|
Ngày 21 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Khoảng 19 giờ ngày 19-9, nhận được tin báo của người dân về vụ cháy rừng tại cầu số 4, đường hầm đèo Nam Hải Vân (P. Hòa Hiệp Bắc, Q. Liên Chiểu, Đà Nẵng), Phòng CSPCCC số 4 xuất 3 xe cùng 30 CBCS tiếp cận hiện trường để khống chế vụ hỏa hoạn.
Sau 1 giờ băng rừng, triển khai các biện pháp nghiệp vụ, đám cháy cơ bản được khống chế nhưng do tro tàn và than lửa vẫn rất lớn lực lượng của Phòng CSPCCC số 4 tiếp tục chuyền nước để dập tàn lửa. Đến 22 giờ cùng ngày, tro tàn được dập hoàn toàn, đảm bảo không cháy lan xuống các khu vực rừng lân cận. (Công An TP.Đà Nẵng 21/9) đầu trang(
Ngày 20/9, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị tổng kết chương trình phối hợp giữa Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa về tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, giai đoạn 2011-2015; ký kết chương trình phối hợp công tác giai đoạn 2016-2020.
Trong 5 năm, Ủy ban MTTQ Việt Nam và Chi cục Kiểm lâm đã tổ chức được hơn 12.000 hội nghị tuyên truyền các cấp với gần 451.000 lượt người tham gia.
Trên địa bàn tỉnh xây dựng được 779 khu dân cư 3 không, gồm: “không sử dụng lửa bừa bãi trong sản xuất, sinh hoạt để xảy ra cháy rừng; không quảng cáo, kinh doanh, chế biến, tiêu thụ động vật rừng và sản phẩm từ động vật rừng trái pháp luật; không sử dụng cưa xăng, súng săn, bẫy bắt vào việc khai thác gỗ, săn bắt động vật rừng trái phép” tại 197 xã.
Toàn tỉnh cũng đã xây dựng được hơn 1.700 bản Quy ước bảo vệ rừng; có 198 chủ tịch UBND xã và chủ rừng Nhà nước thực hiện ký cam kết trách nhiệm bảo vệ rừng đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao quản lý; có 782 tổ chức đoàn thể cấp xã, 651 trưởng thôn, bản và hơn 67.500 hộ gia đình ký cam kết trách nhiệm bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Toàn tỉnh lập được gần 1.300 tổ đội bảo vệ rừng thôn, bản với hơn 13.500 người tham gia.
Tại hội nghị, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh và Chi cục Kiểm lâm đã ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, giai đoạn 2016 - 2020.
Nhân dịp này, 6 tập thể và 4 cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai chương trình phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, giai đoạn 2011 - 2015, được Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thanh Hóa trao tặng bằng khen. (Đại Đoàn Kết 21/9) đầu trang(
Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả thì cần phải có sự tham gia của các lực lượng chức năng có thẩm quyền cao như bắt giữ, lập biên bản, có công cụ hỗ trợ để ứng phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra trong quá trình tuần tra, truy quét...
Trong thời gian qua, tình trạng khai thác rừng trái pháp luật trên địa bàn tỉnh diễn ra đáng báo động. “Lâm tặc” ngang nhiên khai thác, vận chuyển gỗ ra khỏi rừng khiến dư luận hoài nghi về công tác quản lý, bảo vệ rừng của lực lượng chức năng. Có thể thấy, trong công tác quản lý và bảo vệ rừng ở Tây Nguyên nói chung, Kon Tum nói riêng đang vấp phải nhiều vướng mắc, tồn tại cần được tháo gỡ.
Toàn tỉnh hiện có hơn 600.000ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên, nhằm quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả, các diện tích này được giao về cho các ban quản lý, công ty lâm nghiệp, chính quyền xã quản lý và bảo vệ.
Tuy nhiên, chính vì điều này đang dẫn đến tình trạng rừng của chủ nào thì chủ đó tự giữ, việc phối hợp giữa các lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng chưa chặt chẽ khiến công tác bảo vệ rừng của từng đơn vị chủ rừng gặp rất nhiều khó khăn.
Được giao quản lý và bảo vệ rừng hơn 29.000ha, nhưng số lượng cán bộ quản lý ít khiến công tác quản lý bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô gặp nhiều khó khăn.
Vì là đơn vị sự nghiệp nên công ty không có quyền hạn và chức năng xử lý các sự vụ xâm hại đến diện tích rừng của đơn vị. Đây là điểm yếu mà “lâm tặc” lợi dụng để chống đối lại lực lượng chức năng.
Ông Nguyễn Thành Chung - Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô cho biết: Hiện nay, một số diện tích rừng của đơn vị quản lý chủ yếu là nhờ người dân, các cộng đồng làng quản lý thông qua nguồn quỹ dịch vụ môi trường rừng, còn lại là do đơn vị tự phân bổ cán bộ.
Những diện tích giao cho cộng đồng làng bảo vệ thì không nói nhưng những diện tích rừng chưa được giao còn gặp rất nhiều khó khăn. Quá trình truy quét mỏng do thiếu về con người và phương tiện; hơn nữa, sự phối hợp giữa các lực lượng cũng chưa cao, hầu hết đơn vị tự lên kế hoạch để bảo vệ...
“Quyền hạn và chức năng bắt giữ, lập biên bản xử lí các đối tượng phá rừng không có, khi phát hiện ra sự việc đơn vị phải báo cáo với huyện, kiểm lâm, công an cùng phối hợp vào bắt giữ. Nhiều trường hợp khi báo cáo xong thì “lâm tặc” đã di tản hết hiện trường khai thác rồi, nên rất bất cập...” ông Chung bức xúc.
Trở lại những vụ phá rừng xảy ra trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh cho thấy sự phối hợp tuần tra, truy quét “lâm tặc” phá rừng giữa các lực lượng chức năng với các đơn vị chủ rừng là chưa cao.
Đơn cử như vụ khai thác gỗ trái pháp luật tại tiểu khu 502 thuộc Lâm trường Măng La (Kon Plông), hiện trường khai thác với hàng chục cây gỗ lớn bị cưa hạ nằm ngổn ngang cho thấy tính chất, mức độ khai thác của “lâm tặc” là quy mô, tuy nhiên không một lực lượng nào phát hiện ra.
Đặc biệt, hiện trường khai thác là khu rừng giáp ranh với huyện Kbang (Gia Lai), nơi đây chỉ cách chốt của lực lượng kiểm lâm của Kbang hơn 500m. Đến khi “lâm tặc” tiến hành vận chuyển gỗ lên đường lớn để di tản thì mới bị lực lượng bảo vệ rừng của Lâm trường Măng La phát hiện và tổ chức truy bắt.
Qua sự việc trên có thể thấy tình trạng “rừng nhà nào thì nhà nấy tự bảo vệ” đang diễn ra phổ biến ở tỉnh. Các lực lượng khác phối hợp với các chủ rừng cùng tham gia truy quét, bảo vệ rừng còn mỏng khiến tình trạng phá rừng vẫn cứ tiếp diễn.
Theo ông Nguyễn Văn Tiến - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh: Bây giờ rừng giao cho đơn vị nào thì chủ rừng chịu trách nhiệm, lực lượng kiểm lâm địa bàn chỉ có 1 người nên không thể thường xuyên phối hợp, cùng tuần tra, truy quét được với các đơn vị chủ rừng. Khi nào xảy ra điểm nóng, hay đơn vị chủ rừng có công văn yêu cầu lực lượng phối hợp thì mới cử lực lượng xuống cùng phối hợp.
Để quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả, nhà nước đã thực hiện giao rừng cho các công ty lâm nghiệp chịu trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. Tuy nhiên, được giao rừng nhưng không giao quyền xử phạt, bắt giữ hay sử dụng công cụ hỗ trợ trong quá trình đấu tranh, truy bắt “lâm tặc”, nên tính hiệu quả trong răn đe, phòng trừ và đấu tranh với các đối tượng phá rừng không có.
Nhiều công ty kiến nghị cần gắn trách nhiệm của lực lượng kiểm lâm, nhất là kiểm lâm địa bàn với chủ rừng. Cần thiết thì bố trí lực lượng kiểm lâm “cùng ăn, cùng ngủ” với các đơn vị chủ rừng để cùng tuần tra, kiểm soát, truy quét các đối tượng phá rừng.
Ông Nguyễn Thành Chung cho biết: Được giao quản lý và bảo vệ diện tích rừng lớn nhưng quyền hạn và chức năng như lập biên bản xử phạt, bắt người vi phạm đơn vị không có thẩm quyền. Thứ nữa, trong quá trình truy quét thì không có công cụ hỗ trợ nên các đối tượng phá rừng sẵn sàng tấn công lại lực lượng bảo vệ. Việc bảo vệ rừng là nhiệm vụ thường xuyên, nhưng việc phối hợp với các lực lượng có thẩm quyền cao để truy quét, ngăn chặn ngay từ đầu các vụ vi phạm lâm luật thì không phải lúc nào cũng thực hiện được, các đơn vị không phải lúc nào cũng tham gia được.
“Để công tác quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả thì cần phải có sự tham gia của các lực lượng chức năng có thẩm quyền cao như bắt giữ, lập biên bản, có công cụ hỗ trợ để ứng phó với các tình huống xấu nhất có thể xảy ra trong quá trình tuần tra, truy quét. Lực lượng chức năng, nhất là kiểm lâm cần bố trí người cùng ăn, ngủ với các đơn vị chủ rừng. Chỉ cần một người thôi, khi đó công tác truy quét, đấu tranh với các đối tượng phá rừng sẽ có hiệu quả hơn rất nhiều” - ông Chung nhấn mạnh.
Việc quản lý và bảo vệ rừng là nhiệm vụ chung không chỉ của lực lượng chức năng mà là của toàn dân. Tuy nhiên, trong thời gian qua, công tác quản lý bảo vệ rừng ở Kon Tum đang gặp phải tình trạng “mạnh ai nấy làm” khiến rừng đang ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng.
Để những diện tích rừng còn lại phát triển bền vững, bên cạnh thay đổi các cơ chế, trao quyền hạn xử lý cho các công ty lâm nghiệp… thì việc gắn trách nhiệm của các lực lượng chuyên trách làm công tác bảo vệ rừng với chủ rừng là điều rất cần thiết. (Báo Kon Tum 21/9) đầu trang(
Dù Trạm kiểm soát Kiểm lâm Trường Sơn đóng trên địa bàn xã Trường Sơn, Quảng Ninh (Quảng Bình) là đơn vị ngăn chặn nạn phá rừng. Thế nhưng Trạm trưởng Nguyễn Thế Hiệu và nhiều cán bộ khác đã cố tình làm ngơ, có dấu hiệu “tiếp tay” cho “lâm tặc” phá rừng, vận chuyển gỗ qua trạm một cách hiên ngang?
Để chứng kiến có hay không việc cán bộ Kiểm lâm tiếp tay cho “lâm tặc”, phóng viên đã vòng qua Bản Súng, men theo dòng sông đối diện với trạm, “mật phục” nhiều lần để kiểm chứng, ghi nhận lại bằng hình ảnh khách quan, trung thực nhất những gì mà người dân phản ánh và cung cấp.
Tại đây, nhiều diễn biến “bất thường” giữa lực lượng Kiểm lâm và lâm tặc đã xảy ra. Cụ thể: Về đường sông, sáng sớm, khoảng thời gian 6 đến 10 giờ, các thuyền nhỏ ngược dòng dòng sông đầy hiểm trở để đua nhau lên các khu vực chở gỗ lậu đã được lâm tặc đốn hạ đưa ra khỏi bìa rừng. Buổi chiều khoảng từ 13 đến 18 giờ, các thuyền nhỏ chở gỗ lậu bắt đầu “tung tăng” chở qua trạm kiểm soát như chốn không người.
Thời gian qua, Phóng viên đã nhiều lần đóng giả lâm tặc, vai mang gùi sau lưng, vòng qua Bản Súng tại địa bàn xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh nơi có Trạm kiểm lâm Trường Sơn được chốt chặn kiểm soát bảo vệ rừng ở đó.
Sau vài ngày kiên trì bám sát, những chiếc thuyền chở gỗ bắt đầu xuất hiện đi qua trạm, trên chòi canh chốt chặn của trạm lúc đó không có cán bộ gác, trước chòi canh được che một tấm vải màu xanh ngoảnh mặt nhìn ra sông “kiểm soát”, bên dưới là một chiếc đò cơ động của trạm cũng đang nằm cạnh sông để “sẵn sàng” thực hiện nhiệm vụ cơ động truy đuổi lâm tặc. Trong lúc đó, mỗi chuyến đò chở khoảng chừng một khối gỗ Lim, Gõ, Táu kéo đuôi nhau qua trạm. Khi đi qua chốt, những chiếc đò chở gỗ đều tắt máy dừng lại để cho cán bộ kiểm soát. Có ngày cả chục chiếc đò chở gỗ lậu đi nhộn nhịp trên sông qua chốt gác của kiểm lâm.
Sau khi ghi lại những hình ảnh, phóng viên đã rời khỏi hiện trường, và một uần sau trở lại vị trí cũ đối diện với trạm kiểm lâm để tiếp tục tu thập chứng cứ. Lúc này trên chòi canh vẫn như thường lệ, một cán bộ kiểm lâm đang trực kiểm soát. Khoảng 10 giờ, hai chiếc đò từ trên thượng nguồn chạy về trạm. Qua trạm, lâm tặc tắt máy chèo qua rồi nổ máy chạy về thượng nguồn. Cũng như thế, sau quảng thơi gian giữa trưa, hàng loạt những chuyến đò chở khối lượng gỗ lớn hiên ngang đi qua trạm mà không có ai hỏi han hoặc kiểm soát.
Nhiều chiếc đò kéo hai đoàn gỗ dài nối đuôi nhau, mỗi đò chở khoảng chừng 30 khúc gỗ, mỗi khúc được gắn các xăm hơi ô tô vào để gỗ được nổi lên mặt nước không chìm, cứ như thế tung tăng bơi qua trạm.
Cách trạm kiểm lâm Trường Sơn khoảng chừng 500m, về phía Bản Súng, hàng chục lâm tặc đang thi nhau kết bè cho hàng chục khối gỗ và dùng xăm hơi ô tô gắn kết để tiếp tục dùng thuyền kéo qua trạm về miền xuôi.
Trắng trợn hơn, những chiếc xe ô tô bốc hàng chục khối gỗ đưa xuống ven sông tập kết để cùng nhau xuất bến. Cảnh tượng lâm tặc tung hoành phá rừng, vận chuyển gỗ giữa làng bản và ngay sát trạm kiểm soát của lực lượng chức năng.
Điều này minh chứng rằng, tại xã Trường Sơn, vấn nạn lâm tặc phá rừng quá khủng khiếp và nghi vấn kiểm lâm nơi đây bảo kê cho lâm tặc là có cơ sở.
