Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Khoảng 9h30’, ngày 17/12, hơn 500m2 rừng tại khu vực tổ 38 và tổ 43, khu 4, phường Cao Thắng (TP Hạ Long) đã bị cháy.
Ngay sau khi nhận được thông tin về vụ cháy, UBND phường Cao Thắng đã huy động lực lượng cán bộ phường, kiểm lâm, cùng các chiến sỹ thuộc Thành đội Hạ Long, Cảnh sát PCCC số 3 tỉnh tham gia dập lửa. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, ngọn lửa đã được dập tắt, không có thiệt hại về người.
Nguyên nhân vụ cháy đang được các lực lượng chức năng điều tra làm rõ. (Báo Quảng Ninh 17/12) đầu trang(
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15-12, tại thôn Bài Xanh, xã Vân Trung (Việt Yên) xảy ra vụ cháy rừng nghiêm trọng.
Nhận được tin báo, lực lượng khoảng 100 người thuộc Hạt Kiểm lâm, Công an, Ban CHQS huyện đã phối hợp cùng Đội xung kích phòng cháy, chữa cháy rừng xã Vân Trung và nhân dân tham gia chữa cháy.
Tuy nhiên, đây là khu vực giáp ranh với thôn Giá, xã Nội Hoàng (Yên Dũng) có địa hình phức tạp, việc tiếp cận, khống chế đám cháy gặp nhiều khó khăn. Cùng đó thời tiết hanh khô, gió thổi mạnh khiến đám cháy nguy cơ lan rộng sang khu vực rừng thuộc xã Nội Hoàng (Yên Dũng). Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày đám cháy được dập tắt. Hơn 1 ha rừng bị thiêu rụi.
Được biết khu vực cháy là diện tích rừng trồng đã giao cho các hộ dân quản lý. Các cơ quan chức năng huyện Việt Yên đang tích cực điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ việc. (Báo Bắc Giang 16/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Lộc Bình đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 4,265 ha. Nguyên nhân dẫn đến cháy là do người dân đốt thực bì cháy lan. Để bảo vệ 57.030 ha rừng hiện có, huyện Lộc Bình chủ động nhiều biện pháp, hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra.
Là một trong những xã trọng điểm có nguy cơ cháy rừng của huyện, hiện xã Xuân Dương có khoảng 500 ha rừng (chủ yếu là rừng thông). Để bảo vệ tốt diện tích rừng, xã đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới nhân dân, nâng cao nhận thức trong công tác bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR); kiện toàn ban chỉ huy PCCCR, xây dựng phương án PCCCR; tổ chức ký cam kết thực hiện nội quy, quy chế PCCCR. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, nhiều năm nay trên địa bàn xã không có vụ cháy rừng nào xảy ra.
Ông Lâm Văn Lực, thôn Pắc Sàn, xã Xuân Dương cho biết: Gia đình tôi hiện có khoảng 10 ha rừng trồng thông. Để không xảy ra cháy rừng, gia đình tôi chủ động thực hiện các biện pháp như: thường xuyên cắt tỉa, phát dọn thực bì, thực hiện quản lý, bảo vệ và PCCCR theo hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm; chủ động kiểm tra, tuần rừng. Không chỉ vậy, ông Lực thường xuyên nhắc nhở con cháu, bà con xung quanh không đốt nương làm rẫy tại khu vực có rừng, nhất là vào những ngày hanh khô.
Để công tác PCCCR đạt hiệu quả, vào mùa hanh khô, Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Bình phân công cán bộ trực 24/24 giờ; phối hợp với ngành chức năng tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn công tác PCCCR trong các trường học và trên các phương tiện truyền thông đại chúng để nâng cao ý thức người dân; tham mưu cho UBND các xã kiện toàn và củng cố ban chỉ huy PCCCR ở cấp, có phương án cụ thể đối với các tiểu ban PCCCR ở cả thôn, bản trên địa bàn xã;…
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện thực hiện kiểm tra đôn đốc thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ và PCCCR ở 209 thôn, 211 tổ, đội. Qua đó, các xã, thôn cơ bản thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn. Công tác tuyên truyền được chú trọng, Hạt Kiểm lâm phối hợp tổ chức 10 hội nghị tuyên truyền lồng ghép tại xã về công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR, thu hút gần 700 lượt người nghe; tuyên truyền lồng ghép tại thôn bản cho gần 6.000 lượt người; mở 6 lớp tập huấn về PCCCR tại xã, với gần 500 người tham dự; phối hợp tuyên truyền trên Đài Truyền thanh-Truyền hình huyện được 11 lần; tuyên truyền lưu động được 20 lượt;…. Đến nay, 100% số xã, thôn bản đã kiện toàn ban chỉ huy, tổ bảo vệ rừng và PCCCR và phương án PCCCR.
Ông Vũ Ngọc Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Lộc  Bình cho biết: Từ đầu năm đến nay, toàn huyện xảy ra 5 vụ cháy rừng, nguyên nhân dẫn đến cháy là do người dân đốt nương làm rẫy, đốt ong, đốt dọn thực bì.
Vì vậy, thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và PCCCR đến các cán bộ chủ chốt của xã, thôn và hộ gia đình; phối hợp với các xã kiểm tra tuần rừng, kịp thời phát hiện lửa rừng và các hành vi vi phạm về quản lý bảo vệ rừng; tiếp tục kiểm tra đôn đốc các xã, thôn và chủ rừng thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR. (Báo Lạng Sơn 16/12) đầu trang(
Để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và đối phó với tình hình cháy rừng có thể xảy ra, ngành Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình đã và đang triển khai nhiều biện pháp tích cực.
Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện có gần 30.000 ha rừng, trong đó có hơn 20.000 ha là rừng đặc dụng, còn lại là rừng phòng hộ và hơn 5.000 ha là rừng sản xuất.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xác định rõ các vùng rừng trọng điểm cần đặc biệt quan tâm, đó là các khu rừng trồng thông nhựa lớn, rừng giẻ tái sinh và rừng khoanh nuôi trên núi đá thuộc các vùng đệm. Do đó, công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng thường xuyên được duy trì. Việc tổ chức chữa cháy rừng có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng Kiểm lâm - Quân đội - Công an và dân phòng.
Trong năm 2016, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức được gần 10 lớp tập huấn các cấp phổ biến kiến thức pháp luật về công tác PCCCR cho các lực lượng PCCCR, cho nhân dân và các chủ rừng ở các khu vực trọng điểm cháy rừng, khu vực gần rừng, khu vực có đông đồng bào dân tộc sinh sống.
Bên cạnh đó, Chi cục đã tăng cường công tác kiểm tra, tuần tra, kiểm soát những khu vực rừng dễ xảy ra cháy đặc biệt trong những ngày có dự báo cháy rừng ở cấp cao, đồng thời chỉ đạo lực lượng kiểm lâm các huyện, thành phố bố trí người canh phòng chốt chặn theo phương châm “4 tại chỗ”, nghiêm cấm các hành vi sử dụng lửa, chất nổ, chất dễ cháy ở ven rừng, trong rừng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình xảy ra 6 vụ cháy rừng, tổng diện tích thiệt hại là trên 0,280 ha, chủ yếu là cháy lướt thực bì, dây leo, cây bụi dưới tán rừng. So với năm 2015, số vụ cháy rừng giảm 25%, diện tích thiệt hại giảm 29%.
Bên cạnh những nỗ lực của lực lượng Kiểm lâm thì người dân cũng cần nâng cao ý thức trong việc đốt nương làm rẫy, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng và thúc đẩy phát triển kinh tế rừng trên địa bàn tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Ninh Bình 17/12) đầu trang(
Nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên, vừa qua UBND cả hai tỉnh đã ký kết Quy chế số 6131/QC-UBND-PY-GL về Phối hợp trong công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vùng giáp ranh hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên.
Thực hiện quy chế trên, Hạt Kiểm lâm tại vùng giáp ranh phải tăng cường tổ chức tuần tra, truy quét nhằm phát hiện kịp thời, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng tại các khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh Gia Lai và Phú Yên.
Chi cục Kiểm lâm của cả hai tỉnh cần phối hợp thực hiện công tác quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vùng giáp ranh. Trong trường hợp cần thiết phối hợp tuần tra, truy quét thì thông tin, bàn bạc với nhau, lâp kế hoạch cụ thể, sẵn sàng phối hợp kiểm tra, xác minh, xử lý trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
UBND các huyện ở vùng giáp ranh như Krông Pa, Ia Pa, Kong Chro (Gia Lai) và huyện Sơn Hòa, Sông Hinh, Đồng Xuân (Phú Yên) phải nghiêm túc thực hiện Phương án chẩn chỉnh và tăng cường quản lý bảo vệ rừng; xây dựng quy chế phối hợp để tổ chức thực hiện tốt các nội dung theo quy chế đã ký kết giữa hai tỉnh. Khoanh vùng khu vực trọng điểm về vi phạm Luật BV&PTR, tổ chức lực lượng triệt phá các điểm nóng.
Đồng thời, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, quản lý chặt công dân cư trú trên địa bàn nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các đối tượng vi phạm. Chỉ đạo xử lý triệt để các loại phương tiện xe độ chế hoạt động trên địa bàn. Xử lý nghiêm các vụ vi phạm, triệt phá tụ điểm kinh doanh, mua bán, cất giấu lâm sản trái phép… (Tài Nguyên Và Môi Trường 17/12) đầu trang(
Thực hiện Nghị định 75/2015 về cơ chế, chính sách bảo vệ, phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 của Chính phủ, việc phối hợp của lực lượng kiểm lâm với chủ rừng trên địa bàn tỉnh Yên Bái khá chặt chẽ và gắn bó mật thiết.
Lực lượng kiểm lâm luôn chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách để nâng cao kết quả vận động người dân cùng tham gia bảo vệ và phát triển rừng - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái kiêm Phó Giám đốc Sở NN - PTNT tỉnh Yên Bái Mai Mộng Tuân chia sẻ.
Với đặc thù của một tỉnh miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, Yên Bái có 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thiên phú cho Yên Bái nhiều tiềm năng phát triển đa dạng mà lâm nghiệp là một trong những thế mạnh. Tính đến hết năm 2015, diện tích đất có rừng trên địa bàn toàn tỉnh là 428.266,8ha, đạt tỷ lệ che phủ 62,2%.
Lực lượng kiểm lâm Yên Bái đóng vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng.
Ngay từ đầu năm, ngành NN - PTNT tỉnh đã phối hợp với UBND các huyện, thị xã thông qua lực lượng kiểm lâm xây dựng kế hoạch bảo vệ diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng, bên cạnh thực hiện ký hợp đồng giao khoán bảo vệ gần 50.000ha rừng tự nhiên và rừng sản xuất cho các hộ dân.
Để bảo vệ tốt “vốn” rừng hiện có và thực hiện công tác phát triển rừng ngay tại cơ sở, lực lượng kiểm lâm bố trí cán bộ phụ trách địa bàn ở tất cả các xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh để kịp thời tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy tại chỗ.
Công tác phối hợp giữa các lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội và chính quyền địa phương được duy trì thường xuyên. Công tác tuần tra, rà soát và xử lý các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép xảy ra trên địa bàn được thực hiện kịp thời, từ đó chính quyền địa phương có thể chủ động xây dựng kế hoạch, biện pháp ngăn chặn và xử lý theo quy định.
Tình trạng khai thác, buôn bán, vận chuyển, chế biến, tàng trữ lâm sản đã được kiểm soát, hạn chế tối đa tình trạng khiếu kiện, tạo điểm nóng về phá rừng. Trong 10 tháng năm 2016, toàn tỉnh đã kiểm tra và xử lý 208/219 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, thu nộp ngân sách 703.300.000 đồng.
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở và các ngành có liên quan, đặc biệt là sự tham mưu kịp thời của lực lượng kiểm lâm cho cấp ủy, chính quyền địa phương, công tác quản lý bảo vệ rừng đã có sự chuyển biến tích cực. Ý thức trách nhiệm của các cấp chính quyền, chủ rừng và người dân được nâng cao, đặc biệt là cấp cơ sở, thu hút sự tham gia tích cực của người dân trong bảo vệ và phát triển rừng.
Là cầu nối đưa những chính sách chủ trương của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, lực lượng kiểm lâm tỉnh Yên Bái luôn làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng đến người dân.
Ngay sau khi Nghị định 75/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 được ban hành, Chi cục Kiểm lâm Yên Bái dưới sự chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh đã kịp thời tuyên truyền, đưa chính sách đến từng thôn bản, vận động người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái Mai Mộng Tuân cho biết: Việc phối hợp giữa lực lượng kiểm lâm và quần chúng nhân dân rất chặt chẽ. Lực lượng kiểm lâm phát huy tối đa vai trò của mình. Cụ thể, các chiến sĩ kiểm lâm đến từng hộ dân được hưởng chính sách trên địa bàn tỉnh để tuyên truyền, vận động bà con tham gia bảo vệ và phát triển rừng; trực tiếp hướng dẫn bà con sản xuất lâm nghiệp.
Nguồn vốn hỗ trợ được quy định tại Nghị định 75 đều được chi trả thông qua lực lượng kiểm lâm nên công tác lập hồ sơ và ký kết hợp đồng của người dân đều được thực hiện dưới sự hướng dẫn của lực lượng kiểm lâm, góp phần gắn chặt mối quan hệ quân - dân khăng khít.
Bên cạnh công tác tuyên truyền chính sách, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng tăng cường hoạt động khuyến lâm, định hướng sản xuất để việc phát triển rừng đạt hiệu quả kinh tế cao theo đúng tinh thần của Nghị định 75. Tính đến nay, toàn tỉnh Yên Bái đã khai thác và tiêu thụ được 262.881,1m3 gỗ rừng trồng các loại đạt 58,4% kế hoạch năm; khai thác 18.716,8 tấn tre, nứa, vầu phục vụ chế biến trong và ngoài tỉnh, đạt 18,7% kế hoạch năm. Ngoài ra, các địa phương đã khai thác, tiêu thụ 6.198 tấn vỏ quế tươi và chế biến, tiêu thụ 251 tấn tinh dầu quế; 120,2 tấn nhựa thông và 4.832 tấn lâm sản khác.
Phát huy những thành tích đã đạt được, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái tiếp tục thực hiện nghiêm chủ trương chính sách của Nhà nước về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ và phát triển rừng, thực hiện tốt công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng đề án hỗ trợ trồng rừng thay thế nương rẫy theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 9.9.2015 của Chính phủ.
Mới đây, lãnh đạo UBND tỉnh Yên Bái đã ra công văn về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm, yêu cầu Sở NN - PTNT chỉ đạo Chi cục nghiêm túc chấn chỉnh hoạt động của lực lượng kiểm lâm và khắc phục ngay những yếu kém trong công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh, đề nghị các chiến sĩ kiểm lâm luôn giữ thái độ làm việc đúng mực, lịch sự.
Động thái này thể hiện tinh thần cầu tiến trong xử lý công việc của lãnh đạo tỉnh Yên Bái nói chung và Chi cục Kiểm lâm tỉnh nói riêng để lực lượng kiểm lâm thực sự gần dân, xứng đáng là lực lượng chuyên trách của Nhà nước về phát triển và bảo vệ rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 17/12) đầu trang(
Trước tình trạng nạn phá rừng diễn ra phức tạp trên địa bàn huyện Phước Sơn, Quảng Nam, để chấn chỉnh thực trạng này, thời gian qua, huyện Phước Sơn đã thực hiện chủ trương không cấp phép cho các xưởng cưa xẻ gỗ, đồng thời rà soát những cơ sở đã được cấp phép nhằm hạn chế tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép gỗ rừng trên địa bàn.
