|
Ngày 20 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Tỉnh Thái Nguyên hiện có gần 180.000 ha rừng, trong đó có trên 80.000 ha rừng tự nhiên, trên 90.000 ha rừng trồng. Để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và đối phó với tình hình cháy rừng có thể xảy ra, tỉnh Thái Nguyên đã chủ động triển khai nhiều phương án.
Theo phương châm “4 tại chỗ”, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã xác định rõ các vùng rừng trọng điểm cần đặc biệt quan tâm và chỉ đạo lực lượng kiểm lâm các huyện bố trí lực lượng canh phòng chốt chặn 24/24 tại các chốt, trạm kiểm lâm, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng; nghiêm cấm các hành vi sử dụng lửa, chất nổ, chất dễ cháy ở ven rừng, trong rừng.
Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm cơ động và PCCCR cũng thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các xã, thị trấn triển khai các biện pháp PCCCR; chú trọng tới việc rà soát những vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng; tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo cơ sở và các chủ rừng trên địa bàn; đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình để trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng nhằm tạo thêm công ăn việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, từ đó người dân có trách nhiệm bảo vệ rừng, PCCCR tốt hơn.
Hiện nay vẫn đang là giai đoạn cao điểm của mùa nắng nóng, do đó nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn. Vì vậy, bên cạnh sự vào cuộc tích cực của cơ quan chức năng, cấp ủy, chính quyền địa phương thì mỗi người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, PCCR, nhất là những người dân sống ở khu vực ven rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thái Nguyên 19/9) đầu trang(
Chiều 19-9, cơ quan CSĐT Công an Đà Nẵng cho biết, đã tiếp nhận hồ sơ vụ án khai thác lâm sản trái phép tại rừng đặc dụng Sơn Trà do Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng đã khởi tố trước đó để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Qua phản ánh của nhân dân, UBND TP Đà Nẵng chỉ đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm TP và các cơ quan chức năng lập đoàn kiểm liên ngành kiểm tra tiểu khu 63, thuộc rừng đặc dụng Sơn Trà, xác định có 13 cây gỗ (đường kính từ 40-87cm) bị chặt, cắt khúc lấy gỗ với khối lượng gần 30m³.
Trong đó, có một số cây gỗ bị triệt hạ nằm trong phạm vi đất rừng đặc dụng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà.
Lực lượng liên ngành làm rõ, ông Phạm Hùng Mạnh - đại diện một nhóm hộ nhận trồng rừng đã sử dụng sai mục đích trên một phần diện tích đất được giao khoán là tự ý hợp đồng liên doanh với Công ty TNHHMTV Trường Mai để xây dựng cơ sở hạ tầng trên đất lâm nghiệp kinh doanh ăn uống và du lịch sinh thái.
Lợi dụng việc này, ông Phạm Trường Mai, Giám đốc Công ty Trường Mai đã sử dụng một số công nhân chặt hạ cây rừng để cưa xẻ và sử dụng. (Công An Nhân Dân 20/9; Pháp Luật + 20/9) đầu trang(
Huyện Cư M’Gar (Đăk Lăk) đã đầu tư 200 triệu đồng lắp đặt 20 camera ở 9 xã và một thị trấn.
Những camera này sẽ ghi hình ảnh ở những khu vực được bố trí, sau đó truyền hình ảnh về 4 màn hình lớn lắp đặt ở Huyện ủy, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm, Công an huyện, để các đơn vị quản lý theo dõi và giám sát.
Ông Võ Văn Tụ, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện CưM’Gar cho biết: Hơn một tháng đưa vào sử dụng, hệ thống camera được xem như “mắt thần” giúp Hạt Kiểm lâm phát hiện và bắt được 3 vụ vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn.(Nông Nghiệp Việt Nam 20/9) đầu trang(
Tỉnh Kiên Giang có gần 200 km bờ biển là cũng ngần ấy chiều dài của rừng phòng hộ. Thời gian qua, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, xâm thực biển, đã làm cho nhiều khu vực bờ biển tại đây bị xói lở nghiêm trọng. Rừng phòng hộ hao mòn và mất đi đã đe dọa trực tiếp tới đời sống, sinh hoạt của người dân khu vực ven biển.
An Biên, An Minh là hai huyện của tỉnh Kiên Giang đã tận dụng và khai thác khá tốt nguồn tài nguyên rừng phòng hộ. Toàn diện tích rừng phòng hộ của hai huyện này có hơn 4.000 ha. Trong đó, đai rừng phụ, chủ yếu là cây đước có diện tích gần 3.000 ha, đã giao khoán cho gần 900 hộ dân.
Người dân cho biết, với diện tích đất rừng được giao khoán họ áp dụng các mô hình nuôi trồng thủy sản dưới tán rừng như: cua biển, sò huyết…, nhờ lợi nhuận thu nhập từ nguồn kinh tế này nhiều hộ thoát nghèo vươn lên khá, giàu. Tuy nhiên, thời gian gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, xâm thực biển, đã cuốn trôi đi diện tích lớn rừng phòng hộ, nhiều nơi đất bị sạt lở đến tận chân đê quốc phòng.
Tại ấp Cây Gõ, xã Vân Khánh Tây, huyện An Minh, trước kia nơi đây nổi tiếng với mặt hàng cua biển. Cua được người dân thả nuôi bên dưới tán rừng. Nhưng giờ đây nhiều khu vực trở nên hoang phế. Rừng chìm xuống biển, đất đai bị cuôn trôi. Hàng chục hộ dân phải nhiều lần di chuyển nhà cửa vào sâu bên trong, thậm chí có gia đình phải tha hương vì không còn đất để sinh sống, nuôi trồng.
Ông Nguyễn Văn Hùng cho biết, gia đình ông đã định canh định cư tại đây trên ba mươi năm. Trước nghèo khó. Sau được nhận khoán đất rừng, nuôi trồng thủy sản, cuộc sống dần ổn định. Nhưng thời gian qua, bãi thì lở, đất thì mất, gia đình ông không dám nuôi trồng, cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn.
Theo người dân, chỉ trong một thời gian ngắn mà tình trạng xâm thực biển ở khu vực này đã cuốn trôi hàng trăm héc-ta diện tích nuôi trồng thủy sản của bà con. Ông Nguyễn Văn Thắng, ngụ ấp Cây Gõ, xã Vân Khánh Tây, huyện An Minh nói: “Tình trạng sạt lở ngày một nghiêm trọng hơn, giờ nước đã ăn sâu tới chân con đê quốc phòng rồi! Người dân rất mong nhà nước đầu tư để đắp lại con đê, hoặc có giải pháp nào để ngăn chặn tình trạng này, người dân mới yên tâm làm ăn, sản xuất”.
Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại ấp Mười Biển, xã Thuận Hòa, huyện An Minh. Sóng biển mỗi ngày liếm sâu vào đất rừng. Vùng sạt lở có nơi ăn sâu từ vài trăm mét đến gần 1.000 m. Sạt lở nghiêm trọng cũng đồng nghĩa với cảnh hàng chục hộ dân bỗng nhiên mất đất, hàng trăm hộ dân phải bỏ nhà cửa di dời đến chỗ an toàn. Nếu tình hình vẫn tiếp diễn thì nguồn hải sản đặc trưng của vùng bãi bồi Miệt Thư là cua biển và sò huyết bị sụt giảm nghiêm trọng.
Còn tại huyện Kiên Lương, từ hai đến ba năm trở lại đây, nước biển thường xuyên dâng cao, kết hợp với gió lớn tạo nên nhiều đợt sóng vỗ thẳng vào bờ gây xói lở nghiêm trọng. Bị xói lở nhiều nhất là khu vực thuộc hai xã Dương Hòa và Bình An. Nhiều nơi bờ biển bị xâm thực sâu đến hàng chục mét, có chỗ bị xói lở vào tận mép đường giao thông nông thôn. Một số khu vực sóng đánh trơ rễ nhiều cây to và tạo thành những hàm ếch khoét sâu dưới chân đường, tiềm ẩn nguy cơ sạt lở bất cứ lúc nào.
Ngoài ảnh hưởng đến những công trình giao thông nông thôn, một số điểm sạt lở sóng biển xâm lấn đánh sạt móng, nứt tường nhà dân bên bờ. Để bảo vệ cho nhà cửa của mình, người dân phải tự cứu bằng cách đầu tư xây kè bảo vệ vòng ngoài. Bà Trần Mỹ Hương, ấp Hòn Heo, xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương chỉ vào căn nhà nói: “Nhà xuống cấp quá rồi, song nước ngày càng lớn. Mùa Nam này sóng đánh lên tới nhà, gây sạt lở. Lo sợ nhà sập, dù hoàn cảnh đang khó khăn tôi vẫn phải cương quyết sửa lại nhà, xây dựng cái kè này xong, mới yên tâm”.
Ông Ong Văn Lình, Phó Chủ tịch UBND xã Dương Hòa, huyện Kiên Lương cho biết, địa phương đã có báo cáo tình hình lên cơ quan chức năng huyện và tỉnh. Mới đây, một đoàn khảo sát do Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì đã xuống khảo sát toàn bộ các khu vực bị xói lở của huyện Kiên Lương, hy vọng sẽ sớm có giải pháp khắc phục, bảo vệ an toàn bờ biển, ổn định đời sống, sinh hoạt của người dân.
Ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cho biết: Hiện nay, các dự án chống xói lở, xâm nhập mặn đã được phê duyệt, nhưng cái khó là chưa có vốn để thực hiện, vì tỉnh Kiên Giang trước mắt cần đến 2.700 tỷ đồng.
“Trước thực trạng khẩn cấp, tỉnh Kiên Giang đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương sớm quan tâm bố trí vốn xây dựng hệ thống đê biển vững chắc cũng như hệ thống kè chống sạt lở ở khu vực rừng phòng hộ để gây bồi tạo bãi, bảo đảm sinh kế cho người dân và bảo đảm đê quốc phòng” - ông Nguyễn Văn Tâm kiến nghị. (Nhân Dân 19/9) đầu trang(
Rừng nguyên sinh thuộc xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) có tuổi thọ hàng trăm năm, hiện nay đang bị tàn phá nghiêm trọng bởi lâm tặc khai thác gỗ. Liệu một số cán bộ Kiểm lâm và Bảo vệ rừng nơi đây có cố tình làm ngơ, tiếp tay cho lâm tặc tàn phá tan hoang?
Thời gian qua, những người dân tại địa phương đã nhiều lần phản ánh gay gắt lên các cơ quan chức năng nhằm ngăn chặn hiện tượng chặt phá rừng một cách bừa bãi. Thế nhưng, đến nay không có một cơ quan chức năng nào vào cuộc giải quyết dứt điểm. Trong khi đó rừng nguyên sinh khu vực xã Trường Sơn vẫn đang bị tàn phá ngày một nghiêm trọng.
Nhận được phản ánh, trong vai lâm tặc, phóng viên đã có mặt tại địa bàn xã Trường Sơn, để tìm hiểu về vụ việc.
Để vào được khu vực này quả không đơn giản. Có hai con đường “độc đạo” để đi đến xã miền núi này, đó là đường bộ và đường sông. Hai bên vách núi dựng đứng, chỉ cần có người lạ mặt vào địa bàn xã, tức thì bọn “lâm tặc” đều biết hết.
Dọc hai con đường sông và đường bộ đều có các trạm, chốt của các lực lượng Kiểm lâm, Bảo vệ rừng, Bộ đội Biên phòng và UBND xã Trường Sơn. Từ điểm đầu con đường thuộc Thị trấn Nông trường Việt Trung (Bố Trạch) đến xã Trường Sơn dài khoảng 50km có khoảng gần 10 chốt trạm kiểm soát của các lực lượng chức năng thường trực ngày đêm để ngăn chặn lâm tặc.
Nắm bắt tình hình và địa bàn, phóng viên đã chọn Bản Sắt, con đường mới làm vào bản kéo dài khoảng 7km trèo lên, vòng qua từng triền núi cheo leo hiểm trở. Đối diện đầu con đường đi vào có Tổ chốt Bảo vệ rừng C6 thuộc Lâm trường Trường Sơn chốt chặn. Đi vào khoảng 5km có một chốt kiểm tra của UBND xã dựng lên cũng nhằm để kiểm tra lâm tặc phá rừng.
Trên đường vào, rất nhiều ánh mắt theo dõi PV của những người hai bên đường và cả các trạm chốt tại đây. Chỉ cần lâm tặc phát hiện ra thì rất có thể sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Khi vào đến nơi, chúng tôi hỏi và làm quen được một gia đình trong bản, vờ đi mua rễ cây đưa về miền xuôi bán, lúc này người dân mới tiếp chuyện.
