|
Ngày 22 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Quảng Nam có khoảng 140km đường biên tiếp giáp với nước bạn Lào. Trong đó, chỉ tính riêng huyện Nam Giang có đến 78km đường biên.
Mới đây, tại cuộc họp bàn về việc bảo vệ lâm khoáng sản trên địa bàn huyện, ông Alăng Mai, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang cho rằng, công tác quản lý rừng ở khu vực vành đai biên giới lâu nay đang có sự chồng chéo giữa các lực lượng. Điều này, khiến việc quản lý, bảo vệ rừng đã gặp khó khăn lại càng khó khăn hơn...
Ông Alăng Mai dẫn chứng về trách nhiệm không rõ ràng giữa các lực lượng trong vụ việc phá rừng pơmu đang gây xôn xao dư luận. Theo đó, vụ phá rừng pơmu xảy ra trên địa bàn xã La Dêê, do Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung làm chủ rừng.
Tuy nhiên, kiểm lâm địa bàn là người của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, rồi quản lý địa bàn lại là lực lượng biên phòng Quảng Nam. Do vậy, mang tiếng là chủ rừng, song Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung chỉ “hữu danh vô thực”.
Bởi, theo ông Đỗ Tuấn, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung, tuy có nhiệm vụ quản lý rừng, nhưng kiểm lâm cũng không dễ vào khu vực biên giới, phải báo cáo và xin phép biên phòng. Do chưa có quy chế phối hợp giữa đơn vị với nhau, nên mỗi lần lực lượng đi tuần tra phải có giấy giới thiệu của biên phòng…
Điều này, khiến việc quản lý, bảo vệ rừng giữa các lực lượng “giậm chân” lên nhau. Đặc biệt, với tình trạng “cha chung, không ai khóc” khi xảy ra các vụ việc để mất rừng, rất khó điều tra, xử lý những cá nhân, tập thể có liên quan. Vụ phá rừng pơmu vừa mới phát hiện ở Quảng Nam lớn chưa từng có, đã và đang làm rúng động dư luận và Thủ tướng yêu cầu làm rõ. Hiện, các cơ quan điều tra, công an tỉnh Quảng Nam đã liên tiếp bắt giữ nhiều đối tượng có liên quan và một số đối tượng đã ra đầu thú.
Trên địa bàn huyện Nam Giang, cũng đang còn những “điểm nóng” về nạn phá rừng khác. Đơn cử như nạn phá rừng tại khu vực rừng đầu nguồn thủy điện Sông Bung 4 và thủy điện Sông Bung 2 đang ở mức báo động. Mặc dù, chính quyền địa phương đã nhiều lần tổ chức truy quét, chốt chặn tại các “điểm nóng” song vẫn chưa giải quyết triệt để nạn phá rừng tại đây.
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mất rừng liên tiếp ở Quảng Nam cũng như một số địa phương khác ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên liên tiếp bùng phát như trong thời gian qua, một phần do yếu tố chủ quan của các lực lượng chức năng.
Đại diện Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam từng thừa nhận, một phần nguyên do phá rừng là chủ quan. Theo đó, khu vực rừng biên giới Việt - Lào từ trước đến nay tương đối ổn định, việc tuần tra biên giới không thường xuyên, dẫn đến việc phát hiện các vụ việc còn chậm.
Trước vấn nạn phá rừng đang xảy ra nghiêm trọng ở địa phương, ông Alăng Mai đưa ra đề xuất, đối với khu vực địa bàn biên giới, UBND tỉnh Quảng Nam xem xét, thống nhất giao Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chịu trách nhiệm quản lý bảo vệ. Các ban, ngành liên quan phối hợp tham gia. Trong khi đó, ngành kiểm lâm cũng được yêu cầu vào sát cửa rừng hơn, để bảo vệ rừng hiệu quả...
Ngay lập tức, đề xuất lực lượng biên phòng làm “chủ công” trong công tác bảo vệ rừng khu vực biên giới cũng được tỉnh Quảng Nam tán thành. Xung quanh vấn đề này, ông Đinh Văn Thu, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, UBND tỉnh sẽ báo cáo với Chính phủ và các bộ, ngành liên quan về việc để cho lực lượng biên phòng quản lý rừng thuộc vành đai biên giới không chỉ tại Nam Giang mà trên địa bàn toàn tỉnh.
Trước mắt, ông Thu đề nghị, các lực lượng, chính quyền địa phương cần tăng cường trách nhiệm của nhóm hộ tham gia bảo vệ rừng và chủ rừng; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa các lực lượng trong quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt nâng cao ý thức để mỗi người dân như một kiểm lâm viên, một người bảo vệ rừng…
Trong khi đó, đại diện Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam cũng đồng tình ủng hộ phương án giao cho lực lượng biên phòng quản lý, làm chủ rừng ở khu vực vành đai biên giới. Việc này nhằm phân trách nhiệm rõ ràng hơn cho lực lượng biên phòng nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng ở khu vực biên giới. Bên lề hội nghị thường niên đánh giá tình hình thực hiện Biên bản ghi nhớ giữa Cục Kiểm lâm Việt Nam và Lào vừa tổ chức tại TP. Đà Nẵng.
Ông Phan Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam thông tin thêm, sắp tới sẽ có quy chế phối hợp, đề nghị giữa kiểm lâm Việt Nam và Lào. Đặc biệt, đề xuất tổ chức giao lại khu vực rừng biên giới cho lực lượng biên phòng hai nước quản lý. Biên phòng đã được giao quản lý vùng biên nên giao họ quản lý rừng luôn sẽ có nhiều thuận lợi.
Ở cấp cao hơn, theo ông Đỗ Trọng Kim, Phó cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng ủng hộ đề xuất giao rừng vùng biên giới cho lực lượng biên phòng quản lý.
Ngoài việc, đề xuất lấy lực lượng biên phòng làm “chủ công” trong việc bảo vệ rừng biên giới, Quảng Nam cũng đã lên phương án sắp xếp, kiện toàn lại các ban quản lý rừng, chủ rừng, nâng mức dịch vụ trông coi, bảo vệ để người dân gắn bó hơn với rừng.
Xem xét, quản lý cán bộ tại các khu vực nhạy cảm, tạo cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng. Đặc biệt, sau sự cố phá rừng pơmu, ngành kiểm lâm địa phương đang tính toán di chuyển các trạm barie vào sát cửa rừng nhằm bảo vệ rừng tận gốc... (Thời Báo Ngân Hàng 21/9) đầu trang(
Trước nguy cơ thủy điện có thể làm dậy sóng khu bảo tồn (KBT), không chỉ người dân, chính quyền địa phương mà cả ngành lâm nghiệp đều kiên quyết phản đối. Bởi lẽ, nếu nhà máy thủy điện này được xây dựng, KBT sẽ bị tổn thương nghiêm trọng...
Bởi lẽ, nếu nhà máy thủy điện này được xây dựng, KBT sẽ bị tổn thương nghiêm trọng, hệ sinh thái rừng, đa dạng sinh học gần như bị phá vỡ.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, UBND và HĐND tỉnh Sơn La đã đồng ý về mặt chủ trương xây dựng thủy điện Xuân Nha với công suất 4MW trong KBT trên địa bàn xã Xuân Nha. Đây là công trình thủy điện nhỏ nằm trong quy hoạch phát triển thủy điện vừa và nhỏ của Bộ Công thương.
Tại văn bản số 2339/HĐND ngày 29/3/2016 của HĐND tỉnh Sơn La về chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án thủy điện Xuân Nha, thì đất lâm nghiệp là 26,86ha, trong đó đất rừng đặc dụng 16,9ha, đất rừng phòng hộ 2,95ha, còn lại là đất rừng SX 7,01ha.
Đến ngày 9/8/2016, Cty Thăng Long đã có văn bản chấp thuận thực hiện trồng rừng thay thế bằng phương pháp nộp tiền gửi UBND tỉnh và Sở NN-PTNT Sơn La, diện tích chỉ 8,61ha, dựa trên biên bản kiểm tra diện tích, hiện trạng rừng ngày 23/7/2016.
Ngay sau đó, ngày 18/8/2016, Sở NN-PTNT tỉnh Sơn La đã có tờ trình chấp thuận phương án nộp tiền của chủ đầu tư thủy điện với số tiền là hơn 551 triệu đồng, hạn cuối nộp vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng ngày 30/12/2016.
Tuy nhiên, chia sẻ với chúng tôi, ông Trần Ngọc Tân, Giám đốc KBT thiên nhiên Xuân Nha cho biết, dự án mới có nghị quyết của HĐND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư chứ chúng tôi chưa có thông tin gì cả.
“Chúng tôi không mặn mà việc xây dựng thủy điện, theo luật từ 20ha diện tích rừng đặc dụng trở lên phải đưa ra Quốc hội rồi trình Chính phủ, công trình này dưới 20ha thì tỉnh phê duyệt. Chủ đầu tư nói mất 16,9ha mới chỉ là vùng lòng hồ, còn các công trình phụ trợ làm ở đâu, không mất rừng sao, nói là phát triển kinh tế xã hội, chứ theo tôi người dân mới khổ, chặn dòng lấy nước đâu vào ruộng, nói sau này ảnh hưởng thì đền bù bà con không đồng ý”.
Cũng theo ông Tân, khu vực xây dựng thủy điện nằm trong khu phục hồi sinh thái. Quyết định số 24 của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ, đây là khu vực cần đầu tư cho người dân vùng đệm để giữ rừng. Trong khi, dự án thủy điện Xuân Nha sẽ xóa sổ nhiều hec-ta rừng… Như vậy, có thể khẳng định, việc xây dựng một thủy điện nhỏ trong KBT là một chủ trương không hợp lòng dân và sai quy định.
Chúng tôi đã dành nhiều thời gian thực địa khu vực được quy hoạch để xây dựng thủy điện Xuân Nha. Nếu như được xây dựng, thủy điện Xuân Nha sẽ nằm trọn trong vùng phục hồi sinh thái của KBT. Hiện tại, hai bên dòng suối Nậm Quanh, diện tích rừng đang phục hồi rất tốt. Một số cây gỗ lớn, quý hiếm như sến, chò chỉ… có nguy cơ bị chặt hạ để nhường chỗ cho đường ống dẫn nước và vùng ngập lòng hồ thủy điện.
Trao đổi với với PV, ông Vũ Đức Thuận, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Sơn La, khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là không đồng ý xây dựng thủy điện ở đó. Trước đây, việc xây dựng thủy điện Trung Sơn đã làm ảnh hưởng đến KBT Xuân Nha. Đối với rừng tự nhiên nên giữ lại, rừng đang phục hồi tốt nên bảo vệ, không nên chuyển đổi”.
Ngoài ra, theo vị này, việc xây dựng sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, đa dạng sinh học, công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn.
Nhìn lại, mới vài năm trước khi dự án thủy điện Trung Sơn trên sông Mã được triển khai, KBT Xuân Nha đã bị mất hàng trăm hec-ta đất rừng. Mặc dù nhà máy đặt tại xã Trung Sơn, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa nhưng KBT vẫn có hơn 367ha rừng bị thu hồi. Dự án thủy điện Xuân Nha, dù diện tích đất rừng bị thu hồi ít hơn, song diện tích rừng đặc dụng lại chiếm đa số (16,9ha). Liệu một lần nữa, KBT Xuân Nha có tiếp tục bị xà xẻo trước sự bất lực của ngành lâm nghiệp.
Nói là vậy, nhưng ông Thuận lại thừa nhận, dù không đồng tình nhưng vẫn phải thực hiện theo quyết định của cấp trên. Đơn vị này sẽ có ý kiến để tham mưu cho Sở NN-PTNT, đồng thời bám sát việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Việc xây dựng thủy điện nếu chuyển đổi mục đích sử dụng rừng thì cần phải trồng rừng thay thế. Hiện nay, tại KBT Xuân Nha có một dự án trồng rừng phục hồi sinh thái giai đoạn 2015 - 2020 với số tiền đầu tư là 10 tỷ đồng.
Cũng theo ông Thuận, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng cần thành lập Hội đồng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, cũng như Hội đồng đánh giá tác động môi trường. Chi cục Kiểm lâm sẽ là thành viên của các hội đồng này. Tuy nhiên, hiện chưa có hội đồng nào được thành lập.
“Việc đánh giá tác động môi trường trong thời gian tới sẽ đánh giá lại toàn bộ khu vực xây dựng thủy điện. Hiện nay, chủ đầu tư cho biết sẽ ảnh hưởng đến 16,9ha khu vực phục hồi sinh thái của KBT, còn các công trình phụ trợ cũng nằm trong KBT nhưng chưa thấy đề cập đến?”, ông Thuận đặt câu hỏi. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/9) đầu trang(
Quảng Ngãi có rừng tự nhiên giáp ranh liền kề với các tỉnh Kon Tum, Bình Định và Quảng Nam.
Đây là khu vực rừng tự nhiên có nguồn tài nguyên phong phú, tính đa dạng sinh học cao, tồn tại nhiều loại thực vật có giá trị kinh tế lớn, nguồn dược liệu quý báu và có sự hiện diện các loài động vật rừng đặc hữu, quý hiếm. Đặc biệt, đây là khu vực rừng phòng hộ rất xung yếu, là nơi sinh thủy của các lưu vực con sông lớn như: Đăk Bla, Sê san (Kon Tum), Thu Bồn (Quảng Nam), Trà khúc (Quảng Ngãi) góp phần điều hòa khí hậu, cung cấp nguồn nước phục vụ cho các công trình thủy điện, thủy lợi, cho sản xuất nông- lâm- công nghiệp cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân 03 tỉnh Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Nam.
Đây cũng là khu vực có địa bàn rộng lớn, địa hình núi cao, dốc đứng chạy dọc theo dãy Trường Sơn rất hiểm trở. Mặt khác, các khu vực này nằm xa trung tâm hành chính các địa phương, đời sống nhân dân khu vực này phụ thuộc rất nhiều vào rừng nên việc quản lý ở khu vực giáp ranh này cũng gặp rất nhiều khó khăn. Nếu không có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng từ chính quyền các cấp tại các khu vực rừng giáp ranh thì việc quản lý bảo vệ rừng khu vực này sẽ vô cùng phức tạp, rất dễ xảy ra tình trạng mất rừng.
Xác định được tầm quan trọng của vùng rừng giáp ranh, trong những năm qua, UBND tỉnh Quảng Ngãi và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ngãi đã lãnh, chỉ đạo các cơ quan ban ngành và lực lượng Kiểm lâm tăng cường triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản vùng giáp ranh.
Với những nổ lực không ngừng quyết tâm không để rừng bị xâm hại Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi luôn luôn xác định chức trách của mình công tác bảo vệ và phát triển rừng, đã chủ động tham mưu, phối hợp xây dựng và ký kết Quy chế phối hợp quản lý bảo vệ rừng và quản lý bảo vệ lâm sản vùng giáp ranh giữa ba tỉnh Quảng Ngãi - Quảng Nam - Kon Tum ngày 25/11/2011 nhằm bảo vệ vốn rừng hiện có tại khu vực, hạn chế thấp nhất tình trạng xâm hại rừng tự nhiên.
Trên cơ sở là Quy chế phối hợp, các Hạt Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng, tiếp tục xây dựng kế hoạch hành động và ký kết quy chế phối hợp để thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng vùng giáp ranh.
