|
Ngày 19 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Mùa khô năm 2016, Khánh Hòa là một trong những địa phương có nguy cơ cao nhất về cháy rừng với cấp dự báo cấp IV (nguy hiểm), cấp V (cực kỳ nguy hiểm). Nhiều khu vực rừng trọng điểm trên địa bàn tỉnh với tổng diện tích hơn 34.800ha rất dễ xảy ra cháy.
Tại huyện Cam Lâm, có hơn 24.505ha rừng và đất có rừng luôn được đặt trong tình trạng báo động cao về nguy cơ cháy rừng. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Cam Lâm, trong số diện tích rừng có nguy cơ cháy cao trên địa bàn, có hơn 19.145ha rừng tự nhiên và 4.163ha rừng trồng.
Tại huyện Khánh Sơn, có khoảng 2.000ha trong tổng số hơn 17.000ha đất có rừng có nguy cơ cháy cao. Những khu vực rừng trọng điểm dễ cháy chủ yếu là rừng trồng, tập trung ở các xã: Ba Cụm Nam, Sơn Lâm, Thành Sơn, Sơn Bình, Sơn Hiệp… Huyện Khánh Vĩnh có hơn 85.200ha rừng, trong đó hơn 10.000ha rừng trồng tập trung phân bổ khắp các địa phương trong huyện.
Theo ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh, phần lớn diện tích rừng có nguy cơ cháy cao là rừng trồng, tiếp giáp với đất sản xuất của người dân. Trong quá trình canh tác, người dân, nhất là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thường xuyên đốt nương làm rẫy; một số người khi đi rừng thường sử dụng lửa một cách bất cẩn... khiến rừng luôn đứng trước nguy cơ cháy cao, có thể cháy lan trên diện rộng.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Mấy năm gần đây, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng lớn, chỉ có một số vụ cháy cỏ tranh, lau lách trên đất lâm nghiệp và một vài vụ cháy rừng trồng với diện tích nhỏ, thiệt hại không lớn. Năm 2016, mặc dù khô hạn nặng, nhưng nhờ chủ động các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) nên rừng trên địa bàn tỉnh vẫn được bảo vệ tốt. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra vụ cháy nào gây thiệt hại về rừng”.
Để chủ động PCCCR, hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, hàng năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đều chỉ đạo các hạt kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR tỉnh tập trung thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó chủ động phòng cháy là chính.
Đồng thời, chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về công tác bảo vệ rừng và PCCCR; chỉ đạo kiểm lâm địa bàn chủ động tham mưu cho UBND cấp xã thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR; có kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, dụng cụ, hậu cần để sẵn sàng tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra theo phương châm “4 tại chỗ”.
Bên cạnh đó, xác định cụ thể ngoài thực địa và trên bản đồ các khu vực rừng trọng điểm có nguy cơ dễ bị xâm hại, dễ xảy ra cháy để thường xuyên tổ chức lực lượng tuần tra, trực gác ngăn chặn kịp thời; thông tin các bản tin cấp dự báo cháy rừng hàng tuần đến các địa phương, đơn vị chủ rừng, kiểm lâm địa bàn; tổ chức trực ban theo dõi tình hình triển khai thực hiện PCCCR trong các tháng mùa khô; phân công trực chỉ huy, trực PCCCR 24/24 giờ kể cả các ngày nghỉ lễ, thứ Bảy và Chủ nhật.
Các hạt kiểm lâm theo địa bàn quản lý có khu vực rừng giáp ranh với các hạt kiểm lâm, đơn vị chủ rừng của tỉnh lân cận chủ động xây dựng phương án, kế hoạch phối hợp thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng, PCCCR vùng giáp ranh; duy trì chế độ thông tin báo cáo theo đúng quy định về công tác bảo vệ rừng và PCCCR, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR.
Bên cạnh thực hiện đồng bộ các biện pháp PCCCR, hàng năm, chi cục còn tiến hành tập huấn, diễn tập để nâng cao năng lực PCCCR cho các đơn vị trực thuộc, chủ rừng và các địa phương trong tỉnh. “Nội dung tập huấn chủ yếu là những quy định của Luật Phòng cháy chữa cháy và các văn bản hướng dẫn; những vấn đề cơ bản trong PCCCR; việc sử dụng các trang thiết bị để PCCCR; các tình huống, biện pháp xử lý cháy rừng…
Chi cục còn tổ chức diễn tập nâng cao năng lực PCCCR nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm về công tác PCCCR cho cán bộ, nhân dân, cộng đồng dân cư nơi có rừng và nâng cao khả năng phối hợp giữa các lực lượng trong công tác chữa cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”. Qua diễn tập, các tình huống trong chữa cháy rừng, cứu người bị nạn, sử dụng trang thiết bị… được thực hiện khá thuần thục”, ông Nguyễn Khương cho biết.
Mới đây, Chi cục Kiểm lâm tỉnh còn triển khai Dự án Nâng cao năng lực PCCCR cho lực lượng kiểm lâm tỉnh. Theo đó, từ nguồn ngân sách Trung ương, ngành Kiểm lâm tỉnh được trang bị 1 ô tô chuyên dùng phục vụ công tác PCCCR, các hạt kiểm lâm địa phương được trang bị thêm nhiều phương tiện PCCCR như: máy phát điện, máy bơm nước, máy thổi lửa và các dụng cụ chữa cháy khác… (Báo Khánh Hòa 18/9) đầu trang(
Ngày 16-9, Ban Chỉ đạo (BCĐ) diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Lục Ngạn tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Dự và chỉ đạo có các đồng chí: Thiếu tướng Hoàng Công Hàm, Phó Tư lệnh Quân khu 1; Dương Văn Thái, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng BCĐ diễn tập tỉnh Bắc Giang; Từ Minh Hải, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh.
Quá trình diễn tập tổ chức thành ba giai đoạn, gồm: Thông báo tình hình thời tiết, khí hậu, thủy văn, chuyển cấp báo động, chuyển địa phương vào tình trạng khẩn cấp, sẵn sàng đối phó với tình huống cháy rừng; thực hành xử lý tình huống và tổng kết diễn tập.
Theo kịch bản, khoảng 14 giờ ngày 16-9, tại thôn An Toàn, xã Kiên Lao phát hiện đám cháy rừng, một số người dân đi làm ở gần đó đã tham gia chữa cháy và gọi điện báo cho trưởng thôn. Lực lượng bảo vệ rừng thôn An Toàn chia 2 tổ nhanh chóng tiếp cận đám cháy; dùng dao phát, vỉ đập, cành cây tươi dập đám cháy không cho lửa lan rộng. Tuy nhiên, do thực bì dày, khô lâu ngày lại gặp gió to nên lửa cháy càng dữ dội và lan nhanh, nằm ngoài tầm kiểm soát.
Ngay lập tức, trưởng thôn báo cáo Chủ tịch UBND xã Kiên Lao tăng cường nhân lực tham gia chữa cháy. Lực lượng xung kích 1 và 2 khoảng 100 người đã phối hợp với thôn An Toàn và kiểm lâm viên huyện căn cứ địa hình nhanh chóng tiến hành phát dọn, làm đường băng cản lửa, ngăn chặn 2 bên tuyến lửa không để cháy lan.
Nhưng do thời tiết không thuận lợi nên đám cháy lan rộng hơn, Chủ tịch UBND huyện phải báo cáo và đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh tăng cường cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ khu vực Lục Ngạn, huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng.
Đồng thời chỉ đạo Trưởng Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách về bảo vệ và PCCCR, Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện huy động toàn bộ lực lượng, phương tiện của địa phương phối hợp với Sư đoàn bộ binh 325 (Quân đoàn 2) tham gia chữa cháy. Sau hơn 2 giờ, đám cháy dần được khống chế và dập tắt hoàn toàn.
Phát biểu tổng kết, đồng chí Dương Văn Thái ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các lực lượng tham gia. Đối với nội dung thực binh, dù thời tiết nắng nóng, thời gian huấn luyện ngắn, yêu cầu xử trí nhanh, chính xác, cơ sở vật chất phục vụ công tác phòng cháy, chữa cháy còn khó khăn, song các đơn vị đã hiệp đồng chặt chẽ, đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và phương tiện.
Rút kinh nghiệm trong quá trình chuẩn bị công tác diễn tập, một số đơn vị còn lúng túng; chưa nắm chắc nội dung và bản chất của tình huống, nội dung báo cáo, tham luận chưa sát, còn phụ thuộc vào kịch bản. Hành động thực binh ở một số nội dung chưa thống nhất… Đồng chí yêu cầu huyện Lục Ngạn tiếp tục tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng chống cháy nổ nói chung, PCCCR nói riêng. Củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực điều hành; xây dựng hoàn chỉnh hệ thống văn bản, kế hoạch phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, PCCCR.
Nghiên cứu, rà soát, bổ sung kế hoạch PCCCR, chú trọng chuẩn bị nhân lực, dự trữ vật tư, phương tiện. Tổ chức luyện tập cho các lực lượng, kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, nhất là tại những khu rừng đặc dụng và cơ sở sản xuất trọng điểm. Tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, kiên quyết xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm. Thực hiện tốt việc kết hợp phát triển KT - XH với bảo đảm quốc phòng và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Nhân dịp này, 6 tập thể và 6 cá nhân có thành tích xuất sắc được Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang tặng Bằng khen; 10 tập thể, 17 cá nhân được Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn tặng Giấy khen. (Báo Bắc Giang 16/9) đầu trang(
Để bảo vệ nghiêm ngặt khoảng 25.000ha rừng tự nhiên còn lại, Chủ tịch UBND huyện miền núi Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên, vừa yêu cầu chủ tịch UBND 11 xã, thị trấn và các trưởng đầu ngành ký cam kết chịu tránh nhiệm cụ thể nếu để xảy ra các vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, trưởng các cơ quan, ban, ngành và chủ tịch UBND cấp xã, nếu buông lỏng quản lý để xảy ra phá rừng, cháy rừng, phát dọn thực bì trái phép; sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích và mua bán, chuyển nhượng trái pháp luật, phải chịu trách nhiệm trước chủ tịch UBND huyện; gắn khuyết điểm này vào kiểm điểm tập thể, cá nhân lãnh đạo quản lý và tùy tính chất vụ việc, có thể phân loại cuối năm ở mức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc kỷ luật thích đáng theo quy định.
Theo UBND tỉnh Phú Yên, từ đầu năm đế nay, huyện Đồng Xuân để xảy ra hai vụ phát, đốt rừng tự nhiên và đất lâm nghệp lớn với diện tích gần 200 ha; ba vụ cháy rừng trồng gây thiệt 22ha, chiếm phần lớn các vụ phá, cháy rừng trên địa bàn tỉnh. (Nhân Dân 17/9) đầu trang(
Mới đây, UBND tỉnh Đác Lắc công bố con số thống kê diện tích rừng giao, cho thuê trên địa bàn tỉnh Đác Lắc bị tàn phá, lấn chiếm lên tới 60.305,3 ha. Số liệu này được công bố chính thức tại hội nghị tổng kết công tác giao rừng, cho thuê rừng và giao đất lâm nghiệp do UBND tỉnh Đác Lắc tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột.
Thực hiện chủ trương giao rừng, cho thuê rừng gắn với đất lâm nghiệp, đến thời điểm hiện nay tỉnh Đác Lắc đã giao rừng, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp được 621.808 ha trong tổng số 721.786 ha rừng và đất lâm nghiệp toàn tỉnh. Trong đó, giao rừng với diện tích 279.694,50 ha và cho thuê rừng với diện tích 40.388,13 ha, chiếm 44,3% diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh.
Tuy nhiên, mới đây các ngành chức năng của tỉnh Đác Lắc đã tiến hành kiểm tra đối chiếu với diện tích giao rừng, cho thuê rừng ban đầu thì phát hiện diện tích rừng bị phá và lấn chiếm lên tới 60.305 ha.
Cụ thể, diện tích rừng giao cho các công ty lâm nghiệp quản lý bị phá, lấn chiếm là 17.610 ha. Diện tích rừng giao cho các hộ gia đình, cộng đồng quản lý bị phá, lấn chiếm là 10.610 ha. Diện tích rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức kinh tế và các tổ chức sự nghiệp khác thuê để thực hiện các dự án nông-lâm nghiệp bị phà là 3.265 ha. Diện tích rừng giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ bị phá là 1.825 ha và Ban quản lý rừng đặc dụng quản lý bị phá là 1.760 ha. Diện tích rừng chưa giao, hiện nay do UBND các xã quản lý bị phá, lấn chiếm 25.458 ha…
Theo đánh giá của UBND tỉnh Đác Lắc, nguyên nhân dẫn đến tình trạng rừng trên địa bàn tỉnh được giao, cho thuê quản lý, bảo vệ bị chặt phá, lấn chiếm với diện tích lớn như vậy là do công tác quản lý, bảo vệ rừng đã giao của các chủ rừng chưa có hiệu quả. Một số địa phương diện tích rừng đã giao vẫn bị xâm hại, chặt phá, lấn chiếm trái phép nghiêm trọng nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng, tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển rừng của các chủ rừng chưa theo phương án giao rừng đã được phê duyệt và thực hiện chưa hiệu quả. Một số địa phương trong tỉnh, công tác giao rừng chưa được thực hiện nghiêm túc, triển khai chậm, thiếu hướng dẫn, kiểm tra trong quá trình tổ chức giao, nhận rừng.
Trong quá trình tổ chức giao, nhận rừng, sự phối hợp giữa các ngành liên quan trong chỉ đạo triển khai chưa chặt chẽ. Đặc biệt là giữa ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn với ngành tài nguyên và môi trường trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và ngành tài chính trong cấp phát vốn.
Đối với cấp huyện, sự phối hợp chỉ đạo, theo dõi giữa các phòng liên quan trong công tác giao rừng cho các hộ gia đình thiếu đồng bộ, nhất quán, không xây dựng kế hoạch chi tiết nên khi thực hiện gặp nhiều vướng mắc nhưng giải quyết không thấu đáo kịp thời.
Trách nhiệm pháp lý trong giao rừng chưa được xác lập, trình tự chưa tuân thủ đúng quy định, ranh giới vị trí địa điểm giao cho từng đối tượng không rõ ràng trên thực địa, diện tích hiện trạng trên thực tế không đúng với hồ sơ giao rừng. Thậm chí một số hồ sơ giao rừng chỉ có quyết định giao rừng, không có số liệu tài nguyên rừng, bản đồ hiện trạng rừng…
Phần lớn các chính sách và quy định trong lĩnh vực giao đất, giao rừng hiện hành chỉ mới giải quyết được phần “tiên”, còn phần “hậu giao đất rừng” chưa có, khiến người dân còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng sau khi nhận đất, nhận rừng. Các chế độ cho người dân nhận quản lý, bảo vệ rừng còn thấp, người dân vẫn chưa thể sống được bằng nghề rừng nên họ chưa làm hết trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thậm chí còn buông lỏng, tiếp tay cho việc phá rừng…
Tình trạng tranh chấp đất đai, phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp đã giao trên địa bàn tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp, thậm chí thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh còn xảy ra tình trạng người dân ở xã này sang phá rừng ở xã khác…
Do những tồn tại, bất cập nêu trên dẫn đến hàng chục nghìn ha rừng trên địa bàn tỉnh Đác Lắc được giao, cho thuê quản lý, bảo vệ bị tàn phá, lấn chiếm trái phép. Nếu các cấp, các ngành ở Đác Lắc không sớm chấn chỉnh, khắc phục những tồn tại, nêu trên thì những diện tích rừng tự nhiên còn lại ở Đác Lắc cũng khó mà quản lý được. (Nhân Dân 16/9) đầu trang(
Đối tượng triệt hạ gần 30 cây gỗ Giáng hương hồi tháng 3 vẫn chưa được tìm ra, gây khó khăn cho việc qquanr lý, bảo vệ rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, huyện Eakar (Đác Lắc).
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Ea Sô, xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đác Lắc có tổng diện tích hơn 26.600 ha, trong đó phân khu rừng bảo vệ nghiêm ngặt hơn 15.000 ha, phân khu phục hồi sinh thái trên 9.000 ha... Trong khu bảo tồn này hiện còn nhiều loại gỗ quý hiếm như: Giáng hương, Cẩm lai, Cà te, Trắc…
Vào khoảng giữa tháng 3-2016, lợi dụng vào điều kiện thời tiết khô hanh, lực lượng kiểm lâm mỏng, lâm tặc đã lẻn vào triệt hạ gần 30 cây gỗ Giáng hương quý hiếm nằm ngay vùng lõi của khu bảo tồn.
Ngay sau khi xảy ra vụ việc, Ban Quản lý Khu BTTN Ea Sô đã báo cáo cho Công an huyện và Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar để phối hợp điều tra, xử lý. Xác định đây là vụ việc nghiêm trọng nên Công an huyện Ea Kar đã khởi tố vụ án và phối hợp với các ngành chức năng điều tra làm rõ nhưng đến nay đã hơn năm tháng trôi qua các ngành chức năng vẫn chưa truy tìm ra đối tượng phá rừng, gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ rừng ở đây.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, khu vực lâm tặc triệt hạ gần 30 cây gỗ Giáng hương quý hiếm này thuộc Tiểu khu 637, nằm cách Quốc lộ 29 chỉ 30m và cách Trạm Kiểm lâm số 1 thuộc Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô khoảng 500 m. Rừng tại tiểu khu này thuộc diện được bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn. Các cây gỗ Giáng hương ở đây, mỗi cây có đường kính từ 20cm-30cm và lâm tặc ngang nhiên khai thác trong một thời gian dài nhưng lực lượng kiểm lâm của khu bảo tồn không hề hay biết.