Ông Hoàng Văn S dân tộc Vân Kiều cho biết: Nếu mua rễ cây, các con phải ra làm luật cái đã, vì nhiều đợt trước có ông Ngọc vào mua chở rất nhiều ô tô rễ, làm luật thì họ mới cho đi hết. Ở đây nó (lâm tặc - PV) chặt gỗ rừng về nhiều lắm nhưng làm luật ở ngoài đó mới cho đi. Còn dân ở đây hễ đi chặt cây gỗ về là đều bị bắt, phải đi làm gỗ về bán cho lâm tặc mới không bị bắt.
Trò chuyện một lúc, chia tay với dân bản, chúng tôi tiếp tục đi vào rừng nơi có dấu vết tàn phá của lâm tặc.
Vừa bước chân vào cửa rừng khoảng chừng 1 km, trước mắt một cảnh tượng tan hoang, nhiều cây cổ thụ bị đốn hạ lấy gỗ, một khoảng rừng bị đốt cháy trụi. Tiếng máy cưa xẻ gỗ vang rền cả một khoảng, cây đổ ầm ầm như muốn xé tan cả khu rừng.
Đi sâu vào rừng, con đường đầy những vết hằn sâu vào đất đá của những tấm gỗ, khúc gỗ được bọn lâm tặc cho vận chuyển ra bằng, gùi, vác và sử dụng loại trâu kéo, khi kéo gỗ, dấu vết được để lại rất rõ ràng.
Những cây gỗ Lim, Táu, Huỵnh vv... có tuổi thọ hàng trăm năm, nhiều cây lớn phải 3 người ôm mới hết. Những cây gỗ quý này đều bị lâm tặc đốn hạ.
Đứng trước cây gỗ Huỵnh bị đốn hạ, có chiều cao 50m và chiều rộng 3,5m chúng tôi không khỏi xót xa. Khi đốn hạ, rơi xuống, thân cây và tán lá cũng làm hư hại hàng trăm cây nhỏ khác mọc xung quanh nó.
Càng đi sâu vào trong rừng, càng thấy mức độ tàn phá rừng khủng khiếp của bọn lâm tặc. Vừa phá rừng, lâm tặc vừa làm công tác “cảnh giới” bảo vệ cho các đối tượng, nếu có người lạ vào rừng tất cả đều dừng ngay hoạt động cưa xẻ và lẩn trốn.
Vào sâu khoảng 3 km là một bãi trống với những cây gỗ bị đốn xuống đang được cưa xẻ để biến thành phẩm chờ vận chuyển. Có người lạ, nhóm lâm tặc này bỏ đi ngay khỏi hiện trường. Xung quanh khoảng 5 cây gỗ gồm Táu, Huỵnh nằm ngổn ngang.
Một người dân địa phương thốt lên rằng: Nếu các chú đi sâu hơn nữa vào sâu trong rừng thì mới thấy mức độ tàn phá kinh khủng hơn nữa. Phải gọi là “đại công trường” xẻ gỗ của bọn lâm tặc. Dân chúng tôi nhiều lần phản ánh, nhưng lực lượng bảo vệ rừng, đặc biệt là Kiểm lâm ở đây đều làm ngơ cho lâm tặc.
Ra khỏi rừng, ngoảnh lại nhìn lần cuối, chúng tôi vẫn còn nghe văng vẳng bên tai tiếng “gào thét”, “khóc than” và “cầu cứu” thảm thiết của rừng. Nhưng cây cổ thụ vẫn tiếp tục bị đốn hạ không thương tiếc, cánh rừng nơi này sẽ bị tàn phá tan hoang từng ngày, từng ngày. (Trí Thức Và Phát Triển 19/9) đầu trang(
Ngày 19-9, UBND tỉnh Đắk Nông đã khen thưởng đột xuất cho lực lượng Công an tỉnh và Công an huyện Đắk Mil vì đã có thành tích xuất sắc trong việc triệt phá thành công băng nhóm tội phạm nguy hiểm hoạt động theo kiểu “xã hội đen” và hành vi chặt phá, hủy hoại rừng.
Thực hiện chuyên án triệt phá băng nhóm tội phạm trên, Công an tỉnh Đắk Nông và Công an huyện Đắk Mil đã điều tra, truy bắt thành công đối tượng cầm đầu băng nhóm tội phạm nguy hiểm do đối tượng Đinh Hồng Phong, 40 tuổi, thường gọi là Phong “cướp”, trú tại xã Diễn Hạnh, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An cầm đầu. Thời gian qua, băng nhóm do Phong “cướp” cùng đồng bọn đã có nhiều hành vi vi phạm pháp luật như: Cưỡng đoạt tài sản, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, buôn bán trái phép chất ma tuý, hủy hoại rừng…
Bằng các biện pháp nghiệp vụ, ngày 3-9-2016, cán bộ, chiến sĩ Ban Chuyên án đã bắt quả tang Đinh Hồng Phong đang có hành vi tàng trữ chất ma tuý, trên người Phong còn mang theo một khẩu súng K59 và 7 viên đạn. Cùng ngày, các chiến sĩ công an cũng bắt quả tang 8 đối tượng là đàn em của Phong đang có hành vi phá rừng tại khu vực rừng do Công ty TNHH MTV Đức Hòa, huyện Đắk Song quản lý.
Theo Công an tỉnh Đắk Nông, đây là băng nhóm tội phạm nguy hiểm, thường xuyên có hành động liều lĩnh nhằm thực hiện các hành vi đòi nợ thuê, mua bán trái phép chất ma tuý và cưỡng đoạt tài sản trên địa bàn huyện Đắk Mil. Hiện Công an tỉnh Đắk Nông đã bắt được 12 đối tượng trong băng nhóm này. (Quân Đội Nhân Dân 19/9, Tin Tức 20/9) đầu trang(
Công an huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng vừa ra quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam 5 đối tượng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
5 đối tượng bị bắt giữ gồm K’Gioan, K’Broi, K’Đãi, Đằng Năng Khóa và K’Bổ đều trú thôn 4, xã Tam Bố, huyện Di Linh.
Trong đó K’Gioan có vai trò chỉ huy cầm đầu trong vụ án.
Theo điều tra, các đối tượng bị lực lượng bảo vệ rừng của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tam Hiệp, Di Linh bắt quả tang và thu giữ 4 hộp gỗ sao khai thác trái phép.
Tối đến cả 5 đối tượng đến trụ sở công ty đe dọa ép lực lượng bảo vệ trả lại gỗ. Trước sự hung hăng, manh động của các đối tượng, lực lượng Ban quản lý rừng phải đóng cửa trụ sở, cố thủ ở bên trong. Không thực hiện được ý đồ ban đầu, 5 đối tượng đã lấy một khúc gỗ của công ty rồi bỏ trốn. (ANTV 19/9) đầu trang(
Bí thư Huyện ủy Tây Giang Bhriu Liếc tâm sự: "Có hẳn một rừng cây di sản Việt Nam, cán bộ và nhân dân Tây Giang vinh dự lắm, nhưng câu hỏi đặt ra cùng với sự trăn trở, làm sao phải giữ được rừng mãi mãi...Và, không có cách nào hiệu quả hơn là giao rừng cho chính người dân địa phương nơi có rừng quản lý".
Không phải đến khi rừng Pơ mu ở Tây Giang được công nhận là Cây Di sản của Việt Nam, chính quyền và người dân địa phương mới tính đến chuyện bảo vệ, gìn giữ. Trước đây, rừng Pơ mu được xem là khu rừng thần linh, huyền bí bất khả xâm phạm nhưng đến khi có những dấu hiệu vài cây bị một số đối tượng xấu chặt phá thì việc làm sao bảo vệ tuyệt đối rừng cây quý giá này càng đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết.
Đặc biệt, khi rừng Pơ mu đã có "giấy khai sinh", người Tây Giang luôn đau đáu phải làm sao giữ cho rừng cây này trường tồn mãi mãi...Và cuối cùng, huyện đã có một quyết định táo bạo là thành lập hẳn một làng mới giữa lõi rừng pơ mu, đưa người dân vào giữa rừng để giữ rừng. Có thể nói đây là cách làm đầy sáng tạo của chính quyền và nhân dân Tây Giang, tôi dám chắc là cả nước chưa có địa phương nào làm như thế.
Bằng nguồn kinh phí địa phương, huyện đã đầu tư mở ngay một con đường 8km vào đến nơi lập làng, thay vì phải đi bộ gần 8 giờ như trước kia. Quần thể pơ mu nằm trên địa phận 2 xã Trhy và Axan, huyện cho xây dựng 10 ngôi nhà theo phong cách nhà truyền thống của người Cơ Tu, có một nhà Gươnl là nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Đồng thời Tổ công tác bảo vệ rừng di sản được thành lập, với 28 thành viên đều là người dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng mới lập gia đình của các thôn 2 xã Trhy và Axan, được đưa vào cư trú tại ngôi làng giữa rừng pơ mu này. Từ nay đến hết năm 2016, làng sẽ có hẳn một Chi bộ Đảng, có đầy đủ các đoàn thể, hội như phụ nữ, thanh niên và một trường mẫu giáo...
Trò chuyện với chúng tôi, Già làng Pơloong Đưm ở thôn A Rầng 1, A Xan có con cháu tham gia Tổ bảo vệ, phấn khởi cho biết: "Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước, bà con Cơ Tu không chặt phá rừng mà bảo vệ nghiêm ngặt. Bây giờ cây pơ mu là báu vật của làng mình, nên quyết tâm giữ gìn cho con cháu mai sau...". Chỉ có người dân mới hiểu rừng, mới thuộc rừng và bảo vệ rừng hữu hiệu nhất, vì rừng đã nuôi sống họ, đã gắn bó với họ từ ngàn đời nay rồi. Tây Giang đã từng nổi tiếng bởi câu nói đầy khẩu khí, đầy trách nhiệm của ông Bhriu Liếc, khi còn làm Chủ tịch UBND huyện: "Còn rừng là còn Tây Giang".
Tây Giang bây giờ tự hào vì còn tới hơn 70% diện tích rừng nguyên sinh bao phủ, một con số có lẽ chỉ có Tây Giang là địa phương duy nhất trên cả nước có được kết quả ấy. Ông Nguyễn Hoàng Linh, Phó Chủ tịch UBND H. Tây Giang cho tôi xem kết quả công tác quản lý, bảo vệ rừng từ năm 2009 đến nay. Những con số khô khan, những cách làm tưởng chừng đơn giản nhưng nói lên được nhiều điều. Nào là, huyện đã thành lập và duy trì được 73 tổ quản lý bảo vệ rừng tại 73 thôn bản trên toàn huyện. Đã giao khoán cố định cho 244 nhóm hộ dân với 3.622 hộ, trên diện tích hơn 43.000 ha rừng nguyên sinh để bảo vệ, quản lý.
UBND huyện đã chỉ đạo ngành chức năng điều tra, kiểm đếm cơ bản giai đoạn đầu với số lượng hơn 350 cây lim xanh, 1366 cây pơ mu tại các khu rừng nguyên sinh, đây là những cây có khối lượng lớn, giá trị cao, được xếp vào nhóm cây bảo tồn di sản...Trên toàn địa bàn huyện, nhân dân đã giao nộp gần như 100% số cưa lốc máy, được UBND các xã quản lý chặt chẽ. Khi người dân cần sử dụng thì phải có đơn được UBND xã xác nhận mới xuất kho sử dụng, chỉ cần phát hiện một trường hợp nào sử dụng cưa lốc máy không có giấy phép, sẽ bị xử lý nghiêm.
Trong Chương trình 167 và chương trình Xây dựng Nông thôn mới, toàn huyện có 805 hộ dân được hưởng lợi và đã khai thác hơn 4.000m3 gỗ để làm nhà ở, làm nhà Gươnl, nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa...
UBND huyện đã làm sẵn một mẫu đơn, phát về các thôn bản, khi các hộ gia đình, các thôn bản được phép khai thác gỗ, trong đơn phải ghi rõ nội dung sử dụng gỗ, thời gian địa điểm khai thác...để UBND xã cấp giấy phép sử dụng cưa lốc máy và theo dõi, kiểm tra chặt chẽ, tránh trường hợp khai thác gỗ rừng tự nhiên trái phép...
Với những cách làm "phá cách" như đã kể, trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng ở Tây Giang được chuyến biến đáng kể. Công tác tuyên truyền được thực hiện đồng bộ từ xã đến thôn; Tình trạng phá rừng già, rừng đầu nguồn làm rẫy được hạn chế, công tác PCCC được đảm bảo, quản lý và xử lý kịp thời tình trạng mua bán, vận chuyển, khai thác lâm sản trái phép.