Ngày 09/9/2016 vừa qua, tại huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Quy chế phối hợp quản lý bảo vệ và phát triển rừng, quản lý lâm sản vùng giáp ranh 03 tỉnh Kon Tum - Quảng Nam - Quảng Ngãi và tiếp tục xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phối hợp công tác trong thời gian tới, theo Báo cáo tại Hội nghị lần này thì tính từ tháng 01/2014 đến 30/6/2016, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã tổ chức 594 đợt tuần tra, truy quyét/5.346 lượt người tham gia, phát hiện và lập biên bản vi phạm 76 vụ, xử lý 73 vụ vi phạm, tịch thu lâm sản trái phép 182,19 m3 gỗ (quy tròn) các loại, tịch thu 13 xe ô tô các loại, 08 xe máy, 01 cưa xăng, 01 súng tự chế và thu nộp ngân sách Nhà nước 912.194.800 đồng, cho thấy lực lượng Kiểm lâm Quảng Ngãi đã tích cực, chủ động trong công tác tổ chức tuyên truyền, thường xuyên tuần tra giám sát và xử lý kiên quyết, triệt để các vụ việc vi phạm nên đến nay tình trạng khai thác rừng, buôn bán động vật hoang dã trái phép tại các khu vực giáp ranh đã tương đối được kiểm soát ổn định, không còn xảy ra các điểm nóng kéo dài, phức tạp xâm hại đến tài nguyên rừng.
Tuy nhiên, nếu nhìn nhận theo hướng khách quan hơn thì dễ nhận thấy một số nơi tại vùng giáp ranh tình trạng cháy rừng, lấn chiếm đất có rừng và xâm hại tài nguyên rừng vùng giáp ranh vẫn còn xảy ra. Tuy nhỏ lẻ, nhưng có tính kéo dài, phức tạp.
Nguyên nhân chủ yếu là lực lượng quản lý, bảo vệ rừng còn thiếu về số lượng cũng như chất lượng; đời sống sản xuất của người dân sống gần rừng gặp nhiều khó khăn, thiếu việc làm, nên đã vào rừng khai thác lâm sản trái phép, đốt rừng làm nương rẫy, săn bắt động vật rừng trái phép…
Trong khi đó, chính quyền một số địa phương còn chưa thật sự quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng; sự phối hợp giữa chính quyền địa phương với lực lượng Kiểm lâm, Công an trong công tác này chưa chặt chẽ nên không ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ Phát triển rừng.
Để tăng cường hiệu quả công tác Bảo vệ rừng vùng giáp ranh nói riêng và Bảo vệ phát triển rừng nói chung, trong 9 tháng đầu năm 2016, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi đã tham mưu cho UBND tỉnh nhiều văn bản liên quan đến tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng trong đó chú trọng đến một số biện pháp có chiều sâu, đảm bảo tính bền vững lâu dài để hạn chế thấp nhất các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng như:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ rừng sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân khu vực rừng giáp ranh; chú trọng đổi mới và nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục pháp luật về công tác bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhằm tạo sự chuyển biến sâu rộng về nhận thức, hành động, trách nhiệm, ý thức tự giác tham gia bảo vệ phát triển rừng.
Tăng cường sự phối hợp giữa hạt Kiểm lâm, đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng, chính quyền địa phương, lực lượng công an, quân đội và các chủ rừng, thường xuyên theo dõi, trao đổi thông tin về tình hình bảo vệ rừng các khu vực giáp ranh và phối hợp tổ chức lực lượng tuần tra, truy quyét bảo vệ rừng khi có hành vi xâm hại đến rừng xảy ra .
Tiếp tục tham mưu UBND tỉnh triển khai thực hiện Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
Đôn đốc, kiểm tra, giám sát các chủ rừng trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên lâm phần Nhà nước giao; tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã, phát huy vai trò, trách nhiệm của chủ rừng trong công tác quản lý bảo vệ rừng khu vực giáp ranh.
Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và phối hợp của các cấp, các ngành, chính quyền, hội, đoàn thể tại địa phương và chủ rừng trong công tác bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng tại địa phương; nâng cao vai trò trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản theo Nghị định 133/2015/NĐ-CP ngày 28/12/2015 quy định về việc phối hợp của dân quân tự vệ với các lực lượng trong hoạt động bảo vệ biên giới, đảo, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở.
Đào tạo, xây dựng lực lượng bảo vệ rừng giáp ranh vững mạnh, đầy đủ bản lĩnh, phẩm chất, trong đó chú trọng đến việc sử dụng người dân bản địa tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng. Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong công tác để có thể nhanh chóng phối hợp với chủ rừng, chính quyền địa phương ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng và xử lý kịp thời, triệt để các vụ việc vi phạm đó.
Rà soát các đối tượng thường xuyên có hành vi xâm hại đến rừng để theo dõi, quản lý; Xử lý công khai và nghiêm minh các vụ vi phạm Luật bảo vệ phát triển rừng làm cơ sở răn đe các đối tượng này. Việc xử lý vi phạm phải kịp thời triệt để dựa trên các quy định pháp luật và đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân.
Thu hút các nguồn lực xã hội tham gia bảo vệ và phát triển rừng bằng cách tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các các chủ rừng, chủ đầu tư và người dân tham gia trồng rừng sản xuất, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ổn định cuộc sống, tạo việc làm và tăng thu nhập người dân vùng rừng giáp ranh; tăng cường sự giám sát của người dân, cộng đồng, các đoàn thể nhân dân, các cơ quan thông tin đại chúng đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng…
Quản lý bảo vệ rừng nói chung và bảo vệ rừng giáp ranh nói riêng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì vậy, bảo vệ và phát triển rừng bền vững thì cần có sự chung tay của các cấp, các ngành và toàn thể nhân dân để đưa đất nước phát triển mốt cách toàn diện và vững mạnh. (Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Quảng Ngãi 21/9) đầu trang(
Trước sự việc tự ý mở đường, phá rừng tại tiểu khu 11 rừng đặc dụng Nam Hải Vân (thuộc địa bàn phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, Đà Nẵng) của hộ ông Trần Viết Hòe trong những ngày qua, UBND quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) đã chỉ đạo thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành để tiến hành kiểm tra, xác định mức độ vi phạm, xử lý vụ việc trên theo quy định của pháp luật.
Trước đó, nhận được tin báo, PV trong vai người đốn củi, đã đột nhập tại vị trí Tiểu khu 11 rừng đặc dụng Nam Hải Vân, khu rừng được giao khoán cho ông Trần Viết Hòe. Kể từ thời điểm nhận đất khoán năm 2005, ông Trần Viết Hòe đã tiến hành trồng cây keo lá tràm ở các vùng đất phía dưới gần cửa phía Nam hầm Hải Vân. Thời gian gần đây, ông Hòe tiến hành thu hoạch cây rừng trồng, được quận Liên Chiểu cho phép mở đường để thu hoạch cây và dọn thực bì. Thế nhưng, người dân phát hiện ông này không chỉ mở đường vận chuyển cây rừng trồng mà đã đưa máy mở đường lớn lên cả rừng tự nhiên ở phía trên đó.
PV đã tận mắt chứng kiến đường lớn được mở vào tận rừng sâu. Hai bên là cảnh cây cối chặt phá khô héo ngổn ngang. Ngay từ mép rừng keo của ông Hòe, nhân công đã tiến hành mở 3 bậc đường lên sâu vào rừng cây tự nhiên, tổng chiều dài gần cây số, chiều rộng đường trung bình từ 2 - 3 mét. Nhiều cây cối đã bị máy xúc hất đổ ngổn ngang hai bên đường mở vào rừng. Sau khi dọn đường, cây trong rừng đã bị đốn hạ, nhiều cây khô héo nằm lại chỏng chơ, một số lượng cây khác đã được chặt thành khúc sắp xếp vào vị trí.
Tai hiện trường, dọc các đường lên gỗ tự nhiên đã được gom thành từng đống để tập hợp về lán trại. Người dân địa phương cho biết, trước khi bị phá hoại, khu vực rừng tự nhiên này ẩm thấp, um tùm. Các bóng cây lan tỏa và là nơi trú ẩn của nhiều loài động vật tự nhiên.
Trao đổi với PV, ông Đàm Quang Hưng - Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu cho biết, UBND quận đã cho thành lập Đoàn kiểm tra, rà soát lại toàn bộ diện tích nhận khoán của hộ ông Trần Viết Hòe quản lý, sử dụng. “Trường hợp sai phạm tới đâu sẽ xử lý nghiêm khắc tới đó, không thể mang danh là thu hoạch rừng trồng để mở đường vào rừng đặc dụng Nam Hải Vân được”, ông Hưng nhấn mạnh.
Theo báo cáo của UBND quận Liên Chiểu, năm 2002, Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Hải Vân giao khoán đất theo Nghị định 01/CP cho nhóm hộ ông Trần Viết Hòe (10 người) trồng rừng tại tiểu khu 11 với diện tích 62,5 ha để trồng keo lá tràm. Năm 2005, nhóm hộ thống nhất giao toàn bộ diện tích nhận khoán cho ông Hòe quản lý, sử dụng. Qua thời gian trồng và chăm sóc, ông Hòe đã khai thác lần 1 vào năm 2010. Tháng 2/2016, ông Hòe làm đơn xin khai thác rừng trồng chu kỳ 2 và được chính quyền sở tại xác nhận.
Đến ngày 10/8/2016, Hạt Kiểm lâm quận Liên Chiểu đã có báo cáo lên UBND quận về việc khai thác gỗ rừng trồng keo của hộ ông Trần Viết Hòe có đốn chặt một số cây tái sinh tự nhiên, mở đường lên diện tích rừng tự nhiên chưa trồng keo. Ngay sau đó, quận đã tổ chức đoàn đi kiểm tra.
Qua kiểm tra, đoàn đã xác nhận hộ ông Hòe đang khai thác cây keo trồng và chặt hạ một số cây tái sinh tự nhiên còn sót lại trong khu vực rừng trồng đang khai thác. Nghiêm trọng hơn là tại khu vực rừng tự nhiên khoảng 3,8 ha, khu vực này hoàn toàn không có cây rừng trồng, hiện trạng là rừng tự nhiên tái sinh phục hồi, cây gỗ rải rác thuộc phạm vi quy hoạch rừng đặc dụng.
Trong khu vực này, phát hiện các tuyến đường đất bị san ủi, mở mới với chiều rộng khoảng 2 - 3m; tổng chiều dài tuyến đường khoảng 850m. Theo một diễn biến mới nhất, trong báo cáo gửi UBND TP. Đà Nẵng, UBND quận Liên Chiểu đã xác nhận: “Việc mở đường, chặt cây tái sinh tự nhiên và luống (tỉa) rừng của ông Hòe trên diện tích không có rừng trồng keo lá tràm là chưa được các ngành chức năng cho phép”.
Đế’ xử lý dứt điểm vụ việc này, UBND quận Liên Chiểu chỉ đạo thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành gồm: Chi cục Kiểm lâm, Phòng Kinh tế quận, Phòng TN&MT, Cảnh sát Môi trường công an quận, Hạt Kiểm lâm quận và UBND phường Hòa Hiệp Bắc để tiến hành kiểm tra, xác định mức độ vi phạm của ông Trần Viết Hòe theo luật định, để có cơ sở tham mưu cho UBND quận Liên Chiểu xử lý vụ việc trên theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn Truyền - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm quận Liên Chiểu cũng thừa nhận việc ông Hòe đưa máy vào mở đường và đốn hạ cây là vi phạm. Liên quan đến vụ việc này, một nguồn tin riêng của Báo Tài nguyên và Môi trường cho biết, hiện, vụ phá rừng ở tiểu khu 11, Chi cục Kiểm lâm TP. Đà Nẵng đang chỉ đạo kiểm điểm các cá nhân và tập thể liên quan. (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/9) đầu trang(
Thượng nguồn tỉnh Quảng Nam có rất nhiều công trình thủy điện, nhưng nhìn kỹ lại không mấy công trình đảm bảo được cuộc sống của người dân sau khi lấy đất. Tại huyện Đông Giang - một huyện nhỏ nhưng có hơn 10 dự án. Thủy điện chi chít, khu tái định cư (TĐC) xây dựng ẩu đã xuống cấp, thiếu đất sản xuất, nghèo đói triền miên, dân quay trở lại rừng già phá rừng làm rẫy...
Đông Giang là một huyện nhỏ của tỉnh Quảng Nam, nơi có dòng sông Kôn, sông Bung chảy qua, nhưng có tới hơn 10 dự án thủy điện lớn nhỏ như A Vương, Sông Kôn 2, Sông Bung 4A… được xây dựng. Một con số quá lớn so với diện tích chỉ hơn 800km2 của huyện. Những hệ lụy của các thủy điện này gây ra cho con người cũng như môi trường nơi đây không thể kể hết.
Theo số liệu của huyện Đông Giang, chỉ riêng Thủy điện A Vương với công suất 210MW đã ngốn hết 1.158,54ha đất, trong đó có tới 653,43ha rừng tự nhiên; phải di dời hơn 400 hộ. Thủy điện An Điềm chỉ với công suất 15MW nhưng ngốn tới 124,40ha đất, phá 74ha rừng tự nhiên.
Thủy điện Sông Kôn 2 (58 MW) sử dụng 347ha đất, trong đó rừng tự nhiên 66ha, đất trồng cây lâu năm 3ha, diện tích sông suối 57ha. Còn Thủy điện Za Hung (28MW) phá 91,37ha rừng, Thủy điện Sông Bung 4A (45 MW) 23ha, Thủy điện Sông Bung 5 (52MW) 132ha (45ha rừng tự nhiên), Thủy điện Sông Bung 6 (26 MW) 38ha.
Không chỉ xóa sổ quá nhiều đất và rừng mà những thủy điện này còn ảnh hưởng đến đời sống người dân. Các khu TĐC xây dựng cho người dân, nhưng không có đất để sản xuất, nhà cửa nhỏ hẹp xuống cấp xập xệ… Nhiều năm nay, nhiều hộ dân đã bỏ khu tái định cư khiến chính quyền rất vất vả để vận động người dân trở về.
Ông Đỗ Tài - Bí thư Huyện ủy Đông Giang cho hay, các nhà máy thủy điện chiếm nguồn nước và các vùng đất của người dân. Các khu TĐC được xây dựng rất ẩu và nằm ở vùng đất cằn cỗi, khó lòng cho người dân ổn định sinh sống. Hiện nay, hệ thống nhà ở, điện, nước sinh hoạt… đã xuống cấp. Tình trạng sạt lở đang diễn ra rất nguy hiểm cho tính mạng của người dân. “Giải quyết vấn đề này ngoài khả năng của huyện. Do vậy, tỉnh cần có chủ trương hỗ trợ giúp địa phương tháo gỡ khó khăn, từng bước ổn định cuộc sống người dân” - ông Tài nói
Năm 2006 các khu TĐC của Thủy điện A Vương được bàn giao cho người dân. Khi giải tỏa người dân, ban quản lý dự án Thủy điện A Vương hứa sẽ làm khu TĐC và bố trí cho mỗi hộ dân ít nhất 400m2 đất ở và 1,5ha đất sản xuất. Tuy nhiên vào năm 2006, khu TĐC được hoàn thành, nhưng mỗi hộ chỉ nhận được chưa tới 200m2 đất ở và 0,2ha đất lúa.
“Đất thì quá ít mà độ phì nhiêu rất thấp, người dân thiếu đói dài dài. Ở xã có hơn 500 người dân phải thường xuyên cứu đói, còn cả huyện lên tới hơn 1.200 người. Nhưng điều đáng nói là, UBND huyện Đông Giang đã rất nhiều lần kiến nghị các thủy điện chia sẻ lợi ích với người dân bằng cách hỗ trợ trước mắt mỗi người 10kg gạo/tháng, nhưng họ chỉ hỗ trợ được thời gian rồi cắt từ năm 2015 tới nay” - ông A Lăng Trách - Bí thư xã Mà Cooih cho biết.
Hơn 50% người dân sau khi TĐC vẫn thuộc diện hộ nghèo, đặc biệt nghèo và phần lớn đều không có công ăn việc làm. Khi người dân không thể sống nổi nơi TĐC mới, họ đã vào rừng chặt phá các khu rừng già để làm rẫy. Địa bàn Đông Giang chủ yếu là đồng bào Cơ Tu, họ sống theo tập tục, phá rừng làm rẫy 1 năm bỏ 3 năm, đi nơi khác phát rẫy tiếp.