Hiện trên địa bàn huyện miền núi Phước Sơn có 6 xưởng cưa vòng, 20 xưởng mộc dân dụng và thu công mỹ nghệ được cấp phép hoạt động. Tuy nhiên bên cạnh các cơ cở chấp hành đúng các quy định của pháp luật thì một số cơ sở vẫn xảy ra tình trạng hoạt động không đúng với nội dung được cấp phép.
Trước thực trạng này, huyện Phước Sơn đã chỉ đạo không cấp phép mới, đồng thời chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra tình hình chấp hành quy định của pháp luật tại các xưởng cưa, các cơ sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, kiên quyết thu hồi giấy phép nếu các cơ sở này để xảy ra sai phạm.
Cùng với việc bố trí lại các xưởng cưa theo từng vùng thì việc phát huy hiệu quả tại các trạm kiểm soát lâm sản trên địa bàn cũng được tăng cường. Qua đó hạn chế tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn.
Phước Sơn là huyện miền núi, đời sống của người dân luôn gắn chặt với rừng và nhu cầu sử dụng gỗ tại chỗ cho đời sống của người dân là nhu cầu thiết thực.
Tuy nhiên, để quản lý chặt nguồn gốc gỗ, tránh việc lợi dụng, hợp thức hóa gỗ trái phép thông qua hoạt động của các xưởng cưa là việc phải tính đến. Vì vậy việc rút gọn các xưởng cưa xẻ gỗ trên địa bàn một cách hợp lý là hoạt động cần thiết để lực lượng chức năng quản lý tốt công tác bảo vệ rừng và xử lý sai phạm trên lĩnh vực này. (ANTV 17/12) đầu trang(
Nhiều chuyên gia cho rằng, lũ lụt miền Trung là do hệ quả của việc phá rừng gây ra. Phóng viên Tin Tức đã có cuộc trao đổi với ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp về vấn đề này.
Ông cho biết: Rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phòng hộ, hạn chế tác động xấu của thời tiết bất thường như lũ lụt, sạt lở... Trong nhiều năm qua, diện tích rừng ở khu vực miền Trung đã được khôi phục và tăng lên về mặt diện tích. Tuy vậy, diện tích rừng tăng lên chủ yếu là rừng mới khoanh vùng, tái sinh, phục hồi nên không có giá trị về bảo vệ môi trường phòng hộ như rừng nguyên sinh.
Chúng ta đã cố gắng trồng rừng, đây cũng là một trong những giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu và hạn chế hậu quả của thiên tai. Việt Nam cũng có nhiều chương trình đầu tư cho rừng ở miền Trung, các tỉnh này cũng đang tham gia tích cực phát triển rừng, nhưng chúng ta vẫn phải nâng cao chất lượng rừng ở khu vực Tây Nguyên để rừng thực sự có giá trị phòng hộ tốt hơn.
“Chúng tôi xây dựng Luật Lâm nghiệp để thể chế hóa chủ trương quản lý rừng bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng bền vững, quan tâm đến độ che phủ của rừng, chất lượng rừng để giảm tác động tiêu cực của thiên tai. Còn các chế tài xử lý về phá rừng đã được quy định trong Bộ Luật Hình sự, Luật về xử lý vi phạm hành chính. Việt Nam cũng đang sửa Luật Hình sự theo hướng tăng chế tài xử phạt với hành vi vi phạm về rừng, tăng hình phạt cả về mặt hình sự và hành chính.”, ông nói.
Diện tích chuyển đất rừng sang làm thủy điện mà các nhà máy thủy điện phải trồng bù đến hết năm 2015 là trên 21.000 ha. Đến hết tháng 11/2016 đã trồng được trên 90% và cơ bản những thủy điện chưa thực hiện trồng bù đã nộp tiền vào quỹ bảo vệ phát triển rừng cấp tỉnh. Về tổng thể trên địa bàn toàn quốc, cuối năm 2016 các công trình thủy điện sẽ trồng bù đủ diện tích được chuyển đổi. Có một số tỉnh trồng vượt như ở Lai Châu, nhưng còn nhiều tỉnh vẫn “nợ”.
“Chúng tôi sẽ tiếp tục đôn đốc các tỉnh này, đặc biệt là các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên, việc trồng rừng thay thế nói chung và trồng rừng thay thế đối với các công trình thủy điện ở khu vực này đạt rất thấp, có tỉnh mới đạt 30%”, ông cho hay. (Tin Tức 18/12)  đầu trang(
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh Hoàng Công Đăng cho biết: Quảng Ninh là một trong những tỉnh phía Bắc có diện tích rừng ngập mặn phát triển tốt, quy mô trồng rừng trong tương lai cũng được ghi nhận là nhiều nhất các tỉnh phía Bắc.
Quảng Ninh hiện có 427.000 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp trong đó diện tích có rừng trên 325.000 ha (gồm cả 23.000 ha rừng ngập mặn). Theo số liệu kiểm kê gần đây nhất, Quảng Ninh còn khoảng 17.000 ha có rừng ngập mặn. Diện tích mất đi do nhu cầu phát triển kinh tế khi tỉnh chỉnh trang lại các khu công nghiệp, làm nhà máy nhiệt điện.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh thường xuyên phối hợp với Hội Chữ thập đỏ tỉnh để thực hiện các dự án về trồng rừng ứng phó với thiên tai. Trong đó, dự án do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản hỗ trợ thực hiện tại Quảng Ninh được tiến hành theo 3 pha. Trong đó, đáng chú ý là Pha 1 được thực hiện từ năm 1997-2007 tại 22 xã ở 8 huyện; đã trồng khoảng 1.700 ha rừng ngập mặn là phi lao, hiện đang phát triển tốt. Pha 2 thực hiện từ 2008-2013 trồng được 700 ha ở 6 xã của 4 huyện.
Dù Quảng Ninh có tiềm năng phát triển rừng ngập mặn song không có điều kiện thuận lợi để trồng rừng (đất trồng rừng tỉ lệ cát nhiều, độ mặn cao; thời tiết khắc nghiệt dễ phát sinh những loài ký sinh như hầu, hà trên cây rừng ngập mặn…)
Để tiếp tục phát triển rừng ngập mặn, Quảng Ninh hy vọng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang phối hợp với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam có văn bản đề nghị UBND các địa phương tiếp nhận diện tích rừng ngập mặn được trồng theo dự án của Hội. Trên cơ sở đó, trong chương trình phát triển rừng hàng năm, địa phương có thể xây dựng được kế hoạch bố trí kinh phí thực hiện trồng rừng sau này.
Trước đây, với dự án của Cộng hòa Liên Bang Đức hỗ trợ, sau khi trồng xong, có sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quảng Ninh bàn giao cho các cộng đồng dân cư ở địa phương; đồng thời chỉ đạo việc quản lý, bảo vệ gắn với hoạt động lâm nghiệp của địa bàn, thậm chí được đưa vào nghị quyết của HĐND huyện. Hàng năm có kiểm tra, xác định nhiệm vụ giao cho HĐND các cấp. Làm được như vậy nên Quảng Ninh đã giữ được diện tích rừng đã trồng.
Ông Hoàng Công Đăng cũng đề nghị các địa phương nên giao rừng cho cộng đồng địa phương quản lý; thông qua nhiều chương trình để hỗ trợ người dân nhận đất, nhận rừng triển khai các mô hình phát triển sinh kế. Theo ông Đăng, rừng các tỉnh phía Bắc không có nguồn thu từ gỗ nên nếu không gắn với việc phát triển các mô hình tạo sinh kế thì rừng sẽ khó giữ, thậm chí không còn. (Vietnamplus 15/12)đầu trang(
Thượng úy Hoàng Trần Nam Thắng - Đội trưởng Đội Chống buôn lậu và gian lận thương mại - Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Hà Tĩnh cho biết, đơn vị vừa phát hiện bắt giữ 2 xe ô tô vận chuyển hơn 13,4 m3 gỗ không có giấy tờ hợp pháp.
Khoảng 23h ngày 17/12, tại địa bàn thị trấn Tây Sơn, huyện Hương Sơn, Tổ công tác Đội Chống buôn lậu - Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an Hà Tĩnh phát hiện xe ô tô tải mang biển kiểm soát Lào U2-0298, do tài xế Lê Viết Vĩnh (trú tại đội 3, xã Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa) điều khiển, vận chuyển 9,43 m3 gỗ hương và gỗ gọ lau không có giấy chứng minh hơp pháp.
Tại cơ quan công an, Lê Viết Vĩnh khai nhận toàn bộ số gỗ trên được một chủ hàng ở thị trấn Tây Sơn thuê vận chuyển từ cửa khẩu Cầu Treo về giao tại thị trấn Tây Sơn. Khi đang chờ giao hàng thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ.
Trước đó, vào khoảng 18h ngày 16/12, tại xã Hương Bình, huyện Hương Khê, Tổ công tác Đội Chống buôn lậu Phòng Cảnh sát Kinh tế - Công an Hà Tĩnh cũng phát hiện bắt giữ xe ô tô mang biển kiểm soát 38B-01189, do tài xế Nguyễn Văn Hoa (sinh năm 1964, trú tại phường Thạch Quý, thành phố Hà Tĩnh) điều khiển, chở gần 3m3 gỗ cốt-pha không có giấy tờ hợp pháp.
Vụ việc được bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Hà Tĩnh 19/12) đầu trang(
Ở nước ta, có nhiều cây gỗ sưa cổ thụ được trả giá hàng chục tỷ, thậm chí cả trăm tỷ. Có những gốc sưa đã mục nát cũng được trả giá siêu khủng.
Theo báo Kiến thức, Đình Đông Cốc (xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) được Bộ Văn hóa - Thông tin (cũ, nay là Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch) công nhận là di tích lịch sử, nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1992. Trong khuôn viên đình làng Đông Cốc hiện có cây sưa 400 tuổi nằm ngay sân đình và cây sưa 200 tuổi nằm ở cổng đình. Trong khi cây sưa 400 tuổi vẫn xanh tốt, phát triển khỏe mạnh thì cây sưa 200 tuổi có dấu hiệu bị chết cành, lá héo úa.
Từ năm 2013, một sự việc lạ lùng khi người dân trong làng rao bán cây sưa 200 tuổi ở Bắc Ninh này với giá 50 tỷ đồng. Khi đó, các bô lão trong làng có đề xuất việc bán cây sưa trên để trùng tu lại đình, xây dựng nông thôn mới, xây dựng các công trình phúc lợi… Sự việc này sau đó cũng khiến dư luận có nhiều ý kiến trái chiều bởi đình Đông Cốc là di tích lịch sử, nghệ thuật cấp quốc gia, nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong các khu vực bảo vệ của di tích, trường hợp đặc biệt phải được phép của Bộ.
Sự việc tưởng như dừng lại thì mới đây, việc chính quyền xã Hà Mãn bán đấu giá cây sưa 200 tuổi với giá 24,5 tỷ lại khiến người dân địa phương bức xúc phản đối.
Tại cuộc họp ngày 8/8/2016 được tổ chức tại nhà văn hóa thôn Đông Cốc về vấn đề này, ngay khi trưởng thôn Đông Cốc thông báo biên bản bán đấu giá cây sưa với giá 24,5 tỷ đồng, các cụ cao tuổi trong làng đã nêu ý kiến không đồng ý việc bán cây sưa. Trong biên bản cuộc họp, đáng chú ý là ý kiến ông Nguyễn Văn Cử, người dân thôn Đông Cốc: “Cây sưa ở đình Đông Cốc đã có nhiều người trả với giá 49 tỷ. Khi đó người dân đòi bán để xây dựng nông thôn mới, trùng tu lại đình mà không đồng ý bán. Nay lại bán cây với giá 24,5 tỷ là quá rẻ”.
“Cây sưa này các cụ và dân làng, cán bộ địa phương đã giao cho BQL di tích trông nom ngày đêm. Khi bán đấu giá, chính quyền lại không có ý kiến gì với nhân dân địa phương”, ông Hận, người dân địa phương nêu ý kiến.
Đặc biệt, ngày 7/12/2016, UBND xã Hà Mãn tổ chức hội nghị triển khai kế hoạch hạ giải cây sưa 200 tuổi tại Đình làng Đông Cốc để giao người trúng đấu giá. Khi hội nghị vừa bắt đàu làm việc, giới thiệu địa biểu, thành phần hội nghị thì xuất hiện một số đối tượng gây rối, ẩu đả dẫn đến xô xát, gây mất an ninh trật tự, vì vậy hội nghị đã phải tạm hoãn.
Báo Người lao động đưa tin, đối với người dân thôn Phụ Chính, xã Hòa Chính, huyện Chương Mỹ, TP Hà Nội, 2 gốc cây sưa hàng trăm năm tuổi trong đền Đức Thánh Nhì như cội rễ văn hóa, biểu tượng tâm linh. Vì thế, dù đã nhiều lần bị kẻ xấu dọa chặt trộm nhưng nhờ sự quyết tâm bảo vệ của người dân mà 2 cây sưa vẫn bình an đến tận bây giờ.
Hai cây sưa cao hàng chục mét và đường kính hơn 1 m, phải 2-3 người ôm mới xuể, được bao bọc bằng những thanh sắt quanh thân cây rất chắc chắn nhưng hiện đã chết khô một nửa vì... quá già. Người dân ở đây cho biết cách đây nhiều năm, giá gỗ sưa tăng chóng mặt, người ta ví gỗ sưa giá trị ngang vàng ròng. Năm 2010, khi một số cành sưa gãy đổ vì mưa bão, các cụ già trong thôn họp bàn với dân làng khai thác thêm phần cành sưa già cỗi bán đấu giá lấy tiền sửa đình, chùa, nghĩa trang trong thôn và một số công trình phúc lợi khác.
Ông Vũ Văn Xuyện (56 tuổi), phó trưởng thôn, cho hay sau khi làm đầy đủ thủ tục, người dân thôn Phụ Chính xin ý kiến UBND xã và thông báo rộng rãi trong thời gian 1 tháng để bán đấu giá. Nhiều lái gỗ đã tham gia đấu giá và ông Dương Văn T. (ngụ tỉnh Bắc Ninh) trúng đấu giá 2,506 m3 với số tiền 20,5 tỉ đồng.
Sau vụ việc bán gỗ sưa với giá trị lớn đó, người lạ mặt liên tục tìm đến thôn Phụ Chính, có đại gia buôn gỗ khét tiếng và cả những kẻ xăm trổ kín người rồi “sưa tặc” từ khắp nơi kéo về, đêm ngày phục kích, chờ dân làng sơ hở để ra tay.
Mấy năm trước, trong một cơn bão, lợi dụng nửa đêm, lúc mưa to gió lớn, “sưa tặc” đã cắt cửa khóa cổng vào đền và chặt 2 nhánh ở cây sưa lớn. Ngọn sưa bị cưa cụt lủn, dưới gốc chỉ còn mấy khúc gỗ nhỏ sót lại.
Sau đó, người dân họp lại, thành lập ban bảo vệ 2 gốc sưa. Người dân thay phiên nhau trông giữ ngày đêm, bất kể nắng hay mưa. Rồi hàng rào bằng bê-tông cũng được dỡ bỏ, thay vào đó là những thanh sắt hình lồng bao bọc quanh gốc sưa hệt như những chiếc áo giáp khổng lồ.
Thông tin đăng tải trên báo Dân trí, một cây sưa đỏ có đường kính khoảng 2m, cao hơn 20m, giá trị hàng trăm tỉ đồng bị nhóm lâm tặc đốn hạ ở khu vực Hin Nậm Nô (Lào) giáp biên giới huyện Minh Hóa (Quảng Bình).
Theo giới đầu nậu, sau khi phát hiện cây sưa đỏ trên, một nhóm lâm tặc ở huyện Bố Trạch đã huy động hàng chục người mang theo cưa máy, mìn vượt qua biên giới để đốn hạ cây sưa có giá trị hàng trăm tỉ đồng này.
