Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 23 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Hôm 22/9, UBND huyện Đình Lập tổ chức diễn tập phòng, chống cháy rừng (PCCR) năm 2016. Dự và chỉ đạo có đồng chí Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo diễn tập tỉnh; đại diện lãnh đạo Quân khu 1, các sở, ngành, thành viên Ban Chỉ đạo diễn tập tỉnh và các huyện, thành phố.
Cuộc diễn tập bao gồm các giai đoạn: Thông báo tình hình thời tiết, khí hậu, chuyển cấp báo động, chuyển địa phương vào tình trạng khẩn cấp, sẵn sàng đối phó với tình huống cháy rừng; thực hành xử lý các tình huống cháy rừng tại thôn Khau Vuồng, xã Đình Lập.
Tham gia phần thực binh xử lý các tình huống chữa cháy rừng có các lực lượng: kiểm lâm, công an, quân đội, công ty lâm nghiệp, dân quân tự vệ và y tế. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, đám cháy đã được khống chế và dập tắt hoàn toàn. Cuộc diễn tập diễn ra thành công, đúng kịch bản, mục tiêu đề ra, đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và cơ sở vật chất.
Phát biểu tại cuộc diễn tập, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, tinh thần trách nhiệm, chủ động của các lực lượng tham gia diễn tập; qua diễn tập đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các phòng, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, đơn vị trên địa bàn huyện trong thực hiện nhiệm vụ về năng lực tổ chức, huy động lực lượng, các biện pháp kỹ thuật, khả năng phối hợp trong PCCR giữa các lực lượng trên địa bàn; đồng thời trang bị cho người dân có được những kiến thức cơ bản, kịp thời cứu chữa, dập tắt các vụ cháy rừng nhanh nhất, giảm thiệt hại ở mức thấp nhất.
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể huyện tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hành động trong công tác PCCR sâu rộng trong nhân dân. (Báo Lạng Sơn 22/9) đầu trang(
Những năm qua, các chủ rừng ở huyện Chư Pah đã triển khai hiệu quả công tác giao khoán cho nhóm hộ gia đình và cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ rừng, qua đó đã góp phần đáng kể vào việc khôi phục, phát triển rừng và nâng cao thu nhập cho nhiều gia đình trong huyện.
Diện tích rừng thông với 280 ha ở tiểu khu 198 tại xã Ia Khươl, huyện Chư Pah thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Pah đã giao cho nhóm hộ gia đình gồm 11 hộ ở làng Tơ Vơn 1, xã Ia Khươl quản lý, bảo vệ. Đã gần 6 năm qua kể từ khi ký hợp đồng nhận khoán với chủ rừng, nhóm hộ gia đình này đã xây dựng kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng hộ tích cực quản lý, bảo vệ nên diện tích rừng sinh trưởng, phát triển tốt.
Ông A Lưk, làng Tơ Vơn 1, xã Ia Khươl, huyện Chư Pah cho biết: “ Từ khi nhận khoán đến nay, nhóm hộ gia đình luân phiên nhau quản lý, bảo vệ rừng, nếu phát hiện cháy rừng hay xâm hại đến rừng thì báo cáo kịp thời cho chủ rừng để xử lý; rừng phát triển tốt”.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Pah là một trong những đơn vị triển khai nghiêm túc các quy định của Nhà nước về giao khoán cho nhóm hộ gia đình và cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ rừng. Hiện đơn vị đang quản lý 11.800 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó đã giao khoán 3.500 ha rừng cho 4 nhóm hộ gia đình với 100% là đồng bào thiểu số và 5 cộng đồng dân cư ở xã Ia Khươl và xã Hà Tây, huyện Chư Pah quản lý, bảo vệ. Đơn vị luôn tăng cường đôn đốc, kiểm tra, giám sát và thực hiện kịp thời các chính sách cho các nhóm hộ gia đình và cộng động dân cư nhận khoán quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Ông Lương Văn Đảng- phụ trách kỹ thuật- BQL rừng phòng hộ Đông Bắc Chư Pah cho biết: “Nhìn chung, các nhóm hộ gia đình và cộng đồng dân cư sau khi nhận khoán đã tích cực quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng. Giao khoán rừng cho các hộ sinh sống gần rừng quản lý bảo vệ đã mang lại hiệu quả tích cực, họ thấy được lợi ích của rừng từ đó tuyên truyền cho người thân và cộng đồng tích cực tham gia quản lý, bảo vệ rừng”.
Toàn huyện Chư Pah hiện có 49.000 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó hơn 5.000 ha rừng đã giao khoán cho các nhóm hộ gia đình và cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ với số tiền hỗ trợ khoán quản lý, bảo vệ bình quân từ 300 đến 400 nghìn đồng/ha/năm.
Thông qua thực hiện chính sách này đã góp phần giúp nhiều gia đình trong huyện có nguồn thu nhập ổn định và cải thiện đời sống; đồng thời đã hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng xâm hại đến rừng. UBND Chư Pah đã có những giải pháp để tiếp tục triển khai hiệu quả công tác này theo tinh thần Nghị định 75 của Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống gần rừng, cũng như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên.
Ông Nguyễn Ngọc Quang- Phó Chủ tịch UBND huyện Chư Pah cho biết: “UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện tiến hành rà soát lại toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng để huyện có cơ sở đăng ký với tỉnh về diện tích trồng rừng trong những năm tới.
Việc triển khai công tác này theo tinh thần Nghị định 75 của Chính phủ về bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống gần rừng. Chính sách này rất tốt vì trồng rừng gắn với góp phần cải thiện đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và nâng cao độ che phủ của rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc”.
Từ thực tế công tác giữ rừng đang đặt ra nhiều khó khăn và thách thức nên nhiều ý kiến cho rằng, Trung ương cần nâng mức tiền hỗ trợ khoán quản lý, bảo vệ rừng để các hộ và cộng đồng dân cư nhận khoán luôn yên tâm gắn bó và xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống một cách nhanh và bền vững nhờ rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 22/9) đầu trang(
Sáng ngày 21-9, UBND tỉnh tổ chức hội nghị chuyên đề về công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020. Đồng chí Trần Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì hội nghị.
Theo báo cáo, thời gian qua, Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn cùng với chính quyền địa phương và các ngành chức năng đã tích cực triển khai thực hiện tốt các quy định, chính sách của Trung ương và của tỉnh trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh, qua đó, đạt được một số kết quả nhất định.
Trong giai đoạn 2016-2020, tỉnh ta đề ra mục tiêu thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển, nâng cao chất lượng rừng và sử dụng bền vững 198.150 ha đất lâm nghiệp đến năm 2020; nâng tỷ lệ độ che phủ rừng đến năm 2020 đạt 50%.
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, đồng chí Trần Quốc Nam, Phó Chủ tịch UBND tỉnh ghi nhận nỗ lực của ngành chức năng, địa phương liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh thời gian qua.
Bên cạnh đó, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh cũng chỉ ra những hạn chế như: Tình hình vi phạm lâm luật, chống đối người thi hành công vụ xảy ra nhiều và ngày càng nghiêm trọng; công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được tăng cường nhưng vẫn còn xảy ra; công tác trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc trong những năm qua mang lại hiệu quả chưa cao…
Triển khai phương hướng, nhiệm vụ trong giai đoạn tiếp theo, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các ngành, địa phương cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật với các hình thức, nội dung phong phú, phù hợp về bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng đối với cán bộ, công chức, viên chức, đoàn thể, lực lượng vũ trang và Nhân dân.
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tập trung triển khai xây dựng Đề án phục hồi và trồng rừng mới ở lưu vực hồ chứa nước trên địa bàn tỉnh; Thực hiện tốt công tác điều tra, kiểm kê rừng nhằm đánh giá đúng hiện trạng tài nguyên rừng, tăng cường quản lý quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng; Tiếp tục triển khai có hiệu quả các dự án bảo vệ và phát triển rừng như: Dự án ICA2, Dự án SP-RCC…; Phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân địa phương, đặc biệt là bà con dân tộc miền núi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng, phát triển kinh tế từ trồng rừng để ổn định cuộc sống, hạn chế, ngăn chặn tình trạng phá rừng làm rẫy. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Ninh Thuận 22/9) đầu trang(
“Sau phiên tòa sơ thẩm ngày 7/9 bị hoãn vì lý do vắng mặt một số người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, mới đây TAND TP Phan Thiết cho tôi biết thông tin đã gửi hồ sơ vụ án lên VKSND Tối cao để VKSND Tối cao thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp, do trước đó tôi có gửi đơn khiếu nại bản cáo trạng và gửi đơn kêu oan lên VKSND Tối cao”- ông Nguyễn Quang Dũng - người kêu oan trong vụ án trên trình bày với Báo PLVN.
Báo PLVN số ra ngày 30/7/2016 đã có bài phản ánh vụ án “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” mà ông Nguyễn Quang Dũng (SN 1962, nguyên Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận) có đơn kêu oan.
Ông Dũng cho biết bản thân mình thực hiện việc thu gom cây gẫy, đổ sau bão theo chủ trương, chỉ đạo bằng văn bản của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận, việc ký hợp đồng thu gom cây đổ được thực hiện với đơn vị có đủ chức năng hành nghề, đủ năng lực, công cụ, phương tiện theo đúng quy định của pháp luật.
Việc thu gom được triển khai là công khai, minh bạch, không hề có sự lén lút, che giấu hoặc câu kết, vụ lợi. Quá trình thực hiện thu gom có sự tham gia kiểm tra, giám sát của cơ quan Kiểm lâm sở tại, chính quyền địa phương, hộ nhận khoán bảo vệ rừng và các cơ quan chức năng thuộc Sở NN&PTNT. Việc thu gom đã bảo vệ tài sản của Nhà nước, khắc phục hậu quả cơn bão và ngăn ngừa các nguy cơ dịch bệnh có hại cho môi trường sinh thái.
Ông Dũng chỉ có “sơ suất” là khi biết số cây thiệt hại thực tế nhiều hơn số cây gãy đổ đã khảo sát trước đó nhưng vì tính cấp thiết của việc khắc phục hậu quả bão lũ nên ông đã không báo cáo kịp thời, việc này đã được Sở NN&PTNT đồng ý cho bổ sung văn bản báo cáo sau để “hợp thức hóa”. Quá trình điều tra xác định quá trình thực hiện công việc, ông Dũng hoàn toàn không có yếu tố tư lợi.
Chính vì vậy nên khi bị khởi tố, điều tra về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, ông Dũng đã ròng rã kêu oan. Tuy nhiên, tại vòng tố tụng thứ nhất, TAND TP Phan Thiết vẫn tuyên phạt cả 3 bị cáo trong vụ án (trong đó có ông Dũng) mức án tù, tuy nhiên bản án này bị tuyên hủy do những vi phạm về thủ tục tố tụng, trả hồ sơ để điều tra lại từ đầu. Tuy nhiên, bản cáo trạng ngày 2/11/2015 điều tra lại có nội dung và quan điểm truy tố không khác so với trước.
Ông Dũng tiếp tục kêu oan, khiếu nại bản cáo trạng cho rằng việc truy tố ông về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” là không đủ căn cứ pháp luật, đề nghị VKSND TP Phan Thiết rút cáo trạng, đình chỉ vụ án. Việc khiếu nại bản cáo trạng của ông Dũng không được chấp nhận, hồ sơ vụ án vẫn được chuyển sang Tòa, tuy nhiên phiên tòa xét xử vụ án đã bị hoãn 2 lần vì những lý do thủ tục. Ông Dũng khiếu nại bản cáo trạng của VKSND TP Phan Thiết lên VKSND Tối cao.
Theo phân tích của Báo PLVN, qua các tình tiết pháp lý và diễn biến khách quan của vụ án cho thấy việc truy tố, xét xử ông Nguyễn Quang Dũng về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” là chưa có căn cứ pháp lý vững chắc, vi phạm  nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự, có dấu hiệu oan sai.
Cụ thể, xét về hành vi “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” mà ông Dũng bị cáo buộc thấy rằng việc làm của ông Dũng trong vụ án này là chỉ đạo việc khắc phục hậu quả bão lũ (chỉ khai thác những cây gãy đổ) chứ không khai thác lâm sản trái phép, không phá rừng, cũng không có yếu tố trục lợi.
Về việc ông Dũng cho khai thác số cây gãy đổ nhiều hơn con số đã báo cáo mà không báo cáo bổ sung, tại Công văn số 787 ngày 28/1/2016 Bộ NN&PTNT đã nêu rõ: “Nếu BQLRPH Phan Thiết báo cáo đầy đủ số cây đổ do bão để Sở cho thu gom và chỉ thu gom những cây gãy, đổ do bão gây ra nhằm thực hiện biện pháp kỹ thuật lâm sinh, tận thu lâm sản cho Nhà nước, không nhằm mục đích lấy lâm sản tiêu thụ, sử dụng bất hợp pháp; có sai sót về thủ tục trong việc thực hiện nhiệm vụ, nhưng có thể chưa cấu thành hành vi “khai thác rừng trái phép”.
Trường hợp BQLRPH Phan Thiết và các cá nhân, tổ chức liên quan lợi dụng việc bão làm đổ, gãy một số cây keo lá tràm và văn bản chỉ đạo của Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận để khai thác cả những cây không bị đổ, gãy do bão, lấy gỗ sử dụng không đúng chủ trương của tỉnh thì có thể coi là hành vi “khai thác rừng trái phép”.
Bên cạnh đó, khách thể của tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng” được quy định chỉ khoanh vùng trong 3 loại rừng trồng bằng tiền ngân sách nhà nước gồm rừng đặc dụng, rừng sản xuất và rừng phòng hộ.
Ở đây, những cây gãy, đổ do bão lũ mà ông Dũng chỉ đạo khai thác nằm trong diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tiểu khu 245A và 245B tại xã Tiến Thành (TP Phan Thiết, Bình Thuận) trước đây là rừng sản xuất nhưng đã được đưa ra khỏi 3 loại rừng trên.
Nội dung này được khẳng định tại Công văn số 200 ngày 26/1/2016 Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận trả lời yêu cầu cung cấp thông tin vụ án của TAND TP Phan Thiết nêu rõ: Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại tiểu khu 245A và 245B tại xã Tiến Thành đã được đưa ra ngoài 3 loại rừng để chuyển mục đích sang xây dựng khu dân cư tại xã Tiến Thành và phát triển du lịch.
Từ các phân tích trên thấy rằng, việc cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận tuy không có thẩm quyền xác lập các loại rừng nhưng đã tự trao cho mình quyền này để buộc tội công dân, để bảo vệ quan điểm khởi tố của mình bằng lập luận: “Mặc dù tiểu khu 245A và 245B đã được UBND tỉnh Bình Thuận quy hoạch đưa ra ngoài 3 loại rừng nhưng chưa có quyết định thu hồi rừng, chưa có quyết định chuyển mục đích rừng thì vẫn là rừng sản xuất” là thiếu cơ sở, vi phạm nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong tố tụng hình sự.