Đặc biệt ý thức của người dân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng rất cao. Cùng với công tác quy hoạch đồng bộ các thôn bản dân cư, phát triển các mô hình kinh tế như mở rộng diện tích cây lúa nước, trồng cao su, cây dược liệu, chăn nuôi có hiệu quả, đời sống người dân ngày càng đảm bảo, rừng tây Giang ngày càng được bảo tồn và phát triển bền vững.
Từ khi xảy ra vụ phá rừng pơ mu ở Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều cuộc họp khẩn, bàn về công tác quản lý, bảo vệ rừng trong tình hình hiện nay. Đã có những ý kiến đưa ra, cùng với công tác quản lý của nhà nước, nên đưa người dân vào vị trí là những người "chủ rừng" đầu tiên. Những cách làm của Tây Giang đáng để các địa phương tham khảo và học tập. (Công An TP.Đà Nẵng 17/9) đầu trang(
Nhóm các nghệ sĩ thuộc nhiều lĩnh vực: hội họa, phim ảnh, âm nhạc… ở Hà Nội đề xuất thay vì sở hữu sừng tê, để thể hiện đẳng cấp, hãy hưởng thụ tác phẩm nghệ thuật.
Sừng tê giác ngoài một tác dụng tương truyền nào đó đến sức khỏe dường như còn là một biểu tượng cho sự giàu sang, nhà “có điều kiện”. Việc sừng tê là thuốc quý hay thuốc thường hay cũng chỉ như móng tay, dành cho các nhà khoa học phân tích. Nhóm các nghệ sĩ thuộc nhiều lĩnh vực: hội họa, phim ảnh, âm nhạc… ở Hà Nội đề xuất thay vì sở hữu sừng tê, để thể hiện đẳng cấp, hãy hưởng thụ tác phẩm nghệ thuật.
Năm ngoái, nhân ngày Tê giác thế giới (22/9), người ta nghĩ ra một hoạt động: mọi người cắt móng tay vào một cái sừng tê giác mô phỏng. Nhiều cái sừng tê đựng móng tay sẽ được ghép lại thành hình con tê giác nhằm nói lên sừng tê và móng tay/chân của con người cùng chất cấu tạo là keratin.
“Sừng tê giác không còn có tên trong Dược điển Việt Nam từ 2012”, chị Nguyễn Thị Tuyết Trinh thuộc TRAFFIC (Mạng lưới Giám sát Buôn bán Động vật Hoang dã) Việt Nam cho hay. “Không có chứng minh khoa học nào về công dụng đặc biệt của sừng tê giác, trừ một nghiên cứu năm 1993 ở Đài Loan kết luận sừng tê giác có tác dụng giảm sốt- không khác aspirin hay paracetamon”. TRAFFIC đã ký thỏa thuận hợp tác 5 năm với Cục Y Dược để làm các nghiên cứu sâu sắc về thói quen sử dụng sừng tê trong đông y ở Việt Nam.
Nhưng một gram sừng tê hiện có giá khoảng 6.000 USD. Bây giờ bảo họ quẳng cục keratin đắt đỏ đó đi cũng khó. Vậy nên dự án Nghệ thuật thể hiện đẳng cấp (Art & Your Social Status) đã cho những người đang “loay hoay” trong việc thể hiện đẳng cấp một số gợi ý. Thuộc dự án này, triển lãm nghệ thuật Trọng lực diễn ra từ 19h ngày 22/9 đến 21h ngày 24/9 tại Trung tâm Văn hóa Phố Cổ - 50 Đào Duy Từ, Hà Nội. Các tác phẩm trong triển lãm đều được mang ra đấu giá. Tiền thu được 30% dành cho các quỹ bảo vệ tê giác.
Đáng chú ý trong số tranh mang ra đấu giá có cả của Lê Quảng Hà. Họa sĩ tên tuổi này ai cũng biết có kênh bán hàng độc quyền riêng. Nhưng vì ý nghĩa của dự án, anh đã “xin phép” kênh độc quyền để đóng góp một số tác phẩm dành riêng cho việc… đổi sừng tê giác. Tranh của anh tại triển lãm có giá khởi điểm từ 4.000-12.000USD.
Tranh Lê Quảng Hà nằm trong bộ sưu tập của bảo tàng Mỹ thuật Singapore, bảo tàng Nghệ thuật châu Á Fukuoka (Nhật Bản). Loạt tranh mới của Phan Cẩm Thượng chủ đề nhân duyên dùng màu tự nhiên trên chất liệu giấy dó cũng xuất hiện lần đầu tại triển lãm. Bên cạnh đó là tác phẩm của các họa sĩ trẻ: Nguyễn Hữu Sử, Triệu Minh Hải, Nguyễn Đức Hạnh, Nguyễn Đình Duy Quyền… Giấy mời tham dự đấu giá chủ yếu gửi tới các doanh nhân...
Tham gia dự án này, việc đầu tiên của các nghệ sĩ là ký cam kết không sử dụng cũng như tiếp tay cho việc buôn bán sừng tê giác.
Trong khuôn khổ dự án Nghệ thuật thể hiện đẳng cấp, một buổi chiếu tập hợp các phim ngắn về môi trường thuộc chương trình WildFest 2015 diễn ra cùng địa điểm vào 19h tối 23/9. Đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp sẽ giao lưu với khán giả sau buổi chiếu. Trong phim ngắn Ai còn sống giơ tay lên của chị, hai nhân vật trong phim Đậu Đỏ và Đậu Xanh duy trì sự sống bằng việc đánh cắp thực phẩm của quá khứ.
Cỗ máy thời gian đó cũng là cánh cổng để Cá Ngựa- cô gái còn sống sót trong tương lai quay lại hiện tại của gia đình Đậu để cầu cứu. Sự thật kinh hoàng được hé lộ. Ba cô gái đứng trước quyết định sinh tử. Một món nợ cần phải trả ngay, nếu không loài người sẽ hoàn toàn biến mất trong tương lai…
Chuyện phim là thế, trong thực tế, loài tê giác sắp tuyệt diệt. Năm 2007, 13 cá thể tê giác Nam Phi bỏ mạng vì nạn săn trộm. Năm ngoái khoảng 1.200 con bị giết. Tức là trong chưa đầy mười năm, số lượng tê giác bị giết để lấy sừng tăng 9000%.
Tối 24/9 sau khi kết quả đấu giá tranh được công bố, một buổi hòa nhạc do trung tâm Đom Đóm phụ trách nhạc sẽ diễn ra... (Tiền Phong 20/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
Theo đó, liên quan đến hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và khuyến lâm, Điều 5, Quyết định quy định:
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch là rừng sản xuất được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước, mức hỗ trợ cụ thể như sau: a) Trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi), cây đa mục đích, cây bản địa, mức hỗ trợ 8 triệu đồng/ha; trồng các loài cây sản xuất gỗ nhỏ (khai thác trước 10 năm tuổi) và cây phân tán (quy đổi 1.000 cây/ha), mức hỗ trợ 5 triệu đồng/ha. b) Trồng rừng sản xuất tại các xã biên giới, các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và các tỉnh vùng Tây Nguyên được hỗ trợ thêm 2 triệu đồng/ha ngoài mức hỗ trợ quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.
2. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng khảo nghiệm (giống mới, trên vùng đất mới) theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ vốn bằng 60% giá thành trồng rừng được duyệt. Mỗi mô hình trồng rừng khảo nghiệm được hỗ trợ không quá 2ha.
3. Hỗ trợ chi phí cho công tác khuyến lâm: 500.000 đồng/ha/4 năm (1 năm trồng và 3 năm chăm sóc).
4. Hỗ trợ một lần chi phí khảo sát, thiết kế, ký kết hợp đồng trồng rừng: 300.000 đồng/ha.
5. Hỗ trợ một lần cấp chứng chỉ rừng bền vững cho các doanh nghiệp, cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình: 70% chi phí, tối đa không quá 300.000 đồng/ha quy mô tối thiểu 100ha trở lên (cho rừng tự nhiên, rừng trồng).
6. Hình thức hỗ trợ: Hỗ trợ sau đầu tư và hỗ trợ đầu tư.
7. Điều kiện nhận hỗ trợ: a) Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng phải có đất quy hoạch trồng rừng sản xuất được cấp có thẩm quyền giao hoặc được thuê và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã sử dụng đất ổn định trong vòng 3 năm trở lên không có tranh chấp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác, đất trồng rừng sản xuất phải được giao khoán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng ổn định lâu dài (tối thiểu một chu kỳ). b) Nguồn giống trồng rừng (hạt giống, trái giống hoặc cây giống) phải có xuất xứ từ cơ sở sản xuất giống đã được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận về nguồn giống theo quy định.
Quyết định có hiệu lực thi hành từ 1-11-2016. (Công An Nhân Dân 19/9) đầu trang(
Loại rừng được hỗ trợ khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, gồm: Diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển được nhà nước giao cho BQL rừng đặc dụng, BQL rừng phòng hộ, Cty lâm nghiệp quản lý; diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã, phường, thị trấn quản lý...
Loại rừng được hỗ trợ khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, gồm: Diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển được nhà nước giao cho BQL rừng đặc dụng, BQL rừng phòng hộ, Cty lâm nghiệp quản lý; diện tích rừng phòng hộ, đặc dụng ven biển chưa giao, chưa cho thuê do UBND xã, phường, thị trấn quản lý.
Đối tượng được hỗ trợ: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống ổn định tại các xã ven biển thực hiện bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng ven biển theo hợp đồng khoán.
Điều kiện được hỗ trợ: Là các loại rừng được hỗ trợ khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên; có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất rừng ven biển của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hợp đồng khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng ven biển của BQL rừng đặc dụng, BQLrừng phòng hộ, Cty lâm nghiệp hoặc UBND cấp xã; có cam kết bảo vệ rừng với Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ, Công ty lâm nghiệp hoặc UBND xã theo quy định; được bên giao khoán nghiệm thu kết quả bảo vệ rừng.
Phương thức khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên rừng ven biển thực hiện thông qua hợp đồng khoán theo quy định hiện hành. Bên giao khoán là BQL rừng phòng hộ, BQL rừng đặc dụng, Cty lâm nghiệp, UBND cấp xã. Bên nhận khoán là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống ổn định tại các xã có rừng ven biển.
Hàng năm, bên giao khoán có trách nhiệm ký kết hợp đồng khoán, nghiệm thu, đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng đối với bên nhận khoán theo quy định. Kết quả nghiệm thu hàng năm là căn cứ để bên giao khoán thanh toán, quyết toán kinh phí. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/9) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc - Phja Đén (Nguyên Bình) có tổng diện tích rừng và đất rừng 10.593,5 ha, độ che phủ rừng 85%, nằm trên địa bàn thị trấn Tĩnh Túc và các xã: Thành Công, Phan Thanh, Quang Thành, Hưng Đạo, với cảnh quan thiên nhiên đẹp, có nhiều động, thực vật quý hiếm.
Khu rừng là đầu nguồn của một số sông, như: sông Hiến, sông Thể Dục, sông Năng..., có tác dụng to lớn trong việc điều hòa khí hậu, hấp thụ khí các bon, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất đai chống xói mòn, sạt lở đất...
Năm 2013, khu rừng đã được quy hoạch thành 3 phân khu chức năng: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 3.963 ha; phân khu phục hồi sinh thái 6.511,5 ha; phân khu dịch vụ hành chính 119 ha. Với mục tiêu của quy hoạch là đảm bảo quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt khu rừng đặc dụng, sử dụng đúng mục đích phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, bảo tồn, phục hồi phát triển bền vững và kết hợp du lịch sinh thái; đặc biệt bảo tồn 65 loài thực vật và 56 loài động vật đặc hữu, quý, hiếm.
Để công tác bảo tồn và phát triển bền vững của khu rừng có hiệu quả, Nhà nước đã có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ bảo vệ và phát triển rừng, trong đó có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Diện tích rừng được chi trả theo kế hoạch từ năm 2011 là 2.582,6 ha nằm trên địa bàn 2 xã: Thành Công, Phan Thanh. Hiện trạng gồm có rừng trung bình 543,8 ha, rừng phục hồi 1.522,7 ha, rừng trồng 516,8 ha.
Để quản lý, bảo vệ diện tích rừng có cung ứng DVMTR hiệu quả, bền vững, Ban Quản lý Khu rừng đặc dụng Phja Oắc - Phja Đén đã giao khoán diện tích rừng cho 2 cộng đồng xóm và 10 tổ bảo vệ rừng thông qua hợp đồng giao khoán. Trong đó, bên nhận khoán được hướng dẫn, tập huấn về công tác bảo vệ rừng; bảo vệ vốn rừng và phát triển rừng bền vững; chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng; thường xuyên tuần tra, kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi gây thiệt hại đến tài nguyên rừng...