“Đã có 32 hộ bỏ khu TĐC của Thủy điện A Vương vào tận rừng già phát rẫy. Hàng chục ha rừng nguyên sinh đã bị người dân đốt dù bản năng họ gắn với rừng. Các cơ quan chức năng của huyện Đông Giang đã phải khởi tố 2 cá nhân. Nói thật, xử lý xong rồi, nhưng chúng tôi đau lắm, bởi dân thiếu đói mới làm vậy chứ có phải chặt cây lấy gỗ làm giàu đâu” - ông Tài chia sẻ.
Thủy điện A Vương là vậy còn những thủy điện khác chưa thể thống kê hết được. Nhưng hiện thực là dòng chảy của các sông có thủy điện xây dựng đã thay đổi hoàn toàn. Mùa khô thủy điện tích nước, dòng sông trơ đáy khô khốc, mùa mưa thủy điện xả lũ đảm bảo an toàn đập khiến hạ du bì bõm trong nước.
Trước quá nhiều hậu quả và hệ lụy mà các dự án thủy điện đã, đang và sắp gây ra cho đời sống của người dân và môi trường tự nhiên huyện Đông Giang, Bí thư Huyện ủy Đỗ Tài cho biết: “Huyện đã kiến nghị các chủ dự án thủy điện đưa ra các phương án sửa sai, có hiệu quả lâu dài và trước mắt ổn định đời sống cơ bản của bà con. Phải để người dân “Sống tốt hơn hoặc bằng nơi cũ”, như mục tiêu ban đầu mà các khu TĐC thủy điện đề ra”. (Dân Việt 22/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Ngọc Toán - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đạ Tẻh xác nhận với PV Báo Lâm Đồng: Đối với địa bàn huyện Đạ Tẻh, vụ án phá rừng nghiêm trọng xảy ra ở Thủy điện Đồng Nai 5 không có cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh lâm sản nào liên quan.
Đó là điều đáng mừng và 9 tháng năm 2016 số vụ vi phạm Luật BV&PTR ở huyện này giảm so 9 tháng năm 2015 hơn 20%, nhưng tình hình vi phạm Luật còn những diễn biến phức tạp.
Về phòng cháy chữa cháy rừng, 9 tháng đầu năm 2016, tại địa bàn huyện Đạ Tẻh đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, đều thuộc lâm phần của chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Tẻh quản lý. Tổng diện tích rừng bị cháy 11 ha; trong đó, 3 vụ tại xã Mỹ Đức gồm 2 ha rừng hỗn giao lồ ô - cây gỗ nhỏ và 1 ha rừng trồng keo tai tượng; 1 vụ tại xã Quốc Oai với 2,8 ha rừng trồng sao đen năm 1998; và 1 vụ tại xã Quảng Trị với 5,2 ha rừng hỗn giao lồ ô - cây gỗ nhỏ.
Ngoài ra, tại xã Triệu Hải xảy ra 1 vụ cháy rừng cao su trồng năm 2011 của Công ty TNHH đầu tư sản xuất Ánh Quang quản lý. Đáng quan tâm là mức độ thiệt hại chỉ có 2 vụ xảy ra ở Quốc Oai và Quảng Trị khoảng 10%, còn 4 vụ đều ở mức 100% và đặc biệt đến nay cả 6 vụ nguyên nhân cháy chưa xác định được.
Vì vậy, rất cần thiết các ngành chức năng như kiểm lâm, công an, chủ rừng và chính quyền địa phương phối hợp kiên quyết, kịp thời tìm nguyên nhân, đặc biệt là đối tượng vi phạm để không chỉ phòng ngừa mà còn răn đe ngăn chặn hiệu quả, xử lí nghiêm minh theo luật pháp.
Theo Hạt trưởng Nguyễn Ngọc Toán, tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Đạ Tẻh hiện chủ yếu tập trung tại một số khu vực cụ thể như phá rừng tại tiểu khu (TK) 571 xã Triệu Hải; TK 550, 525 xã Quốc Oai; còn vận chuyển thì theo tỉnh lộ 725 xã Mỹ Đức. Đến ngày 10/9/2016, 9 tháng đầu năm và 20 ngày cuối năm 2015, tổng số vụ vi phạm Luật BV&PTR ở Đạ Tẻh đã phát hiện và lập biên bản 139 vụ, giảm 35 vụ (hơn 20%) so với cùng kỳ.
Trong đó, đáng chú ý là khai thác gỗ 1 vụ; khai thác rừng 9 vụ (lâm sản thiệt hại gần 53 m3); phá rừng 24 vụ (thiệt hại hơn 29 ha); vận chuyển 38 vụ (34 m3 gỗ xẻ, 16 m3 gỗ tròn thông thường và 1 cá thể cầy hương 1,5 kg); mua, bán, cất giữ, chế biến kinh doanh 50 vụ (gần 72,7 m3 gỗ xẻ và gần 16,2 m3 gỗ tròn)… Theo đó, đã xử lý 99 vụ (có 3 vụ khởi tố); tang vật thu hơn 100 m3 gỗ xẻ thông thường, hơn 1m3 gỗ xẻ quý hiếm, hơn 48 m3 gỗ tròn thông thường và 2 cá thể động vật với 7,5 kg; cùng đó là 32 xe máy và 14 chiếc cưa xăng…
Trong 9 tháng qua, tình hình thực hiện Luật BV&PTR ở huyện Đạ Tẻh đã được cấp ủy, chính quyền và các ngành chức năng ở đây triển khai đạt nhiều hiệu quả tích cực hơn so với những năm trước đây. Rõ nhất là sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Huyện ủy, UBND huyện; sự phối kết hợp của các cơ quan Công an huyện, Huyện đội, chủ rừng, UBND các xã đồng bộ và công tác tuyên truyền trong cộng đồng bằng nhiều hình thức… là những mặt cần ghi nhận và phát huy.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận nghiêm túc những tồn tại để tiếp tục cả hệ thống chính trị cùng khắc phục, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị quan trọng là BV&PTR. Đó là việc ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm chưa triệt để, vẫn còn sự nể nang. Công tác tuyên truyền bảo vệ rừng (BVR) chưa thường xuyên, chưa liên tục và nội dung chưa phong phú.
Vấn đề giao khoán BVR từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng vẫn chưa đạt hiệu quả cao; tình trạng phá rừng, khai thác gỗ trái phép trên diện tích rừng giao khoán bảo vệ vẫn xảy ra. Những tồn tại và hạn chế tại nhiều doanh nghiệp rất cần chấn chỉnh quyết liệt mà nói gọn lại là trách nhiệm và nghĩa vụ trước những quy định của pháp luật.
Cụ thể như triển khai dự án trồng cao su và trồng rừng kinh tế chậm; không tổ chức chăm sóc, thậm chí có doanh nghiệp sang nhượng dự án. Công tác BVR của một số doanh nghiệp chưa tốt, không bố trí hoặc bố trí lực lượng bảo vệ mỏng, do đó không kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi phá rừng, khai thác lâm sản trái phép trên diện tích thuê để quản lý…
Theo Hạt trưởng Nguyễn Ngọc Toán, 3 tháng cuối năm 2016 này, ngoài việc tiếp tục thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị số 12, 08, 1685 của Thủ tướng Chính phủ và 30 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng, Nghị quyết 05 của Huyện ủy Đạ Tẻh, Hạt sẽ tham mưu UBND huyện xây dựng kế hoạch thực hiện Thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng như các văn bản chỉ đạo của tỉnh và huyện xoay quanh chủ đề khôi phục rừng bền vững nhằm ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2016 - 2020.
Cùng đó là “xác định những vị trí, khu vực nhạy cảm dễ xảy ra hành vi phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản vi phạm pháp luật để tập trung tổ chức kiểm tra, ngăn chặn có hiệu quả; không để phát sinh những điểm nóng”..., ông Toán cho biết. Với 3 tháng còn lại, hy vọng, rừng trên địa bàn huyện Đạ Tẻh sẽ không xẩy ra những vụ phá rừng nổi cộm; cả hệ thống chính trị của huyện sẽ chủ động hơn trước diễn biến còn tiềm ẩn những phức tạp về hành vi vi phạm Luật BV&PTR.
Đây là cơ sở thực tiễn quý báu để góp phần cùng tỉnh Lâm Đồng nói riêng và khu vực Tây Nguyên nói chung lập quy hoạch bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng vào năm 2017 theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. (Lâm Đồng 21/9) đầu trang(
Quan Thần Sán là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Lào Cai và là nơi định cư lâu đời của các dòng họ người Mông sống gắn bó với rừng và đất rừng.
Bên cạnh quản lý rừng của các chủ rừng là Ban Quản lý rừng phòng hộ, hộ gia đình, thôn bản; quản lý rừng theo dòng họ của người Mông đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hóa, sinh kế, bảo vệ môi trường và hiệu quả công tác bảo vệ rừng trên địa bàn.
Ông Vũ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Quan Thần Sán cho biết, hình thức quản lý rừng theo dòng họ không phải là hiện tượng đơn lẻ, mà phổ biến ở các thôn bản, các dòng họ người Mông ở Lào Cai.
Tại xã Quan Thần Sán, rừng của các dòng họ Cư, Giàng, Lứu, Tráng, Sùng có từ lâu đời và được quản lý, sử dụng hiệu quả. Rừng quản lý theo dòng họ đã và đang đóng vai trò, ý nghĩa rất lớn đối với sinh kế, bảo vệ môi trường, gìn giữ bản sắc văn hóa, tín ngưỡng và ổn định xã hội của cộng đồng người Mông.
Rừng của dòng họ cung cấp củi đun, gỗ làm nhà, nguồn thuốc nam trị bệnh, cung cấp nước quanh năm cho sinh hoạt và tưới cho cây trồng. Rừng là nơi để cộng đồng dòng họ thực hành nghi lễ tín ngưỡng cúng rừng, cầu mong các vị thần che chở, bảo vệ và giúp họ có cuộc sống mạnh khỏe, hạnh phúc và bình yên; cho cây cối, gia súc, gia cầm phát triển, và cho sự trường tồn của các dòng họ.
Rừng của các dòng họ được quản lý, bảo vệ hiệu quả chủ yếu dựa vào quy ước bảo vệ rừng của dòng họ và tuần tra của các tổ bảo vệ rừng. Mỗi dòng họ thành lập từ 1 - 2 tổ quản lý bảo vệ rừng do các thành viên dòng họ bầu hàng năm theo nguyên tắc quay vòng.
Các thành viên trong các nhóm tiến hành kiểm tra tình trạng rừng hàng quý hoặc đột xuất khi có phản ánh của bất cứ ai về một vi phạm nào đó để kịp xử lý. Quy ước quản lý bảo vệ rừng của các dòng họ tương đối giống nhau về quy định những khu rừng nào bảo vệ nghiêm ngặt (rừng tâm linh) hoặc hạn chế khai thác (rừng bảo vệ nguồn nước); khu rừng nào được phép khai thác lâm sản, mức độ và thời gian được khai thác, hình thức xử phạt theo mức độ vi phạm…
Đặc điểm nổi bật theo quy ước khai thác lâm sản của một số dòng họ ở đây (như dòng họ Cư) là quyết định đóng cửa rừng để rừng có thời gian phục hồi và tôn trọng các vị thần theo tín ngưỡng. Theo tín ngưỡng, sau lễ cúng rừng, thường quy định 3 - 7 ngày không ai được vào rừng, không ai được khai thác rừng. Quyết định đóng cửa rừng để rừng có thời gian phục hồi thường được đưa ra sau một thời gian khai thác, rừng trở nên nghèo kiệt và nhu cầu sử dụng gỗ làm nhà của các thành viên trong dòng họ về cơ bản đã được giải quyết.
Thời gian đóng cửa rừng có thể lên đến 10 năm. Trong thời gian này, quy ước của các dòng họ nghiêm cấm tất cả các hành vi xâm hại đến rừng. Hiện tại dòng họ Cư đã đóng cửa rừng được 3 năm. Quyết định về đóng của rừng để phục hồi rừng trong quy ước của các dòng họ là kết quả đúc kết kinh nghiệm và tri thức bản địa để duy trì và phát triển rừng bền vững.
Tuy nhiên hiện nay, dòng họ chưa được công nhận là đối tượng được giao rừng theo quy định về cộng đồng dân cư thôn trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004. Theo định nghĩa cộng đồng dân cư thôn được giao rừng là toàn bộ dân cư trong thôn bản theo quản lý hành chính. Vì vậy, trên thực tế, dòng họ tham gia quản lý bảo vệ rừng như các chủ rừng khác và tổ chức quản lý hiệu quả nhưng chưa được tiếp cận chính sách hỗ trợ bảo vệ phát triển rừng.
Đặc biệt hiện nay, huyện Si Ma Cai đang triển khai một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết 22 năm 2014 của Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai về cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội ở huyện Si Ma Cai là giao đất, giao rừng cho hộ và cộng đồng dân cư thôn bản. Tuy nhiên, việc dòng họ chưa được công nhận là đối tượng iao rừng sẽ là yếu tố cản trở việc thực hiện rừng có chủ quản lý và quyền lợi của các dòng họ tham gia quản lý,bảo vệ rừng.
Ông Cư Seo Phú, cán bộ văn hóa xã Quan Thần Sán cho rằng, các khu rừng của các dòng họ ở Quan Thần Sán đang quản lý và bảo vệ hiệu quả, mặc dù chưa được pháp luật thừa nhận và chưa nhận được sự hỗ trợ nào trong công tác bảo vệ rừng. Điều này là không công bằng khi các dòng họ cũng tham gia quản lý bảo vệ rừng và thực tế bảo vệ hiệu quả hơn các chủ rừng khác.
Ông Vũ Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Quan Thần Sán cho rằng, Nhà nước cần công nhận quyền chủ rừng của các dòng họ có rừng quản lý chung để có cơ sở giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ đó các dòng họ được hưởng cơ chế chính sách hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng công bằng như các chủ rừng khác.
Thực tế cho thấy, về thiết chế tổ chức xã hội và quản lý tài nguyên, dòng họ có đầy đủ các tiêu chí thể hiện hình thức quản lý rừng theo cộng đồng như thôn bản. Về tổ chức, dòng họ có hệ thống tổ chức tự quản đứng đầu là tộc trưởng (tương đương như già làng) và các trưởng chi (tương đương như hội đồng già làng) được tất cả các thành viên trong họ tôn trọng và thừa nhận, tiếp đến là các hộ gia đình thành viên của dòng họ.
Về quản lý sử dụng rừng, rừng của dòng họ là quyền sở hữu, quyền quản lý chung cả dòng họ và công tác quản lý, bảo vệ rừng dựa vào quy ước của dòng họ, các thành viên tự nguyện, tự giác tham gia quản lý sử dụng bảo vệ rừng.
Điều 5 Luật Đất đai 2013 đã công nhận dòng họ là một trong những thành phần của cộng đồng dân cư được công nhận là người sử dụng đất (được giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất). Điều 211, Bộ luật Dân sự 2015 đã công nhận quyền sở hữu tài sản chung của dòng họ. Do vậy, để phù hợp với Luật Đất đai 2013, Bộ luật Dân sự, các quy định về bảo vệ và phát triển rừng cần công nhận dòng họ là một trong những chủ rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 21/9) đầu trang(
Chuyến đi của đoàn khảo sát thác Vũ Môn ở xã Phú Gia, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) vào tháng 8 vừa qua với chặng đường tính bằng hàng giờ đi bộ sẽ chẳng thể thành công nếu thiếu đi những người dân bản địa dẫn đường... Họ - những hướng dẫn viên thực thụ đưa đoàn khảo sát về với “ngôi nhà” lớn đầy thân thuộc.