Thiết nghĩ, VKSND Tối cao với chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát tư pháp, khi giải quyết đơn khiếu nại bản cáo trạng của ông Nguyễn Quang Dũng sẽ xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện, làm sáng tỏ nỗi oan của công dân.
Tại Kết luận điều tra bổ sung số 35 ngày 9/6/2016 của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Bình Thuận xác định: quá trình thu gom cây gãy, đổ, Cty TNHH MTV Sản xuất đầu tư xây dựng Thái Dương do ông Nguyễn Quang Huy làm Giám đốc đã tự ý cắt thêm cây đứng mà không báo cho BQLRPH Phan Thiết biết với lý do: “một số cây ngã đổ nằm chèn lên cây đứng bên cạnh, không lôi cây gãy, đổ ra được nên buộc phải cắt thêm những cây đứng này mới lôi được cây gãy ra”. Chưa hết, phía Cty Thái Dương còn tự ý bán gỗ thu gom khi chưa được sự cho phép của BQLRPH Phan Thiết.
Những việc làm trên là do người của Cty Thái Dương tự ý làm, không báo cho BQLRPH Phan Thiết và cá nhân ông Dũng biết. Tuy nhiên, Công an tỉnh Bình Thuận lại buộc ông Dũng phải chịu trách nhiệm về việc làm trái pháp luật của Cty Thái Dương với lập luận: “Cty Thái Dương chỉ là người làm thuê cho BQLRPH Phan Thiết, việc xin cấp phép khai thác thuộc BQLRPH Phan Thiết – việc xin cấp phép thuộc trách nhiệm BQLRPH Phan Thiết”.
Việc Công an tỉnh Bình Thuận xác định hành vi vi phạm pháp luật của Cty Thái Dương mà không xử lý, không những thế còn đổ trách nhiệm cho ông Dũng là không công bằng, có dấu hiệu cố tình “buộc án, gán tội” cho ông Dũng. (Pháp Luật Việt Nam 23/9) đầu trang(
Rừng đầu nguồn là vô giá đối với môi trường sinh thái, phục vụ cho sự phát triển bền vững của con người và chỉ những kiểm lâm làm nhiệm vụ giữ rừng mới hiểu rõ hơn hết những giá trị ấy. Nhưng trước áp lực phát triển kinh tế - xã hội, công việc giữ rừng là cả hành trình dài đầy chông gai.
Năm 1982, ông Nguyễn Văn Ách (Bảy Ách) xuất ngũ về làm ở Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sông Bé (cũ), 5 năm sau, ông chuyển công tác về huyện Lộc Ninh. Năm 1997, khi chia tách tỉnh Sông Bé thành Bình Dương và Bình Phước, ông thuộc “người” của Bình Phước và từ năm 2003, giữ chức Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bù Đốp. Tính đến nay đã sang năm thứ 34 ông gắn bó với rừng nhưng đôi chân đi rừng vẫn nhanh nhẹn như hồi mới vào ngành.
Mỗi năm, đơn vị ông đều dọn đường vào mùa khô, đường đi rộng hơn 1m dài hơn 120km trong lâm phần được giao quản lý để tiện việc tuần tra. Thời gian đầu mới chia tách tỉnh, ông và đồng nghiệp đã đương đầu với nạn khai thác gỗ trái phép và phá rừng lầm rẫy. Mua chuộc không được thì lâm tặc dùng tới hình thức “khủng bố”. Cam go nhất vào khoảng năm 2003-2004, có lần ông được lâm tặc gửi tặng một… cái hòm, kèm dòng chữ “Binladen kính tặng anh Bảy” đặt trước nhà khiến vợ con ông nao núng.
Nhưng nhờ phẩm chất kiên trung của bộ đội cụ Hồ được rèn luyện trong quân ngũ đã giúp ông Bảy đứng vững, vượt qua nỗi sợ hãi. Đã trải qua giai đoạn khó khăn nhất, nên bây giờ nhắc lại ông chỉ cười xòa: “Giờ rất ổn rồi”. Ông còn cho biết, nhờ đời sống khá hơn và được tuyên truyền vận động nên dân địa phương không có phá rừng làm rẫy nữa.
Trải qua chừng ấy thời gian, ông cũng chứng kiến nhiều khu rừng tự nhiên bị khai tử, chuyển đổi mục đích để thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Theo ghi chép của ông, cứ sau mỗi lần chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đến thời điểm hiện tại, diện tích rừng tự nhiên do đơn vị ông quản lý chỉ còn 6.400ha (so với lúc mới chia tách tỉnh gần 10.000ha), trong đó khoảng 5.000 ha là rừng phòng hộ Đắk Quít thuộc đầu nguồn sông Đồng Nai.
Ông Bảy Ách phân tích, nếu tính kinh tế đơn thuần theo tiêu chí của Bộ NN-PTNT, cứ 1ha rừng có trữ lượng gỗ dưới 100m3 thì là rừng nghèo, trong khi đặc thù của vùng Đông Nam bộ chủ yếu là rừng khộp, có những khoảnh rừng có cả gỗ quý như giáng hương, cà chắc, da đá… thì vẫn là rừng giàu, nếu tính giá trị đa mục đích (sinh thái, môi trường…). Vì vậy, diện tích rừng nào bị phá, ai cũng thấy tiếc vì bất cứ lý do gì.
Từ ngày về Bù Đốp, ông đã nhiều lần đề nghị các ngành chức năng phải cân nhắc thật kỹ trước khi chuyển đổi từ rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp, vì khi đã khai thác trắng rồi sẽ khó có thể phục hồi lại được. Tuy nhiên, điều trớ trêu là dù đã “nặng lòng với rừng” nhưng đôi khi ông phải đành lòng ký vào các biên bản kiểm kê để hoàn tất thủ tục xóa sổ các cánh rừng tự nhiên đang xanh tốt do chủ trương của cấp trên.
Tâm huyết với việc giữ rừng và xuất phát từ diện tích rừng tự nhiên ngày càng suy giảm, ông Bảy Ách và đồng nghiệp đã có nhiều sáng kiến để ngăn chặn cháy rừng vào mùa khô, như biện pháp đào 14 hố chứa nước nhỏ với diện tích khoảng 20m2/hố, bên dưới trải bạt để khi mưa xuống sẽ tích nước để chữa cháy tại chỗ trong mùa khô; hay tái tạo rừng bằng cách trồng cây gáo nước trên diện tích bán ngập ở vùng lòng hồ thủy điện Cần Đơn.
Cây gáo nước có tỷ lệ sống bằng hạt rất cao, mức độ tái sinh dày, lúc đầu trồng được khoảng 30ha (năm 2012), sau tỉnh thấy hiệu quả nên đã hỗ trợ kinh phí nhân rộng và đến nay đã trồng được 200ha và mô hình này được một số tỉnh bạn như Đắk Nông, Đắk Lắk học theo để tái tạo từng. Nhờ gầy dựng được rừng bán ngập nên Hạt Kiểm lâm Bù Đốp đang xây dựng dự án khu du lịch sinh thái để lấy kinh phí tiếp tục đầu tư cho công tác bảo vệ giữ rừng. (Sài Gòn Giải Phóng 23/9) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn hồ chứa nước Đông Tiễn (xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) có vai trò rất quan trọng trong điều tiết nguồn nước, giảm xói mòn, bảo vệ đất, ngăn sự bồi lấp lòng hồ. Thế nhưng thời gian gần đây, nhiều đối tượng ngang nhiên mang máy cưa, máy xúc… vào khu vực chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp để canh tác trái phép.
Biết nhóm phóng viên đến tìm hiểu về nạn phá rừng phòng hộ, một số người dân đã nhiệt tình dẫn chúng tôi đến khoảnh rừng bị tàn phá để tận mục sở thị.
Đập vào mắt chúng tôi, giữa cánh rừng tươi tốt là hình ảnh những con đường mới được khai phá để đưa phương tiện cơ giới vào bên trong rừng. Từ vị trí này phóng tầm mắt lên phía thượng nguồn có thể thấy một khoảnh rừng lớn đã bị đốt cháy đen, chuẩn bị cho việc trồng keo.
Tiến sâu vào bên trong, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng vì nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ không thương tiếc để phục vụ việc trồng keo trái phép.
Mặc dù các bảng ghi quy định về bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn được dựng dọc các lối vào nhưng dường như không có tác dụng gì. Rừng vẫn bị tàn phá, cày xới.
Sau khi đốn hạ cây, những kẻ phá rừng còn dùng máy móc san ủi tạo thành những bờ rãnh rộng 1-2 mét nhằm phân lô để trồng keo. Có khu vực đã được trồng mới cây keo lá tràm, lá đã lên xanh tốt.
Trao đổi với phóng viên, ông Trần Văn Hoa, Trưởng Công an xã Bình Trị cho biết, từ đầu năm đến nay, Công an xã đã nhiều lần tổ chức  tuần tra và phát hiện nhiều vụ phá rừng.
Cụ thể như, ngày 26/2/2016, tổ kiểm tra của xã đã phát hiện đối tượng Nguyễn Phúc Diễn (SN 1983, ngụ xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) đang điều khiển xe cơ giới đào bới rừng phòng hộ đầu nguồn.
Qua đấu tranh Diễn khai được ông Nguyễn Văn Hải (ngụ xã Bình Lãnh, huyện Thăng Bình) thuê san ủi rừng để chuẩn bị trồng keo. Vụ việc sau đó được bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình giải quyết theo thẩm quyền. UBND huyện Thăng Bình đã xử phạt các đối tượng liên quan 80 triệu đồng về hành vi phá rừng.
Tiếp đến, ngày 7/8/2016, tổ công tác của xã đã phát hiện 5 đối tượng đang sử dụng 3 cưa máy cầm tay và một số vật dụng khác đốn hạ rừng tự nhiên tại khu vực hố Bà Lộc, thuộc tiểu khu 484.
Khi thấy lực lượng chức năng, các đối tượng quăng dụng cụ bỏ chạy thoát thân. Với quyết tâm bảo vệ rừng đầu nguồn, tổ công tác đã lập tức triển khai bao vây, bắt được 3 đối tượng.
Qua đấu tranh ban đầu, các đối tượng khai nhận phá rừng thuê cho một cán bộ lãnh đạo xã Tiên Sơn (huyện Tiên phước). Điều đáng nói, trong số những kẻ phá rừng có một đối tượng mặc sắc phục công an viên và khai rằng đang công tác tại công an xã Tiên Sơn. Tại thời điểm bị phát hiện, các đối tượng trên đã chặt hạ nhiều cây gỗ lớn trên diện tích 2,78 ha.
Gần đây nhất, sáng ngày 25/8/2016, UBND xã Bình Trị phối hợp với Hạt kiểm lâm huyện kiểm tra khu vực rừng giáp ranh với xã Bình Lãnh (huyện Thăng Bình) đã phát hiện và lập biên bản vi phạm đối với Nguyễn Văn Hải (ngụ xã Bình Lãnh) và một đối tượng trú tại xã Tiên Sơn đang dùng cưa máy để xẻ gỗ.
Điều đáng nói, đối tượng Hải là người trước đây đã bị xử phạt về hành vi phá rừng nhưng vẫn tiếp tục tái phạm. Ngày hôm sau, 26/8, trong lúc kiểm tra tại tiểu khu 484, giáp ranh với các xã Bình Định Nam, Bình Phú (huyện Thăng Bình), tổ công tác phát hiện có khoảng 500m đường mòn đã bị san ủi mở rộng hòng đưa xe cơ giới vào phá rừng.
Nhiều người dân địa phương cho hay, tình trạng phá rừng trồng keo xảy ra tại khu rừng phòng hộ trên không phải mới đây mà bắt đầu từ năm 2012. Thời điểm đó, sau khi kiểm tra, xác minh, địa phương đã tổ chức họp dân thông báo tình trạng phá rừng.
Kết quả kiểm tra cho thấy, có gần 49 ha rừng đã bị phá, trong đó có nhiều đối tượng chặt phá gần 4ha. 12 hộ dân và 24 đối tượng ở các thôn Vinh Nam, Nam Tiễn và Vinh Đông (xã Bình Trị) tham gia phá rừng đã bị đưa ra kiểm điểm trước nhân dân địa phương.
Các hộ đã hứa không tái phạm và cam kết sẽ trồng bù rừng tại các diện tích đã khai thác trái phép. Thế nhưng thời gian gần đây, tình trạng khai thác rừng trái phép ở khu vực này lại tiếp diễn, thậm chí có phần nhức nhối hơn những năm trước.
Theo tìm hiểu được biết, năm 2008, hồ chứa nước Đông Tiễn được xây dựng và đi vào hoạt động, phục vụ tưới cho hơn 700 ha đất canh tác. Từ khi có hồ chứa, hơn 500 ha đất rừng xung quanh lòng hồ trở thành rừng phòng hộ đầu nguồn vô cùng quan trọng đối với hồ Đông Tiễn.
Năm 2012, lợi dụng kế hoạch của huyện trồng cây cao su đại điền tại khu vực xung quanh hồ chứa nước Đông Tiễn, người dân ào ạt xâm lấn, chặt phá rừng nghiêm trọng. Sau khi đưa các đối tượng vi phạm ra kiểm điểm trước nhân dân, tình trạng phá rừng có phần lắng xuống. Tuy nhiên, chỉ được một thời gian ngắn, nạn phá rừng lại tiếp tục diễn ra, thậm chí còn diễn biến phức tạp hơn.
Nói về nguyên nhân nạn phá rừng năm 2012, ông Lê Viết Mãnh, Chủ tịch xã Bình Trị cho biết, đó là do người dân thiếu đất canh tác, thiếu hiểu biết pháp luật. Sau vụ việc này, địa phương đã quán triệt và người dân trong xã đã chấp hành không phá rừng phòng hộ nữa. Trong khi đó, người dân của 2 xã giáp ranh là Tiên Sơn và Bình Lãnh lại lén lút sang phá rừng.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, các hộ phá rừng năm 2012 đã bị buộc trồng rừng để “trả nợ”. Tuy nhiên, không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra kiểm tra, quản lý nên sau khi trồng keo để “trả nợ”, các hộ dân lại quay ra tự khai thác và tiếp tục trồng lại keo. Không những thế, họ còn lấn chiếm thêm diện tích đất rừng để trồng keo trái phép.
Thấy những hộ này trồng keo có kinh tế, các hộ khác, đặc biệt là ở các xã Tiên Sơn, Bình Lãnh, Bình Định Nam... cũng chặt phá rừng phòng hộ để canh tác. Để phục vụ cho việc khai thác, vận chuyển cây, các hộ này đã thuê xe múc vào đào xới ủi đường một cách ngang nhiên nhưng địa phương cũng như các ngành chức năng của huyện chưa có biện pháp ngăn chặn.