Mới đây, chúng tôi có dịp trở lại hiện trường vụ khai thác rừng trái phép nghiêm trọng này thì những thân cây gỗ Giáng hương đã được lâm tặc cưa xẻ vận chuyển ra khỏi rừng, chỉ còn trơ gốc và phần ngọn bị bỏ lại nằm ngổn ngang, thỉnh thoảng còn sót lại vài khúc gỗ tròn được cưa hai đầu ngay ngắn. Các cán bộ kiểm lâm đi cùng cho biết, do đây là tang vật của vụ án nên vẫn giữ nguyên tại hiện trường để phục vụ công tác điều tra.
Trạm trưởng Trạm kiểm lâm số 1 Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô Lê Chiến Binh cho biết: Mặc dù địa điểm xảy ra vụ triệt hạ gần 30 cây gỗ Giáng hương này chỉ nằm cách Quốc lộ 29 khoảng 30m và cách Trạm Kiểm lâm số 1 chỉ 500m nhưng rất khó truy bắt các đối tượng phá rừng. Do rừng ở đây dày, trong rừng có rất nhiều đường nhỏ, khi phát hiện lâm tặc thì họ bỏ chạy vào rừng nên không thể đuổi bắt được. Hơn nữa, thời điểm xảy ra vụ khai thác rừng này là thời kỳ cao điểm của mùa khô, lá rừng rụng nhiều nên việc đi tuần tra, kiểm soát của lực lượng kiểm lâm dễ bị lâm tặc phát hiện.
Vì vậy, sau khi phát hiện lâm tặc triệt hạ gần 30 cây gỗ Giáng hương này, lực lượng kiểm lâm của trạm đã mật phục nhiều lần nhưng không bắt được đối tượng phá rừng nào nên đã báo cáo với Ban Giám đốc Khu BTTN Ea Sô. Do đây là vụ khai thác rừng nghiêm trọng nên Ban Giám đốc khu bảo tồn phối hợp với Công an, Viện Kiểm sát huyện Ea Kar khởi tố vụ án và tổ chức điều tra, xử lý đối tượng nhưng đến nay vẫn chưa tìm ra đối tượng phá rừng.
Do việc khai thác trái phép gần 30 cây gỗ Giáng hương quý hiếm xảy ra tại tiểu khu thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt và chỉ cách Trạm kiểm lâm số 1 thuột Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô chỉ 500m nhưng lực lượng kiểm lâm không hề hay biết và đến khi phát hiện ra thì toàn bộ số gỗ đã được đưa ra khỏi rừng, đồng thời không bắt giữ được đối tượng phá rừng nào. Vì vậy, dư luận đặt câu hỏi liệu có sự tiếp tay cho vụ khai thác gỗ quý hiếm trái phép nghiêm trọng này hay không?
Trả lời câu hỏi này, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô Nguyễn Quốc Hùng cho biết: Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn đã tổ chức kiểm điểm các nhân viên tại Trạm Kiểm lâm số 1. Quan điểm của Hạt sẽ xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân liên quan nếu có tình trạng tiếp tay cho lâm tặc khai thác gỗ trái phép. Tuy nhiên, phải chờ kết quả điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar có hay không tình trạng tiếp tay mới xử lý được.
Tuy nhiên, từ khi xảy ra vụ phá rừng nghiêm trọng này đến nay đã hơn năm tháng trôi qua nhưng Công an huyện vẫn chưa có kết luận điều tra, chưa xác định được đối tượng khai thác rừng trái phép liên quan nào nên Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn chưa có cơ sở để xử lý trách nhiệm của các cán bộ, nhân viên liên quan.
Chính vì công tác điều tra, xử lý các đối tượng khai thác gỗ quý hiếm trái phép trong Khu BTTN Ea Sô của các ngành chức năng huyện Ea Kar và tỉnh Đác Lắc chậm và gặp nhiều khó khăn nên trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ lâm tặc đột nhập khai thác gỗ Giáng hương trái phép với khối lượng lớn trong khu BTTN này nhưng chưa được ngăn chặn.
Khu BTTN Ea Sô có diện tích lớn, có tính đa dạng sinh học cao và hiện còn nhiều loại gỗ quý hiếm như: Giáng hương, Cẩm lai, Cà te, Trắc… là môi trường sống lý tưởng bậc nhất Việt Nam của bò tót, bò rừng và các loài thú quý hiếm thuộc bộ móng guốc ăn cỏ sinh sống. Tuy nhiên, rừng cũng như các loại động vật quý hiếm ở đây đang bị đe dọa nghiêm trọng do các đối tượng khai thác rừng, săn bắn thú rừng tấn công từ nhiều phía khiến cho công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu BTTN Ea Sô càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn bao giờ hết.
Một trong những nguyên nhân chưa ngăn chặn được nạn khai thác gỗ quý hiếm trong Khu BTTN này là trong thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ khai thác gỗ nghiêm trọng, nhưng phần lớn các ngành chức năng của huyện Ea Kar và tỉnh Đác Lắc chưa điều tra, xử lý được đối tượng khai thác rừng trái phép, điển hình như vụ khai thác gần 30 cây gỗ Giáng hương nêu trên.
Vì vậy, theo chúng tôi, tỉnh Đác Lắc cần chỉ đạo các ngành chức năng của tỉnh phối hợp với Công an huyện Ea Kar, Viện Kiểm sát nhân dân huyện và lực lượng kiểm lâm Khu BTTN Ea Sô tích cực điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác trái phép gần 30 cây gỗ Giáng hương quý hiếm xảy ra vào tháng 3-2016 tại Khu BTTN Ea Sô nhằm răn đe, ngăn chặn tình trạng phá rừng và săn bắn thú rừng trái phép trong Khu BTTN Ea Sô. (Nhân Dân 18/9) đầu trang(
Những cây gỗ to bị cưa đổ ngổn ngang, từng hộp gỗ lớn đã bị những tên “lâm tặc” xẻ thịt và vận chuyển ra khỏi rừng phòng hộ. Đó là khung cảnh hoang tàn mà phóng viên báo Pháp luật Việt Nam ghi nhận được trong quá trình thâm nhập vào rừng phòng hộ thuộc xã Đăk Long, huyện Đăk-Glei, tỉnh Kon Tum.
Trong quá trình thâm nhập, tiếp cận nhiều nhà dân tại xã Đăk Long, nhóm phóng viên không khỏi ngỡ ngàng khi phát hiện, hầu như nhà nào cũng đều chứa gỗ lậu trước nhà.
Người ít thì 3-4m3, người nhiều thì 9-10m3. Điều này khiến dư luận đặt ra câu hỏi: Có hay không việc cơ quan chức năng huyện Đăk-Glei “làm ngơ” cho việc phá rừng và tàng trữ gỗ trái pháp luật?.
Sau khi báo Pháp Luật Việt Nam, Câu chuyện Pháp luật có những loạt bài điều tra về tình trạng phá rừng ngang nhiên, công khai trên địa bàn các huyện của tỉnh Kon Tum.
Mới đây nhất, đường dây nóng của báo lại nhận được những thông tin phản ánh về việc phá rừng phòng hộ trên địa bàn huyện Đăk-Glei (Kon Tum).
Theo thông tin từ một người chuyên làm gỗ (nay đã giải nghệ) phản ánh, xã Đăk Long là địa bàn “nóng” về tình trạng phá rừng, bởi đây là xã nằm xa trung tâm huyện Đăk-Glei, địa hình bị chia cắt. Cũng theo tìm hiểu của phóng viên, do xã Đăk Long nằm biệt lập nên bất kỳ người lạ nào đi vào đều sẽ bị chú ý.
Để vào được trung tâm xã, chúng tôi phải cải trang thành những người đi buôn bò. Từ trung tâm huyện Ngọc Hồi, chúng tôi di chuyển bằng xe máy xuôi theo QL14C, đi khoảng 20km thì đến được ngã 3 Đăk Long (huyện Đăk-Glei). Từ đây, chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình hơn 15km nữa mới vào được đến Đồn biên phòng 673.
Khi thấy những mái nhà nằm nép mình bên những dãy núi xanh tươi bạt ngàn rừng cây, chúng tôi ngỡ tưởng cuộc sống ở đây vô cùng yên bình. Nhưng một thực tế cho thấy rằng, bên dưới những rừng cây đó, có không ít thế lực đã “một tay che trời’ và đang từng ngày, từng giờ “rút ruột” những cánh rừng xanh tươi để kiếm lợi một cách bất chính.
Chúng tôi cũng đặt ra một câu hỏi: “Nếu như một số cán bộ không tha hóa về mặt đạo đức, làm ngơ cho lâm tặc thì liệu những cây gỗ đó có ra nổi khỏi rừng hay không?”.
Theo lời hướng dẫn, chúng tôi phải gửi xe máy để tiếp tục đi bộ khoảng 10km nữa mới lên được hiện trường vụ phá rừng phòng hộ. Khi đôi chân đã thấm mệt với bao cố gắng nhằm phanh phui sự việc, làm rõ trách nhiệm của những cán bộ có thẩm quyền khi để xảy ra phá rừng, cuối cùng, chúng tôi cũng đã tiếp cận được cửa rừng phòng hộ.
Tại đây, theo ghi nhận của phóng viên, đã có lác đác vài ba cây gỗ, đường kính nhỏ đã bị cưa đổ ngay “cửa rừng”. Bên cạnh đó, dấu vết mùn cưa và từng phách gỗ đã bị cưa xẻ còn rất mới.
Tiếp tục đi sâu vào rừng, theo ghi nhận, tại tiểu khu 129, thuộc thôn Pêng Blong, xã Đăk Long, huyện Đăk-Glei có một số cây đường kính lớn đã bị cưa hạ, vết cưa rất ngọt và sắc, cành và lá bắt đầu héo úa, tuy nhiên, không hiểu vì sao mà gỗ vẫn chưa được chuyển ra khỏi rừng. Để tránh bị “lâm tặc” phát hiện, chúng tôi đành phải quay ra khỏi rừng.
Sau khi quay lại “cửa rừng” phòng hộ, chúng tôi tiếp tục thâm nhập vào các khu vực lân cận. Không thể tin nổi vào mắt mình, một cây gỗ có đường kính khoảng 2 người ôm đã bị cưa hạ. Tại hiện trường, nhiều hộp gỗ đã bị cưa xẻ và vận chuyển đi, còn sót lại các phách gỗ nhỏ, phần ngọn và 1 phiến gỗ tròn dài khoảng 1m.
Càng về chiều, cơn mưa rừng càng nặng hạt, chúng tôi đành quay trở lại trung tâm xã Đăk Long. Khi ra chưa được bao xa, chúng tôi phát hiện tiếng xe sắt đang đi về hướng cửa rừng phòng hộ. Bất ngờ gặp mặt người lạ, 3 thanh niên đi trên 2 xe sắt bỗng dưng đứng khựng lại với ánh mắt dò xét nhìn chúng tôi.
Theo quan sát, 3 thanh niên này mang theo cưa lốc, xăng dầu và lương thực đi theo hướng rừng phòng hộ. Khi được hỏi, 3 thanh niên trả lời lúng túng là đi lấy phong lan rừng.
Theo tìm hiểu của phóng viên, tại xã Đăk Long, do nằm sát “cửa rừng” nên lượng xe sắt độ chế một ngày một nhiều. Đây là phương tiện chính dùng để chở gỗ từ rừng ra. Chỉ tính riêng trên địa bàn xã Đăk Long đã có không dưới 50 xe sắt hoạt động rầm rộ khắp các cánh rừng trên địa bàn.
Để biết được hoạt động khai thác gỗ trắng trợn như thế nào, chúng tôi bắt đầu theo dấu các xe sắt. Khi những chiếc xe sắt hướng theo con đường vành đai biên giới (từ Đồn biên phòng 673 lên Đồn biên phòng 671 Rơ Long), trên đường đi, chúng tôi vô tình bắt gặp 2 khúc gỗ đã được cưa xẻ, dài khoảng 2m và có đường kính hơn 1 người ôm, nằm sát với con đường vành đai biên giới.
Tiếp tục đi theo các tay “lâm tặc” xe sắt, để vào được rừng phòng hộ, chúng tôi phải đi qua 1 trạm quản lý bảo vệ rừng phòng hộ.
Khi khoảng cách sắp gần đến Đồn biên phòng 671 Rơ Long, chúng tôi đi sâu vào các con đường nhỏ rẽ vào rừng phòng hộ, đi chưa được bao xa, phóng viên phát hiện 2 gốc cây to đã bị những tay “lâm tặc” đốn hạ. Tại hiện trường, những phách gỗ đã được xẻ và đã vận chuyển đi.
Trong vai một tay buôn gỗ, chúng tôi tiếp cận nhiều nhà dân trên địa bàn xã Đăk Long, huyện Đăk-Glei, Kon Tum và ngỏ lời muốn mua gỗ để về làm nhà. Thấy một nhà dân chứa nhiều gỗ tròn trước nhà, nằm sát ngay con đường bê-tông, chúng tôi ghé vào hỏi thăm.
Qua nói chuyện, 2 vợ chồng trẻ giới thiệu tên là A Khiển. Khi chúng tôi ngỏ lời có ý định mua về làm cột nhà thì A Khiển khước từ bảo để làm nhà và nhất quyết không bán.
Trò chuyện với chúng tôi, 2 vợ chồng A Khiển, cho biết: “Ngày trước 2 vợ chồng có viết giấy tay với trưởng thôn, rồi trưởng thôn đưa lên xã xác nhận, đóng dấu cho rồi cứ thế lên rừng chặt gỗ nhưng tối đa chỉ được 3-4m3. Hiện tại nhà mình có khoảng 4m3 gỗ giổi nhưng để làm nhà nên không bán”.
Vợ chồng A Khiển còn cho hay: “Sau khi xã đóng dấu thì phải nộp đơn đó cho kiểm lâm và bên rừng phòng hộ thì mới được vào rừng làm. Còn nếu đi đường kia thì phải nộp đơn cho đồn biên phòng (ĐBP 673 và ĐBP 671 Rơ Long-PV)”.
Nằm cách nhà A Khiển không xa, chúng tôi phát hiện một ngôi nhà gỗ chứa rất nhiều gỗ hộp nằm ngay trước nhà. Hỏi gia chủ chúng tôi được biết, đây toàn bộ là gỗ của nhà Hải Mun (người Kinh) gửi nhờ.
Theo quan sát của phóng viên, có không dưới 20 hộp gỗ, tất cả đều là gỗ giổi, chiều dài trên 2m, đường kính 40x60. Lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của người đồng bào Xê-Đăng nên Hải Mun đã để nhờ số gỗ trên, tránh việc cơ quan chức năng “sờ gáy”.
Tiết lộ thêm với chúng tôi, người phụ nữ (chưa rõ tên), cho biết: “Toàn bộ số gỗ Giổi này được làm từ 6h sáng và gần 0h đêm mới về và đã được một người ngoài huyện Ngọc Hồi đặt mua”.
Theo chỉ dẫn của gia chủ ngôi nhà này, chúng tôi di chuyển xuống thôn Pêng Blong. Nằm sát ngôi nhà rông của thôn Pêng Blong, theo quan sát của chúng tôi, rất nhiều nhà dân chất từng đống gỗ lớn trước nhà.
Trò chuyện với một người đàn ông đang bốc các hộp gỗ để trước nhà, người này tiết lộ: “Hiện tại có khoảng 4m3 gỗ sến, sao xanh nhưng không bán. Ngày trước lâm trường còn cho vào rừng xẻ, giờ lâm trường không cho xẻ nữa. Ngay bên cạnh nhà cũng có người chuyên xẻ gỗ hộp dài 2m để bán”.
Người này còn khẳng định với phóng viên: để vào rừng làm gỗ và đưa gỗ về bắt buộc phải viết đơn trình lên xã và được xã ký, đóng dấu thì mới được vào rừng chặt gỗ.
“Ngày trước nhà mình viết đơn lên cho thôn trưởng là ông A Mốc và bây giờ thay thôn trưởng là A Tăng. Rồi thôn trưởng sẽ trình lên xã”, người dân cho biết.
Chúng tôi tiếp tục đi sâu thẳng theo con đường vành đai biên giới (hướng lên đồn biên phòng 671 Rơ Long) và vô cùng sửng sốt khi bắt gặp một ngôi nhà chất nhiều đống gỗ lớn trước nhà.
Theo quan sát của phóng viên, ngôi nhà vắng chủ và có khoảng trên 10m3 gỗ giỗi, sao xanh… đã được cưa xẻ theo quy cách.
Tìm hiểu từ một người dân tên A Hùng, chúng tôi được biết, ngôi nhà chứa nhiều gỗ đó tên là A Quyến, trú tại thôn Đăk Xây và tất cả số gỗ trên đã có người mua, nhưng do cơ quan chức năng đợt này làm gắt nên số gỗ trên 10m3 chưa được đưa ra.
Để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc phá rừng và tàng trữ gỗ trái pháp luật, phóng viên đã liên lạc với ông Nguyễn Văn Hải-Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Đăk-Glei để thông báo sự việc. Qua điện thoại, khi phóng viên phản ánh thì ông Hải hết sức bất ngờ và hứa sẽ cho người đi kiểm tra để trả lời báo chí.
Khi phóng viên đặt câu hỏi: “Các anh có nắm được thông tin phá rừng và tàng trữ gỗ trái pháp luật xảy ra tại các thôn được xã Đăk Long hay chưa?”. Ngay sau đó, ông Hải cho biết:
“Tại xã Đăk Long không có trạm kiểm lâm địa bàn nên thông tin này chúng tôi cũng chưa nắm được. Sắp tới, chúng tôi sẽ kết hợp với các cơ quan chức năng, thông báo sự việc cho chính quyền để phối hợp với quý báo làm rõ những vấn đề trên”.