Nguyễn Văn Mai là một trong 7 người dẫn đường và gùi đồ giúp đoàn, cậu cũng là người nhỏ tuổi nhất trong đoàn. Mới 18 tuổi, nhưng Mai đã có kinh nghiệm hơn 5 năm đi rừng.
Người bé cỏn, trên vai gánh đồ nặng đến vài chục kg nhưng Mai chẳng nề hà. Lúc trong đoàn có người cần dìu, Mai cũng luôn sẵn sàng giúp. Cậu bé hay cười, nhưng ít nói… chỉ đến khi hỏi tên loại cây nào trong rừng, cậu đều đọc vanh vách và hào hứng nói về một vài công dụng của cây. Chuyến đi bắt đầu thú vị hơn, hành trình chinh phục Vũ Môn dường như ngắn lại với những kiến thức mới mẻ mà Mai chia sẻ.
Thi thoảng lúc đi, thấy cậu bẻ cành, khắc dấu lên cây, tôi cứ nghĩ đó chỉ là trò nghịch ngợm, nhưng không hẳn thế, đó là một cách để làm dấu cho người đi sau và cho chính bản thân mình; cũng là một cách để lưu lại kỷ niệm nơi cậu đi qua. “Đi rừng chỉ cần một con dao và một cái bật lửa là không sợ đói, sợ rét. Cứ nhìn hướng mặt trời mọc mà đi thì không sợ lạc” - Mai nói.
Hơn một ngày đi rừng, với tiết trời mưa nắng thất thường, mọi người đã mệt, nhưng cậu vẫn phăm phăm hướng về phía trước với một ba lô nặng trĩu trên vai. Mai bộc bạch: “Đi đường thành phố em mới sợ lạc, nhưng đi đường rừng chẳng bao giờ sợ”.
Thậm chí, đến những chỗ chẳng có đường, có lối, cả đoàn phải tự xẻ cây lấy lối đi thì Mai cũng như con sóc nhỏ tinh anh, len lỏi khắp các bụi rậm, tiên phong dẫn đường.
Còn anh Lê Thanh Hóa (thôn Phú Lâm, xã Phú Gia), hơn nửa cuộc đời gắn bó với núi rừng, dấu chân anh đã in khắp các mỏm đá, hốc cây, những lối vào ra khắp khu rừng này. Nhà gần núi, tuổi thơ anh Hóa lớn lên với thiên nhiên, cây cỏ. “Từ nhỏ, tui đã theo cha, theo thanh niên trong làng lên rừng đi kiếm cái ăn. Chặt củi, lấy mật, có khi bẫy thú…”, anh kể.
Đi riết rồi quen, dấu chân anh len lỏi khắp núi rừng, chui vào những khu rậm rạp nhất để đặt bẫy, trèo lên những cây cao chót vót để kiếm mật ong, hay leo lên những mỏm đá cao, cheo leo, hiểm trở nhất để quan sát, tìm hướng đi. Và với những người như Mai, như anh Hóa... đi rừng chính là trở về rừng! Như đứa con nhỏ tìm về với mẹ thiên nhiên trong ngôi nhà rộng lớn.
Ở thôn Phú Lâm của xã Phú Gia, hầu hết những thanh niên ở bản đều đi rừng từ lúc 15-17 tuổi. Cả bản hơn 100 hộ dân thì cũng hơn 50 hộ thường xuyên vào rừng. Trong bản, có những người đã 50-60 tuổi vẫn đi rừng rất dẻo dai như ông Ninh, ông Biên, ông Đăng… Tiếp nối “cao niên” là những người như các anh: Thêm, Thìn, Hóa, Mão...
Nếu với lực lượng chức năng, chuyên môn, việc đánh dấu, phân loại địa giới khu vực trên rừng thường bằng tọa độ, tiểu khu thì với những người như anh Hóa, như Mai, nó in sâu trong trí nhớ bằng những địa điểm thân quen và thuộc nằm lòng bàn tay.
Thậm chí, những con dốc, những đoạn đường ở đây còn được người đi rừng đặt tên theo tên người dân - những người đã khai sinh, mở lối con dốc, con đường đó. Đường Hưng Huỳnh, Anh Đa, Trường Trọng hay dốc ông Cầm Huề, Hải Đạo… là những cái tên mà nếu không phải người con của bản, không quá thân thuộc với rừng sẽ ít ai biết được. Và vào rừng không còn mang suy nghĩ giản đơn đưa sản vật của rừng về nhà nữa mà với nhiều người dân họ đã có suy nghĩ khác.
“Bây giờ, dân bản vào rừng lấy mật ong, lấy lá thuốc, lá tơi… không ai đi phá rừng mô. Các chú biên phòng nói với bà con nhiều rồi, chúng tôi hiểu chứ, phá cây, phá rừng thì lấy gì sống, rừng chết mà nguồn nước cũng hết. Phải giữ rừng cho con cháu, nếu không muốn rừng bị hoang hóa” – anh Lê Văn Mão, một người dân bản tâm sự.
“Không làm được gì cho rừng nhưng cũng sẽ không bao giờ phá rừng. Là con của dân bản Phú Lâm, không ai mà đi phá rừng cả, phá rừng là phá nhà mình rồi” - anh Lê Thanh Hóa phụ họa thêm. Và đó cũng là tiếng nói chung của những người dân bản địa dẫn chúng tôi lên thác Vũ Môn.
Gần đây, một số người dân bản địa sành sõi về rừng còn có thêm một “nghề” mới đó là nghề dẫn đường. Họ dẫn đường cho các đoàn khảo sát lên thác Vũ Môn. Thi thoảng mới có một vài chuyến đi, mỗi chuyến kéo dài ít nhất 2 ngày, có khi đến nửa tháng, đường đi gập ghềnh và xa xôi nhưng họ chẳng bao giờ oán thán bởi niềm tin rằng, “hòn ngọc xanh” sẽ được chở che, bảo vệ và khai thác thỏa đáng, hữu ích.
Mong sao không chỉ người dân bản Phú Lâm mà những ai đã, đang được mẹ thiên nhiên bao dung ưu đãi hãy biết bảo vệ, giữ gìn để tạo nguồn sống cho muôn đời sau, như lời người dân nơi đây từng truyền đạt cho nhau qua nhiều thế hệ: “Không bao giờ được phá rừng”. (Báo Hà Tĩnh 21/9) đầu trang(
Nhiều khối gỗ lậu đang được chuyển ra khỏi rừng phòng hộ hàng ngày một cách dễ dàng, công khai đến bất ngờ trong vòng vây bảo vệ của chủ rừng -BQL rừng phòng hộ sông Tiêm (Hà Tĩnh) và các lực lượng chức năng.
Chúng tôi nhận được thông tin: Việc vận chuyển gỗ từ trong rừng phòng hộ sông Tiêm ra bằng xe công nông, xe kéo, trâu kéo diễn ra thường xuyên. “Cứ mỗi ngày, bắt đầu vào tầm từ 15h chiều đến chập tối là khoảng thời gian lâm tặc chuyển gỗ ra khỏi rừng. Gỗ được xẻ trong rừng rồi dùng trâu kéo đưa về tập kết dưới bờ suối. Đến chiều tối, xe máy là phương tiện chính để đưa gỗ ra khỏi rừng”, một nguồn tin cho biết.
Có mặt tại con đường mới mở đi thẳng sâu vào thượng nguồn rừng phòng hộ sông Tiêm được bắt đầu từ thôn Thuận Trí, xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) khúc khuỷu với những dốc cao, nhiều rãnh do phương tiện đi lại nhiều tạo thành luống sâu là hướng chính để gỗ lậu tuồn ra khỏi rừng. Chúng tôi phải hết sức cẩn thận để tránh bị lao xuống vực. Vậy nhưng, từng đoàn xe máy vận chuyển gỗ vẫn liều mình lao dốc...
Hóa trang người đi rừng, chúng tôi quyết định đi đến cuối con đường dẫn vào thượng nguồn rừng phòng hộ sông Tiêm khi trời đã xế chiều để được mục sở thị. Theo vết mòn của bánh xe công nông, mất rất nhiều thời gian mới vượt qua được một đoàn đường chừng 2km. Đang dừng chân nghỉ để lấy lại sức bất chợt tiếng xe máy gầm rú âm vang cả núi rừng. Chỉ trong phút chốc, từng tốp xe với những khúc gỗ xuất hiện chạy bạt mạng. Họ (người vận chuyển gỗ - PV) không cần để ý đến người khách lạ, một mạch đưa gỗ ra khỏi rừng.
Có mặt trên cung đường này, khoảng 30 phút, chúng tôi đếm được có đến 8 lượt xe máy kéo vận chuyển gỗ ra khỏi rừng, trên mỗi chiếc xe có ít nhất hai khúc gỗ lớn, mỗi khúc gỗ dài chừng 2-4m. Mặt khác, theo hướng ngược lại, những bì tải căng tròn được người dân vội vã vận chuyển bằng xe máy tiến vào thượng nguồn, theo tìm hiểu được biết đó là cỏ để cho trâu ăn trước lúc kéo gỗ ra khỏi rừng vào thời điểm gần tối.
Tiếp tục theo dõi, PV đã đặt máy quay tại nhiều điểm để ghi lại hình ảnh mà không bị phát hiện, chứng kiến tường tận những hoạt động đưa gỗ lậu ra khỏi rừng phòng hộ sông Tiêm. Đáng nói, việc đưa gỗ ra khỏi rừng phòng hộ ở đây hết sức dễ dàng, diễn ra công khai giữa ban ngày mà không có bất kỳ một trở ngại nào?.
Lời căn dặn của người dẫn đường trước lúc chúng tôi vào thực tế hiện trường là cần hết sức cẩn thận, địa hình ở đây hiểm trở, vào thời điểm cuối chiều thì những cán bộ trực trạm của BQL rừng phòng hộ sông Tiêm (đóng ở gần cuối con đường này) sẽ ra vào nhiều; bởi vậy, chúng tôi chủ động rút khỏi hiện trường khi ánh mặt trời dần khuất núi.
Quá trình đi tìm câu trả lời về hoạt động khai thác gỗ lậu đang diễn ra trên địa bàn huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), một lời thú nhận mà bất kỳ người dân hay cán bộ ở địa phương này cũng khẳng định: “Gỗ trong rừng giờ làm gì còn nữa mà khai thác, còn mấy que củi nhỏ trong đó !”. Câu nói đại ý rằng, những loài gỗ lớn, quý hiếm ở rừng nơi đây của gần mười năm về trước thì nay không còn, nếu có cũng chỉ còn lại những loại gỗ tạp, gỗ nhỏ…Thế nhưng, dù gỗ lớn hay gỗ nhỏ, gỗ quý hiếm hay gỗ tạp thì hoạt động khai thác gỗ trái phép vẫn đang tiếp tục diễn ra, kể cả trong rừng phòng hộ.
Trở lại địa bàn xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê để tiếp tục nắm bắt về hoạt động vận chuyển gỗ lậu, một trong những vấn đề nóng đang diễn ra tại địa phương này. Không khác gì hai ngày trước đó chúng tôi chứng kiến: Vẫn là những chuyến xe nối đuôi nhau chuyển gỗ ra khỏi rừng, người dân địa phương cho biết nếu thời tiết nắng ráo thì chiều nào cũng như vậy.
Xuất phát từ khu dân cư thôn Thuận Trí theo hướng đi vào sâu rừng phòng hộ sông Tiêm thì gặp ngay đoàn xe kéo gỗ đang gồng mình vượt qua đoạn đường lầy. Khi thấy người lạ, họ (Người vận chuyển gỗ- PV) nói với nhau: Chắc là nhà báo!.
Cuộc hành trình vẫn tiếp tục cho đến khi chúng tôi nắm được thông tin một lượng lớn gỗ sắp được vận chuyển ra khỏi rừng. Và chỉ vài phút sau, xe chở gỗ lần lượt theo đường đi ra khỏi rừng.
Khi đoàn xe chở gỗ vừa leo lên khỏi dốc, một người đàn ông ăn mặc gọn gàng đi sau cùng dừng lại vị trí chúng tôi, với vẻ mặt bặm trợn, trên xe có mang theo một con dao. Sau một vài lời dò hỏi thì người đàn ông này vội vàng nổ máy bám theo đoàn xe chở gỗ.
Bất ngờ nữa, chưa đầy một phút sau xuất hiện thêm người đàn ông mặc đồng phục chạy xe máy tiếp tục bám theo, ánh mắt liên tục ngoảnh lại nhìn về phía khách lạ. Chúng tôi quyết định hành trình tiếp cận “điểm nóng”.
Câu hỏi khiến chúng tôi băn khoăn suốt hành trình là: Tại sao trên trục đường độc đạo này có chốt Trạm của chủ rừng nhưng gỗ lậu vẫn lọt ra được mỗi ngày…? (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/9) đầu trang(
Công an huyện Thạch An vừa phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Thú y và Phòng Tài chính huyện tổ chức thả gần 20 cá thể động vật hoang dã về rừng.
Các cá thể động vật hoang dã này được phát hiện vào hồi 9h ngày 19/9/2016 tại tỉnh lộ 209 thuộc khu vực Pác Duốc, xã Minh Khai. Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra về hình sự, kinh tế và ma túy - Công an huyện Thạch An đã phát hiện đối tượng Triệu Văn Vàng, sinh năm 1992, trú tại thôn Bản Tuồm, xã Đức Thông (Thạch An) có hành vi vận chuyển hàng không rõ nguồn gốc.
Tiến hành kiểm tra, Công an huyện phát hiện trong bao có chứa 16 con rắn ráo và 3 con dúi với tổng trọng lượng 8kg. Đối tượng Vàng khai đã đi thu mua lại số động vật hoang dã này để mang đi bán kiếm lời.
Công an huyện Thạch An đã thu giữ và tiến hành lập biên bản số hàng trên, đồng thời phối hợp với lực lượng kiểm lâm huyện thả số động vật hoang dã trên về rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cao Bằng 21/9) đầu trang(
Tại sao người Việt "thần tượng" sừng tê giác thì đã rõ. Nó là một từ khoá quen thuộc trong xã hội những ngày này: Ung thư.
Trên tạp chí TIME, Việt Nam lại tiếp tục được chỉ ra là thị trường chính của sừng tê giác Châu Phi. Những thị dân trung lưu của nước ta vẫn đang "giết" những con vật này vì nỗi sợ ung thư.
Bài viết trên tờ TIME chắc chắn sẽ gây chú ý của cộng đồng thế giới, bởi nó được đồng chắp bút bởi Jared Leto - siêu sao điện ảnh đã từng đoạt giải Oscar và vẫn đang "hô mưa gọi gió" trên các rạp chiếu thế giới bằng vai Joker trong “Biệt đội tự sát”.
Leto cùng với Carter Roberts - Giám đốc của Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã toàn cầu (WWF) lên tiếng chỉ ra Việt Nam, chứ không phải Trung Quốc - vốn thường là thị trường lớn nhất cho các món y dược bí truyền - là nguyên nhân chính khiến những con tê giác bị giết hại dã man trên đồng cỏ Châu Phi. Khó mà chỉ tay về đâu khác: Các cuộc điều tra của Uỷ ban công lý động vật hoang dã, tại riêng làng Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội) trong một năm trời khẳng định rằng nơi này đã buôn bán sừng của… 579 cá thể tê giác. Đó chỉ là một ngôi làng.
Tại sao người Việt thần tượng sừng tê giác thì đã rõ. Nó là một từ khoá quen thuộc trong xã hội những ngày này: Ung thư. Nhiều người tin rằng sừng tê giác chữa được ung thư.
Ung thư đang trở thành một nỗi sợ hãi đến ám ảnh của người Việt Nam, trước tình trạng an toàn thực phẩm và ô nhiễm môi trường. Và người Việt Nam đã quyết định chuyển hoá nỗi sợ của mình thành hành động: Họ cùng với các tổ chức tội phạm quốc tế xây dựng những đường dây sát hại tê giác và buôn bán sừng của chúng.