Cũng theo nguồn tin này cho hay, cây sưa đỏ trên đã được lâm tặc cưa xẻ xong và đang chờ cơ hội để tẩu tán về xuôi.
Thông tin đăng tải trên Trí thức trẻ, UBND huyện Bố Trạch (Quảng Bình) cho biết, gốc sưa khủng được trục vớt tại ngầm Troóc, xã Phúc Trạch (huyện Bố Trạch) có trọng lượng 2.140kg tương đương 2,140 m3. Sau khi làm sạch và khô, gốc gỗ chỉ còn nặng 1,5 tấn. Tính theo giá thị trường 12 triệu đồng/1kg, gốc gỗ sưa này có giá khoảng 17 tỷ đồng.
Sau khi tiến hành thẩm định, các cơ quan chức năng kết luận gốc gỗ được vớt tại ngầm Troóc là gỗ sưa hay còn gọi là gỗ huê, loại huê mộc vàng (nhóm 1), cực kỳ quý hiếm.
Từ khi phát hiện gốc gỗ sưa này, đã có rất nhiều đầu nậu gỗ muốn đến thu mua. Tuy nhiên nhiều người vẫn còn hoài nghi về giá trị thực của nó bởi gốc gỗ này đã bị ngâm lâu dưới nước nên chất lượng gỗ sẽ không được tốt như những cây sưa khác. (VietQ 18/12) đầu trang(
Tỉnh Lào Cai phối hợp Tổng cục Môi trường, Bộ Tài Nguyên và Môi trường phối hợp với Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo khởi động dự án“Xây dựng năng lực cho việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam”.
Việt Nam được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về đa dạng sinh vật và là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất của thế giới. Tuy vậy, việc chia sẻ lợi ích giữa bên sử dụng với bên cung cấp nguồn gen đa dạng sinh học vẫn chưa được thực hiện do chưa có hành lang pháp lý để quản lý vấn đề này. Nghị định thư Nagoya về tiếp cần nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen, được coi là sáng kiến mới nhằm phát huy lợi thế về đa dạng sinh học ở Việt Nam nhằm quản lý hữu hiệu, và để khẳng định chủ quyền của quốc gia đối với nguồn gen.
Dự án sẽ được thực hiện trong bốn năm với tổng kinh phí là 12,5 triệu đô la Mỹ. Trong đó, quỹ Môi trường toàn cầu thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ 2 triệu đô la bằng tiền mặt. Phần còn lại là đóng góp từ vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam và hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 16/12) đầu trang(
Vườn quốc gia Pù Mát hiện là Vườn quốc gia có diện tích và độ che phủ cao nhất cả nước (hơn 98%).
VQG Pù Mát hiện là VQG có diện tích và độ che phủ cao nhất cả nước (hơn 98%). Có được thành tích ấy, phải nói ngay rằng, nhờ có sự lồng ghép của Dự án Lâm nghiệp xã hội và BTTN tỉnh Nghệ An (SFNC) giai đoạn 1997 - 2004 nên cư dân vùng đệm và VQG Pù Mát đã nhận được sự tập trung đầu tư sâu rộng từ dự án này.
Trong đó các hoạt động đào tạo, tập huấn nghiệp vụ, tham quan mô hình cho các đối tượng trong vùng đệm; Xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị VQG, các chương trình điều tra, nghiên cứu khoa học, hoạt động tuyên truyền giáo dục môi trường để nâng cao nhận thức của người dân; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, nâng cao năng lực tuần tra cho cán bộ quản lý và Kiểm lâm viên của Vườn; nâng cao năng lực tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức các hoạt động tham quan học tập kinh nghiệm...
Có thể nói chính nhờ hiệu quả của các chương trình hoạt động của dự án SFNC mà đời sống người dân trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Pù Mát đã được cải thiện, nâng cao thu nhập, nhiều hộ đã làm giàu từ các mô hình phát triển kinh tế vườn rừng. Sức ép chặt phá rừng đã giảm rõ rệt, người dân đã có nhiều hoạt động hỗ trợ lực lượng Kiểm lâm cùng thực hiện bảo vệ rừng.
Công tác quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch cũng đã được chú trọng thực hiện làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm. Hiện tại, việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững VQG Pù Mát giai đoạn 2013-2020 đã được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt; Ngoài quy hoạch chung, căn cứ vào kế hoạch chiến lược quốc gia và thực tế hiện trạng quần thể động thực vật quý hiếm của Vườn, đơn vị cũng đã tiến hành quy hoạch và tổ chức thực hiện các khu vực bảo tồn đặc biệt đối với một số loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu như Sao La, Vượn đen má trắng, Hổ, Voi, Sa mu dầu….
Công tác quản lý bảo vệ 94.715,4 ha rừng và đất rừng suốt thời gian qua đạt kết quả tốt. Đường ranh giới giữa vùng lõi và vùng đệm được cắm mốc đầy đủ làm cơ sở cho việc xác định các vụ vi phạm lâm luật để tiến hành xử lý. Toàn bộ vùng lõi được phân chia thành các tiểu khu và giao cho từng kiểm lâm viên tổ chức quản lý, bảo vệ nhờ đó đã nâng cao hiệu quả công tác của lực lượng KL.
Việc khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng cũng được Vườn quan tâm thực hiện như việc khoán bảo vệ gần 30.000 ha rừng cho gần 1000 hộ gia đinh sinh sống giáp ranh để có thêm thu nhập và hỗ trợ cho hoạt động của kiểm lâm; hỗ trợ phát triển cộng đồng thôn bản để người dân có ý thức hơn, gắn kết hơn với VQG trong việc quản lý bảo vệ rừng.
Hiện tại, toàn bộ lâm phần quản lý đã cơ bản chấm dứt được tất cả các điểm nóng khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã. Trong 20 năm thành lập, toàn lâm phần quản lý đã để xẩy ra 6 vụ cháy rừng, với diện tích gần 6ha.
Trong 20 năm qua, Vườn đã tự thực hiện và hợp tác với các đơn vị, các tổ chức khác như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học lâm nghiệp, Viện dược liệu, Trường đại học Vinh, Trường đại học Lâm nghiệp, Trường đại học Nông lâm Huế, Trung tâm tài nguyên và môi Trường đại học quốc gia Hà Nội, các trường cao đẳng, các tổ chức, các nhà khoa học trong nước và quốc tế để thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học, thu thập mẫu tiêu bản động thực vật để phục vụ nghiên cứu.
Kết quả đã cơ bản hoàn thành lập danh lục các lớp động vật và các ngành thực vật hiện có. Tổ chức sưu tập và bảo quản hàng ngàn mẫu tiêu bản động thực vật làm cơ sở cho việc đào tạo, nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu quan trọng nhất phải kể đến, đó là 4 loài thú mới được ghi nhận cho thế giới ở Việt Nam thì cả 4 loài đó đều chụp được ảnh trong tự nhiên tại Pù Mát; Hai loài Hổ và Voi được ưu tiên bảo tồn cấp quốc gia thì Pù Mát cũng được xác định là nơi để triển khai chương trình bảo tồn đó; trong 20 năm qua, các nhà khoa học đã công bố 2 loài thực vật mới, 2 loài lưỡng cư mới được ghi nhận tại Vườn quốc gia Pù Mát; Nhiều loài động vật quý, hiếm ưu tiên được bảo vệ của Chính phủ hiện nay vẫn có số lượng quần thể tương đối ổn định, vẫn chụp được ảnh bằng chương trình bẫy ảnh tại đây.
Nhiều khu vực trọng điểm về phân bố các loài thú quý hiếm đã được quy hoạch để làm khu vực bảo vệ đặc biệt. VQG Pù Mát đã tiến hành nhiều hoạt động có ý nghĩa như hợp tác bảo tồn liên biên giới với Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Bô-li-khăm-xay và Tổng cục Lâm nghiệp (CHDCND Lào) trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, Hợp tác với Vườn thực vật nhiệt đới Xishuangbanna – Viện Hàn lâm khoa học Trung quốc trong việc đào tạo và nghiên cứu về thực vật.
Công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường cũng đã được Vườn quan tâm thực hiện. Tiếp nối các hoạt động GDMT từ Dự án SFNC, từ năm 2004 đến nay, Vườn đã thường xuyên đổi mới các hình thức truyền đến cộng đồng dân cư và các đối tượng học sinh từ tiểu học đến THPT. Kết quả công tác đổi mới này đã được đánh giá bằng một đề tài khoa học cấp tỉnh, được hội đồng xếp loại khá.
Tài liệu tuyên truyền đã được nhân rộng và chuyển giao cho các khu rừng đặc dụng khác của tỉnh Nghệ An như Pù Huống, Pù Hoạt. Ghi nhận những kết quả đó, năm 2006 Vườn vinh dự là một trong 13 đơn vị của cả nước được nhận giải thưởng Môi trường Việt Nam; năm 2008 đạt thương hiệu xanh bền vững và đơn vị văn hóa tiêu biểu xuất sắc; năm 2013 tiếp tục được nhận giải thưởng Môi trường Việt Nam; và đặc biệt, năm 2015 Vườn quốc gia Pù Mát được Bộ Tài nguyên môi trường công nhận điển hình tiên tiến về bảo vệ môi trường giai đoạn 2011-2015.
VQG Pù Mát hiện không chỉ được biết đến về sự phong phú và đa dạng về các loài động thực vật hoang dã, mà tại đây còn là một địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn của Nghệ An.
Vườn đã và đang xúc tiến để đẩy mạnh các hoạt động đầu tư khai thác du lịch và dịch vụ tại các tuyến điểm quan trọng như: Thác Kèm, Sông Giăng, tuyến tham quan cây di sản Việt Nam trong vùng lõi của Vườn... đặc biệt, trong thời gian qua, Vườn đã phối hợp chặt chẽ với UBND huyện Con Cuông tiếp cận đề nghị tập đoàn Mường Thanh đầu tư vào phát triển du lịch và dịch vụ tại Thác Kèm, tập đoàn đã đồng ý và có văn bản đề nghị UBND tỉnh Nghệ An chấp thuận chủ trương.
Là người anh cả trong các khu rừng đặc dụng của tỉnh Nghệ An, trong 20 năm qua, Vườn quốc gia Pù Mát đã hoàn thành các hoạt động có ý nghĩa quan trọng cho tỉnh Nghệ An, đó là tham mưu cho UBND tỉnh để phối hợp với các nhà khoa học lập hồ sơ đề xuất thành lập Khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Hồ sơ đã được hoàn thiện đúng thời gian, đảm bảo hội đủ các yếu tố cho một khu dự trữ sinh quyển, vì vậy, hồ sơ khi đề xuất đã được UNESCO chấp thuận mà không phải chỉnh sửa gì.
Trong thời gian quan, Vườn đã được vinh dự đón nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến thăm và làm việc trên địa bàn miền Tây Nghệ An, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, Nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu; Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết; Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn, Trương Vĩnh Trọng, Nguyễn Mạnh Cầm, và rất nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước.
Trong suốt 20 năm xây dựng và phát triển của mình, tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại VQG Pù Mát đã vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động Hạng Ba, 02 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và 15 bằng khen của các Bộ, ngành TW; 26 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và LĐLĐ tỉnh; 24 lượt cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của các Bộ, ngành TW; 39 Bằng khen của UBND tỉnh và của LĐLĐ tỉnh cùng hàng trăm Giấy khen khác. (Sức Khỏe Và Đời Sống 19/12) đầu trang(
Tổng cục Hải quan nhận định, dịp cuối năm, các thủ đoạn buôn lậu động vật hoang dã, quý hiếm diễn biến phức tạp, với thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trên tuyến đường bộ, động vật hoang dã từ châu Phi và một số quốc gia khác, được đối tượng buôn lậu vận chuyển qua Lào, Cam-pu-chia, sau đó đưa vào Việt Nam bằng đường bộ. Từ Việt Nam, các đối tượng iếp tục vận chuyển lậu qua các đường mòn, đường tắt sang Trung Quốc.
Tại Trạm Kiểm soát liên hợp Km15 - Bến tàu Dân Tiến (TP Móng Cái, Quảng Ninh), chúng tôi được Trạm trưởng Nguyễn Văn Hoàn cho biết: Thủ đoạn chủ yếu của các đối tượng buôn lậu là chia nhỏ, cất giấu động vật hoang dã và sản phẩm động vật hoang dã như ngà voi, vẩy tê tê, xương hổ, rắn, rùa, cầy, cáo các loại… trong hàng hóa nông sản xuất khẩu, hành lý, trong người hoặc trên phương tiện vận tải để vận chuyển qua cửa khẩu, lối mở, đường mòn biên giới. Ngày 25-3-2016, nhận được tin báo của người dân, Tổ công tác thuộc Trạm đã triển khai chốt chặn, ra hiệu lệnh kiểm tra một xe ô-tô với hai người trên xe.
Bất ngờ, các đối tượng lùi xe bỏ chạy. Đến địa phận xã Hải Tiến, TP Móng Cái, một đối tượng bị bắt giữ, đối tượng còn lại trốn thoát. Kiểm tra trên xe này, Tổ công tác thu giữ 129 con tê tê Java (535 kg), trị giá 936 triệu đồng.
Trên tuyến hàng không, đa số vụ việc đã phát hiện có tính chất nghiêm trọng, thủ đoạn tinh vi, nhiều nhất là các vụ vận chuyển trái phép ngà voi và sừng tê giác. Các đối tượng chủ yếu mua bán ngà voi, sừng tê giác tại các nước châu Phi (Ăng-gô-la, Mô-dăm-bích, Nam Phi, Kê-ni-a), rồi vận chuyển bằng đường hàng không về sân bay quốc tế Nội Bài hoặc Tân Sơn Nhất để buôn bán, vận chuyển trái phép sang các nước lân cận.
Để qua mắt cán bộ hải quan, chúng thường cất giấu trong các đồ vật, bôi tỏi lên sản phẩm, chia nhỏ, cất giấu ngụy trang trong va-li… Sau đó, chúng móc nối với một số đối tượng có nhiệm vụ trong sân bay để tuồn hàng ra ngoài, che mắt các lực lượng chức năng.
Phó Cục trưởng Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) Nguyễn Khánh Quang cho biết, thời gian gần đây, một số vụ việc vi phạm được phát hiện lại có tuyến đường vận chuyển từ các nước ít bị nghi ngờ, hoặc từ những vùng không có động vật hoang dã. Ngày 26-3-2016, thực hiện Chuyên án mang bí số NB2016, Cục Điều tra chống buôn lậu đã phát hiện, bắt giữ lô hàng được Hãng hàng không Turkish Airlines vận chuyển về sân bay Nội Bài, tang vật gồm 238 kg ngà voi và 248 kg vẩy tê tê.
Các đối tượng buôn lậu thường thuê người lao động vận chuyển và móc nối với nhân viên hàng không ở mặt đất. Khi bị phát hiện thường xé vé hàng ký gửi hoặc thay đổi, từ chối nhận hàng, tên hàng khai báo trên vận đơn thường chung chung, không cụ thể, cho nên gây khó khăn rất lớn trong công tác điều tra, bắt giữ đối tượng.
Ngày 6-10-2016, Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Sài Gòn Khu vực 1 (Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh) đã phối hợp bắt giữ lô hàng của một doanh nghiệp, mặt hàng theo khai báo là gỗ xuân đào xẻ hộp, xuất xứ Mô-dăm-bích, quá cảnh Ma-lai-xi-a. Nhưng kiểm tra phát hiện 12 khối gỗ có dấu hiệu bị đục rỗng, khi phá dỡ khám xét phát hiện tổng số tang vật vi phạm là 569 khúc ngà voi châu Phi, nặng 2.052 kg, 32 đôi đũa được chế tác từ ngà voi, 50 gam lông đuôi voi; bảy chiếc xương sọ và 25 móng vuốt loài sư tử châu Phi.