Một người dân địa phương chia sẻ: “Chúng tôi rất bức xúc khi các đối tượng ngang nhiên mang máy móc vào rừng để tàn phá. Đây là rừng phòng hộ, nếu không được gìn giữ sẽ gây xói mòn đất, bồi lắng lòng hồ Đông Tiễn, gây thiếu nước tưới cho cây trồng, dẫn đến mất mùa.
Một người phụ nữ đang hái cây rau dớn trên đường chúng tôi đi ngang qua nói: “Gia đình tôi vẫn thường vào rừng hái măng, cây rau dớn hay những cây thuốc như “lá mồng năm” để bán. Nếu rừng nguyên sinh bị phá, chúng tôi mất nguồn thu nhập này”.
Theo ông Trần Văn Hoa cho biết, UBND xã đã thành lập tổ công tác kiểm tra, bảo vệ rừng. Tuy nhiên, theo đánh giá của chúng tôi, sự phối hợp giữa chính quyền địa phương và các ngành chức năng để bảo vệ rừng còn mang tính hình thức. Việc giải quyết nạn phá rừng chỉ là giải quyết phần ngọn chứ chưa giải quyết tận gốc.
Hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ đầu nguồn của xã Bình Trị là nơi giữ nguồn nước, cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho hàng ngàn hộ dân ở địa phương và hơn 700 ha đất nông nghiệp. Nếu tình trạng phá rừng không được ngăn chặn kịp thời thì chẳng bao lâu nữa các cánh rừng xanh nơi đây chỉ còn lại những mảng đồi trọc, trơ trụi đá.
Đề nghị các cơ quan chức năng của huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cần nhanh chóng vào cuộc, có biện pháp ngăn chặn kịp thời, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm để đảm bảo răn đe, phòng ngừa. (Pháp Luật Việt Nam 22/9) đầu trang(
Ngày 22.9, tin từ Hạt Kiểm lâm vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết lực lượng của hạt vừa bị tấn công.
Theo đó, chiều 21.9, sau khi nhận thông tin có một ô tô đang chở gỗ trái phép từ rừng ra xã Hóa Hợp (H.Minh Hóa), tổ kiểm lâm của hạt gồm lực lượng cơ động và Trạm kiểm lâm Hóa Sơn tổ chức truy bắt. Phát hiện xe 16 chỗ chở gỗ mang BS 73B-002.01 (có 3 xe máy theo sau và 4 xe máy từ ngoài vào để hỗ trợ), tổ kiểm lâm yêu cầu tài xế dừng xe để kiểm tra, nhưng nhóm người trên xe không chấp hành mà chống đối, đập cửa xe tổ công tác, dùng đá, tuýp sắt đe dọa buộc phải tránh đường để xe gỗ đi.
Trong lúc đó, anh Dương Quyết Thắng, Tổ phó tổ kiểm lâm cơ động, vào được trong xe 16 chỗ kiểm tra gỗ thì bị một người dùng kiếm và ống tuýp đâm bị thương, đồng thời bị nhóm trên ép xuống xe rồi một người khác cầm lái chiếc 16 chỗ lao vào ô tô của tổ công tác. Cú va chạm khiến xe chở gỗ lao xuống vệ đường, không lên được.
Sau đó, một ô tô khác chở nhiều người nữa lao đến cùng với người dân đang làm đồng, dùng rựa và hung khí bao vây lực lượng kiểm lâm, đấm đá anh Thắng và kiểm lâm Trương Văn Tám để những người khác khuân vác gỗ đi bằng xe máy và đẩy xe 16 chỗ lên đường chạy thoát. Kiểm lâm thu được 4 hộp gỗ gội (nhóm 4) đưa về Trạm kiểm lâm Hóa Sơn tạm giữ. Xác minh ban đầu, lực lượng chức năng xác định nhóm người trên do Đinh Minh Tưởng (ở xã Hóa Sơn) cầm đầu.
Trước đó, chiều 7.9, tại xã Hóa Sơn, Trạm kiểm lâm Hóa Sơn phối hợp với Hạt Kiểm lâm Minh Hóa, Đồn biên phòng Cà Xèng kiểm tra phát hiện xe ô tô 16 chỗ mang BS 43K-2025 do Nguyễn Văn Nguyên (ở Hóa Sơn) điều khiển chở 29 thanh gỗ táu trái phép, nên lập biên bản, tạm giữ tang vật và phương tiện. (Thanh Niên 23/9, Nhân Dân 23/9) đầu trang(
Trong khi hiện tượng rừng nguyên sinh huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) bị lâm tặc “tàn phá” nghiêm trọng và ngang nhiên vận chuyển gỗ lậu qua trạm kiểm soát bảo vệ rừng như chốn không người thì những cán bộ bảo vệ rừng và chính quyền địa phương lại vô trách nhiệm cho rằng: Rừng vẫn ổn định không có hiện tượng lâm tặc chặt phá và vận chuyển gỗ như người dân đã phản ánh.
Theo ghi nhận của PV, khu rừng ở Bản Sắt đã bị lâm tặc tàn phá không thương tiếc. Những cây gỗ hàng trăm năm tuổi bị cưa chặt, các loại gỗ quý bị đốn hạ được xẻ chất thành đống chờ vận chuyển ra khỏi rừng.
Cách khu rừng khoảng 7km có chốt C6 thuộc Lâm trường Trường Sơn canh giữ. Nằm sâu gần bản có một chốt chặn bảo vệ rừng của xã Trường Sơn nhưng có vẻ như việc xây dựng các chốt chặn này chỉ để có lệ, bởi khu rừng Bản Sắt vẫn đang “chảy máu” hàng ngày, hàng giờ.
Để làm rõ vấn đề, PV đã có mặt tại chốt C6, tiếp PV, cán bộ Trần Quang Hùng cho biết: "Chốt trạm ở đây chỉ có hai người, tôi và một đồng chí chốt trưởng là anh Nguyễn Khắc Dũng. Rừng Bản Sắt là của UBND xã quản lý, không thuộc lâm trường".
Khi được PV hỏi về vấn đề kiểm tra rừng tại Bản Sắt và nếu gỗ ra tại đường này đơn vị có ngăn chặn hay không? Cán bộ Hùng trả lời: "Vẫn thường xuyên kiểm tra và ngăn chặn nhưng cũng chưa có hiện tượng chặt phá rừng và vận chuyển gỗ ra tại đây".
Làm việc xong với chốt C6, chúng tôi đi thẳng vào Trạm Kiểm lâm Trường Sơn. Trạm đóng men dòng sông, trạm gồm trạm trưởng Nguyễn Thế Hiệu, trạm phó Lê Đại Cường và 4 cán bộ, một chòi canh và một chiếc đò cơ động. Trên đường bộ có 1 Barie kiểm soát ngăn chặn lâm tặc vận chuyển gỗ đi qua. Riêng ông Hiệu - trạm trưởng về nhà không có mặt.
Trạm đóng nằm nơi “yết hầu”, trọng yếu giữa đường sông và đường bộ. Với địa thế này có thể nói rằng “nội bất xuất, ngoại bất nhập” việc lâm tặc vận chuyển gỗ lậu đi qua đây không thể nào thoát được. Thế nhưng, việc vận chuyển gỗ lậu nơi đây lại diễn ra dễ dàng, thuận tiện như đi hội.
Cũng như cán bộ chốt C6, Kiểm lâm viên Nguyễn Mạnh Cường của Trạm Kiểm lâm Trường Sơn khẳng định: “Ở đây không có chuyện phá rừng đâu, tình hình đường bộ, đường sông không có chuyện vận chuyển gỗ, nói chung là ổn định”.
Làm việc với Phó trạm Lê Đại Cường, ông này từ chối cung cấp thông tin: “Các chú (PV) đến chơi nước nôi thì được còn để trả lời thì phải có ý kiến của lãnh đạo. Vấn đề lâm tặc trên địa bàn thì ổn định, nhân dân không có việc làm nên họ khai thác nhỏ lẻ”.
Với quan điểm cho rằng lâm tặc trên địa bàn diễn ra ổn định, dân chỉ khai thác nhỏ lẻ như các cán bộ kiểm lâm trên thì có lẽ việc xảy ra hiện tượng phá rừng và cán bộ “tiếp tay” cho lâm tặc phá rừng phải chăng cũng diễn ra “ổn định”?
Ông Nguyễn Văn Sỹ, Chủ tịch UBND xã Trường Sơn khẳng định: Phản ánh đó của người dân là không đúng. Hiện nay trên địa bàn này có các cơ quan chức năng như Kiểm Lâm, Bảo vệ rừng, Đồn Biên phòng và UBND xã  và huyện chỉ đạo liên tục. Một tháng huyện có hai lần chỉ đạo về quản lý bảo vệ rừng. Nói chung là không có hiện tượng chặt phá rừng, xã vẫn đang kiểm soát được tình hình.
Như thể thống nhất câu trả lời từ trước cán bộ và kiểm lâm địa phương là ông Phan Mậu Phấn - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh cho biết: Tại địa bàn xã Trường Sơn không có hiện tượng lâm tặc phá rừng, nếu có thì chỉ nhỏ lẻ.
Một điều mà ông Phấn và các cán bộ bảo vệ rừng khác không biết, hay cố tình không biết là tại địa bàn này, đặc biệt tại Trạm Kiểm lâm Trường Sơn do ông Nguyễn Thế Hiệu làm quản lý thì tình hình phá rừng và lâm tặc vận chuyển gỗ “khủng khiếp” ngoài sức tưởng tượng.
Và chỉ đến khi PV đưa ra những bằng chứng hình ảnh ghi lại hoạt động phá rừng nguyên sinh Trường Sơn rồi vận chuyển gỗ "tung tăng" đi qua Trạm kiểm lâm Trường Sơn thì đã phủ nhận tất cả những lời nói của các cán bộ tiếp xúc với PV ở trên.
Phải chăng lực lượng cán bộ bảo vệ rừng ở xã Trường Sơn quả thực không biết vấn nạn phá rừng đang xảy ra? Nếu thật sự không biết thì do năng lực quản lí kém hay, vô trách nhiệm, hay còn vì lí do khác?
Rừng vẫn đang đau đớn “chảy máu” hàng ngày, hàng giờ bởi bàn tay tàn phá của lâm tặc và cũng chính bởi “tinh thần trách nhiệm” của cán bộ, kiểm lâm nơi đây. Đề nghị các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Bình cần sớm vào cuộc xử lý sai phạm để trả lại bình yên cho cánh rừng Trường Sơn. (Trí Thức Và Phát Triển 22/9) đầu trang(
Dưới tác dụng của nham thạch và phải mất từ vài triệu đến hàng chục triệu năm, những khối gỗ hóa thạch mới hình thành. Nó không chỉ được những người sưu tầm dùng làm vật trang trí trong nhà mà còn được thần thánh hóa khi cho rằng là có tác dụng chữa khỏi nhiều loại bệnh tật.
Tại xưởng chế tác gỗ mỹ nghệ của anh Bùi Kim Phi xã Quế Sơn, Quế Phong hiện có một khối hóa thạch gỗ hiếm gặp. Khối gỗ màu trắng xám, đã được chế tác thành hình khối nhưng vẫn lộ ra một số chỗ có hình thú của những thớ cây nhưng đã hóa đá, lấp lánh sáng như thạch anh. Khối hóa thạch gỗ dài 60cm, rộng 40cm, dày 20cm, nặng trên 40kg.
Anh thợ 22 tuổi đến từ làm nghề chế tác gỗ mỹ nghệ Đông Giao (Mỹ Hào – Hưng Yên) cho biết chủ sở hữu của khổi hóa thạch gỗ là người dân sống trên địa bàn. Vị này sưu tầm được khối gỗ hóa thạch từ vùng đất Quỳ Hợp (Nghệ An) vốn nổi tiếng với sản phẩm đá trắng, đá mỹ nghệ.
Theo kinh nghiệm của những người chế tác mỹ nghệ việc gặp những khối gỗ hóa thạch là một cơ may trong đời, bởi nó cực hiếm. “Em chỉ làm thêm một chiếc đôn (giá đỡ) rồi giao cho khách” anh Phi chia sẻ.
Thường thì khi gặp những khối gỗ hóa thạch, những người chơi gỗ quý giữ cho khối gỗ gần với vẻ nguyên bản nhất có thể. Những người sưu tầm nó cũng chọn thợ chế tác có kinh nghiệm để tạo tác. Sau đó, những khối gỗ hóa đá này được gia chủ dùng trang trí phòng khách để cầu may mắn và trường thọ.
Theo những người chơi gỗ hóa thạch thì đó là một sản phẩm kỳ diệu của “mẹ thiên nhiên”. Nó mang lại may mắn và trường thọ cho gia chủ. Ngoài ra mỗi loại đá hóa thạch có màu sắc khác nhau lại có tác dụng chữa một số loại bệnh nhất định.
Dưới góc nhìn của khoa học, gỗ hóa thạch được tạo ra từ hoạt động núi lửa. Nham thạch phun trào từ hàng triệu năm về trước khiến gỗ rừng bị vùi lấp trong dung dịch SIO2, và cũng phải mất từ 4 – 12 triệu năm, những khối gỗ ngâm trong dung dịch silic mới trở thành gỗ hóa thạch. Một số chuyên gia cho rằng áp suất lớn cũng là  yếu tố quan trọng khiến những khối gỗ biến thành đá hóa thạch qua hàng triệu năm ngâm mình trong dung dịch silic.
Tỉnh Lạng Sơn và khu vực Tây Nguyên là những nơi từng ghi nhận sự xuất hiện của những khối gỗ hóa thạch ở Việt Nam. Hóa thạch gỗ cũng được tìm thấy nhiều ở các hầm lò khai thác than, đường kính lớn nhất có thể đến 1,2m. Những người tìm thấy gỗ hóa đá coi đó là một cơ may và thường ít khi bán đi. Một khối đá hóa thạch nhỏ có giá trị khoảng 3 triệu đồng. Tuy nhiên những người sưu tầm gỗ hóa thạch có thể chi hàng chục triệu để sở hữu một khối gỗ hóa đá đẹp. Hiện tượng hóa thạch gỗ xuất hiện ở miền núi Nghệ An cũng được cho là điều hiếm thấy.
Dẫu vậy thì dưới góc nhìn của các chuyên gia địa chất thì đá hóa thạch không có những công năng chữa bệnh như lời đồn thổi. Thành phần chủ yếu của nó là silic nên rất khó để biến nó làm một phương thuốc. Tuy nhiên các nhà địa chất học cũng cho rằng, gỗ hóa đá là một thứ hiếm gặp, xứng đáng được xem như quà tặng vô giá từ mẹ thiên nhiên. (Báo Nghệ An 22/9) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều người dân tỏ ra bất ngờ khi chứng kiến một số ao, hồ nơi họ đang sinh sống có dấu hiệu hồi sinh mạnh mẽ. Thành quả này có được chính là nhờ vào việc UBND TP. Hà Nội đã đặt hàng một doanh nghiệp nước ngoài sản xuất các chế phẩm xử lý tình trạng ô nhiễm nước ao, hồ trên địa bàn.