Con tê giác Châu Phi không gây ra nỗi sợ ung thư ở người Việt Nam, nhưng nó phải thế mạng, phải chết trên sa mạc với mảng thịt đỏ ối trước mũi cho ruồi bu. Vì nó yếu đuối, to xác, và dễ ăn đạn, dễ cưa sừng hơn là những nguyên nhân gây ra ung thư.
Người Việt Nam tất nhiên đã có thể đổ công xây dựng một thiết chế chống lại việc nhập khẩu thực phẩm bẩn. Một người bạn từng có thời gian làm việc tại cảng Hải Phòng kể với tác giả rằng, những container “tạm nhập tái xuất” chứa hàng lậu được bóc ra ngay khi vừa rời cảng, để rồi bằng cách nào đó, người ta vẫn có kẹp chì niêm phong “chính hãng” của hải quan để tái xuất chúng, nhưng là tái xuất cái container rỗng. Những món hàng đã ở lại Việt Nam bất hợp pháp có thể là bất kỳ thứ gì. Đó có thể là chân gà, nội tạng động vật, hay là một thứ “thuốc độc” trực tiếp gây ra ung thư sẽ được bày bán ở chợ ngày hôm sau.
Người Việt Nam tất nhiên đã có thể dốc sức cho việc hỗ trợ người nông dân làm nông sản sạch. Nhưng tiếc rằng những nỗ lực như vậy vẫn không nhiều. Tôi đã gặp rất nhiều người nông dân chật vật trong một nỗ lực sản xuất nông sản “vì cộng đồng” - bởi vì rốt cục thì lý tưởng của họ không phù hợp với các quan điểm thị trường. Không có sự “hữu xạ tự nhiên hương” như là… sừng tê giác, dù khó khăn đến mấy người ta cũng tìm đến mua. Bạn vẫn có thể bắt gặp một cửa hàng nông sản sạch ế chỏng chơ vì giá đắt và không có tiền quảng cáo, không có tiền thuê mặt bằng đẹp.
Người Việt Nam cũng đã có thể làm nhiều hơn để giải quyết vấn đề môi trường. Họ không cần phải chờ đến một ông Tây đi dọn cống rãnh cho mình, hay là sinh viên tình nguyện đi nhặt rác rến mà họ đã bỏ lại ở Bờ Hồ sau những đêm vui chơi.
Nhưng có vẻ như là tiêu diệt tê giác thì dễ hơn là tiêu diệt buôn lậu; tìm mua sừng tê giác thì dễ hơn là hỗ trợ nông dân; dấm dúi đem sừng tê đi biếu xén thì dễ hơn là cúi lưng xuống nhặt rác.
Sẽ thật buồn cười vì trước nỗi sợ ung thư, chúng ta lại chung tay hành động, xây dựng một hệ thống buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp, thay vì chung tay xây dựng những hệ thống bảo vệ mình một cách hợp pháp.
Nếu tê giác hết, mà buôn lậu vẫn còn, thì chúng ta sẽ làm gì để chiến đấu với ung thư? (Dân Việt 22/9) đầu trang(
Tuy mới thành lập, nhưng Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng liên, thuộc Vuờn Quốc gia Hoàng liên, huyện Sa Pa, tỉnh lào Cai đã nỗ lực khắc phục khó khăn về cơ sở vật chất và nhân lực, để cứu hộ, bảo tồn và phát triển được nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm.
Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên, thuộc VQG Hoàng Liên, được thành lập từ tháng 7/2014, có nhiệm vụ cứu hộ, tái thả động vật hoang dã quý hiếm và lưu trữ, bảo tồn nguồn gien các loại sinh vật quý hiếm, nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng; bảo vệ hơn 30 ha rừng đặc dụng của VQG Hoàng Liên. Trung tâm có 18 cán bộ, nhân viên, nằm cách xa thị trấn Sa Pa, nằm trong một thung lũng, trên độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển.
Khi chúng tôi tới Trung tâm, đúng lúc Trung tâm đang tiến hành đợt tổng kiểm tra thể chất và rà soát chế độ dinh dưỡng, điều kiện sinh sống của động vật hoang dã đang được nuôi dưỡng tại đây.
Một cán bộ thú y của Trung tâm còn rất trẻ, đang khám sức khỏe và kiểm tra chế độ ăn của 4 cá thể cu li (lớn và nhỏ), đây là loài động vật hoang dã quý hiếm, có tên trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới, được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phu.
Vừa chăm sóc cu li anh vừa chia sẻ, những cá thể cu li này là do cơ quan kiểm lâm các địa phương và người dân bàn giao, hiến tặng cho Trung tâm trong tình trạng suy giảm thể chất, thậm chí, bị thương. Với trách nhiệm được giao và tình yêu động vật, cán bộ và nhân viên tại đây, đã cứu sống và nuôi dưỡng, chăm sóc những con cu li bé nhỏ thành công, sinh trưởng bình thường.
Được biết, trong 2 năm qua, Trung tâm đã tiếp nhận 58 vụ, cứu hộ và bảo tồn 107 cá thể động vật hoang dã, thuộc 33 loài. Các cá thể động vật được cứu hộ như: gấu ngựa, cầy vòi, mèo rừng, cu li, đại bàng hoàng đế, gà lôi trắng, diều hoa... tất cả đều khỏe mạnh, sinh trưởng tốt. Đặc biệt là cá thể gấu ngựa, do một người dân ở thành phố Lào Cai trao tặng trong tình trạng bị lấy mật liên tục, nên suy kiệt đến mức không đi nổi. Nhưng nhờ được chăm sóc tốt, cá thể gấu này đã hồi phục, sau hơn một năm, đã tăng trưởng thêm 25 kg.
Không chỉ cứu hộ, Trung tâm còn bảo tồn, nhân giống thành công một cá thể Khỉ mặt đỏ bằng cách ghép đôi từ hai các thể khỉ bố mẹ, do cơ quan chức năng thu giữ từ ngoài xã hội, bàn giao cho Trung tâm.
Bên cạnh việc đầu tư của Nhà nước, Trung tâm còn mở rộng liên kết với Hội động vật Luân Đôn (Anh) và Bảo tàng quốc gia Australia về nghiên cứu bò sát, lưỡng cư. Qua 2 năm triển khai, đã tổ chức điều tra phân bố, tình trạng sinh thái loài Rùa đầu to tại VQG Hoàng Liên, từ độ cao 1.300m trở xuống; điều tra loài lưỡng cư, phát hiện thêm cá thể thuộc hai loài đặc hữu là Cóc núi sterling và Cóc mày, tại khu vực đai cao 2.800m của VQG Hoàng Liên; tập huấn về kỹ năng điều tra thực địa và chăn nuôi rùa, lưỡng cư cho cán bộ VQG Hoàng Liên...
Không chỉ cứu hộ, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật ở Vườn quốc gia (VQG) Hoàng Liên mà Trung tâm còn “vươn” ra cả khu vực Tây Bắc. Giám đốc Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và Phát triển sinh vật Hoàng Liên, Lương Văn Hào kể câu chuyện kỹ sư lâm sinh Nguyễn Thành Chung một mình một xe máy, vượt quãng đường hơn 300km trong mùa đông giá rét, đến tỉnh Sơn La để cứu hộ một cá thế rùa quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng rất cao, từ người dân đi rừng băt được.
Cán bộ của Trung tâm còn “lặn lội” về Yên Bái để cứu hộ hai cá thể Khỉ mặt đỏ (Macaca arc-toides) là loài động vật nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IIB Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới. Sau thời gian nuôi dưỡng, cá thể Khỉ mặt đỏ này đã sinh trưởng, phát triển tốt ở VQG Hoàng Liên.
Tuy vậy, hiện nay, quy chế của Trung ương và tỉnh Lào Cai về cứu hộ, bảo tồn động vật chưa hoàn thiện, đầy đủ; chưa phân định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các đơn vị, cá nhân tham gia trực tiếp vào công việc cứu hộ, bảo tồn và phát triển động - thực vật, giải quyết ngay các mâu thuẫn trong quá trình tiếp nhận, xử lý và lưu giữ, tái thả giữa các đơn vị hành pháp và chuyên môn đã gây nhiều khó khăn cho công tác cứu hộ và bảo tồn động vật hoang dã.
Mặt khác, tốc độ tăng trưởng du lịch rất cao tại Sa Pa tác động mạnh đến môi trường sống của động vật hoang dã tại đây theo chiều hướng gây hại, cần được các quan tâm, khắc phục để bảo vệ và phát triển sự đa dạng sinh học ở VQG Hoàng Liên và khu vực Tây Bắc. (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Gần đây, trên một số diễn đàn bàn về các giải pháp giảm phát thải hiệu ứng nhà kính người ta không chỉ nói nhiều mà còn đưa ra chương trình kế hoạch để thực hiện vấn đề REDD+. Vậy REDD+ là gì? Nó có liên quan như thế nào đến biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường rừng?
REDD là chữ viết tắt tiếng Anh của “Reducing Emission from Deforestation and Forest Degradation”, tạm dịch là “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng”.
Vậy REDD+ là gì? Theo chuyên gia Nguyễn Quang Tân - Trung tâm Vì con người và rừng Việt Nam, REDD+ là một sáng kiến quốc tế, cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển nhằm giảm phát thải khí nhà kính gây nên biến đổi khí hậu, thông qua 5 hoạt động chính: Hạn chế mất rừng; Hạn chế suy thoái rừng; Bảo tồn trữ lượng các bon rừng; Quản lý bền vững tài nguyên rừng; Tăng cường trữ lượng các bon rừng.
Ý tưởng của REDD+ là: Các nước đang phát triển giảm tỷ lệ mất rừng và suy thoái rừng để được nhận thù lao về mặt tài chính từ quỹ toàn cầu do phía các nước phát triển đóng góp. Mục tiêu của REDD+ không chỉ nhằm giảm phát thải khí nhà kính mà còn cung cấp nhiều lợi ích khác như: Giảm nghèo, phát triển lâm nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học...
Với chức năng nhả oxy và hút khí Carbonic, trong biến đổi khí hậu rừng có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó vừa góp phần gây ra biến đổi khí hậu cũng vừa là nạn nhân của các tác động của biến đổi khí hậu. Rừng cũng có tiềm năng trở thành một giải pháp hai mặt trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu – làm giảm nguyên nhân gây biến đổi khí hậu và giúp xã hội thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu.
Ví như, việc ngăn chặn mất rừng và suy thoái rừng có thể giúp làm giảm gần 20% lượng phát thải CO2 toàn cầu; Rừng được duy trì sẽ giúp chúng ta thích ứng thông qua việc cung cấp các dịch vụ sinh thái quý giá.Sự ra đời của REDD+ là một quá trình tất yếu, khách quan.
Đó là năm 1992, các chính phủ trên thế giới đã thống nhất nhận định rằng nhiệt độ và thời tiết trên toàn cầu đã và đang thay đổi ở mức độ nhanh chóng một cách bất thường. Trong khuôn khổ của Liên hiệp quốc, các chính phủ đã quyết định gặp gỡ hàng năm để thảo luận tại sao hiện tượng này lại diễn ra và cần phải làm gì.
Đến năm 1997, hầu hết các nhà khoa học đều khẳng định rằng nhiệt độ trên toàn cầu đang tăng lên nhanh chóng hơn nhiều so với mức bình thường, và rằng lý do chủ yếu của hiện tượng này là sự gia tăng mức độ khí nhà kính trong khí quyển.
Các loại khí nhà kính này tích tụ hơi nóng từ mặt trời và không cho hơi nóng thoát trở lại không gian, mà hoạt động như là một nhà kính. Các loại khí nhà kính phát sinh một cách tự nhiên, nhưng cũng được tạo ra khi dầu, than và gỗ bị đốt để lấy năng lượng.
Vì vậy, khi dân số thế giới gia tăng và chúng ta sử dụng năng lượng nhiều hơn thì chúng ta cũng xả một lượng khí nhà kính lớn hơn vào sinh quyển. Carbonic (CO2) là một loại khí nhà kính đáng lo ngại nhất.
Biến đổi khí hậu có thể gây tổn hại “sức khỏe” của rừng theo nhiều cách khác nhau: Lượng mưa giảm và sự gia tăng nhiệt độ có thể gây ra hạn hán – làm tăng các vụ cháy rừng và làm giảm tài nguyên rừng. Một khu rừng đã bị hủy hoại sẽ không thể cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên duy trì các nguồn sinh kế và giúp người dân thích ứng với biến đổi khí hậu.
Rừng giúp kiểm soát xói lở đất, cung cấp nước sạch và tạo ra hành lang cho động - thực vật hoang dã di chuyển tới các vùng có khí hậu thuận lợi hơn. Việc các dịch vụ này bị mất đi sẽ tác động tới cuộc sống và sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng.
Rừng cũng có thể làm gia tăng biến đổi khí hậu nếu không được quản lý một cách bền vững. Khi gỗ bị khai thác, cây sẽ trở thành nguồn khí nhà kính bởi vì toàn bộ carbon mà nó tàng trữ sẽ phát thải dưới dạng CO2 và cây sẽ không còn là bể chứa carbon – nghĩa là nó không thể hút CO2 từ sinh quyển được nữa.
Cộng đồng quốc tế thừa nhận ngày càng mạnh mẽ hơn về việc nếu như rừng được lồng ghép vào một giải pháp chống biến đổi khí hậu toàn cầu thì các nước đang phát triển cần phải được đền đáp cho những nỗ lực giảm thiểu mất rừng (khi rừng bị chặt trắng để chuyển đổi sang các mục đích sử dụng đất khác) và suy thoái rừng (khi tài nguyên rừng bị tổn hại). Xét cho cùng, đất có rừng rất quý giá – cung cấp gỗ và tiềm năng chuyển đổi thành rừng trồng thương mại, hoặc làm nông nghiệp để nuôi sống dân cư.
Những sự đền đáp về mặt tài chính là cần thiết để đảm bảo đất có cây rừng luôn quý giá như chính rừng. Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD) là một cơ chế được thiết kế để tạo ra những sự đền đáp này. Theo hệ thống này, các nước sẽ đo đếm và giám sát lượng phát thải CO2 từ mất rừng và suy thoái rừng trong phạm vi biên giới nước mình.
Sau một giai đoạn nhất định, các nước sẽ tính toán lượng giảm phát thải và nhận được số lượng tín chỉ carbon rừng có thể trao đổi trên thị trường dựa trên sự giảm thiểu này. Các tín chỉ sau đó có thể được đem bán trên thị trường carbon toàn cầu.
Như vậy, REDD là cung cấp những sự đền đáp về tài chính để tránh mất rừng và suy thoái rừng, tạo ra sự kích thích quản lý rừng bền vững và bình đẳng đối với người dân nghèo sinh sống trong hoặc gần các vùng có rừng.
REDD không phải là hình thức phân phối lợi ích riêng rẽ mà thu hút và phân phối lợi ích một cách công bằng cho nhiều chủ thể, bao gồm những người quản lý rừng tại địa phương, các cán bộ lâm nghiệp và chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ địa phương và các nhóm xã hội dân sự có liên quan tới quản lý rừng, và trên tất cả là các hộ sống phụ thuộc vào rừng. Các hộ này có quyền nhận được lợi ích từ REDD do đóng góp của họ vào việc thực thi REDD.
Xã hội dân sự, các tổ chức phi chính phủ và các cộng đồng sẽ có vai trò quan trọng trong thực thi REDD ở cấp địa phương thông qua thực hành quản lý rừng bền vững. Lâm nghiệp cộng đồng cũng sẽ góp phần hiện thực hóa các thành quả của REDD: cải thiện sinh kế, đảm bảo khối lượng carbon tàng trữ trong rừng và rút ra các bài học về quản lý rừng bền vững.