Sau cơn bão số 4 (14/09/2016), phóng viên trở lại vị trí cũ đối diện với trạm. Lúc này nước lũ vừa tràn về nên mặt nước giữa sông dâng cao, như thường lệ, chòi canh không có người, trên trạm có cán bộ nhưng chỉ đứng trên nhìn xuống một lúc rồi đi vào. Khoảng thời gian từ 14 đến 18 giờ, vẫn những chiếc đò chở gỗ tung tăng quá trạm. Và cũng như thường lệ, hàng chục chiến đò chở gỗ lậu do lâm tặc điều khiển đi qua trạm đều tắt máy chèo, và khi đã đi qua trạm thì hết thảy nổ máy rồ ga đi bình thản.
Để ghi lại những hình ảnh này, phóng viên phải mất một thời gian khá dài bám trụ tại địa bàn để ghi lại được những bằng chứng chứng minh việc làm thiếu trách nhiệm của các cán bộ kiểm lâm nơi đây.
Rõ ràng, lực lượng chức năng, đặc biệt là các cán bộ kiểm lâm ở trạm Trường Sơn đã nhắm mắt làm ngơ hoặc đã có hành vi bảo kê, thông đồng tiếp tay cho lâm tặc tàn phá rừng nguyên sinh nơi đây.
Và với những gì đang diễn ra hàng ngày, không mấy thời gian nữa cánh rừng đại ngàn nơi đây sẽ biến mất. Câu hỏi đặt ra, chính quyền tỉnh Quảng Bình đang ở đâu? (Trí Thức Và Phát Triển 21/9) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và PTNT Bắc Giang vừa mở thầu Dự án nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, xây dựng đường lâm nghiệp tỉnh; thực hiện tại các huyện: Lục Nam, Lục Ngạn, Sơn Động, Yên Thế, Yên Dũng.
Dự án gồm các hạng mục chính: Trang bị máy thổi gió, máy cắt thực bì, máy định vị; cải tạo và xây dựng đường lâm nghiệp kết hợp với dân sinh gồm 103 tuyến có tổng chiều dài hơn 225 km; duy trì các công trình phòng cháy, chữa cháy.
Tổng kinh phí đầu tư hơn 100 tỷ đồng từ nguồn ngân sách T.Ư. Dự kiến, công trình được khởi công vào cuối tháng 9 năm nay và hoàn thành vào năm 2020. (Báo Bắc Giang 20/9) đầu trang(
Vùng rừng giáp ranh luôn là điểm “nóng”, vì hiện tượng khai thác gỗ và lâm sản trái phép thường xuyên diễn ra.
Mới đây, huyện Di Linh đã triển khai đợt truy quét để ngăn chặn tình trạng phá rừng ở vùng giáp ranh thuộc lâm phần của các chủ rừng là Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (TNHH MTV) Lâm nghiệp Tam Hiệp, Bảo Thuận và Di Linh giáp ranh với xã Phan Sơn, xã Phan Tiến (thuộc huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận).
Sau đợt tham gia cùng với Chi cục Kiểm lâm và các ngành của tỉnh truy quét lâm tặc tại Tiểu khu 727 (thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý vào đầu tháng 8/2016 và đã bắt được 7 đối tượng, thu giữ 1 m3 gỗ, 7 xe máy và 2 máy cưa), theo sự chỉ đạo của UBND huyện Di Linh, Đoàn Kiểm tra liên ngành của huyện, gồm Hạt Kiểm lâm cùng với Công an và các đơn vị chủ rừng, tiếp tục triển khai truy quét lâm tặc tại rừng ở những vùng giáp ranh với các xã của huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận).
Trên địa phận rừng do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp quản lý, Đoàn Kiểm tra liên ngành đã kiểm tra, truy quét tại các tiểu khu (TK) 724, 725, 726, 727 và 728. Qua truy quét tại các TK này đã phát hiện, giải tỏa bằng cách tiêu hủy 4 lán trại được dựng bằng bạt, không có người; phát hiện và phá hủy 3 hầm đốt than (trong đó, có 1 hầm đang đốt than và 2 hầm đã chất củi gỗ tạp nhưng chưa đốt than với khoảng 10 m3 củi/ 1 hầm).
Tại hiện trường, Đoàn kiểm tra còn phát hiện 11 cây gỗ và 2 lóng gỗ với khối lượng gần 6,5 m3 chưa kịp chuyển đi, 4 gốc cây gỗ dầu đường kính 34 - 37 cm bị chặt hạ và đã chuyển đi và phát hiện 42 cây gỗ dầu đường kính 15 - 17 cm, khối lượng 11,2 m3 bị chặt hạ đã cắt ngắn để chuẩn bị đốt than.
Trong lúc truy quét tại khoảnh 1 - TK 726, Đoàn Kiểm tra đã phát hiện và bắt giữ 1 đối tượng săn bắt 21 cá thể Khỉ đuôi lợn. Sau 2 ngày chăm sóc để hồi phục sức khỏe trở lại bình thường, số động vật hoang dã này đã được Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh thả lại về rừng.
Kiểm tra, truy quét rừng tại các TK 729, 741, 742 và 743 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Thuận quản lý, Đoàn Kiểm tra liên ngành đã phát hiện dấu vết khai thác cũ ở TK 729. Đoàn xác định, tại đây, lâm tặc đã khai thác và vận chuyển gỗ Căm xe bằng xe máy dọc theo ven suối rồi đi qua các TK 727, 728 (của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp). Đoàn yêu cầu Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Thuận cần tăng cường quản lý chặt chẽ hơn nữa ở khu vực này. Truy quét tại các TK 741, 742 và 743, Đoàn Kiểm tra không phát hiện hành vi hoặc dấu hiệu vi phạm mới.
Tại lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Di Linh quản lý, Đoàn Kiểm tra liên ngành đã kiểm tra, truy quét các TK 736, 739 và 740. Qua đó, Đoàn Kiểm tra đã phát hiện, giải tỏa (tiêu hủy) 1 lán trại, thu giữ 1 cưa máy và nhắc nhở, vận động 4 đối tượng có mặt trong khu vực rừng giáp ranh trở về xã Phan Tiến (huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận).
Theo ông Hoàng Tất Dương, Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh: “Nhờ các lực lượng chức năng của tỉnh và của huyện phối hợp tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét và xử lý các đối tượng ở các địa phương khác xâm nhập vào lâm phần do huyện Di Linh quản lý để khai thác gỗ và lâm sản trái phép, nên đến nay, các điểm “nóng” đã cơ bản được kiểm soát, nhất là tại các TK 701, 702, 725, 726…
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp đã tăng cường lực lượng thường trực tại Trạm Bảo vệ rừng Sông Cùng (TK 726) và lực lượng nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng của Trung đoàn 994 chốt chặn tại Dốc Đá. Tuy nhiên, tại TK 727, 728 (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp) và TK 729 (Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Thuận), thời gian gần đây lại bị các đối tượng ngoài địa phương xâm nhập khai thác, vận chuyển lâm sản, đốt than trái phép, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn để bùng phát thành điểm “nóng”, nếu không tiếp tục ngăn chặn kịp thời”.
“Nguy cơ bất ổn để bùng phát thành điểm nóng” là do các đối tượng thường hay xâm nhập phá rừng là người dân của xã Phan Sơn (huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) sinh sống và làm ăn dọc ven suối tại vùng rừng giáp ranh với huyện Di Linh. Trong khi đó, khu vực này cách xa Trạm Bảo vệ rừng TK 726 và lực lượng quản lý, bảo vệ của Trạm lại… mỏng, nên rất khó kiểm soát.
Trước tình huống nói trên, ông Trần Đình Sỹ, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Di Linh cho chúng tôi biết: “Vừa qua, Huyện ủy và UBND huyện đã chỉ đạo các ngành tập trung truy quét lâm tặc tại rừng vùng giáp ranh. Nhờ truy quét mạnh, nên hiện tại rừng không còn “nóng”.
Tuy nhiên, huyện đã và đang tiếp tục triển khai các giải pháp theo Văn bản chỉ đạo số 4613/UBND - LN, ngày 9/8/2016, của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị triển khai các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên; thực hiện nghiêm túc việc đóng cửa rừng; kiên quyết xử lý các hành vi vi phám pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, chống người thi hành công vụ; kiên quyết xử lý các đơn vị chủ rừng, nếu để rừng bị xâm hại và những cán bộ lợi dụng chức vụ để bao che, dung túng các hành vi vi phạm…”.
Còn Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh, đơn vị sẽ tiến hành rà soát và đề nghị Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho thiết kế, giao khoán quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích rừng vùng giáp ranh chưa được giao khoán tại các TK 725, 727, 728 của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp; các TK 729, 741, 742, 743 của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bảo Thuận và các TK 737A, 738, 739, 740 của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Di Linh.
Đồng thời, Hạt Kiểm lâm huyện cũng đề nghị Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn và Chi cục Kiểm lâm cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp sớm thành lập Chốt bảo vệ tại TK 728 và tăng cường lực lượng bảo vệ. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm huyện sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp lực lượng để hỗ trợ với các đơn vị chủ rừng thường xuyên kiểm tra, truy quét và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, xâm hại đến rừng, phấn đấu không để tái hiện rừng “nóng” trên địa bàn. (Báo Lâm Đồng 20/9) đầu trang(
Dù được các cán bộ kiểm lâm thường xuyên kiểm tra, bảo vệ nghiêm ngặt, nhưng việc phá rừng và khai thác lâm sản trái phép vẫn còn tồn tại. Điều này khiến nhiều động thực vật ở vườn quốc gia Cát Tiên vẫn đang bị rơi vào tình trạng nguy cấp.
Hiện nay, vườn quốc gia Cát Tiên không chỉ là một trong những nơi có số lượng động thực vật phong phú nhất Việt Nam, mà còn là khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận. Do đó, công tác bảo vệ cũng như phát triển các loài động thực vật ở nơi đây đang được triển khai rất nghiêm ngặt và đúng khoa học.
Tuy nhiên, các đối tượng phá rừng và khai thác lâm sản lại ngày càng tinh vi, táo tợn hơn. Điều này khiến lực lượng chức năng tại vườn quốc gia Cát Tiên gặp rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ và kiểm tra rừng.
Theo số liệu thống kê của vườn quốc gia Cát Tiên, kể từ đầu năm 2016 cho đến nay, các cán bộ kiểm lâm tại đây đã phát hiện và lập hồ sơ xử lý 74 vụ vi phạm về khai thác lâm sản trái phép, vận chuyển mua bán động vật hoang dã.... Bắt giữ 90 đương sự với tổng số tiền xử phạt hành chính hơn 234 triệu đồng.
Ngoài ra, chỉ trong 9 tháng đầu năm, vườn quốc gia Cát Tiên còn tịch thu được 5,5m3 gỗ nhóm I, 0,45m3 gỗ nhóm II-VIII, 18 khẩu súng tự chế, 12 bộ máy xung điện, 10.009 sợi dây bẫy các loại. Thả về rừng 20 cá thể động vật hoang dã và tiêu hủy hơn 122kg thịt động vật hoang dã các loại.
Mặc dù các số liệu kể trên có giảm hơn so với cùng kỳ năm 2015, song điều này vẫn cho thấy, nạn khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã tại vườn quốc gia Cát Tiên vẫn đang còn tồn tại khá nhiều. Thậm chí, các đối tượng ngày càng có những hoạt động tinh vi hơn, khiến công tác bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn.
Theo anh Hoàng Minh Chương – cán bộ kiểm lâm tại vườn quốc gia Cát Tiên, các đối tượng săn bắt động vật hoang dã đang ngày càng tinh vi hơn. Đồng thời, chúng cũng sẵn sàng chống đối và tấn công các cán bộ kiểm lâm khi bị phát hiện. Điển hình, vào ngày 16/7/2016, trong lúc đang tuần tra tại xã Đắc Lua, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, một cán bộ kiểm lâm của vườn đã bị một nhóm đối tượng tấn công gây chấn thương vùng mặt.
Ngoài các vấn đề kể trên, vườn quốc gia Cát Tiên cũng đang phải chịu không ít ảnh hưởng từ các thiên tai trong thiên nhiên. Cụ thể, vào mùa khô, các thảm cỏ rộng lớn dễ xảy ra tình trạng cháy rừng với quy mô lớn. Trong khi đó, vào mùa mưa, những trận gió lớn do ảnh hưởng của các cơn bão lại là nguyên nhân chính dẫn đến hàng chục cây gỗ lớn bị gãy đổ.
Bên cạnh đó, các đập thủy điện trên sông Đồng Nai cũng gây ra những ảnh hưởng không nhỏ cho các loài động thực vật tại vườn quốc gia Cát Tiên. Điển hình, đề án xây dựng hai đập thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã làm hủy hoại hơn 150 hecta rừng để làm hồ chứa ngay trong vườn quốc gia. Đồng thời, nó cũng làm diện tích sinh sống của các loài thú nơi đây bị thu hẹp lại đáng kể.
Chưa kể, việc xây dựng dựng các đập thủy điện cũng làm lượng nước cung cấp cho các vùng đầm lầy, hồ nước trong vườn quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong đó, phải kể đến việc lượng nước vào Bàu Sấu - nơi đang thực hiện kế hoạch phục hồi và phát triển loài cá sấu nước ngọt quý hiếm bị ảnh hưởng không nhỏ.
Từ những vấn đề kể trên, chúng ta có thể thấy rằng, nếu không có các biện pháp khắc phục kịp thời thì thiên nhiên hoang dã tại vườn quốc gia Cát Tiên sẽ còn phải chịu rất nhiều “nỗi khổ”. Đa dạng sinh học đang ngày càng bị đe dọa, nhiều loài động thực vật quý có thể biến mất vĩnh viễn như loài tê giác Java một sừng.
Điều này đang khiến vườn quốc gia Cát Tiên khó có cơ hội trở thành di sản thiên nhiên thế giới như Vịnh Hạ Long. (Khoa Học Và Phát Triển 20/9) đầu trang(
Ngày 20.9, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN (VACNE) đã trao bằng chứng nhận Cây di sản VN đối với 2 cây bộp trước sân đình làng Hạ Lang (ảnh - xã Quảng Phú, H.Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế).
Theo các bô lão của làng, hai cây bộp này có tuổi đời 251 năm, được các vị tộc trưởng trong làng đưa từ thượng nguồn sông Bồ về trồng vào năm Ất Dậu (dưới triều đại Lê Cảnh Hưng thứ 26 (1765). Tồn tại qua bao biến thiên của lịch sử, hai cây bộp đã thành hai cây đại thụ, dáng vóc cây thẳng đứng, phát triển cân đối, tán rộng cành xanh tươi tỏa bóng mát xuống sân đình, tạo cảnh quan thâm nghiêm cho đình làng. Hiện hai cây bộp có chiều cao tương ứng 40 m và 38 m, thân cây lớn có đường kính gốc hơn 6 m và hơn 4,5 m.
Việc hai cây bộp tại đình làng Hạ Lang được công nhận cây di sản là niềm tự hào của người dân làng Hạ Lang, đồng thời đây sự kiện ý nghĩa nhằm tri ân các bậc tiền nhân của làng, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, phát huy các giá trị di sản văn hóa, bảo tồn nguồn gien quý và đa dạng sinh học của VN. (Thanh Niên 21/9) đầu trang(
Ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam về việc xây dựng hồ sơ đề cử mở rộng không gian Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đến quần đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng, trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới; thật sự đã mở ra cơ hội cho Cát Bà, để xứng đáng là nơi “rừng vàng, biển bạc” của Việt Nam.