Trong những ngày vào cuộc điều tra tại xã Đăk Long, huyện Đăk-Glei, tình trạng phá rừng, tàng trữ gỗ trái pháp luật dường như đã trở thành chuyện thường tình và diễn ra công khai.
Nhưng điều chúng tôi băn khoăn, ai là người đứng sau để ký, đóng dấu cho người dân ngang nhiên phá rừng?”. Ông trưởng thôn, vị lãnh đạo xã nào lại cho mình cái quyền được “cấp phép” cho người dân “xẻ thịt” đại ngàn như lời người dân cung cấp?
Đã đến lúc UBND tỉnh Kon Tum cần nhanh chóng đề nghị cơ quan CSĐT vào cuộc làm rõ từng cá nhân, tập thể liên quan đến việc “cấp phép” cho người dân công khai phá rừng một cách bất chính?
Trả lời phóng viên, ông Lương Văn Phường-Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ xã Đắk Long, cho biết: “Tại lâm phần chúng tôi quản lý không có việc khai thác rừng theo quy mô, tổ chức.
Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi việc người đồng bào dân tộc thiểu số lợi dụng sơ hở của cơ quan chức năng để vào rừng khai thác trộm. Sắp tới chúng tôi sẽ cho kiểm tra toàn bộ, nếu phát hiện sẽ cương quyết xử lý”.
Về phía kiểm lâm, ông Nguyễn Văn Hải khẳng định: “Sau khi được phóng viên phản ánh, chúng tôi đã tham mưu cho UBND huyện Đăk-Glei và huyện đã thành lập đoàn liên ngành trực tiếp xuống kiểm tra và bắt giữ một số lượng lớn gỗ lậu được chứa trong nhà dân. Con số cụ thể thì tới đây chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin cho quý báo”. (Pháp Luật Việt Nam 17/9) đầu trang(
Tỉnh Kon Tum đang xây dựng một bức tường rào bằng bêtông bảo vệ 546ha rừng đặc dụng tại huyện Đắc Hà. Gỗ đã ngã, máu đã đổ khi lâm tặc tấn công lực lượng bảo vệ rừng, đốn hạ gỗ quý. Dãy tường rào trị giá 27 tỉ đồng bao quanh khu rừng được dựng lên để ngăn “lâm tặc”. Tuy thế, tỉnh Kon Tum cũng quan ngại, chưa thể nói biện pháp trên đã khả thi (!?).
Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng (BQLRĐD) Đắc Uy - Nay Y Riu cho biết, khu rừng nằm ngay thị trấn Đắc Hà (huyện Đắc Hà), cách TP. Kon Tum 27km. Đây là nơi hiếm của cả nước với nhiều gỗ quý như trắc (đặc hữu), hương, sao đen, chò sót... và động vật là khỉ, culi, mang.
“Mà gỗ trắc thì có giá cao, nên lâm tặc không chừa bất cứ thủ đoạn gì để cắt cây. Chúng thường đi đêm khuya, một nhóm mười mấy người, nghiện hút có, “đầu gấu” có. Từ đó, dõi động tĩnh cán bộ, điện thoại cho nhau, chỉ cần anh em sơ hở là nó cắt. Mưa lớn, nó hạ là anh em không nghe, hoặc tinh vi hơn, chúng dùng dây cáp buộc để cắt từng đoạn, tránh cây ngã gây tiếng động”, ông Nay Y Riu ta thán.
Khi bị phát hiện, lâm tặc ngang nhiên chống trả quyết liệt, dao rựa, mã tấu sẵn sàng. Cao điểm, tỉnh Kon Tum phải huy động cả trăm người để truy bắt lâm tặc. Chánh Văn phòng Sở NNPTNT Kon Tum - Phạm Xuân Khanh cho biết, cũng vì bảo vệ gỗ quý, ông Nay Y Riu - đã bị lâm tặc chặt đứt một ngón tay. Năm 2015, BQLRĐD Đắc Uy xảy ra 5 vụ phá rừng trái phép với 13m3 gỗ thiệt hại, xử phạt hành chính 4,5 triệu đồng, khởi tố 1 vụ.
BQLRĐD Đắc Uy mô tả công tác bảo vệ rừng ở đây là quá tải, mỗi tháng được nghỉ 1-2 ngày, lương 2-2,5 triệu đồng/tháng đối với cán bộ hợp đồng. Ăn, ở trong lán trại sơ sài, tạm bợ, rắn rết... nhiều người thấy khổ quá, xin chuyển đi nơi khác.
Để bảo vệ khu rừng, tỉnh Kon Tum đề ra nhiều phương án, cuối cùng biện pháp xây dựng tường rào bao quanh khu rừng 564ha được “phê duyệt”. Công trình có tên: “Hàng rào và các công trình bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng đặc dụng Đắc Uy”. Tỉnh Kon Tum giao Sở NNPTNT làm chủ đầu tư, ngày 10.6.2016 khởi công, dự kiến hoàn thành ngày 7.12.2016. Giá trị công trình là 27 tỉ đồng, từ nguồn vốn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Chánh VP UBND tỉnh Kon Tum - Bùi Thanh Bình hồ hởi: “Tỉnh trình phương án này và được Chính phủ chấp thuận chủ trương”.
Tại đây, PV thấy công trình đang xây dựng dang dở, có đoạn đã hoàn thành, tường bằng bêtông cốt thép, cao khoảng 1,8m, bên trên cuộn kẽm gai. Đoạn khác, công nhân đang đổ móng, cát, ximăng, máy trộn bêtông nổ máy hoạt động inh ỏi. Công việc rất hối hả, khẩn trương. Bức tường khi hoàn thành sẽ dài 7,5km bao quanh phần lớn khu rừng 564ha. Tuy vậy, theo ông Nay Y Riu, có một đoạn dài 4km không thể xây tường vì địa hình đồi dốc nên chỉ giăng kẽm gai bảo vệ. Trước thắc mắc lâm tặc quyết chặt gỗ quý, chúng có phá hàng rào? Lực lượng có đủ để canh tường rào bêtông?
Chánh VP tỉnh Kon Tum - Bùi Thanh Bình - bình thản: “Cái đó tùy thuộc vào thực tế, ngay cả căn nhà kiên cố thế trộm còn vào được nữa là. Nguyên tắc có hàng rào thì bao giờ cũng bảo vệ tốt hơn, giờ còn đang xây, hiệu quả như thế nào chưa trả lời được”. Tương tự, GĐ BQLRĐD Đắc Uy - Nay Y Riu - nghi ngại: “Có nhiều vấn đề khách quan, cũng không thể nói xây tường rào là coi như bảo đảm 100%”.
Trong khi Kon Tum xây tường rào thì tỉnh Gia Lai bảo vệ rừng bằng cách giao khoán cho người dân. Làng Klah, xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang (Gia Lai) có hơn 100 hộ được giao khoán bảo vệ gần 400ha rừng, hưởng 4 triệu đồng/hộ/năm.
Giám đốc Quỹ Bảo vệ - Phát triển rừng Gia Lai - Võ Văn Hạnh, khẳng định: “Việc giao rừng cho người dân đã phát huy được sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng. Họ làm rất tốt công tác phòng, chống cháy rừng, không phát rừng làm nương rẫy, cảnh giác, phòng ngừa, ngăn chặn lâm tặc. Diện tích rừng được giao cho người dân quản lý là rất tốt”. (Lao Động 17/9) đầu trang(
Ngày 18.9, ông Phạm Văn Nam, Chủ tịch UBND H.An Lão (Bình Định), cho biết: Trước nạn phá rừng đang diễn ra ngày một nghiêm trọng tại địa phương, các ngành chức năng đã bàn bạc và thống nhất phương án giao đất rừng sản xuất cho người dân quản lý được xem là khả thi và thiết thực nhất.
Trước đó, rừng khu vực Bồn Dầu, ở xã An Nghĩa (H.An Lão) được ngành chức năng quy hoạch làm rừng sản xuất và giao UBND xã An Nghĩa quản lý. Tuy nhiên mới đây, UBND xã đã phát hiện hàng loạt cây có đường kính tầm 40 cm trở lên, trên diện tích khoảng 9 ha rừng do xã quản lý, đã bị đốn hạ, thay vào đó là cây keo con trồng được vài tháng.
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng cây nguyên liệu giấy (cây keo lai) tại Bình Định ngày một “nóng” hơn do giá gỗ keo tăng cao. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 198 vụ phá rừng với tổng diện tích gần 256 ha. Trong đó H.An Lão đang dẫn đầu với 147 vụ (160,8 ha).
Theo ông Nam, các cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương của huyện đã tổ chức nhổ bỏ cây trồng trái phép trên diện tích 44,5 ha. “UBND huyện cũng giao nhiệm vụ cho các địa phương thống kê, thu hồi toàn bộ số diện tích đất rừng bị lấn chiếm trái phép; sau đó, phân loại và giao lại cho người dân quản lý, nhưng chỉ giao số diện tích thuộc loại đất sản xuất. Huyện sẽ chọn xã An Tân triển khai điểm, sau đó áp dụng trong toàn huyện một cách chặt chẽ”, ông Nam nói. (Thanh Niên 19/9) đầu trang(
Nhận được dự án các chủ đầu tư nhanh chóng lập bản thiết kế quy hoạch, báo cáo đánh giá tác động môi trường vội vàng rồi gấp rút bồi thường để giải phóng mặt bằng và rầm rộ khởi công công trình. Tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn, nhiều dự án đã trở thành dự án dở dang cùng nhiều diện tích rừng bị tàn phá...
Ở thủy điện Đrăng Phốk, công trình thủy điện có công suất 28MW đã được tỉnh Đắk Lắk đồng ý cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO (TPHCM) xây dựng tại tiểu khu 430, 431 và 451, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Yok Đôn.
Từ bến cá ông Lại nơi ngăn đập thủy điện nhìn ra xung quanh, đâu đâu cũng thấy những cây bằng lăng cổ thụ cả hai người ôm không xuể. Bên kia sông Srêpốk, rừng cây cổ thụ dày đặc, sum suê hơn và trải dài xanh thẳm theo dòng sông. Nhìn bằng mắt thường cũng dễ dàng nhận thấy tính đa dạng sinh học khu vực rừng này không hề thấp.
Ông Phạm Tuấn Linh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Yok Đôn, cho biết: Với diện tích 115.000ha, nơi đây rất giàu về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Vì thế, khi chuyển đổi rừng đặc dụng ở vùng lõi làm thủy điện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến Vườn quốc gia Yok Đôn. Nếu dự án nhà máy thủy điện Đrăng Phốk thực hiện sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng. Sau khi nhà máy vận hành, nước hồ dâng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển lâm sản bằng đường thủy.
Ngoài ra, trong quá trình thi công sẽ nổ mìn, phá đá gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn sẽ làm động vật hoang dã (như voi, bò tót...) bỏ đi nơi khác. Đặc biệt, khi nhà máy chặn dòng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, sinh sản, môi trường sống của các loài thủy sinh trên dòng sông Srêpốk. Trước thực trạng này, tại hội thảo tham vấn về việc xây dựng thủy điện này được tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột vào ngày 23.3 vừa qua, hầu hết các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk đều phản đối việc xây dựng nhà máy thủy điện Đrăng Phốk.
Dự án Thủy điện Đắk Mi 1 với công suất 49MW ở xã Đăk Choong, huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum do chủ đầu tư là Công ty cổ phần Quang Đức – Kon Tum triển khai từ năm 2009 và tiến hành bồi thường vùng dân bị ảnh hưởng từ năm 2013. Theo thiết kế, dự án có 15 hộ dân nằm trong vùng ngập do tích nước thủy điện phải di dời, 269ha đất sản xuất và hơn 100 hộ của 5 thôn của xã Đắk Choong bị ảnh hưởng từ dự án thủy điện này.
Ngày khởi công công trình, Công ty cổ phần Quang Đức- Kon Tum đã triển khai một cách rầm rộ để khẳng định sự quyết tâm thực hiện dự án. Những cánh rừng bạt ngàn trên thượng nguồn Kon Tum bị triệt hạ trọc lóc, nhiều thân gỗ vạm vỡ bị cắt khúc, đốn hạ ngổn ngang.
Thế nhưng đến nay, sau gần 7 năm chủ đầu tư công trình thủy điện này mới chỉ triển khai thi công được khu phụ trợ và nhà quản lý, vận hành, đường phục vụ thi công. Tất cả các hạng mục khác đều dậm chân tại chỗ. Theo lãnh đạo Sở Công thương tỉnh Kon Tum, lý do chậm trễ dự án Thủy điện Đắk Mi 1 là do chủ đầu tư điều chỉnh thiết kế từ 49MW lên 84MW.
Nhiều năm qua, đất đai người dân đã nhường lại cho dự án thủy điện, việc triển khai thi công bị dở dang đã đẩy hàng trăm hộ dân ở xã Đắk Choong sống trong thấp thỏm lo âu không dám đầu tư sản xuất, nhà cửa tạm bợ vì chờ tái định canh, định cư.
Trưởng thôn Kon Năng A Chép cho biết: “Cây cối hoa màu thì họ đền bù rồi nhưng đất tái định canh thì không có, đất tái định cư đến giờ vẫn chưa san ủi mặt bằng. Cứ kéo dài như thế này dân chúng tôi không biết phải sống như thế nào?”
Báo cáo của Sở Công thương tỉnh Kon Tum cho biết, trên địa bàn tỉnh hiện có tới gần 100 công trình thủy điện lớn nhỏ chằng chịt trên khắp các dòng sông, con suối. Trong đó, tỉnh quản lý 41 thủy điện vừa và nhỏ, còn số thủy điện lớn do Trung ương quản lý. Trong số 41 thủy điện tỉnh đang quản lý chỉ có 15 công trình thủy điện đã hoàn thành đóng điện, số còn lại đang đầu tư, điều chỉnh quy hoạch hoặc chưa triển khai. Ngoài 41 thủy điện đang quản lý, tỉnh này cũng đã thu hồi, loại bỏ quy hoạch 47 dự án thủy điện vừa và nhỏ vì nhiều lý do.
Trong khi đó tại tỉnh Gia Lai, địa phương cũng có 76 dự án, công trình thủy điện đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đời sống của người dân. Nhiều năm người dân vác đơn kêu cứu, địa phương này đã phải loại khỏi quy hoạch 17 dự án với tổng công suất 44,65MW, không đem lại hiệu quả kinh tế cao. Trưởng phòng Quản lý năng lượng Sở Công Thương tỉnh Gia Lai Nguyễn Tấn Hữu cho biết: “Trước thực trạng nóng về thủy điện, năm nay tỉnh Gia Lai cũng tiếp tục kiến nghị loại khỏi quy hoạch 7 dự án thủy điện nhỏ tổng cộng 20MW, hiệu quả kinh tế kém nhưng ảnh hưởng tác động môi trường lớn”.
Loại bỏ các dự án kém hoặc ít hiệu quả nhưng ảnh hưởng đến đời sống của người dân, môi trường sinh thái ở Tây Nguyên là điều cần thiết hiện nay để tránh gây ra những hậu quả đáng tiếc. Đó cũng thực sự là điều mà người dân mong muốn, cũng giống như con người phải cắt bỏ cái ung nhọt trên cơ thể để tránh gây ra những căn bệnh trầm kha mà không có thuốc chữa.
BOX: “Mặt trái của thủy điện đã tác động đến môi trường là làm ngập, phá hủy nhiều diện tích rừng, đất đai, phá vỡ cân bằng sinh thái, hệ động thực vật, làm thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư và đặc biệt là thu hẹp không gian sống của đồng bào thiểu số tại chỗ. Chỉ tính riêng với 25 công trình thủy điện lớn ở Tây Nguyên đã chiếm dụng gần 70.000ha đất, ảnh hưởng đến gần 26.000 hộ dân, trong đó có gần 7.000 hộ phải di dời đến nơi ở khác, kéo theo nhiều hệ lụy về cuộc sống dân sinh bất ổn...”. ( Nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên Trần Việt Hùng). (Tầm Nhìn 16/9) đầu trang(
Chiều ngày 16-9, thông tin từ Công an huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cho biết: Tối 14-9-2019, Đồn Công an Quảng Sơn (Công an huyện Đắk Glong) đã bắt giữ xe ô tô bán tải mang BKS-48C 03624 và một xe cày độ chế đang vận chuyển gần 4m3 gỗ (chưa xác định được chủng loại) không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xử.
Trước đó vào Tối 14-9, người dân trú tại xã Quảng Sơn đã gọi điện thoại báo tin cho phóng viên với nội dung: ông N-V-K, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, phụ trách địa bàn xã Đắk Ha (huyện Đắk Glong) thuê người vận chuyển một khối lượng lớn “gỗ lậu” tại xã Quảng Sơn và bị lực lượng CAH. Đắk Glong bắt giữ.
Ông Đỗ Ngọc Trai, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong xác nhận: Đã nhận được thông tin sơ bộ về việc Đồn Công an Quảng Sơn bắt một số “gỗ lậu”, nhưng do chưa được bàn giao hồ sơ, nên chưa nắm bắt về vụ việc một cách cụ thể.
Trong khi đó, trao đổi với phóng viên, ông N-V-K khẳng định, một trong hai xe “gỗ lậu” là của ông Điểu Văn Quang, trú tại xã Quảng Sơn. Sau khi bị Công an bắt giữ, ông Quang có nhờ ông Khoa đứng ra can thiệp. “Họ nhờ em xin, nhưng em xin không được thì thôi, chứ đâu phải của em đâu!”, ông K quả quyết.