Tiếp đó, ngày 26-10-2016, Chi cục phối hợp các lực lượng chức năng thực hiện khám xét lô hàng quá cảnh đi Cam-pu-chia, phát hiện trong hai công-ten-nơ có khoảng 863 kg mẫu vật nghi là ngà voi, được giấu trong các lóng gỗ khoét rỗng ruột, được đóng kín chèn thạch cao đặc bên trong, dán kín bằng keo phủ đất bên ngoài để che giấu các mối nối, tránh sự phát hiện của các cơ quan hải quan…
Các vụ việc nêu trên là điển hình cho những thủ đoạn phổ biến trên tuyến đường biển. Đối tượng buôn lậu thường lợi dụng các ưu đãi trong chính sách xuất, nhập khẩu hàng hóa, nhất là lợi dụng việc tạo thuận lợi trong quy trình thủ tục hải quan điện tử và việc áp dụng quản lý rủi ro để khai báo sai tên hàng; lợi dụng việc chuyển tải tại cảng trung chuyển nước ngoài để tạo mới chứng từ, che giấu cảng xếp hàng gốc. Cụ thể: Hàng hóa được chuyển tải qua nhiều tàu, vận chuyển qua nhiều cảng ở các nước khác nhau trước khi đến Việt Nam.
Tên hàng trên chứng từ là hoàn toàn giả mạo để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng. Khi bị phát hiện thì từ chối nhận hàng hoặc không khai báo làm thủ tục hải quan. Để đối phó, các đối tượng buôn bán, vận chuyện thường khai báo động thực vật hoang dã là hàng thủy tinh, giấy cuộn, than củi, lạc nhân đóng bao, gỗ thường, nhưng thực tế kiểm tra, khám xét, phát hiện hàng là ngà voi, mai rùa, sừng tê giác...
Tìm hiểu tại Cục Hải quan các tỉnh: Long An, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Gia Lai - Kon Tum, chúng tôi được biết, đối tượng buôn lậu lợi dụng cả sự thông thoáng trong chính sách quản lý nhà nước về hải quan đối với các loại hình kinh doanh trong hoạt động xuất, nhập khẩu như tạm nhập - tái xuất, quá cảnh… để buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã. Đáng lo ngại, chúng còn lợi dụng cả việc gây nuôi, cấp phép theo Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) để kết hợp trà trộn, buôn lậu động vật hoang dã quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.
Nhận định cách thức, thủ đoạn buôn lậu động vật hoang dã, quý hiếm nói riêng tiếp tục diễn biến tinh vi, cho nên lực lượng chống buôn lậu hải quan đã chủ động tăng cường hệ thống máy soi, hệ thống ca-mê-ra giám sát, hệ thống giám sát định vị vệ tinh, chíp giám sát điện tử... để bảo đảm kiểm soát chặt chẽ nhưng không gây ảnh hưởng đến lưu chuyển hàng hóa.
Ngành hải quan tăng cường lực lượng và công tác thu thập, xử lý thông tin, nắm vững diễn biến tình hình tại các địa bàn, xác định trọng điểm, xây dựng kế hoạch, phương án, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, bắt giữ, xử lý kịp thời. Lực lượng hải quan phối hợp tuần tra, kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu hàng không, cảng biển, đường bộ quốc tế, đường mòn, lối mở qua biên giới.
Tập trung phát hiện, xử lý dứt điểm các đường dây, ổ nhóm buôn bán trái phép động vật hoang dã, bao gồm cả mẫu vật giả ở khu vực biên giới và thị trường nội địa. Công tác trao đổi thông tin; tổ chức lực lượng, phương tiện hiệp đồng tác chiến, đấu tranh, bắt giữ xử lý các vụ việc, cũng được chú trọng.
Về lâu dài, lực lượng hải quan tiếp tục thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả, coi trọng vai trò của các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội ở tất cả các khâu, từ tổ chức tuyên truyền, vận động, đào tạo nhận biết các loài động vật hoang dã cần được bảo vệ, đến phối hợp phát hiện, bắt giữ, xử lý.
Xây dựng các đầu mối trao đổi thông tin thường xuyên về tội phạm với các nước láng giềng là cần thiết để tạo điều kiện hỗ trợ nhau về thông tin xác minh, điều tra. Bên cạnh đó, Cục sẽ phối hợp tập huấn hằng năm về động thực vật hoang dã cho các cơ quan thực thi pháp luật như: nhận dạng loài, các xu hướng và thủ thuật buôn lậu, luật pháp liên quan mới ban hành.
“Các cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền về việc cấp giấy phép đối với hoạt động gây nuôi các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cần thường xuyên quản lý, kiểm tra chặt chẽ, tránh tạo sơ hở cho đối tượng buôn lậu lợi dụng hợp pháp hóa nguồn gốc các loài động, thực vật hoang dã đã được mua gom trái phép để kinh doanh, buôn bán, vận chuyển trái phép qua biên giới” - đồng chí Nguyễn Khánh Quang đề nghị.
Từ ngày 16-12-2015 đến 15-12-2016, toàn ngành hải quan đã phát hiện và bắt giữ 26 vụ, khởi tố năm vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã qua biên giới. Nhiều nhất là các vụ buôn lậu các sản phẩm từ ngà voi (chín vụ, hơn 4.858 kg), sừng tê giác (hai vụ, 2,7 kg), tê-tê (năm vụ, hơn 900 kg vẩy và cá thể). (Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Kiểm lâm Hà Tĩnh và CAH Hương Khê (Hà Tĩnh) đang xác minh làm rõ chủ tài khoản facebook có tên “Điên Tài” được cho trú tại H. Hương Khê (Hà Tĩnh) sau khi đăng nhiều hình ảnh liên quan đến việc săn bắn động vật hoang dã trái phép.
Trên facebook “Điên Tài” đăng hình ảnh một thanh niên đang bóp cổ 1 chú khỉ, hình ảnh con mang rừng bị trói 4 chân; hình 3 thanh niên cầm súng tự chế với con chim lớn vừa bị bắn...
Ngay sau khi những bức ảnh được đăng tải, cộng đồng mạng tỏ ra phẫn nộ và chỉ trích kịch liệt vì hành động dã man trên. Tuy nhiên, chủ tài khoản thì tỏ ra hả hê, thách thức và cho rằng đây chỉ là số lượng nhỏ. (Công An TP.Đà Nẵng 19/12; Tiền Phong 18/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại hội thảo quốc gia về dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ngày 16/12 tại Hà Nội, các góp ý của các đại biểu đều đồng tình khi Luật sửa đổi có bổ sung phạm vi điều chỉnh đối với các hoạt động “kinh doanh, chế biến và thị trường lâm sản” và đề nghị lấy tên luật là “Luật Lâm nghiệp”.
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 mới chỉ chú trọng vào việc quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng gỗ, chưa chú ý đến giá trị dịch vụ môi trường rừng. Trong khi những giá trị dịch vụ này có thể cao hơn nhiều, điển hình như hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hàng năm tương đương 22% tổng đầu tư xã hội vào ngành lâm nghiệp.
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, luật sẽ được sửa đổi gần như cơ bản, trong đó đặc biệt là phạm vi điều chỉnh. Nhiều nội dung của luật phải sửa đổi nên việc đề nghị sửa đổi tên luật sao cho phù hợp, đồng thời thể hiện cần phải quản lý theo chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp theo cơ chế thị trường, thể hiện đồng bộ các luật chuyên ngành như Luật Thủy sản, Luật Thủy lợi (đang được xây dựng)…. việc sử đổi luật để phù hợp với chủ trương chính sách mới của Đảng, Nhà nước, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, đặc biệt là Hiến pháp 2013 và một số Luật được Quốc hội mới thông qua; hài hòa với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Đồng thời  khắc phục những hạn chế, tồn tại của luật hiện hành về phân loại rừng, đổi mới công tác giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất đối với hộ gia đình cá nhân theo hướng không thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để khuyến khích trồng rừng, bổ sung các quy định về hoạt động chế biến và kinh doanh lâm sản, hoạt động đầu tư tín dụng tài chính trong lâm nghiệp.
“Dự thảo luật lần này đẩy nhanh, sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa trong lâm nghiệp. Tạo khung chính sách để thu hút các nguồn lực để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng bền vững; đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, của chủ rừng và người làm nghề rừng để lâm nghiệp đóng góp ngày càng tăng vào nên kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng từ trồng rừng đến khai thác, chế biến, dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái và thị trường lâm sản”,  ông Hà Công Tuấn cho biết.
Góp ý về việc phân chia thành 3 loại rừng trong dự thảo, ông Nguyễn Văn Lạng, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ góp ý, không nên chia rừng thành 3 loại mà chia rừng theo 2 loại và chia theo sở hữu gồm rừng Nhà nước và rừng theo sở hữu kinh tế. Bởi, việc quản lý và bảo vệ rừng cần tính theo cơ chế thị trường. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều tiến bộ khoa công nghệ được ứng dụng cần đẩy mạnh vấn đề ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Trương Minh Hoàng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, trong luật cần quan tâm đến chủ thể rừng. Hiện chủ thể rừng rất khác nhau, quá trình giao đất, giao rừng của các công ty lâm nghiệp trước đây lại giao khoán cho hộ dân nhưng không loại trừ nhiều nơi việc giao khoán không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao, đời sống của bà con được giao đất giao rừng còn khó khăn.
Cần tính toán chủ thể, người được giao đất giao rừng có thể làm giàu trên mảnh đất này. Bên cạnh đó, hệ sinh thái rừng cần tiếp tục quy hoạch và phát triển theo kế hoạch nên sắp tới cần tính toán định giá trong môi trường rừng. (Tin Tức 16/12; Nông Nghiệp Việt Nam 19/12) đầu trang(
Thưa quý vị và các bạn, trong những năm qua, công tác quản lý, sử dụng đất đai nói chung và quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn tỉnh Sơn La đã được quan tâm thực hiện.
Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp vẫn còn những hạn chế, bất cập, gây ra những khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân từ đâu dẫn đến tình trạng này? Sơn La sẽ làm gì để làm tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng.
Nguyên Văn phóng sự sau đây sẽ giúp quý vị có câu trả lời.
Theo số liệu kiểm kê rừng năm 2015 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1529 ngày 29/6/2016: Trong tổng số hơn 917.000 ha diện tích đất rừng đã giao cho các tổ chức, hộ gia đình quản lý, diện tích đất lâm nghiệp có rừng hiện nay là 599.000 ha và có trên 318.000 ha đất lâm nghiệp hiện đang được sử dụng để trồng các loại cây nông nghiệp, gây ra những bất cập trong công tác quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Huyện Mai Sơn từ lâu được xem là mảnh đất màu mỡ, có nhiều lợi thế để phát triển các loại cây trồng như ngô, sắn, cà phê. Chính bởi những điều kiện thuận lợi về khí hậu và đất đai nên cây ngô và cây cà phê càng phát huy được thế mạnh khi trở thành loại cây trồng chính của bà con nông dân. Thế nhưng, áp lực mạnh từ gia tăng dân số và nhu cầu cấp thiết về đất sản xuất, hàng chục nghìn ha đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Mai Sơn đã bị lấn chiếm và sử dụng sang mục đích khác không phải là phát triển lâm nghiệp.
Ông Tòng Văn Sơn – Chủ tịch UBND xã Chiềng Sung – Mai Sơn: Vấn đề này là do nhịp độ phát triển nông nghiệp chung của cả tỉnh, người dân sinh ra lại không có đất cho nên là việc người dân tự ý phá rừng làm nương là cấp ủy chính quyền cũng đang tiếp tục vận động để người dân chuyển đổi cơ cấu, làm sao người dân sống được trên diện tích rừng đó.
Những hình ảnh này chúng tôi mới ghi lại được tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn. Sau vụ thu hoạch mới thấy rõ sự tác động của con người với diện tích rừng và đất lâm nghiệp. Khi diện tích cây ngô, cây mía ngày càng gia tăng thì diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp. Những cánh rừng dù đã được quy hoạch phát triển lâm nghiệp hàng chục năm qua thì giờ cũng đã biến thành nương rẫy một cách bất hợp pháp. Mặc dù đã bị xử phạt, nhưng việc bà con lấn chiếm đất rừng để sản xuất chưa dừng lại.
Ông Lò Văn Liên – Phó Chủ tịch UBND xã Cò Nòi – Mai Sơn: Xã Cò Nòi chúng tôi quản lý hơn 3.000 ha đất lâm nghiệp nhưng hiện nay chỉ còn hơn 1.000 ha đất lâm nghiệp, hơn 2.000 ha đất lâm nghiệp đang trồng cây nông nghiệp. Do điều kiện kinh tế, xuất phát từ vấn đề đấy nên các hộ gia đình dù đã được tuyên truyền, vận động, các hộ vi phạm cũng đã bị xử lý, lập biên bản nhưng việc dứt điểm của nhiều hộ là dù có nộp tiền rồi nhưng không trả lại đất để trồng rừng.
Cây cà phê từ nhiều năm qua cũng đã trở thành cây trồng chủ đạo của bà con nông dân huyện Mai Sơn. Cũng chính từ lợi nhuận từ cây trồng này mang lại, nhiều hộ dân đã tự ý xâm lấn, phá rừng để phát triển diện tích cây cà phê. Những hình ảnh này đã không còn xa lạ trong những năm gần đây, mặc dù phát triển nông lâm kết hợp đanglà hướng đi đúng đắn, thế nhưng việc phá bỏ rừng để phát triển các loại cây nông nghiệp lại là việc đáng lên án.
Ông Lò Trung Đoàn - Chủ tịch UBND xã Chiềng Mung – Mai Sơn: Bà con vi phạm đất lâm nghiệp đã diễn ra từ lâu, trước khi có công ty chè cà phê thì bà con nhân dân, các hộ gia đình đã lấn chiếm đất rừng để canh tác trồng cây cà phê. Chính quyền địa phương đã thực hiện công tác tuyên truyền vận động nhưng bà con nhân dân vẫn tái diễn vi phạm.
Tình trạng xâm lấn rừng và đất lâm nghiệp đã xảy ra từ nhiều năm nay ở hầu hết các địa phương trên địa bàn tỉnh Sơn La. Hầu hết diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm được dùng để trồng ngô, lúa, sắn, cà phê và các loại cây trồng khác.
Theo số liệu kiểm kê rừng năm 2015, toàn tỉnh hiện có tới trên 318.000 ha đất lâm nghiệp có cây nông nghiệp, trong đó đáng kể như Thuận Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Phù Yên, Mường La là những huyện có diện tích đất lâm nghiệp bị xâm lấn lên tới vài chục nghìn ha. Việc thu hồi diện tích đất lâm nghiệp sử dụng không đúng mục đích hiện đang gặp rất nhiều khó khăn do việc sản xuất của bà con đã kéo dài từ nhiều đời nay.
Ông Nguyễn Ngọc Tú – Chủ tịch UBND huyện Sốp Cộp: Hiện nay trên địa bàn tỉnh Sơn La nói chung và huyện Sốp Cộp nói riêng thì tình trạng chặt phá rừng làm nương thì hàng năm đều xảy ra. Nguyên nhân cơ bản là do một số đồng bào dân tộc có thói quen phát rừng làm nương rẫy thì ngày xưa rồi. Thứ hai là trong công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp chưa phù hợp, chưa chỉ đủ đến với bà con nông dân.
Thực tế hiện nay về tổng thể quy mô 3 loại rừng, diện tích đã giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020 có sự sai khác về quy mô, diện tích chưa thống nhất dẫn đến khó khăn cho công tác quản lý của nhà nước và nhu cầu sử dụng của nhân dân. Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, toàn tỉnh đã thực hiện giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận sử dụng vào mục đích lâm nghiệp hơn 917.000 ha.