Trong ý kiến chỉ đạo ngày 12/9 vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã giao Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và các cơ quan liên quan; thực hiện các bước xây dựng hồ sơ đề cử vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà trình UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo đúng quy định của Công ước Di sản thế giới năm 1972.
Phó Thủ tướng cũng giao Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch hướng dẫn thành phố Hải Phòng trong việc xây dựng hồ sơ Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long - quần đảo Cát Bà theo đúng quy định của pháp luật về di sản văn hóa và các quy định có liên quan.Theo đại diện của Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch, chỉ đạo này của Phó Thủ tướng xuất phát từ việc Tổ chức UNESCO đã yêu cầu phải nộp hồ sơ kết nối Cát Bà với Hạ Long thì họ mới chấp nhận hồ sơ xem xét việc công nhận Di sản thiên nhiên thế giới cho Việt Nam - mà không xem xét riêng lẻ từng địa danh này. Bởi xét về mặt địa chất, địa mạo, Hạ Long và Cát Bà là một, đa dạng sinh học của hai địa điểm này là một và môi trường thì cũng có rất nhiều điểm giống nhau.
Tuy nhiên, phần chứa đựng đa dạng sinh học ở Hạ Long không phong phú bằng Cát Bà, nhưng ngược lại, nếu thiếu Hạ Long thì Cát Bà lại không hoàn chỉnh. “Chính vì thế, UNESCO đã yêu cầu tính toàn vẹn của đa dạng sinh học và chỉ khi nào mở rộng không gian vịnh Hạ Long đến quần đảo Cát Bà thì đa dạng sinh học mới toàn vẹn”, đại diện này cho biết.
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long. Đảo thuộc phía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng; nhưng khoảng cách từ Cát Bà tới thành phố Hạ Long lại gần hơn tới thành phố Hải Phòng (đảo cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km và cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km).
Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận. Đảo có tên là đảo Các Ông (Cát Ông). Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của Các Bà.Từ lâu, du khách trong và ngoài nước đã biết đến Cát Bà như một điểm du lịch lý tưởng của miền Bắc. Có lẽ Cát Bà hội tụ đầy đủ các đặc tính tạo nên mảnh đất du lịch lý tưởng: Cảnh quan thiên nhiên ưu đãi đến mức tuyệt vời với núi non trùng điệp, rừng sinh quyển vào loại hiếm của thế giới với những động vật nằm trong sách đỏ của thế giới (đặc biệt nhất là khỉ đầu đỏ, voọc), bãi biển hòa quyện với núi rừng.
Bên cạnh đó, Cát Bà có địa hình khá hấp dẫn với những con đường được thiết kế ngoằn nghèo xuyên núi rừng rồi ra đến biển tạo cho du khách dòng cảm xúc đang được đi du lịch khi ngồi trên xe, liên tục được thấy những đổi thay, nhưng mới lạ của thiên nhiên Cát Bà.
Thường thì du khách đến với Cát Bà chủ yếu là đến thị trấn Cát Bà và tắm tại bãi tắm Cát Cò. Tuy nhiên, Cát Bà còn có rất nhiều điểm đến tuyệt vời mà không phải du khách nào cũng biết. Đó là rừng quốc gia Cát Bà với rừng Kim Giao, đỉnh núi Ngự Lâm, hang Quân Y, động Trung Trang... rồi làng đánh cá Việt Hải, làng nổi trên bến Bèo, hay vịnh Lan Hạ với làng chài Vạn Giá, hang sáng và hang tối, hang Tiên Ông, những dải san hô đầy màu sắc hiếm có.
Đối với những ai thích du lịch khám phá thì Cát Bà là một điểm đến lý tưởng. Du khách có thể leo núi. bơi lặn biển, chèo thuyền kayak, đạp xe đường rừng, đi bộ đường rừng...
Không chỉ là điểm du lịch hấp dẫn, đảo Cát Bà còn là tấm thảm xanh khổng lồ chứa đựng nhiều bí ẩn, hấp dẫn; xứng đáng là khu dự trữ sinh quyển thứ 3 Việt Nam, đã được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế).
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.
Với những giá trị lớn như vậy, việc công nhận Cát Bà - trong tổng thể với vịnh Hạ Long, là Di sản thiên nhiên thế giới là hoàn toàn hợp lý và hứa hẹn tạo ra cơ hội phát triển cho du lịch Cát Bà, nhưng đồng thời cũng tạo ra cơ hội cho việc phát triển bền vững của khu dự trữ sinh quyển này; bởi lẽ, để được UNESCO công nhận và để giữ vững được danh hiệu này, sẽ phải tuân theo những quy định rất khắt khe về bảo tồn các giá trị thiên nhiên. (Tin Tức 21/9) đầu trang(
Ngay sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Lâm Đồng đã triển khai các biện pháp đóng cửa rừng tự nhiên và quản lý chặt chẽ quỹ đất lâm nghiệp một cách quyết liệt. Qua đó, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý nhiều “điểm nóng” về khai thác, buôn bán gỗ trái phép, chống người thi hành công vụ.
Vậy, rừng và đất lâm nghiệp ở đây sẽ được quản lý như thế nào, trong khi có rất nhiều dự án liên quan đến rừng? Phóng viên VOV phỏng vấn ông Phạm S, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng về những nội dung này.
Ông cho biết: Tại hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững ở khu vực Tây Nguyên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo kiên quyết đẩy mạnh việc đóng cửa rừng. Đây là vấn đề được tỉnh Lâm Đồng nhận thức rất sâu sắc trong quá trình triển khai các dự án liên quan đến rừng.
Trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, liên tục trong các tháng 7, 8 và tháng 9, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành các văn bản chỉ đạo các ngành chức năng, trực tiếp là sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện nghiêm túc việc đóng cửa rừng tự nhiên; rà soát các dự án liên quan đến rừng. Những dự án trước đây đã cấp phép, nhưng không đảm bảo tiến độ thì tỉnh chỉ đạo dừng cấp phép, và không thực hiện các dự án đầu tư mới.
Vấn đề thứ 2, tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng, đặc biệt là UBND các địa phương phải trực tiếp kiểm tra quản lý rừng. Hàng tháng, lãnh đạo tỉnh đi kiểm tra, hàng tuần thì lãnh đạo huyện và xã phải đi kiểm tra trên diện tích rừng.
Tỉnh Lâm Đồng đã phân loại các dự án liên quan đến rừng gồm có 7 nhóm: liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao, dự án du lịch sinh thái, các công trình thủy điện, hạ tầng giao thông, công trình phúc lợi xã hội và nhóm thứ 7 liên quan đến đất cấp cho đồng bào dân tộc.
Phải xem xét cụ thể, nhưng không tác động đến rừng tự nhiên, thực hiện nghiêm túc theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Hiện nay, tỉnh đã giao cho Sở Công thương ra soát tất cả các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đặc biệt là đối với các dự án chiếm diện tích rừng trên 1 kW cao, thì tỉnh không cho triển khai thực hiện.
Do tính chất quan trọng của rừng Lâm Đồng có tác động rất lớn đến môi trường sinh thái của lưu vực sông Đồng Nai, 11 tỉnh trong lưu vực, cho nên trong những năm qua, Lâm Đồng rất quyết liệt.
Những dự án nào mà không triển khai việc trồng rừng thay thế thì tỉnh sẽ báo cáo với Bộ Công thương để dừng dự án. Các doanh nghiệp ở Lâm Đồng thực hiện việc trồng rừng thay thế rất nghiêm túc.
Sáu tháng đầu năm 2016, tỉnh Lâm Đồng đã giảm 28,4% số vụ vi phạm, tuy nhiên đầu tháng 7 thì xảy ra mấy vụ đáng tiếc. Việc này là do công tác giám sát, kiểm tra ở tại cơ sở, đặc biệt ở huyện Bảo Lâm, chưa sâu sát nên xảy ra vụ án tại thủy điện Đồng Nai 5. Lâm tặc lợi dụng hồ nước thủy điện Đông Nai 5 tích nước để khai thác rừng trái phép.
Vụ thứ 2, là vụ chống người thi hành công vụ tại huyện Lâm Hà do một số nhóm thanh niên đồng bào dân tộc địa phương chống lực lượng chức năng, khiến 1 đồng chí chiến sỹ đã hy sinh.
Tỉnh Lâm Đồng đã tập trung chỉ đạo các lực lượng chức năng, đặc biệt là UBND tỉnh đã vào cuộc. Hiện nay đã khởi tố vụ án tại huyện Bảo Lâm, đang hoàn tất thủ tục để khởi tố vụ án chống người thi hành công vụ ở huyện Lâm Hà.
Đây là vụ việc rất nghiêm trọng, nên tỉnh chỉ đạo kiên quyết xử lý để răn đe, để không tái diễn, để đảm bảo thực thi nghiêm minh trước pháp luật, giảm thiểu tối đã việc xâm hại đất rừng và lâm sản trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 21/9) đầu trang(
Ngày 20/9, Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo (Điện Biên) đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự tội vi phạm các quy định về bảo vệ rừng.
Đây là vụ việc liên quan đến tình trạng khai thác hàng chục cây gỗ nghiến cổ thụ trên địa bàn vùng giáp ranh giữa hai huyện Tuần Giáo và Tủa Chùa.
Ông Đinh Mạnh Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tuần Giáo cho biết, sau khi điều tra, xác định có dấu hiệu tội phạm vi phạm về khai thác và bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm Tuần Giáo đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo để tiếp tục điều tra khởi tố bị can.
Địa điểm xảy ra vụ việc trên được xác định ở tại Khoảnh 2, Tiểu khu 573 và Khoảnh 1 Tiểu khu 574, thuộc khu rừng bản Khua Trá, xã Phình Sáng, huyện Tuần Giáo.
Sau khi điều tra, đo đếm tại hiện trường, xác định có 6 cây gỗ nghiến thuộc khu vực rừng sản xuất với tổng khối lượng 50m3, 1 cây ở rừng phòng hộ có khối lượng 24m3 đã bị lâm tặc chặt hạ và khai thác trái phép.
Trước đó, từ ngày 16/8 TTXVN đã có loạt bài và phóng sự truyền hình, phản ánh tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến nghiêm trọng diễn ra trên địa bàn xã Phình Sáng (huyện Tuần Giáo) và xã Mường Đun (huyện Tủa Chùa).
Trước những thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, Hạt Kiểm lâm Tuần Giáo đã rất cầu thị, thừa nhận sự việc trên và nhanh chóng triển khai điều tra, làm rõ vụ việc. Trong khi đó, chính quyền huyện Tủa Chùa ban đầu không thừa nhận.
Nhưng trước những chứng cứ ghi được tại hiện trường của nhóm phóng viên, ông Lê Thanh Bình, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tủa Chùa đã phải công nhận có tình trạng khai thác gỗ nghiến trái phép đang diễn ra trên địa bàn huyện này.
Theo thông tin ban đầu, Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa đang tiếp tục điều tra, xác minh tình trạng khai thác rừng gỗ nghiến trái phép diễn ra trên địa bàn, hiện chưa ra quyết định khởi tố vụ án này. (Vietnam + 20/9) đầu trang(
Nhận lời làm thuê dọn dẹp, thu gom cành, cây rừng gãy đổ trong mùa mưa cho một doanh nghiệp, ông Phạm Văn Vượng (SN 1975, trú tại huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) cùng 4 người khác không ngờ rằng mình lại bị lĩnh án tù, còn ông Tổng Giám đốc của doanh nghiệp - người trực tiếp thuê ông Vượng - bỗng nhiên “mất tích” khiến vụ án còn nhiều điểm chưa sáng tỏ.
Ngày 20/9, sau 3 năm kể từ ngày điều tra và qua 14 mở phiên tòa, TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk mới mở phiên tòa sơ thẩm xét xử các bị cáo gồm: Phạm Văn Vượng (SN 1975), Nguyễn Thanh Lam (SN 1983), Lê Minh Tiến (SN 1970), Nguyễn Hùng Danh (SN 1981) và Đàm Thanh Cưu (SN 1982) cùng trú tại tỉnh Đắk Lắk và tuyên án các bị cáo cùng về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo đó, Vượng 1 năm 6 tháng tù, Lam 2 năm tù, Tiến, Danh và Cưu mỗi người 9 tháng tù.
Theo cáo trạng, tháng 7/2012 Công ty Cổ phần Thương mai - Du lịch (CP TM-DL) Bản Đôn đã lập phương án gửi UBND tỉnh Đắk Lắk xin thuê lại toàn bộ diện tích đất rừng do Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk quản lý nhưng chưa được chấp thuận.
Tháng 4/2013, sau được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Công ty CP TM-DL Bản Đôn, ông Nguyễn Quang Đức (ngụ quận Thủ Đức, TP. HCM) đã chỉ đạo công ty tạm ngừng kinh doanh 1 tháng để vệ sinh, thu gom cành, cây rừng gãy đổ ở khu vực trung tâm công ty. Sau đó, ông Đức đã thuê Vượng thu gom giúp hoặc tìm người thu gom, dọn vệ sinh rừng cho công ty. Đức và Vượng thống nhất, số tiền bán phế liệu, bán củi thu gom sẽ nộp về cho công ty.
Đầu tháng 5/2013, Lam nghe tin Vượng đang tìm người thu gom củi, cây đổ khai thác gỗ nên đã tới gặp và thống nhất việc khai thác gỗ đem đi bán. Để tiến hành thu gom và khai thác, Lam đã thuê Tiến, Danh, Cưu với tiền công thỏa thuận là 500.000 đồng/người/xe gỗ khai thác được.
Từ ngày 15/5/2013 đến 31/5/2013, Lam, Danh, Cưu và Tiến đã khai thác trái phép 221 cây, trong đó có 138 cây lấy đi phần gỗ, 83 cây bị cắt hạ, cưa khúc gồm các loại cây giáng hương, căm xe, cà chít, chiêu liêu, cẩm sừng, gáo vàng. Tổng cộng, cả số gỗ mà Lam bán đi và số gỗ thu gom sau khi phát hiện là hơn 84m3 gỗ. Riêng khoảng 30m3 gỗ mà Lam đã bán được 122 triệu đồng, Lam đã trả tiền gỗ cho Vượng 80 triệu đồng, Vượng đã nộp vào công ty 59,5 triệu đồng. Số tiền còn lại, Lam đã trả công cho Danh và Cưu mỗi người 2,5 triệu đồng; Tiến 1,6 triệu đồng và các chi phí khác.
Bản cáo trạng kết luận, do ý thức coi thường pháp luật, coi thường các quy định về quản lý và bảo vệ rừng nên sau khi được ông Đức thuê thu gom, dọn vệ sinh cây rừng cho công ty; Lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của công ty, Vượng đã thuê các đối tượng trên vừa thu gom, khai thác trái phép gỗ tại khoảnh 6, tiểu khu 469 rừng sản xuất do công ty quản lý. Tổng khối lượng gỗ các đối tượng khai thác trái phép là 37m3. Lam đã bán khoảng 30m3 gỗ tròn thu lợi bất chính được 122 triệu đồng, còn 4,1m3 gỗ hộp Lam cất dấu tại nhà.