Các chủ thể địa phương – nếu được đào tạo một ít, họ có thể thu thập một cách chính xác và thường xuyên các thông tin cần thiết về mất rừng và suy thoái rừng thông qua giám sát tại thực địa. Đổi lại, REDD chủ trương mang lại lợi ích cho các chủ thể địa phương thông qua: Làm rõ quyền hưởng dụng đất và quyền tiếp cận đất và rừng; Duy trì tài nguyên rừng và sinh kế của người dân sống phụ thuộc vào rừng; Vinh danh cho họ bằng sự thừa nhận toàn cầu rằng họ là những người quản lý rừng có trách nhiệm. (Báo Nghệ An 21/9) đầu trang(
Từ nguồn chi trả DVMTR, đã có hàng ngàn người dân, cộng đồng dân cư thôn, các Công ty Lâm nghiệp, các chủ rừng là tổ chức trên địa bàn tỉnh Kon Tum được hưởng lợi.
Vì vậy, việc hướng dẫn để người dân biết quản lý và sử dụng tiền DVMTR vào mục đích: quản lý và bảo vệ rừng, các hoạt động chung của thôn, phát triển sinh kế cộng đồng sao có có hiệu quả cao nhất là điều hết sức cần thiết.
Sau 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh Kon Tum, từ nguồn tiền DVMTR đã có hàng ngàn người dân, cộng đồng dân cư thôn, các Công ty Lâm nghiệp, các chủ rừng là tổ chức được hưởng lợi. Việc hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR đã tác động tích cực đến ý thức, vai trò trách nhiệm của người hưởng lợi trong việc quản lý và bảo vệ rừng.
Để phát huy sức mạnh của cộng đồng trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR và hướng đến mục tiêu sử dụng nguồn tiền DVMTR hằng năm được hiệu quả, đặt ra nhiệm vụ phải có giải pháp để hướng dẫn cụ thể cho các cộng đồng dân cư thôn quản lý và sử dụng nguồn tiền đó.
Thực trạng hiện nay, đa số các cộng đồng đều có xu hướng sử dụng nguồn tiền này theo cách: trích lại một phần làm quỹ cộng đồng, phần còn lại chia đều cho các hộ gia đình (như ở cộng đồng dân cư thôn: Đông Nây, Đông Lốc, Măng Khênh ở xã Đăk Man, huyện Đăk Glei). Họ chưa biết rõ về cách chi tiêu cụ thể về số tiền DVMTR được nhận hàng năm, chưa sử dụng số tiền nhận được để phát triển sinh kế cho các hộ gia đình ở trong cộng đồng dân cư thôn.
Hướng đến mục tiêu để quản lý và sử dụng tiền chi trả DVMTR có hiệu quả vào 3 mục đích chính đó là: Sử dụng nguồn tiền đó cho công tác quản lý và bảo vệ rừng; các hoạt động chung của thôn; phát triển kinh tế, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Kon Tum hướng dẫn người dân sử dụng nguồn tiền này có hiệu quả và đảm bảo tính dân chủ, công khai. Theo đó, mỗi cộng đồng dân cư thôn cần triển khai họp thôn để giới thiệu về tiền DVMTR và bầu ra Ban quản lý tiền DVMTR của thôn đó.
Ban quản lý tiền DVMTR của thôn được thành lập trên cơ sở dân chủ, công khai và được cộng đồng tin tưởng giao nhiệm vụ. Ban quản lý tiền DVMTR với cơ cấu tổ chức bao gồm: Trưởng ban, phó ban, kế toán, thủ quỹ, thư ký. Mỗi thành viên trong Ban quản lý tiền DVMTR được phân công nhiệm vụ cụ thể, có sự tham gia của nam và nữ, đảm bảo bình đẳng giới trong hoạt động. Tiêu chí của những người được bầu vào Ban quản lý tiền DVMTR phải có trình độ, năng lực và uy tín trong cộng đồng, để cùng thống nhất với cả cộng đồng về kế hoạch sử dụng nguồn tiền DVMTR sao cho có hiệu quả nhất.
Khi tất cả các cộng đồng nhận khoán quản lý và bảo vệ rừng sử dụng nguồn tiền DVMTR có hiệu quả thì bản thân họ sẽ thay đổi nhận thức về tầm quan trọng của tài nguyên rừng đối với cuộc sống của họ. Từ đó dẫn đến việc thay đổi hành vi quản lý và bảo vệ rừng.
Với việc giúp các cộng đồng dân cư thôn nhận khoán quản lý bảo vệ rừng sử dụng nguồn tiền DVMTR hằng năm có hiệu quả bằng cách thành lập Ban quản lý tiền DVMTR; lập kế hoạch sử dụng tiền DVMTR; tiếp nhận tiền, sử dụng tiền DVMTR và báo cáo kết quả sử dụng tiền DVMTR cho cộng đồng đảm bảo công khai, minh bạch, thời gian tới đây, công tác quản lý bảo vệ rừng sẽ ngày càng được nâng cao hơn nữa, phát huy được tính tự giác, ý thức trách nhiệm của người nhận khoán trong công tác bảo vệ rừng.
Để từ đó, rừng được bảo vệ tốt nhất, phát triển đa dạng sinh học và hệ sinh thái tự nhiên, phát huy được tác dụng “vàng” mà rừng mang lại cho cuộc sống của con người. (Tài Nguyên Và Môi Trường 21/9) đầu trang(
Một số diện tích trồng cây mắc ca tại huyện Lâm Hà (tỉnh Lâm Đồng) được trồng từ những năm 2009 – 2011 đã không ra quả hoặc ra quả rất ít sẽ được ngành nông nghiệp khắc phục bằng cách ghép nối ngọn.
Ông Bùi Tấn Hùng, thôn Liên Hà 1, xã Tân Hà (huyện Lâm Hà) là một trong những nông dân sớm trồng cây mắc ca. Năm 2009, ông trồng 100 cây, nhưng đến nay, rất nhiều cây trong số đó chỉ cho quả rất ít, không đạt hiệu quả kinh tế như nhiều vườn khác. UBND huyện Lâm Hà vẫn chưa điều tra và có thống kê chính xác số diện tích mắc ca không cho quả.
Ông Trương Quốc Khánh, Trưởng Phòng Nông nghiệp huyện Lâm Hà, cho biết, số mắc ca không cho quả hoặc quả ít được xác định là do nguồn giống không đảm bảo. Mắc ca là loại cây mới được trồng trên địa bàn huyện, chủ yếu do nông dân tự phát nên việc quản lý nguồn giống đảm bảo chất lượng vẫn chưa chặt chẽ. Nông dân nóng vội trồng loại cây mới đã mua phải giống không tốt.
Mắc ca hiện được tỉnh Lâm Đồng xác định là một trong những loại cây mang lại giá trị kinh tế lớn cho nông dân. Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng Nguyễn Văn Sơn, để khắc phục tình trạng diện tích cây mắc ca không cho trái, ngành nông nghiệp sẽ tiến hành ngay việc ghép các giống mắc ca có năng suất và chất lượng vào những cây mắc ca không hiệu quả này. Phương pháp ghép là ghép tán, ghép nối ngọn chứ không phải cắt gốc nên chỉ sau một năm, mắc ca sẽ cho trái bình thường.
Huyện Lâm Hà được quy hoạch là vùng trồng mắc ca chủ lực của tỉnh Lâm Đồng. Hiện nay, diện tích mắc ca tại đây đã hơn 150 ha. Dự kiến đến 2020, tỉnh Lâm Đồng sẽ trồng xen mắc ca vào 70.000 ha cà phê để vừa tạo cây che bóng cho cà phê, vừa thu giá trị lớn từ cây mắc ca mang lại. (Bnews 21/9) đầu trang(
Từ năm 2007, với sự giúp đỡ của Tổng cục Lâm nghiệp, Tổ chức WWF Việt Nam, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị đã tiến hành hỗ trợ xây dựng chứng chỉ rừng cho nhóm hộ nông dân trồng rừng tại xã Trung Sơn (Gio Linh).
Trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũy được cùng với hiệu quả kinh tế từ trồng rừng mang lại, đến nay toàn xã Trung Sơn đã phát triển được trên 100 ha rừng trồng theo mô hình rừng cấp chứng chỉ rừng FSC (chứng chỉ của Hội đồng Quản trị rừng thế giới) với trên 30 hộ nông dân tham gia.
Theo đó, các hộ tham gia trồng rừng phải tuân thủ theo các nguyên tắc, tiêu chí do các tổ chức quốc tế về cấp chứng chỉ rừng FSC quy định. Trong đó có một số tiêu chí đặc biệt quan trọng như cấm săn bắt động vật hoang dã; giữ lại trên 5% cây bản địa; không được sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học gây hại môi trường...
Đặc biệt, rừng trồng phải đúng thời hạn mới được phép khai thác, nghiêm cấm khai thác trước thời gian rừng 8 năm tuổi. Các đơn vị thu mua gỗ có chứng chỉ FSC là các công ty sản xuất hàng mộc xuất khẩu. Giá bán gỗ có chứng chỉ cao hơn so với giá bán gỗ thông thường tại cùng thời điểm từ 20-30%.
Bình quân lợi nhuận thu được khi bán 1 ha rừng khai thác khoảng 100-120 triệu đồng. Với giá bán trên, người trồng rừng thu lợi cao hơn trồng rừng bán gỗ thông thường, đồng thời người dân cũng chủ động hoàn toàn trong việc ký kết hợp đồng mua bán, tránh tình trạng mua bán qua trung gian bị tư thương chèn ép giá. (Báo Quảng Trị 21/9) đầu trang(
Đó là Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Tài Nguyên, một trong những đơn vị mạnh của ngành sản xuất giống cây lâm nghiệp trong nhiều năm qua. DN này đã không ngừng tìm kiếm, du nhập và nhân rộng nhiều giống cây mới có triển vọng và xây dựng cơ sở sản xuất giống cây công nghệ cao, qua đó góp phần đáng kể vào chương trình phát triển rừng của tỉnh.
Mới đây, DNTN Tài Nguyên đã đầu tư 75 triệu đồng để nhập 10kg hạt giống keo tai tượng do Viện Nghiên cứu và Phát triển lâm nghiệp nhập từ Úc về. Lô hạt giống keo tai tượng (Acacia mangium) do Trung tâm giống cây rừng CSIRO - Úc cấp. Tỷ lệ nảy mầm trong phòng thí nghiệm là 728 hạt/10 gram.
Sau đó, DNTN Tài Nguyên đã hợp đồng với một số hộ nông dân có kinh nghiệm làm giống cây lâm nghiệp ở xã Bình Hiệp (Bình Sơn), ươm số lượng hạt giống keo tai tượng Úc này thành cây giống, cung cấp ra thị trường phục vụ cho vụ trồng rừng năm nay.
Ông Trần Dũng - Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Keo tai tượng Úc là giống cây lâm nghiệp mới nhập về có nhiều triển vọng, đã được Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Tơ triển khai trồng thử nghiệm ở một số xã. Qua 6 năm cho thấy, keo tai tượng Úc phát triển nhanh, mau lớn, thân cây thẳng, ít đẻ nhánh, chống chịu gió, ít đổ ngã, năng suất đạt từ 40 - 45m3/ha/năm, qua chu kỳ 7 năm đạt sản lượng khoảng 300m3 gỗ/ha trở lên, tăng gấp đôi so với các giống cây giâm hom (thường chỉ đạt từ 150 - 180m3 gỗ/ha).
Hiện các tỉnh như Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Định đã trồng nhiều diện tích cây keo tai tượng Úc và đưa cây keo tai tượng Úc vào chương trình trồng rừng gỗ lớn của tỉnh. Đối với Quảng Ngãi, tỉnh cũng đang khuyến khích đưa giống keo này vào trồng đại trà và trồng trong các dự án phát triển cây lâm nghiệp và chương trình trồng cây gỗ lớn của tỉnh, nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.
DNTN Tài Nguyên đang đi tiên phong trong việc cung cấp giống keo tai tượng Úc (nhập ngoại) cho các chương trình, dự án trồng rừng của tỉnh và phục vụ nhu cầu trồng rừng cho nhân dân là việc làm rất đáng khuyến khích.
Gần đây, được sự khuyến khích của tỉnh, DNTN Tài Nguyên đã mạnh dạn xây dựng dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp công nghệ cao tại xã Nghĩa Thắng (Tư Nghĩa) với diện tích 30.000m2, công suất dự kiến khoảng 9 triệu cây giống/năm, với tổng vốn đầu tư hơn 7,8 tỷ đồng, trong đó vốn Nhà nước hỗ trợ khoảng 50%. Đây là dự án sản xuất giống cây lâm nghiệp công nghệ cao bằng phương pháp nuôi cấy mô.
Cây giống được sản xuất theo công nghệ bầu treo. Các yếu tố về nhiệt độ, độ ẩm và dinh dưỡng được kiểm soát tự động, đảm bảo cây giống phát triển tốt nhất. Bước đầu sản xuất 2 loại giống cây chính, đó là keo và bạch đàn với nhiều dòng có nguồn gốc khác nhau, như các giống keo lai tự nhiên và keo lai nhân tạo.
Ngoài ra, DN còn nghiên cứu sản xuất một số cây dược liệu quý như sâm Ngọc Linh, ba kích, hoa phong lan, hoa đồng tiền, quế Trà Bồng... Mục tiêu của dự án là nâng cao chất lượng cây giống lâm nghiệp, nhằm đưa năng suất rừng trồng từ 20 tấn/ha/năm lên 30 tấn/ha/năm và giảm chu kỳ sản xuất chỉ còn 4-5 năm. Đối với dự án này, DNTN Tài Nguyên đã sẵn sàng và đang chờ tỉnh bố trí vốn trong kế hoạch năm 2017 để triển khai thực hiện. (Báo Quảng Ngãi 21/9) đầu trang(
Hiện nay, giá keo lai trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) chỉ còn 1 triệu đồng/ster (lúc cao điểm giá 1,25 triệu đồng/ster). Keo rớt giá có nguyên nhân từ việc tăng đột biến diện tích và thay đổi phương thức mua keo của thương lái (mua theo khối lượng chứ không theo thể tích).
Tuy giá hạ nhưng người dân vẫn tiếp tục đầu tư trồng keo. Tính đến đầu tháng 9, diện tích keo trồng mới gần 400ha, nâng tổng diện tích keo lai trên địa bàn lên 3.500ha, tập trung tại các xã: Cầu Bà, Khánh Phú, Khánh Thành, Khánh Hiệp… Giá keo giống bán tại các vườn ươm trên địa bàn 700 đồng/cây. Toàn huyện có 16 vườn ươm keo lai đủ đáp ứng nhu cầu trồng rừng cho người dân.
Theo tính toán, đầu tư 1ha keo chi phí khoảng 17 - 20 triệu đồng. Nếu đất tốt, trồng đúng quy trình, sau 3 - 4 năm nông dân có thể bán với giá 60 - 70 triệu đồng/ha tùy theo năng suất và điều kiện vận chuyển. (Báo Khánh Hòa 22/9) đầu trang(
Tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 600.000 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng sản xuất chiếm hơn 342.000ha, diện tích rừng trồng trên 70.000ha, số còn lại là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Nhờ triển khai hiệu quả các chính sách của nhà nước về giao khoán và chi trả dịch vụ môi trường rừng, nên đã góp phần cải thiện thu nhập cho hộ gia đình sống gần rừng.
Đến nay, toàn tỉnh đã giao khoán trên 381.000 ha rừng cho trên 19.000 hộ dân nhận khoán, trong đó hộ đồng bào dân tộc tiểu số chiếm hơn 13.500 hộ, trên 5.100 hộ người kinh và 36 taaoj thể. Hàng năm tỉnh Lâm Đồng đã đầu tư từ 190 – 200 tỷ đồng để phát triển lâm nghiệp, trồng, chăm sóc rừng trồng và giao khoán bảo vệ rừng.
Để công tác giao khoán bảo vệ rừng hiệu quả, trong quá trình triển khai các đơn vị chủ rừng thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức tuyên truyền, vận động các hộ gia đình nhận khoán thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm trong quản lý bảo vệ, chủ động các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trong trong thời điểm mùa khô.