Hồ Ba Mẫu (quận Đống Đa) lâu nay là một trong những hồ ô nhiễm trầm trọng nhất ở Hà Nội. Vì thế, trong suốt nhiều năm Thành phố đã đầu tư không ít tiền của và công sức nhằm cải tạo hồ, nhưng dường như không đem lại hiệu quả.
Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều người dân bất ngờ khi thấy hồ không còn bốc mùi hôi thối như trước, nước hồ đã dần trong trở lại. Những ngôi nhà xung quanh hồ cũng không còn cảnh phải đóng chặt cửa mỗi khi cá chết nổi kín hồ.
Tại hồ Hố Mẻ (cạnh Bệnh viện Đại học Y Hà Nội) vào các buổi chiều và sáng sớm, nhiều người nhà đang chăm sóc người thân tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội và một số người dân sinh sống gần đây cùng nhau thư giãn bằng cách ra hồ ngồi uống nước hay đi thể dục cho thư thái. Ít ai biết rằng, đây từng là một hồ ô nhiễm nghiêm trọng, nước bốc mùi hôi thối nồng nặc.
Người dân sinh sống gần đây mặc dù không có chỗ vui chơi, nhưng cũng không buồn ra hồ này để hóng gió hay tập thể dục vì quá ô nhiễm. Ít ai biết rằng, để giảm thiểu ô nhiễm một cách nhanh chóng tại các hồ này, Công ty Thoát nước Hà Nội đã dùng công nghệ Redoxy-3C để xử lý nước hồ. Sau khi xử lý, chỉ trong một thời gian rất ngắn, nước hồ đã trong, không còn hiện tượng cá chết, bốc mùi hôi thối như trước đây.
Theo đánh giá của Công ty Thoát nước Hà Nội, trước khi xử lý nước hồ bằng chế phẩm Redoxy-3C, hầu như các hồ đều bị ô nhiễm chất hữu cơ và đang trong tình trạng phì dưỡng, mùi tanh và thối, nước màu xanh đậm. Nồng độ COD, BODs cao hơn tiêu chuẩn cho phép đối với nước mặt.
Tuy nhiên, sau khi xử lý thì nước hồ đã trong, không có mùi, sinh vật thủy sinh phát triển bình thường. Sau khi phun rải 2 giờ, các lớp tảo tầng trên xuất hiện các biểu hiện chết hàng loạt và nổi trên mặt nước tạo váng màu nâu xanh.
Đến nay, sau 10 ngày xử lý hồ Giáp Bát, mặt hồ không còn hiện trạng váng tảo nổi, nước hồ trong, hệ thủy sinh trên hồ phát triển bình thường, người dân đánh giá rất tốt. Hồ Hố Mẻ vẫn còn váng tảo nổi trên mặt, nhưng nước hồ đã trong hơn nhiều.
Sau khi các hồ đã trong hơn thì khâu duy trì hồ sau xử lý cũng rất quan trọng. Theo đó, cần vệ sinh vớt rác trên hồ và xung quanh hồ, bổ sung chế phẩm theo định kỳ. Bổ sung thêm bè thuỷ sinh và lắp đặt các máy sục khí (đối với các hồ có đủ điều kiện về nguồn điện và bảo vệ) trên các hồ để tạo cảnh quan, góp phần xử lý nước hồ, tạo hệ sinh thái trên hồ hoàn chỉnh làm tăng khả năng tự làm sạch của hồ; quản lý toàn diện các hồ để tránh chồng chéo trong công tác quản lý hồ và đảm bảo hiệu quả trong công tác xử lý, duy trì chất lượng nước.
Đồng thời, tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường hồ nói riêng để hạn chế việc vứt rác, xả rác, phê thải xuống hồ.
Hy vọng với công nghệ mới, những “lá phổi xanh” của Thủ đô sẽ nhanh chóng hồi sinh, người dân sẽ được sống trong môi trường xanh, sạch, đẹp. (Lao Động Thủ Đô 23/9) đầu trang(
Ngày 22/9, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho biết, vừa có văn bản cho phép lập chốt kiểm soát người lên xuống bán đảo Sơn Trà.
Việc làm này nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm, hủy hoại rừng và loài động vật quý hiếm là voọc chà vá chân nâu.
Trước đó, các lực lượng chức năng đã nhiều lần cảnh báo thực trạng để người dân, người ngoại tỉnh vào Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà dựng lán trại rồi săn bắt động vật hoang dã quý hiếm. Có trường hợp hơn 20 ngày mới bị phát hiện.
Đơn cử, vào tháng 3/2015, Nguyễn Văn Lý, Vi Văn Sơn, Vi Văn Hoàng và một số đối tượng khác (cùng quê tỉnh Nghệ An) mang theo dao, đầu khò và bẫy vào tiểu khu 64 của Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà săn bắt 2 con voọc chà vá chân nâu, 1 con chồn, 1 con hoẵng (mang), 1 con sóc...
Theo đó, để xảy ra tình trạng như trên có nguyên nhân do công tác tuần tra, kiểm soát, quản lý, bảo vệ rừng cũng như công tác phối hợp với UBND phường Thọ Quang trong tuần tra, giám sát của Hạt kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn và kiểm lâm viên phụ trách địa bàn chưa được thường xuyên, chặt chẽ; công tác phối hợp giữa Hạt kiểm lâm liên quận Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn với các cấp, các ngành và các các cơ quan có thẩm quyển trong việc kiểm tra, nắm và quản lý người dân ngoại tỉnh đến làm ăn, sinh sống tại địa bàn quận Sơn Trà có mối quan hệ với các quán ăn, nhà hàng kinh doanh động vật còn lỏng lẻo...
Mới đây, ông Cao Xuân Thắng, Bí thư Quận ủy Sơn Trà bày tỏ lo ngại việc người dân, du khách lên bán đảo Sơn Trà rất tự do, muốn đi đâu thì đi. Trong đó, họ đi píc-níc từng nhóm, đi vào rừng sâu nhóm lửa, nấu ăn, xả rác gây ô nhiễm môi trường và dễ gây ra cháy rừng.
Song song mối lo từ du khách thì các đối tượng săn bắt động vật hoang dã cũng tự do đi xe lên rừng, giấu phương tiện trong bụi rậm rồi rúc vô rừng làm gì thì không ai kiểm soát được. Từ thực tế đó, ông Thắng đề nghị thành phố cần có phương pháp quản lý bán đảo Sơn Trà theo hướng chỉ cho du khách đi với điều kiện có tổ chức và chỉ cho phép tham quan ở những khu vực nhất định.
Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho biết, cùng với việc cho phép lập chốt kiểm soát người lên xuống bán đảo Sơn Trà, Chủ tịch UBND thành phố Huỳnh Đức Thơ còn giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố, Sở Xây dựng, Sở Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND quận Sơn Trà khẩn trương xây dựng quy chế phối hợp, phân công trách nhiệm cụ thể giữa các cơ quan có liên quan trong việc quản lý khu vực bán đảo Sơn Trà. Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu các đơn vị khẩn trương hoàn thành các công việc này, báo cáo UBND thành phố xem xét, quyết định trong tháng 9/2016. (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 23/9) đầu trang(
Đó là mô hình tiết học ngoài nhà trường do Sở GD&ĐT TP.HCM phối hợp với Trung tâm Giáo dục vườn thú (Thảo Cầm viên) vừa xây dựng để triển khai cho môn sinh vật ở cấp THCS và THPT.
Các tiết học về thế giới sinh vật từ lớp 6 đến lớp 12 sẽ được tổ chức tại Thảo Cầm viên nhằm tăng cường kỹ năng thực hành, thực nghiệm đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn sự đa dạng sinh học cho học sinh (HS).
Cụ thể, sẽ có 18 chủ đề ở môn sinh học từ lớp 6 đến 12 được thực hiện thí điểm trong năm học này ở các trường và tiếp tục trong những năm học sau. HS lớp 6 sẽ được học về rễ, nền móng của thực vật, thân cây, lá cây, đa dạng thực vật, sinh sản thực vật. HS lớp 7 học về khám phá thế giới động vật không xương sống, đa dạng sinh học các lớp Cá, Lưỡng cư, Bò sát, vẻ đẹp của các loài chim, tìm hiểu về các loài thú, khám phá thế giới động vật có xương sống...
Theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT, các trường THCS, THPT rà soát nội dung dạy học trong chương trình hiện hành, cấu trúc lại nội dung... Các trường sẽ xây dựng chủ đề phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường và khả năng của HS để ghép vào kế hoạch giáo dục cụ thể trong năm học này. Giáo viên có thể vận dụng các hình thức đánh giá HS trong các hoạt động ngoài nhà trường này để thay cho các bài kiểm tra. (Pháp Luật TP.HCM 23/9) đầu trang(
Nhằm tiếp tục thúc đẩy và khuyến khích cộng đồng thể hiện thái độ không khoan nhượng với việc buôn bán và tiêu thụ động, thực vật hoang dã, trong Ngày Tê giác thế giới 22/9, Ban Tổ chức chiến dịch Giảm thiểu nhu cầu sử dụng sừng tê giác tại Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức chuơng trình nghệ thuật mang tên "Nghệ thuật thể hiện đẳng cấp".
Chương trình diễn ra trong 3 ngày, từ 22-24/9, với mong muốn thay đổi hành vi thể hiện đẳng cấp của cộng đồng doanh nghiệp và công chúng với thông điệp: Hãy ngừng sử dụng sừng tê giác, hãy thể hiện đẳng cấp thông qua nghệ thuật.
Hoạt động chính của chương trình là triển lãm nghệ thuật mỹ thuật đương đại Việt Nam với tên gọi “Trọng lực” trưng bày các tác phẩm của các hoạ sĩ đương đại hàng đầu Việt Nam… Các tác phẩm được trưng bày sẽ được bán đấu giá trong suốt thời gian diễn ra triển lãm.
Theo Ban Tổ chức, chương trình "Nghệ thuật thể hiện đẳng cấp" hy vọng sẽ tiếp sức cho những nỗ lực thay đổi hành vi tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã, từ đó giảm thiểu nhu cầu sử dụng động, thực vật hoang dã tại Việt Nam.
Thông qua chương trình, Ban Tổ chức mong muốn nhận được sự hỗ trợ, đồng hành và cam kết từ cộng đồng doanh nghiệp nói chung và từ những doanh nhân có tầm ảnh hưởng lớn trong cuộc chiến đấu chống lại tội phạm về động, thực vật hoang dã và thói quen sử dụng động, thực vật hoang dã để thể hiện đẳng cấp. Mỗi doanh nhân, thay vì sử dụng sừng tê giác, hãy thưởng thức nghệ thuật để thể hiện bản lĩnh cá nhân và đẳng cấp lãnh đạo của mình.
Ông Nguyễn Xuân Phú, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP. Hà Nội, Chủ tịch Tập đoàn Sunhouse, Đại sứ doanh nhân của chiến dịch, cho biết, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật hoang dã không phải là nhiệm vụ của một cá nhân nào, mà là trách nhiệm của toàn cộng đồng.
“Đây là việc làm không chỉ là giúp doanh nghiệp Việt Nam tránh các rủi ro kinh doanh, mà còn là cơ hội tạo vị thế cạnh tranh và thực chất về lâu dài là sự phát triển bền vững của họ”,  ông Phú chia sẻ.
Các nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng, do Mạng lưới Giám sát buôn bán động, thực vật hoang dã (TRAFFIC) và Tổ chức Truyền thông thay đổi hành vi Intelligentmedia thực hiện, đã chỉ ra nhu cầu sử dụng động, thực vật hoang dã nhằm thể hiện đẳng cấp. Tuy nhiên, hành vi sử dụng động, thực vật hoang dã là vi phạm pháp luật. Nhu cầu tiêu thụ động, thực vật hoang dã tại Việt Nam nói riêng và châu Á nói chung đã và đang góp phần làm gia tăng số lượng các cuộc săn bắt trái phép ở châu Phi. (Chính Phủ 23/9) đầu trang(
Trước thềm hội nghị các quốc gia thành viên Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) - (gọi tắt là COP 17) sẽ diễn ra từ 24/9- 5/10 tại Johannesburg, Nam Phi, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) kêu gọi các quốc gia thành viên CITES bỏ phiếu “Không đồng thuận” với đề xuất của Swaziland về hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác.
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên cũng phản đối hoạt động gây nuôi hổ và đề nghị các đại biểu bỏ phiếu tăng cường các biện pháp bảo vệ tê tê.
Bà Vũ Thị Quyên, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên cho rằng chưa bao giờ cả thế giới lại dõi theo hoạt động này như bây giờ. Trung tâm rất hy vọng những quyết định đúng đắn sẽ được đưa ra tại Hội nghị lần này để đảm bảo sự sinh tồn của các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm đang đối mặt với nhiều mối đe dọa nghiêm trọng từ nạn săn bắn và buôn bán.
Được biết, trong khi các loài tê giác trên thế giới phải đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng do nạn săn bắn tại châu Phi thì Vương quốc Swaziland lại đệ trình lên COP 17 một dự thảo cho phép hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác quốc tế. Quốc gia này không chỉ đề nghị được bán lượng sừng tê giác đang lưu giữa tại các kho mà còn muốn tiếp tục cắt sừng các cá thể tê giác còn sống để cung cấp cho thị trường.
Theo Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, ý tưởng bán sừng tê giác rồi sử dụng khoản tiền đó cho các hoạt động ngăn chặn nạn săn trộm tê giác là hoàn toàn sai lầm. Nếu sừng tê giác hợp pháp và bất hợp pháp cùng song song tồn tại thì sẽ ảnh hưởng lớn đến những nỗ lực thực thi pháp luật quốc tế, đặc biệt là tại các quốc gia đang phát triển.
Việc khó phân biệt sừng tê giác hợp pháp và bất hợp pháp cũng gây ra nhiều khó khăn cho cán bộ thực thi pháp luật khi điều tra, phát hiện và xử lý các vi phạm liên quan đến sừng tê giác. Thêm vào đó, những nỗ lực và bước tiến giảm thiểu tiêu thụ sừng tê giác tại các quốc gia như Việt Nam và Trung Quốc đã đạt được trong suốt những năm qua sẽ trở nên vô nghĩa nếu COP 17 cho phép hợp pháp hóa buôn bán sừng tê giác quốc tế.
Trong khuôn khổ COP 17, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên cũng khuyến khích các quốc gia thành viên CITES có biện pháp chấm dứt các hoạt động gây, nuôi hổ vì mục đích thương mại, bởi các hoạt động này không có giá trị bảo tồn mà còn đe dọa đến các quần thể hổ còn lại trên thế giới.
Tình trạng gây, nuôi hổ đã gia tăng đến mức báo động tại Việt Nam và một số quốc gia khác trong khu vực. Tại Việt Nam, số lượng hổ được gây nuôi đã tăng từ 5 cơ sở tư nhân với 55 con năm 2007 đến 14 cơ sở với 189 con vào tháng 7/2016.