Sau một thời gian điều tra, Vượng đã gửi đơn tố cáo, khiếu nại lên nhiều cơ quan chức năng yêu cầu làm sáng tỏ một số vấn đề liên quan đến vụ án. Trong đó có vấn đề cho rằng ông Đức là người tổ chức, chủ mưu chỉ đạo việc khai thác gỗ thì bị bỏ lọt, cố tình cho ông Đức vắng mặt để che đậy hành vi nhận hối lộ của một số cán bộ Công an, Viện Kiểm sát.
Tại phiên tòa ngày 20/9, Vượng một mực khẳng định công ty đã bán gỗ cho người khai thác trước đó nhưng giá cả thấp nên ông Đức mới nhờ Vượng tìm mối giá cao hơn để khai thác. Bằng chứng là có nhiều cây đã bị cưa hạ từ trước và gỗ được gom bằng voi để lại dấu vết tại hiện trường, điều này đại diện Hạt kiểm lâm huyện Buôn Đôn cũng đã xác nhận.
Theo Vượng, vị trí khai thác nằm gần công ty, chỉ có 1 con đường duy nhất nên xe gỗ muốn vận chuyển ra cũng phải có bảo vệ ra mở cổng. Khi bán được gỗ, bị cáo đã nộp tiền vào công ty bằng 8 hóa đơn và những người thu tiền cũng khai nhận làm theo chỉ đạo của Tổng Giám đốc.
Vượng cho biết: “Ông Đức là người trực tiếp nhờ chúng tôi khai thác gỗ, do tin tưởng ông ấy nên chúng tôi mới nhận lời làm. Toàn bộ số gỗ đều được vận chuyển qua trạm kiểm soát của công ty, được bảo vệ mở cổng và kéo rào chắn cho đi qua, thậm chí tiền bán gỗ cũng nộp lại cho công ty. Do đó, để không bỏ lọt người có tội, tôi yêu cầu cơ quan chức năng khởi tố về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng và tội đưa hối lộ đối với ông Nguyễn Quang Đức. Đồng thời khởi tố ông Trương Văn Thêm - Đội trưởng Đội Điều tra kinh tế huyện Buôn Đôn về tội nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án”.
Trong phần tuyên án, Hội đồng Xét xử cho biết Cơ quan Điều tra đã tới nơi ông Đức sinh sống để xác minh nhưng đến nay không biết ông Đức ở đâu. Do đó, tòa gửi bản án đến cơ quan chức năng và đề nghị Cơ quan Điều tra và Viện KSND huyện Buôn Đôn làm rõ hành vi đồng phạm của ông Nguyễn Quang Đức. Đồng thời khiến nghị Cơ quan Điều tra, Viện KSND Tối cao điều tra làm rõ hành vi đưa nhận hối lộ giữa ông Đức và ông Trương Văn Thêm (nguyên Đội trưởng Đội kinh tế Công an huyện Buôn Đôn) để làm sai lệch hồ sơ vụ án. (Thanh Tra 21/9) đầu trang(
Vào lúc 1 giờ 30 phút ngày 20-9, tại đường tránh Thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), Phòng Cảnh sát Môi trường (Công an Hà Tĩnh) phối hợp với Phòng Cảnh sát Giao thông tiến hành kiểm tra xe ô tô 81B-006.80 và phát hiện 9 bao tải gỗ trắc (nhóm I) và một số thanh gỗ rời không có giấy tờ hợp lệ.
Qua đấu tranh khai thác, tài xế Trần Thanh Phong (SN 1982, quê ở xã Tú An, thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai) khai nhận số hàng trên là của chị Nguyễn Thị Tình nhờ nhà xe Huy Hoàng vận chuyển từ Gia Lai ra Bắc Ninh tiêu thụ.
Phòng Cảnh sát Môi trường-Công an Hà Tĩnh đã lập biên bản tạm giữ số gỗ trắc nói trên và tiến hành điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Gia Lai 21/9) đầu trang(
Theo một số người làm công tác quản lý di tích, cây bồ đề đứng cạnh tháp đã có ở một số nơi, nhưng mọc trên đỉnh tháp thì chưa thấy bao giờ. Đến thăm đền Gôi Vị ở xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh), bạn sẽ được chiêm ngưỡng cây bồ đề kỳ bí này.
Đền Gôi Vị được xây dựng vào năm 1715, thờ bốn vị phúc thần có công với nước với dân của các triều đại phong kiến Việt Nam. Từ bao đời nay, đền Gôi Vị luôn là nơi sinh hoạt tâm linh của người dân trong vùng, có giá trị trong giáo dục truyền thống của địa phương. Năm 2015, đền được UBND tỉnh Hà Tĩnh xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Hậu đền Gôi Vị là một tháp am cao 3 tầng, được xây bằng gạch vồ theo hình chóp, chiều cao 3,7 m, chiều rộng bề mặt mỗi bức tường của tháp 1,7m; phía trước tầng 1 và tầng 2 có 2 cửa hình vòm.
Đặc biệt, bao bọc quanh tháp am là cây bồ đề cổ thụ với bộ rễ cứng cáp, cành lá sum suê, xanh tốt quanh năm. Cụ Đinh Nho Quỳ - tộc trưởng họ Đinh cho biết, khi cụ còn nhỏ đã thấy bộ rễ của cây bồ đề bám xung quanh am và cao hơn đỉnh tháp am khoảng hơn 1 m. Theo nhiều người am hiểu cây cảnh trong vùng, dựa vào bộ rễ có thể xác định độ tuổi của cây là hơn 200 năm.
Cây bồ đề có thế “mẫu tử”, chiều cao khoảng 18m, tán lá rộng 10m. Đặc biệt là bộ rễ rêu phong, to lớn bám chắc xung quanh am. Có lẽ chính vì vậy, mà qua bao nhiêu trận lụt bão, thiên tai khắc nghiệt nhưng tháp am cổ vẫn còn nguyên vẹn.
Với độ tuổi của cây bồ đề cũng như giá trị văn hóa lịch sử của đền Gôi Vị, cây này xứng đáng được đề nghị Hội đồng Cây di sản Việt Nam công nhận là cây di sản.
Để giữ gìn và bảo quản tháp am và phục vụ du khách đến thăm viếng thuận lợi, vừa qua, vị tộc trưởng họ Đinh Nho đã huy động con cháu phát quang cây cố, láng nền bê tông xung quanh khu vực tháp am.
200 tuổi có lẻ, cây bồ đề vượt qua bão giông, qua bao lẽ biến cải của đất trời, trường tồn với dòng họ Đinh và quê hương đất nước. (Báo Hà Tĩnh 21/9) đầu trang(
Ủy ban nhân dân tỉnh vừa ban hành Quyết định số 2566/QĐ-UBND ngày 15/9/2016 phê duyệt “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh An Giang đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”.
Mục tiêu của Quy hoạch nhằm bảo tồn và bảo vệ sinh cảnh cũng như các loài động thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn; tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh An Giang.
Thiết lập được bản đồ Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp với điều kiện tỉnh An Giang giai đoạn 2020 và định hướng đến năm 2030, góp phần vào việc quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước.
Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong quản lý, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Hoàn thành quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và các quy hoạch ngành khác. Quy hoạch chi tiết và đề xuất thành lập các khu bảo tồn, ưu tiên bảo tồn tại chỗ các hệ sinh thái đặc thù, các loài động – thực vật quý, hiếm, đặc hữu; phục hồi và phát triển các hệ sinh thái, sinh cảnh tạo môi trường sống cho các loài động vật hoang dã.
Đảm bảo đạt các chỉ tiêu như sau: (1) Bảo tồn các loài động - thực vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ đã và đang hiện diện trên địa bàn tỉnh (trừ các loài di trú), đặc biệt là các giống cây trồng cổ truyền, các loài đặc hữu và từng bước đưa vào bảo tồn một cách hiệu quả tại các khu bảo tồn, vườn thực vật, vườn thú; (2) Khoanh vùng hiện trạng các khu đất ngập nước trên địa bàn tỉnh để quy hoạch khai thác và bảo tồn theo đúng quy định của Luật Đa dạng sinh học năm 2008; (3) Ban hành danh mục các loài đặc hữu của tỉnh cần được ưu tiên bảo tồn (theo tiêu chí của Sách đỏ Thế giới IUCN và Sách đỏ Việt Nam); (4) Bảo tồn được hầu hết các hệ sinh thái đặc trưng trên địa bàn tỉnh; (5) Tập trung tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cộng đồng sinh sống xung quanh các khu bảo tồn, khu du lịch về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các loài động - thực vật hoang dã; (6) Hoàn thiện việc cắm mốc ranh giới khu bảo tồn và công bố rộng rãi cho cộng đồng dân cư biết.
Để đạt được mục tiêu trên, các giải pháp được đưa ra gồm:
Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức bộ máy quản lý các khu bảo tồn, trên cơ sở nhân lực các ngành có liên quan nông lâm nghiệp thủy sản, tài nguyên và môi trường.
Giải pháp về cơ chế chính sách: Áp dụng cơ chế chính sách theo hướng dẫn các văn bản luật và dưới luật cấp Trung ương về bảo tồn đa dạng sinh học hoặc các ngành có liên quan như nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp. Xây dựng thêm cơ chế chính sách cấp địa phương về hỗ trợ vốn chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng nuôi trồng các nguồn giống bản địa, tìm đầu ra cho các sản phẩm đặc sản của địa phương.
Giải pháp về khoa học công nghệ: Áp dụng GIS viễn thám, rà soát hiện trạng môi trường tự nhiên, phân vùng sinh thái hoặc sử dụng máy bay điều khiển thu không ảnh giám sát chặt chẽ thảm phủ rừng.
Giải pháp về hợp tác quốc tế: Tăng cường hợp tác với các tổ chức Quốc tế nhằm thu hút các nguồn tài trợ về tài chính và kỹ thuật để điều tra, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ.
Giải pháp về vốn thực hiện quy hoạch: Tranh thủ nguồn tài trợ, đóng góp của các tổ chức cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh An Giang 19/9) đầu trang(
Ngày 23.7, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chủ động phối hợp với Đội kiểm soát phòng, chống buôn lậu - Cục Hải quan TP.HCM, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46) và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm buôn lậu (C74) - Bộ Công an phát hiện và bắt giữ một nam hành khách vận chuyển 1,83 kg sừng tê giác có nguồn gốc châu Phi từ Dubai về VN.
Thủ đoạn của đối tượng là cắt nhỏ và cất giấu trong hộp sữa, hộp sữa này được đóng bằng máy móc rất tinh vi. “Mắt thường sẽ không nhìn thấy kẽ hở nào để biết có hàng giấu bên trong. Tuy nhiên, qua máy soi, quan sát rất kỹ cán bộ hải quan mới phát hiện ở phía trong hộp sữa có hai màu khác nhau, nhận định có sữa và một thứ bất thường nên cơ quan hải quan tiến hành khui hộp sữa kiểm tra thì phát hiện ở giữa hộp sữa có sừng tê giác cắt nhỏ được gói cẩn thận”, lãnh đạo Chi cục Hải quan kể lại.
Theo thông tin điều tra ban đầu, số sừng tê giác châu Phi này trị giá khoảng 4,5 tỉ đồng. Làm việc với nam hành khách trên, với vẻ mặt bình thản, người đàn ông khai nhận mang theo “hộp sữa” này về VN là do người quen gửi, chứ không hay biết trong đó có hàng cấm (!)
Trước đó ngày 19.7, lực lượng hải quan sân bay Tân Sơn Nhất phát hiện nghi vấn bên trong một lô hàng nhập khẩu từ Cộng hòa Czech về VN nên đã phối hợp cùng Đội kiểm soát Cục Hải quan TP.HCM, Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan, PC46, C74 ngăn chặn và bắt giữ vụ nhập khẩu ngà voi thuộc danh mục mẫu vật động vật hoang dã cấm nhập khẩu, xuất khẩu. Qua máy soi, lực lượng chức năng đã kiểm tra và phát hiện 15 kg ngà voi châu Phi đã cắt thành 31 khúc nhỏ, cất giấu trong hàng hóa nhập khẩu nhằm qua mặt cơ quan hải quan. Trị giá số ngà voi trên tại thị trường tự do ước tính 1 tỉ đồng.
Các nghi can sử dụng mọi thủ đoạn để qua mắt cơ quan hải quan, ít ai ngờ rằng sừng tê giác được che giấu bằng cách nhét trong đầu tôm hùm đông lạnh.
Như vụ việc phát hiện ngày 17.3.2015, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất phối hợp với Bộ Công an bắt giữ 1,39 kg sừng tê giác, 43,5 kg ngà voi dạng khúc, 3,68 kg sản phẩm chế tác từ ngà voi châu Phi. Chủ lô hàng N.V.H (ngụ TP.HCM) sử dụng thủ đoạn hết sức tinh vi, cụ thể sau khi chia nhỏ sừng tê giác, H. gói trong nhiều lớp ni lông rồi mới nhồi nhét sừng tê giác trong phần đầu của con tôm hùm đông lạnh. Sau đó, H. bỏ trong thùng giữ lạnh.
Tuy nhiên, cách ngụy trang này không qua mắt được cơ quan chức năng. “Qua máy soi, cán bộ hải quan đã thấy số hàng tôm hùm có biểu hiện bất thường, vì vậy quyết định kiểm tra để làm rõ. Đúng như dự đoán, lúc bóc đầu con tôm ra, phía trong con nào cũng có sừng tê giác được gói kỹ”, một cán bộ hải quan cho biết.
Theo một lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, tình trạng ngà voi, sừng tê giác nhập khẩu trái phép qua đường hàng không đang là vấn đề nhức nhối bởi ngoài việc đóng gói, cất giấu trong các loại hàng hóa thì các đối tượng còn tinh vi trong việc thể hiện thông tin người nhận hàng trên các chứng từ vận chuyển hàng không.
Cụ thể trên các thông tin người nhận địa chỉ không rõ ràng, đây là thủ đoạn để các đối tượng chối bỏ trách nhiệm nếu lô hàng bị phát hiện. Mặc dù điều này gây khó khăn cho công tác điều tra nhưng cơ quan chức năng vẫn sẽ sử dụng các biện pháp nghiệp vụ khác để chứng minh hành vi của các nghi can, làm rõ đường dây vận chuyển hàng cấm này. (Thanh Niên 21/9) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh cho biết, hiện tại, trên địa bàn huyện có 30 cơ sở nuôi động vật hoang dã, với 690 cá thể, gồm 7 loài: nhím bờm, heo rừng lai, cầy vòi hương, dúi, trĩ đỏ, hươu, công Ấn Độ.