Được biết, ngay sau khi nhận được thông tin về vụ việc, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tiến hành vào cuộc kiểm tra, xác minh, để làm rõ vụ việc. (Tầm Nhìn 17/9) đầu trang(
Thời gian qua, một số hộ dân ở xóm Nác, xã Liên Minh (Võ Nhai) phản ánh việc ông Nông Văn An, Bí thư Chi bộ của xóm chặt phá, đốt cháy hàng trăm héc ta rừng phòng hộ ở 2 khu vực Bu Gà và Bồ Cu để trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, qua tìm hiểu của chúng tôi thì sự việc không đúng bản chất như người dân địa phương phản ánh…
Vừa qua, một số người dân xóm Nác đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng của tỉnh và huyện Võ Nhai phản ánh với nội dung: Năm 1997, chính quyền đo đất rừng để giao cho các hộ dân ở xóm Nác nhưng một số hộ có rừng ở khu rừng Bu Gà, khu rừng Bồ Cu không được đo đạc.
Tuy nhiên, đến năm 2009, ông Nông Văn An, Bí thư Chi bộ xóm Nác tự ý mở đường vào để phá rừng phòng hộ Bu Gà, Bồ Cu với diện tích lớn nhưng không bị xử lý mà còn được Nhà nước hỗ trợ kinh phí để trồng rừng lên đến hàng chục triệu đồng/ha. Những bức xúc của người dân không được chính quyền địa phương trả lời thỏa đáng. Từ năm 2009 đến đầu năm 2016, ông An đã phá rừng phòng hộ của xã Liên Minh với tổng diện tích đã lên đến gần 100ha…
Để xác minh thông tin người dân phản ánh, chúng tôi đã vào thực địa tại khu vực bãi mà ông An đang tiến hành phát, đốt để trồng rừng. Tại hiện trường, nhiều khu vực rừng tự nhiên ở Bù Gà, Bồ Cu đã bị được xử lý thực bì, phần lớn diện tích này được ông An trồng keo, bạch đàn và lúa nương, ngô.
Dọc con đường ông An mở cho phương tiện máy móc vào để phục vụ trồng rừng là nhiều thân gỗ tạp nằm ngổn ngang, cháy đen. Ông Vũ Thế Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Võ Nhai cho biết: Sau khi nhận được phản ánh của người dân, cán bộ kiêm lâm của huyện đã 5 lần vào tận nơi kiểm tra toàn bộ, giấy tờ, thủ tục liên quan đến việc trồng rừng của ông An. Qua đó khẳng định, việc một số người dân ở xóm Nác tố cáo ông Nông Văn An, Bí thư Chi bộ xóm phá rừng phòng hộ để trồng rừng sản xuất là không chính xác, bởi khu vực ông An đang trồng rừng thuộc lô 1, khoảnh 1a và lô 1, khoảnh 1b của tiểu khu 115.
Đây là diện tích ông An đã nhận chuyển nhượng của một số hộ dân trong xóm Nác từ năm 2009 với diện tích 9,1ha. Năm 2012, qua kiểm tra, đánh giá toàn bộ diện tích rừng thuộc tiểu khu 115, chúng tôi thấy đây là rừng 1C (rừng nghèo kiệt) nên năm 2013, khu vực này được tỉnh quy hoạch thành rừng sản xuất. Đầu năm 2016, gia đình ông An đã có phương án thiết kế trồng rừng sản xuất và đã được cơ quan chuyên môn chấp thuận.
Ông Nông Văn An, Bí thư Chi bộ xóm Nác (người bị tố cáo) cho biết: Khu rừng Bu Gà, Bồ Cu là tài sản mà gia đình tôi đã nhận chuyển nhượng từ các hộ dân trong xóm và được Kiểm lâm huyện Võ Nhai thẩm định phương án thiết kế trồng rừng kinh tế xong mới tiến hành đốt để xử lý thực bì. Việc người dân phản ánh, tôi có gần 100ha rừng thì không phải vậy. Trong số 97ha rừng thì có cả diện tích của gia đình con trai và gia đình em trai của tôi…
Sau khi tìm hiểu sự việc, chúng tôi được biết, khu vực ông An đang trồng rừng là nơi người dân địa phương tới lấy củi, lấy măng để bán từ nhiều năm trở lại đây nên giờ mất nguồn thu… Anh Triệu Phúc Tiên, xóm Nác cho biết: Nguồn thu nhập phụ của người dân xóm Nác là măng vầu ở khu vực ông An đang phá đi để trồng rừng sản xuất nên chúng tôi lo sợ sẽ mất nguồn thu nhập cho nhiều hộ dân trong xóm...
Còn ông Triệu Văn Nam ở khu vực Suối Giường (xóm Nác) cho biết: Mặc dù ông An nói đó là diện tích rừng đã được Nhà nước quy hoạch chuyển từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất nhưng chúng tôi chưa được xem các văn bản của Nhà nước nên chưa tin. Và nếu quy hoạch khu rừng của ông An quản lý thành rừng sản xuất thì tại sao các khu vực rừng phụ cận vẫn là rừng phòng hộ...
Theo tìm hiểu thông tin chúng tôi được biết, năm 2013, toàn bộ Tiểu khu 115 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chuyển đổi từ rừng phòng hộ thành rừng sản xuất để tạo điều kiện cho người dân địa phương có đất sản xuất nhưng đến nay một số người dân tại khu vực này vẫn chưa biết nội dung này.
Chính vì vậy, mới có sự phản ánh không đúng bản chất vụ việc như trên. Qua đó cho thấy, công tác tuyên truyền của các cấp, chính quyền sở tại và cơ quan chuyên môn cho nhân dân ở đây nắm được hiện trạng, quy hoạch các loại rừng của vẫn còn hạn chế nên người dân thiếu thông tin là điều không tránh khỏi… (Tài Nguyên Và Môi Trường 17/9) đầu trang(
Vườn Quốc gia Vũ Quang, dân bản xứ Hương Quang thường gọi là đại ngàn Vũ Quang từ ngàn đời nay đã trở thành ngôi nhà chung của muôn loài muông thú. Càng khám phá, càng thấy đại ngàn mở ra bao nhiêu điều lạ cho các nhà nghiên cứu khoa học. Khu vườn thiêng còn gắn với hào khí của nghĩa quân Phan Đình Phùng đứng lên đánh giặc, cứu nước.
Chiếc xe ô tô của đội bảo vệ Vườn Quốc gia Vũ Quang chở chúng tôi vào sâu những cánh rừng đại ngàn nguyên sinh. Khác với những thập kỷ trước, đường vào đây bây giờ đã được rải nhựa. Anh Nguyễn Danh Nhàn - Đội trưởng Đội bảo vệ rừng, người dẫn đường trong chuyến đi này thật có duyên kể chuyện. Chỉ nghe thoáng qua, tôi cũng hiểu được rừng Vũ Quang có bao nhiêu điều lạ về các loài cây, hoa, chim muông, thú quý. Thiên nhiên kỳ vĩ kiến tạo nên bao con khe, ngọn thác, những thảm thực vật trùng điệp với nhạc rừng êm ái, du dương.
Chợt xuất hiện trước mặt chúng tôi là một khoảnh rừng đang được phát quang. Nhiều bụi giang, nứa còn đượm màu đen của tro than, vô số các loại cây dại và loài dây leo, sau khi đốn hạ đã khô rúm lại. Nằm nép trong vài lùm cây còn sót lại là những chiếc lán tạm trú lợp bằng lá cọ của các công nhân đang xây dựng công trình thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang. Xe vượt qua chừng vài cây số, lại gặp những mảnh vườn bỏ hoang bên những nền nhà cũ còn trơ trọi vài bức tường vỡ làm tôi chợt nhớ lại cuộc di chuyển sang vùng đất mới của 24 hộ dân thôn Kim Thọ (xã Hương Quang) 7 năm về trước.
Một cuộc tái định cư mới vì mục tiêu công trình 760 triệu m3 nước theo thiết kế dự án đã được quy hoạch. Chắc hẳn người dân Kim Thọ vẫn còn nuối tiếc với cây mít họ trồng, cây đu đủ đậu quả sum suê. Nhưng nỗi luyến tiếc của họ dần dần sẽ nguôi đi, chỉ còn lại khoảng trống vắng tình cảm của cán bộ, nhân viên khu bảo tồn, anh lính biên phòng đã một thời gắn bó keo sơn, nồng mặn với dân. Nhưng vì một công trình cho hôm nay và cho muôn đời sau, nên cuộc di dời tới nơi ở mới đối với dân bản địa là điều tất yếu.
Anh Nhàn thành thật: “Ở đơn vị em khối anh đã bước vào tuổi 30, nhưng vẫn chưa tìm được vợ, bởi vùng ni tìm đâu ra con gái. Không hiểu tương lai rồi thế nào, chứ hiện tại, ai làm công tác bảo vệ rừng đại ngàn Vũ Quang cũng chịu “3 không”: không được sống gần với dân, không được hưởng nguồn điện sáng, không có sóng viễn thông để nghe điện thoại...”.
Tôi nghe vậy mới hiểu tính đặc thù của công việc và thương cảm họ. Để vượt qua những nỗi buồn ấy, đòi hỏi phải có bản lĩnh để đôi chân dẻo dai trèo non, đôi mắt nhìn xuyên mắt lá, hàng ngày chống chọi với mưa ngàn, thác lũ, ngăn chặn lâm tặc phá rừng, kẻ bẫy thú, săn chim.
Dầu tôi không phải người mơ mộng nhưng khi đã lạc vào thế giới các loài hoa ở đại ngàn Vũ Quang, hồn tự nhiên cuốn theo hoa với rất nhiều hương lạ. Hoa bông trang vàng tươi rực rỡ, hoa quạch đỏ chói chang nhuộm kín hai bên bờ đường. Hoa bươm bướm cánh trắng như đàn bướm lượn.
Nhiều loại hoa màu tím, màu nâu xâu thành những chuỗi cườm óng ả tôi chưa gặp bao giờ. Khi xe qua một cung đường gấp khúc, gần dốc thoai thoải có một ngôi nhà cấp 4 đơn sơ và chiếc sào “ba-ri-e” làm bằng tre ngà cùng với anh nhân viên mặc sắc phục kiểm lâm đang đứng gác.
Trước cửa ngôi nhà có đề chữ: “Trạm Kiểm lâm Sao La”. Anh lái xe buột miệng bảo tôi: “Sở dĩ có tên trạm này, bởi đây là điểm dừng chân của nhiều nhà khoa học đến nghiên cứu sao la”.
Tôi không rõ bao nhiêu người nước ngoài và trong nước (kể cả Giáo sư Võ Quý) đã dừng chân nơi đây để tìm cho được dấu vết, hình bóng động vật được thế giới “ghi vào Sách Đỏ” chỉ còn tồn tại ở đại ngàn Vũ Quang, nhưng có một vài mẩu chuyện xoay quanh chủ đề này thì tôi không thể nào quên. Đó là khi trên trang nhất tờ báo Lao động xuất bản ngày 25/10/1993 đưa tin: “Phát hiện được sao la ở rừng nguyên sinh Vũ Quang”.
Sau khi báo Lao động đưa tin, nhiều nhà khoa học nghiên cứu động vật hoang dã quốc tế đã bay ngay tới Hà Nội. Họ tìm đến Viện Nghiên cứu sinh vật học Việt Nam, nơi con sao la được Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh bàn giao cho Viện quản lý để nghiên cứu.
Sao la đã trở thành niềm tự hào của cánh rừng thiêng Vũ Quang. Ngày 30/7/2002, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 102/QĐ-TTg chuyển hạng Khu Bảo tồn quốc gia Vũ Quang thành Vườn quốc gia Vũ Quang. Đã thành vườn, đương nhiên phải có chủ. Một tổ chức mới với những thiết chế mới, nhiệm vụ mới được ban hành. Vườn quốc gia Vũ Quang có 52.882 ha rừng đặc dụng, qua kết quả điều tra thực địa hiện nay, “kho báu đại ngàn” đã có tới 1.612 loài thực vật, 676 chi thuộc 191 họ của 6 ngành thực vật bậc cao, trong đó có 94 loài quý hiếm được ghi vào “Sách Đỏ Việt Nam”.
Không ít những loài cây có tên tuổi đã được lưu giữ ngàn đời như: trầm hương, pơ-mu, sao hải nam, cẩm lai, sến mật… Đại ngàn mênh mông cây cỏ, lại nhiều hang động, suối khe, vườn trở thành ngôi nhà xanh bất diệt cho 94 loài thú, 315 loài chim, 58 loài bò sát, 31 loại lưỡng cư, 88 loài cá và 316 loài bướm; nhiều động vật quý hiếm như chà vá chân nâu, voọc đen, voi, bò tót, mang lớn...
Chiếc ô tô gầm cao khỏe hơn voi rừng, sau chặng đường dài hơn 25 km từ cửa rừng đã đưa chúng tôi tới Khu di tích cụ Phan Đình Phùng. Tôi đã nghe người dân địa phương kể lại chuyện lịch sử cụ Phan cùng với tướng quân Cao Thắng chọn địa điểm này làm “cửa ngõ” cho nghĩa quân vào ra căn cứ.
Đây cũng là nơi hàng ngày nghĩa quân tụ tập để học rèn binh lược. Cụ Phan Đình Phùng đã từng ngẫu hứng đề thơ lên tảng đá Non rất cao mà núi rất xanh/ Nước xanh linh hiển giúp cho mình. Trước ngôi miếu thờ nhỏ bé, 2 cây cổ thụ mọc đối xứng nhau sum suê, khỏe khoắn như chí khí lẫm liệt của cụ.
Chúng tôi tìm lại dấu tích thành xưa: suối đá nghĩa quân mài gươm vẫn còn đây. Thung sâu nghĩa quân xây lò rèn, đốt lửa. Đứng trên miệng hào sâu hun hút, nghe xào xạc tiếng gió như kể lại trang sử vàng oanh liệt thuở ấy: Chiến thuật chiến lược của cụ Phan là dựa vào rừng núi hiểm yếu và công sự kiên cố để đánh giặc. Trận Vụ Quang tháng 10/1894 với kế “Sa nang úng thủy” của “Hàn Tín đánh quân Sở ngày xưa” đã làm cho địch tổn thất nặng nề: 100 lính và 3 sĩ quan địch bị tiêu diệt, nghĩa quân thu được 50 khẩu súng và nhiều quân trang, quân dụng.
Mặc dầu phải chiến đấu trong điều kiện vô cùng gian khổ và thiếu thốn, nhưng cụ Phan Đình Phùng vẫn lãnh đạo nghĩa quân duy trì cuộc kháng chiến kéo dài 10 năm. Đây là thời gian dài nhất trong phong trào Cần Vương. Phan Đình Phùng là ngọn đuốc cháy sáng trong lòng dân tộc về bản lĩnh kiên trung, về tinh thần đấu tranh bất khuất, lòng yêu nước thủy chung, son sắt. Sách vở còn nhắc lại chuyện cụ Phan Đình Phùng đã đáp từ tên tay sai khét tiếng cho thực dân Pháp là Lê Kinh Hạp.
Khi hắn dọa đào mồ mả tổ tiên và giết người anh ruột Phan Đình Thông, cụ Phan đầy khí tiết nói rằng: Nay tôi chỉ có một ngôi mộ rất to nên giữ là nước Việt Nam. Tôi chỉ có một ông anh rất to là mấy triệu đồng bào, nếu về mà sửa sang lại phần mộ tổ tiên riêng mình thì ngôi mộ cả nước ai giữ? Về cứu sống ông anh của riêng mình thì còn bao nhiêu anh em trong nước ai cứu?.
Phan Đình Phùng thề quyết tử với quân thù, vì nhân dân và đất nước. Ngày 28/12/1895, trong một trận giao tranh quyết liệt với giặc Pháp, cụ Phan bị bắn trọng thương và sau đó hy sinh. Sau khi cụ Phan và tướng quân Cao Thắng mất, phong trào Cần Vương kết thúc. Tuy thất bại, nhưng phong trào đã tạo nên sức mạnh cho cả dân tộc làm nên những cuộc cách mạng “long trời, lở đất” sau này.
Nếu Vườn quốc gia Vũ Quang biết tận dụng thế mạnh về cảnh quan và di tích lịch sử cụ Phan Đình Phùng thì đây sẽ là điểm hấp dẫn khách du lịch gần xa. Tiếc thay, địa chỉ này vẫn còn bỏ ngỏ. Anh Nguyễn Danh Kỳ - Giám đốc Vườn quốc gia Vũ Quang cho biết: Ngày 9/7/2008, UBND tỉnh đã ban hành quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết Khu du lịch sinh thái thuộc Vườn quốc gia Vũ Quang do Vườn quốc gia Vũ Quang làm chủ đầu tư với tính chất: du lịch sinh thái, thể thao, giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng.
Các khu vực được quy hoạch rất chi tiết và cụ thể, bao gồm: khu trung tâm Vườn quốc gia, khu vực Thành cụ Phan Đình Phùng, Hậu Cổng, Đảo Đá Lèn… Riêng khu vực Đảo Đá Lèn được bố trí phù hợp với cảnh quan núi rừng, mặt nước hồ Ngàn Trươi và mục đích sử dụng của từng công trình… Tuy vậy, sau 8 năm, quyết định trên vẫn chưa được triển khai.
Vườn quốc gia Vũ Quang có lợi thế đặc biệt: rừng. Du lịch sinh thái hiện đang được khách trong nước và nước ngoài ưa chuộng, với những điều mới lạ họ muốn trải nghiệm và khám phá. Đại ngàn Vũ Quang phong phú động vật, thực vật, lắm khe suối, đảo, hồ..., khí hậu lại mát mẻ, trong lành. Đặc biệt, mùa xuân, hè, thu... nhiều cánh rừng trùng điệp mở ra nét đẹp huyền diệu.