Việc gây nuôi hổ tràn lan, không kiểm soát tại các trang trại đã dẫn tới sự gia tăng bất ổn của số lượng hổ nuôi nhốt trong các trang trại tư nhân bất chấp đây là loài được bảo vệ nghiêm ngặt và việc buôn bán hổ hoàn toàn bị cấm.
Báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã khẳng định hổ nuôi nhốt không hề có giá trị bảo tồn.
Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên ủng hộ đề xuất nâng mức bảo vệ cho tất cả các loài tê tê từ Phụ lục II lên Phụ lục I của CITES. Ở Việt Nam, việc thay đổi tình trạng bảo vệ, đặt cả 8 loài tê tê lên ngang mức bảo vệ với hổ, cùng với Bộ Luật Hình sự mới sớm có hiệu lực sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan chức năng trong việc áp dụng các khung hình phạt liên quan tới tê tê. (Vietnam + 22/9) đầu trang(
Ngày 22/9, TAND TP.HCM xét xử phúc thẩm theo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Phan Huỳnh Anh Khoa (sinh 1993, ngụ tại TP.HCM).
Vụ án này như Tiền Phong đã đưa tin, vào chiều ngày 21/6, TAND quận Tân Bình đã xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Khoa 5 năm tù về tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ”.
Sau bản án sơ thẩm, Khoa kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm 22/9, Tòa đã bác kháng cáo, tuyên y án sơ thẩm. Đáng lưu ý là HĐXX đã quyết định bắt bị cáo Khoa ngay tại tòa nhằm đảm bảo thi hành án (bị cáo Khoa đang tại ngoại). Theo cáo trạng, Khoa thuê mặt bằng ở đường Trần Thánh Tông (quận Tân Bình) để mua bán động vật.
Sáng 3/12/2015, một người không rõ lai lịch liên lạc với Khoa bằng điện thoại. Người này hỏi mua 9 cá thể rái cá với giá 3,5 triệu đồng/con, 1 cá thể Vọoc chà vá chân đen giá 6 triệu đồng. Đến chiều cùng ngày, Khoa mang hàng đến điểm hẹn thì bị công an phát hiện, bắt quả tang.
Khoa khai nhận mình rao thông tin mua, bán động vật hoang dã trên Facebook từ tháng 7/2015. Sau khi bị bắt, bị cáo tự nguyện giao nộp 10 cá thể động vật. (Tiền Phong 22/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Hà Nội hôm nay chuyển giao con gấu ngựa nuôi nhốt trái phép ở huyện Phúc Thọ cho trung tâm cứu hộ.
Cá thể gấu ngựa không gắn chip này được kiểm lâm phát hiện tại trang trại Cảnh An của ông Cấn Tiến Cảnh. Khi chuyển giao cho Trung tâm cứu hộ, sức khỏe gấu khá ổn, chỉ bị thương một chút ở mặt do thường xuyên cọ vào song sắt.
Trước đó từ ngày 8 đến 16/9, Chi cục Kiểm lâm Hà Nội và Tổ chức Bảo vệ động vật thế giới (WAP) thực hiện đợt rà soát lớn đầu tiên, nhằm kiểm soát số lượng gấu đã gắn chip và phát hiện cá thể bất hợp pháp.
Bà Nguyễn Thị Dung, Phó giám đốc Trung tâm giáo dục thiên nhiên (ENV) cho biết, hiện còn khoảng 1.200 con gấu bị nuôi nhốt tại các trang trại Việt Nam. Số lượng này từng lên tới hơn 4.300 năm 2005. "Tôi tin rằng, Việt Nam sẽ tiến gần hơn đến việc chấm dứt hoàn toàn hoạt động nuôi nhốt gấu như đúng cam kết nếu có hành động kiên quyết như Hà Nội", bà Dung nói.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2014, cả nước có 430 cơ sở nuôi nhốt gấu, với tổng số 1.245 cá thể. (VnExpress 22/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch là rừng sản xuất sẽ được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước...
Hỗ trợ 8 triệu đồng/ha trồng cây sản xuất gỗ lớn:
Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 119/2016/NĐ-CP, quy định về một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững ven biển ứng phó với biển đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg, ngày 14/9/2016 ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ thầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các Cty nông, lâm nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/11/2016.
Có thể nói đây là những chính sách hết sức thiết thực nhằm tăng cường hỗ trợ, đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020 trồng được 900.000ha rừng sản xuất, 75.000ha rừng phòng hộ, đặc dụng, khoanh nuôi tái sinh rừng đạt 360.000ha.
Hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán và khuyến lâm:
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng trên đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch là rừng sản xuất được hỗ trợ vốn từ ngân sách nhà nước, mức hỗ trợ cụ thể như sau:
Trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuổi), cây đa mục đích, cây bản địa, mức hỗ trợ 8 triệu đồng/ha; trồng các loài cây sản xuất gỗ nhỏ (khai thác trước 10 năm tuổi) và cây phân tán (quy đổi 1.000 cây/ha), mức hỗ trợ 5 triệu đồng/ha.
Trồng rừng sản xuất tại các xã biên giới, các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên và các tỉnh vùng Tây Nguyên được hỗ trợ thêm 2 triệu đồng/ha ngoài mức hỗ trợ quy định trên.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng trồng rừng khảo nghiệm (giống mới, trên vùng đất mới) theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ vốn bằng 60% giá thành trồng rừng được duyệt. Mỗi mô hình trồng rừng khảo nghiệm được hỗ trợ không quá 2ha.
Hỗ trợ chi phí cho công tác khuyến lâm: 500.000 đồng/ha/4 năm (1 năm trồng và 3 năm chăm sóc).
Hỗ trợ một lần chi phí khảo sát, thiết kế, ký kết hợp đồng trồng rừng: 300.000 đồng/ha.
Hỗ trợ một lần cấp chứng chỉ rừng bền vững cho các doanh nghiệp, cộng đồng, nhóm hộ, hộ gia đình: 70% chi phí, tối đa không quá 300.000 đồng/ha quy mô tối thiểu 100 ha trở lên (cho rừng tự nhiên, rừng trồng).
Hình thức hỗ trợ: Hỗ trợ sau đầu tư và hỗ trợ đầu tư.
Điều kiện nhận hỗ trợ là: Chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng phải có đất quy hoạch trồng rừng sản xuất được cấp có thẩm quyền giao hoặc được thuê và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã sử dụng đất ổn định trong vòng 3 năm trở lên không có tranh chấp.
Đối với DN nhà nước và các tổ chức khác, đất trồng rừng sản xuất phải được giao khoán cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng ổn định lâu dài (tối thiểu một chu kỳ); nguồn giống trồng rừng (hạt giống, trái giống hoặc cây giống) phải có xuất xứ từ cơ sở sản xuất giống đã được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng nhận về nguồn giống theo quy định. (Còn nữa) (Nông Nghiệp Việt Nam 23/9) đầu trang(
Bí thư Thành ủy Đà Nẵng cho biết có người phản ánh Đà Nẵng đến 99% là đẹp, còn 1% là chưa đẹp đó là do có quá ít hoa, ít cây xanh. Do đó, ông bày tỏ mong muốn sẽ thấy rừng trong thành phố Đà Nẵng như ở các thành phố lớn trên thế giới.
Tại buổi làm việc với lãnh đạo Sở Xây dựng, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh cho biết, nhiệm vụ của Sở Xây dựng Đà Nẵng trong thời gian tới là quy hoạch tổng thể phía tây thành phố, quy hoạch quảng trường trung tâm thành phố, quy hoạch cảnh quan 2 bên bờ sông Hàn…
Bí thư cũng cho biết một người quen của ông đến Đà Nẵng du lịch vừa phản ánh: Đà Nẵng đến 99% là đẹp, còn 1 % là chưa đẹp đó là do có quá ít hoa, ít cây xanh.
Ông Xuân Anh đề nghị Sở Xây dựng tập trung vào vấn đề này, đồng thời nêu dẫn chứng việc nhiều thành phố nổi tiếng có cây xanh, hoa rất tươi đẹp như rừng trong thành phố. Ví như ở Singapore, thành phố này trồng hoa giấy từ sân bay về trung tâm thành phố rất đẹp.
Về trồng hoa, Bí thư yêu cầu trước mắt thí điểm trồng hoa giấy dọc tuyến đường Nguyễn Văn Linh do đây là loại hoa dễ trồng, rực rỡ, rẻ và phù hợp với khí hậu thổ nhưỡng của Đà Nẵng.
Về mong muốn trồng rừng trong thành phố, ông Xuân Anh cho rằng Sở Xây dựng có thể cử một đoàn sang Trung Quốc học tập, trồng hoa thì đến Côn Minh – Thủ phủ tỉnh Vân Nam, trồng cây thì anh đi Nam Ninh học hỏi.
“Mình đang vội nên cứ copy ý tưởng người ta về cũng được. Họ sáng tạo rồi mình sáng tạo chi nữa”..
“Tôi “đặt hàng” luôn cho Sở Xây dựng là từ nay đến APEC 2017 phải chọn cho được 10 tuyến đường để trồng hoa giấy thật đẹp. Đồng thời, nghiên cứu các cây cầu cần thiết phải xanh hóa bằng các cây dây leo để che bớt các khối bê tông khô khan nặng nề trên cầu”, Bí thư Anh yêu cầu.
Hiện nay, thẩm mỹ của người dân, du khách ngày càng cao nên ngày phải làm cho thành phố ngày càng đẹp hơn. Bí thư yêu cầu việc trồng cây, trồng hoa là nhiệm vụ trọng tâm của Sở, Sở phải chuẩn bị kỹ để báo cáo chuyên đề về trồng hoa trên các tuyến phố cho Thường trực Thành ủy.
Đối với lĩnh vực quy hoạch kiến trúc, yêu cầu việc quy hoạch phải ưu tiên bố trí đất cho các khu chức năng, công viên, vườn dạo, cây xanh, các khu vực công cộng. Đối với trường học thì thành phố không tiếc đất. Trong điều kiện có thể, phải bố trí thỏa đáng cho trường học để học sinh có chỗ chơi. “Một số trường bây giờ diện tích quá bé, không thể mở rộng trong khi thể thao học đường vô cùng quan trọng", Bí thư Anh nói.
Bí thư Anh yêu cầu Sở Xây dựng khi lập quy hoạch phải lấy ý kiến của các Sở, ngành có liên quan để có tính đồng bộ, thống nhất, hạn chế thiếu sót bất cập trong triển khai và hạn chế điều chỉnh, thay đổi quy hoạch nhiều lần.
Đặc biệt, không chạy theo đòi hỏi của doanh nghiệp. Không thể tạo điều kiện quá mức cho doanh nghiệp, vì lợi ích của doanh nghiệp mà làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân, đến lợi ích của thành phố. (Trí Thức Trẻ/ Cafebiz 22/9) đầu trang(
Đi giữa đồi keo tai tượng mới trồng của bản Co Sản (xã Mường Lạn, huyện Mường Ảng) anh Lò Văn Hươi, bản Co Sản, chia sẻ: Với quỹ đất đồi hơn 3.000m2 của gia đình, trước đây nhà tôi trồng lúa, ngô... nhưng đất bạc màu không trồng được cây gì nữa đành để không.
Thời gian gần đây, theo chủ trương của xã trồng cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tôi đã trồng hơn 1.000 cây keo tai tượng, được hướng dẫn về kỹ thuật chăm sóc của cán bộ khuyến nông xã, cây sinh trưởng và phát triển tốt.
Không riêng gì gia đình anh Lò Văn Hươi, gần 70 hộ dân bản Co Sản cũng mở rộng diện tích trồng rừng với 37ha. Điều bất ngờ đối với chúng tôi là những cánh rừng keo tai tượng lại bén duyên với “vùng đất khó”, phát triển rất nhanh, chỉ mấy tháng đã xanh tốt, đem lại tia hy vọng đổi đời cho người dân nơi đây.
Trưởng bản Co Sản - Lò Văn Mưu, cho biết: Trước đây, đất đồi được người dân trồng ngô, lúa... nhưng sau nhiều năm đã dần hoang hóa, bạc màu, cho thu hoạch thấp, không đảm bảo cung cấp lương thực cho người dân nên nhiều hộ đã bỏ đất hoang. Ngay sau khi có chủ trương trồng rừng của huyện, xã và sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khuyến nông, người dân đã phát dọn thực bì, đào hố trồng cây với mật độ 3.125 cây/ha, làm cỏ, bón phân, vun gốc một lần... rào xung quanh không cho trâu, bò phá hoại.
Đặc biệt, người dân đã được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, hỗ trợ 10 triệu đồng/ha, kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng hiện đại... Hy vọng rằng, nếu cây phát triển tốt, thu nhập từ rừng sẽ giúp mình và nhiều người thoát khỏi cái nghèo, cái đói.
Với phương châm không để “đất nghỉ”, tạo không khí sôi nổi, thi đua sản xuất, chăm sóc bảo vệ và thu lợi từ trồng rừng; ông Lò Văn Sớn, Chủ tịch UBND xã Mường Lạn, cho biết: Hiện nay, xã đang quản lý bảo vệ và sử dụng hiệu quả bền vững 1.015ha rừng và đất rừng hiện có (rừng phòng hộ: 465,35ha; rừng sản xuất: 486,6ha).
Xác định trồng và phát triển rừng không chỉ hình thành được “hàng rào xanh” an toàn bảo vệ môi trường mà còn là biện pháp giúp người dân xoá đói giảm nghèo bền vững, xã đã tổ chức cho bà con trồng rừng tập trung tại bản Co Sản và Huổi Lỵ với tổng diện tích 51,6ha.
Xã phấn đấu đến năm 2020, nâng tỷ lệ che phủ rừng đạt 34,85% góp phần chống xói mòn, điều hoà nguồn nước, cải tạo môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai; giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hơn 100 lao động, lồng ghép phát triển rừng gắn với thúc đẩy kinh tế - xã hội...
Để làm được điều đó, trước nhất lãnh đạo, chính quyền xã cần nâng cao vai trò quản lý Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường công tác phối hợp giữa kiểm lâm địa bàn với các ban ngành, chủ rừng. Đẩy mạnh việc phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm, làm cháy rừng, xử lý nghiêm những trường hợp khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép...
Tổ chức quản lý khai thác sử dụng hiệu quả tiềm năng rừng và đất rừng, đặc biệt là rừng sản xuất với mục tiêu tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Với những nỗ lực của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng sự chung tay góp sức của nhân dân trong việc trồng và phát triển rừng, tin tưởng rằng sẽ là động lực để người dân vươn lên xóa đói giảm nghèo... Từ đó, góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới, thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở xã vùng cao, nơi còn nhiều gian khó... (Báo Điện Biên Phủ 21/9) đầu trang(
Huyện Quế Phong đang phấn đấu trồng mới 5500ha rừng, trong đó có 2000 cây cao su. Đây là việc làm nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, đồng thời giúp người dân nâng cao thu nhập, giảm ngèo bền vững.