Ngoài việc quản lý, cấp giấy phép nuôi động vật hoang dã, Hạt Kiểm lâm huyện còn tổ chức kiểm tra, ngăn chặn và nghiêm cấm việc săn bắn, bẫy thú rừng; đồng thời, kiểm tra và nhắc nhở các nhà hàng, quán ăn không được kinh doanh, chế biến các món ăn từ thịt động vật hoang dã săn bắt từ rừng. Đối với các cơ sở nuôi động vật hoang dã, Hạt Kiểm lâm huyện kiểm tra định kỳ và theo dõi việc cập nhật sổ sách về nguồn gốc động vật nuôi nhốt theo quy định. (Báo Lâm Đồng 21/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dự toán vốn đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ven biển hàng năm được quy định như sau:
UBND tỉnh, thành phố tổng hợp dự toán bảo vệ và phát triển rừng ven biển trong kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm kế tiếp gửi Bộ NN-PTNT trước ngày 30/6 hàng năm để tổng hợp, trong đó: Xác định diện tích, dự toán kinh phí khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng ven biển cho từng loại rừng và đối tượng được hỗ trợ theo quy định tại điều 9 Nghị định này; xác định khối lượng, dự toán kinh phí đầu tư phát triển rừng ven biển theo dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt nêu tại khoản 3, điều 4 Nghị định này.
Trên cơ sở đó, Bộ NN-PTNT tổng hợp kế hoạch khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng ven biển và phát triển rừng ven biển của các địa phương trước ngày 30/7 hàng năm, thống nhất với Bộ Tài chính, Bộ KH-ĐT để cân đối cấp ngân sách.
UBND các tỉnh, thành phố vùng ven biển chịu trách nhiệm bố trí vốn ngân sách địa phương và lồng ghép các nguồn vốn (ngân sách TƯ, ngân sách địa phương và các nguồn vốn khác) đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu, hiệu quả việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển theo quy định hiện hành của Luật Ngân sách, Nghị định này, các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan và thực tế của địa phương; tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp trong xã hội về vai trò, chức năng phòng hộ của rừng ven biển; vận động khuyến khích nhân dân và các thành phần kinh tế tích cực tham gia bảo vệ và đầu tư phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu; tổ chức quản lý, bảo vệ rừng ven biển theo các quy định hiện hành; triển khai thực hiện có hiệu quả chính sách này tại địa phương.
Đồng thời, chỉ đạo cơ quan chức năng và các chủ rừng rà soát, lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, phương án, kế hoạch có liên quan đến bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ven biển theo quy định tại Nghị định này và các quy định hiện hành về đầu tư; trong đó, thể hiện rõ nội dung xã hội hóa đầu tư bảo vệ, sử dụng và phát triển bền vững rừng ven biển; điều tra, rà soát và xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng ven biển; quy hoạch rừng ven biển được xác định cụ thể, rõ ràng ranh giới trên bản đồ và ngoài thực địa; thu hồi đối với những diện tích đất thuộc hành lang bảo vệ bờ biển, hành lang an toàn bảo vệ đê, diện tích quy hoạch để bảo vệ và phát triển rừng ven biển mà các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân lấn chiếm, sử dụng hoặc chuyển đổi sai mục đích để khôi phục, trồng lại rừng ven biển... (Nông Nghiệp Việt Nam 21/9) đầu trang(
9 tháng đầu năm, Chi cục Lâm nghiệp thực hiện Dự án Bảo vệ rừng được 1.003,2 ha rừng, trong đó, 253 ha rừng phòng hộ, 750,2 ha rừng sản xuất và 215.828 cây phân tán các loại.
Chi cục đã hoàn thành công tác kiểm tra hiện trường, thẩm định hồ sơ dự án trồng rừng, lập báo cáo thẩm định dự án lâm sinh trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất năm 2016 tại các huyện: Phục Hoà, Thông Nông, Hà Quảng, Hoà An, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Trùng Khánh, Thạch An, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Nguyên Bình và Thành phố, Ban quản lý rừng đặc dụng Phja Oắc - Phja Đén (Nguyên Bình). Tổng diện tích thiết kế 1.410 ha, trong đó, 414 ha rừng phòng hộ, đặc dụng; 996 ha rừng sản xuất.
Đến nay, Chi cục Lâm nghiệp đã hoàn thành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2015 cho chủ rừng thuộc các huyện: Bảo Lâm, Bảo Lạc, Nguyên Bình với tổng số tiền trên 6 tỷ 172 triệu đồng. (Báo Cao Bằng 21/9) đầu trang(
Sở NN&PTNT vừa có Quyết định 843/QĐ-SNN thành lập Đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại 9 huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Sở NN&PTNT thành lập 3 Đoàn kiểm tra. Đoàn số 1 kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại địa bàn huyện Kon Plông.
Đoàn số 2 kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại địa bàn các huyện: Đăk Glei, Ngọc Hồi, Đăk Tô, Tu Mơ Rông.
Đoàn số 3 kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại địa bàn các huyện: Sa Thầy, Ia H’Drai, Đăk Hà và thành phố Kon Tum.
Các đoàn có nhiệm vụ kiểm tra, truy quét nhằm phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn. Thời gian thực hiện kể từ ngày 19/9/2016.
Riêng đối với huyện Kon Rẫy, Sở NN&PTNT cũng đã ban hành Quyết định 842/QĐ-SNNPTNT thành lập đoàn kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tại địa bàn huyện này để điều tra, xác minh và xử lý nghiêm đối với các hành vi vi phạm và trách nhiệm tập thể, cá nhân có liên quan đã để xảy ra các hành vi khai thác rừng trái phép trên địa bàn xã Đăk Pne, huyện Kon Rẫy. (Báo Kon Tum 20/9) đầu trang(
Ngày 20-9, tại tỉnh Gia Lai, Cục Kiểm lâm - Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức hội nghị triển khai một số giải pháp tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020.
Tại đây, Tổng cục Lâm nghiệp đã báo cáo về dự thảo “Đề án Bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2025”.
Theo dự thảo đề án, trong những năm qua, diện tích, chất lượng rừng ở Tây Nguyên bị suy giảm nghiêm trọng. Hiện 5 tỉnh Tây Nguyên chỉ còn hơn 2,56 triệu ha rừng, độ che phủ 46,08%. Từ năm 2010-2015, Tây Nguyên bị mất hơn 312.400 ha rừng, chủ yếu là rừng tự nhiên. Cũng trong giai đoạn này, trữ lượng rừng Tây Nguyên giảm 25,5 triệu m3.
Bên cạnh vấn đề để mất rừng nhanh chóng, việc triển khai trồng lại rừng cũng rất chậm, từ năm 2011-2015 chỉ trồng được gần 49.500 ha. Các chủ rừng cũng chưa thực hiện tốt vai trò quản lý bảo vệ rừng, để cho người dân lấn chiếm, tranh chấp...
Nguyên nhân của việc mất rừng là do bị xâm lấn, phá rừng trái phép, chuyển đổi mục đích rừng ồ ạt, người dân không mặn mà với việc phát triển rừng. Nhiều ngành chức năng, chính quyền cơ sở chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc bảo vệ rừng.
Đề án đặt ra mục tiêu chặn đứng tình trạng mất rừng, khôi phục, phát triển rừng, được bắt đầu thực hiện từ năm 2016. Đến năm 2025, diện tích rừng tăng lên 2,76 triệu ha, độ che phủ nâng lên 49,6%. Để thực hiện đề án này, Tổng cục Lâm nghiệp dự tính cần hơn 19.856 tỉ đồng. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước 7.346 tỉ đồng, vốn vay ODA hơn 3.339 tỉ đồng, vốn ngoài ngân sách hơn 9.171 tỉ đồng.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc triển khai, thực hiện sẽ khó đạt mục tiêu đề án đưa ra. Theo một cán bộ Kiểm lâm Vùng 4 (đóng tại Đắk Lắk), muốn tăng diện tích rừng, trước hết, rừng hiện tại không bị xâm hại, khai thác nhưng điều này khó thực hiện. Tây Nguyên hiện có hơn 791.000 ha đất đã quy hoạch phát triển lâm nghiệp chưa có rừng.
Trong số này, rất nhiều diện tích khô cằn không thể trồng rừng. Số đất màu mỡ bị người dân lấn chiếm để trồng cây nông nghiệp rất khó thu hồi. Tình trạng người dân không có đất canh tác, di dân từ nơi khác tới, xâm hại rừng nghiêm trọng nhưng hiện chưa có giải pháp ngăn chặn hữu hiệu. Người dân ở Tây Nguyên không mặn mà với việc trồng rừng do nguồn thu thấp hơn so trồng cây nông nghiệp trong khi các chính sách hỗ trợ lâm nghiệp chưa hấp dẫn.
Ông Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên, cho rằng việc ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép trong rừng tự nhiên rất khó thực hiện do thị trường tiêu thụ gỗ lậu rất cao. Bên cạnh đó, tình trạng di dân, xâm lấn, xâm canh đất rừng khá nhiều.
“Phục hồi rừng là mục tiêu nhà nước muốn nhưng làm sao để người dân hứng thú, mang lại lợi ích lâu dài cho họ, lợi nhuận tương đương với việc trồng sắn, cà phê... thì mới khả thi” - ông Dũng nói.
Trước ý kiến về việc mở rộng diện tích rừng, nâng cao độ che phủ rừng từ 46,08% lên 49,6% là khó khả thi, ông Nguyễn Quốc Trị, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, nói: “Những con số đó chúng tôi đưa ra có tính toán: Vài năm tới thì sẽ trồng được bao nhiêu rừng, ở những nội dung nào, trồng rừng thay thế hay kế hoạch hằng năm...”.
Theo PGS-TS Bảo Huy (Trường ĐH Tây Nguyên), rừng đã bị tàn phá nặng nề, chúng ta đã lấy của rừng rất nhiều, giờ cần phải trả lại cho rừng. Việc quản lý, bảo vệ rừng phải gắn vào cộng đồng dân cư, sau đó mới đến những thành phần, tổ chức khác.
“Những năm qua, chúng ta cũng đã đổ biết bao tiền của để bảo vệ rừng nhưng không hiệu quả. Lần này, cách tổ chức quản lý, sử dụng đồng tiền như trên liệu có kết quả như mong muốn? Từ trước tới nay, chúng ta để mất rừng là do cách làm không đúng. Nói rất nhiều người, nhiều lực lượng quản lý rừng nhưng thực ra không ai quản lý cả. Chúng ta không thể đem tiền thuế của dân đổ vô cho những bộ máy quản lý không có hiệu quả dẫn đến “tiền mất, tật mang” - PGS-TS Bảo Huy lo ngại. (Người Lao Động 21/9) đầu trang(
Ngày 19.9, UBND tỉnh tổ chức sơ kết 5 năm hoạt động Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV-PTR), 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trên địa bàn tỉnh.
Đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có đồng chí Hoàng Văn Vịnh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; đại diện lãnh đạo Quỹ BV-PTR T.Ư, các sở, ban, ngành, huyện, thành phố, các đơn vị sử dụng DVMTR…
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ, tỉnh ta có trên 275.129 ha rừng cung ứng dịch vụ với 4 chủ rừng thuộc tổ chức Nhà nước và hơn 1.500 chủ rừng cộng đồng dân cư thôn quản lý; có 46 dự án thủy điện vừa và nhỏ được cấp có thẩm quyền phê duyệt với tổng công suất trên 768 MW, 11 trung tâm sản xuất nước sinh hoạt có sử dụng DVMTR.
Trong đó, 22 nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động, công suất hàng năm khoảng 354 MW, mỗi năm đóng góp hơn 30 tỷ đồng cho công tác bảo vệ, phát triển rừng; 24 nhà máy, công suất dự kiến 418 MW đang và sẽ được triển khai xây dựng, khi đi vào hoạt động, mỗi năm sẽ đóng góp thêm 33 tỷ đồng cho công tác chi trả DVMTR. Mỗi năm nguồn thu từ các đơn vị sử dụng dịch vụ trên địa bàn tỉnh đạt bình quân 39 tỷ đồng, dự kiến sẽ tăng dần theo từng năm do có thêm các đơn vị sử dụng DVMTR đi vào hoạt động.
Tính từ năm 2013 đến nay, tổng số tiền được ủy thác chi về Quỹ gồm tiền chi trả DVMTR, trồng rừng thay thế và vốn ngân sách cấp ban đầu trên 173,4 tỷ đồng. Trong đó, riêng ủy thác chi trả DVMTR từ 3 công ty sản xuất thủy điện liên tỉnh, 15 công ty sản xuất thủy điện nội tỉnh, 11 trung tâm sản xuất nước sinh hoạt đạt trên 159 tỷ đồng. Tổng số tiền đã ủy nhiệm chi gần 132 tỷ đồng, trong đó tiền DVMTR trên 128,5 tỷ đồng.
Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR thời gian qua đã tác động tích cực đến công tác quản lý, BVR, đặc biệt tại các địa bàn, lưu vực có cung ứng DVMTR, góp phần làm giảm số vụ xâm phạm, phá hại rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép, diện tích rừng, độ che phủ và chất lượng rừng qua các năm được nâng lên.
Tuy nhiên, sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ một số hạn chế như: Có đơn vị sử dụng dịch vụ chậm trả tiền, nợ đọng kéo dài; một số huyện chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc triển khai nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả của chính sách.
Ngoài ra, nhiều diện tích có cung ứng DVMTR rừng nhỏ lẻ, trải dài, công tác giao đất gắn với giao rừng chưa đồng bộ nên chưa thực hiện chi trả DVMTR đến từng hộ dân, chủ yếu chi trả cho cộng đồng dân cư cùng BVR và hưởng lợi.
Phát biểu tại hội nghị, các đồng chí Nguyễn Minh Tiến, Hoàng Văn Vịnh nhấn mạnh: Chính sách chi trả DVMTR đã tác động tích cực đến nhận thức, hành động của cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân, góp phần thực hiện hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Qua giám sát về công tác trồng rừng, bảo vệ rừng của Thường trực và các ban HĐND tỉnh vừa qua cho thấy kết quả đạt được rất tích cực, trong số các nguyên nhân, có yếu tố quan trọng từ việc triển khai hiệu quả chính sách chi trả DVMTR. Tuy nhiên, công tác phối hợp thực hiện chi trả DVMTR có lúc, có nơi chưa thực sự hiệu quả, vì vậy thời gian tới cần làm tốt hơn, đặc biệt khi nghiệm thu phải có sự tham gia của đơn vị sử dụng dịch vụ; có giải pháp cụ thể trong tập huấn, nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho cán bộ chi trả; xác định chính xác chủ thể chi trả DVMTR, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị Quỹ BV-PTR phối hợp tốt với các cơ quan chức năng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR; có biện pháp cụ thể xử lý các đơn vị cố tình không thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền cho người cung ứng DVMTR… (Báo Hà Giang 19/9; Đảng Cộng Sản Việt Nam 20/9) đầu trang(
Sáng 20-9, Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú (Đồng Nai), đóng chân trên địa bàn huyện Định Quán đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện và UBND xã Gia Canh tổ chức hội nghị tuyên truyền chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2016 cho đông đảo người dân thuộc ấp 9, xã Gia Canh.