Tuy nhiên theo quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp đến năm 2020, toàn tỉnh có 779.000 ha, tức là đã có chênh lệch khoảng 138.000 ha sau quy hoạch. Mặt khác, thực trạng sử dụng đất lâm nghiệp hiện nay tại các huyện, thành phố so với quy hoạch 3 loại rừng cũng có sự sai khác rất lớn. Trong tổng quy  mô 917.000 ha diện tích đã giao đất, giao rừng, thì diện tích rừng hiện còn là 599.000 ha và có tới hơn 318.000 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng đang trồng cây nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.
Ông Nguyễn Văn Kỳ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mai Sơn: Có thể nói ảnh hưởng trước hết là công tác trồng rừng, phát triển rừng. Hàng năm theo chỉ tiêu tập trung cho việc phát triển rừng thì có thể nói diện tích phục vụ cho công tác trồng rừng hàng năm trên bản đồ là rất giàu, diện tích đất trồng để quy hoạch cho phát triển rừng nhưng trên thực địa lại rất là nghèo bởi vì toàn bộ diện tích đất đó đã có chủ, chủ quản lý một cách bất hợp pháp.
Với lợi thế rừng và đất lâm nghiệp chiếm tới hơn 40% diện tích đất tự nhiên, cùng với địa hình ¾ là đồi núi và cao nguyên, Sơn La có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp. Thế nhưng ngành lâm nghiệp Sơn La vẫn chưa thực sự phát huy được tiềm năng, thế mạnh sẵn có, trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, trong khi đại đa số người dân sống bằng nghề canh tác nông nghiệp.
Dân số gia tăng, áp lực về đất sản xuất luôn đặt ra thách thức với chính quyền địa phương và lực lượng kiểm lâm. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch chưa thực sự đem lại hiệu quả; tình trạng sử dụng đất lâm nghiệp sai với quy hoạch chưa được quan tâm, xử lý kịp thời, dẫn đến những tồn đọng kéo dài và bùng phát mạnh mẽ trong thời gian gần đây.
Ông Hà Quyết Nghị - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sơn La: Thứ nhất là chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa tính toán hết khả năng huy động các nguồn lực thực hiện quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp.
Theo quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, thực chất đất có rừng mới chỉ có gần 600.000 ha, như vậy diện tích phải trồng rừng là hơn 300.000 ha, trong khi nguồn lực của ngân sách Nhà nước mỗi năm chỉ trồng được 4.000-5.000 ha. Thứ hai là áp lực sinh kế, áp lực của cuộc sống rất là lớn, chu kỳ sản xuất thì dài, hiệu quả trồng rừng thì thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm lâm sản thì còn rất nhiều khó khăn.
Mặt khác, cơ chế chính sách hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa hấp dẫn được các doanh nghiệp và người dân tham gia; nguồn vốn cho bảo vệ và phát triển rừng còn hạn hẹp và dàn trải, trong khi quy mô diện tích đất lâm nghiệp lớn, địa hình chia cắt mạnh nên việc lập và tổ chức quy hoạch chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp thủ công dẫn đến nhiều sai số cơ học.
Kế hoạch trồng rừng, phát triển rừng không đạt mục tiêu đề ra trong khi nhu cầu đất sử dụng lại rất lớn, cho nên bà con đã sử dụng diện tích này để trồng các loại cây nông nghiệp. Không chỉ chuyện phá rừng làm nương, những hành vi đe dọa đến rừng ở Sơn La rất đa dạng và phức tạp như khai thác, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép; hay gió Lào, nắng nóng, cháy rừng do đốt nương…vẫn thường xuyên xảy ra…
Trước tình trạng xâm lấn rừng và đất lâm nghiệp diễn ra phổ biến ở hầu khắp các địa phương trên địa bàn tỉnh, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu với tỉnh xây dựng, triển khai đề án thu hồi đất lâm nghiệp và làm điểm tại huyện Mai Sơn, sau đó nhân rộng ra toàn tỉnh. Thế nhưng, huyện Mai Sơn cũng gặp không ít khó khăn trong việc xử lý, giải quyết những diện tích đất rừng bị xâm lấn từ nhiều năm trước.
Ông Lò Trung Đoàn - Chủ tịch UBND xã Chiềng Mung – Mai Sơn: Đối với chính quyền địa phương thì hiện nay chúng tôi đang tuyên truyền vận động bà con, những hộ đã vi phạm đất lâm nghiệp thì trồng cây ăn quả trên đất đồi để làm sao phủ xanh được đất lâm nghiệp của Chiềng Mung. Đề nghị với các cấp chính quyền tạo điều kiện để có nguồn vốn đầu tư cho bà con nhân dân trồng cây ăn quả trên đất lâm nghiệp mà trước đây các hộ đã vi phạm.
Ông Hà Văn Bình – Phó Chủ tịch UBND huyện Mai Sơn: Chúng tôi đã có rất nhiều giải pháp, nhiều văn bản chỉ đạo và nhiều kế hoạch để thực hiện, tuy nhiên kết quả mới chỉ dừng lại ở bước đầu. Nội dung này chúng tôi cũng xác định đây là một nhiệm vụ xuyên suốt, trọng tâm. Từ đó chúng tôi sẽ xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng vùng như vùng quốc lộ 6, vùng dọc sông Đà và vùng cao biên giới.
Trong suốt từ năm 2014 đến nay, huyện Mai Sơn đã và đang nỗ lực giải quyết tình trạng xâm lấn rừng và đất lâm nghiệp; đã có nhiều giải pháp được đưa ra như xử phạt hành chính, thậm chí là thu hồi diện tích rừng và đất lâm nghiệp vi phạm. Thế nhưng trên thực tế, huyện Mai Sơn mới chỉ thu hồi và chuyển đổi được 2 ha theo hướng nông lâm kết hợp trong tổng số gần 36.000 ha diện tích đất lâm nghiệp đang sử dụng sai mục đích. Qua thí điểm tại xã Chiềng Ban cho thấy cần phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị các cấp, bởi không ít ngành vẫn coi đây là trách nhiệm của ngành Kiểm lâm.
Ông Nguyễn Văn Kỳ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mai Sơn: Trước thực trạng này thì Hạt Kiểm lâm là cơ quan tham mưu thì cũng xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm và rất là cấp bách, cho nên là Hạt Kiểm lâm đã tham mưu cho thường trực UBND là đưa chương trình xây dựng đề án quản lý và xử lý đất lâm nghiệp vào chương trình của năm 2016.
Hiện nay thì thường trực UBND đã chấp nhận và chỉ đạo cho Hạt Kiểm lâm phối hợp với các lực lượng chức năng xây dựng Đề án kiểm tra, xử lý diện tích đất lâm nghiệp đã vi phạm hiện nay trên địa bàn. Đồng thời bổ sung, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo kết quả kiểm kê rừng để thực hiện quản lý, xử lý đất lâm nghiệp này có hiệu quả.
Với trên 318.000 ha đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang sử dụng chưa đúng mục đích hiện nay, ngành nông nghiệp Sơn La đã trình và được UBND tỉnh cho phép UBND các huyện, thành phố tổ chức rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó điều chỉnh lại quy hoạch 3 loại rừng, trên quan điểm là giữ nguyên 599.000 ha diện tích rừng hiện còn, khoanh nuôi, bảo vệ trên 106.000 ha.
Đồng thời rà soát đưa ra khỏi quy hoạch lâm nghiệp diện tích trên 318.000 ha, để lại 1 phần diện tích để trồng rừng, phát triển các loại cây đa mục tiêu, cây ăn quả trên đất dốc, khoanh nuôi tái sinh thành rừng, đảm bảo diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 đạt 779.000 ha, tương ứng độ che phủ rừng đạt 50%.
Ông Hà Quyết Nghị - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Sơn La: Đối với 318.000 ha thì sẽ được chuyển đổi thành đất phát triển cây đa mục tiêu trên đất dốc, chuyển đổi sang đất trồng cây nông nghiệp tại những nơi có điều kiện. Chúng tôi cho rằng việc quy hoạch như thế thì diện tích đất có rừng thì sẽ chỉ còn 779.000 ha chức không còn 934.000 ha nữa.
Đảm đảm bảo thực hiện mục tiêu đến năm 2020, độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh đạt 50%, sở NN&PTNT đã trình UBND tỉnh cho phép điều chỉnh đất lâm nghiệp đảm bảo cơ cấu, quy mô diện tích phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai giai đoạn 2011-2020. Đặc biệt, tăng cường công tác tuyên truyền, thu hút các doanh nghiệp, cá nhân tổ chứctrồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng nghèo kiệt. Đồng thời tiến hành khảo sát, nghiên cứu phát triển các loại cây lâm nghiệp đa mục tiêu, phát triển trồng cây ăn quả trên đất dốc, góp phần cải thiện sinh kế cho người trồng rừng.
Ông Lò Văn Liên – Phó Chủ tịch UBND xã Cò Nòi – Mai Sơn: Nếu phương án trồng xen cây nông nghiệp với cây lâm nghiệp thì phải có phần hỗ trợ của Nhà nước hay có chính sách gì để hỗ trợ bà con nông dân chuyển đổi. VD như là chuyển những nơi có điều kiện về tưới tiêu để trồng cây ăn quả, hỗ trợ về giống, vốn đầu tư thì khả năng được. Và cũng phải kiên quyết xử lý nghiêm những trường hợp tồn đọng kéo dài đem lại công bằng cho người dân thì mới có thể quản lý được.
Theo kế hoạch, từ nay đến hết năm 2018, Sở NN&PTNT Sơn La sẽ phối hợp với UBND các huyện, thành phố và các ngành liên quan tiến hànhđiều chỉnh quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, định hướng các hạng mục chuyển đổi và cơ cấu các loại rừng, đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội chung của tỉnh với mục tiêu xây dựng mạng lưới quy hoạch chi tiết và đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, thúc đẩy thị trường lâm sản phát triển, từng bước thực hiện thành công Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 16/12) đầu trang(
Ngày 15.12, trên mạng xã hội facebook đăng tải các clip quay cảnh hàng chục người dân kéo đến trụ sở UBND xã Ea Kiết, huyện Cư M’Gar phản đối việc Lâm trường Buôn Ja Wầm nhổ bỏ cây trồng của người dân.
Trên thực tế, đây chỉ là việc thu hồi đất lâm nghiệp bị sử dụng sai mục đích để trồng lại rừng.
Đoạn clip thể hiện cảnh hàng chục người dân, chủ yếu là phụ nữ, kéo đến trụ sở UBND xã Ea Kiết, huyện Cư M’gar khiếu nại việc Lâm trường Buôn Ja Wầm thuộc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Buôn Ja Wầm nhổ bỏ cây trồng của dân. Các clip khác được đăng tải cũng thể cảnh nhân viên Lâm trường Buôn Ja Wầm nhổ bỏ những cây điều, cây gỗ tếch non mới trồng, dưới sự giám sát của Công an huyện, Hạt Kiểm lâm huyện và Công an xã Ea Kiết. Người đăng clip này là ông Phan Xuân Lương (trú thôn 1, xã Ea Kiết).
Trao đổi với PV Báo Lao Động sáng 16.12, ông Phạm Đình Tường – Giám đốc Lâm trường Buôn Ja Wầm – xác nhận, sáng 15.12, lực lượng bảo vệ rừng của lâm trường có phối hợp các cơ quan chức năng tiến hành nhổ bỏ 300 cây điều và 150 cây gỗ tếch (mới trồng được vài tháng) trên diện tích khoảng 3,5ha của ông Phan Xuân Lương. “Đây là diện tích đất rừng do lâm trường quản lý, cần thu hồi để trồng lại rừng theo quy định của pháp luật”, ông Tường nói.
Cũng theo ông Tường, trong các năm 2013 và 2014, ông Lương có đơn xin mượn đất để sản xuất hoa màu, cam kết không trồng sắn và các loại cây lâu năm. Nhưng từ năm 2015 đến nay, ông Lương không tiếp tục làm đơn mượn đất, lại trồng các loại cây như điều, gỗ tếch là vi phạm cam kết với lâm trường. Như vậy, ông Lương đã lấn chiếm đất lâm nghiệp, trồng cây sai mục đích.
Mặt khác, diện tích này đã được Sở NNPTNT Đắk Lắk phê duyệt phương án trồng rừng, nên cần thu hồi để khôi phục, tái tạo rừng. Trước tình hình trên, UBND huyện Cư M’Gar đã có 2 văn bản chỉ đạo Cty TNHH MTV lâm nghiệp Buôn Ja Wầm phối hợp UBND xã Ea Kiết làm việc với ông Phan Xuân Lương, yêu cầu ông Lương tự giải tỏa các loại cây trồng không đúng mục đích theo đơn mượn đất.
Vào ngày 21.11, UBND xã Ea Kiết đã mời Cty TNHH MTV lâm nghiệp Buôn Ja Wầm và ông Phan Xuân Lương đến làm việc. Theo biên bản làm việc, UBND xã yêu cầu ông Lương phải tự nhổ bỏ các loại cây lâu năm. “Nếu đến hết ngày 27.11 mà ông Lương không tự nhổ bỏ thì Cty sẽ phối hợp với UBND xã tiến hành giải tỏa, nhổ bỏ theo công văn số 3286 của UBND huyện Cư M’Gar” – trích biên bản làm việc.
Như vậy thời hạn cuối cùng ông Lương phải tự nhổ bỏ là 27.11, nhưng Lâm trường Buôn Ja Wầm, UBND xã Ea Kiết và các cơ quan chức năng không tiến hành giải tỏa ngay mà để đến ngày 15.12 mới thực hiện.
Ông Nguyễn Đình Hiệp – Chủ tịch UBND xã Ea Kiết – cho biết, phần lớn những người có mặt tại hiện trường giải tỏa sau đó kéo đến trụ sở UBND xã đều thừa nhận không liên quan đến vụ việc của ông Phan Xuân Lương. Sau khi được chính quyền giải thích, bà con đã ra về. “Còn việc Lâm trường Buôn Ja Wầm giải tỏa, thu hồi đất để trồng lại rừng là chặt chẽ, đúng quy trình, theo chỉ đạo của UBND huyện Cư M’Gar” – ông Hiệp nói thêm. (Lao Động 16/12) đầu trang(
Khoảng 200 hộ dân, với gần 300ha đất rừng thuộc các xã Côn Minh, Lương Thượng, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đang lo lắng, bởi rừng trồng của họ không được khai thác dù đã đến tuổi. Nguyên nhân được xác định do tình trạng chồng lấn đất rừng giữa người dân và Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (KBTTN Kim Hỷ).
Tình trạng trên dẫn đến người dân phải đi chặt trộm gỗ rừng trồng của mình đem bán, trong khi đó KBTTN muốn xây dựng trạm kiểm soát lâm sản trên đất được quy hoạch của KBT, lại phải đền bù cho bà con mới được xây dựng.
Nhiều năm qua, đại diện của hàng trăm hộ dân xã Côn Minh đã gửi đơn kiến nghị đến các cấp chính quyền, cũng như nêu ý kiến trong các cuộc tiếp xúc cử chi của HĐND tỉnh tại địa phương về việc trồng lấn đất rừng, nhưng đến nay vẫn chưa có phương án giải quyết thỏa đáng.
Ông Triệu Minh Toán, Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh xã Côn Minh – đại diện cho các cử chi cho biết: Một số hộ dân sinh sống trong KBTTN Kim Hỷ trước đây đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã thực hiện trồng rừng theo các chương trình dự án 327, 661 và người dân tự trồng từ năm 2000 trở về trước. Tuy nhiên vào năm 2004, nhà nước đã quy hoạch cả diện tích rừng của bà con vào KBTTN Kim Hỷ dẫn đến hiện nay bà con không được khai thác gỗ do mình trồng.