Từ năm 2011 đến nay đã chi trả công bảo vệ rừng cho bên nhận khoán gần 564 triệu đồng. Trong đó, năm 2016 đã chi trả công bảo vệ rừng năm 2015 gần 161 triệu đồng. Chính sách chi trả DVMTR tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phja Oắc - Phja Đén đã tác động rất lớn đến công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Qua kết quả kiểm kê rừng năm 2015, diện tích rừng phục hồi trong lưu vực cung ứng DVMTR tăng lên 217 ha.
Việc chi trả DVMTR đã tạo điều kiện cho chủ rừng có nguồn thu ổn định, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Huy động sự tham gia của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn vùng đệm của khu rừng, đặc biệt là các hộ dân, cá nhân có cuộc sống gắn bó với rừng. (Báo Cao Bằng 19/9) đầu trang(
Đồng chí HOÀNG ĐỨC DOANH, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: Để xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn và hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, đảm bảo nguồn nước cho thủy điện và các nhu cầu sử dụng nước khác, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 05/2008/QĐ-TTg và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng và chính sách Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam.
Bắt đầu từ năm 2011 đến nay, các đơn vị có sử dụng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn Quảng Trị đã tiến hành nộp về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh gần 30 tỷ đồng để phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên các lưu vực thủy điện của tỉnh.
Đây là một trong những chính sách phù hợp với xu thế phát triển đất nước hiện nay và từng bước lan tỏa, tạo sự chuyển biến tích cực trong việc huy động nguồn lực xã hội cho việc bảo vệ và phát triển rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng; là cơ sở để các địa phương thực hiện tốt hơn việc quản lý nguồn tài nguyên rừng, tài nguyên thiên nhiên.
Thực tế cho thấy các công ty có sử dụng dịch vụ môi trường rừng đã tích cực hưởng ứng, chấp hành nghiêm túc chủ trương, pháp luật của nhà nước về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Các chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng đã nắm vững chính sách của nhà nước nên tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng của đơn vị, do đó diện tích khu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng tăng lên cả về chất lượng và số lượng, góp phần nâng cao độ che phủ rừng tại các khu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng, tạo điều kiện cho việc cải thiện môi trường sinh thái.
Thông qua chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, có khoảng 8.500 ha rừng tự nhiên và rừng trồng trên lưu vực Công ty Thủy điện Quảng Trị được quản lý và bảo vệ tốt, 1.000.000 cây trồng phân tán (tương đương với 500 ha rừng trồng tập trung) được bố trí trồng trên 8 huyện, thị xã và khoảng 500 ha rừng trồng thay thế, giảm chi ngân sách nhà nước khoảng 5-8 tỷ đồng/năm, phục vụ cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Điều quan trọng là các chủ rừng và cộng đồng địa phương trong khu vực được nâng cao kiến thức quản lý, bảo vệ rừng thông qua các đợt tập huấn, công tác tuyên truyền về Luật Bảo vệ rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, do đó chất lượng và số lượng ngày càng được cải thiện, số vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, cháy rừng giảm đáng kể.
Hiện nay, bình quân hàng năm số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 1 ha trên lưu vực Công ty Thủy điện Quảng Trị là 430.000 đồng, cao hơn định mức so với Chương trình bảo vệ và phát triển rừng 230.000 đồng/ha/ năm. Đây là một nguồn thu rất quan trọng góp phần nâng cao nguồn thu nhập cho các chủ rừng và 450 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số nhận khoán bảo vệ rừng, đồng thời góp phần tích cực cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Qua đó hạn chế được tình trạng chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện tại, tỉnh Quảng Trị đang tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn rà soát, điều tra chủ rừng ở lưu vực các nhà máy thủy điện nhỏ trên địa bàn các huyện Hướng Hóa, Đakrông để có kế hoạch chi trả dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng trong các lưu vực sông này.
Tuy nhiên, việc xác định hệ số k cho từng trạng thái, đối tượng từng loại rừng chưa có đề tài nghiên cứu, do đó việc chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh vẫn đang áp dụng hệ số k =1 cho tất cả các đối tượng rừng, dẫn đến mất công bằng trong quản lý, bảo vệ rừng giữa các chủ rừng.
Các nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh chủ yếu có công suất nhỏ, mới được xây dựng do vậy nguồn kinh phí chi trả hàng năm thấp, không ổn định nhưng lưu vực thủy điện lại rộng lớn, do đó số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng tại một số lưu vực có nhà máy thủy điện nhỏ (huyện Đakrông) thấp dưới 200.000 đồng/ha, cần phải có sự hỗ trợ từ nhà nước để bù đắp khoản kinh phí còn thiếu hụt, với mục tiêu giảm khoảng cách chênh lệch giữa các lưu vực trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay vẫn còn một số đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng chưa nộp đủ tiền dịch vụ đầy đủ và kịp thời, đặc biệt là các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ còn nợ kéo dài nhưng chưa có chế tài xử lý.
Tình trạng khô hạn diễn biến ngày càng phức tạp nên lưu lượng nước tích trữ tại các hồ thủy điện ngày càng thấp, vì thế một số nhà máy thủy điện hoạt động cầm chừng, không đạt năng suất do đó việc nộp tiền dịch vụ môi trường rừng thấp hơn mọi năm, ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng. Ngoài ra Chính phủ vẫn chưa có văn bản hướng dẫn chế độ phụ cấp cho các thành viên Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng nên cán bộ chưa được hưởng phụ cấp.
Thời gian tới, đề nghị Chính phủ cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn xử phạt nghiêm khắc đối với các công ty, nhà máy thủy điện chây ỳ không nộp tiền chi trả dịch vụ môi trường kịp thời, đúng hạn. Có như vậy mới đẩy mạnh hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần bảo vệ rừng một cách bền vững và cải thiện sinh kế cho người dân vùng miền núi. (Báo Quảng Trị 18/9) đầu trang(
Nhờ thực hiện đồng loạt 2 giải pháp: Tổ chức sắp xếp lại bộ máy, biên chế (theo Đề án 25) và chủ động đổi mới trong quản lý, hoạt động đã giúp Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp tỉnh bước đầu phát huy cơ chế tự chủ tài chính một cách hiệu quả...
Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp tỉnh là cơ quan trực thuộc Sở NN&PTNT có chức năng thực hiện công tác khảo sát thiết kế, điều tra và xây dựng quy hoạch phát triển lâm nghiệp. Đầu năm 2015, theo Quyết định 3090/QĐ-UBND của UBND tỉnh, đơn vị thực hiện chuyển đổi từ mô hình sự nghiệp hành chính nhà nước có thu sang đơn vị tự chủ 100% về mặt tài chính.
Xác định trong quá trình triển khai thực hiện việc chuyển đổi tự chủ sẽ gặp nhiều thách thức khó khăn, đơn vị đã chủ động đổi mới phương thức lãnh đạo, tinh giản bộ máy, biên chế nhằm khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo. Theo đó, đơn vị đã sát nhập, thu gọn từ 3 phòng, 1 đội sản xuất xuống còn 2 phòng và 1 đội sản xuất. Về bộ máy biên chế, tinh giản từ 39 cán bộ, công nhân, viên chức, người lao động (năm 2014) còn 21 cán bộ, công nhân, viên chức, người lao động (năm 2016).
Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Văn Trăng, Đoàn Trưởng cho biết: Việc tổ chức, sắp xếp lại bộ máy nhân sự của đơn vị được thực hiện theo đúng chủ trương Đề án 25 của tỉnh, tuy nhiên quá trình triển khai đã gặp rất nhiều khó khăn. Để gỡ khó, đơn vị đã cắt giảm ngay những vị trí chồng chéo, không cần thiết.
Quá trình cắt giảm dựa trên cơ sở đảm bảo việc tinh gọn nhưng vẫn thực hiện việc vận hành hiệu quả và đúng chức năng nhiệm vụ được giao. Nhờ cắt giảm bộ máy gọn nhẹ, đến nay, đơn vị có thể tiết kiệm được cho Nhà nước khoảng 1,5 tỷ đồng tiền chi thường xuyên cho cán bộ, công nhân viên chức, người lao động mỗi năm...
Bên cạnh việc cắt giảm bộ máy, biên chế, thực hiện tốt cơ chế tự chủ, Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp tỉnh đã tiếp tục đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ phần mềm chuyên dùng cho việc khảo sát, thiết kế, điều tra quy hoạch với năng suất và chất lượng ngày càng nâng cao.
Ngoài việc thực hiện tốt các nhiệm vụ mà tỉnh, ngành giao, đơn vị còn chủ động mở rộng với các đối tác để thu hút thêm nhiều dự án, tăng doanh thu và đảm bảo thu nhập cho người lao động. Năm 2015, đơn vị đã hoàn thành 7 dự án, trong đó một số dự án lớn như dự án kiểm kê rừng, dự án giao đất, giao rừng ở huyện Ba Chẽ, thiết kế trồng và chăm sóc rừng. Tổng doanh thu năm 2015 đạt hơn 4,2 tỷ đồng (năm 2014 hơn 3,4 tỷ đồng). Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt hơn 5 triệu đồng người/tháng.
Được biết, để tăng sự chủ động tài chính, Đoàn Khảo sát thiết kế lâm nghiệp tỉnh đang tập trung hoàn thiện Đề án chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần trình tỉnh duyệt. Việc chuyển đổi phương thức quản lý, hoạt động theo loại hình doanh nghiệp sẽ giúp đơn vị triển khai hiệu quả việc tinh giản bộ máy và hoạt động linh hoạt, hiệu quả hơn. (Báo Quảng Ninh 20/9) đầu trang(
Mấy năm trước, người dân Tây Nguyên hồ hởi với dự án trồng cây mắc ca (macadamia), coi đây là “cây tiền tỉ” giúp họ đổi đời. Hàng chục nghìn hecta mắc ca được người dân trồng, chăm bón.
Nhưng trái với kỳ vọng, sau 5 năm chăm bón, những cây mắc ca này trơ ra không chịu cho quả. Trước nhiều ý kiến trái chiều, Bô%3ḅ NNPTNT dè dặt chỉ phê duyệt diện tích trồng 10.000ha mắc ca từ nay đến năm 2020, thay cho 200.000ha như dự kiến. Trong khi đó, nếu được đầu tư bài bản, cây mắc ca có thể mang lại thu nhâ%3ḅp “khủng” cho nông dân.
Trao đổi với PV Báo Lao Động, ông Trần Vinh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên thẳng thắn bày tỏ: Cây mắc ca là cây có giá trị kinh tế cao. Nếu đầu tư đúng cách, chăm bón đúng kỹ thuật và tìm được đầu ra, thì giá trị kinh tế mang lại không kém cây càphê và hồ tiêu, 1ha cây mắc ca có thể cho 3-4 tấn hạt thô, trong khi đó, mỗi kg hạt thô có thể bán với giá từ 3-4USD.
Mặc dù cây mắc ca có giá trị kinh tế như vậy, nhưng nhiều năm qua, nông dân trồng nhiều nhưng vẫn chưa thể “đổi đời”, thậm chí có nơi còn phải chặt bỏ trong thua lỗ. Ông Trần Vinh cho rằng, đó là do lặp lại các sai lầm kép: Không những bởi đầu tư không theo quy hoạch, không qua nghiên cứu, mua giống tràn lan và trồng “không đúng đất”. Trong khi đó, cây mắc ca là loại cây khó tính, không phải vùng đất nào của Tây Nguyên cũng thích hợp.
“Mắc ca là cây á nhiệt đới, yêu cầu độ ẩm cao, đất dày. Cây này đòi hỏi được chăm sóc đúng kỹ thuật. Nhiều nông dân trồng cây này đã thất bại vì không nắm vững đặc tính này” - ông Trần Vinh khẳng định.
Theo ông Huỳnh Ngọc Huy - Tổng Thư ký Hiệp hội mắc ca Việt Nam, người dân Tây Nguyên vướng phải vấn đề mắc ca không ra quả, là vì nông dân ham rẻ mua cây giống trôi nổi ngoài thị trường với giá 25.000 đồng/cây. Đây là cây giống tự sinh (gieo từ hạt), hoặc được ghép từ các cành không đạt tiêu chuẩn. Trong khi đó, giống cây ghép theo tiêu chuẩn đòi hỏi kỹ thuật cao, chất lượng đảm bảo có giá khá cao (70-80.000 đồng/cây). Mặt khác, một số người mua cây giống đạt chuẩn, nhưng lại trồng trên đất không thích hợp, nên cây đã kông cho thu hoạch.