Hội nghị đã triển khai những nội dung cơ bản của Nghị định số 99/NĐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tại hội nghị, Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú đã tổ chức cho các hộ dân ký hợp đồng khoán bảo vệ rừng, thực hiện chi trả môi trường rừng. (Lao Động Đồng Nai 21/9) đầu trang(
Trồng rừng và bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn dân. Đây cũng là một trong những mục tiêu cơ bản, nhưng luôn vấp phải những khó khăn trở ngại mà các địa phương ít khi hoàn thành đúng chỉ tiêu kế hoạch được giao.
Do đó việc các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất, kinh doanh sang trồng rừng đang trở thành một xu thế mới đem lại hiệu quả rõ rệt và cả tiềm năng đầu tư. Vì vậy cần được khuyến khích và phát huy để góp phần đẩy nhanh tiến độ trồng rừng.
Chúng tôi về Hà Quảng - một trong những huyện có thể coi là trọng điểm trong công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng nhằm tăng nhanh tỷ lệ che phủ rừng và nâng cao tỷ lệ rừng sản xuất, phát huy hiệu quả kinh tế từ rừng. Theo đánh giá của UBND huyện Hà Quảng, tỷ lệ che phủ rừng đã đạt trên 50% nhưng chủ yếu là rừng tái sinh tự nhiên, rừng nghèo kiệt, với các loại dây leo, cỏ dại, gỗ tạp...
Bên cạnh đó, có một thực tế tồn tại là nhiều năm qua kết quả trồng rừng của huyện luôn đạt thấp. Theo Quyết định số 349 ngày 21/3/2016 của UBND tỉnh phê duyệt kết quả kiểm kê rừng năm 2015, Hà Quảng còn có gần 8.000 ha đất cần phải trồng rừng nằm rải rác trên khắp các xã... Một trong những khó khăn trong công tác trồng rừng là không có người đứng ra để tổ chức thực hiện. Còn hộ gia đình nông dân có đất nhưng ít có khả năng và điều kiện trồng rừng. Tình trạng đất đai phân tán, trồng rừng nhỏ lẻ ở đây chưa được nghiệm thu thanh lý nên người có khả năng tổ chức trồng rừng lại không có đất...
Những khó khăn của Hà Quảng bắt đầu được tháo gỡ kể từ khi có doanh nghiệp đầu tiên tham gia trồng rừng tại địa bàn huyện... Theo lãnh đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm huyện Hà Quảng đi thăm khu rừng do Doanh nghiệp Thành Phương đảm nhận từ 3 năm nay tại các xóm: Yên Luật, Cốc Gọ, Khuổi Pàng, thị trấn Xuân Hòa..., ấn tượng đầu tiên là con đường lâm sinh do doanh nghiệp tự mở len lỏi qua những sườn đồi, núi cao, bao quanh cả khu vực rộng lớn. Chỉ sau 3 năm thực hiện, con đường đã kéo dài đến gần chục cây số.
Ông Hoàng Văn Đạo, Giám đốc Doanh nghiệp Thành Phương cho biết: Muốn trồng rừng trước hết phải có đường đi để vận chuyển giống, cây con, phân bón. Đường còn là hành lang cho công tác bảo vệ, chăm sóc và khai thác... Một quy trình nghe thật đơn giản nhưng không dễ vượt qua, bởi riêng đầu tư mở đường cũng tốn kém vài tỷ đồng.
Bên cạnh đó còn bao nhiêu khoản chi phí thường xuyên cho nhân công từ khâu phát quang dọn bãi, giải phóng mặt bằng, đến ươm giống cây con, trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng... mỗi ngày bình quân 150 nghìn đồng/người, ít nhất phải kéo dài 3 năm, cho đến khi rừng khép tán hoàn toàn.
Để chủ động khép kín toàn bộ quy trình trồng rừng, doanh nghiệp còn đầu tư nhà ở, lán trại cho công nhân, xây dựng vườn ươm cây giống tại chỗ và cả nhà xưởng chế biến để bảo đảm tận thu và bao tiêu sản phẩm... Đó là cả một quá trình đòi hỏi doanh nghiệp phải tính toán, cân nhắc nguồn lực và huy động vốn đầu tư, trên cơ sở xác định chiến lược đầu tư lâu dài. Trong khi ngân sách hỗ trợ của Nhà nước cho mỗi ha trồng rừng chỉ có 3 triệu đồng, chiếm tỷ lệ khoảng 10% so với tổng chi phí tính theo định mức đơn giá thông thường.
Theo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hà Quảng Nông Văn Lang, mỗi ha rừng trồng chi phí tối thiểu từ 20 triệu đồng trở lên. Với kinh phí hỗ trợ 3 triệu đồng/ha từ nguồn ngân sách của Trung ương, trong thực tế không đủ để bù đắp chi phí cho việc trồng rừng, còn vốn hỗ trợ của ngân sách địa phương hầu như chưa có. Nên các hộ gia đình chưa đầu tư công sức trồng rừng.
Đó là nguyên nhân xảy ra tình trạng nhiều năm qua vốn trồng rừng của Trung ương không giải ngân hết vì không có khối lượng thanh toán. Nên xu thế doanh nghiệp chuyển sang đầu tư trồng rừng là vấn đề cần được các địa phương quan tâm, đặc biệt là đối với rừng sản xuất yêu cầu phải trồng tập trung và khả năng đầu tư dài hạn.
Nhìn lại kết quả trồng rừng của huyện Hà Quảng cho thấy: Năm 2013, cả huyện trồng 61,5 ha; năm 2014, 71,8 ha; năm 2015, 106,4 ha; năm 2016, kế hoạch giao 118,6 ha, đến nay vẫn chưa có nghiệm thu. Trong khi toàn huyện có gần 8.000 ha đất cần phải trồng rừng.
Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hà Quảng Lưu Trọng Hính cho biết: Với mức kinh phí hỗ trợ như hiện nay, việc trồng rừng chỉ trông chờ vào các hộ gia đình thì kết quả sẽ dừng ở mức độ “được chăng hay chớ”. Chỉ có doanh nghiệp tham gia đầu tư trồng rừng mới có thể tạo ra những “cú hích” lớn, hình thành rừng sản xuất tập trung chuyên canh. Do vậy, khi Doanh nghiệp Thành Phương đăng ký trồng rừng, huyện rất hoan nghênh và tạo mọi điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp thực hiện. Tuy nhiên, phương thức hỗ trợ chủ yếu bằng các biện pháp mang tính thủ tục hành chính, chứ chưa có cách nào để hỗ trợ thêm về vốn đầu tư.
Tiếp tục theo con đường nội vùng của khu rừng giao cho Doanh nghiệp Thành Phương, ô tô đi len lỏi nửa ngày vẫn chưa đến hết được các cánh rừng trải rộng gần trăm hecta trên địa bàn đồi đất dốc chia cắt thành các thung sâu... Nhìn những vạt cây keo 2 - 3 năm tuổi đang nhú những mầm xanh trên mặt đất xém nắng, một màu xanh tươi mới đang phủ dần, trải rộng vươn xa... đã đủ thấy công sức, mồ hôi và thành quả lao động của con người mang lại cho vùng đất này. (Báo Cao Bằng 21/9) đầu trang(
Ðây là kết quả thanh tra của Thanh tra tỉnh về việc thực hiện chính sách pháp luật trong công tác trồng, chăm sóc, giao khoán quản lý bảo vệ rừng phòng hộ thuộc Chương trình 5 triệu ha rừng, giai đoạn từ năm 2007 đến 2010, tại Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh.
Thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29.7.1998 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2007 đến năm 2010, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh (gọi tắt là BQL) đã thực hiện dự án trên cơ sở tiếp nhận dự án từ Lâm trường Sông Kôn; đồng thời lập và triển khai các kế hoạch, công trình mới của dự án, bao gồm: trồng, chăm sóc rừng trồng phòng hộ, giao khoán quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên và hỗ trợ rừng trồng sản xuất.
Kết quả thanh tra thực tế của Thanh tra tỉnh mới đây cho thấy, trong thời gian trên, về công tác trồng mới rừng phòng hộ, BQL đã thực hiện được 14 công trình với tổng diện tích gần 450,5 ha (gồm gần 447 ha rừng trồng và 3,54 ha đường ranh cản lửa), đạt 60% so với kế hoạch đề ra. Trong diện tích trồng mới nói trên, có gần 252 ha do BQL làm chủ đầu tư, ký hợp đồng giao khoán hộ gia đình trồng và hưởng lợi theo Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, và trên 195 ha được BQL giao khoán nhiệm vụ cho các tổ bảo vệ rừng.
Với kết quả trên, theo kết luận của Thanh tra tỉnh, BQL chưa thực hiện kỹ công tác khảo sát, thiết kế mới trồng rừng phòng hộ nên không trồng hết diện tích đất rừng theo thiết kế đã được phê duyệt. Điển hình, theo thiết kế, năm 2009, BQL sẽ trồng mới 127,6 ha rừng tại xã Vĩnh Kim nhưng thực tế chỉ trồng được 38,8 ha, đạt tỉ lệ trên 30%. Năm 2010, kế hoạch trồng mới là 82,64 ha tại xã Vĩnh Sơn nhưng thực tế chỉ trồng được gần 36 ha, đạt trên 43,3% kế hoạch.
Ngoài ra, cũng theo Thanh tra tỉnh, việc BQL triển khai ký hợp đồng giao khoán cho các hộ nhận khoán và các tổ quản lý rừng trước khi thiết kế, dự toán được Sở NN&PTNT phê duyệt là chưa đúng trình tự thủ tục về mặt thời gian. Chẳng hạn như ngày 1.7.2009, BQL ký hợp đồng giao khoán và trồng rừng phòng hộ với ông Đinh Sỹ (làng L6, Vĩnh Kim) nhưng đến ngày 24.8.2009 Sở NN&PTNT mới có quyết định (số 2077/QĐ-SNN) phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán trồng và chăm sóc rừng phòng hộ quy trình.
Đến cuối năm 2015, diện tích đất thuộc BQL quản lý bị người dân lấn chiếm, phát nương rẫy là 162,7 ha; trong đó, có trên 159 ha bị người dân địa phương lấn chiếm vào thời điểm trước năm 2007 (BQL nhận bàn giao diện tích này từ Lâm trường Sông Kôn); và 3,6 ha rừng phòng hộ bị người dân tỉnh Gia Lai phát làm nương rẫy trong các năm 2014-2015.
BQL đã kiến nghị với UBND huyện Vĩnh Thạnh chủ trì, cùng với các chủ rừng khác báo cáo với UBND tỉnh có biện pháp giải quyết dứt điểm nạn lấn chiếm rừng, đồng thời xin chủ trương thành lập Tổ quản lý bảo vệ rừng Tây Nam Vĩnh Thạnh nhằm kịp thời ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng.
Với kết quả thanh tra, Thanh tra tỉnh kiến nghị, yêu cầu BQL kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với những khuyết điểm, tồn tại nêu trên, nhằm chấn chỉnh và đưa công tác trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn; tăng cường công tác khảo sát thiết kế trồng mới rừng phòng hộ sát với thực tế để khi thực hiện đảm bảo đúng thiết kế được duyệt; tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân, nhất là các hộ nhận khoán về chính sách trồng, quản lý và bảo vệ rừng để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, đồng thời hạn chế tình trạng chặt phá rừng trên địa bàn huyện.
Ngày 9.9.2016, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Châu đã ký Quyết định số 3206/QĐ-UBND xử lý kết luận thanh tra, yêu cầu Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Thạnh, BQL rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh và các đơn vị, cá nhân liên quan thực hiện nghiêm túc kiến nghị kết luận của Thanh tra tỉnh. (Báo Bình Định 20/9) đầu trang(
Theo Sở NN &PTNT, kế hoạch trồng rừng năm 2016 của tỉnh đã được điều chỉnh từ 8.000 ha xuống còn 7.170 ha, giảm 830 ha. Các chủ rừng và dự án đang đẩy nhanh tiến độ trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng theo kế hoạch.
Theo đó, tính đến ngày 15/9, toàn tỉnh trồng được 7.772 ha rừng tập trung, đạt 108,4% kế hoạch, tăng 231 ha so với kỳ báo cáo trước. Các địa phương có diện tích trồng rừng lớn là huyện Kim Bôi đã trồng 1.800 ha, Lạc Sơn 1.015 ha, Đà Bắc 913 ha, Lạc Thủy 890 ha, Lương Sơn 817 ha, Tân Lạc 580 ha, Kỳ Sơn 520 ha…
Song song với trồng mới, các huyện, thành phố và lực lượng kiểm lâm tăng cường bảo vệ rừng, phối hợp với các đơn vị hữu quan bám sát địa bàn, hạn chế vi phạm lâm luật. (Báo Hòa Bình 21/9) đầu trang(
Nếu nhường chỗ cho dự án thủy điện với công suất 4MW, hơn 28ha đất lâm nghiệp trong Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (gọi tắt là KBT), xã Xuân Nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, sẽ biến mất. Đáng chú ý, 16,9ha rừng đặc dụng cũng có nguy cơ bị xóa sổ.
Hệ lụy tiếp theo là đời sống của người dân bị xáo trộn, những thảm họa thiên nhiên sẽ ập tới…
Dù chưa khởi công xây dựng, nhưng dự án thủy điện Xuân Nha đang tạo ra một cơn sóng ngầm từ vùng lõi KBT Xuân Nha. Nhiều người dân ăn không ngon, ngủ không yên khi mường tượng một ngày, thủy điện sẽ nuốt chửng, xóa sổ đến từng khoảnh rừng, ruộng lúa, nương ngô…
Theo Quyết định chủ trương đầu tư Dự án thủy điện Xuân Nha số 749/QĐ-UBND tỉnh Sơn La ban hành ngày 30/3/2016, chủ đầu tư xây dựng công trình thủy điện Xuân Nha là Cty CP Xây dựng và Dịch vụ Kỹ thuật Thăng Long (Cty Thăng Long), trụ sở chính đặt tại quận Hà Đông, TP Hà Nội. Theo thiết kế, công suất của dự án là 4MW với vốn đầu tư hơn 140 tỷ đồng, diện tích mặt đất xây dựng là 28,36ha.
Khi biết thông tin một công trình thủy điện nhỏ sắp được xây dựng trên địa bàn vào thời gian tới, rất nhiều người dân bản Chiềng Nưa, bản Thín, bản Chiềng Hin (xã Xuân Nha) cho biết, họ cảm thấy bất an bởi nhiều nguy cơ đã hiển hiện.
Ông Hà Văn Khắc, bản Chiềng Nưa cùng nhiều hộ dân khác đã họp bàn và có những kiến nghị gửi đến chủ đầu. Người dân cho rằng nếu xây dựng thủy điện trên đầu nguồn nước tưới tiêu cho đồng ruộng là vô cùng bất hợp lý.
Theo đó, việc làm thủy điện sẽ ảnh hưởng đến điều tiết nước. Khi mưa lũ xảy ra, đất đá, cát của công trình sẽ trôi xuống làm tắc hai con kênh dẫn nước. Cũng trong mùa mưa lũ, khi thủy điện xả lũ, nguy cơ ngập trắng cả vùng hạ lưu là điều khó tránh khỏi.