Thế mạnh về địa danh lịch sử, rất nhiều du khách khao khát được đến tận “dinh lũy” của cụ Phan Đình Phùng cầm quân đánh giặc, cứu nước thuở xưa. Việc đầu tư cho du lịch sinh thái đối với Vườn quốc gia Vũ Quang sẽ là một trong những dự án đầu tư không tốn nhiều tiền của khi cái cơ bản thiên nhiên đã ưu đãi mình. Tin rằng, với sự quan tâm của tỉnh, các sở, ban, ngành, Vườn quốc gia Vũ Quang trong tương lai gần sẽ là “điểm hẹn” của khách thập phương. (Báo Hà Tĩnh 18/9) đầu trang(
Lãnh đạo huyện Tây Giang (Quảng Nam) cho rằng, nhờ có dân mới giữ được rừng. Và, một ngôi làng mới của người Cơ Tu đã được hình thành giữa cánh rừng pơ mu nguyên sinh…
Trong khi tại Nam Giang (Quảng Nam) xảy ra vụ phá rừng pơ mu nghiêm trọng, nhiều cán bộ Nhà nước liên quan bị bắt tạm giam, thì ở huyện “láng giềng” biên giới Tây Giang, chính quyền và người dân có những cách làm hay, để bảo vệ rừng pơ mu tại đây. Rừng pơ mu ở Tây Giang đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
Lãnh đạo huyện Tây Giang cho rằng, nhờ có dân mới giữ được rừng. Và, một ngôi làng mới của người Cơ Tu đã được hình thành giữa cánh rừng pơ mu nguyên sinh…
Trò chuyện với chúng tôi, ông Bhriu Liếc, Bí thư Huyện ủy Tây Giang, kể rằng, huyện Tây Giang đã phải mất 5 năm trời mới làm xong cái “giấy khai sinh” cho quần thể cây pơ mu của huyện. Đó là thủ tục để Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam chứng nhận rừng pơ mu nguyên sinh của Tây Giang là Cây Di sản Việt Nam.
“Nói nghe có vẻ “lợm cợm”, song nghĩ cũng không sai. Giấy khai sinh đơn giản chỉ là sự chứng thực pháp lý về một con người đã có mặt trên đời này, cha mẹ là ai, quê hương bản quán ở đâu… Bà con Cơ Tu chúng tôi bảo, rừng pơ mu, theo xác định trên cơ sở khoa học đã có trên 1.000 năm về trước. Quý hiếm là thế, lâu đời thế, nhưng chẳng mấy ai biết sự hiện diện của nó, bây giờ mới xác định nó là Cây Di sản của Việt Nam, thì đúng là mới “khai sinh” cho nó rồi còn gì”, ông Bhriu Liếc cười vui vẻ.
Qua lời kể của ông Bhriu Liếc, từ lâu bà con Cơ Tu ở vùng Trhy và A Xan đã có ý thức bảo vệ, giữ gìn cánh rừng pơ mu. Vì họ quan niệm, những cây to trong khu rừng này là nơi trú ngụ của thần linh và linh hồn người chết…
Đến đầu tháng 9-2011, lúc đó ông Bhriu Liếc còn giữ chức vụ Chủ tịch UBND huyện Tây Giang, đã thành lập một đoàn công tác đi khảo sát rừng pơ mu theo sự hướng dẫn của bà con bản địa. Sau 6 giờ đồng hồ leo núi, hiện ra trước mắt đoàn công tác là cả một cánh rừng pơ mu với hàng trăm cây cao từ 25-30m, thậm chí có cây cao 50m.
Hầu hết cây pơ mu ở đây đường kính từ 3-4m, nhiều cây lên tới cả chục mét. Tiếp tục tổ chức nhiều chuyến khảo sát nữa, UBND huyện đã xác định sơ bộ có hơn 1.200 cây pơ mu, trên diện tích 450ha, đây mới chỉ là vùng lõi trên quần thể cây pơ mu rộng tới 4.500ha ở Tây Giang, nằm trên địa bàn 2 xã Trhy và Axan…
Theo tài liệu của ngành Kiểm lâm Việt Nam, cây pơ mu còn gọi là cây Đinh hương, Tô hợp hương, Mại vạc, thuộc nhóm A2, đặc biệt quý hiếm. Gỗ pơ mu có mùi thơm đặc trưng, có đường vân rất đẹp, không mối mọt. Giá trị trên thị trường tại các địa bàn miền núi đã lên tới 60-70 triệu đồng một mét khối, nên pơ mu là lâm sản bị “lâm tặc” săn lùng ráo riết.
“Việc phát hiện rừng pơ mu, huyện báo về tỉnh, nhưng tỉnh không tin. Chúng tôi đã nhiều lần kiến nghị lên tỉnh và Trung ương, nhưng mãi vẫn không thấy hồi âm nên cuối cùng phải đi làm “giấy khai sinh” cho nó”.
Ông Bhriu Liếc kể tiếp rằng, ông cùng mấy cán bộ huyện mày mò, tìm hiểu, rồi ra Hà Nội, tìm đến Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, gặp các giáo sư, tiến sĩ chuyên ngành. Nghe xong câu chuyện, đoàn công tác do Tiến sĩ Lê Huy Cường (Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp), PGS-TS Vũ Đình Hèo-Tổng Thư ký Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam, nhanh chóng vào Tây Giang… Đến cuối năm 2014, đoàn công tác xác định, cánh rừng pơ mu của Tây Giang có 725 cây pơ mu có độ tuổi trên 1.000 năm, đặc biệt hàng chục cây có độ tuổi hơn 1.800 năm, hàng nghìn cây có độ tuổi từ 60 đến 70 năm...
Cùng với sự tận tụy, miệt mài của các nhà khoa học, UBND huyện Tây Giang cũng đã 5 lần ra Hà Nội, hàng chục lần lập, chỉnh sửa hồ sơ, để đến tháng 7-2015, việc công nhận Cây Di sản Việt Nam cho quần thể pơ mu và 2 cây đa ở Tây Giang mới hoàn thành.
Ông Bhriu Liếc tâm sự: “Có hẳn một rừng Cây Di sản Việt Nam, cán bộ và nhân dân Tây Giang vinh dự lắm, nhưng câu hỏi đặt ra cùng với sự trăn trở, làm sao phải giữ được rừng mãi mãi... Không có cách nào hiệu quả hơn, chỉ có giao rừng cho chính người dân nơi có rừng quản lý”.
Huyện Tây Giang đã có một quyết định táo bạo, thành lập hẳn một làng mới giữa lõi rừng pơ mu. Bằng nguồn kinh phí địa phương, huyện đã đầu tư mở ngay một con đường 8km vào đến nơi lập làng, thay vì phải đi bộ gần 8 giờ đồng hồ như trước kia. Quần thể pơ mu nằm trên địa phận 2 xã Trhy và Axan, huyện cho xây dựng 10 ngôi nhà theo phong cách nhà truyền thống của người Cơ Tu, có một nhà Gươnl dùng để sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Đồng thời thành lập Tổ công tác bảo vệ rừng di sản, với 28 thành viên đều là người dân, đặc biệt là các cặp vợ chồng mới lập gia đình của các thôn 2 xã Trhy và Axan, và được đưa vào cư trú tại ngôi làng giữa rừng pơ mu này. Làng có một Chi bộ Đảng, có đầy đủ các đoàn thể, hội như phụ nữ, thanh niên và một trường mẫu giáo…
Khi gặp chúng tôi ở làng mới giữa rừng pơ mu, già làng Pơloong Đưm có con cháu tham gia Tổ bảo vệ rừng pơ mu, phấn khởi nói: “Thực hiện sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước, bà con Cơ Tu không chặt phá rừng mà bảo vệ nghiêm ngặt. Bây giờ cây pơ mu là báu vật của làng mình, nên quyết tâm giữ gìn cho con cháu mai sau...”. Chỉ có người dân mới hiểu rừng, mới thuộc rừng và bảo vệ rừng hữu hiệu nhất, vì rừng đã nuôi sống họ, đã gắn bó với họ từ ngàn đời nay rồi. (Công An Nhân Dân 19/9) đầu trang(
Tháng 5-2016, H. Tây Giang (Quảng Nam) tổ chức lễ Công bố công nhận Cây di sản Việt Nam-Quần thể cây pơ mu của huyện. Cứ tưởng loài cây đặc biệt quý hiếm này chỉ còn sót lại duy nhất trên bản đồ Việt Nam ở Tây Giang.
Ai dè, chưa đầy 2 tháng sau, vụ phá rừng pơ mu lớn nhất Việt Nam được phát hiện ở vùng biên giới huyện Nam Giang, cũng là địa phương "láng giềng" với Tây Giang. Chuyện đáng nói ở đây là, hóa ra không chỉ Tây Giang có pơ mu, mà Nam Giang và một số địa phương khác trong cả nước cũng còn rất nhiều cánh rừng pơ mu...! Trong khi ở Nam Giang hay một vài địa phương khác, nhiều cánh rừng pơ mu đã và đang bị tàn phá thì ở Tây Giang vẫn còn vẹn nguyên bởi từ chính quyền đến người dân đều ra sức gìn giữ loại cây Di sản quý giá này cho muôn đời sau.
Chuyện tưởng như đùa ấy lại là chuyện thật 100% ở Tây Giang. Một ngày tháng 8-2011, một cán bộ xã Trhy là người Cơ Tu hớt hải băng rừng gần 40km từ xã về UBND H. Tây Giang cấp báo: "Có một số người đang chặt hạ 2 cây pơ mu..". Cả lãnh đạo, cùng các cán bộ huyện đều giật mình, ngỡ ngàng...
Thực ra lâu nay cũng có nghe bà con Cơ Tu ở vùng Trhy và A Xan nói về một cánh rừng pơ mu ở địa bàn nhưng theo phong tục của người đồng bào, những cây to trong rừng là nơi trú ngụ của thần linh, hoặc là nơi linh hồn người chết trú ẩn. Pơ mu là loài cây gỗ chôn dưới đất hàng trăm năm cũng không bị mục nát, vì vậy người dân thường chỉ lấy gỗ pơ mu để làm quan tài và nhà Gươnl. Vì thế chẳng ai dám bén mảng đến khu rừng này. Nay người dân báo gấp với chính quyền, vậy là đã có chuyện.
Ngày 2-9-2011, ông Bhriu Liếc-lúc đó là Chủ tịch UBND H. Tây Giang, thành lập một đoàn công tác lên khảo sát rừng pơ mu theo sự hướng dẫn của người dân địa phương. Sau 6 giờ leo núi, đoàn công tác đã đến mục sở thị cả cánh rừng pơ mu hàng trăm cây, cao từ 25 đến 30 mét, đường kính lên tới 3-4 mét, nhiều cây 50 mét, đường kính lên tới cả chục mét.
Tiếp tục tổ chức nhiều chuyến khảo sát nữa, UBND huyện đã xác định sơ bộ có hơn 1.200 cây pơ mu trên diện tích 450ha, nhưng cũng mới chỉ là vùng lõi trên quần thể cây pơ mu rộng tới 4.500 ha ở Tây Giang, nằm trên địa bàn 2 xã Trhy và Axan. "Bất ngờ, ngạc nhiên và thú vị quá! Không ngờ trên quê hương mình lại có cả một rừng cây quý hiếm, lâu đời thế này"-ông Bhriu Liếc tâm sự.
Theo tài liệu của ngành Kiểm lâm Việt Nam, cây pơ mu còn gọi là cây Đinh hương, Tô hợp hương, Mại vạc, thuộc nhóm A2, đặc biệt quý hiếm. Gỗ pơ mu có mùi thơm đặc trưng, có đường vân rất đẹp, không mối mọt. Giá trị trên thị trường tại các địa bàn miền núi đã lên tới 60-70 triệu đồng một mét khối, nên pơ mu là lâm sản được các đối tượng lâm tặc săn lùng ráo riết.
Việc phát hiện rừng pơ mu ở Quảng Nam được UBND huyện báo về tỉnh, nhưng lúc ấy không ai tin! UBND huyện cũng đã nhiều lần kiến nghị lên tỉnh, và Trung ương, nhưng mãi vẫn không thấy hồi âm... "Vậy thì mình phải đi làm "giấy khai sinh" cho nó thôi"-ông Bhriu Liếc kể, sau đó ông cùng mấy cán bộ huyện mày mò, tìm hiểu, rồi cơm đùm, cơm nắm ra Hà Nội, tìm đến Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam.
Các vị giáo sư, tiến sĩ chuyên ngành của Hội nghe câu chuyện các cán bộ Cơ Tu trình bày xong, cứ cuống cuồng lên, nhất quyết đòi vào thị sát rừng cây ngay. Đoàn công tác do Tiến sĩ Lê Huy Cường (Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp), PGS-TS Vũ Đình Hèo-Tổng thư ký Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam tức tốc vào Tây Giang. Để xác định "nguồn gốc, tên tuổi, quê quán "cho cây pơ mu Tây Giang còn là cả một quá trình gian truân nữa. Đoàn công tác gồm nhiều nhà khoa học đã thực hiện nhiều chuyến khảo sát, thăm dò, mỗi chuyến hàng chục ngày trời trên cánh rừng pơ mu hàng nghìn héc-ta ở Tây Giang.
Để xác định độ tuổi, chủng loại chính xác cây, phải khoan, đo đạc. Tiến sĩ Lê Huy Cường đã phải gửi mua một mũi khoan bằng hợp kim đặc biệt từ Mỹ, mới có thể khoan được những cây pơ mu có đường kính từ 3 mét trở lên. Đến cuối năm 2014, mới có những kết luận cuối cùng: 725 cây pơ mu có độ tuổi trên 1.000 năm, đặc biệt hàng chục cây có độ tuổi hơn 1.800 năm, hàng nghìn cây từ 60 đến 70 năm...
Cùng với sự tận tụy, miệt mài của các nhà khoa học, UBND H. Tây Giang cũng đã 5 lần ra Hà Nội, hàng chục lần lập, chỉnh sửa hồ sơ, để đến tháng 7-2015, việc công nhận Cây Di sản Việt Nam cho quần thể pơ mu và 2 cây đa ở Tây Giang mới hoàn thành. Người Cơ Tu ở Tây Giang bảo tấm bằng chứng nhận ấy, chính là "giấy khai sinh" cho cây pơ mu ở Tây Giang.
Trước khi chia tay cán bộ và nhân dân Tây Giang, Tiến sĩ Lê Huy Cường dặn dò: "Đây là báu vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho Tây Giang, cho Việt Nam và nhân loại, chúng ta cần gìn giữ một cách cẩn thận...". (Công An TP.Đà Nẵng 16/9) đầu trang(
Rừng quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau, đang đứng trước nguy cơ nhiễm mặn rất lớn, một phần là do nước mặn từ các con sông gần rừng, một phần là do một số hộ dân tự ý đưa nước mặn vào rừng để nuôi tôm.
Theo Ban giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau, hiện nay rừng đang đứng trước nguy cơ nhiễm mặn rất lớn, trong đó một phần là do nước mặn từ các con sông gần rừng gây nhiễm cũng như một số hộ dân tự ý đưa nước mặn vào rừng để nuôi tôm trong thời gian gần đây.
Điển hình như tại khu vực đội II, ấp Vồ Dơi, xã Trần Hợi thuộc địa bàn huyện Trần Văn Thời, thời gian qua có trên 10 hộ dân tự ý đưa nước mặn vào rừng để nuôi tôm làm gần 20 ha rừng bị nhiễm mặn ở mức từ 4 -5 phần nghìn. Hành vi trên đã bị UBND xã Trần Hợi phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia kịp thời xử lý, ngăn chặn nhưng nhìn chung tâm lý muốn nuôi tôm của một bộ phận người dân trong khu vực vẫn còn.
Lâm phần rừng tràm U Minh Hạ có tổng diện tich khoảng 50.000 ha, trong đó rừng quốc gia có diện tích trên 8.000 ha, đây là vùng nước ngọt từ trước đến nay. Theo quy hoạch, về lâu dài cũng sẽ ổn định hệ sinh thái ngọt theo hướng giữ vững và phát triển rừng tràm, tổ chức sản xuất cây trồng, vật nuôi phù hợp với hệ sinh thái ngọt, trên cơ sở hiệu quả kinh tế bền vững, bảo đảm môi trường xanh, sạch.
Rừng quốc gia U Minh Hạ là một trong 3 vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới Mũi Cà Mau, có chức năng bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước.
Nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm mặn vùng ngọt hóa nói chung, Vườn quốc gia U Minh Hạ nói riêng, chính quyền các cấp tỉnh Cà Mau cần thực hiện các giải pháp đồng bộ. Theo đó, tập trung tuyên truyền, để người dân nhận thức được tác hại của nhiễm mặn, từ bỏ ý định đưa nước mặn để nuôi tôm trong rừng quốc gia; tăng cường đầu tư hệ thống thủy lợi, đê, đập bảo đảm ngăn mặn, giữ ngọt; tăng cường lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng. (Bnews 18/9) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ có chỉ thị số 28 về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm phạm các loài động vật hoang dã trái pháp luật.
Theo đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán ngà voi, sừng tê giác trái pháp luật; tập trung kiểm tra các làng nghề, cơ sở chế biến, cửa hàng bán đồ lưu niệm tại các điểm du lịch, sân bay, bến tàu, cơ sở buôn bán, bào chế thuốc y học cổ truyền…và công khai trên phương tiện truyền thông.
Trường hợp để xảy ra vi phạm, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc để xảy ra các vi phạm trên địa bàn mình quản lý.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ liên quan thực hiện chuyên án triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất trái phép mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi, sừng tê giác. Đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động bày bán, buôn bán qua mạng, quảng cáo, sử dụng trái phép ngà voi, sừng tê giác trong thị trường nội địa.