Ông Huỳnh Ngọc Huy cho rằng, hiện nay có 8 tỉnh thích hợp để trồng cây mắc ca, trong đó có 5 tỉnh ở Tây Nguyên gồm: Đắc Nông, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và 3 tỉnh ở phía Bắc: Sơn La, Lai Châu, Điện Biên. Ngoài ra, có thể nghiên cứu để trồng mắc ca tại 1 số vùng của huyện Ba Vì (Hà Nội). “Thực tế là vùng Ba Vì đã có trồng cây mắc ca nhập từ nước ngoài về, nhưng do được chăm sóc không đúng kỹ thuật, nên không cho kết quả”- ông Huy nói.
Theo ông Trần Vinh, hiện Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên có hơn 20 giống mắc ca, trong đó H2, OC và 508 là những giống rất triển vọng, cho năng suất cao. Viện cũng đã trồng thử nghiệm cây mắc ca xen với một số loài cây công nghiệp có giá trị trên địa bàn Tây Nguyên như càphê vối, càphê chè, cacao.
Tính đến nay tổng diện tích mô hình trồng xen là hơn 15ha. Kết quả bước đầu cho thấy cây mắc ca sinh trưởng tốt ở tất cả các mô hình trồng xen. Sau 4-5 năm cho năng suất khoảng 10kg hạt/cây, thậm chí có cây đạt 15kg/cây/năm. Bộ NNPTNT đã công nhận 4 dòng mắc ca gồm: 246; 816; OC; 849 là giống tiến bộ kỹ thuật cho vùng Krông Năng - Đắk Lắk.
Chiều ngày 13.9, trao đổi với PV Lao Động, ông Nguyễn Đức Hưởng - Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) - Trưởng ban Chỉ đạo Nghiệp vụ và Truyền thông Mắc ca, chia sẻ: Để giúp bà con đầu tư hiệu quả, nhiều năm qua, Cty CP Him Lam và LienVietPostBank đã phối hợp, hỗ trợ tỉnh Lâm Đồng tìm hiểu, nghiên cứu nhu cầu trồng mắc ca của người dân, xác định những vùng thích hợp trồng mắc ca.
Đồng thời, LienVietPostBank và Cty CP Him Lam đã tích cực triển khai một loạt hoạt động nhằm phát triển cây mắc ca tại Việt Nam như xúc tiến các thủ tục thành lập Hiệp hội mắc ca Việt Nam, tổ chức các đoàn thực tế trong nước và các nước hàng đầu về công nghiệp mắc ca như Úc, Trung Quốc, Nam Phi, Mỹ... để tìm hiểu kỹ thuật và thăm dò thị trường.
“LienVietPostBank cũng cam kết cung cấp gói tín dụng ưu đãi trị giá 10.000 tỉ đồng để hỗ trợ nông dân trồng mắc ca cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp thu mua, chế biến sản phẩm mắc ca tại tỉnh Lâm Đồng, đồng thời phối hợp với các tổ chức bảo hiểm xây dựng phương án bảo hiểm nông nghiệp đối với cây mắc ca. Khi có bảo hiểm, người nông dân không lo bị lâm vào cảnh “trắng tay”, “nay trồng mai chặt” vì không có đầu ra cho sản phẩm. Đáng buồn là nguồn tín dụng này vẫn giải ngân chưa đáng kể cũng vì bà con thích đầu tư tự tung, tự tác” - ông Nguyễn Đức Hưởng khẳng định.
Vậy trách nhiệm của địa phương của cơ quan chức năng ở đâu? Trao đổi với PV Lao Động, ông Huỳnh Ngọc Huy cho rằng, trước hết là do Bộ NNPTNT chưa thấy hết giá trị của loại cây này. “Cây mắc ca vào Việt Nam từ năm 1992, cũng đã gần 20 năm rồi. Vậy Bộ NNPTNT không thể cho rằng thông tin về cây này chưa đầy đủ. Vấn đề là Bộ NNPTNT chưa mạnh dạn, các địa phương trong đó có các Trung tâm khuyến nông và Sở NNPTNT các tỉnh cũng chưa quan tâm, nên cây mắc ca chưa phát huy được hiệu quả, người nông dân đi chệch hướng” - ông Huy thẳng thắn nói.
Còn ông Nguyễn Đức Hưởng không ngần ngại cho rằng, việc cây mắc ca trồng 5 năm không có quả, lỗi không nhỏ ở cơ quan chức năng, chính quyền địa phương chưa quan tâm, mà để dân tự trồng theo phong trào, thiếu quy hoạch. Bộ NNPTNT lại “quá bảo thủ”.
Theo ông Phan Xuân Dũng - Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, để cây mắc ca thành cây trồng chủ lực giúp nông dân Tây Nguyên vươn lên thoát nghèo, trong thời gian tới, các nhà khoa học cần tiếp tục nghiên cứu tạo ra nguồn giống có chất lượng, khảo sát những địa bàn trồng cho năng suất cao nhất, nghiên cứu ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật canh tác. Các địa phương cần quy hoạch vùng trồng và khuyến cáo bà con không nên trồng ồ ạt để tránh rủi ro… Đúng là “mất bò mới lo làm chuồng”! (Lao Động 19/9) đầu trang(
Thực hiện dự án trồng rừng thuộc chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2018, tỉnh Cà Mau đặt mục tiêu sẽ trồng 920 ha rừng phòng hộ ven biển, với tổng vốn đầu tư cho chương trình là 90 tỷ đồng. Ðến thời điểm này, các đơn vị chủ đầu tư đã trồng được hơn 110 ha.
Những năm gần đây, biến đổi khí hậu cộng với làn sóng di dân tự do đã ảnh hưởng nhiều đến diện tích rừng phòng hộ ven biển Cà Mau. Tình hình sạt lở ngày càng nghiêm trọng trong khi nguồn vốn để bồi trúc đê biển chưa thể đáp ứng.
Thời gian qua, Cà Mau đã triển khai thí điểm nhiều giải pháp công trình, phi công trình để phòng chống sạt lở như: kè mềm giảm sóng gây bồi tạo bãi trồng rừng; kè tạo bãi trồng rừng ngập mặn ven biển; kè trụ rỗng tiêu sóng; chủ động trồng rừng lấn biển. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 18/9) đầu trang(
Năm 2016, huyện Lang Chánh được giao kế hoạch trồng mới 1.200 ha rừng. Trong đó rừng sản xuất là 600 ha, rừng phòng hộ 50 ha và rừng trồng bổ sung 450 ha. Với sự chủ động trong lãnh đạo chỉ đạo và các giải pháp cụ thể , đến cuối tháng 8 Lang Chánh đã trồng được 1.345 ha rừng, vượt kế hoạch cả năm 2016.
Lâm Phú là một trong những xã có phong trào trồng rừng phát triển mạnh của huyện Lang Chánh. Ngay từ đầu năm 2016, nhân dân các thôn, bản đã được cán bộ nông nghiệp của xã đến hướng dẫn chủ động chuẩn bị nguồn cây giống, khẩn trương phát dọn thực bì và đảm bảo các điều kiện cho trồng rừng cả năm đạt kết quả cao. Đến nay toàn xã đã trồng được 120 ha vượt 20 ha so với kế hoạch giao. Độ che phủ rừng nói chung của xã cũng đã đạt 55%.
Tại xã Trí Năng, tính đến hết tháng 7 toàn xã đã hoàn thành chỉ tiêu trồng mới 80 ha rừng của năm 2016. Các giống cây chủ yếu được người dân chọn lựa là kéo, lim, lát và tre, luồng. Hiện thu nhập từ rừng đã trở thành nguồn thu nhập chính của người dân trong xã, thu nhập từ rừng cũng giúp diện mạo của xã thay đổi đáng kể. Nhiều gia đình có thu nhập từ 300 đến 400 triệu đồng một năm từ trồng keo.
Với phương châm khai thác đến đâu trồng rừng lại ngay đến đó và phấn đấu không để đất trống, huyện Lang Chánh đã khuyến khích các doanh nghiệp và hộ dân tại các địa phương liên kết hoặc tự đầu tư trồng rừng. Từ cách làm này, 3 năm trở lại đây huyện đã luôn hoàn thành xuất sắc kế hoạch trồng rừng với hàng nghìn ha rừng được trồng mới mỗi năm, góp phần phủ xanh đất trống, đồng thời thúc đẩy người dân làm giàu từ kinh tế rừng.
Cùng với hoàn thành vượt mức kế hoạch trồng rừng năm 2016, UBND huyện Lang Chánh cũng đã chỉ đạo các xã triển khai làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng trồng và rừng tự nhiên; chủ động phòng, chống cháy rừng, bảo đảm không để xảy ra các vụ cháy rừng, chặt phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép. Huyện Lang Chánh cũng tăng cường rà soát những diện tích đất trống có khả năng trồng rừng và những diện tích rừng đã đến tuổi khai thác để xây dựng kế hoạch trồng rừng cho năm 2017. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 20/9) đầu trang(
Sự nghiệp trồng rừng nguyên liệu giấy ở tỉnh Kon Tum của Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam từ năm 1996 đến nay đã in đậm dấu ấn của quá khứ gian nan, khốc liệt. Với diện tích hiện còn trên 9.000ha đã minh chứng cho những nỗ lực không mệt mỏi của cán bộ, đảng viên, người lao động công ty suốt 20 năm qua.
Tròn 20 năm qua, từ khi bắt đầu đưa cây thông và keo lai lên trồng trên đất rừng Kon Tum, những dấu ấn trong quá khứ gian nan, khốc liệt của những người đi mở đất, trồng và giữ rừng như vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi người. Bạt núi mở đường nơi đất dốc đồi cao, vượt qua gian khó để trồng được trên 17.200ha rừng nguyên liệu.
Thế nhưng những khắc nghiệt về thời tiết, bom mìn của chiến tranh để lại, nước lũ mưa nguồn, địa hình chia cắt, núi cao rừng sâu… đã làm cho hàng ngàn hécta rừng của công ty bị cháy cộng với số diện tích keo lai không phù hợp với điều kiện ở Tây Nguyên đã không tồn tại.
Nhưng với sự quyết tâm và lòng quả cảm của những con người ở đây, trên 9.000ha rừng thông nguyên liệu của công ty hiện đang phát triển, xanh thẳm, trải khắp 33 xã của 8 huyện trong toàn tỉnh. Đặc biệt là trên những dãy núi cao ở Sa Thầy, Tu Mơ Rông, Đắk Tô và trên dãy núi Sạc Ly, nơi trước đây là vùng đất bom cày, đạn xới, là bạt ngàn cỏ tranh, lau lách vốn nổi danh là “vùng đất chết ” nay đang bật dậy, hồi sinh với những dải rừng thông xanh ngút mắt.
Phải khẳng định rằng, trên 9.000ha rừng thông của Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam hiện nay đang phát triển khá tốt. Tuy nhiên theo quy hoạch và phương án kinh doanh ban đầu của dự án thì rừng sẽ được khai thác sau 15 năm. Tức là công ty sẽ phải chuẩn bị khai thác vào năm 2015.
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV kiêm Giám đốc Công ty Tống Hữu Chân cho biết: Công ty thí điểm thực hiện tỉa thưa rừng thông nhưng đã bị lỗ, vì ở Kon Tum không có nhà máy chế biến, gỗ tỉa thưa phải đưa xuống Gia Lai hoặc Bình Định chế biến để tiêu thụ; giá thu mua của các nhà máy chỉ là 820.000 đồng/tấn, trong khi đó công vận chuyển đã mất khoảng 450.000 đồng/tấn.
Với giá bán và cách tiêu thụ này, công ty sẽ lỗ gần 17 triệu đồng/ha. Như vậy, nếu thực hiện theo phương án kinh doanh ban đầu đã được phê duyệt và tiến hành khai thác, với trên 9.000ha rừng hiện nay, công ty sẽ lỗ khoảng trên 150 tỷ đồng. Và nếu thực hiện phương án sản xuất ván ghép thanh với cây thông ở 15 năm tuổi thì chất lượng gỗ sẽ kém, chi phí sản xuất cao, giá bán thấp thì sẽ lỗ khoảng trên 200 tỷ đồng.