Trên thực địa, nơi dự kiến xây dựng thủy điện nằm trên con suối Nậm Quanh, thuộc vùng phục hồi sinh thái của KBT Xuân Nha (giáp ranh với vùng bảo vệ nghiêm ngặt). Phía dưới công trình thủy điện là một cánh đồng lúa SX hai vụ của người dân, diện tích khoảng 50ha. Xung quanh ruộng lúa là nơi sinh sống của hàng trăm đồng bào Thái, Mường. Đứng từ trên nhìn xuống, khu vực này chẳng khác gì một miếng “mồi” ngon ăn của thủy điện, có thể nuốt chửng bất cứ khi nào.
Ông Bùi Văn Suồi (70 tuổi), người dân bản Chiềng Nưa bức xúc nói: “Tôi là người phản đối kịch liệt nhất việc làm thủy điện, bởi không riêng gì tôi mà rất nhiều bà con ở bản này đều rất lo lắng, thủy điện sẽ gây sạt lở đất, đá xuống ruộng lúa, nương ngô, sắn”.
Được biết, từ đầu năm đến nay, chủ đầu tư và chính quyền đã nhiều lần giải quyết những kiến nghị của người dân cũng như tham vấn về xây dựng công trình thủy điện. Tuy nhiên, chỉ có một bản cam kết giữa chủ đầu tư và nhân dân về đền bù và khắc phục hậu quả do thủy điện gây ra trong tương lai.
Ngoài những lo lắng của bà con về ruộng lúa, nương ngô thì hàng chục người dân bản Thín (cùng xã Xuân Nha) ăn ngủ không yên bởi thủy điện chặn dòng nước suối Nậm Quanh sẽ làm cho cá, tôm và hệ sinh thái thủy sản bị phá vỡ. Nguồn thức ăn chính ngoài tự nhiên sẽ không còn.
Ngoài nguồn cá tự nhiên quý hiếm như cá chày, cá dầm xanh, việc nuôi trồng thủy sản của người dân cũng sẽ biến mất. Không những vậy, các chất thải, dầu thải từ công trình sẽ tràn xuống suối gây ô nhiễm môi trường. Người dân bản Thín không tránh khỏi bệnh tật nếu tiếp tục sử dụng nước suối để sinh hoạt. Trước nguy cơ đó, ông Hà Văn Hùng cùng đại diện một số hộ dân bản Thín đã có những kiến nghị bằng văn bản đến UBND huyện Vân Hồ.
Bà Hà Thị Đường, người dân bản Thín buồn rầu bảo, việc đánh bắt cá ở suối Nậm Quanh là kế sinh nhai của bao người sẽ ra sao khi con suối bị chặn dòng, những loài cá quý hiếm đang sinh sống ở các vũng nước sâu dưới con thác trên suối sẽ biến mất. Có thể ảnh hưởng đến cả sinh kế, văn hóa nơi đây, điều đó ai chịu trách nhiệm?
Theo người dân ở đây, khu vực dự kiến xây dựng thủy điện được cho là “mỏ” cá của vùng. Đã hàng chục năm nay, cứ khi mùa lũ đến là bà con lại kéo nhau vào suối bắt cá nhưng không tận diệt. Họ góp sức bảo vệ các loài cá quý cho chúng sinh nở, rồi đánh bắt một phần làm thức ăn.
Anh Đinh Văn Chấn, người dân bản Chiềng Hin chia sẻ, anh rất buồn khi biết tin xây dựng thủy điện ở bản mình. “Làm thủy điện mất nhiều rừng và đất, sợ thủy điện đến đất đai bị mất, sợ nước ngập ảnh hưởng đến chỗ lấy củi, mình không cho làm nhưng họ vẫn cố tình làm”.
Trao đổi với PV, ông Hà Văn Quang, Chủ tịch UBND xã Xuân Nha cho biết: “Quan điểm của xã là nếu thủy điện không mang lại lợi ích gì cho bà con, ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của địa phương, đặc biệt là ruộng lúa, đất rừng, nguồn nước thì chúng tôi không nhất trí”. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/9) đầu trang(
Năm 2013, tỉnh có quyết định phê duyệt Đề án xây dựng Cánh rừng mẫu lớn với diện tích 459,06ha, tại xã Quy Kỳ (Định Hóa) do UBND tỉnh làm chủ đầu tư, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa thực hiện.
Đề án được kỳ vọng sẽ góp phần đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong thâm canh rừng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, kết hợp sản xuất nông - lâm nghiệp và du lịch sinh thái, tạo thêm việc làm cho người dân. Thế nhưng đến nay, vẫn chưa có dự án thành phần nào trong Đề án được thực hiện. Trong khi một số hộ dân sinh sống ở nơi đây đang thiếu đất lâm nghiệp, mong muốn được Nhà nước giao đất, giao rừng để phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.
TrNgày 19-9-2013, UBND tỉnh có Quyết định số 1841/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án Cánh rừng mẫu lớn, xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa giai đoạn 2013-2020. Đề án gồm có 4 dự án thành phần; trong đó, xác định các loại cây trồng rừng bản địa là: Giổi xanh, Lim xanh, Chò chỉ, Trám trắng, Dẻ, Sấu... thâm canh rừng trồng sản xuất lựa chọn các loại cây: Keo, Mỡ, Bạch đàn, Sa mộc...; lâm sản phụ trồng dưới tán rừng như: Sả, Sa nhân, Ba kích, Mây nếp, Gừng, Đinh Lăng, Giảo cổ lam...
Đến ngày 21-8-2015, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2115/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh Đề án Đề án Cánh rừng mẫu lớn, tất cả 4 dự án thành phần đều được điều chỉnh trồng 1 loại cây quế với mật độ 5.000 cây/ha để phục vụ nhà máy chiết xuất tinh dầu. Dự kiến sau 5 năm, doanh nghiệp có thể tỉa thưa cành, lá để phục vụ nhà máy chiết xuất các sản phẩm từ quế, sau 15 năm, tổng thu nhập từ cây quế ước đạt khoảng 500 triệu đồng/ha.
Bước đầu triển khai thực hiện Đề án, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đã tổ chức 2 buổi hội nghị tuyên truyền để bà con nhân dân 3 xóm: Đăng Mò, Khuổi Tát và Khuân Câm, xã Quy Kỳ nắm được chủ trương, chính sách và những nội dung thực hiện Đề án.
Đã có 2 doanh nghiệp là Công ty cổ phần Đầu tư - phát triển rừng Việt Bắc (trụ sở tại phường Phan Đình Phùng, T.P Thái Nguyên) và Công TNHH Vũ Hoa (đóng chân trên địa bàn thị trấn Chợ Chu, Định Hóa) xin chủ trương thực hiện đầu tư 3 dự án với quy mô 308,19ha, còn 1 dự án với quy mô 151,58ha chưa có đơn vị nào thực hiện. Và hiện mới chỉ có Công ty Đầu tư phát triển rừng Việt Bắc xây dựng Dự án ứng dụng khoa học kỹ thuật trồng quế được UBND tỉnh phê duyệt; còn Công ty TNHH Vũ Hoa vẫn chưa xây dựng dự án thành phần trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Trong quá trình triển khai thực hiện Đề án, một số hộ dân trong vùng bị ảnh hưởng mong muốn được giao đất sản xuất để ổn định đời sống. Ngoài ra, việc thực hiện thuê khoán theo hợp đồng giữa các hộ dân ở các xóm Khuân Câm, Đăng Mò và Khuổi Tát, xã Quy Kỳ với Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đến nay chưa hết hạn và chưa thanh lý hợp đồng.
Hiện, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa mới tổ chức khai thác, thanh lý hợp đồng được trên 60ha. Còn khoảng trên 45ha chưa đến tuổi khai thác, người dân lo lắng nếu chuyển giao cho doanh nghiệp quản lý thì sẽ bị mất quyền lợi; đồng thời, lại phải làm thuê cho doanh nghiệp. Vì thế, đến nay, Đề án vẫn chưa thực hiện xong công tác giải phóng mặt bằng để bàn giao cho doanh nghiệp.
Ông Hoàng Văn Thụ, ở xóm Khuân Câm cho biết: Năm 2006, gia đình tôi nhận trồng 7ha rừng giao khoán với lâm trường Định Hóa (nay là Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa). Sau khi sản phẩm được khai thác, trừ các chi phí, chúng tôi được hưởng 70%, còn Ban được hưởng 30%. Bà con chúng tôi rất vui vẻ và không quản ngại khó khăn, vất vả ngày đêm lăn lộn trên rừng chăm sóc, phát cỏ cho cây nhanh lớn để cho thu hoạch.
Đáng nhẽ đến năm 2013 là chúng tôi được khai thác rừng nhưng không hiểu vì lý do gì đến tận năm 2016 bà con chúng tôi mới được khai thác, mất gần nửa thời gian trồng rừng của chu kỳ mới. Nhận được thông tin Nhà nước đầu tư xây dựng cánh rừng mẫu lớn, bà con rất phấn khởi. Nhưng chúng tôi cũng có mong muốn được tỉnh giao đất, giao rừng để cùng thực hiện với doanh nghiệp.
Còn ông Hoàng Văn Học, một hộ dân ở cùng xóm băn khoăn: Nhà tôi cũng nhận giao khoán trồng rừng với diện tích 12ha. Năm 2016, Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa đề nghị chúng tôi phải khai thác ồ ạt hết để bàn giao lại đất. Gắn bó với khu rừng nhiều năm, chúng tôi rất muốn được cấp đất để đầu tư trồng rừng, cải thiện đời sống. Còn trồng cây gì thì theo chủ trương của Đảng, Nhà nước chứ chúng tôi không dám làm sai.
Không chỉ riêng ông Thụ, ông Hoạch, trên địa bàn xã Quy Kỳ hiện còn có gần 50 hộ dân nằm trong vùng dự án đã làm đơn kiến nghị các cấp xin được giao đất, giao rừng. Trong số đó, có 23 hộ đã được giao đất với diện tích trên 5ha làm đơn với lý do đề nghị được cấp thêm nếu có, 10 hộ đã được giao với diện tích nhỏ hơn 5ha muốn xin thêm để cho các con chưa tách hộ, còn 17 hộ không được giao đất, giao rừng mong muốn được cấp đất để tập trung sản xuất.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Minh Hà, Trưởng Ban quản lý rừng ATK Định Hóa cho biết: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến Đề án chậm tiến độ. Trong đó có cả nguyên nhân về phía người dân chưa đồng thuận thực hiện. Cụ thể, theo hợp đồng giao khoán giữa Ban và người dân thì sau khi khai thac, trừ các chi phí, bà con sẽ được hưởng 70%, còn Ban hưởng 30%, nhưng hiện nay người dân lại không đồng ý, đòi hưởng cả 100% và làm đơn đề nghị lên các cấp chính quyền.
Điều này dẫn tới việc không thống nhất trong việc khai thác sản phẩm để bàn giao mặt bằng cho doanh nghiệp. Còn đối với khoảng 45ha rừng hiện chưa đến tuổi khai thác, chúng tôi đã trồng từ năm 2010, đến đầu năm 2017 là có thể khai thác hết và thanh lý hợp đồng với người dân. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ nhanh chóng bàn giao diện tích đất đã giải phóng mặt bằng cho các doanh nghiệp.
Còn ông Nông Xuân Bắc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp - PTNT thì cho biết: Để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án, chúng tôi đã có buổi làm việc gồm có Chi cục Kiểm lâm tỉnh, đại diện Sở Tài nguyên - Môi trường, lãnh đạo huyện Định Hóa, xã Quy Kỳ và 2 doanh nghiệp.
Đại diện các sở, ngành, đơn vị liên quan cũng đã đưa ra nhiều giải pháp để xem xét nguyện vọng của người dân. Về vấn đề cấp đất cho 17 hộ dân vùng dự án, chúng tôi đã đề nghị UBND huyện Định Hóa tiến hành điều tra, thống kê, kiểm đếm và đề xuất phương án giao đất cho các hộ này. Đồng thời, làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu và đồng thuận trong việc thực hiện Đề án.
Qua sự việc trên có thể thấy, trong quá trình thực hiện Đề án, cấp ủy, chính quyền địa phương đã chưa quan tâm đến công tác tuyên truyền để người dân hiểu và nắm rõ chủ trương để đồng thuận thực hiện. Bên cạnh đó, các sở, ngành liên quan và cấp chính quyền cũng cần quan tâm sâu sát hơn đến cơ sở, đời sống bà con vùng dự án, nắm được tâm tư, nguyện vọng để đưa ra những giải pháp hợp tình, hợp lý, đảm bảo ổn định cuộc sống của người dân. Nhất là đối với bà con dân tộc sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn với tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới gần 40% như xã Quy Kỳ. (Báo Thái Nguyêb 19/9) đầu trang(
Xung quanh vụ việc 28 hộ dân hộ dân nhận khoán trồng rừng tại hai xã Ea Tam và Cư Klông, huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk từ nhiều năm nay đội đơn đến các cơ quan chức năng địa phương và Trung ương khiếu nại, khiếu kiện để đòi quyền lợi chính đáng của người trồng rừng.
Mới đây, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định giải quyết đơn khiếu nại đối với những cá nhân có gửi đơn đến chính quyền tỉnh. Không đồng ý với nội dung Quyết định giải quyết của UBND tỉnh Đăk Lắk, ông Vũ Đình Chiều (SN 1961), ở thôn Tam Hà, xã Cư K lông, huyện K rông Năng đã viết đơn gửi Toà án Nhân dân tỉnh Đắk Lăk khởi kiện UBND tỉnh Đăk Lắk.
Còn ông Phan Khắc Văn (SN 1962) và một số người trồng rừng huyện K rông Năng viết đơn gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường phản ánh việc UBND tỉnh Đăk Lắk thu hồi đất rừng có nhiều khuất tất, xâm hại đến quyền lợi người trồng rừng, gây ảnh hưởng đời sống người dân.
Báo Tài nguyên và Môi trường điện tử ngày 4/8/2016 đã có loạt bài “Khốn đốn vì trồng rừng”; ngày 5/8/2016 có bài “Rừng trồng, mạnh ai nấy đốn”, phản ánh: Hàng trăm hécta rừng được người dân trên địa bàn huyện Krông Năng, Đắk Lắk đầu tư sức người, sức của cùng Nhà nước phủ xanh đất trống, đồi trọc. Rừng lên xanh tốt, nhưng bỗng nhiên UBND tỉnh thu hồi giao cho công ty tư nhân quản lý. Người trồng rừng hụt hẫng vì những tâm huyết của mình với rừng bấy lâu không được ghi nhận; quyền lợi bỗng dưng bị hớt khỏi tay.
Hệ lụy là, từ năm 2008 đến nay, trên diện tích rừng trồng do Ban quản lý Dự án (BQLDA) rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng đang quản lý đã xảy ra tranh chấp hơn 418 ha rừng trồng, giữa 28 hộ dân nhận khoán tại hai xã Ea Tam và Cư Klông huyện Krông Năng với Công ty Cổ phần trồng rừng Trường thành (Cty Trường Thành).