Đến nay, Quế Phong đã giao trên 28.500ha rừng cho 3870 hộ, nhờ vậy người dân đã tích cực tham gia trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc và xuất hiện nhiều mô hình phát triển kinh tế gắn với công tác bảo vệ rừng.
Qua 5 năm thực hiện đã trồng mới được trên 4.700 ha. Trong đó, trồng rừng sản xuất gần 3.800 ha, nhân dân đầu tư trồng trên 1200ha, thông qua các dự án gần 2100ha còn lại là diện tích cây cao su. Đến nay, diện tích cây trồng phát triển tốt đạt 97,8%. Bên cạnh đó, huyện cũng đã cho khảo sát đánh giá lại một số loại cây trồng bản địa có giá trị kinh tế cao để bảo tồn, nhân rộng và đưa các loại cây mới có giá trị như Sao đen, xà cừ, Muồng đen, Lát hoa vào trồng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nghệ An 22/9) đầu trang(
Ngày 22/9, Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức buổi nghiệm thu đề tài khoa học “Tuyển chọn một số loài cây Thông Caribe, Bạch tùng và Thông năm lá bổ sung vào tập đoàn cây trồng rừng kinh tế tại Lâm Đồng” do Viện Khoa học Lâm Nghiệp Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chủ trì nghiên cứu.
Theo cơ quan chủ trì nghiên cứu, trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng kinh tế đang nhận được sự quan tâm của nhiều tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước. Tuy nhiên, để tạo ra những vùng rừng nguyên liệu có năng suất cao, đa dạng về chủng loại và đảm bảo tính bền vững vẫn đang là thách thức đối với công tác nghiên cứu khoa học và quản lý lâm nghiệp.
Bên cạnh đó, tập đoàn cây phục vụ trồng rừng kinh tế trên địa bàn tỉnh nhìn chung còn nghèo nàn, chưa đa dạng, chỉ tập trung vào một số loài cây chủ yếu như các loài Keo, Thông ba lá và một số ít các loài khác.
Vì vậy, việc nghiên cứu trồng thử nghiệm một số loài cây nhập nội cho năng suất cao, cũng như các loài cây bản địa quý hiếm như Thông Caribe, Bạch tùng và Thông năm lá có thể giúp cho các đơn vị sản xuất chủ động trong việc chọn lựa loại cây trồng nguyên liệu phù hợp; đồng thời, góp phần bảo tồn và phát triển các loài cây quý hiếm.  (Báo Lâm Đồng 22/9) đầu trang(
Ban Thường vụ Tỉnh ủy vừa có Thông báo kết luận về việc thực hiện phương án giao khoán đất rừng sản xuất cho các hộ liên quan đến đất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT (trước đây là Lâm trường Xuyên Mộc) quản lý.
Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đồng ý với phương án giao đất rừng sản xuất cho các hộ dân theo đề xuất của UBND tỉnh tại Công văn số 6003/UBND-VP ngày 2-8-2016. Cụ thể: “Năm 2016, chỉ giao khoán cho các hộ không có đất nhưng phải đảm bảo đủ các điều kiện: có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có lao động chính, có hoàn cảnh thật sự khó khăn và hộ dân phải trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại địa phương, với diện tích 1ha/hộ”.
Được biết, trước đó, đồng chí Nguyễn Hồng Lĩnh, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã chủ trì cuộc họp Ban Thường vụ Tỉnh ủy để nghe UBND tỉnh và các Sở, ngành liên quan báo cáo đề xuất phương án giao khoán đất rừng sản xuất cho các hộ dân.
Để thực hiện phương án nêu trên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy giao UBND tỉnh chỉ đạo Sở NN-PTNT, UBND huyện Xuyên Mộc, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức việc giao khoán đất rừng theo đúng phương án đã được thống nhất, bảo đảm đúng đối tượng, công bằng, khách quan, hợp lý; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng giao khoán, kiên quyết thu hồi, hủy hợp đồng đối với những trường hợp vi phạm; Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổng hợp nội dung vụ việc và phương án, quan điểm giải quyết của tỉnh đối với việc giao khoán đất rừng sản xuất cho các hộ dân liên quan đến đất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT quản lý, báo cáo Thanh tra Chính phủ biết, tạo sự đồng thuận với tỉnh trong việc giải quyết vụ việc nêu trên.
Trước đó, một số hộ dân ở huyện Xuyên Mộc có đơn khiếu nại đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cho các hộ được nhận khoán đất rừng sản xuất thuộc quyền quản lý của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT.
Tuy nhiên, theo kết luận của Thanh tra Nhà nước tại công văn số 903/TTNN-XKT ngày 18-10-2001 về “Báo cáo giải quyết một số vụ khiếu nại của công dân trên địa bàn huyện Xuyên Mộc”, Thanh tra Nhà nước đã khẳng định: “Về mặt pháp lý, diện tích rừng và đất rừng sản xuất tại huyện Xuyên Mộc đã được cấp thẩm quyền giao cho Lâm trường Xuyên Mộc (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT) quản lý liên tục từ năm 1978 đến nay, việc các hộ tự bao chiếm, xâm canh là không có cơ sở giải quyết theo quy định.
Do đó, không cần thiết phải giải quyết giao khoán đất rừng sản xuất cho các hộ dân để trồng rừng theo yêu cầu của các hộ dân”. Theo đó, Thanh tra Nhà nước đề nghị tỉnh giao toàn bộ diện tích đất thu hồi cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp BR-VT trực tiếp sản xuất theo phương án sắp xếp, đổi mới Công ty này đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua tại văn bản 329/TTG/ĐMDN ngày 2-3-2016.
Tuy nhiên, xét về mặt an sinh xã hội, nhằm giúp người dân có đất sản xuất bảo đảm ổn định cuộc sống, đồng thời căn cứ theo Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 8-11-2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông - lâm trường quốc doanh; Thông tư số 102/2006/TT-BNN ngày 13-11-2006 của Bộ NN-PTNT hướng dẫn một số điều của Nghị định 135/2005/NĐ-CP, Thường vụ Tỉnh ủy BR-VT cho phép UBND tỉnh thực hiện việc giao khoán đất rừng sản xuất cho các hộ dân như đã nêu trên. Việc giao đất nhằm tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, phòng hộ môi trường và bảo đảm an ninh, quốc phòng trên địa bàn.
Ông Đặng Thanh Minh, Chủ tịch UBND huyện Xuyên Mộc cho biết, huyện Xuyên Mộc sẽ sớm phối hợp với Sở NN-PTNT và các đơn vị liên quan tiến hành rà soát, thống kê, lập danh sách các hộ dân đủ điều kiện giao khoán đất rừng theo phương án đã thống nhất, nhằm bảo đảm việc giao khoán được hiệu quả, an toàn, đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 22/9) đầu trang(
Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên) do Ban Quản lý rừng phòng hộ và bảo vệ môi trường (BQLRPHBVMT) Hồ Núi Cốc quản lý nhưng phần lớn diện tích cây cối là do dân tự bỏ vốn trồng. Vì vậy, người dân bản địa hy vọng được Nhà nước giao đất, giao rừng phòng hộ cho họ tự quản lý.
Theo Quyết định số 3123 ngày 27/12/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt số liệu giao rừng cho tổ chức Nhà nước và lực lượng vũ trang trên địa bàn, theo đó, Ban QLRPHBVMT Hồ Núi Cốc được giao quản lý và bảo vệ hơn 2 nghìn ha. Còn lại, trên 570 ha trong vùng xác lập rừng phòng hộ được giao cho 357 hộ dân thuộc các xã Phúc Xuân, Phúc Trìu (TP. Thái Nguyên); Tân Thái, Lục Ba, Vạn Thọ (huyện Đại Từ) và xã Phúc Tân (TX. Phổ Yên) quản lý vì đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Sổ lâm bạ.
Thực tế, trong hơn 2 nghìn ha rừng phòng hộ do Ban QLRPHBVMT quản lý, hàng chục năm nay, nhiều hộ dân đã tự bỏ vốn trồng và bảo vệ rừng. Nhưng vì nằm trong vùng xác lập rừng phòng hộ, nên các hộ dân có phần diện tích rừng này không được khai thác khi cây đến tuổi trưởng thành, gây khó khăn cho đời sống bà con.
Điển hình như hộ gia đình chị Nguyễn Thị Hiền (xã Phúc Trìu, TP. Thái Nguyên) có tổng diện tích rừng trên 16 ha. Trong đó, có 3,6 ha rừng thuộc hộ gia đình chị Hiền nằm trong vùng xác lập rừng phòng hộ nhưng mãi đến tháng 6/2016, gia đình chị Hiền mới được biết Quyết định 3123  ngày 27/12/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc giao rừng, giao đất cho Ban QLRPHBVMT Hồ Núi Cốc. Tuy vậy, diện tích đất, rừng của gia đình chị Hiền đang sinh sống, canh tác và bảo vệ rừng ổn định từ trước năm 1990 đến nay, không có tranh chấp với ai.
Nhưng khi xác lập vào khu vực rừng phòng hộ, diện tích trồng keo gia đình chị Hiền tự bỏ vốn trồng lại không được khai thác. Khiến những cây keo trồng quá 10 năm tuổi bắt đầu rỗng lõi, thối gốc, đổ gãy... Người dân sống phụ thuộc vào rừng vốn đã khó khăn trong việc tìm kiếm sinh kế, khi không được khai thác, cây keo khó khăn lại chồng chất khó khăn.
Khi được cấp phép khai thác, các hộ dân lại gặp phải vướng mắc về thủ tục hành chính, điều luật... khiến việc làm hồ sơ cấp phép mất khá nhiều thời gian và tiền bạc của người dân. Theo chị Nguyễn Thị Hiền, để hoàn thiện một bộ hồ sơ xin được khai thác cây keo trưởng thành, phải đi lại rất nhiều lần, tiêu tốn rất nhiều khoản phí.
Do không am hiểu về thủ tục, trình tự cấp phép nên chị Hiền đã phải sang Phú Thọ thuê người làm hồ sơ với chi phí 3 triệu đồng/bộ. Dù vậy, hộ chị Hiền vẫn mất gần một năm mới được cấp phép, khai thác diện tích rừng phòng hộ, trong khi, nhiều hộ lân cận khác có khi phải mất 2 năm.
Sau nhiều năm kiến nghị lên chính quyền địa phương, cuối cùng người dân bản địa cũng được cấp phép khai thác diện tích trồng keo đã quá tuổi. Nhưng quá trình khai thác để trồng cây bản địa cũng rơi vào cảnh “dở khóc, dở cười”, khi cơ quan chuyên môn thẩm định, cấp phép khai thác yêu cầu người dân phải tiến hành thủ công như: dùng trâu kéo, khuân vác bằng… sức người. Một số người dân cho rằng, nếu bắt buộc khai thác thủ công theo đúng yêu cầu của cơ quan chuyên môn, số tiền chi phí bằng số tiền bán lâm sản. Vì thế, người dân sẽ không còn khả năng trồng lại cây bản địa theo yêu cầu của UBND tỉnh.
Mặt khác, việc thực hiện chi trả phí dịch vụ môi trường rừng nhiều năm qua cũng diễn ra nhiều bất cập khiến nhiều hộ dân không thấy thỏa đáng. Hộ gia đình Nguyễn Thị Hiền cho biết thêm, năm 2013, gia đình chị được Ban QLRPHBVMT Hồ Núi Cốc gọi lên ký hợp đồng trông coi rừng phòng hộ. Theo đó, gia đình chị mới được hưởng 100.000 đồng/ha. Nhưng quá nhiều giấy tờ thủ tục, cộng thêm lý do đất ông cha để lại và tự bỏ vốn trồng rừng nên không chấp nhận trông thuê cho Ban QLRPHBVMT Hồ Núi Cốc.
Để giải quyết vấn đề này, năm 2014, UBND tỉnh Thái Nguyên đã có chính sách cho phép tổ chức, cá nhân có quyền lợi liên quan khai thác một số diện tích rừng trồng keo nằm trong vùng xác lập rừng phòng hộ bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc để trồng thay thế bằng cây bản địa, như: mít, trám, sấu... Rõ ràng, chính sách này phù hợp với nguyện vọng của hầu hết các hộ dân có đất nằm trong vùng xác lập hoặc nhận giao khoán bảo vệ rừng. Đồng thời, đáp ứng được tiêu chí, chức năng của rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc tại địa phương, nhưng người dân sống phụ thuộc vào rừng nơi đây chưa thu được hoa lợi để phát triển cuộc sống từ rừng.
Ông Nguyễn Công Khanh, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Trìu khẳng định, tại địa phương, có xảy ra những bất cập trên, đến nay, vẫn chưa được xử lý dứt điểm.
Sau khi tiếp nhận đơn thư của hộ gia đình chị Nguyễn Thị Hiền (xã Phúc Trìu) và nhiều hộ dân khác có diện tích rừng nằm trong vùng xác lập rừng phòng hộ, UBND xã đã có văn bản trình lên UBND tỉnh Thái Nguyên xem xét và xử lý. Tuy vậy, đến nay, UBND xã vẫn chưa nhận được văn bản phản hồi. Hy vọng, trong thời gian tới, UBND tỉnh Thái Nguyên sẽ có hướng đi đúng để giải quyết thỏa đáng mâu thuẫn đang tồn tại giữa người dân và BQLRPHBVMT Hồ Núi Cốc.
Thiết nghĩ, trong thời gian tới chính quyền địa phương cùng Ban QLRPHBVMT Hồ Núi Cốc cần nâng cao hơn nữa vai trò, năng lực quản lý của mình. Đồng thời, tập trung hỗ trợ việc giao đất giao rừng công bằng cho người dân và hỗ trợ người dân phát triển sinh kế bền vững trên diện tích đất được giao. (Tài Nguyên Và Môi Trường 22/9) đầu trang(
Liên quan đến việc UBND huyện Đắk Song (tỉnh Đắk Nông) đề xuất cấp sổ đỏ hơn chục hecta trên đất rừng cho nguyên một ủy viên Thường vụ tỉnh ủy, GĐ Sở KH-ĐT và nguyên  Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan  ở tỉnh này(Tầm nhìn đã đưa tin), trong quá trình điều tra tìm hiểu về sự việc trên chúng tôi không khỏi bất ngờ với những tình tiết nóng, mới liên tục xuất hiện.
Để mổ xẻ sự việc này một cách triệt để nhóm PV đã liên lạc được với ông Nguyễn Đức Luyện(nguyên PCT UBND tỉnh, hiện ông Luyện làm Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo các dự án và xúc tiến đầu tư trọng điểm tỉnh Đắk Nông) người quyết định về vụ việc trên, ký hay không ký cấp sổ đỏ cho ông Sơn.