"Chúng tôi trồng trước khi có KBT, người dân muốn được khai thác, nếu KBT không cho khai thác phải có cơ chế, văn bản gì về thu hồi đất, đền bù cho dân, làm sao cho hợp lý là được, người dân và nhà nước cùng có lợi, chúng tôi hỏi KBT thì bảo chỗ đó nằm trong đất bảo tồn nên hiện nay chưa có văn bản nào cho phép khai thác nên không được cấp phép khai thác”. Một người dân cho biết.
Theo quy định về ba loại rừng cũng như quy chế bảo vệ rừng đặc dụng của nước ta không cho phép khai thác gỗ trong rừng đặc dụng. Vì vậy, gỗ rừng trồng của bà con trước khi KBT được thành lập, hiện nay được quy hoạch thành khu bảo tồn thì người dân không được phép khai thác.
Qua tìm hiểu của chúng tôi, một số người dân ở Bản Cuôn đã lén lút vào chính rừng do mình trồng để khai thác, do họ đầu tư tiền mua giống, trồng và chăm sóc hàng chục năm qua trên mảnh đất có sổ đỏ do nhà nước cấp, nhưng giờ không thể khai thác để bán dù kinh tế gia đình rất khó khăn.
“Khi đến làm quy hoạch KBT, có cả UBND, các ban ngành đến làm, các ông quy hoạch mang cột mốc đi cắm, chỉ sau này mới biết là cột mốc cắm ở đó, nên giờ muốn canh tác cũng không được, bây giờ nhìn trên chỉ đỏ thì rừng đã nằm trong khu bảo tồn. Giờ không cho khai thác thì người dân cũng khai thác” – Ông Toán nói.
Cũng là một hộ dân đã trồng cây mỡ, xoan trong phần diện tích đất của nhà mình trước đây, nay đã được quy hoạch vào KBT, ông Hoàng Văn Ngôn, người dân Bản Cào, xã Côn Minh cho biết: “Giờ cúng tôi chỉ muốn khai thác gỗ rồi trả đất cho nhà nước. Con tôi đi học không có tiền đóng, kinh tế rất khó khăn, gỗ nhà mình, đất nhà mình mà muốn khai thác phải xin phép, nhưng xin cũng không được”.
Ngay sau khi nhận được những kiến nghị của bà con nhân dân xã Côn Minh, Lương Thượng, huyện Na Rì, HĐND tỉnh Bắc Kạn đã có văn bản số 166/HĐND – VP ngày 7/7/2016 gửi UBND tỉnh về ý kiến của cử tri liên quan đến việc chồng lấn đất rừng và đề nghị UBND chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét trả lời cử chi.
Ngay trong ngày 7/7/2016, UBND tỉnh Bắc Kạn đã có văn bản hỏa tốc số 2769/UBND-TH gửi các sở, ban, ngành về việc giao trả lời kiến nghị của cử tri, do liên quan đến lĩnh vự nông lâm nghiệp nên giao Sở NN&PTNT trả lời.
Trước kiến nghị của cử tri, đại diện Chi cục Lâm nghiệp, Sở NN&PTNT cho rằng, đề nghị của cử tri là đúng và đã có văn bản gửi Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) đề nghị hướng dẫn về thủ tục và biện pháp kỹ thuật khai thác gỗ trong vùng đệm rừng đặc dụng. Tuy nhiên, tại văn bản số 676/TCLN – BTTN ngày 12/5/2016 của Tổng cục Lâm nghiệp trả lời rất chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể vì theo quy định không được khai thác gỗ trong rừng đặc dụng.
Theo đó, Sở NN&PTNT đã tham mưu cho UBND tỉnh Bắc Kạn cho phép đối với chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân có diện tích rừng trồng thuộc vùng đệm KBTTN Kim Hỷ thực hiện việc lập hồ sơ khai thác gỗ theo quy định tại điều 8, 9 Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 và hình thức khai thác để lại mật độ 600 cây/ha phân bố đều trong lô. Tuy nhiên đến thời điểm cuối năm 2016 vẫn chưa có diện tích rừng trồng nào của bà con được phép khai thác.
Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ được thành lập theo Quyết định 1804/QĐ-UB, ngày 1/9/2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn, Khu bảo tồn có tổng diện tích là 15.416 ha. Đến năm 2007, theo Quyết định số 757/2007/QĐ-UBND, ngày 21/5/2007 của UBND tỉnh Bắc Kạn, về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Bắc Kạn, diện tích vùng lõi Khu bảo tồn là 14.772 ha và vùng đệm có diện tích là 18.931 ha thuộc 7 xã Kim Hỷ, Lương Thượng, Lạng San, Ân Tình, Côn Minh huyện Na Rì và xã Cao Sơn, Vũ Muộn  huyện Bạch Thông. (Dân Sinh 18/12) đầu trang(
Việc chồng lấn hàng trăm ha rừng đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, bởi hầu hết bà con ở xã Côn Minh sinh sống bằng việc dựa vào rừng là chủ yếu, chỉ có một số ít sống bằng nghề buôn bán, sản xuất miến dong.
Theo thông tin từ UBND xã Côn Minh cung cấp, trong năm 2016, xã đã xác nhận bản đăng ký khai thác gỗ rừng trồng cho 26 giấy phép, và UBND huyện Na Rì cấp phép cho 3 giấy, với tổng khối lượng hơn 300 mét khối, chủ yếu là gỗ rừng trồng như xoan, mỡ. Và đây là những diện tích gỗ rừng trồng của bà con không bị chồng lấn.
Được biết, xã Côn Minh có 657 hộ với 2.783 khẩu, sinh sống chủ yếu dựa vào nông lâm nghiệp, kinh tế rừng là chính nên việc khai thác gỗ rừng trồng không được thực hiện gây ảnh hưởng rất nhiều đến xã thuộc diện 135 này.
Ông Nông Văn Thịnh, Bí thư Đảng ủy xã Côn Minh cho biết: “Đảng bộ và bà con xã Côn Minh được sống chủ yếu trong vùng núi cao, hẻo lánh của huyện, kinh tế, thu nhập dựa vào rừng là chủ yếu, đó là đặc thù của bà con nơi đây. Trong KBTTN Kim Hỷ xã có 14 thôn bản, trong đó có 8 thôn bản trong vùng lõi, có 12 thôn bản thuộc diện tích KBT.
Trước đây bà con đã trồng rừng, nay đến kỳ khai thác đã có kiến nghị với các cấp cho dân khai thác, vì trước đây đất đã được giao cho dân, giờ lại quy hoạch vào KBT, bà con kiến nghị thứ nhất là đền bù cho dân hoặc cho dân khai thác. Bà con sống dựa vào rừng trong mấy năm gần đây xảy ra việc lén lút khai thác gây ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng của địa phương”.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm KBTTN Kim Hỷ, gần 300ha của khoảng 200 hộ dân xã Côn Minh đang bị chồng lấn với đất rừng của KBTTN Kim Hỷ, những diện tích đó đa phần bà con đã trồng cây lâu năm như cây gỗ mỡ, lát, xoan… nay đã đến tuổi khai thác, nhưng do theo quy định của nhà nước như Luật Bảo vệ phát triển rừng, các nghị định, quyết định, thông tư liên quan cho thấy không được khai thác gỗ trong rừng đặc dụng (KBTTN Kim Hỷ).
Trao đổi với chúng tôi, ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm KBTTN Kim Hỷ cho biết: “KBT đã phối hợp với UBND xã tổng hợp diện tích trồng lấn, qua năm 2015 người dân đã trồng lấn hàng trăm ha rừng trước khi có KBTTN Kim Hỷ, chúng tôi đã nhận kiến nghị của người dân, tuy nhiên theo quy định của nhà nước thì rừng đó đến thời điểm này không được khai thác.
Hiện đang mâu thuẫn, chồng chéo, chúng tôi hướng dẫn người dân không được khai thác, vì không có quy định nào khai thác rừng đặc dụng cả. Không riêng gì Kim Hỷ mà nhiều nơi trên các nước có tình trạng chồng lấn, kính mong nhà nước xem xét có biện pháp để người dân phát triển kinh tế để người dân giảm tác động lên rừng tự nhiên nhiều hơn”.
Ông Nguyễn Đoàn Tú, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn cho biết: “Chỉ có một nguyên nhân, đó là trước kia các hộ gia đình đã được giao đất, giờ quy hoạch lại tất nhiên là vào KBT, quan trọng bây giờ là phương án giải quyết như nào, ở Bắc Kạn toàn bộ các vùng không có núi đá thì cơ bản giao cho dân, còn một ít diện tích giao cho UBND cấp xã quản lý”.
Nếu muốn thu hồi ít nhất phải có cơ chế đền bù cho dân, hiện nay đang xin cơ chế đặc thù cho bà con, vừa rồi đã có thống kê xem bao nhiêu diện tích, trữ lượng,… giờ mà muốn thu hồi hết thì khả năng rất khó, đặc biệt là tỉnh nghèo như Bắc Kạn”.
Đại diện Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn cho biết đơn vị này đã tham mưu cho tỉnh trong thời gian tới cho người dân khai thác, sau đó tìm nguồn ngân sách trồng lại và chăm sóc rồi thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng thành rừng đặc dụng.
Về vấn đề quyền sử dụng đất khi người dân có sổ đỏ, KBT cũng được giao quản lý cùng diện tích đó, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với cán bộ Phòng Thanh tra và Phòng Tài nguyên đất thuộc Sở TN&MT tỉnh Bắc Kạn và được biết hiện Sở TN&MT chưa nhận được bất kỳ kiến nghị gì của những người liên quan.
Theo báo cáo số 56/BC- SNN ngày 25/4/2016 của Sở NN&PTNT Bắc Kạn về kết quả triển khai quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng tỉnh Bắc Kạn, trong 5 nội dung có nội dung liên quan đến Quy hoạch phát triển vùng đệm và phương án chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ sang rừng đặc dụng đối với phần diện tích mở rộng huộc KBTTN Kim Hỷ. (Dân Sinh 18/12) đầu trang(
Trồng rừng trên cát quan trọng không chỉ về mặt môi trường sinh thái mà cả kinh tế, xã hội. Thực tế tại Quảng Trị đã chứng minh rằng rừng lên xanh góp phần giảm thiểu tác hại của thiên tai, bão lũ, hạn chế cát bay, hoang mạc hóa.
Quảng Trị có trên 31.000ha đất cát, trong đó có 8.000ha cát nội đồng tập trung ở các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong và Hải Lăng. Sống trên cát, người dân luôn đối mặt với nạn cát bay, cát lấp. Chính vì vậy, việc đầu tư trồng rừng trên cát luôn được Quảng Trị quan tâm.
Chị Hoàng Dạ Hương ở thôn Thủy Tú, xã Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh nhớ lại, cách đây mười năm, dự án trồng rừng trên cát được triển khai khiến người dân rất mừng. Cả vùng đất cát hoang hoá của xã được chia thành từng lô trồng rừng, bình quân mỗi hộ khoảng 2ha. Người trồng rừng được hỗ trợ cây giống, phân bón, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, quản lý rừng.
Giờ đây vùng cát hoang hoá năm xưa của Vĩnh Tú đã được thay bằng rừng keo, rừng tràm xanh tốt. Nhà chị Hương trồng 2ha rừng đã thu hoạch lứa đầu tiên với số tiền hơn 60 triệu đồng. Sau khi thu hoạch, gia đình chị tiếp tục trồng lại rừng. Với cách chăm sóc đúng kỹ thuật, chỉ khoảng 1 đến 2 năm nữa rừng cây của gia đình chị sẽ cho thu hoạch tiếp.
Ở Quảng Trị, Triệu Phong là một huyện đi đầu trồng rừng trên cát, bảo vệ dân sinh. Nhờ vậy mà cuộc sống người dân cũng như công tác trồng và bảo vệ rừng đang có tiến triển rất tích cực.
Chị Nguyễn Thị Cúc ở thôn Long Quang, xã Triệu Trạch cho biết gia đình chị có 0,5ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Trước đây vườn trồng dưa hấu, dưa leo nhà chị liên tục bị gió cát đe doạ che lấp. Đặc biệt tại vành đai khu vực sản xuất có chỗ chỉ sau một đêm bị cát lấp hoàn toàn. Giờ hiện tượng cát lấp giảm đáng kể khi toàn bộ đất canh tác được bao phủ bởi vành đai rừng keo lưỡi liềm.
Ông Nguyễn Phiếu, Chủ tịch UBND xã Triệu Trạch nói nhờ sớm nhận thức được tầm quan trọng của rừng đối với cuộc sống của người dân, nhiều năm trở lại đây, xã Triệu Trạch đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ từ các dự án về phát triển trồng rừng và đã trồng được gần 1.800ha rừng trên cát.
Hiện nay toàn bộ diện tích rừng trồng trên địa bàn xã đã trở thành rừng phòng hộ, hỗ trợ không nhỏ cho đời sống người dân trong vùng.
Tại xã Hải Ba, huyện Hải Lăng người dân đã trồng được 1.400ha rừng trên cát, chiếm 80% diện tích đất cát  trong toàn xã. Nhờ tăng cuờng trồng và bảo vệ rừng nên các hiểm họa do cát gây ra trước đây ở địa phương cơ bản đã được khắc phục.
Ông Hoàng Văn Vinh - Chủ tịch UBND huyện Hải Lăng cho biết những cánh rừng bạt ngàn trên cát đang góp phần quan trọng trong cải tạo môi sinh vùng cát và hạn chế tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Công tác trồng rừng trên cát của Quảng Trị tiến triển tốt. Trung bình hàng năm, các xã vùng biển, vùng cát trồng mới từ 300 đến 500ha rừng và trên 150 nghìn cây phân tán.
Thông qua các chương  trình dự án, đến nay tỉnh đã trồng đựơc hơn 7.000ha rừng phòng hộ và hơn 10 ngàn ha rừng sản xuất trên cát. Những cánh  rừng trồng góp phần  tăng  độ mùn, sức mao dẫn bề mặt cho cát, biến các vùng đất hoang hóa trước đây thành đất trồng  trọt phục vụ cho lợi ích con người.
Hiện toàn tỉnh còn khoảng 3.000ha đất cát đang còn hoang hóa chưa được phủ xanh bằng các dự án trồng  rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kinh phí đầu tư. Khi vùng cát được phủ xanh bằng các dự án trồng rừng bền vững, tiềm năng các vùng đất hoang hóa còn lại sẽ được đánh thức.
Ông Hà Sỹ Đồng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết để phát triển kinh tế vùng cát theo hướng bền vững, Quảng Trị sẽ tiếp tục tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh vùng đất cát ven biển theo mục tiêu phòng hộ kết hợp kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái.
Qua đó bố trí sắp xếp lại dân cư, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới đối với các xã vùng cát. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/12) đầu trang(
Trong những năm qua, công tác phát triển rừng được huyện Thông Nông triển khai rộng khắp. Từ tháng 9/2016, dự án khuyến khích người dân tham gia cải thiện quản trị rừng và giảm nghèo Việt Nam đã mang lại những hiệu quả thiết thực, tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cho người dân địa phương. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cao Bằng 16/12) đầu trang(
Theo chỉ tiêu kế hoạch năm 2016, toàn tỉnh trồng mới 2.030 ha rừng tập trung; 707 ha rừng thay thế khi chuyển sang mục đích kinh doanh. Đến nay, kết quả trồng rừng tập trung toàn tỉnh đạt khá cao. Tuy nhiên, trồng rừng thay thế khi chuyển sang mục đích kinh doanh vẫn chưa thực hiện được.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 13 dự án bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020 của các huyện, Thành phố và 3 dự án trồng rừng sản xuất do công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã làm chủ đầu tư thực hiện trồng. Năm 2016 là năm đầu thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020, do đó ngay từ cuối năm 2015, UBND các huyện đã chỉ đạo các chủ đầu tư triển khai giao chỉ tiêu kế hoạch.