Các cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết vi phạm hành chính tập trung rà soát các vụ việc vi phạm liên quan đến xuất nhập khảu, vận chuyển, buôn bán, chế biến, tàng trữ, quảng cáo, sử dụng trái phép động thực vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi, sừng tê giác, khẩn trương xử lý dứt điểm các vụ việc theo quy định và công khai kết quả xử lý. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 17/9) đầu trang(
Từ ngày 13 đến 16/9, tại TP Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng), Chi cục Kiểm lâm vùng IV phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS), Chương trình Việt Nam đã tổ chức khóa tập huấn Tăng cường năng lực thực thi pháp luật bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD).
Tham dự có cho 29 cán bộ, công chức, viên chức lực lượng kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng tại các tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Bình Phước; Chi cục Kiểm lâm vùng III (TP HCM) và Chi cục Kiểm lâm vùng IV, Cục Kiểm lâm.
Khai mạc khóa tập huấn, ông Nguyễn Đình Thắng, Trưởng phòng Nghiệp vụ II-Chi cục Kiểm lâm vùng IV cho biết: “Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, từ năm 2010 đến hết tháng 8/2016 lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện và xử lý 174.385 vụ vi phạm pháp luật về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Trong đó, vi phạm các quy định về quản lý ĐVHD là 4.305 vụ, đã tịch thu hàng nghìn kg sản phẩm ĐVHD và 60.217 cá thể ĐVHD các loại, có 3.418 cá thể thuộc loài nguy cấp, quý hiếm”.
Các tỉnh khu vực Tây Nguyên được xem là điểm nóng đối với loại hình tội phạm này, vì có rất nhiều loài ĐVHD và sản phẩm ĐVHD được trung chuyển, buôn lậu qua biên giới Việt Nam - Campuchia và Lào, chuyển về tiêu thụ tại Việt Nam hoặc trung chuyển sang nước thứ ba.
Bà Hoàng Bích Thủy, Quản lý Chương trình WCS Việt Nam cho biết, khóa tập huấn lần này ngoài mục tiêu cơ bản nhằm góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các lực lượng kiểm lâm và biên phòng, còn hướng đến tăng cường sự hiểu biết và phối hợp giữa các tỉnh biên giới của Việt Nam giáp các nước Campuchia và Lào trong công tác đấu tranh, phòng chống các tội phạm liên quan đến động, thực vật hoang dã. Điều này sẽ góp phần đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế giữa các tỉnh vùng biên của Việt Nam với Campuchia và Lào trong lĩnh vực này, mà WCS đang đóng vai trò là cầu nối...
Giảng viên khóa tập huấn đến từ Bộ Tư pháp, Chi cục Kiểm lâm vùng IV, Học viện An ninh nhân dân, Viện Sinh thái học miền Nam, Thảo cầm viên Sài Gòn, Chương trình bảo tồn rùa châu Á (ATP) và WCS đã truyền đạt kiến thức qua phương pháp giảng dạy trực quan, yêu cầu thực hành làm việc nhóm và trao đổi thông tin hai chiều rất hiệu quả. (Thanh Tra 17/9) đầu trang(
Hôm 15/9, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội phối kết hợp với Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã (Save Vietnam’s Wildlife) và Vườn quốc gia Cúc Phương và đã tiến hành tái thả thành công 33 cá thể tê tê Java tại một địa điểm an toàn.
Đây là những cá thể tê tê được cứu hộ từ một vụ tịch thu 255kg tê tê được chuyển giao từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh. Số tê tê này trước đó đã được cơ quan Công an tỉnh Quảng Ninh bắt giữ từ vụ buôn bán trái phép từ đầu tháng 8/2016.
Sau hơn một tháng được chăm sóc tại 2 địa điểm Vườn quốc gia Cúc Phương và Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, 33 cá thể tê tê khỏe mạnh đã được tái thả về tự nhiên.
Theo ông Ngô Bá Oanh, Giám đốc Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, việc phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã nhằm tư vấn công chăm sóc và kỹ thuật, cũng như hỗ trợ kinh phí và con người cho công tác chăm sóc và tái thả số tê tê đã diễn ra tốt đẹp.
Theo Ông Lương Tất Hùng, Trưởng nhóm Chăm sóc Động vật của Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn động vật hoang dã: Việc phối hợp chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc động vật cũng như cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc cứu hộ là vô cùng quan trọng đối với công tác bảo tồn, khi mà ngày càng có nhiều hơn các vụ buôn bán được phát hiện trong thời gian gần đây.
Tê tê đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong thời gian ngắn, vì vậy mỗi một cá thể được tái thả thành công đều góp phần gia tăng số lượng ngoài tự nhiên của loài.
Được biết, Bộ luật Hình sự đã tăng cường khung hình phạt đối với các hành vi săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép đối với tê tê. Tội phạm về buôn bán và vận chuyển tê tê trái phép, với số lượng từ 1 - 6 cá thể có thể phải đối diện với mức phạt tù từ 1 - 5 năm. Mức hình phạt tù tăng lên 5 - 10 năm với số lượng từ 7 - 10 cá thể và từ 10 - 15 năm với số lượng trên 10 cá thể tê tê. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 16/9) đầu trang(
Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) vừa phát đi thông điệp kêu gọi Việt Nam phải mạnh tay hơn nữa với hoạt động buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp vẫn đang diễn ra mạnh mẽ, nếu không sẽ phải đối mặt với các lệnh trừng phạt.
Lời kêu gọi này diễn ra ngay trước thềm Hội nghị toàn cầu về buôn bán động vật hoang dã sẽ được tổ chức tại Nam Phi trong tuần tới. Đây là hội nghị lớn nhất từ trước tới nay với sự tham gia của 181 quốc gia. Theo WWF, Việt Nam là một trong hai thị trường buôn bán sừng tê giác bất hợp pháp lớn nhất thế giới, bên cạnh Trung Quốc.
Dù đã nhiều nỗ lực nhưng Việt Nam vẫn không chặn đứng được các mạng lưới buôn lậu và truy tố những kẻ buôn bán bất hợp pháp. WWF cho rằng, Việt Nam cần nhanh chóng ban hành quy định mới, coi tội phạm mua bán các loài hoang dã là "tội phạm nghiêm trọng” với mức án tối thiểu là 4 năm tù; bắt giữ và truy tố triệt để những kẻ buôn bán và vận chuyển sừng tê giác.
Nếu không, Việt Nam có thể phải đối mặt với cấm vận thương mại từ CITES (Công ước về thương mại quốc tế với các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp). (Công An Nhân Dân 17/9) đầu trang(
8 tháng đầu năm 2016, lực lượng kiểm soát Hải quan phát hiện, bắt giữ, xử lý 21 vụ liên quan đến mua bán, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã và các sản phẩm từ động thực vật hoang dã.
Trong số các vụ việc bị phát hiện, lực lượng Hải quan triệt phá nhiều vụ vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã, sản phẩm động vật hoang dã với số lượng lớn.
Điển hình như vụ vận chuyển trái phép 137,5 kg ngà voi và các sản phẩm chế tác từ ngà voi (vòng, hạt) từ Ăngola về Nội Bài; vụ vận chuyển trái phép 9.052 kg vỏ mai đồi mồi, 1.345 kg tắc kè, 16 kg đồi mồi sống từ Indonesia về cảng Hải An, Hải Phòng; vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép 300 kg gỗ trắc từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu La Lay, Quảng Trị,...
Theo Tổng cục Hải quan, thời gian qua, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới có nhiều diễn biến phức tạp.
Các đối tượng vi phạm hoạt động với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, táo bạo, tổ chức thành đường dây, ổ nhóm để buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa vào Việt Nam.
Mặt hàng vi phạm chủ yếu là hàng cấm, hàng có thuế suất cao, hàng nhập khẩu có điều kiện, hàng vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm, vi phạm về môi trường như: Ma túy, vũ khí, vàng, ngoại tệ, tiền Việt Nam, động thực vật hoang dã, xăng dầu, thuốc lá, đường, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, thiết bị điện tử, điện gia dụng đã qua sử dụng...
Trước tình hình trên, Tổng cục Hải quan tập trung triển khai các nhóm giải pháp: Nâng cao năng lực lực lượng kiểm soát trên cơ sở hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức bộ máy; cải cách hiện đại hóa phương thức kiểm soát hải quan, ứng dụng triệt để công nghệ thông tin, tăng cường sử dụng các trang thiết bị, kỹ thuật quản lý hiện đại trong hoạt động nghiệp vụ kiểm soát hải quan... (Hải Quan 16/9) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Cô tô cho biết, ngày 17-9 đơn vị phối hợp với ngành chức năng thả con rùa biển thuộc loài đồi mồi quý nặng 2,5kg, dài 29 cm và rộng 25cm về biển tự nhiên.
Con đồi mồi trên, trước đó được anh Vũ Văn Hiếu, chủ nhà hàng Sen Việt ở Khu 3, thị trấn CôTô, huyện Cô Tô mua của một người dân với giá 1 triệu đồng. Thấy anh Hiếu có con đồi mồi, nhiều khách đã trả giá cao gấp nhiều lần để mua lại, nhưng anh Hiếu đã không bán. Được sự tuyên truyền vận động của Hạt Kiểm lâm Cô Tô và với tinh thần ý thức bảo vệ động vật biển hoang dã, anh Hiếu đã quyết định bàn giao con rùa biển trên cho cơ quan chức năng để thả về tự nhiên.
Trước khi thả con rùa biển về tự nhiên, Hạt Kiểm lâm Cô Tô đã kiểm tra con rùa biển đảm bảo sức khỏe tốt và đơn vị còn bấm thẻ đánh dấu theo dõi con rùa biển này. (Báo Quảng Ninh 18/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh TT-Huế chiều 18-9 cho biết, qua tiến hành bẫy ảnh, Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Phong Điền (H. Phong Điền, TT-Huế) ghi nhận được 9 loài động vật đang bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu.
Trong đó, có 2 loài cầy đang ở tình trạng nguy cấp (theo sách đỏ của IUCN năm 2016) là cầy vằn và cầy giông sọc. Riêng loài cầy giông sọc thì lần đầu tiên được ghi nhận trong tự nhiên tại KBTTN Phong Điền, bởi theo đánh giá của IUCN vào tháng 6-2016, cầy giông sọc được cho là "có thể đã tuyệt chủng ở Trung Quốc và Việt Nam". (Công An TP.Đà Nẵng 19/9) đầu trang(
Theo ghi nhận của Phòng Bảo vệ động vật hoang dã - Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) thì vi phạm quảng cáo động vật hoang dã (ĐVHD) và các sản phẩm từ ĐVHD trên Internet xuất hiện đầu tiên vào năm 2008. Và tính đến tháng 6/2016, con số vi phạm quảng cáo ĐVHD và các sản phẩm từ ĐVHD đã lên tới 1.551 vụ việc vi phạm. Cá biệt trong năm 2014, số vụ buôn bán, quảng cáo ĐVHD trên Internet được ENV tiếp nhận và xử lí lên tới 855 vụ việc.
Điều này cho thấy trong vài năm trở lại đây, loại tội phạm về ĐVHD trên Internet đang gia tăng với tốc độ chóng mặt. Trên các trang mạng xã hội, các website, các diễn đàn, nhiều loài ĐVHD từ sóc, nhím, trăn, rắn, kỳ đà, cá sấu, chuột đến những loài nguy cấp, quý, hiếm như hổ, culi, rái cá được rao bán ngày càng thường xuyên và công khai, thậm chí kèm theo đầy đủ thông tin của người bán.
Mới đây, TAND quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử sơ thẩm và tuyên án phạt đối tượng Phan Huỳnh Anh Khoa (tức Khoa Xì trum, SN 1993, cư trú tại quận Gò Vấp) 5 năm tù, phạt bổ sung 50 triệu đồng cho hành vi buôn bán trái phép ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Khoa là một tên “trùm” buôn bán ĐVHD trên internet với thái độ “ngông cuồng” cũng như ngang nhiên thách thức ENV và các cơ quan chức năng. Khoa bị bắt quả tang khi đang thực hiện hành vi bán 9 cá thể rái cá và một cá thể voọc chà vá chân đen.
Trước đó, vào tháng 5/2015, một đối tượng khác chuyên rao bán ĐVHD trên mạng là Đinh Công Thành cũng đã bị cơ quan chức năng bắt giữ cùng tang vật là 44 cá thể rùa thuộc nhiều loài khác nhau. Thành sau đó đã phải chịu mức án 13 tháng tù giam. Tháng 12/2015, Lê Đức Minh ở Hà Nội cũng đã bị tuyên phạt 27 tháng tù giam sau khi rao bán 3 cá thể cu li trên mạng. Việc xử lí thích đáng các đối tượng là một tín hiệu đáng mừng trong cuộc chiến không khoan nhượng với các vi phạm về ĐVHD, nhưng mặt khác cũng là hồi chuông cảnh báo về tình trạng buôn bán ĐVHD tràn lan, khó quản lí trên mạng.
Từ những thực tế này, ngày 17/9/2016 Thủ tướng Chính phủ vừa có Chỉ thị số 28/CT-TTg về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài ĐVHD trái pháp luật. Chỉ thị nêu rõ, để ngăn chặn tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trên địa bàn rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán ngà voi, sừng tê giác trái pháp luật; tập trung kiểm tra các làng nghề, cơ sở chế biến, cửa hàng bán đồ lưu niệm tại các địa điểm du lịch, sân bay, bến tàu, cơ sở buôn bán, bào chế thuốc y học cổ truyền,… và công khai kết quả xử lý trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Trường hợp để xảy ra vi phạm, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc để xảy ra các vi phạm tại địa bàn do mình quản lý.
Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ Quốc phòng, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường thực hiện các chuyên án triệt phá các đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia trong việc mua bán, tàng trữ, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, tạm nhập tái xuất trái phép mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi, sừng tê giác; chủ trì, phối hợp với các Bộ: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động bày bán, buôn bán qua mạng, quảng cáo, sử dụng trái phép mẫu vật sừng tê giác và ngà voi trong thị trường nội địa...
Tin vui về Chỉ thị 28 của Thủ tướng Chính phủ đã được các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn hoang dã hồ hởi đón nhận. Trao đổi với phóng viên, bà Bùi Thị Hà - Phó Giám đốc ENV cho biết, ENV đặc biệt hoan nghênh Chỉ thị 28 vì Chỉ thị này đã một lần nữa khẳng định quyết tâm cao của Chính phủ trong công tác đấu tranh ngăn chặn nạn săn bắt và buôn bán ĐVHD bất hợp pháp, đặc biệt kiên quyết xử lý các vi phạm liên quan đến sừng tê giác, ngà voi và các loài nguy cấp, quý hiếm khác đã thể hiện tại Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 20/2/2014.
“Tuy nhiên, ENV cũng nhấn mạnh điều quan trọng nhất là các cơ quan chức năng phải coi những vi phạm liên quan đến ĐVHD là vi phạm nghiêm trọng, nghiêm túc xử lý theo đúng các quy định pháp luật về bảo vệ ĐVHD và tập trung điều tra, phát hiện và xử lý các đối tượng cầm đầu những đường dây buôn bán ĐVHD lớn. Thêm vào đó, hiện nay các quy định pháp luật xử lý vi phạm liên quan đến sừng tê giác và ngà voi vẫn còn nhiều khó khăn, cản trở hiệu quả thực thi pháp luật. Do đó, liên ngành Tư pháp Trung ương và các cơ quan chức năng có thẩm quyền cần cấp bách quan tâm, hướng dẫn nhằm xử lý nghiêm khắc đối tượng vi phạm theo đúng quy định của pháp luật và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm” - bà Bùi Thị Hà nhấn mạnh.
Đồng quan điểm với bà Bùi Thị Hà, bà Nguyễn Thị Thu Hiền – chuyên gia bảo tồn ĐVHD tại Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp Vườn Quốc gia Cúc Phương cũng rất vui mừng với những nội dung thiết thực của Chỉ thị 28. “Nhưng tôi cũng như nhiều chuyên gia hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn ĐVHD khác rất mong muốn, Chính phủ sẽ cân nhắc việc cho phép mở rộng mô hình trang trại gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm. Vì mô hình này cho thấy nhiều bất cập thậm chí là gián tiếp tiếp tay cho việc săn bắt, buôn bán ĐVHD” – bà Hiền bày tỏ.
Đề xuất của bà Hiền không phải vô căn cứ khi trong những thập niên gần đây, một số văn bản đã mở rộng cửa cho các hoạt động gây nuôi thương mại và buôn bán các loài ĐVHD nguy cấp quý hiếm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học của đất ước
Mới đây, ENV đã tiến hành khảo sát 26 cơ sở gây nuôi thương mại ĐVHD lớn tại Việt Nam có quy mô lớn tại các tỉnh, thành phố bao gồm Hà Nội, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh ở miền Bắc, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi ở miền Trung, và Tây Ninh, Hồ Chí Minh, Đồng Tháp ở miền Nam.
Kết quả của đợt khảo sát này cho thấy, 100% (26/26) cơ sở được khảo sát có dấu hiệu nhập lậu ĐVHD ở những mức độ khác nhau. 89% (17/19) số người được hỏi cho biết có bán giấy phép vận chuyển, trong đó một số chủ cơ sở còn đề nghị bán giấy phép vận chuyển cho cán bộ khảo sát.
91% (10/11) số người được hỏi cho biết họ có mua giấy phép vận chuyển từ các cơ sở khác hoặc trực tiếp từ cán bộ kiểm lâm. 100% (18/18) số người được hỏi cho biết họ có mua ĐVHD không có giấy phép vận chuyển. 100% (14/14) số người được hỏi cho biết họ có bán ĐVHD không kèm giấy phép vận chuyển...