Trong cuộc trao đổi qua điện thoại này ông Luyện thẳng thắn cho biết, vì tôi không ký cấp sổ đỏ cho ông Sơn nên ông ấy không ưng tôi. “Lúc đó tôi có nhận được hồ sơ đề nghị thu hồi đất của Công ty lâm nghiệp Trường Xuân, giao huyện Đắk Song cấp sổ đỏ cho ông Sơn. Nhưng tôi không ký, vì nguồn gốc là đất rừng, cái này tôi nắm rất rõ... Cho nên ông ấy có vẻ không ưng tôi lắm, cứ ì xèo suốt, gây sức ép...”.
Nói về vấn đề xuất hiện đồng loạt tờ trình đề nghị thu hồi đất giao về cho địa phương để cấp sổ đỏ cho ông Sơn của các cơ quan như UBND huyện Đắk Song, Công ty lâm nghiệp Trường Xuân và các Sở NN&PTNT và TN&MT mà ông lại nhất định không ký, ông Luyện cho rằng: “Tôi nghĩ họ làm chưa hết trách nhiệm, chưa đúng quy định, chứ nếu đúng thì tôi đã phải ký rồi”.
Khi được hỏi ông Sơn là một cán bộ to ở tỉnh ủy mà lại đi canh tác trên đất rừng là đúng hay không đúng? Ông Luyện nói: “Không đúng tôi mới không ký. Tôi cũng báo cáo với Chủ tịch UBND tỉnh đàng hoàng, cái này là đất lâm nghiệp, làm như thế là chuyển đất công thành đất tư nhân.”.
Trước đó khi làm việc với PV về những thông tin ồn ào liên quan đến vụ việc này ông Nguyễn Thanh Sơn đã xác nhận là có thật.
Theo ông Sơn, diện tích nói trên vẫn chưa được cấp “sổ đỏ”, vì phải chờ UBND huyện Đắk Song làm cùng một đợt với nhiều người khác. Ông Sơn còn cho biết, ngoài diện tích này, vợ chồng ông đã được cấp 5 “sổ đỏ” khác với diện tích gần 6ha. Tổng cộng gia đình đang sử dụng gần 20ha đất hai bên mặt tiền quốc lộ 14 (xã Trường Xuân, huyện Đắk Song), chỉ cách thị xã Gia Nghĩa 15km.
Trước đó báo Điện tử Tầm nhìn đã phản ánh, các tài liệu đề nghị cấp “sổ đỏ” trên đất rừng, thuộc lâm phần công ty lâm nghiệp Trường Xuân quản lý có nguồn gốc từ đất xâm canh cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên ủy viên thường vụ, nguyên Giám đốc Sở KH-ĐT, nguyên Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông, vừa nghỉ hưu vào tháng 2/2016) và bà Từ Thị Khanh (Chánh Văn phòng Sở LĐ-TB-XH tỉnh Đắk Lắk) đến nay vẫn còn nguyên hiệu lực.
Theo đó, dù là đất rừng bị xâm canh nhưng UBND huyện Đắk Song và một số cơ quan liên quan vẫn cố gắng làm quy trình và đề xuất cấp sổ đỏ cả chục hécta đất rừng cho vợ chồng ông Sơn và bà Khanh
Theo tài liệu này, các sở NN-PTNT, TN&MT-MT, Cty lâm nghiệp Trường Xuân và UBND huyện Đắk Song đã đề nghị UBND tỉnh Đắk Nông thu hồi khoảng 13,5ha đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ và rừng sản xuất) của Cty lâm nghiệp Trường Xuân để cấp “sổ đỏ” cho ông Sơn và bà Khanh. Lý do, gia đình ông Sơn đã đầu tư trồng các loại cây công nghiệp, xây dựng trang trại kiên cố, ổn định trên phần đất này…
Có thể nói sự việc trên đang gây xôn xao dư luận vùng Nam Tây Nguyên, hầu hết đều cho rằng có lẽ do ông Nguyễn Thanh Sơn (nguyên ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, nguyên Giám đốc Sở KH-ĐT, nguyên Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan tỉnh Đắk Nông, vừa nghỉ hưu vào tháng 2/2016) nên mới được ưu ái và có một số lượng quỹ đất hoành tráng án ngữ QL14 như vậy?. (Tầm Nhìn 23/9) đầu trang(
Dù biết 13,5ha đất ông Nguyễn Thanh Sơn đang sử dụng là đất rừng, nhưng lãnh đạo các Sở NNPTNT, TNMT và UBND huyện Đắk Song, Cty lâm nghiệp Trường Xuân đều không đề xuất thu hồi, trồng lại rừng.
Ngược lại họ còn nhiệt tình ký hàng loạt văn bản đề xuất UBND tỉnh cấp “sổ đỏ” cho ông Sơn. Điều này chỉ có thể được hiểu là, do ông Sơn là Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, cấp trên của tất cả những cơ quan này.
Không kể diện tích thuộc 5 “sổ đỏ” được cấp chính chủ, tài liệu từ cơ quan chức năng cho thấy, những cây trồng và vật kiến trúc trên 13,5ha đất rừng cũng đứng tên ông Nguyễn Thanh Sơn và bà Từ Thị Khanh. Cụ thể, có gần 6,5ha đất trồng keo, xoan “do gia đình bà Từ Thị Khanh và ông Nguyễn Thanh Sơn tự trồng từ năm 2009-2010 và đang canh tác”, rồi 7,1ha đất trồng cây lâu năm “do gia đình bà Từ Thị Khanh và ông Nguyễn Thanh Sơn tự trồng từ năm 2012-2014 và đang canh tác”.
Chuồng trại kiên cố, nhà cửa, tất cả được rào bằng lưới B40 và cọc sắt V cũng “do gia đình bà Từ Thị Khanh và ông Nguyễn Thanh Sơn tự đầu tư xây dựng và đang tổ chức sản xuất, kinh doanh”. Nghĩa là tất cả đều trái phép, nhưng không bị xử lý,  thu hồi.
Cần nói thêm là, các Cty lâm nghiệp ở Tây Nguyên đang trầy trật thu hồi lại diện tích đất rừng bị lấn chiếm. Và trong cuộc “giằng co” này, không ít nông dân phải đi tù vì tội phá rừng, hoặc chống lại các đoàn giải tỏa, lực lượng chức năng cũng đổ máu... Nhưng đất của “quan Thường vụ” Tỉnh ủy Đắk Nông Nguyễn Thanh Sơn thì không ai dám đụng đến. Ông Trần Quyết Tâm - Giám đốc Cty lâm nghiệp Trường Xuân, đơn vị được nhà nước giao bảo vệ rừng, quản lý đất lâm nghiệp - thản nhiên giải thích: “Cty không có nhu cầu sử dụng diện tích đất đó, không có kinh phí và khả năng để giải tỏa”. Nhưng tất nhiên, không chỉ mình ông Tâm ủng hộ cấp “sổ đỏ” đất rừng cho “quan Thường vụ”.
Trong hàng chục văn bản mà PV Báo Lao Động thu thập được, mỉa mai nhất là báo cáo 667 ngày 11.6.2014 của Sở NNPTNT và báo cáo 786 ngày 17.4.2015 của Sở TNMT, thời điểm ông Sơn là Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy.
Trong báo cáo của Sở NNPTNT, lãnh đạo Cty lâm nghiệp Trường Xuân nêu ý kiến: “Việc giao trả khu đất cũng không làm ảnh hưởng đến việc tổ chức sản xuất, kinh doanh của đơn vị, kính đề nghị UBND tỉnh thu hồi khu đất giao về cho UBND huyện Đắk Song quản lý và bố trí sử dụng (ý nói giao về để UBND huyện Đắk Song cấp “sổ đỏ” cho ông Sơn - NV)”.
Còn UBND Đắk Song nêu quan điểm: “Diện tích đất mà Cty lâm nghiệp Trường Xuân xin giao trả chủ yếu là đất xâm canh và canh tác của người dân từ lâu, thống nhất tiếp nhận khu đất trên về địa phương”. Đến lượt mình, Sở TNMT cũng ủng hộ: “Việc Cty lâm nghiệp Trường Xuân không có nhu cầu sử dụng, nay xin giao trả về địa phương quản lý là phù hợp với quy định của pháp luật (nhưng không nói quy định nào - NV).
Cuối cùng, Sở NNPTNT với vai trò chủ trì, nêu ý kiến mà bất kỳ người dân nào nghe được cũng không khỏi xúc động về tinh thần lo lắng cho dân: “Việc rà soát diện tích đất người dân xâm canh giao về cho địa phương quản lý và bố trí sử dụng là một việc cần thiết nhằm tạo điều kiện cho người dân an tâm đầu tư sản xuất… Diện tích này chủ yếu là đất bị người dân xâm canh, canh tác ổn định”. Nhưng “người dân” ở đây là Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Nguyễn Thanh Sơn và vợ là Chánh Văn phòng Sở LĐTBXH Đắk Lắk Từ Thị Khanh, chứ không phải những người nông dân nghèo, thiếu đất sản xuất.
Như vậy, dù biết 13,5ha đất rừng ông Sơn đang chiếm dụng là trái phép, nhưng UBND huyện Đắk Song và các sở TNMT, NNPTNT đều thống nhất đề xuất cấp “sổ đỏ”. Điều này chỉ có thể được hiểu là do chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy của ông Sơn thời điểm đó - to hơn các giám đốc sở, chủ tịch huyện. (Lao Động 23/9) đầu trang(
Bà Lê Thị Vạn cùng chồng là Trần Xuân Lập và con trai là Trần Xuân Nam, trú tại xóm Đồng Minh, xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai phản ánh: Từ ngày 10/1/1993 cho đến nay, gia đình chưa chuyển quyền sử dụng đất và quyền sở hữu rừng cho bất cứ cá nhân hay tổ chức nào. Cũng chưa có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào thông báo sẽ thu hồi đất để xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Quỳnh Lập 1 và 2.
Đơn nêu, ông Lê Duy Nguyên (em trai bà) - chủ doanh nghiệp trồng rừng đã làm giả giấy tờ chiếm đất của các hộ gia đình, không có chuyện các gia đình chuyển nhượng nhất cho hộ ông Lê Duy Nguyên.
Mới đây, UBND thị xã Hoàng Mai có văn bản cho biết, vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất rừng giữa ông Trần Xuân Nam với ông Lê Duy Nguyên đã được TAND thị xã Hoàng Mai ra phán quyết tại Bản án số 01/2015/DSST ngày 22/5/2015.
Sau khi xử sơ thẩm, ông Trần Xuân Nam kháng cáo, ngày 25/9/2015, TAND tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án. Bản án số 48/2015/DSPT ngày 25/9/2015 của TAND tỉnh Nghệ An quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Duy Nguyên; hủy bỏ Quyết định số 01 ngày 10/1/1993 về việc giao đất sản xuất kinh doanh lâm nghiệp của UBND huyện Quỳnh Lưu cho ông Trần Xuân Nam, diện tích 84,5 ha đất rừng vùng Hòn Dề, xã Quỳnh Lập và hủy sổ lâm bạ hộ gia đình lập ngày 10/1/1993 số 04 đứng tên ông Trần Xuân Nam.
Đồng thời, bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Xuân Nam buộc ông Lê Duy Nguyên trả lại 55,8ha đất rừng tại vùng Hòn Dề, xã Quỳnh Lập theo lâm bạ số 04 ngày 10/1/1993 đứng tên Trần Xuân Nam chủ hộ. (Thanh Tra 23/9) đầu trang(
Năm 2016, huyện Krông Nô (Đắk Nông) có 3 đơn vị được UBND tỉnh giao thực hiện nhiệm vụ trồng rừng thay thế với diện tích gần 750 ha. Đến giữa tháng 9/2016, các đơn vị mới chỉ trồng được 300 ha và hiện nay đang gặp khó về đất trồng.
Công ty TNHH Thương mại, Dịch vụ, Sản xuất khoáng sản Phú Gia Phát được giao trồng 400 ha rừng thay thế trên địa bàn xã Buôn Choáh. Đến nay, đơn vị mới trồng được 63,9 ha, gồm các loại cây muồng, hương, sao đen, cà te… Tuy nhiên, diện tích rừng đã trồng bị người dân nhổ và phun thuốc trừ sâu làm thiệt hại 21,5 ha. Nhiều diện tích đất của công ty bị người dân lấn chiếm trồng bắp, cây công nghiệp dài ngày.
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung được giao kế hoạch trồng rừng thay thế tại huyện Krông Nô là 46 ha, trên địa bàn 2 xã Đức Xuyên, Nâm N'đir. Đến nay, đơn vị đã thực hiện trồng rừng được 20 ha gồm sao đen và bời lời. Theo báo cáo của đơn vị thì diện tích đã trồng rừng bị người dân nhổ là 3 ha tại 3 vị trí trên địa bàn xã Đức Xuyên, chưa xác định được đối tượng phá hoại.
Sau khi rừng trồng bị nhổ, Phòng Nông nghiệp - PTNT huyện đã cùng lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung và Công an huyện đi kiểm tra, xác minh hiện trạng rừng trồng bị phá hoại. Hiện nay, Công an huyện đang tiến hành xác minh, điều tra để xử lý vụ việc.
Công ty TNHH Bảo Lâm được giao kế hoạch trồng rừng thay thế tại huyện Krông Nô là 300 ha, trên địa bàn 4 xã Quảng Phú, Đức Xuyên, Nâm Nung và Tân Thành. Đến nay, đơn vị đã tổ chức trồng được 216 ha. Số diện tích còn lại hiện gặp khá nhiều khó khăn do người dân lấn chiếm đất canh tác.
Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp - PTNT huyện Krông Nô thì nhiều diện tích đất trồng rừng bị người dân xâm canh và đã thực hiện canh tác nên rất khó thực hiện trồng, bảo vệ cây rừng. Việc rà soát, thống kê danh sách, địa chỉ người dân có đất xâm canh trong vùng dự án để phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động người dân giao đất, tham gia trồng rừng thực hiện chưa tốt.
Công tác thông tin, báo cáo chưa kịp thời, nhất là khi có sự việc đột xuất xảy ra. Việc điều tra, xử lý các vụ việc phá hoại cây rừng trồng, đánh người tại các dự án trồng rừng còn chậm.
Ông Ngô Xuân Đông, Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Nô cho biết: Huyện gặp rất nhiều khó khăn trong việc xử lý đất trồng rừng do người dân xâm canh, các ngành chức năng, doanh nghiệp trồng rừng tổ chức tuyên truyền, vận động nhưng vẫn còn nhiều đối tượng không hợp tác, chống đối. Huyện đang tập trung xử lý việc lấn chiếm đất rừng tại một số điểm nóng, tạo điều kiện cho các đơn vị được giao kế hoạch trồng rừng trong năm nay. (Báo Đắk Nông 22/9) đầu trang(
Đầu tư từ Trung Quốc vào VN trong khoảng 10 năm trở lại đây đang ngày một lớn và đã đạt con số 10 tỷ USD, tuy nhiên nếu nhìn thực chất của các dự án đầu tư gần đây thì thấy rằng, rất nhiều dự án đầu tư không những gây ô nhiễm môi trường mà còn gây ra những xáo trộn cho các DN VN, mà câu chuyện ngành gỗ là một ví dụ.