Các huyện tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác bảo vệ và phát triển rừng, tuyên truyền cho các chủ rừng đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng; các chủ đầu tư chủ động tìm hiện trường lập dự án lâm sinh (thiết kế) trồng rừng, chuẩn bị cây giống, cung ứng giống cho các chủ rừng để trồng rừng, hướng dẫn chăm sóc rừng trồng.
Đồng chí Nông Văn Vế, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hòa An cho biết: Năm 2016, Hòa An được giao chỉ tiêu kế hoạch trồng mới 60 ha rừng theo Dự án Bảo vệ và phát triển rừng. Ngay từ đầu năm, Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch thuê tư vấn thiết kế cho các hộ dân nằm trong vùng dự án để có kế hoạch trồng rừng. Đồng thời phối hợp với các xã tổ chức 53 cuộc tuyên truyền cho 2.247 lượt người dân về công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Qua công tác tuyên truyền, đa số các chủ rừng là hộ gia đình đã nhận thức được giá trị từ rừng, tham gia trồng rừng để phát triển kinh tế rừng. Từ đầu năm 2016 đến nay, huyện Hòa An đã trồng mới được 3,4 ha rừng phòng hộ, đạt 34% KH; 58,4 ha rừng sản xuất, vượt 16% KH. Ngoài ra, huyện tuyên truyền, vận động nhân dân trồng được 32.600 cây phân tán, vượt 226% KH.
Hà Quảng là huyện có địa hình núi đá nhiều, đất rừng manh mún, khó khăn cho việc thiết kế trồng rừng tập trung theo dự án bảo vệ và phát triển rừng. Do làm tốt công tác tuyên truyền, nên tỷ lệ trồng rừng đạt khá cao. Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hà Quảng Trần Huy Tân cho biết: Diện tích thiết kế trồng rừng tập trung năm 2016 của huyện Hà Quảng là 100,9 ha, đến nay toàn huyện đã trồng được 30 ha rừng phòng hộ; 65,3 ha rừng sản xuất; tuyên truyền, vận động bà con trồng được 10.000 cây phân tán, trong đó, 5.000 cây keo tai tượng, 5.000 cây lát xoan.
Theo báo cáo của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, tính đến cuối tháng 11/2016, toàn tỉnh trồng mới được 1.578,6 ha rừng tập trung, đạt 78% KH. Trong đó, 13 dự án bảo vệ và phát triển rừng các huyện, Thành phố trồng được 1.345 ha, vượt 17% KH, gồm: 368 ha rừng phòng hộ, 977 ha rừng sản xuất; 3 dự án trồng rừng sản xuất của Công ty TNHH Quang Minh, Công ty Lâm nghiệp Cao Bằng, Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Đồng Tâm trồng mới được 199,7 ha, vượt 17,4% KH; trồng rừng chương trình khác 34 ha. Ngoài ra, 13 huyện, Thành phố tuyên truyền, vận động nhân dân trồng được 167.389 cây phân tán các loại (tương đương khoảng 120 ha). Chưa thực hiện được kế hoạch trồng 707 ha rừng thay thế.
Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: Trách nhiệm của các chủ đầu tư dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp có rừng phải lập phương án trồng rừng thay thế và tự tổ chức trồng rừng thay thế hoặc không có điều kiện tự tổ chức trồng rừng thì nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh để thực hiện trồng mới theo quy định.
Từ năm 2014, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường đã xác định được các công ty, hợp tác xã được chuyển đổi đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích kinh doanh phải thực hiện trồng rừng thay thế theo quy định hiện hành. Sở đã tham mưu cho UBND tỉnh đôn đốc các đơn vị này xây dựng phương án trồng mới rừng thay thế theo quy định, nhưng đến nay chưa có đơn vị nào triển khai nên không hoàn thành chỉ tiêu giao.
Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Hoàng Thị Duyên cho biết: Việc trồng rừng thay thế theo Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT rất khó khăn. Nguyên nhân do các chủ đầu tư dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp đã thực hiện trước khi có Thông tư số 24/2013, chủ yếu trong giai đoạn 2006 - 2008 nên không xác định cụ thể diện tích đất lâm nghiệp có rừng chuyển đổi.
Trong khi đó, các đơn vị này hiện hoạt động không hiệu quả nên đã ngừng hoạt động hoặc bán lại cho doanh nghiệp khác, có đơn vị không liên lạc được. Hiện nay, Sở đang tiếp tục phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát lại các chủ đầu tư dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích kinh doanh lập phương án trồng bù rừng hoặc nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng để thực hiện trồng mới rừng theo quy định. (Báo Cao Bằng 19/12) đầu trang(
Nhiều chuyên gia cho rằng, lũ lụt miền Trung là do hệ quả của việc phá rừng gây ra. Phóng viên báo Tin Tức đã có cuộc trao đổi với ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), Tổng Cục trưởng Tổng Cục Lâm nghiệp về vấn đề này.
Ông cho biết: Rừng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phòng hộ, hạn chế tác động xấu của thời tiết bất thường như lũ lụt, sạt lở... Trong nhiều năm qua, diện tích rừng ở khu vực miền Trung đã được khôi phục và tăng lên về mặt diện tích. Tuy vậy, diện tích rừng tăng lên chủ yếu là rừng mới khoanh vùng, tái sinh, phục hồi, nên không có giá trị về bảo vệ môi trường phòng hộ như rừng nguyên sinh.
Chúng ta đã cố gắng trồng rừng, đây cũng là một trong những giải pháp để thích ứng với biến đổi khí hậu và hạn chế hậu quả của thiên tai. Việt Nam cũng có nhiều chương trình đầu tư cho rừng ở miền Trung, các tỉnh này cũng đang tham gia tích cực phát triển rừng, nhưng chúng ta vẫn phải nâng cao chất lượng rừng ở khu vực Tây Nguyên để rừng thực sự có giá trị phòng hộ tốt hơn cho khu vực hạ lưu.
Để giúp rừng không bị tàn phá, Ông cho hay: “Chúng tôi xây dựng Luật Lâm nghiệp để thể chế hóa chủ trương quản lý rừng, phát triển kinh tế xã hội vùng bền vững, quan tâm đến độ che phủ của rừng, chất lượng rừng, để giảm tác động tiêu cực của thiên tai. Còn các chế tài xử lý về phá rừng đã được quy định trong Bộ luật Hình sự, Luật về xử lý vi phạm hành chính. Việt Nam cũng đang sửa Bộ luật Hình sự theo hướng tăng chế tài xử phạt với hành vi vi phạm về rừng, tăng hình phạt cả về mặt hình sự và hành chính”.
Diện tích chuyển đất rừng sang làm thủy điện mà các nhà máy thủy điện phải trồng bù đến hết năm 2015 là trên 21.000 ha. Đến hết tháng 11/2016 đã trồng được trên 90% và cơ bản những thủy điện chưa thực hiện trồng bù đã nộp tiền vào quỹ bảo vệ phát triển rừng cấp tỉnh. Về tổng thể trên địa bàn toàn quốc, cuối năm 2016, các công trình thủy điện sẽ trồng bù đủ diện tích được chuyển đổi. Có một số tỉnh trồng vượt như ở Lai Châu, nhưng còn nhiều tỉnh vẫn “nợ”. Sẽ tiếp tục đôn đốc các tỉnh này, đặc biệt là các tỉnh ở khu vực Tây Nguyên, việc trồng rừng thay thế nói chung và trồng rừng thay thế đối với các công trình thủy điện ở khu vực này đạt rất thấp, có tỉnh mới đạt 30%.
“Đợt mưa tháng 12/2016 là đợt mưa lũ cuối cùng trong năm ở Trung và Nam Trung Bộ. Sau đó, thời tiết vẫn có thể có mưa, nhưng không xảy ra mưa lũ lớn như hiện tại. Thời điểm này, trung tâm nhiễu động vẫn tập trung ở Việt Nam gây mưa, xoáy thấp, cụ thể là áp thấp nhiệt đới vừa qua. Cũng do hoạt động của đợt rãnh thấp nhiệt đới này, nên dự báo mùa khô 2016 - 2017 vẫn có hạn hán, nhưng ít khốc liệt hơn so với mùa khô 2015 - 2016”, ông Nguyễn Đăng Quang, Trưởng phòng Dự báo Hạn vừa hạn dài, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương cho biết. (Tin Tức 19/12) đầu trang(
Năm 2017, tỉnh Tuyên Quang phấn đấu trồng mới 11.400 ha rừng; trong đó, rừng sản xuất là 11.150 ha, còn lại là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; nâng độ che phủ rừng đạt trên 60%.
Để khuyến khích các hộ dân tham gia trồng rừng, tỉnh Tuyên Quang thực hiện giao quyền sử dụng đất trong 50 năm (kể cả rừng sản xuất và rừng phòng hộ) và hỗ trợ cây giống cho các hộ dân đăng ký tham gia trồng rừng.
Ngoài ra, để đảm bảo việc trồng rừng đúng thời vụ, tỉnh Tuyên Quang chỉ đạo các các lâm trường, các trung tâm sản xuất giống chủ động gieo ươm cây giống để cung cấp cho các hộ dân.
Cùng với đó, để phát huy hiệu quả từ trồng rừng theo hướng đa mục tiêu, hiệu quả và bền vững, tỉnh Tuyên Quang đã quy hoạch vùng nguyên liệu cho các cơ sở chế biến trên địa bàn toàn tỉnh với tổng diện tích hơn 209.400 ha; trong đó, vùng nguyên liệu quy hoạch cho Nhà máy giấy và bột giấy An Hòa là hơn 163.358 ha; vùng nguyên liệu quy hoạch cho Nhà máy giấy Bãi Bằng hơn 8.000 ha; còn lại là vùng nguyên liệu quy hoạch cho các cơ sở chế biến gỗ khác…
Tỉnh Tuyên Quang còn huy động các nguồn lực xã hội từ các thành phần kinh tế khác nhau để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng sản xuất; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, kết hợp với trồng rừng, đảm bảo khả năng bảo vệ môi trường sinh thái, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, lũ lụt…
Năm 2017, tỉnh Tuyên Quang dự kiến khai thác hơn 9.750 ha rừng trồng, đạt sản lượng hơn 844.000 m3 gỗ.
Tỉnh Tuyên Quang hiện có gần 435.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm 76% diện tích đất tự nhiên. Theo quy hoạch 3 loại rừng mới, rừng đặc dụng có diện tích gần 47.000 ha; rừng phòng hộ có diện tích hơn 121.600 ha; rừng sản xuất có diện tích hơn 266.400 ha.
Những năm gần đây, rừng đóng vai trò rất quan trọng trong chương trình “xóa đói, giảm nghèo”, phòng chống lũ lụt, thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái ở tỉnh Tuyên Quang. Năm 2016, tỉnh Tuyên Quang đã trồng mới được hơn 10.940 ha rừng; khai thác được hơn 7.760 ha rừng trồng, đạt sản lượng hơn 765.600 m3. (Tin Tức 19/12) đầu trang(
Trong nội dung Công văn số 11909/VP-KT, UBND TP Hà Nội đã cho ý kiến về tình hình thực hiện các dự án trồng rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu.
Công văn nêu rõ, UBND thành phố nhận được công văn của Văn phòng Chính phủ truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng về việc báo cáo tình hình thực hiện các dự án trồng rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu.
Trong đó, đồng ý với báo cáo tình hình thực hiện các dự án trồng rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với bộ, ngành liên quan tăng cường kiểm tra, đôn đốc các địa phương đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trồng rừng ven biển đã được bố trí vốn, bảo đảm chất lượng hiệu quả đầu tư.
UBND các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo, quyết liệt thường xuyên và hiệu quả đối với công tác trồng rừng ven biển; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng triển khai các dự án; thực hiện nghiêm chế độ báo cáo theo quy định; tiếp tục tổ chức kiểm tra trồng rừng ven biển, phát hiện khó khăn, vướng mắc để tháo gỡ, giải quyết kịp thời; chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương rà soát quy hoạch, xác định diện tích, địa điểm, hiện trạng để xây dựng kế hoạch trồng rừng ven biển bảo đảm tính khả thi; chủ động chuẩn bị cây giống, hiện trường đảm bảo số lượng, chất lượng trồng đúng mùa vụ, nhằm nâng cao chất lượng và tỷ lệ thành rừng.
Về việc trên, UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan triển khai thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại văn bản nêu trên, thống nhất đề xuất cụ thể, báo cáo UBND thành phố theo quy định. (Pháp Luật Và Xã Hội 18/12) đầu trang(
Với thị trường xuất khẩu phần lớn sang thị trường EU, cùng yêu cầu của khách hàng về hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ là hợp pháp, Công ty cổ phần Woodsland hiện sử dụng 100% gỗ rừng trồng trong nước.
Bà Đỗ Thị Bạch Tuyết, Tổng giám đốc công ty cổ phần Woodsland cho biết, tuy công ty không trực tiếp trồng rừng nhưng để sẵn sàng với Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) sắp được ký kết, công ty đã có các hoạt động hỗ trợ các chủ rừng, công ty lâm nghiệp ở Tuyên Quang, Hà Giang về tài chính.
Đồng thời thuê các tổ chức tư vấn, đánh giá để các chủ rừng được cấp chứng chỉ FSC (về quản lý rừng có trách nhiệm).
Qua đó, đến nay đã có trên 12 ha rừng trồng và 5 công ty lâm nghiệp được cấp chứng chỉ FSC. Dự kiến, năm 2018 sẽ có 30 ha rừng của các hộ dân được công ty hỗ trợ và được cấp chứng chỉ FSC.
Năm 2016, doanh thu của Woodsland dự kiến đạt 1.000 tỷ đồng. Năm 2017, công ty có kế hoạch tăng doanh thu từ 15-20% so với năm nay. Sản phẩm chính của công ty là đồ gỗ ngoài trời và nội thất trong nhà. (Bnews 17/12) đầu trang(
Theo đánh giá của Hiệp hội gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), Trung Quốc là thị trường xuất khẩu quan trọng về các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam.
Tuy nhiên, các sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường này chủ yếu vẫn còn là các sản phẩm thô, có hàm lượng giá trị gia tăng thấp. Nhóm các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng lớn hiện vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng là nguồn cung gỗ nguyên liệu quan trọng cho Việt Nam. Nhìn chung, giá trị gia tăng của các mặt hàng gỗ Trung Quốc xuất khẩu sang Việt Nam có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn so với nhóm các mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này.
Theo số liệu thống kê xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, chỉ tính riêng nhóm các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ, năm 2015 kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc đạt gần 965,8 triệu USD, tăng thêm gần 121 triệu USD kim ngạch của năm 2014.
Trong 9 tháng đầu 2016, kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này đạt 725,3 triệu USD, tương đương với 75% giá trị kim ngạch của năm 2015.
Bình quân mỗi năm Việt Nam xuất khẩu khoảng 4 triệu tấn dăm gỗ khô sang Trung Quốc, tương đương với 8 triệu m3 gỗ quy tròn. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này hàng năm rất lớn, trung bình đạt 500-600 triệu USD. Khoảng 70% dăm gỗ của Việt Nam có nguồn gốc từ gỗ keo. Phần còn lại là gỗ bạch đàn và một số loài gỗ khác.
Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu gỗ cao su sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh. Chỉ trong 9 tháng đầu 2016, lượng gỗ cao su xẻ xuất khẩu sang Trung Quốc lớn hơn gần 1,4 lần tổng lượng gỗ cao su xẻ xuất khẩu của cả năm 2015.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ từ Trung Quốc vào Việt Nam năm 2015 đạt 303,6 triệu USD, tương đương với 31% kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam vào thị trường này trong cùng năm.
