nghiệm thu để thanh toán. Hiện diện tích rừng trồng sinh trưởng khá tốt do chất đất tốt, cây phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng. Ông Giáp hy vọng đây sẽ là phương án phù hợp để xóa đói giảm nghèo, tạo sinh kế cho người dân trên địa bàn.
Theo số liệu thống kê, toàn huyện Mường Nhé đã trồng được 810ha rừng, trong đó chủ yếu là diện tích giao cho người dân trồng rừng kinh tế (560ha), được đánh giá là bảo đảm các chỉ tiêu kỹ thuật. Bí thư Huyện ủy Mường Nhé Nguyễn Quang Sáng cho hay: Thời gian qua, mô hình nông - lâm kết hợp này bước đầu đã phát huy hiệu quả, diện tích rừng trồng được giao trực tiếp cho hộ dân quản lý nên họ có trách nhiệm hơn.
Người dân được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước có thể sống tạm ổn trong thời gian 7 năm, đến khi rừng cho khai thác người dân bắt đầu có thể làm giàu từ diện tích đất rừng được Nhà nước giao quản lý. Sau 7 năm, cây trồng lớn có thể khai thác, bán với giá 200.000 đồng/cây, chính quyền địa phương sẽ triển khai các dự án nhà máy chế biến gỗ ngay tại địa bàn để tiêu thụ sản phẩm cho người dân. (Đại Biểu Nhân Dân 20/12) đầu trang(
Phước Mỹ (TP.Quy Nhơn - Bình Định) là xã miền núi có tổng diện tích rừng 4.768ha, trong đó rừng trồng là 1.532ha. Diện tích rừng trồng của địa phương những năm gần đây tăng rõ rệt nhưng hầu hết  rừng trồng là keo lai hom, chu kỳ khai thác từ 3-5 năm, mục đích thu gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu giấy. Giúp người dân tăng thu nhập, Trạm Khuyến nông TP. Quy Nhơn triển khai mô hình “Trồng thâm canh cây gỗ lớn bằng keo lai nuôi cấy mô”.
Xuất phát từ thực tiễn cần đa dạng hóa các mô hình lâm nghiệp, nhu cầu cây gỗ lớn, năm 2016, được sự đầu tư kinh phí của Trung tâm Khuyến nông Bình Định, Trạm Khuyến nông TP.Quy Nhơn phối hợp với UBND xã Phước Mỹ xây dựng và triển khai mô hình “Trồng thâm canh cây gỗ lớn bằng keo lai nuôi cấy mô” trên địa bàn thôn Mỹ Lợi với diện tích 1ha.
Mô hình không những áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bao gồm từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và quản lý rừng mà còn giúp chuyển giao kỹ thuật trồng rừng và quản lý rừng một cách bền vững.
Sau hơn 2 tháng triển khai, thực tế cho thấy, mô hình trồng thâm canh keo lai cấy mô có triển vọng tốt, cây có tỷ lệ sống trên 90%, có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt. Cây keo lai cấy mô có mật độ trồng thưa hơn keo giâm hom. Với khoảng cách cây cách cây 2m, hàng cách hàng 3m, số lượng cây giảm đáng kể so với trồng keo giâm hom, nếu trồng trên cùng một diện tích. Cây keo lai cấy mô có ưu điểm chịu được gió mạnh, ít gãy đổ nên cây thích hợp để trồng trên diện tích đất đồi núi. Sau hơn 2 tháng trồng, cây đạt chiều cao trung bình 60 - 80cm.
Phước Mỹ có nhiều diện tích đất triền núi, có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên, nhiều năm nay, người dân vẫn sử dụng  keo giâm hom làm keo giống vì keo giâm hom giá thành thấp hơn keo lai cấy mô. Mô hình trồng keo lai cấy mô  do Trạm Khuyến nông Quy Nhơn đưa vào thôn Mỹ Lợi hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao so với các giống keo khác.
Trở ngại lớn nhất hiện nay trong việc nhân rộng mô hình là cây giống có giá bán khá cao so với các loại keo gieo ươm từ hạt hoặc cây giâm hom đang có mặt trên thị trường. Theo các chủ rừng, giá mỗi cây keo giâm hom từ 300- 400 đồng, còn giá keo lai cấy mô 1.500 đồng/cây, trong khi kết quả đem lại mới chỉ là bước đầu, chưa có hiệu quả kinh tế cụ thể.
Ông Phan Tuấn, Trạm trưởng Trạm Khuyến nông TP.Quy Nhơn, cho biết, dù giá thành hiện nay khá cao nhưng trồng cây keo lai cấy mô bước đầu đem lại hiệu quả. Nhờ cây mau phát triển, ước sau 8-10 năm thu hoạch thì với 1ha keo lai cấy mô, người dân có thể thu từ 100 - 120 tấn, năng suất cao hơn gấp 2 lần so với rừng thường. Nếu có điều kiện, có thể để chu kỳ keo từ 6-7 năm, khi đó, rừng cho trữ lượng gỗ cao nhất, đồng thời có thể bán một phần gỗ để làm mộc dân dụng có giá cao hơn giá gỗ nguyên liệu giấy.
Mặc dù hiện nay, cây keo lai cấy mô chưa thực sự được người dân đưa vào trồng đại trà, nhưng qua mô hình thí điểm có thể khẳng định bước đầu cây keo lai cấy mô dễ trồng, phát triển nhanh hơn keo giâm hom và đem lại thu nhập cao hơn nhờ rút ngắn thời gian trồng. Chính vì vậy, bà con nông dân cần cân nhắc kỹ khi trồng keo để mang lại nguồn lợi cao nhất. (Kinh Tế Nông Thôn 16/12) đầu trang(
Theo thông tin mới nhất từ Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT): Xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ cả năm nay đạt 7,3 tỷ USD, tăng nhẹ 1% so với năm trước.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp đánh giá: Năm 2016, mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ, lâm sản ngoài gỗ tăng trưởng 5-10% so với năm 2015 tùy theo nhóm sản phẩm, nhưng tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chỉ tăng 1% so với năm 2015. Nguyên nhân là bởi, giá trị xuất khẩu dăm gỗ năm nay giảm, chỉ bằng 61% so với năm 2015.
Đi sâu phân tích có thể thấy, xuất khẩu dăm gỗ giảm bắt nguồn từ nhu cầu thế giới giảm, đặc biệt là tại thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó, dăm gỗ Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh về giá bán dăm với một số thị trường có thế mạnh xuất khẩu mặt hàng này như Thái Lan, Australia, một số nước châu Phi…
Nhìn nhận chung về việc phát triển thị tường của ngành lâm nghiệp trong năm 2016, theo ông Ngãi, hợp tác quốc tế nhằm đa dạng hóa thị trường đã được đẩy mạnh. Đặc biệt, việc hoàn thành đàm phán, tuyên bố cơ bản kết thúc đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện về Thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu đã mở ra nhiều cơ hội phát triển thị trường trong giai đoạn sắp tới.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp: Về công tác nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đến nay tổng diện tích rừng trồng gỗ lớn của cả nước là 127.747ha trong tổng số 3.556.294ha rừng trồng, chiếm 3,7%. Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ nguồn giống có kiểm soát và chứng nhận nguồn gốc lô cây con đạt 84%. (Hải Quan 19/12) đầu trang(./.