Từ khảo sát này, EVN đề nghị Chính phủ và các cơ quan hữu quan cần nghiêm cấm hoạt động gây nuôi thương mại các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ ở cấp độ cao nhất theo pháp luật Việt Nam và các loài ĐVHD thuộc Phụ lục I của CITES. Đối với các cơ sở đã được cấp phép gây nuôi các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm thì cần có giải pháp để sớm chấm dứt triệt để hoạt động gây nuôi… (Pháp Luật Việt Nam 19/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
Cụ thể, về Chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và khuyến lâm, Quyết định quy định tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch là rừng sản xuất được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước, mức hỗ trợ cụ thể như sau: 1- Trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi), cây đa mục đích, cây bản địa, mức hỗ trợ 8 triệu đồng/ha; trồng các loài cây sản xuất gỗ nhỏ (khai thác trước 10 năm tuổi) và cây phân tán (quy đổi 1.000 cây/ha), mức hỗ trợ 5 triệu đồng/ha; 2- Trồng rừng sản xuất tại các xã biên giới, các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và các tỉnh vùng Tây Nguyên được hỗ trợ thêm 2 triệu đồng/ha ngoài mức hỗ trợ quy định tại điểm 1.
Nếu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng khảo nghiệm (giống mới, trên vùng đất mới) theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ vốn bằng 60% giá thành trồng rừng được duyệt. Mỗi mô hình trồng rừng khảo nghiệm được hỗ trợ không quá 2 ha.
Về điều kiện nhận hỗ trợ, Quyết định nêu rõ: Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng phải có đất quy hoạch trồng rừng sản xuất được cấp có thẩm quyền giao hoặc được thuê và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã sử dụng đất ổn định trong vòng 3 năm trở lên không có tranh chấp. Đối với doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức khác, đất trồng rừng sản xuất phải được giao khoán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng ổn định lâu dài (tối thiểu một chu kỳ).
Nguồn giống trồng rừng (hạt giống, trái giống hoặc cây giống) phải có xuất xứ từ cơ sở sản xuất giống đã được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận về nguồn giống theo quy định.
Quyết định cũng quy định Nhà nước hỗ trợ trồng tre, luồng bảo vệ bờ sông, bờ suối, các công trình có nguy cơ sạt lở cao. Mức hỗ trợ 100.000 đồng/khóm (tối thiểu 3 cây/khóm; 1 năm trồng và 3 năm chăm sóc bảo vệ).
Nhà nước khuyến khích phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng bằng biện pháp khoanh nuôi tái sinh tự nhiên mức hỗ trợ cụ thể như sau: a- Không trồng bổ sung: Mức hỗ trợ 03 triệu đồng/ha/6 năm mức cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định; b- Có trồng bổ sung: Mức hỗ trợ tối đa 1,6 triệu đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600 nghìn đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo.
Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng và duy trì việc quản lý, bảo vệ rừng giống, vườn giống. Trong đó Nhà nước (gồm doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức do Nhà nước thành lập) chỉ trực tiếp quản lý rừng giống, vườn giống có tầm quan trọng quốc gia với diện tích tối đa là 30% tổng diện tích được quy hoạch làm rừng giống, vườn giống; phần còn lại được giao, bán, khoán cho các thành phần kinh tế khác quản lý kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Rừng giống, vườn giống do các thành phần kinh tế quản lý phải nằm trong quy hoạch của cấp có thẩm quyền phê duyệt, được hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở vật chất ban đầu theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Định mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước cho phần lâm sinh, xây dựng hạ tầng và trang thiết bị được quy định cụ thể như sau: a- Không quá 55 triệu đồng/ha đối với vườn giống được trồng mới; b- Không quá 40 triệu đồng/ha đối với rừng giống được trồng mới; c- Không quá 15 triệu đồng/ha đối với rừng giống được chuyển hoá; d- Ngoài mức hỗ trợ nêu trên còn được hỗ trợ 300.000 đồng/ha/năm để chi phí quản lý bảo vệ rừng giống, vườn giống; thời hạn hỗ trợ không quá 5 năm.
Quyết định quy định Nhà đầu tư trong nước có dự án đầu tư nhà máy chế biến gỗ rừng trồng; tre công nghiệp tại các tỉnh Tây Bắc, Tây nguyên và các tỉnh có huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ được ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Cụ thể, Nhà nước hỗ trợ đầu tư 20 tỷ đồng/nhà máy sản xuất gỗ MDFquy mô trên 30.000 m3 MDF/năm trở lên; hỗ trợ đầu tư 10 tỷ đồng/nhà máy đối với các nhà máy chế biến ván dăm, tre ép công nghiệp có quy mô trên 20.000 m3 trở lên; hỗ trợ đầu tư 10 tỷ đồng/nhà máy đối với nhà máy ván dán quy mô trên 100.000 m3 để xây dựng cơ sở hạ tầng về giao thông, điện, nước, nhà xưởng và xử lý chất thải.
Nhà nước hỗ trợ sau đầu tư tính theo khoảng cách vận chuyển sản phẩm với mức 1.500 đồng/tấn/km; khoảng cách được tính từ địa điểm đặt nhà máy đến trung tâm thành phố Hà Nội, hoặc trung tâm thành phố Đà Nẵng, hoặc trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh theo đường ô tô gần nhất; khối lượng hỗ trợ tính theo công suất thiết bị thực tế nhà máy; nhân với thời gian tính hỗ trợ là 5 năm, kinh phí hỗ trợ ngay sau khi hoàn thành nhà máy bảo đảm tối thiểu 70% tổng số kinh phí hỗ trợ.
Ngoài ra, Nhà nước cũng có chính sách hỗ trợ đầu tư và đặt hàng thực hiện nhiệm vụ công ích. (Chính Phủ 16/9) đầu trang(
Thanh Hóa có tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp 627.444 ha, trong đó có 311.102 ha tham gia cung ứng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Qua 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh tổng số tiền thu về quỹ đạt khoảng 84,1 tỷ đồng (bao gồm tiền ủy thác chi trả DVMTR và trồng rừng thay thế), bước đầu đã tạo ra nguồn lực quan trọng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) trên địa bàn.
Ngoài các giá trị cung ứng lâm sản, tạo ra sinh kế cho người dân miền núi, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, hạn chế xói mòn, bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, tạo ra cảnh quan môi trường sinh thái, hấp thụ khí CO2 và tạo ra giá trị dịch vụ hệ sinh thái,vv...
Theo quy định của pháp luật, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, cá nhân hưởng lợi từ DVMTR như: thủy điện, nước sạch, du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản, cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trong quá trình sản xuất hoặc các nhà máy phát thải khí CO2, vv... phải chi trả DVMTR. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh ta đã triển khai 3 loại hình dịch vụ với mức chi trả theo quy định là: thủy điện 20 đồng/KWh; nước sạch 40 đồng/m3 và du lịch từ 1-2% doanh thu.
Nguồn thu này được cơ cấu trong giá thành sản xuất, nộp ủy thác vào Quỹ BV&PTR để chi trả cho các chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư để trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và tạo ra thu nhập ổn định đời sống người làm nghề rừng.
Đối với các dự án gây mất rừng hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang mục đích khác, chủ dự án phải thực hiện trách nhiệm trồng bù rừng hoặc nộp tiền ủy thác trồng rừng thay thế về Quỹ BV&PTR của tỉnh, mức nộp đối với rừng sản xuất khoảng 25-27 triệu đồng/ha; rừng đặc dụng, phòng hộ 33-36 triệu đồng/ha tùy từng địa phương trong tỉnh.
Quỹ BV&PTR tỉnh được thành lập tại Quyết định số 1822/QĐ-UBND ngày 14-6-2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. Bộ máy tổ chức quản lý quỹ bao gồm: Hội đồng quản lý, ban kiểm soát và ban quản lý (BQL) quỹ. Với chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận nguồn tài chính hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, huy động và tiếp nhận nguồn vốn ủy thác, các khoản đóng góp bắt buộc, các nguồn viện trợ, tài trợ từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài để tạo nguồn vốn, từ đó thực hiện chi trả DVMTR, trồng rừng thay thế và hỗ trợ các chương trình, dự án và các hoạt động phi dự án.
Ngay sau khi thành lập, cùng với việc ổn định về bộ máy tổ chức, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, tìm hiểu về chính sách và cách thức vận hành quỹ, tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực; BQL quỹ đã tiến hành rà soát, tham mưu cho hội đồng quản lý quỹ trình Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3855/QĐ-UBND ngày 20-11-2012 phê duyệt danh sách các đối tượng phải chi trả, mức chi trả, thời điểm chi trả tiền DVMTR trên địa bàn; tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức hội nghị triển khai chính sách và ký các hợp đồng ủy thác với các bên sử dụng DVMTR.
Đến nay đã có 8 hợp đồng ủy thác được ký kết, trong đó có 4 nhà máy thủy điện (Cửa Đạt, Bá Thước 2, sông Mực, dốc Cáy) và 3 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nước sạch (Công ty CP Cấp nước Thanh Hóa, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường nông thôn, Công ty CP Cấp nước Bình Minh) và 1 cơ sở kinh doanh hoạt động du lịch (Vườn Quốc gia Bến En).
Hằng năm, các nhà máy, cơ sở sản xuất nộp tiền ủy thác về quỹ với số tiền thu được từ tiền DVMTR từ 7-10 tỷ đồng/năm. Bên cạnh đó, quỹ đã tham mưu thực hiện đề án trồng rừng thay thế theo Quyết định số 829/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và các thông tư hướng dẫn của Bộ NN&PTNT; trong các năm từ 2014-2016, UBND tỉnh đã phê duyệt 51 phương án trồng rừng thay thế từ các dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác theo hình thức nộp tiền ủy thác về Quỹ BV&PTR.
Giai đoạn 2012-2016, tổng số tiền thu được từ hai nguồn thu nêu trên về Quỹ BV&PTR của tỉnh đạt 84,1 tỷ đồng, trong đó tiền thu từ DVMTR là 38,3 tỷ đồng, tiền thu từ trồng rừng thay thế là 45,8 tỷ đồng. Nhìn chung, các cơ sở sử dụng DVMTR và các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật trong việc nộp tiền ủy thác về quỹ.
Sau khi tiếp nhận nguồn thu về quỹ, BQL quỹ đã tham mưu thực hiện kịp thời công tác giải ngân thanh toán tiền DVMTR và tổ chức trồng rừng thay thế. Để thực hiện tốt công tác này, BQL quỹ đã phối hợp với các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện tốt công tác tuyên truyền, xây dựng mạng lưới chi trả ở cơ sở, hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Quỹ tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc và giám sát nhằm sớm phát hiện, xử lý những bất cập, thiếu sót trong thực hiện chính sách, nhất là việc quản lý, sử dụng tiền DVMTR của các chủ rừng là tổ chức, UBND các xã và BQL các thôn, bản.
Giai đoạn 2012-2016, quỹ đã chi trả tiền DVMTR kịp thời cho 311.102 ha rừng tại lưu vực của 3 nhà máy thủy điện: Cửa Đạt, sông Mực, Bá Thước 2 trên địa bàn 7 huyện: Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát cho 23 chủ rừng là tổ chức, 24 tổ chức không phải là chủ rừng (diện tích do UBND xã tạm quản lý), 461 cộng đồng thôn, bản và 1.587 hộ gia đình, cá nhân, góp phần giúp các chủ rừng thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ rừng, tạo thêm việc làm, cải thiện sinh kế cho người dân miền núi.
Về triển khai công tác trồng rừng thay thế; trong 3 năm (2014-2016), BQL quỹ đã tham mưu cho UBND tỉnh phân bổ vốn trồng rừng thay thế để trồng 5.081 ha với tổng số vốn giao cho các BQL dự án ở cơ sở là 33,5 tỷ đồng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển rừng trên địa bàn.
Đến nay, các đơn vị, địa phương đã triển khai trồng được 4.475 ha rừng sản xuất và 500 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, đạt 98% diện tích trồng rừng theo kế hoạch tỉnh giao, phần diện tích còn lại các đơn vị tiếp tục triển khai trồng rừng trong vụ thu năm 2016. Với kết quả nêu trên, tỉnh ta đã thực hiện đạt 146,8% so với kế hoạch trồng rừng thay thế Bộ NN&PTNT giao tại Quyết định số 829/QĐ-BNNPTNT.
Cũng từ kết quả này, tại hội nghị trực tuyến do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, Thanh Hóa được biểu dương là tỉnh dẫn đầu trong 5 tỉnh thực hiện tốt nhất chương trình trồng rừng thay thế trên phạm vi toàn quốc.
Thực tế 5 năm thực hiện Nghị định số 05/2008/NĐ-CP và Nghị định số 99/2010/NĐ-CP về triển khai Quỹ BV&PTR gắn với thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh đã đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, vẫn còn đó rất nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết, điển hình như thủy điện là nguồn thu chính của tiền DVMTR hiện nay (chiếm tới trên 90% số thu), trong khi đó Thanh Hóa là tỉnh có rất ít các công trình thủy điện, nên nguồn thu từ dịch vụ này đạt rất thấp.
Bởi vậy, mức chi trả bình quân đối với phần diện tích thuộc lưu vực Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt đạt từ 50.000 đến 70.000 đồng/ha/năm; lưu vực của Nhà máy Thủy điện sông Mực, Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2, mức chi trả được xác định rất thấp, khoảng 2.000- 5.000 đồng/ha/năm, trong khi đó mục tiêu phấn đấu do Trung ương đưa ra, có sự lồng ghép với các chính sách khác của Nhà nước ở mức tối thiểu khoảng 200.000 đồng/ha/năm, đang là một khó khăn lớn khi triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Bên cạnh đó, có những bất cập về cơ chế hưởng lợi: theo nguyên tắc, tiền DVMTR thu được chỉ thực hiện chi trả cho diện tích rừng nằm trong lưu vực, những diện tích nằm liền kề phía ngoài hoặc ngay bên dưới hạ lưu của các nhà máy thủy điện không được nhận tiền chi trả, việc này sẽ ảnh hưởng khi triển khai chính sách trên diện rộng. Bên cạnh đó, một số quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ như dịch vụ sử dụng nước trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ nước cho nuôi trồng thủy sản, dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các bon rừng,vv... chưa có văn bản hướng dẫn nên chưa có cơ sở triển khai thực hiện.
Để chính sách chi trả DVMTR ngày càng thiết thực, hiệu quả, ngoài chủ động nỗ lực của cán bộ, nhân viên Quỹ BV&PTR Thanh Hóa, sự tiếp tục quan tâm chỉ đạo sâu sát hơn của UBND tỉnh, Bộ NN&PTNT, các cấp, các ngành liên quan trong khắc phục những khó khăn, vướng mắc, trước mắt, cần có sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước và lồng ghép các chương trình, dự án để đảm bảo mức chi trả tối thiểu là 200.000 đồng/ha cho tất cả diện tích rừng đã giao quản lý, không phân biệt trong hay ngoài lưu vực chi trả.
Đồng thời, cần tiếp tục quy định mức thu, đối tượng thu, thời điểm thu đối với các loại hình dịch vụ đã được ghi nhận tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP nhằm gia tăng nguồn thu về Quỹ BV&PTR, góp phần để quỹ và chính sách chi trả DVMTR thực sự là một nguồn lực mới, tạo động lực bền vững cho phát triển lâm nghiệp của tỉnh nhà. (Báo Thanh Hóa 16/9) đầu trang(
Trong 2 ngày 14 và 15/9, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đã tổ chức hội thảo, tập huấn cho các nông hộ trồng mắc ca tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk.
Chương trình tập huấn mang tên “Hội thảo đầu bờ phát triển ngành mắc ca” có sự tham dự của 2 chuyên gia đầu ngành lĩnh vực mắc ca Việt Nam là GS Hoàng Hòe (Phó Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, Trưởng Ban Nghiệp vụ của Hiệp hội) và GS Nguyễn Lân Hùng (Phó Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, Trưởng Ban Truyền thông của Hiệp hội) trực tiếp nói chuyện, hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của 300 hộ nông dân trồng mắc ca ở các huyện Lâm Hà, Đam Rông (Lâm Đồng) và huyện K’rông Năng (Đắk Lắk), cùng đại diện của chính quyền và Hội Nông dân các cấp cùng nhiều nông dân tham gia sự kiện.
Cũng tại Hội thảo, các kỹ thuật viên của Công ty Him Lam hướng dẫn kỹ thuật lựa chọn giống, cách trồng, chăm sóc, thu hoạch và sơ chế mắc ca cho các nông hộ và tập huấn trực tiếp tại vườn mắc ca địa phương. Ông Huỳnh Ngọc Huy - Tổng Thư ký Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, nhận định: các buổi hội thảo như thế này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của ngành mắc ca Việt Nam nói chung và định hướng phát triển tại 2 tỉnh Lâm Đồng và Đắk Lắk nói riêng. Đây là lần đầu tiên các chuyên gia, các kỹ thuật viên của Hiệp hội và các nông hộ cùng trao đổi cụ thể các biện pháp và kỹ thuật thực địa về cây mắc ca...
Trước đó, ngày 5 và 6/9/2016, Hiệp hội Mắc ca đã tổ chức chuyến khảo sát tại hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu, tham quan và chia sẻ kinh nghiệm giữa các chuyên gia, các hộ nông dân trồng mắc ca tại hai tỉnh này. (Báo Lâm Đồng 16/9) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT, đầu tháng 9 đến nay, nhờ thời tiết có mưa trên diện rộng, các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình trên địa bàn tỉnh đã trồng được 171 ha rừng. Trong đó, Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (huyện Vĩnh Thạnh) trồng được 140 ha; Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn (TP Quy Nhơn) trồng 30 ha; Ban Quản lý Dự án thủy lợi đã trồng 1 ha rừng ngập mặn.