Từ thực tế nêu trên, lãnh đạo công ty đã báo cáo, xây dựng phương án trình Tổng công ty giấy Việt Nam cho phép kéo dài thời gian khai thác rừng nguyên liệu từ 15 năm sang 25 năm. Giám đốc Tống Hữu Chân tâm sự: “Lãnh đạo công ty rất quyết tâm. Suốt mấy năm qua chúng tôi phải ngược xuôi giải trình với các bộ, ngành về phương án “giải cứu thua lỗ” cho công ty. Theo đó, nếu để 25 hoặc 30 năm khai thác, rừng thông sẽ cho chất lượng gỗ cao hơn, sử dụng được trong nhiều lĩnh vực chế biến, lượng tiêu hao nguyên liệu gỗ tròn trên một đơn vị sản phẩm chế biến thấp. Với phương án đó, dự kiến lợi nhuận thu được gần 79 triệu đồng/ha. Tổng lợi nhuận sẽ đạt khoảng gần 700 tỷ đồng”.
Còn theo Phó Giám đốc Công ty Phạm Văn Hà, nếu kéo dài dự án sang 25 năm trở lên, ngoài mục tiêu về kinh tế còn giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động của tỉnh Kon Tum, nhất là bà con đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ; góp phần cân bằng sinh thái, cải thiện khí hậu và đất đai, duy trì nguồn nước sinh hoạt, canh tác và phục vụ cho hoạt động của các nhà máy thủy điện trong tỉnh Kon Tum và một số tỉnh lân cận, phòng chống biến đổi khí hậu…
Với sự tính toán khoa học, cụ thể và thuyết phục, phương án đề nghị kéo dài thời gian khai thác gỗ rừng trồng của công ty đã được chấp thuận. Trước mắt và khởi đầu là sự kiện xây dựng nhà máy sản xuất ván Veneer có công suất thiết kế 12.000m3/năm để tiêu thụ sản phẩm tỉa thưa hàng năm nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng trồng, tạo điều kiện cho rừng phát triển, giải quyết công việc và thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong công ty.
Còn nhớ, sự kiện Tổng công ty Giấy Việt Nam quyết định xây dựng nhà máy sản xuất ván Veneer tại Công ty Nguyên liệu giấy miền Nam cuối năm 2014 đã làm nức lòng cán bộ, đảng viên, người lao động công ty. Họ đã chờ đợi sự kiện này rất lâu rồi và hôm nay đã thành hiện thực.
Có mặt tại lễ khởi công xây dựng nhà máy tại xã Tân Cảnh, huyện Đắk Tô cuối năm 2014 mới thấy được niềm vui đối với những người quan tâm đến sự nghiệp trồng nguyên liệu giấy trên vùng đất Kon Tum. Chứng kiến thời khắc đó, tôi nhác thấy gương mặt thật nhiều biểu cảm, rạng rỡ và tràn đầy xúc động của Giám đốc Tống Hữu Chân. Ánh mắt của người đứng đầu công ty này như ánh lên niềm vui về một bước chuyển mới đã đến sau bao thăng trầm, biến cố của sự nghiệp trồng rừng nguyên liệu trên vùng đất nơi cực Bắc Tây Nguyên đầy nắng gió và khắc nghiệt này.
Niềm vui ấy vẫn hiện rõ trên khuôn mặt và cái xiết tay thật chặt của Giám đốc Tống Hữu Chân khi tôi đến thăm nhà máy vào thời điểm công ty đang chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày thành lập. Niềm vui thực sự đó như được lan tỏa sang tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, người lao động trong toàn công ty. Giọng nói của anh như nghẹn lại trong huyết quản của mình…
Tôi biết anh vui vì cuộc sống mới của người lao động của công ty sẽ mở ra, đã lo được những việc lớn vì trách nhiệm trên vai của mình mà mọi người luôn kỳ vọng. Xin được chung vui cùng với công ty, với anh, một con người luôn tận tâm, hết mình vì nhiệm vụ đã bén duyên và dấn thân trên mảnh đất Tây Nguyên để mang về màu xanh sự sống và niềm vui cho tất cả mọi người, vì sự nghiệp ổn định và phát triển của công ty nguyên liệu giấy miền Nam. (Công Thương 20/9) đầu trang(
Từ năm 1995, hàng ngàn hộ dân của xã Thanh Sơn (huyện Định Quán) đã tham gia nhận giao khoán trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Những hộ dân này đã trồng xen canh cây hàng năm, cây lâu năm dưới tán rừng để tăng thu nhập.
Gần chục năm trở lại đây, người dân mạnh dạn đầu tư chuyển đổi sang những giống cây trồng cho lợi nhuận cao. Nhờ đó, xã vùng sâu này đang ngày càng thay da đổi thịt, nông dân đang vươn lên làm giàu chứ không chỉ với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo như trước.
Theo Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp La Ngà, đơn vị giao khoán đất đất rừng cho người dân, mô hình nông - lâm kết hợp vừa góp phần giảm áp lực về công tác quản lý bảo vệ rừng, vừa từng bước nâng cao đời sống cho người dân sống gần rừng.
Tính đến nay, trên 3 ngàn hécta đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ đã được giao khoán cho hơn 2,6 ngàn hộ dân thực hiện trồng rừng xen canh với cây nông nghiệp tại huyện Định Quán. Ông Ngô Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã Thanh Sơn, nhận xét: “Trước đây, người dân chỉ có thêm phần nào thu nhập nhờ trồng xen canh cây hàng năm, như: thuốc lá, đậu nành... Ngày nay, Thanh Sơn có nhiều hộ khá lên, giàu lên nhờ chuyển đổi sang các cây trồng cho lợi nhuận cao, như: trồng xen canh các loại cây có múi; xen canh cà phê - tiêu; cây có múi - cây tiêu; cây tiêu - chuối...”.
Ông Võ Văn Tùng, nông dân có cả chục hécta quýt xen canh dưới tán cây rừng tại xã Thanh Sơn, chia sẻ: “Trước đây, trồng quýt xen canh với cây rừng mới trồng cho lợi nhuận “khủng” với năng suất có khi đạt đến 50-70 tấn/hécta, nên có giai đoạn phát triển diện tích quýt đạt cả ngàn hécta. Do phát triển ồ ạt, sau đó nhiều nông dân buộc phải chặt bỏ cây trồng này do cây thoái hóa, rủi ro vườn cây chết vì dịch bệnh”. Nhưng theo ông Tùng, đây vẫn là cây trồng đứng tốp đầu về lợi nhuận nếu người trồng nắm vững về kỹ thuật và có sự đầu tư bài bản.
Thanh Sơn ngày nay có những người có cả chục, thậm chí hàng chục hécta chuyên canh cây quýt, chuối cấy mô...xen dưới tán cây rừng đạt năng suất, chất lượng cao nên có lợi thế về đầu ra. Ông Trần Nam Biên, Phó chủ tịch UBND huyện Định Quán, cho biết: “Vùng quýt Thanh Sơn từ xưa đã có tiếng trên thị trường. Cây trồng này cũng đang cho lợi nhuận rất cao nên địa phương sẽ tổ chức phục hồi lại vùng trồng quýt. Trong đó, việc thành lập hợp tác xã để liên kết nông dân trong sản xuất và tổ chức đầu ra cho sản phẩm là rất cần thiết. Huyện cũng rất quan tâm đầu tư về cơ sở hạ tầng, nhất là về đường giao thông nông thôn để tạo đà cho địa phương phát triển”.
Theo đánh giá của nông dân, cây tiêu đang là cây trồng dẫn đầu về lợi nhuận khi được trồng xen canh dưới tán cây rừng. Diện tích cây tiêu đang phát triển rất nhanh trong vài năm trở lại đây. Tính đến nay, chỉ riêng xã Thanh Sơn đã có hơn 2 ngàn hécta mô hình trồng tiêu xen canh chuối, cà phê, cây có múi... dưới tán cây rừng.
Ông Sần Sùi Khìn, nông dân hiện đang nhận khoán khoảng 28 hécta đất rừng trồng tại xã Thanh Sơn, chia sẻ: “Tôi đã trồng thử nghiệm rất nhiều mô hình cây nông nghiệp xen canh với cây rừng, như: thuốc lá, điều, cà phê..., trong đó cây tiêu vẫn đang dẫn đầu về lợi nhuận. Cụ thể, với hơn 3 hécta xen canh tiêu dưới tán rừng, tôi đang đạt lợi nhuận hơn 1 tỷ đồng/năm”.
Rất nhiều nông dân ở Thanh Sơn cũng đang chọn nhân rộng diện tích trồng tiêu vì tận dụng được sẵn thân cây rừng làm trụ đỡ nên không quá nặng vốn đầu tư, cây sinh trưởng tốt, ít công chăm sóc và nhất là hạn chế được rủi ro dịch bệnh.
Bà Lưu Thị Thùy, nông dân ở ấp 7, cho hay: “Hiện tôi chỉ mới trồng xen canh khoảng 100 gốc tiêu/hécta rừng trồng nhưng đã đạt lợi nhuận gần 200 triệu đồng/năm. Cây tiêu sinh trưởng rất tốt dưới tán cây rừng, nhờ trồng thưa nên hầu như không lo cây bị dịch bệnh”. (Báo Đồng Nai 19/9) đầu trang(
Trưa 19-9, 2 cây long não trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Văn Trỗi đã chết khô, nhiều cây còi cọc. Số ít cây phát triển tốt ở những chỗ mặt bằng thoáng, không nằm trước nhà dân.
Cách đây hơn một tháng, tuyến đường này có nhiều vị trí trồng cây bỏ trống do cây chết. Sau đó, Công ty Công viên Cây xanh TP đã trồng lại hàng loạt nhưng những cây này chưa có dấu hiệu sinh trưởng tốt. “Trồng cây kiểu gì mà nhiều năm rồi vẫn còi cọc, trông rất xấu xí và không cho bóng mát” - một chủ nhà trên đường Nguyễn Văn Trỗi (quận Phú Nhuận) nói.
Sở Giao thông Vận tải (GTVT) TP HCM vừa giao Khu Quản lý giao thông đô thị số 1 (Khu 1) phối hợp với Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh TP xem xét, đánh giá và đưa ra phương án thay thế cây phù hợp trên tuyến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Văn Trỗi.
Nguyên nhân thay thế, theo đại diện Khu 1, là cây long não trên 2 tuyến đường này không hợp khí hậu và thổ nhưỡng, không phát triển sau nhiều năm chăm sóc. Sắp tới, Khu 1 sẽ nêu vấn đề thay thế cây tại một hội thảo về cây xanh đô thị để lấy ý kiến của các nhà khoa học.
Ông Lê Công Phương, Giám đốc Công ty TNHH MTV Công viên Cây xanh TP, cho biết trên tuyến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (đoạn gần đường Pasteur), trồng cây lim bột phát triển tốt nhưng cây long não thì không như mong muốn do không phù hợp với thổ nhưỡng tuyến đường này.
Hiện công ty chỉ mới đề xuất thay thế còn quyền quyết định thuộc về Sở GTVT TP. Công ty chỉ là đơn vị thi công và vẫn sẽ chăm sóc hàng cây long não trên tuyến đường này bình thường. Theo ông Phương, ở TP có nhiều đơn vị chăm sóc, bảo dưỡng cây xanh và Công ty Công viên Cây xanh TP chỉ là một trong những đơn vị thực hiện công việc này.
Về ý tưởng thay thế cây long não trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, kỹ sư Nguyễn Trịnh Kiểm, Chánh Văn phòng Hiệp hội Công viên Cây xanh Việt Nam, tỏ ra bất ngờ và không hiểu vì sao phải thay cây mới. Theo kỹ sư Kiểm, cây trồng trên vỉa hè không cần phát triển nhanh, chỉ cần không sâu bệnh. Ở TP HCM có thể trồng me, lim xẹt, phượng vì không cần vỉa hè lớn, không có lá rụng về mùa khô, khoảng 50 năm mới phải thay thế.
“Hàng me trên đường Nguyễn Du và Nguyễn Văn Bình, quận 1 rất đẹp, tạo được bóng mát và hài hòa với cảnh quan” - kỹ sư Kiểm dẫn chứng.
Còn KTS Ngô Viết Nam Sơn cho rằng quy hoạch cây xanh phải phối hợp với quy hoạch cảnh quan và quy hoạch giao thông để đồng bộ và phục vụ phát triển đô thị. Tùy theo từng con đường mà trồng cây xanh cho phù hợp, có con đường để tạo bóng mát, có đường thì giữ độ ẩm cho đất hoặc tạo cảnh quan.
Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Nguyễn Văn Trỗi là tuyến đường huyết mạch từ sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm TP nên cần có một quy hoạch về cây xanh cho toàn tuyến chứ không thể làm từng đoạn. Tiêu chí là phải tạo bóng mát trên cao nhưng phía dưới thông thoáng để đi lại dễ dàng, không bị rối mắt và rễ cây không phá đường. Ngoài ra cũng phải chú ý đến cảm nhận người dân khi đi từ sân bay vào TP.