Hệ luỵ đang xảy ra, trên diện tích 418ha rừng trồng mà 28 hộ dân trực tiếp trồng, chăm sóc, bảo vệ đã bị UBND tỉnh Đắk Lắk thu hồi của BQLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Cty Trường Thành thuê đã và đang bị cả Cty Trường Thành và người dân đua nhau khai thác. Hàng trăm hécta rừng trồng đã bị đốn trắng, nguy cơ đất trống đồi núi trọc vẫn hoàn trọc vì chưa biết ai sẽ trồng lại rừng do những tranh chấp vẫn không được giải quyết dứt điểm.
Ông Vũ Đình Chiều khiếu nại việc UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định 2572/QĐ-UBND, ngày 3/10/2008 về việc thu hồi 568,43 ha đất của Ban QLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng để giao cho Công ty Cổ phần trồng rừng Trường Thành thuê và trồng rừng nguyên liệu, trong đó có phần diện tích đất ông Chiều nhận khoán với Ban QLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình. Ông Chiều đề nghị UBND tỉnh xem xét, thu hồi và huỷ bỏ Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3/10/2008 của UBND tỉnh.
Tuy nhiên, ngày 15/8/2016, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định 2384/QĐ- UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Vũ Đình Chiều: Giữ nguyên Quyết định số 2572/QĐ-UBND, ngày 3/10/2008 của UBND tỉnh về việc thu hồi 568,43ha đất của Ban QLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng. UBND tỉnh cũng nêu rõ: Nếu không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại này, ông Vũ Đình Chiều có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án Nhân dân hoặc khiếu nại đến Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Không đồng ý với cách giải quyết của UBND tỉnh Đắk Lắk, quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng, ngày 19/8/2016, gia đình ông Vũ Đình Chiều quyết định gửi đơn khởi kiện UBND tỉnh Đắk Lắk ra Toà án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Ông Chiều cho rằng, không chỉ Quyết định số 2572/QĐ-UBND của UBND tỉnh về việc thu hồi 568,43ha đất của Ban QLDA rừng phòng hộ đầu nguồn Krông Năng làm điêu đứng cho người trồng trừng mà nay thêm Quyết định 2384/QĐ-UBND lại gây bất lợi cho 28 hộ dân trồng rừng trên địa bàn huyện Krông Năng: Việc thu hồi đất của các hộ dân có nhiều uẩn khúc, mục đích thu hồi đất nhầm sang lý do thu hồi; nội dung Quyết định 2572/QĐ-UBND không hề có từ nào là thu hồi rừng trồng; Các quyết định thu hồi của UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ nêu thu hồi đất, không hề thu hồi rừng, nhưng tại Quyết định 1638/QĐ-UBND, ngày 4/8/2008 thì UBND tỉnh lại “phê duyệt giá trị rừng trồng” (?!).
Những điều vô lý trong công tác quản lý rừng đã khiến dư luận đặt ra câu hỏi: Vì lý do gì mà chính quyền tỉnh Đăk Lắc đã quá “ưu ái” cho doanh nghiệp, chưa thanh lý khế ước đối với người dân mà đã giao rừng cho đối tượng khác? Để rồi dẫn đến hệ luỵ: Đề án trồng rừng trở thành… “Công ty đốn rừng” (?!).
Ông Phan Khắc Văn bức xúc: Chúng tôi gửi đơn đến Bộ Tài nguyên và Môi trường để phản ánh những nội dung mà chính quyền địa phương giải quyết có nhiều nội dung không đúng với quy định của pháp luật, thậm chí vi phạm pháp luật. Cụ thể, dân khiếu kiện từ năm 2009, nhưng trong nhiều năm qua UBND tỉnh không giải quyết; Đến 15/8/2016 UBND tỉnh ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại hoàn toàn trái với Thông tư số 07/2013/TT- TTCP ngày 31/10/2013 quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.
Điều đáng nói là, người dân khiếu nại đòi quyền lợi về rừng theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Chính phủ, nhưng trong các bản Quyết định giải quyết khiếu nại, UBND tỉnh không hề viện dẫn căn cứ bất kỳ một văn bản quy phạm pháp luật nào về lĩnh vực lâm nghiệp.
Thực trạng hiện nay cả doanh nghiệp và người dân cùng đua nhau đốn rừng; những tranh chấp về quản lý rừng trồng và khai thác rừng đã xảy ra tình trạng mất an ninh trật tự địa bàn. Thiết nghĩ, UBND tỉnh Đắk Lắk cần nghiên cứu, giải quyết, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người dân theo tinh thần đã cam kết trong bản khế ước giao khoán trồng rừng giữa cơ quan chuyên môn và người dân. (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/9) đầu trang(
Sau hơn 2 tháng thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh, số liệu thống kê về diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng bị mua bán, chuyển nhượng trái phép dù đã có nhưng chưa đầy đủ; và việc xử lý ra sao vẫn đang là một câu hỏi lớn...
Thực hiện Công văn 5037 của UBND tỉnh và nhiệm vụ của Sở NN&PTNT giao, từ cuối tháng 7/2016, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm phối hợp với các phòng ban của các huyện, thành thị tiến hành rà soát, thống kê diện tích đất lâm nghiệp, đất rừng bị chuyển nhượng trái phép. Trên cơ sở đó, ngày 1/9/2016, Chi cục Kiểm lâm có Công văn số 663/CCKL-SDR báo cáo Sở NN&PTNT về kết quả thực hiện.
Việc mua bán, chuyển nhượng trái phép được xác định chủ yếu tập trung ở các huyện Quế Phong, Quỳ Châu... Với việc sử dụng trái mục đích, tập trung ở huyện Nghĩa Đàn. Và trong 13 huyện, thị đã thực hiện rà soát và báo cáo kết quả thì 4 huyện Nam Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp và TX. Cửa Lò không xảy ra tình trạng mua bán, chuyển nhượng trái pháp luật và sử dụng sai mục đích đất lâm nghiệp, đất rừng.
Tuy vậy, những kết quả nêu trên (đã báo cáo lên UBND tỉnh) được xác định chỉ là những số liệu rà soát ban đầu, chưa đảm bảo chính xác. Theo đại diện của Chi cục Kiểm lâm, lý do là bởi công tác rà soát gặp rất nhiều khó khăn; những hộ gia đình thực hiện chuyển nhượng và đối tượng nhận chuyển nhượng không tự giác khai báo; kể cả khi bị lực lượng chức năng kiểm tra cũng tìm cách né tránh, không hợp tác, hoặc biện minh việc chuyển nhượng chui bằng việc thuê đất, hợp tác làm kinh tế, thậm chí “cầm cố”...
Thực tế cho thấy số liệu rà soát của một số địa phương mà Chi cục Kiểm Lâm tập hợp được có độ “vênh” với những số liệu của các cơ quan khác.
Ví dụ, ở 2 huyện Nam Đàn, Tân Kỳ, Chi cục Kiểm lâm xác định không xảy ra tình trạng mua bán, chuyển nhượng trái pháp luật,nhưng theo tài liệu Sở TN&MT tập hợp cho thấy có vấn nạn này. Cụ thể, ở huyện Tân Kỳ có 36 trường hợp chuyển nhượng đất rừng sản xuất được giao theo Nghị định 163; còn tại huyện Nam Đàn, có 76 trường hợp chuyển nhượng đất rừng sản xuất được nhà nước giao sổ lâm bạ và các giấy tờ khác...
Bên cạnh đó, với các huyện như Tương Dương, Quỳ Hợp, dù tại Công văn 5037 của tỉnh có nêu là xảy ra tình trạng mua bán chuyển nhượng trái phép nhưng cho đến thời điểm hiện tại các địa phương này vẫn chưa xác định được xảy ra ở khu vực nào...
Theo lý giải của Sở NN&PTNT, tình trạng đất rừng, đất lâm nghiệp bị mua bán, chuyển nhượng trái phép và sử dụng đất sai mục đích chủ yếu là vi phạm trong lĩnh vực đất đai; không có mua bán chuyển nhượng, sử dụng rừng trái phép. Trong khi thẩm quyền của Sở NN&PTNT chỉ xử lý hoặc tham mưu xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực mua bán, khai thác và chuyển nhượng rừng trái phép.
Vì vậy, tại Công văn số 2299/SNN.KL ngày 14/9, Sở NN&PTNT kiến nghị UBND tỉnh giao Sở TN&MT tham mưu tỉnh xử lý tình trạng mua bán, chuyển nhượng đất trái phép và sử dụng sai mục đích đất lâm nghiệp; đồng thời tiếp tục chỉ đạo các địa phương có rừng thực hiện rà soát, thống kê toàn bộ diện tích rừng, đất lâm nghiệp đã được giao đất, cho thuê đất, khoán đất; giao rừng, cho thuê rừng, khoán rừng mua bán chuyển nhượng và sử dụng sai mục đích.
Bên cạnh đó, đề nghị UBND tỉnh giao các địa phương có rừng xem xét tạm ngừng việc giao rừng, cho thuê rừng tự nhiên cho các hộ gia đình và cá nhân; và việc mua bán, chuyển nhượng rừng, đất lâm nghiệp để tập trung rà soát xử lý các trường hợp vi phạm.
Trong khi đó, với Sở TN&MT thì đã xác định việc chuyển nhượng đất rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh thời gian có nhiều điểm chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Đó là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp vượt quá hạn mức đối với hộ gia đình theo quy định của Luật Đất đai; sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nhận chuyển nhượng đất rừng tự nhiên không đúng quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng; sử dụng sai mục đích sau khi nhận chuyển nhượng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Sử dụng đất không phù hợp quy hoạch vào các mục đích sản xuất, kinh doanh, thương mại dịch vụ, khai thác khoáng sản...
Nhưng tại Công văn số 4641/STNMT-QLĐĐ ngày 26/8/2016 gửi các huyện, thành, thị, Sở TN&MT cũng chưa đưa ra được các chế tài xử lý; mà chỉ đề nghị tập trung cho công tác tuyên truyền các quy định của pháp luật; tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với rừng và đất lâm nghiệp; thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của UBND tỉnh tại Công văn 5037; có các biện pháp ngăn chặn, xử lý các trường hợp mua bán, chuyển nhượng đất rừng, đất lâm nghiệp trái phép; hoặc đối với các trường hợp có dấu hiệu vi phạm hình sự thì chuyển hồ sơ cho cơ quan cảnh sát điều tra để xử lý theo quy định...
Trong khi đó, với các địa phương có đất rừng, đất lâm nghiệp thì rất cần sự chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ngành và của tỉnh để xử lý những vụ việc mua bán, chuyển nhượng trái phép và sử dụng sai mục đích đất lâm nghiệp, đất rừng.
Như huyện Quế Phong, đã xác định được có 184 hộ chuyển nhượng trái phép trên 1.859 ha đất lâm nghiệp, đất rừng nhưng chưa thể xử lý giải quyết. Từ tháng 5/2016 đến nay, UBND huyện Quế Phong không dưới hai lần có văn bản gửi UBND tỉnh cùng các sở để xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn nhưng chưa được hồi đáp (mới chỉ có ý kiến mang tính chất tham khảo của Sở Tư pháp).
Cùng đặt ra câu hỏi, đâu là bộ giải pháp để xử lý, giải quyết có hiệu quả vấn nạn vi phạm pháp luật trong mua bán, chuyển nhượng và sử dụng đất lâm nghiệp, đất rừng? Theo đại diện lãnh đạo của hai Sở TN&MT, NN&PTNT, trước mắt, hai sở sẽ tiếp tục cùng các huyện thành, thị tập trung thực hiện các nội dung UBND tỉnh đã chỉ đạo tại Công văn 5037.
Bên cạnh đó, sẽ đề nghị UBND tỉnh triệu tập một cuộc họp với sự tham dự của các sở ngành liên quan và các địa phương có rừng để đề ra các giải pháp, nhất là các chế tài xử lý vi phạm.
Để xử lý việc mua bán, chuyển nhượng đất lâm nghiệp, đất rừng, ngày 28/6/2016, Sở Tư pháp đã có Công văn số 784/STP-XDVB gửi UBND huyện Quế Phong. Tại đây, Sở Tư pháp phân tích rõ quy định của Luật Đất đai và Luật Bảo vệ và phát triển rừng, khẳng định việc tự ý chuyển nhượng đất lâm nghiệp là không phù hợp với quy định của pháp luật; đề nghị UBND huyện Quế Phong yêu cầu các hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng thực hiện việc trả lại đất theo quyết định giao đất cho cơ quan có thẩm quyền. (Báo Nghệ An 20/9) đầu trang(
Từ đầu tháng 9.2016 đến nay, giá gỗ nguyên liệu keo, bạch đàn trên địa bàn tỉnh liên tục tăng, hiện đang ở mức 1.220 - 1.250 ngàn đồng/tấn; tăng 100 - 150 ngàn đồng/tấn so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân làm giá gỗ nguyên liệu giấy tăng là do nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu dăm gỗ sang Trung Quốc khá thuận lợi, đẩy giá lên cao.
Ngày 20.9, ông Cái Minh Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh, cho biết: Với giá gỗ nói trên, bình quân 1 ha rừng trồng từ 5 - 7 năm, người trồng rừng có thu nhập hơn 130 triệu đồng, sau khi trừ chi phí lãi ròng hơn 30 triệu đồng. (Báo Bình Định 20/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo Daily Mail, sự việc hy hữu này xảy ra cách đây khoảng 1 tuần tại khu du lịch thác Bousra (huyện Pech Chreada, phía đông tỉnh Mondulkiri, Campuchia).
Cụ thể, khi người quản tượng Pop Sreang (55 tuổi) bước vào nơi ở của đàn voi và dẫn một con voi đực ra để chuẩn bị chở khách du lịch đi thăm quan, thì bất ngờ con voi này tỏ ra bất tuân lệnh chủ. Nó nhìn chằm chằm vào mắt ông Sreang và nhất quyết không cho ông leo lên lưng.
Khi ông Sreang tìm cách lên được lưng voi, con vật bỗng lồng lên, hất ông Sreang lên không trung, húc ông bằng cặp ngà của mình rồi giẫm đạp lên ông khiến ông tử vong tại chỗ.
Cảnh tượng này diễn ra ngay trước mắt đoàn khách du lịch. Những người xung quanh tìm cách can ngăn con vật hung dữ nhưng không thành và buộc phải bỏ chạy để bảo toàn tính mạng.
Ngay sau đó, con voi đực chạy một mạch vào rừng để đuổi theo một con voi cái. Kiểm lâm địa phương vội đuổi theo con voi này nhưng chỉ được một quãng thì mất dấu. Vì hiện đang là mùa giao phối của voi nên dường như con voi đực này đã mất bình tĩnh khi nhìn thấy bạn tình.
Hiện cơ quan chức năng đang truy tìm tung tích con voi này. Nếu tìm thấy, họ sẽ dùng tên tẩm thuốc mê để hạ gục. Dân làng và khách du lịch cũng được cảnh báo tránh xa khu vực nơi có thể xuất hiện con voi hung dữ. (Tiền Phong 21/9) đầu trang(./.
|
|||