Chủ trương của nhà nước về giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho người dân, nhất là bà con sống gần rừng, vùng dân tộc thiểu số đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Đồng thời khẳng định lợi ích từ rừng mang lại cho cộng đồng, nâng cao giá trị và đảm bảo tính bền vững của rừng không chỉ ở Lâm Đồng và các vùng Tây Nguyên. (Báo Lâm Đồng 21/9) đầu trang(
Trong khi người dân thiếu đất sản xuất, thì các công ty lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ thừa hàng ngàn hecta đất không sử dụng. Nghịch lý này đã và đang diễn ra trên địa bàn xã Canh Liên, huyện Vân Canh.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn huyện (chủ yếu là ở xã vùng cao Canh Liên) có hơn 17 ha rừng quy hoạch chức năng sản xuất và rừng quy hoạch chức năng phòng hộ bị chặt phá; trên 13 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng sản xuất và phòng hộ bị lấn chiếm trái phép.
Theo ông Phạm Minh Sơn, Chánh văn phòng HĐND và UBND huyện Vân Canh, nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do người dân ở xã Canh Liên gặp nhiều khó khăn về đất sản xuất. Trong khi đó, hiện nay, giá nguyên liệu gỗ keo đang ở mức cao nên người dân đổ xô trồng keo, đã đẩy nhu cầu cần đất lâm nghiệp để sản xuất lên rất lớn.
Ông Đinh Văn Diễn, Chủ tịch UBND xã vùng cao Canh Liên, phân trần: “Toàn xã có gần 600 hộ dân nhưng hầu hết đều không có đất hoặc thiếu đất sản xuất. Đa phần diện tích đất bà con đang canh tác là đất lấn chiếm. Vì vậy, lúc nào bà con cũng nơm nớp lo đất sẽ bị thu hồi. Trong khi đó, một số công ty lâm nghiệp được Nhà nước giao đất lại bỏ hoang hàng ngàn hecta, lãng phí vô cùng”.
Ông Đinh Văn Leo, ở làng Cát, nói: “Đất người dân đang làm ở đây chủ yếu là lấn chiếm thôi. Dân hiểu làm thế là không đúng pháp luật rồi! Nhưng không làm vậy thì lấy gì mà ăn. Như gia đình tui có 5 nhân khẩu, mà có 1 sào ruộng, làm mấy cũng không đủ no cái bụng. Gia đình đành lên núi phát ít cây, lấn chút đất để trồng mì, trồng bắp…!”.
Để giải quyết nghịch lý: dân thiếu đất canh tác, trong khi công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ thừa đất bỏ hoang, UBND tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng liên quan triển khai rà soát, lập thủ tục thu hồi đất chưa sử dụng để giao lại cho dân sử dụng. Đến nay, Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vân Canh và Công ty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh đã đồng ý giao lại một số diện tích đất cho địa phương quản lý.
Ông Cái Minh Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh, cho biết hiện đơn vị đang quản lý, sử dụng 18.778 ha rừng và đất rừng gồm: 13.074,7 ha đất rừng tự nhiên, 2.196,4 ha đất rừng trồng và 3.471,3 ha đất chưa có rừng. Trong số 3.471,3 ha đất chưa có rừng thì có đến 1.588,2 ha đất đã bị dân xâm lấn (gần 46%).
“Đối với diện tích đất người dân đã lấn chiếm, chúng tôi sẽ trả lại cho UBND huyện Vân Canh để có hướng giao cho dân canh tác. Ngoài ra, Công ty cũng lập thủ tục bàn giao thêm 600 ha đất khác tại tiểu khu 359a và 359b cho khoảng 58 hộ ở làng Kà Nâu, xã Canh Liên, sản xuất. Đây là những nơi quỹ đất nằm tập trung, không manh mún, bà con dễ dàng canh tác. Theo kế hoạch, đến tháng 6.2017, chúng tôi sẽ hoàn tất hồ sơ, thủ tục để bàn giao lại diện tích đất nói trên cho chính quyền địa phương quản lý, sử dụng” - ông Tùng cho biết thêm.
Đến thời điểm hiện tại, Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vân Canh cũng đã đồng ý chủ trương giao lại cho xã Canh Liên 232,4 ha đất (gồm 84,6 ha đất chưa có rừng và 147,8 ha đất nương rẫy) do người dân đang sử dụng để trồng keo. Ông Đoàn Văn Tây, Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện Vân Canh, nói: “Toàn bộ diện tích này đều nằm tập trung ở 11 lô thuộc khoảnh 2, tiểu khu 341 và khoảnh 1, khoảnh 3, tiểu khu 349 xã Canh Liên”.
Ông Phạm Minh Sơn cho biết thêm: “UBND huyện đã giao Phòng TN-MT phối hợp với UBND xã Canh Liên và các ngành liên quan tiến hành thống kê, báo cáo diện tích, hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp trên diện tích của các đơn vị đã thống nhất giao trả đất cho địa phương quản lý; đồng thời, lập phương án giao đất trình cấp có thẩm quyền để giao đất cho nhân dân sản xuất”.
Trước đó, ngày 24.8, tại cuộc họp bàn các biện pháp hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật, do Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Quốc Dũng chủ trì, đại diện lãnh đạo các địa phương và ngành chức năng đã cho rằng, giao đất lâm nghiệp cho người dân quản lý, sử dụng là một trong những biện pháp hữu hiệu để hạn chế tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh hiện nay.
Sở TN-MT chủ trì phối hợp với Sở NN&PTNT phối hợp với UBND các địa phương xây dựng phương án và kế hoạch giao đất, giao rừng cho các ban quản lý, các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đồng thời chỉ đạo Phòng Tài nguyên - Môi trường cấp huyện phối hợp với UBND cấp xã tham mưu cho UBND cấp huyện giao đất lâm nghiệp cho nhân dân sản xuất lâm nghiệp, đảm bảo diện tích rừng và đất lâm nghiệp có chủ quản lý thực sự. (Báo Bình Định 21/9) đầu trang(
Liên quan đến việc huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) đề xuất cấp sổ đỏ trên đất rừng cho nguyên một lãnh đạo tỉnh, ngày 21-9-2016, ông Nguyễn Đức Luyện, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, hiện làm Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo các dự án và xúc tiến đầu tư trọng điểm tỉnh Đắk Nông, cho biết: “Lúc đó tôi có nhận được hồ sơ đề nghị thu hồi đất của Công ty lâm nghiệp Trường Xuân, giao huyện Đắk Song cấp sổ đỏ cho ông Sơn. Nhưng tôi không ký, vì nguồn gốc là đất rừng, cái này tôi nắm rất rõ... Cho nên ông ấy có vẻ không ưng tôi lắm, cứ ì xèo suốt, gây sức ép...”.
Về tờ trình của UBND huyện Đắk Song, Công ty lâm nghiệp Trường Xuân và các Sở NN&PTNT và TN&MT, ông Nguyễn Đức Luyện cho rằng: “Tôi nghĩ họ làm chưa hết trách nhiệm, chưa đúng quy định, chứ nếu đúng thì tôi đã phải ký rồi”. Trả lời câu hỏi: Vậy một cán bộ Tỉnh ủy canh tác trên đất rừng là đúng hay không đúng? Ông Luyện nói: “Không đúng. Không đúng tôi mới không ký. Tôi cũng báo cáo với Chủ tịch UBND tỉnh đàng hoàng, cái này là đất lâm nghiệp, làm như thế là chuyển đất công thành đất tư nhân...”.
Như Báo Điện tử Tài nguyên và Môi trường đã phản ánh, vào ngày 25/7/2014, UBND huyện Đắk Song đã làm tờ trình số 45/TTr-UBND do Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song Nguyễn Hữu Khánh ký gửi UBND tỉnh đề nghị thu hồi hơn 15ha đất lâm nghiệp tại tiểu khu 1665 (thuộc lâm phần Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân) giao về cho UBND huyện quản lý, sử dụng.
Sau khi được bàn giao, UBND huyện Đắk Song sẽ cấp sổ đỏ đất nông nghiệp cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên Giám đốc Sở KH&ĐT, nguyên Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông) và bà Từ Thị Khanh (Chánh Văn phòng Sở LĐ&TBXH) tiếp tục quản lý, sử dụng.
Các tài liệu này được lập trong các năm 2013 - 2015, khi đó ông Sơn đang làm Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông. Nhiều cơ quan ban ngành trong tỉnh như: Sở TN&MT, Sở NN&PTNT, UBND xã Trường Xuân, Công ty Lâm nghiệp Trường Xuân… cũng đồng ý với đề xuất nói trên của UBND huyện Đắk Song. Hiện diện tích đất nói trên vẫn chưa được tỉnh đồng ý giao về cho UBND huyện Đắk Song quản lý và ông Sơn, bà Khanh đang nghiễm nhiên canh tác trên đất lâm nghiệp. (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông) và vợ là bà Từ Thị Khanh (Chánh Văn phòng Sở LĐTBXH Đắk Lắk) có gần 20ha đất.
Trong đó, ngoài diện tích thuộc 5 “sổ đỏ” đã được cấp, vợ chồng ông còn sở hữu trái phép hơn 13,5ha đất rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý. Điều đáng nói, vị nguyên cán bộ này đang được các ngành chức năng xúc tiến việc cấp luôn “sổ đỏ” cho diện tích đất rừng chiếm dụng trái phép.
Nói là đất rừng, nhưng không phải heo hút, trang trại gần 20ha của ông Sơn nằm hai bên quốc lộ 14 với chiều dài mặt tiền… đi bộ mỏi chân. Đây là cửa ngõ vào thị xã tỉnh lỵ, cách trung tâm thị xã chưa đầy 10 phút đi ôtô. Liền sát bên cạnh có 1,6ha rừng thông do Nhà nước trồng còn sót lại, nhưng không người dân nào dám chặt phá để chiếm đất, vì nó đã được lâm trường giao cho ông Sơn quản lý chờ cấp “sổ đỏ”.
Tuần đầu tháng 9, PV Báo Lao Động đã tiếp cận khu đất rừng có chiều dài hàng trăm mét mặt tiền hai bên quốc lộ 14 do ông Sơn, bà Khanh đang chiếm dụng trái phép. Đất rừng đã được biến thành trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm, một số diện tích trồng gỗ keo và gỗ xoan, có cả máy biến áp hạ thế, barie gác đường vào... Liền kề khu đất này, còn sót lại khoảng 1,6ha rừng thông do Cty lâm nghiệp Trường Xuân trồng bằng nguồn vốn ngân sách, hiện cũng do ông Sơn quản lý nốt.
Ông Đỗ Ngọc Sơn - người quản lý cho ông Nguyễn Thanh Sơn - cho biết, vợ chồng “trang chủ” có nhiều ý tưởng táo bạo như thành lập doanh nghiệp chăn nuôi heo rừng, trồng hồ tiêu, kinh doanh phân bón… Nhưng vì nhiều lý do, việc kinh doanh chưa thành công lắm, hiện nay chủ yếu là giữ đất. Người quản lý cũng cho biết, khu đất rộng hơn 13,5 mẫu này - liền kề với khu đất gần 10ha đã được cấp 5 “sổ đỏ” của ông Sơn - đang được tỉnh Đắk Nông xúc tiến cấp “sổ đỏ”.
Đối chiếu với hồ sơ do PV thu thập được cho thấy, 13,5ha này là đất rừng thuộc khoảnh 7, tiểu khu 1665 và khoảnh 3, tiểu khu 1685 nằm trên địa giới hành chính xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, do Cty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân quản lý.
Làm việc với PV Báo Lao Động, ông Trần Quyết Tâm - Giám đốc Cty TNHH MTV lâm nghiệp Trường Xuân - xác nhận diện tích trên do đơn vị quản lý nhưng đã bị ông Sơn, bà Khanh “xâm canh” từ lâu. Ngoài nhiều loại cây trồng, trên diện tích này còn có trang trại chăn nuôi heo rừng lai, nuôi bò, nhà cấp 4, xung quanh rào bằng lưới B40 trên diện tích 5.000m2 “do gia đình bà Từ Thị Khanh và ông Nguyễn Thanh Sơn tự đầu tư, xây dựng và đang tổ chức sản xuất, kinh doanh” - báo cáo của Cty lâm nghiệp Trường Xuân.
Tại sao đất rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý lại biến thành trang trại của ông Sơn? Ông Trần Quyết Tâm nói tỉnh bơ: “Cty không quản lý được, gia đình ông Sơn vào khai hoang, hoặc mua lại của ai đó”. Vậy ông Sơn hay ai đã chặt phá khu rừng này? Ông Tâm trả lời: “Rừng mênh mông nên ai chặt, chặt lúc nào mình không biết được, chỉ biết hộ ông Sơn đang xâm canh thôi”.
Theo hồ sơ xin cấp “sổ đỏ”, ông Sơn khai mua lại nương rẫy cũ của người dân, thời gian mua khoảng năm 2003-2005, còn báo cáo của Cty lâm nghiệp Trường Xuân nói diện này chủ yếu là rừng bị phá trước năm 2004. Nhưng thực tế không phải vậy. Theo hiện trạng rừng được UBND tỉnh Đắk Nông phê duyệt năm 2007, khu đất trên vẫn còn 9ha rừng gỗ thường xanh. Và đến năm 2013, theo quyết định quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Đắk Nông, khu đất trên vẫn có 12ha được quy hoạch là đất lâm nghiệp - gồm 11ha rừng sản xuất và 1ha rừng phòng hộ.
Tiếp xúc với PV Báo Lao Động, ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết, diện tích nói trên vẫn chưa được cấp “sổ đỏ”, vì phải chờ UBND huyện Đắk Song làm cùng một đợt với nhiều người khác. Ông Sơn cho rằng mình không sai, vì diện tích này là nương rẫy cũ, ông mua lại của người dân, khi mua không biết là đất rừng do Cty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý.
“Đến khi biết đây là đất rừng mà vẫn xin làm “sổ đỏ” thì ông thấy có đúng không? - PV hỏi. “Hầu hết đất lâm trường đều không quản lý được, bị lấn chiếm rồi cấp sổ đỏ hết, nhiều người dân cũng được cấp như vậy chứ không phải mình tôi” - ông Sơn nói. Thật khó tin đây là phát ngôn của một người, mà mới hơn một năm trước, còn là Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy. Bởi cho dù không phá rừng, thì việc mua gom đất rừng do Nhà nước quản lý đã là việc làm sai, không thể chấp nhận đối với một Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy.
Ông Lê Viết Sinh - Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song - cho biết: “Trước đây UBND huyện và các sở đều đề nghị UBND tỉnh thu hồi đất của Cty lâm nghiệp Trường Xuân giao cho huyện cấp “sổ đỏ” cho ông Sơn. Nhưng tôi khẳng định, đến thời điểm này UBND tỉnh vẫn chưa có văn bản nào chấp thuận các đề nghị đó”.
Còn ông Trương Thanh Tùng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông - cho biết: “Thời điểm đó tôi chưa làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, sau khi nghe thông tin tôi đã giao cho UBND huyện Đắk Song báo cáo sự việc. Vừa rồi huyện báo cáo là diện tích đó vẫn chưa cấp sổ đỏ cho ông Sơn”. Khi PV Báo Lao Động có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Luyện - nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông nhiệm kỳ 2010-2015, nay là Trưởng ban Chỉ đạo phát triển công nghiệp thuộc Tỉnh ủy.
Ông Luyện cho biết: “Lúc đó tôi có nhận được hồ sơ đề nghị thu hồi đất của Cty lâm nghiệp Trường Xuân, giao cho huyện Đắk Song cấp “sổ đỏ” cho ông Sơn. Nhưng tôi không ký, vì nguồn gốc là đất rừng, cái này tôi nắm rất rõ... ”. (Lao Động 22/9) đầu trang(
Thực hiện dự án chuyển đổi rừng sang đầu tư phát triển nông lâm nghiệp, hàng ngàn héc ta đất ở huyện Chư Pưh (Gia Lai) đã được giao cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên không ít diện tích đất trong diện này đang bị người dân lấn chiếm, tranh chấp kéo dài gây nhiều hệ lụy...