Có thể chia từng đoạn với từng loại cây đặc trưng để tạo dấu ấn, nếu chưa có tiền thì thực hiện theo giai đoạn, đối với những cây sinh trưởng tốt thì không cần đốn hạ mà chỉ cần bảo dưỡng cho nó phát triển tốt. “TP cần có quy hoạch cây xanh và mặt nước chung cho toàn TP, tình trạng ngập úng như hiện nay một phần là do hậu quả của việc thiếu quan tâm đến cây xanh, mặt nước” - KTS Ngô Viết Nam Sơn nói.
TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, phân tích cây long não là loại cổ thụ thích hợp trồng ở đường phố. Tại Hà Nội, giống cây này được trồng và phát triển rất tốt. Tính ưu việt của giống cây này không có sâu bọ, tán rộng tạo bóng mát lớn.
Thường xuyên qua lại tuyến đường Nguyễn Văn Trỗi và Nam Kỳ Khởi Nghĩa, ông Long nhận thấy cây lớn hơi chậm. Tuy nhiên, đây là đặc tính của cây, nếu để lâu, cây sẽ bén rễ lớn to. Do đó, việc thay thế hàng cây là lãng phí và nên giữ lại, để khắc phục chỉ cần bón phân và xới đất ở gốc sẽ giúp cây phát triển.
Trong khi đó, ThS Lê Thị Xuân Lan - nguyên Phó Phòng Dự báo và Phục vụ Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, cho hay lượng mưa và độ ẩm ở TP HCM thích hợp cho cây long não phát triển nhưng nhiệt độ trung bình khiến cây dễ khô và chết. Cụ thể, cây long não phù hợp nhiệt độ trung bình 15-20 độ C còn ở TP nhiệt độ trung bình tháng lên đến 25-29 độ C. “Cây này phát triển rất chậm trên nền đất khô, cây không phát triển là do nhiệt độ cao. Muốn khắc phục chỉ cần tưới thường xuyên là được” - bà Lan cho biết. (Người Lao Động 20/9) đầu trang(
Phải mất đến 8 năm với nhiều lần xét xử sơ thẩm, bà Phạm Thị Lang mới được tuyên bố bồi thường đối với 69,2 ha đất rừng bị thu hồi trái phép.
Ngày 19/9, Toà án Nhân dân (TAND) tỉnh Kiên Giang mở phiên xét xử sơ thẩm lần thứ 3 vụ “khiếu kiện quyết định thu hồi hồ sơ giao khoán, bảo vệ rừng”. Nguyên đơn là bà Phạm Thị Lang, người bị thu hồi đất rừng và người bị kiện là Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang.
Đây là vụ án hành chính kéo dài 8 năm, đã bị cấp phúc thẩm của Toà án Nhân dân tối cao tuyên huỷ án 2 lần. Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao cũng đã có thông báo rút kinh nghiệm đối với Viện Kiểm sát địa phương về giải quyết án hành chính bị huỷ.
Năm 2002, bà Phạm Thị Lang và ông Đặng Minh Dũng (nguyên Tỉnh đội phó Tỉnh đội Kiên Giang) hợp tác sang nhượng lại 130 ha đất rừng phòng hộ của 10 hộ dân ở huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang với số tiền 500 triệu đồng, tương đương 100 lượng vàng để đầu tư trồng rừng; trong đó, bà Lang quản lý, sử dụng 69,2 ha.
Sau khi được chính quyền địa phương cùng các cấp có thẩm quyền chấp thuận việc nhận khoán rừng với thời hạn 50 năm, bà Lang và ông Dũng đầu tư cải tạo, trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng rất tốt. Tuy nhiên, ngày 17/2/2009, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh này ban hành Quyết định 65/QĐ-NN và 66/QĐ-NN thu hồi toàn bộ diện tích đất rừng trên để giao khoán cho 15 hộ khác.
Bà Lang cho biết, bà được Ban quản lý rừng xác nhận và cấp sổ giao khoán với thời hạn 50 năm nhưng mới chỉ được 5 năm, Sở này đã thu hồi lại. Bao nhiêu tiền của, công sức của bà và gia đình dồn cả vào trên 69 ha đất rừng này nhưng sắp đến ngày thu hoạch, Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang lại đến thu hồi, không đền bù thoả đáng, thậm chí ép buộc, đe doạ nếu bà không giao trả.
Trong khi Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang đang xem xét giải quyết, ông Hoàng Văn Tuấn – khi đó là Giám đốc Ban quản lý rừng và hiện là Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh này lại “hăng hái” lấy bằng được số đất rừng này để giao cho người khác.
Ngang ngược hơn, khi giao phần đất rừng của bà Lang cho 15 hộ dân khác, Sở này đã cho chuyển mục đích sử dụng từ đất rừng phòng hộ sang rừng sản xuất; từ đó, các hộ dân đã bán cây rừng mà bà Lang trồng, chăm sóc suốt 5 năm, mỗi ha bán được từ 80 – 150 triệu đồng. Số tiền này một phần nộp ngân sách Nhà nước, phần lớn còn lại thì ăn chia với Ban quản lý rừng theo tỷ lệ 6-4.
Tuy nhiên, trước đó, bà Lang đề nghị được khai thác số cây này nhưng ông Tuấn cương quyết không đồng ý. Bà Lang và bà Nguyễn Thị Huỳnh Nga (vợ ông Dũng) làm đơn kiện các quyết định trên. Thế nhưng, TAND tỉnh Kiên Giang chỉ đưa ra xét xử vụ việc liên quan đến bà Lang.
Tại bản án sơ thẩm số 03, ngày 6/3/2013, TAND tỉnh Kiên Giang không chấp nhận đơn của bà Lang khởi kiện Quyết định 65/QĐ-NN; đồng thời, bác yêu cầu bồi thường thiệt hại hơn 5,2 tỉ đồng. Ngày 12-9-2013, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy án sơ thẩm vì vi phạm tố tụng và đề nghị cấp sơ thẩm xét xử lại.
Tại bản án sơ thẩm số 04 (lần 2), ngày 29/5/2014, TAND tỉnh Kiên Giang một lần nữa tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà Lang. Sau khi nguyên đơn kháng cáo, ngày 11/3/2015, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh lại tuyên hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật. Dù vậy, TAND tỉnh Kiên Giang đến nay mới đưa ra xét xử.
Viện VKSND Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã ra “thông báo rút kinh nghiệm” đối với VKSND địa phương này. Trong thông báo nêu rõ: “Đáng lẽ (Tòa sơ thẩm Kiên Giang) phải xác định rằng, việc ban hành các quyết định và thực hiện các quyết định tùy tiện của Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang mới phát sinh tranh chấp; do đó, Giám đốc sở này phải chịu trách nhiệm về những hậu quả, thiệt hại phát sinh từ những quyết định trên theo quy định của pháp luật...”.
VKSND Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh cũng cho rằng, việc bà Lang yêu cầu buộc người bị kiện bồi thường số tiền thiệt hại do việc thu hồi 69,2 ha đất rừng phòng hộ trái pháp luật là yêu cầu chính đáng.
Tại hồ sơ cũng như tại phiên toà, bà Lang có liệt kê từng khoản tiền đã chi phí đầu tư, chăm sóc… để yêu cầu bồi thường nhưng kiểm sát viên cũng không có những thao tác nghiệp vụ làm rõ những vấn đề trên để có những đề xuất, báo cáo kịp thời trong quá trình giải quyết vụ án, dẫn tới vụ án kéo dài.
Tại phiên xử sáng 19/9, HĐXX nhận định, việc Ban Quản lý rừng huyện An Minh - An Biên đơn phương chấp dứt hợp đồng trước thời gian (bà Lang được giao đất đến năm 2050) và Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang ra quyết định thu hồi đất rừng mà chưa thanh lý hợp đồng là không đúng với quy định của pháp luật, gây thiệt hại cho bà Lang.
Bởi lẽ, khi Nhà nước muốn thu hồi rừng, phải bồi thường thành quả lao động, kết quả đầu tư, tài sản bị thu hồi. Còn UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đứng ra giải quyết khiếu nại cho bà Lang chứ không trực tiếp gây hại cho bà Lang nên cũng không phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường.
Do đó, HĐXX xét thấy yêu cầu bồi thường của bà Lang là có cơ sở vì thực tế bà Lang có sang nhượng lại hơn 69 ha đất rừng của các hộ dân được giao khoán trước đó với số tiền 500 triệu đồng, tương đương 100 lượng vàng vào thời điểm đó. Tuy nhiên, việc bà Lang buộc quy đổi số vàng với mệnh giá tương đương như hiện nay là hơn 3 tỉ đồng là không phù hợp.
Kết thúc phiên toà, HĐXX chỉ buộc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang cùng Ban Quản lý rừng có trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường cho bà Lang với tổng số tiền hơn 1,6 tỉ đồng, thay vì 5,2 tỉ đồng như yêu cầu của bà Lang.
Bà Lang cho biết sẽ tiếp tục kháng cáo lên cấp phúc thẩm đòi bồi thường phần thiệt hại còn lại. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 20/9) đầu trang(
Đặc thù ở khu vực miền núi là trồng cây lâu năm trong vườn nhà. Khi quy hoạch các khu dân cư theo tiêu chí nông thôn mới, các nhà quy hoạch và chính quyền địa phương lại cho rằng đây là đất trồng rừng sản xuất khiến nhiều hộ dân bức xúc...
Đặc thù ở khu vực miền núi là trồng cây lâu năm trong vườn nhà. Khi quy hoạch các khu dân cư theo tiêu chí nông thôn mới (NTM), các nhà quy hoạch và chính quyền địa phương lại cho rằng đây là đất trồng rừng sản xuất khiến nhiều hộ dân ở xã Hòa Phú (huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng) bức xúc, vì lập hồ sơ giao đất nông nghiệp hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở để xây dựng nhà cho các cặp vợ chồng mới cưới ra ở riêng đều không được.
Ông Phùng Hường, một hộ dân ở thôn Đông Lâm, xã Hòa Phú bức xúc: "Ở khu vực này nhà nào cũng trồng cây rừng, cây lâu năm trong vườn nhà. Gần 5 năm trở lại đây do nằm trong quy hoạch khu dân cư (sắp xếp dân cư) nên người dân không được cắt đất để cho con cái ra làm nhà ở riêng, thậm chí các hộ xung quanh đây làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều không được".
Nhiều hộ dân ở các thôn Đông Lăng, Hội Phước, Phú Túc... của xã Hòa Phú cũng bức xúc vì không được chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm trong vườn nhà sang đất ở để cắt đất hoặc cho con cái mới lập gia đình xây dựng nhà ở riêng.
Đáng nói là theo UBND xã Hòa Phú, sở dĩ có tình trạng này là do gặp vướng mắc về quy hoạch NTM nên chưa giải quyết. Cụ thể, diện tích đất trồng cây lâu năm của xã nằm rải rác xen kẽ trong các khu dân cư trên địa bàn nhiều thôn, theo thực tế sử dụng và số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 là 197,33ha, nhưng theo bản đồ quy hoạch NTM chỉ thể hiện tại 5 vị trí quy hoạch khu dân cư với tổng diện tích đất 7,9ha.
Cũng trên bản đồ quy hoạch NTM, ngoài các điểm quy hoạch khu dân cư, các công trình công cộng, các dự án quy hoạch..., còn lại thể hiện 3 loại đất rừng và thể hiện đất xen lẫn trong các khu dân cư là đất trồng rừng sản xuất. Vì thế, khi nhân dân có nhu cầu lập hồ sơ giao đất nông nghiệp và chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở để xây dựng nhà ở cho các cặp vợ chồng mới cưới ra ở riêng đều không được.
Để giải quyết thực trạng này, xã đã có văn bản đề nghị thành phố điều chỉnh lại bản đồ quy hoạch NTM của xã đúng theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất theo kiểm kê đất đai năm 2014 và thực tế sử dụng đất để thuận lợi cho việc quản lý và giải quyết hồ sơ giao đất của địa phương.
Theo UBND huyện Hòa Vang, để giải quyết vướng mắc về quy hoạch NTM, UBND TP Đà Nẵng vừa gửi văn bản giao huyện chủ trì, phối hợp với các xã rà soát, điều chỉnh lại ranh giới sử dụng đất ở và các loại đất khác cho phù hợp với tình hình sử dụng đất thực tế tại địa phương, làm cơ sở điều chỉnh lại quy hoạch NTM trong năm 2017. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/9) đầu trang(
“Tạo ra một thị trường xuất khẩu dăm gỗ cạnh tranh bình đẳng thay bằng các chính sách “bảo hộ” độc quyền vùng nguyên liệu, đang là một đòi hỏi cấp thiết đối với các địa phương có diện tích rừng lớn”. Đó là khẳng định của ông Vũ Long – Chuyên gia kinh tế lâm nghiệp với DĐDN.