Được biết, vụ trồng rừng Thu Đông năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch trồng 8.500 ha rừng gồm rừng phòng hộ và môi trường cảnh quan 372 ha, rừng sản xuất 8.128 ha. Hiện các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình chuẩn bị quỹ đất để trồng rừng đạt 4.772 ha; đã xử lý thực bì 4.515 ha.
Vụ trồng rừng năm nay bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào cuối tháng 11.2016. (Báo Bình Định 18/9) đầu trang(
Sản phẩm mắc ca trồng ra không bán được, anh Lê Văn Yên (1984), trưởng thôn Thạch Thất 1, Tân Hà đã quyết định vay mượn tiền đầu tư hệ thống máy móc để thực hiện quy trình sản xuất từ trồng, chế biến đến tiêu thụ mắc ca. Không những chỉ phục vụ cho gia đình mà anh còn tiêu thụ mắc ca cho người dân tại địa phương sau những vụ mùa thu hoạch.
Những năm gần đây, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã tiến hành trồng xen canh mắc ca vào vườn cà phê. Là một trong những hộ đi tiên phong, gia đình anh Lê Văn Yên mạnh dạn trồng mắc ca xen cà phê. Hợp với chất đất và khí hậu, cây mắc ca sinh trưởng và phát triển tốt. Anh và nhiều gia đình trồng mắc ca khác có khoản thu ổn định nhờ bán hạt tươi cho thương lái. Tuy nhiên, đến khi thương lái thu mua với giá thấp, thu hoạch mắc ca không có nơi tiêu thụ, nhiều hộ dân chán nản, bắt đầu chặt phá để trồng cây khác.
Tiếc cho diện tích mắc ca của gia đình và những hộ trong xã đang độ cho sản lượng cao, anh Yên chợt nghĩ: “Tại sao mình đã tự trồng ra hạt mắc ca mà lại không tự rang chế biến để bán”.
Nghĩ là làm, anh thử rang tay mẻ đầu bằng chảo, sản phẩm làm ra khiến anh Yên rất hài lòng về chất lượng. Khi mang đi làm quà tặng, những gói mắc ca của anh ngay lập tức được mọi người hưởng ứng. Một số người sành hạt “nữ hoàng” này còn ngỏ ý đặt hàng anh Yên để bán. Vậy là ý tưởng xây dựng một chuỗi giá trị từ trồng, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm mắc ca ra đời.
Khi triển khai ý tưởng, anh không có một chút kiến thức, chuyên môn nào về kỹ thuật hay chế biến mắc ca. Vậy là anh quyết tâm đi học hỏi nhiều nơi và vay tiền để mua máy móc về rang tách hạt mắc ca theo quy trình. Mới bắt tay vào làm, gia đình anh Yên gặp không ít khó khăn bởi nguồn vốn ít, kinh nghiệm chế biến mắc ca chưa nhiều. “Khoảng một năm đầu, nhiều mẻ mắc ca sau khi chế biến không được như mong muốn.
“Cái khó ló cái khôn”, anh Yên càng quyết tâm vượt qua. Mẻ này hư, anh làm mẻ khác, qua thời gian, sản phẩm dần đạt chất lượng, anh bắt đầu lên mạng để chào hàng... Nhờ chất lượng mắc ca tốt, thơm ngon, giá cả hợp lý nên sản phẩm dần được người tiêu dùng biết đến. Khi đầu ra sản phẩm bảo đảm, anh bắt đầu thu gom mua toàn bộ mắc ca tươi của người dân trong xã, không để mắc ca của người dân bị tồn đọng, không ép giá hay gây khó khăn cho người dân. Hiện nay, bình quân mỗi tháng, gia đình anh Yên thu mua hơn 4 tạ mắc ca của nông dân.
Gia đình bà Hoàng Thị Thời ở thôn Thạch Thất có hơn 200 cây mắc ca đang cho trái, bà Thời cho hay: “Nếu không có anh Yên thu mua mắc ca cho chúng tôi thì nhiều người dân đã chặt phá hết rồi”.
Hiện anh Lê Văn Yên đang trong quá trình mở rộng sản xuất. Mặc dù chỉ mới sản xuất chế biến, đóng gói sản phẩm 2 năm trở lại đây, nhưng sản phẩm mắc ca của anh Yên, với giá bán trung bình từ 260.000 đồng/kg đã có mặt ở khá nhiều nơi như: Đà Lạt, Sài Gòn, Nha Trang...
Ông Mai Văn Dinh - Phó Chủ tịch UBND xã Tân Hà cho biết: “Kinh tế của nhân dân trong xã chủ yếu dựa vào cà phê nay có thêm cây mắc ca. Nhờ gia đình anh Lê Văn Yên mạnh dạn đi đầu và đổi mới để đầu tư máy móc chế biến mắc ca và thu mua mắc ca nguyên liệu cho người dân nên có thu nhập ổn định, giúp cho người dân giữ lại được cây mắc ca như hôm nay. Anh Lê Văn Yên thực sự trở thành chỗ dựa trong việc bao tiêu sản phẩm cho người dân trong xã”. (Báo Lâm Đồng 16/9) đầu trang(
Ngày 16-9, Ban quản lý đường sắt Đô thị Hà Nội đã triển khai kế hoạch cắt tỉa, di dời cây xanh phố Kim Mã (quận Cầu Giấy) để phục vụ thi công dự án tuyến Đường sắt đô thị trên cao Nhổn - ga Hà Nội.
Theo đó, để tổ chức thi công xây dựng Dốc hạ ngầm, tuyến đường sắt trên cao đoạn từ cổng đền Voi Phục đến ngã tư Kim Mã-Liễu Giai, được sự đồng ý của UBND Hà Nội, Ban quản lý đường sắt Đô thị đã giao cho Công ty cổ phần Beepro dịch chuyển, chặt hạ tổng cộng 109 cây xanh. Trong đó, các cây cổ thụ được dịch chuyển chủ yếu là muồng, xà cừ, hoa sữa…
Cụ thể, đơn vị thi công sẽ dịch chuyển 106 cây, bao gồm 103 cây phát triển bình thường, nằm trong chỉ giới giải phóng mặt bằng và 3 cây có dấu hiệu sâu mục, dịch chuyển về vườn ươm để chữa trị. Chặt hạ 2 cây đã chết nằm trong chỉ giới xây dựng công trình. Cắt tỉa 1 cây có cành vươn vướng mặt bằng thi công dự án. Riêng cây đa trước cửa đền Voi Phục sẽ giữ nguyên, chỉ cắt tỉa lá cành.
Ông Vương Long, Chủ tịch HĐQT công ty cổ phần Beepro, cho biết: “Dự kiến thời gian thực hiện là 90 ngày. Thời gian đầu, chúng tôi sẽ cắt tỉa cành trước rồi sẽ đánh gốc đưa về vườn ươm tại Văn Giang (Hưng Yên), khi cây hồi phục, chúng tôi sẽ cho trồng lại ở những tuyến đường mới tại Hà Nội. Qua quá trình thực hiện di chuyển, chúng tôi sẽ thường xuyên kiểm tra và đôn đốc công nhân thực hiện nghiêm túc, đảm bảo an toàn cho người dân”
Ông Lê Huy Hoàng, Phó Trưởng ban, Giám đốc Ban quản lý Dự án 1 (PMU1), cho hay để đảm bảo cây vẫn sống, đơn vị thực hiện sẽ áp dụng phương án đào gốc thủ công. Tuy nhiên việc này sẽ rất tốn kém, để hoàn thành di chuyển 1 cây có đường kính trên 1 mét cần phải dùng đến 30 công nhân. Thời gian đánh chuyển cây chủ yếu vào ban đêm, đơn vị thi công sẽ ngăn 1 bên đường Kim Mã.
“Hiện tại chúng tôi chưa có định mức, giá cả trong việc đánh chuyển cây xanh, đây cũng chính là thí điểm giá cắt tỉa di chuyển cho các dự án sau. Số lượng hơn 500 cây phải di chuyển cho toàn tuyến để phục vụ công trình đường sắt trên cao. Nếu thí điểm khu vực này thành công, chúng tôi sẽ tiếp tục thi công những nơi khác”- đại điện Ban quản lý đường sắt Đô thị Hà Nội nói. (Người Lao Động 16/9) đầu trang(
Tình trạng lấn chiếm đất rừng, ranh rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông huyện Tánh Linh để trồng cây lâu năm (chủ yếu là cây điều) diễn ra nhiều năm nay, nhưng chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để. Đến thời điểm này diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm lên đến 977 ha.
2 năm gần đây Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo tăng cường xử lý, lập hồ sơ vi phạm lấn chiếm đất lâm nghiệp tại lâm phận Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông. Đơn vị quản lý rừng đã 9 lần thông báo nhưng người dân lấn chiếm đất lâm nghiệp không tham gia kê khai; không tham gia kiểm tra thực địa cùng đoàn công tác.
Thậm chí có một số hộ dân ở khu vực Đức Bình, Đức Thuận chây ỳ không chấp hành kê khai nhằm mục đích chiếm dụng đất và lén lút trồng cây lâu năm trái phép dẫn đến việc lập hồ sơ quy chủ đạt thấp so với diện tích thực tế bị lấn chiếm. Từ đó việc xử lý, thu hồi đất lấn chiếm chậm so với kế hoạch đề ra. Đến tháng 8/2016 chỉ có 339 hộ/361,16 ha tham gia kiểm kê thực địa, chỉ chiếm 36,9% diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm.
Mặt khác, hàng năm Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông còn thông báo đến người dân các xã quanh khu bảo tồn là giữ nguyên hiện trạng đất lấn chiếm và không được lấn ranh, không cơi nới phá rừng làm nương rẫy… đồng thời nghiêm cấm trồng các loại cây trái phép. Song, các hộ vẫn lén lút cơi nới ranh rừng, lấn chiếm đất rừng trồng cây điều…
Trước thực trạng diện tích đất lâm nghiệp tại Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông bị lấn chiếm khá lớn (977 ha) và trên diện tích này người dân đã trồng cây điều lâu năm, đơn vị chủ rừng không thực hiện việc phá bỏ hết cây trồng trái phép theo quy định để trồng lại rừng.
Đơn vị chủ rừng đã tổ chức lực lượng thực hiện việc phá bỏ những cây trồng trái phép nằm trên diện tích lấn ranh rừng, lấn chiếm rừng, diện tích người dân cố tình trồng mới các loại cây lâu năm… nhằm ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp tại lâm phận Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông. (Báo Bình Thuận 19/9) đầu trang(
Từ lâu, người dân các làng Dóch 1, Dóch 2 và làng Díp, xã Ia Mơ Nông (cũ), nay là xã Ia Kreng (huyện Chư Pah, Gia Lai) đều sống và canh tác trên phần đất lâm nghiệp, đất khác của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Ly. Thậm chí, ngay cả UBND xã Ia Kreng...
Thậm chí, ngay cả UBND xã Ia Kreng, hơn 7 năm qua, kể từ khi thành lập cũng đang “nương nhờ” trên phần đất này.
Người dân ở các làng nói trên khẳng định, họ đã sống ở đây từ rất lâu, lâu đến nỗi, nhiều người chỉ biết phần đất họ đang canh tác là của ông bà, rồi đến cha mẹ mình để lại. Dù đã trải qua nhiều thế hệ nhưng trong tay họ không có giấy tờ gì có thể khẳng định hay chứng nhận họ chính là chủ nhân của những mảnh vườn hay thửa ruộng này.
Mảnh đất đã nuôi sống biết bao người con của làng lại là phần đất lâm nghiệp thuộc BQL rừng phòng hộ Ia Ly quản lý. Ngay cả việc giao dịch mua bán đất ở đây cũng được “đơn giản hóa”: Chỉ bằng một tờ giấy viết tay kèm theo lời khẳng định chắc nịch “đất này của ông bà tôi để lại”. Thế là xong.
Ông Siu Đir ở làng Dóch 1, xã Ia Kreng gần 50 tuổi nhưng vẫn chưa hình dung tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có hình dạng như thế nào. Ông Đir cho biết, hơn 2ha rẫy (gồm cả diện tích nhà ở) mà hiện tại ông đang trồng mì là của cha mẹ cho lúc ông lấy vợ, ra riêng. Từ đó đến nay, ông cũng như người dân ở đây không ai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, họ chỉ biết rằng "chính quyền chưa cho phép".
“Chúng tôi ai cũng mong mỏi có được bìa đỏ, nhưng cán bộ địa chính xã thông báo là chưa làm được. Cán bộ nói sao thì chúng tôi nghe vậy”, ông Đir lý giải.
Còn bà Trần Thị Lệ Thu ở làng Dóch 2, xã Ia Kreng bán tạp hóa ở làng ngót nghét hơn 10 năm qua nên bà hiểu rất rõ về tình trạng đất đai ở đây. Theo bà Thu, người dân vẫn chưa hiểu được giá trị của bìa đỏ như thế nào. Bà Thu kể, một người dân trong làng đến kêu bà bán đất. Bà Thu yêu cầu xem bìa đỏ thì được trả lời: “Bìa đỏ làm gì, đất của ông bà, cha mẹ mình để lại, ai dám vào lấy?”. Chỉ cần làm giấy mua bán có người làm chứng là được. Chính vì vậy, bà Thu tiết lộ đất ở đây rất rẻ, chỉ có giá tầm 70 đến 80 triệu đồng/ha.
Ông Rơ Chăm Tâm, Chủ tịch UBND xã Ia Kreng cho biết, UBND xã nhiều lần có văn bản đề nghị huyện sớm phân định ranh giới giữa đất lâm nghiệp và nông nghiệp để xã quản lý, thế nhưng từ năm 2009 đến nay vẫn chưa có kết quả. Do vậy, ngay cả trụ sở hay trung tâm xã (diện tích tự nhiên của xã) với 434 hộ dân, gần 1.900 khẩu đều “nương nhờ” trên phần đất lâm nghiệp thuộc sự quản lý của BQL rừng phòng hộ Ia Ly.
Trước đó, tháng 3/2009, UBND tỉnh có quyết định thu hồi 55ha đất của BQL rừng phòng hộ Ia Ly cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất để giải quyết đất sản xuất cho người dân. Đến tháng 5/2010, UBND tỉnh tiếp tục thu hồi 175,3ha, cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất để giải quyết đất sản xuất cho người dân làng Díp. Do vậy, xã chỉ quản lý phần diện tích này, phần đất còn lại (trong tổng số diện tích 11.000ha) là đất lâm nghiệp và đất khác thuộc sự quản lý của BQL rừng phòng hộ Ia Ly.
“Người dân canh tác trên đất lâm nghiệp là vi phạm pháp luật nên cần phân định rõ diện tích nào là đất nông nghiệp để giao xã quản lý; diện tích đất lâm nghiệp thì giao lại cho BQL. Tuy nhiên, đã hơn 7 năm nay mà vấn đề này vẫn chưa được giải quyết”.
Ông Tâm cũng thừa nhận, chính sự mập mờ này dẫn đến việc người dân xâm chiếm đất rừng lấy đất canh tác thường xuyên xảy ra trên địa bàn. Nghiêm trọng hơn, thời điểm năm 2013 có đến hàng trăm hộ dân xâm chiếm đất rừng. Trong 6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn xã cũng đã có 26 hộ dân làng Díp phát khoảng 5ha rừng trong khu vực trồng rừng của BQL rừng phòng hộ Ia Ly để lấy đất làm rẫy.
Ông Phạm Thành Phước, Trưởng BQL rừng phòng hộ Ia Ly cho biết, từ năm 1990, khi thành lập lâm trường (nay là BQL rừng phòng hộ Ia Ly), sơ đồ 3 làng Dóch 1, Dóch 2 và làng Díp đã có và nằm gọn trong lâm phần. Đến năm 2009, UBND xã Ia Kreng được thành lập, nhưng chỉ xác định được ranh giới hành chính, thực tế xã không quản lý phần đất này mà toàn bộ diện tích (hơn 11.000ha) đều thuộc quyền quản lý của BQL rừng phòng hộ Ia Ly.
“Theo bản đồ, đây là đất lâm nghiệp và đất khác, người dân thì ở ngay trong lâm phần nên không thể cấp bìa đỏ được. Trong khi đó, người dân xã Ia Kreng bức xúc vì có nhu cầu cấp bìa đỏ nhưng lại không được giải quyết. Do vậy, cần tách bạch ra đất nào là đất nông nghiệp giao cho địa phương quản lý, đất nào là đất lâm nghiệp giao cho BQL nhằm tránh tình trạng người dân xâm chiếm đất lâm nghiệp để sản xuất”, ông Phước đề xuất. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/9) đầu trang(
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, hiện các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Namđang đứng trước nhiều khó khăn. Từ năm 2016, các thị trường nhập khẩu đồ gỗ đều đòi hỏi các chứng chỉ gỗ hợp pháp, trong khi đó Việt Nam chưa có các hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, chính sách quản lý vẫn còn nhiều bất cập, nhất là trong lĩnh vực thuế, tiền vay, lãi suất, tỷ giá...
Bên cạnh đó, bài toán khó khăn nhất hiện nay là nguồn nguyên liệu. Các doanh nghiệp ngành gỗ kiến nghị Nhànước cần phải có quỹ cho vay để cải tiến công nghệ sản xuất, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời phát triển hiệu quả, bền vững gỗ nguyên liệu.
Trong khi đó, việc áp dụng 5% thuế xuất khẩu đối với dăm gỗ sẽ tác động đến hộ gia đình trồng rừng, vốn đều sinh sống ở miền núi, vùng sâu vùng xa, cuộc sống còn khó khăn và thuộc diện giảm nghèo. Do vậy, đề nghị Nhànước xem xét, chưa nên áp dụng thuế xuất khẩu mới đối với dăm gỗ vào thời điểm hiện tại... (Báo Bình Dương 17/9) đầu trang(./.
|
|||