Hầu hết các dự án trên địa bàn huyện Chư Pưh đều bị người dân xâm lấn đất. Nổi cộm là việc các hộ dân lấn chiếm hơn 247/697,5ha đất dự án của Cty CP Đầu tư xây dựng Trường Thịnh.
Cụ thể, tại tiểu khu 1132, có đến 124 hộ dân đến từ các xã Ia Le, Ia Phang, Chư Don, Nhơn Hòa và người dân huyện Phú Thiện lấn chiếm đất dự án để trồng hoa màu. Các hộ này lý giải, thời điểm năm 2012 - 2013, Cty Trường Thịnh bỏ hoang đất dự án, chỉ thuê 2 bảo vệ giữ diện tích khoảng 280ha keo (trồng từ năm 2011) nên họ lấn đất trồng điều, lúa, bắp và sản xuất hoa màu khác hòng kiếm kế sinh nhai.
Tại tiểu khu 1133, có khoảng 33 hộ dân thôn Kênh Mek, Kênh Săn (xã Ia Le) tham gia lấn chiếm đất, tổ công tác huyện nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Tiểu khu 1141 cũng bị 9 hộ dân thôn Ia Brel (xã Ia Le) lấn chiếm; khi Cty Trường Thịnh tiến hành cày ủi thực hiện dự án thì xảy ra tranh chấp, người dân yêu cầu đền bù thỏa đáng phần diện tích hoa màu này.
Cùng “cảnh ngộ”, Cty CP Xuất nhập khẩu Lê Khanh cũng bị người dân thôn 6 (xã Ia Le) lấn chiếm hơn 200ha trong tổng số 412ha đất dự án. Năm 2006, Cty này được tạm giao hơn 2.093ha đất để trồng rừng kết hợp chăn nuôi. Tuy nhiên, từ năm 2006 - 2010, Cty nhiều lần bị thu hồi đất với diện tích tổng cộng hơn 1.680ha. Số diện tích còn lại (khoảng hơn 412ha) Cty đã trồng keo, nhưng do bỏ bê, không tiếp tục triển khai dự án nên bị người dân lấn chiếm hơn nửa diện tích còn lại.
Ông Nguyễn Văn Hồng, bảo vệ Cty Lê Khanh than thở: “Hai anh em chúng tôi không thể bảo vệ hết diện tích đất trong vùng dự án, người dân thường xuyên lén lút chặt phá cây, làm cây chết để lấy đất sản xuất”.
Ngoài ra, nhiều Cty khác đứng chân trên địa bàn xã cũng bị người dân chiếm đất canh tác, như Cty TNHH Đệ Nhất Việt Hàn hơn 80ha; Cty CP Đầu tư và xây dựng công trình 194 hơn 33,9ha… Trong đó, Cty CP Trồng rừng Gia Lai cũng từng được UBND tỉnh giao 942ha, Cty đã trồng được 649ha cao su, còn lại 293ha bị người dân lấn chiếm nên đành… chuyển lại cho địa phương, hiện phần đất này người dân vẫn còn canh tác.
Kết quả kiểm tra của Phòng NN-PTNT huyện Chư Pưh cho thấy: Trên địa bàn huyện có 11 dự án chuyển đổi từ rừng nghèo sang trồng cao su và trồng rừng sản xuất với tổng diện tích hơn 7.000ha, được UBND tỉnh giao cho 9 doanh nghiệp. Đến nay, các doanh nghiệp đã trồng cao su, trồng rừng trên 5.200ha. Trong đó, nhiều diện tích bị thu hồi trả về cho địa phương quản lý, còn lại hàng trăm ha đất dự án đang bị người dân lấn chiếm lấy đất sản xuất, tranh chấp.
Tuy nhiên, theo ông Trương Viết Trung, Phó Chủ tịch UBND xã Ia Le, điều đáng nói là khi đất dự án bị người dân lấn chiếm, các doanh nghiệp chưa phối hợp gì với chính quyền địa phương để lập biên bản vi phạm.
“Người dân nói đất khai hoang trước khi giao cho dự án, còn cung cấp cho chính quyền giấy viết tay xác nhận mua đất của người này người kia nên giờ rất khó xác minh nguồn gốc đất để xử lý”, ông Trung nói.
Ông Nguyễn Thế Gia, Giám đốc dự án Cty Trường Thịnh tại Ia Le (Chư Pưh), thừa nhận, thời điểm cuối năm 2012 đến đầu 2014, Cty gặp khó khăn về tài chính, dự án triển khai chậm nên người dân vào xâm chiếm đất làm hoa màu. Từ tháng 6/2014, doanh nghiệp khởi động lại dự án thì bị đình trệ bởi sự tranh chấp này.
Ông Gia cho biết: “Trước đó, dự án của chúng tôi đã hoàn công, trồng được 450ha cây tràm, bạch đàn. Phần diện tích còn lại để triển khai dự án chăn nuôi thì bị người dân xâm canh. Cty đang phối hợp với chính quyền các xã, huyện giải quyết tranh chấp với người dân. Chủ trương của Cty là phần đất nào người dân xâm lấn mà Cty chưa khai hoang sẽ được hỗ trợ tiền công khai hoang; phần đất nào đơn vị đã khai hoang trồng cây mà người dân xâm lấn trồng tỉa thì phải trả lại cho Cty. Ngoài ra, Cty cũng đồng ý đền bù 40 triệu đồng/ha đối với diện tích đất dự án nằm trong diện tích đất sản xuất của người dân".
Còn ông Võ Văn Minh, Chủ tịch HĐQT Cty Lê Khanh, đơn vị được giao đất triển khai dự án gần khu dân cư thì ngao ngán: “Chúng tôi vô cùng mệt mỏi, họ hết chặt rồi phá, trồng đến đâu thì họ chặt đến đấy hoặc ken cây cho chết. Bắt ban ngày thì họ phá ban đêm, nói mượn đất trồng hoa màu rồi lấn chiếm luôn, mỗi lần kết hợp với địa phương giải quyết rất mất thời gian nhưng đâu lại vào đấy”.
Để tránh việc tranh chấp đất với người dân, ông Lưu Trung Nghĩa, Chủ tịch UBND huyện Chư Pưh đề nghị các doanh nghiệp triển khai dự án đúng cam kết, tuyển lao động là người dân tộc thiểu số tại địa phương. Đồng thời đề xuất: “Đối với diện tích cao su chết, nên cho doanh nghiệp điều chỉnh một phần dự án chuyển sang trồng cây dược liệu hoặc trồng rừng kết hợp chăn nuôi, miễn sao phần phần đất đó được khai thác, sinh lời. Đừng sợ doanh nghiệp bán dự án, nên khuyến khích liên kết với các doanh nghiệp khác như các nhà chế biến bột giấy, hay triển khai các dự án giảm nghèo”. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/9) đầu trang(
Sau khi Báo GĐ&XH phản ánh về tình trạng sản xuất gỗ dăm không phép, trái phép nở rộ tại một số địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An, Tỉnh ủy Nghệ An đã có văn bản đề nghị các cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra, xử lý vụ việc này.
Theo Công văn số 236-CV/BTGTU của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An gửi Báo GĐ&XH: “Thực hiện Công văn số 1311-CV/TU ngày 7/9 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc giao Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, đôn đốc các địa phương, đơn vị liên quan kiểm tra, xem xét giải quyết các kiến nghị của cơ quan báo chí nêu. Theo đó, Báo GĐ&XH có bài “Nhà máy gỗ dăm không phép lại thách thức tỉnh Nghệ An”.
Bài báo phản ánh: Sau một thời gian khá yên lắng, gần đây một loạt các nhà máy sản xuất gỗ dăm không phép lại tiếp tục “trỗi dậy” như nấm sau mưa tại nhiều địa phương như Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Thái Hòa, Quỳ Hợp… Mặc dù, UBND tỉnh Nghệ An đã có chỉ đạo nhằm xử lý kiên quyết tình trạng này. Nhưng thực tế, những chỉ đạo trên chỉ nằm trên giấy, thiếu sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền cơ sở, sự quản lý sát sao đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trái phép luật này.
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đề nghị UBND tỉnh Nghệ An chỉ đạo các ngành chức năng kiểm tra, xác minh làm rõ sự việc, nếu đúng như Báo nêu thì kịp thời có giải pháp khắc phục, xử lý. Báo cáo kết quả gửi Thường trực Tỉnh ủy và Báo GĐ&XH trước ngày 5/10”.
Trước đó, Báo GĐ&XH có bài phản ánh, tại thị trấn Tân Kỳ (huyện Tân Kỳ, Nghệ An), trong khu vực xẻ đá của Công ty TNHH Kiều Phương mọc lên một dây chuyền băm dăm với công suất lớn. Hàng ngày, gỗ keo được tập kết bên trong nhà máy xẻ đá Kiều Phương, sau đó được xay thành dăm và chuyển đi. Theo đó, ngay tại khuôn viên mỏ đá, nguyên liệu gỗ để băm dăm đã được công nhân chất thành đống, dây chuyền chạy rầm rập suốt ngày.
Còn tại xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn, một cơ sở sản xuất gỗ dăm cũng đang manh nha hoạt động lại. Trên cả nghìn mét vuông đất trống, những cây keo đã được bóc vỏ và tập kết về đây. Nhà máy này đã bị đóng cửa một lần, mới đây, một ông chủ doanh nghiệp ở thị xã Thái Hòa đã bỏ tiền đầu tư, tái khởi động nhà máy.
Không riêng gì huyện Tân Kỳ, Nghĩa Đàn mà ở Nghệ An, gần như địa bàn nào có nguyên liệu cho sản xuất gỗ dăm thì ở đó có nhà máy trái phép được xây dựng. Hy vọng rằng với sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy Nghệ An, tình trạng khai thác, chế biến gỗ dăm trái phép trên địa bàn tỉnh sẽ sớm chấm dứt. (Gia Đình Và Xã Hội 21/9) đầu trang(
Từ đầu năm 2016 đến hết tháng 8 vừa qua, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh có 169 cây xanh gãy đổ, tăng 35 cây so với cùng kỳ năm 2015; và có hơn 500 cây gãy nhánh.
Đó là thông tin được Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh (Sở GTVT TP Hồ Chí Minh) thông tin. Bên cạnh đó, tính đến nay, trên địa bàn thành phố đã đốn hạ khoảng 360 cây sâu bệnh, già cỗi; cải tạo thay thế 200 cây tạp và 290 cây bị ảnh hưởng do công tác thi công, xây dựng các công trình và cố tình xâm hại cây.
Trong thời gian gần đây, liên tiếp 3 vụ cây xanh đổ làm thương vong 3 người. Ngay sau khi xảy ra sự cố cây xanh, Sở GTVT TP đã chỉ đạo Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh nhanh chóng huy động lực lượng khắc phục sự cố, đảm bảo giao thông thông suốt. Đồng thời đưa nạn nhân cấp cứu tại bệnh viện, cử người túc trực tại bệnh viện chăm lo, hỗ trợ toàn bộ chi phí cấp cứu. Đối với những nạn nhân tử vong, phối hợp với gia đình nạn nhân lo hậu sự.
Để đảm bảo an toàn đối với cây xanh và người đi đường, nhất là vào mùa mưa bão, Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh sẽ tiếp tục tăng cường khảo sát chi tiết và đánh giá cây cổ thụ nhằm phát hiện khiếm khuyết của cây để có hướng xử lý cho phù hợp. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy trình chăm sóc cây xanh, đặc biệt cây là cây loại 3 (cây có nguy cơ gây thiệt hại lớn khi ngã đổ).
Sở GTVT TP Hồ Chí Minh cũng đề nghị Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh đề xuất UBND TP về trang bị, bổ sung xe máy, thiết bị nhằm phục vụ tốt công tác chăm sóc, xử lý sự cố cây xanh trên địa bàn thành phố.
Đề nghị các đơn vị quản lý và duy tu chăm sóc nghiên cứu, tìm hiểu phương tiện kỹ thuật, những giải pháp tiên tiến về quản lý cây xanh của các nước để áp dụng cho việc quản lý, chăm sóc cây xanh.
Ngoài ra, đốn hạ thay thế cây sâu bệnh, già cỗi, bọng gốc, nghiêng nguy hiểm; hạ thấp chiều cao đối với cây có rễ ăn ngang, cành nhánh giòn, rễ bật gốc như sọ khỉ, lim xẹt, phượng vỹ...; thay thế dần các loài cây tạp (cây tiềm ẩn nhiều nguy cơ ngã đổ) bằng các chủng loài có nhiều đặc tính đáp ứng tiêu chí lựa chọn cây trồng đường phố (rễ ăn sâu, cơ lý tính phù hợp...).
Được biết, Sở GTVT TP cũng đặt hàng cho Sở KHCN đề tài xác định nguy hại, đánh giá rủi ro và quản lý an toàn cây xanh đường phố TP Hồ Chí Minh, dự kiến vào quý II-2017 sẽ hoàn thành. Mục tiêu của đề tài sẽ đưa ra quy trình đánh giá rủi ro và quản lý an toàn cây xanh đường phố thành phố dựa trên các biểu hiện hình thái bên ngoài của các loài cây xanh. (Hà Nội Mới 21/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
250.000 con tuần lộc ở vùng Yamalo-Nenet, Nga sẽ bị tiêu hủy trước Giáng sinh do nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh than.
Chính quyền khu tự trị Yamalo-Nenets, Tây Bắc Siberia, Nga đã yêu cầu tiêu hủy 250.000 con tuần lộc trước Giáng sinh do nguy cơ bùng phát bệnh than, Express hôm 21/9 đưa tin.
Tổng cộng có 730.000 con tuần lộc đang được nuôi ở bán đảo Yamal và phần còn lại của vùng Yamalo-Nenets. Tuy nhiên, theo chính quyền địa phương, số lượng tuần lộc được nuôi quá lớn trong vùng có thể là nguồn lan truyền dịch bệnh.
Mùa giết mổ ở đây thường diễn ra vào giữa tháng 11 và tháng 12. Khi đó, con tuần lộc sẽ bị chích điện vào đầu, treo ngược trên dây rồi cắt gạc và chọc tiết. Tuy nhiên, kế hoạch tiêu hủy quy mô lớn được đưa ra sớm do đàn tuần lộc vừa trải qua dịch bệnh than nguy hiểm hồi mùa hè vừa qua.
Bệnh than giết chết 2.349 con tuần lộc và một bé trai trong mùa hè, và chính quyền địa phương cảnh báo nó có thể lan rộng và lây nhiễm sang nhiều người do số lượng tuần lộc tăng nhanh chóng từ 400.000 lên 700.000 con.
"Động vật càng đông, vật trung gian truyền bệnh càng nhiều, khả năng lây nhiễm càng cao. Do đó, chúng ta cần điều chỉnh mật độ vật nuôi, đặc biệt là ở những vùng lãnh nguyên", Nikolai Vlasov, phó trưởng Ban Giám sát Kiểm dịch Thực vật và Thú y Liên bang Nga, cho biết .
Tuy nhiên, nhiều người lo ngại việc tiêu hủy đàn gia súc có thể phá hỏng truyền thống chăn nuôi tuần lộc lâu đời ở Yamal."Các gia đình và bộ tộc địa phương chỉ có những đàn tuần lộc nhỏ khoảng trăm con. Việc tiêu hủy có thể khiến nhiều người dân trên bán đảo Yamal và Gydan mất phương tiện sinh sống và khả năng duy trì lối sống truyền thống", nhà nhân loại học Olga Murashko chia sẻ. (VnExpress 21/9) đầu trang(./.
|
|||