Ngành sản xuất dăm gỗ lâu nay đang bị mang tiếng là “phá rừng non”, có giá trị kinh tế không cao. Chính Quyết định 5115/QĐ/BNN – TCLN cũng cho rằng phải hạn chế tối đa sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng trồng để sản xuất dăm gỗ.
Ông cho biết: “Tôi khẳng định rằng, dăm gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn trong ngành chế biến gỗ của VN. Sự phát triển của ngành dăm gỗ, đã mang về nguồn ngoại tệ không nhỏ cho đất nước, góp phần đẩy mạnh phát triển các ngành khác như: cây trồng, vận tải, cảng biển…”.
Đơn cử, năm 2015, ngành này đạt tới kim ngạch xuất khẩu gần 1,2 tỉ USD, tương đương với 17% tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng gỗ. Nên có thể nói, dăm gỗ đang được ví như “người đỡ đầu” cho các hộ trồng rừng có quy mô nhỏ, vốn ít, muốn có chu kỳ sản xuất nhanh.
Tuy nhiên, theo Đề án phát triển ngành dăm gỗ giai đoạn 2014 – 2020 với mục tiêu đặt ra, đến năm 2020 sẽ giảm khoảng một nửa kim ngạch XK dăm gỗ, tương đương với đó là giảm đi khoảng nửa tỷ USD (chiếm 8 – 10% tổng giá trị XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ), vậy, sẽ phát triển cái gì để thay thế vào nửa tỷ USD đó? Đáng nói hơn, vấn đề an sinh xã hội cho người trồng rừng.
Nhưng thậm chí cơ quan quản lý tại địa phương cũng đang nhìn nhận không tích cực về ngành này, câu chuyện ở đây là tư duy và tầm nhìn chiến lược của nhà quản lý và chính quyền địa phương.
Năm 1993 khi ông làm tư vấn cho dự án nhà máy sản xuất chế biến các sản phẩm gỗ của Tập đoàn Sojitz và sau này là liên danh giữa TCty lâm nghiệp VN (VINAFOR) và tập đoàn Sojitz (Nhật Bản) lấy tên là gọi là Cty liên doanh sản xuất nguyên liệu giấy Viêt Nhật Vũng Án (VIJACHIP VA ). Ông nhận thấy, khi DN tới đầu tư dự án, chính quyền đã nghĩ ngay rằng, nhà máy được đầu tư thì diện tích rừng sẽ bị phá bỏ và thu hẹp lại. Vì vậy, cũng phải mất một thời gian, VIJACHIP VA mới có thể thuyết phục được chính quyền cho xây dựng nhà máy.
Tuy vậy, sau 10 năm nhà máy đi vào hoạt động, khi có điều kiện đi khảo sát lại diện tích rừng cùng Vụ hợp tác quốc tế Bộ NN – PTNT tôi thấy rằng, diện tích rừng không mất đi mà ngược lại, độ che phủ còn được nhân rộng hơn rất nhiều. Bởi lẽ, chính DN nhận thấy nguyên liệu là yếu tố quan trọng, và đã góp vốn cùng nông dân mở rộng diện tích rừng trồng.
Ở một khía cạnh khác, sau một thời gian phát triển manh mẽ được xem là “bà đỡ” cho nhiều hộ trồng rừng, thì nay, với sự sụt giảm của thị trường nhập khẩu cùng với những khó khăn nội tại của ngành nên kim ngạch xuất khẩu đã giảm đáng kể. Tính 5 tháng đầu năm 2016 là 1,8 triệu tấn, thu về 248 triệu USD, giảm lần lượt 39% và 42% so với cùng kỳ năm 2015. Nếu từ nay đến cuối 2016, xu hướng xuất khẩu này không thay đổi, ngành chế biến và xuất khẩu dăm của VN sẽ tiếp tục phải đối mặt với vô vàn khó khăn.
Do vậy, chúng ta cần tiếp tục duy trì sự phát triển ổn định của ngành dăm gỗ trong đó có sự phát triển của ngành trồng rừng. Dùng nhân tố ổn định này để có chính sách khuyến khích đầu tư chế biến mang lại hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn.
Có thực tế tại Nghệ An, người dân đang tính tới việc bỏ rừng vì không tìm được đầu ra ổn định cho sản phẩm. Còn các DN vừa và nhỏ muốn đầu tư nhà máy sản xuất chế biến gỗ dăm lại gặp khó bởi chính sách “bảo hộ” độc quyền vùng nguyên liệu cho DN lớn.
Về việc này, ông nói: “Theo tôi, chúng ta cần phải tuân thủ theo cơ chế thị trường, để các DN cạnh tranh một cách công bằng chứ không nên can thiệp vào bằng các biện pháp hành chính như “bảo hộ” độc quyền vùng nguyên liệu hay tăng thuế XK dăm gỗ”.
Hiện nay, giá gỗ đầu vào của ngành dăm là 1.150.000 đồng/m3 còn giá đầu vào của gỗ chế biến XK cũng chỉ là 1.500.000 đồng/m3. Ngành chế biến, XK gỗ muốn cạnh tranh về nguồn nguyên liệu thì phải tự tìm cách nâng cao giá trị gia tăng trong chế biến sâu, từ đó tăng giá thu mua gỗ nguyên liệu đầu vào. Như vậy, cả nông dân và DN đều được lợi. Phải tùy vào lợi thế từng ngành nghề và tuân thủ sự cạnh tranh để phát triển.
Chúng ta cần phải hiểu rằng, quy hoạch vùng nguyên liệu chỉ là trên giấy, còn thực tế, nếu DN muốn có được vùng nguyên liệu thì phải có hợp đồng gắn kết với nông dân. Hiện nay, đất trồng rừng vẫn chủ yếu thuộc về nông dân quản lý, vì vậy, quyền quyết định bán gỗ cho DN nào thuộc về nông dân chứ không phải là chính quyền. Nếu chính quyền can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính là đang lạm quyền. Điều quan trọng hơn cả, nếu câu chuyện “bảo hộ” độc quyền được nhân rộng thì đối tượng chịu ảnh hưởng nhất sẽ là những người trồng rừng.
Tại một số tỉnh như Quảng Trị, Tuyên Quang trước đây cũng đã từng “nhen nhóm” dấu hiệu “bảo hộ” độc quyền vùng nguyên liệu cho thấy. Đơn cử, tại Quảng Trị khi bắt đầu có Nhà mày chế biến gỗ IDF thì chính quyền tại đây đã quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy và không muốn thu hút đầu tư các DN chế biến xuất khẩu bán dăm vào địa phương với mục đích để lại vùng nguyên liệu cho nhà máy này.
Nhưng khi nhà máy làm ăn không đạt hiệu quả, gỗ tiêu thụ không hết. Đến nay Quảng Trị đã phải để thị trường tự do cạnh tranh trong trong mua bán nguyên liệu cũng như xuất khẩu. Hay tại Tuyên Quang cũng vậy, khi chính quyền thu hút được một số nhà đầu tư Nhật, Đài Loan… thì họ thực hiện chính sách, rừng xanh, ruột xanh, cấm các DN khai thác. Thế nhưng cuối cùng, khi nhà máy không tiêu thụ hết thì chính quyền lại “thả cửa” để các DN được tự do cạnh tranh.
Trong khi đó, nếu tuân thủ theo thị trường cạnh tranh thì người có lợi chính là nông dân. Hơn nữa, đây không phải là sự cạnh tranh của các thành phần kinh tế mà toàn bộ là khối các DN tư nhân tự đầu tư sản xuất chỉ khác nhau là lớn hay nhỏ. Vậy phải chăng có dấu hiệu của “lợi ích nhóm” đang trỗi dậy tại địa phương.
“Như tôi đã nói ở trên, chính quyền cần phải hướng tới lợi ích của số đông chứ không thể “o bế” hay nghiêng về quyền lợi của bất kỳ một đối tượng DN nào. Đây chính là “nút thắt” cần được tháo gỡ không chỉ với DN dăm gỗ”, ông cho hay. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 19/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Đám mây khói mù bao phủ nhiều quốc gia Đông Nam Á do tình trạng cháy rừng nghiêm trọng ở Indonesia hồi năm 2015 có thể là nguyên nhân khiến khoảng 100.300 người chết yểu, theo nghiên cứu của Mỹ công bố hôm 19-9.
BBC dẫn nghiên cứu của Đại học Harvard và Columbia cho biết, khoảng 90% (91.600 người) chết sớm trong những khu vực gần các đám cháy thải khói mù ở Indonesia. Số ca chết yểu còn lại là ở Malaysia (6.500 người) và Singapore (2.200 người). Con số này cao hơn nhiều so với ước tính số người chết chính thức công bố trước đó là chỉ 19 người ở Indonesia.
Jakarta nhiều lần bị cáo buộc là không nỗ lực để giải quyết vấn đề cháy rừng. Khói mù do cháy rừng là vấn đề thường xuyên gây tranh cãi giữa Indonesia với các nước láng giềng. Các đám cháy bùng phát chủ yếu trên đảo Sumatra của Indonesia và sau đó thổi sang các nước láng giềng như Malaysia và Singapore. (Công An TP.Đà Nẵng 20/9) đầu trang(
Trong các đại dương, những loài có kích thước lớn lại là những loài dễ bị tuyệt chủng hơn. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử tồn tại sự sống trên Trái đất, một nghiên cứu mới được công bố tại Mỹ cho thấy.
Trong nhóm và phân họ của các loài động vật biển, những loài có kích thước lớn đang có rủi ro tuyệt chủng gia tăng, theo kết quả được công bố hôm thứ Tư trên tạp chí Science.
Trong lịch sử tuyệt chủng trở về trước, những sinh vật có kích thước nhỏ có khả năng tồn tại thấp hơn, tác giả nghiên cứu Jonathan Payne, một nhà cổ sinh học tại Đại học Stanford, Mỹ.
Những loài nào có kích thước trung bình 1 cm hầu như không đối mặt với bất cứ nguy cơ tuyệt chủng nào. Tuy nhiên, 23% những loài có kích thước trung bình 10 cm, 40% loài có kích thước 1 mét, 86% loài có kích thước 10 mét đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng, Payne cho biết.
Đây là những loài đang nằm trong sách Đỏ cần được bảo vệ, vì những đe dọa và nguy cơ tuyệt chủng được đưa ra bởi Liên minh Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN).
“Tỷ lệ các loài có kích thước lớn đứng trước nguy cơ tuyệt chủng đang gia tăng nhanh”, theo Payne.
Loài cá voi xanh, không chỉ là loài động vật lớn nhất hiện nay, có kích thước gần 40m mà chúng là một trong những loài lớn nhất từng tồn tại, Payne nói. Chúng đang nằm trong danh sách hàng đầu về nguy cơ tuyệt chủng của IUCN và chúng chỉ trong 3 thế hệ 90% số lượng loài này đã biến mất.
Trái ngược với loài cá voi xanh, loài cá bristlemouths có khả năng phát quang sinh học, có độ dài khoảng 8 cm, là loài có số lượng rất lớn lên đến hàng nghìn tỉ con đang sống tại các đại dương.
Payne so sánh hóa thạch các loài đã bị tuyệt chủng hàng loạt trước đây và so sánh chúng với các mối đe dọa hiện tại. Ông tập trung vào 264 loài hiện đại và cổ xưa nhất.
Ông cho biết, sự kiện tuyệt chủng lớn 65 triệu năm trước, đã giết chết các loài khủng long trên mặt đất nhưng không làm ảnh hưởng đến các loài to lớn dưới biển. Điều này không giống với những gì đang diễn ra hiện nay.
Nghiên cứu của Payne không cố gắng để đi tìm nguyên nhân đang diễn ra tại các đại dương, nhưng nhóm nghiên cứu của ông đều cho rằng nguyên nhân là do con người.
Những khủng hoảng trong sự đa dạng sinh học hiện nay chủ yếu do: Việc đánh bắt cá và hải sản quá mức, nhiệt độ đại dương ấm lên và nồng độ axit tăng cao. Hoạt động của con người đã làm cho các động vật biển trở nên khó tồn tại hơn.
Tuy nhiên, Payne nói rằng vẫn còn hy vọng, một số loài động vật biển kích thước lớn không bị ảnh hưởng bởi xu hướng nêu ra trong nghiên cứu. Ông chỉ ra loài Hải cẩu phương Bắc, có số lượng tăng mạnh hiện nay và lên đến 100.000 cá thể, trong khi thập niên 1910 số lượng của loài này chưa đến 100. (Giáo Dục Và Thời Đại 19/9) đầu trang(./.
|
|||