Trong 9 tháng đầu 2016, kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này của Trung Quốc sang Việt Nam đạt 200,4 triệu USD, tương đương 66% tổng kim ngạch năm 2015.
Đến nay, cán cân thương mại gỗ và sản phẩm gỗ giữa 2 quốc gia vẫn tiếp tục nghiêng về phía Việt Nam. Tuy nhiên, cán cân này có thể thay đổi trong thời gian tới, khi chính sách đóng cửa rừng tự nhiên của Trung Quốc bắt đầu có hiệu lực kể từ đầu năm 2017. (Bnews 17/12) đầu trang(
Những năm gần đây, dù kim ngạch nhập khẩu gỗ nguyên liệu của VN mỗi năm trên 1,5 tỷ USD, nhưng trước áp lực của quá trình hội nhập, ngành gỗ của VN cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Thứ nhất, ngành gỗ cần tận dụng cơ hội từ ký kết và thực thi các FTAs. Theo đó, các DN phải đáp ứng các yêu cầu của thị trường nhập khẩu như yêu cầu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ và các sản phẩm gỗ, tìm hiểu kỹ các cam kết như thuế quan, biện pháp kỹ thuật và biện pháp phòng vệ để có chiến lược thâm nhập hiệu quả vào các thị trường đã tham gia FTAs.
Thứ hai, cần điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm sử dụng nguồn nguyên liệu được trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế tối đa xuất khẩu sản phẩm thô. Để tăng khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho thị trường, các DN sản xuất và xuất khẩu gỗ cần cải tiến mẫu mã, chất lượng, công nghệ và xây dựng thương hiệu sản phẩm với chất lượng cao và giá cả phù hợp.
Thứ ba, phát triển và mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm gỗ xuất thông qua việc xây dựng các chương trình quảng bá về gỗ VN với vị thế là quốc gia cung cấp sản phẩm gỗ chất lượng cao, chế biến tinh xảo, tiện dụng và đặc biệt là sử dụng gỗ hợp pháp, bền vững ở các thị trường lớn.
Đồng thời đổi mới công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu, đánh giá xu hướng thị trường, tìm kiếm đối tác theo hướng hỗ trợ tối đa cho các DN tham gia hội chợ, diễn đàn thương mại gỗ quốc tế và trong nước. Đẩy mạnh công tác tiếp thị thương mại, đàm phán các hiệp định kỹ thuật.
Thứ tư, tăng cường các hoạt động nghiên cứu; xây dựng chính sách ưu đãi đối với các DN đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại, thân thiện với môi trường. Hỗ trợ tập huấn về công nghệ thông tin, xây dựng và áp dụng chứng chỉ FSC, CoC… cho DN chế biến và người trồng rừng. Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật để kiểm soát gỗ nhập khẩu vào VN; kiểm soát, ngăn chặn sản phẩm gỗ chế biến chất lượng kém nhập khẩu vào thị trường VN.
Thứ năm, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của nhà xuất khẩu về kiến thức, công nghệ sản xuất, kỹ năng quản lý, marketing… tổ chức các chương trình đào tạo cho các nhà quản lý sản xuất/ giám sát sản xuất, giám đốc bán hàng, kế toán, thiết kế và chuyên gia marketing. Tổ chức chương trình đào tạo về sấy gỗ và xử lý gỗ, các chương trình đào tạo về hoàn chỉnh bề mặt gỗ. Kết hợp chặt chẽ với nhà cung cấp phụ tùng/nguyên liệu (PU, nguyên liệu mạ vàng…) để chuyển giao công nghệ… (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 18/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Một thợ săn Nga gặp nhiều chỉ trích sau khi hạ gục con lợn rừng nặng nửa tấn.
Oddity Central đưa tin, Peter Maximov, một thợ săn 36 tuổi ở Chelyabinsk, Nga, đi săn trong khu rừng gần làng Shokurov trên dãy núi Ural hôm 13/11. Maximov đặt mồi nhử trong khu vực có lợn rừng lang thang, sau đó trèo lên tháp canh và lặng lẽ chờ đợi mục tiêu xuất hiện.
Miếng mồi nhử thu hút con lợn rừng lớn nhất mà Maximov từng thấy. Lấy lại bình tĩnh sau khi trông thấy con vật, người thợ săn giàu kinh nghiệm ngắm bắn. Phát đạn trúng con lợn rừng nhưng không thể làm nó gục ngã. Con vật bị thương bỏ chạy vào sâu trong rừng. Maximov quá sợ hãi trước việc đuổi theo nó một mình nên nhờ một kiểm lâm viên địa phương giúp anh truy tìm dấu vết.
Hai người đàn ông mất một lúc lâu lần theo dấu con vật cho đến khi phát hiện vết máu và tìm đến nó. Con lợn rừng nằm trên tuyết vẫn còn sống nhưng dường như không thể di chuyển. Maximov bắn một phát đạn khác khiến con vật trở nên giận dữ. Nó thu hết tất cả sức lực còn lại và lao bổ về phía họ. Hai thợ săn nấp sau một thân cây và bắn ra phát đạn hạ gục hoàn toàn con vật.
Khi nhìn gần, Maximov nhận ra xác lợn rừng không đặt vừa xe tải và hai người họ cũng không thể nhấc nó lên xe. Maximov buộc chặt con vật vào xe và kéo về làng Shokurov. Những người bạn săn của Maximov giúp anh đo kích thước chính xác của con lợn rừng. Nó nặng 535 kg và có chiều cao tính đến vai là 1,7 mét.
Những bức ảnh chụp cùng con lợn rừng được Maximov đăng lên diễn đàn săn bắn Imperial Hunting sau đó và nhanh chóng gây sốt. Phần lớn ý kiến chỉ trích cho rằng cách Maximov bắn hạ con vật là hèn nhát. Người thợ săn không chỉ bắn con lợn từ trên cao khi nó không có cơ hội chống trả mà còn bắn tiếp trong lúc nó mất khả năng tự vệ trên tuyết.
Theo Wikipedia, lợn rừng ở Đông Âu có thể lớn bằng một con gấu nâu với trọng lượng 270 kg và chiều cao 118 cm. Những con lợn đực ở vùng Ussuri, Nga, được ghi nhận nặng khoảng 300 - 350 kg và cao 125 cm. Tuy nhiên, ngày nay lợn rừng khổng lồ rất hiếm gặp do tình trạng săn bắn quá mức khiến loài vật không thể phát triển tối đa. (VnExpress/ Khoa Học Phát Triển 18/12) đầu trang(
Tình trạng phá rừng lấy đất trồng cọ dầu diễn ra với quy mô lớn ở Indonesia, gây lo ngại sâu sắc về môi trường sinh thái. Nhưng ít ai biết, đằng sau các dự án phá rừng lập đồn điền là những khoản tín dụng khổng lồ từ các ngân hàng lớn của phương Tây từng cam kết bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Đầu năm 2015, các nhà khoa học nghiên cứu hình ảnh vệ tinh của tổ chức Global Forest Watch đã gióng hồi chuông báo động về tình trạng tàn phá rừng nguyên sinh ở Indonesia. Các nhóm bảo vệ môi trường đã kéo tới hiện trường ở tỉnh Tây Kalimantan trên đảo Borneo và thấy tận mắt một vùng đất hoang cháy nham nhở: những đám cháy vẫn còn bốc khói; những đàn đười ươi bị xua khỏi tổ của chúng và những dấu hiệu cho thấy một lượng rất lớn khí carbon dioxide (CO2) thải vào bầu khí quyển.
“Rừng đã bị đốt. Không còn rừng nữa rồi!”, bà Karmele Llano Sanchez, phụ trách nhóm cứu hộ đười ươi của tổ chức phi lợi nhuận International Animal Rescue, than thở. Nhóm này đang nỗ lực cứu nguy loài đười ươi Borneo có nguy cơ bị tuyệt chủng. Trong mùa đốt rừng năm ngoái nhóm cứu được 50 chú đười ươi đưa về trại chăm sóc, còn năm nay đã cứu được 25 chú, “tất cả đều đói khát, gầy yếu”, bà Sanchez nói.
Hình ảnh vệ tinh của Global Forest Watch cho thấy, rừng ở Tây Kalimantan bị đốt cháy trong các năm 2011-2013 và 2015, đặc biệt có khoảng 11.000 héc ta than bùn vẫn cháy âm ỉ dưới lòng đất nhiều tháng trời. Zamzami, nhân viên tổ chức Greenpeace có mặt ở hiện trường tháng 9-2015 xác nhận vào lúc đó rừng vẫn còn cháy và anh “không thở được vì khói”.
Các mũi dùi đều chĩa vào tập đoàn Rajawali - một doanh nghiệp khổng lồ ở địa phương có quan hệ mật thiết với các chính trị gia đầy quyền lực, nhưng ít ai biết rằng một số ngân hàng lớn nhất thế giới đã giúp cho Rajawali mở rộng đồn điền của họ.
Theo điều tra của báo The New York Times, khởi thủy tập đoàn Rajawali điều hành những đồn điền trồng cây cọ dầu của Công ty Green Eagle Holdings - liên doanh giữa Công ty Rajawali với Công ty Louis Dreyfus của Pháp. Nhưng từ năm 2014, Rajawali bắt đầu thâu tóm ngành công nghiệp dầu cọ. Tháng 1-2014, Green Eagle thỏa thuận được khoản vay hợp vốn 120 triệu đô la Mỹ từ một nhóm ngân hàng do Ngân hàng ABN Amro (Hà Lan) đại diện; tháng 7-2014, Green Eagle lại được vay nhiều hơn, 235 triệu đô la, cũng từ một nhóm ngân hàng phương Tây do Credit Suisse (Thụy Sỹ) làm đại diện và có sự tham gia của Bank of America (Mỹ).
Những khoản tín dụng này cho phép Green Eagle mua lại phần vốn của Louis Dreyfus, cũng như đầu tư các nhà máy chế biến mới và mở rộng diện tích đồn điền. Tháng 11-2014, Green Eagle lại sáp nhập với một công ty đồn điền khác, BW Plantation, hình thành tập đoàn Eagle High Plantations trong đó Rajawali nắm đa số cổ phần. Theo bản cáo bạch gửi các nhà đầu tư cuối năm 2014, Eagle High là một trong những công ty có đồn điền trồng cọ lớn nhất Indonesia, sở hữu hơn 1 triệu mẫu đất (acre, 1 acre = 4046 m2).
Ở góc độ kinh doanh, chiến lược thâu tóm và mở rộng của tập đoàn Rajawali không có gì khó hiểu. Ngành công nghiệp dầu cọ đang bùng nổ. Nhu cầu dầu ăn trên toàn thế giới đang tăng mạnh do thu nhập và đời sống được cải thiện ở hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc và Ấn Độ.
Nhưng cái giá phải trả về môi trường là không nhỏ. Indonesia, nước trồng cọ và sản xuất nhiều dầu cọ nhất thế giới, đang khuyến khích phát triển ngành hàng này và chính quyền thường làm ngơ trước những hoạt động phá rừng của doanh nghiệp. Nhiều tài liệu cho thấy, Indonesia là nơi có tốc độ mất rừng nhanh nhất thế giới, bình quân mỗi năm mất đi 1,2 triệu mẫu.
Không chỉ ở Indonesia mà cả Đông Nam Á rừng đang mất đi với tốc độ chóng mặt. Khoản vay 235 triệu đô la từ Credit Suisse của tập đoàn Rajawali nói trên chỉ là một phần trong các hợp đồng tín dụng và bảo lãnh có giá trị lên tới 43 tỉ đô la Mỹ tài trợ cho việc phá rừng và đốt rừng ở Đông Nam Á, theo dữ liệu tính toán của các tổ chức Rainforest Action Network có trụ sở tại California, Công ty Tư vấn Profundo của Hà Lan và tổ chức phi chính phủ TuK Indonesia. Số liệu nói trên chắc chắn là chưa hoàn chỉnh vì không phải mọi khoản cho vay đều công khai; cũng chưa bao gồm những khoản cho vay từ các ngân hàng đó cho các dự án lâm nghiệp bên ngoài khu vực Đông Nam Á.
Đồng tiền của các ngân hàng này đã hỗ trợ cho một tiến trình mà các nhà khoa học cho là đã phá hủy hệ sinh thái toàn khu vực Đông Nam Á, xóa bỏ nơi cư trú của những cộng đồng người bản địa và mỗi năm lại bao phủ toàn khu vực từ Jakarta tới Hồng Kông trong một bầu khói mù dày đặc và độc hại.
Trong năm ngoái, có những ngày mà khói bụi phát ra từ những đám cháy rừng ở Indonesia đã vượt quá tổng lượng khí thải của toàn bộ hoạt động kinh tế ở Mỹ. Một nghiên cứu mới đây của hai đại học Harvard và Columbia tính ra rằng nạn cháy rừng gây ra cái chết non cho khoảng 100.000 người dân Đông Nam Á; còn Ngân hàng Thế giới nhận định cháy rừng làm cho kinh tế Indonesia thiệt hại khoảng 16 tỉ đô la Mỹ.
Phá rừng - và những đám cháy thường xuyên đi kèm - cũng tạo ra một phần mười số khí thải gây hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng lên, và tình trạng mất rừng được coi là tác nhân riêng lẻ lớn nhất gây biến đổi khí hậu trên toàn cầu, theo nghiên cứu của Union of Concerned Scientists. “Phá hủy các khu rừng của thế giới đang làm cho cuộc đấu tranh chống biến đổi khí hậu gần như không thực hiện được”, ông Andrew W. Mitchell, Giám đốc điều hành của Global Canopy Programme - chương trình nghiên cứu rừng toàn cầu, than thở.
Tác hại của mất rừng không phải là chuyện mới. Nhưng khi tài trợ vốn cho tập đoàn Rajawali phá rừng lấy đất mở rộng đồn điền, các ngân hàng đã vi phạm những cam kết về phát triển bền vững mà chính họ đề ra. Trong chính sách nông lâm nghiệp ban hành năm 2008, Ngân hàng Credit Suisse xác định sẽ không tài trợ hoặc tư vấn cho những doanh nghiệp hoạt động “trong rừng nguyên sinh nhiệt đới” như những khu rừng ở tỉnh Tây Kalimantan. Trong văn bản “Chính sách ngân hàng” năm 2004, Bank of America cam kết sẽ không tài trợ các dự án thương mại có nguy cơ gây hại các khu rừng nguyên sinh nhiệt đới.
Tuy nhiên, khi bị báo The New York Times truy vấn, liệu việc tài trợ cho các dự án của Rajawali có mâu thuẫn với chính sách của họ hay không, các ngân hàng này hoặc từ chối trả lời hoặc thoái thác trách nhiệm. Bill Halldin, phát ngôn viên của Bank of America, nói rằng trong hợp đồng tín dụng năm 2014 của Rajawali, Bank of America chỉ “có vai trò rất nhỏ”. Ngân hàng ABN Amro và Credit Suisse đều từ chối bình luận về các hợp đồng tín dụng của mình.
Trong khi đó, Sebastian Sharp, phát ngôn viên của Rajawali, thừa nhận tình trạng đốt rừng lấy đất trồng trọt ở Tây Kalimantan là bất hợp pháp nhưng đổ trách nhiệm cho các cộng đồng cư dân địa phương. “Việc đốt rừng do các cộng đồng dân cư địa phương thực hiện và chúng tôi không thể kiểm soát được”, ông Sharp nói trong khi các nhóm hoạt động môi trường cho rằng công ty phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động xảy ra trong phần đất của mình.
“Ngày nay, chắc chắn là chúng tôi phải xem xét kỹ mọi thông tin trước khi đưa ra quyết định cho bất kỳ khách hàng nào vay vốn”, ông Halldin của Bank of America nói, nhưng đó là khi rừng đã biến mất ở Borneo! (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 18/12) đầu trang(./.