Bình Định là một trong ba trung tâm chế biến gỗ XK hàng đầu cả nước, mỗi năm chỉ riêng ngành này đã mang về kim ngạch khoảng 300 triệu USD, chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch toàn tỉnh. Thế mạnh của gỗ Bình Định là đồ gỗ ngoài trời, riêng trong lĩnh vực này Bình Định là số 1. Nhiều năm nay, đồ gỗ của Bình Định có mặt ở hầu hết các thị trường Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…
Nếu ví năm 2015 là một năm đầy năng lượng cho ngành gỗ của Bình Định thì kể từ năm 2016, tình hình lại trở lên u ám hơn bởi đơn hàng ngày càng sụt giảm do nhu cầu thị trường đi xuống. Còn ở trong nước, các DN gỗ tỉnh này đang phải cạnh tranh khốc liệt với các DN gỗ của Trung Quốc đầu tư mạnh nhằm tận dụng ưu đãi thuế quan theo lộ trình các FTA. Không chỉ thế, các DN Trung Quốc sẽ thu hút được lao động lành nghề và đẩy giá nguyên liệu lên cao.
Gần đây, ông Đỗ Xuân Lập -Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản tỉnh Bình Định đại diện cho các DN gỗ tỉnh này đã kêu gọi tỉnh không tiếp tục khuyến khích hoặc cấp đất cho các DN Trung Quốc đầu tư trong ngành gỗ.
Đem câu chuyện này trao đổi với ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), ông Quyền cho biết, Hiệp hội vừa có chuyến thị sát các DN ngành gỗ ở một số tỉnh phía Nam và thừa nhận có tình trạng trên. Ông cho biết trong số hơn 500 DN FDI trong ngành gỗ thì có tới 1/3 là các nhà đầu tư Trung Quốc, Đài Loan.
“Lý do quan trọng khiến các DN Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư vào ngành gỗ là hiện nay sản phẩm gỗ của Trung Quốc XK vào Mỹ bị áp thuế chống bán phá giá rất cao nên đầu tư vào VN là bước tính khôn ngoan của các DN Trung Quốc nhằm hưởng lợi từ việc miễn thuế từ các FTA, nhất là TPP”- ông Quyền nhìn nhận.
Nhưng điều mà ông Quyền cũng như nhiều DN gỗ khác lo lắng hơn cả lại là khả năng gian lận thương mại và lẩn trốn thuế của các DN gỗ Trung Quốc. Đó là khi đầu tư sản xuất đồ gỗ ở VN, các DN Trung Quốc sẽ nhập khẩu nguyên liệu gỗ, thậm chí là một số đã là bán thành phẩm từ Trung Quốc, chuyển sang VN chỉ còn lại công đoạn lắp ghép và sơn rồi lấy chứng nhận xuất xứ (C/O) VN để xuất khẩu.
Năm 2015 cũng đã từng có các vụ điều tra lẩn trốn thuế và chống bán phá giá của các nước Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ… với mặt hàng gỗ tấm MDF và gỗ dán của VN. Các nước này cho rằng các DN gỗ Trung Quốc đã chuyển gỗ bán thành phẩm vào VN lắp ghép rồi gắn nhãn xuất xứ VN để tránh thuế.
Trước thực trạng này, ông Nguyễn Tôn Quyền cho biết, Hiệp hội đã có kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc hạn chế đón nhận đầu tư vào ngành gỗ từ Trung Quốc bởi các sản phẩm gỗ của Trung Quốc hiện đang bị các nước, nhất là Mỹ, EU áp thuế chống bán phá giá rất cao. Việc các sản phẩm tiếng là của VN nhưng do các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư sản xuất sẽ nguy cơ bị các thị trường này “soi” khả năng lẩn trốn thuế chống bán phá giá, gây bất lợi cho ngành gỗ VN.
Rõ ràng, kim ngạch XK ngành gỗ Việt hoàn toàn có thể đạt được con số 10 – 20 tỉ USD, nhưng số tiền này các DN trong nước sẽ đóng góp được bao nhiêu mới là câu chuyện đáng bàn. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 23/9) đầu trang(
Trong khi, những bức xúc của người trồng rừng và doanh nghiệp (DN) chế biến xuất khẩu gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An chưa tìm được lời giải thì mới đây họ tiếp tục vướng bởi những chủ trương quy hoạch rừng trồng gỗ lớn.
Theo quy hoạch phát triển rừng trồng nguyên liệu trên địa bàn tỉnh Nghệ An đến năm 2025 tầm nhìn 2030, tỉnh sẽ trồng 139.821 ha rừng kinh doanh gỗ lớn phục vụ cho chế biến, xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản. Trong đó, diện tích trồng rừng nguyên liệu kinh doanh gỗ lớn là 139.821 ha, kinh doanh gỗ nhỏ là 143.741ha.
Diện tích quy hoạch trên, với chính quyền địa phương được xem là một giải pháp tối ưu cả về mặt quản lý và hiệu quả kinh tế. Đại diện lãnh đạo ngành NN – PTNT Nghệ An cho biết, từ phân tích hiệu quả tài chính của hai phương án trồng rừng ở các địa phương như: Yên Bái, Quảng Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Bắc Giang… cho thấy, phương án gỗ lớn có hiệu quả cao hơn so với phát triển rừng gỗ nhỏ.
Bởi lẽ, nếu làm một bài toán so sánh 300ha rừng keo và thông được trồng từ 15 – 18 năm có trữ lượng lớn, sản lượng gỗ ước đạt 240m3/ha, trị giá 360 triệu đồng. Trong khi đó, một chu kỳ khai thác rừng trồng keo và thông cho gỗ nhỏ (bình quân 6 năm sẽ khai thác) chỉ đạt sản lượng 80 m3, trị giá 60 triệu đồng.
Mặt khác, hiện nay các thị trường nhập khẩu đồ nội thất và mỹ nghệ của VN đều yêu cầu sản phẩm sản xuất từ gỗ được cấp chứng chỉ. Để có chứng chỉ này, bắt buộc phải là gỗ khai thác từ những nơi có chứng chỉ rừng mà để được cấp chứng rừng thì phải là rừng gỗ lớn.
Vì thế, để chủ động nguồn cung trong nước cho chế biến đồ gỗ nội thất và mỹ nghệ, không có cách nào khác, phải phát triển rừng gỗ lớn – vị đại diện này chia sẻ. Không phủ nhận lợi ích kinh tế từ việc quy hoạch rừng trồng gỗ lớn. Tuy nhiên, quy hoạch này lại đang đi ngược với nguyện vọng của phần lớn người trồng rừng cũng như các DN chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh.
Theo tìm hiểu của DĐDN tại một số huyện như: Nghĩa Đàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp cho thấy, tâm lý của nhiều chủ rừng vẫn muốn phát triển rừng gỗ nhỏ. Bởi lẽ, phát triển loại gỗ này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho các hộ trồng rừng do có nguồn thu nhanh hơn, có thể sớm quay vòng đầu tư tiếp, thay vì chỉ nhận một lần thu nhập nếu phát triển rừng gỗ lớn.
Hơn nữa, thu hoạch từ rừng chồi cũng được người trồng rừng cho là hiệu quả hơn so với khai thác gỗ lớn. Anh Thuận – một chủ rừng tại huyện Nghĩa Đàn cho biết, đa số người trồng rừng tại đây đều có thu nhập thấp, không đủ điều kiện tài chính để theo chu kỳ khai thác dài, cho gỗ lớn. Do có thu nhập thấp nên nhiều người trồng rừng rất khó đáp ứng các điều kiện vay vốn của ngân hàng…
Điều này khiến anh Thuận, cũng như nhiều hộ trồng rừng tại đây phải khai thác gỗ khi đáp ứng được yêu cầu băm dăm và làm bột giấy để có thể trả lãi, vốn vay từ ngân hàng hoặc vay tư nhân. “Nếu trồng rừng với thời gian từ 15 – 18 năm mới cho thu hoạch sẽ vượt khả năng đáp ứng của nhiều hộ trồng rừng tại đây” – anh Thuận chia sẻ.
Đồng quan điểm, một DN chế biến xuất khẩu gỗ và các phụ phẩm từ gỗ trên địa bàn tỉnh cũng cho rằng, việc trồng rừng gỗ nhỏ trên địa bàn không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tế của nhiều hộ trồng rừng, mà còn phù hợp với năng lực tài chính cũng như quy mô phát triển của phần lớn các DN trong lĩnh vực gỗ vầ lâm sản trên địa bàn tỉnh (với hơn 90% là DN vừa và nhỏ).
Hơn nữa, với đặc thù gỗ keo nếu kéo dài thời gian thu hoạch chờ nó lớn thì hiệu quả sử dụng sẽ không cao, vì bên trong thân gỗ sẽ bị rỗng, không dùng cho việc xẻ gỗ lớn cũng như chế biến các đồ gỗ.
Thừa nhận, lợi ích kinh tế từ việc quy hoạch rừng trồng gỗ lớn. Song, theo chuyên gia kinh tế lâm nghiệp, ông Vũ Long, trong bối cảnh thực tế như hiện nay của Nghệ An chỉ nên quy hoạch diện tích rừng trồng gỗ lớn dưới 1.000 hecta và theo lộ trình của từng giai đoạn có thể điều chỉnh tăng dần.
Đặc biệt, để quy hoạch phát triển rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh đạt hiệu quả như kỳ vọng, ngành nông nghiệp cũng như các ngành liên quan cần có những đánh giá sâu và toàn diện về thực trạng của ngành chế biến xuất khẩu gỗ hiện nay trên địa bàn tỉnh trong toàn bộ chuỗi cung ứng. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 23/9) đầu trang(
Tính từ đầu năm đến nay, giá bán gỗ đước và keo lai liên tục sụt giảm. Ðặc biệt, tình hình tiêu thụ gỗ đước gặp rất nhiều khó khăn đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân trồng rừng.
Theo số liệu thống kê của Sở NN&PTNT, giá bán gỗ keo lai giảm 29% và giá bán gỗ đước giảm từ 15-20% so với năm 2015. Cụ thể, năm 2015 giá keo lai bình quân 190 triệu đồng/ha thì nay chỉ còn 135 triệu đồng/ha; giá gỗ đước năm 2015 bình quân từ 1,4 triệu đồng/ster thì nay giảm còn khoảng 1,1 triệu đồng/ster.
Cà Mau mỗi năm khai thác trung bình khoảng 300.000 m3 gỗ. Trong đó, khu vực rừng ngập mặn khai thác bình quân khoảng 70.000 m3 gỗ/năm; khu vực rừng tràm khoảng 230.000 m3/năm, trong đó keo lai 45.000 m3, tràm 185.000 m3/năm. Tuổi rừng khai thác đối với cây keo lai từ 4-5 năm, tràm từ 6-8 năm và đước từ 10-15 năm.
Ðiều đáng trăn trở là tất cả sản phẩm cây rừng của Cà Mau đều khai thác khi cây còn nhỏ, đường kính chủ yếu dưới 12 cm. Sản phẩm khai thác được sử dụng chủ yếu để hầm than đối với gỗ đước và băm dăm đối với cây keo lai (sử dụng trong nước và xuất khẩu), một số ít gỗ keo lai dùng để ghép thanh, làm hàng mộc gia dụng nhưng không đáng kể. Việc tiêu thụ sản phẩm gỗ Cà Mau chủ yếu thông qua thương lái, chưa có liên kết tiêu thụ sản phẩm, nhất là chưa hợp đồng tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp chế biến gỗ với người trồng rừng. Ðây là những thách thức cố hữu của người trồng rừng ở Cà Mau trong thời gian dài.
Ông Lê Trung Kiên, Chủ tịch UBND xã Nguyễn Phích, huyện U Minh, cho biết: “Muốn trồng rừng người dân phải có kế sinh nhai, lấy ngắn nuôi dài, nhưng thực tế rất hiếm có hộ nào đợi tuổi rừng cao mới khai thác để được giá bán cao hơn. Thời gian qua, những hộ dân trồng keo lai trên địa bàn khi thấy có lãi là khai thác ngay, không chờ cây lớn để bán có giá. Bây giờ, giá keo lai xuống thấp, trong khi phong trào trồng keo lai đang phát triển thực sự là thách thức không chỉ đối với người trồng rừng mà còn đối với địa phương”.
Ðược biết, nguyên nhân giá gỗ keo lai giảm là do Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 182/2015/TT-BTC, ngày 16/11/2015 để điều chỉnh thuế xuất khẩu đối với mặt hàng dăm gỗ nhằm đảm bảo nguyên liệu cho sản xuất trong nước và bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, sự phát triển nóng của các cơ sở chế biến gỗ dăm trong nước dẫn đến cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong nước và đẩy giá gỗ dăm xuống thấp.
Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Trần Văn Thức nhận định, thời điểm Chính phủ áp thuế xuất khẩu 2% đối với mặt hàng dăm gỗ ngẫu nhiên trùng với thời điểm khủng hoảng thừa nguồn cung dăm gỗ của thế giới, làm cho ngành công nghiệp dăm gỗ của Việt Nam gặp khó khăn kép. Bên cạnh đó, phải kể đến các nguyên nhân giá gỗ giảm là do việc tiêu thụ còn phụ thuộc vào thương lái, khai thác cây gỗ có đường kính nhỏ nên giá trị không cao, chi phí vận chuyển quá lớn.
Trước thực trạng giá gỗ giảm không phanh đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và người dân, UBND tỉnh Cà Mau vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện các giải pháp trọng tâm. Ðó là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin thị trường đến doanh nghiệp và hộ dân trồng rừng để chủ động kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tránh thiệt hại do thiếu thông tin. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tránh để thương lái lợi dụng tình hình giá gỗ giảm để cấu kết, tiếp tục hạ thấp giá thu mua gỗ nguyên liệu trên địa bàn tỉnh.
Tăng cường hướng dẫn doanh nghiệp và hộ dân trồng rừng thực hiện đồng bộ các biện pháp hạn chế thiệt hại do giá gỗ giảm. Trước mắt, đẩy mạnh công tác khuyến lâm để doanh nghiệp, hộ dân nắm được quy trình kỹ thuật trồng, khai thác rừng, vận xuất lâm sản và xác định thời điểm, kích cỡ cây rừng thích hợp để khai thác sao cho mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất. Tiếp tục tìm kiếm, mời gọi tổ chức, cá nhân có năng lực đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại Cà Mau.
Ðồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để thương lái thu gom, vận chuyển gỗ đến nơi tiêu thụ. Ðặc biệt, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm song song với triển khai có hiệu quả kế hoạch tái cơ cấu ngành hàng keo lai trên địa bàn tỉnh.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử xác định, ngoài những giải pháp cơ bản nhằm gỡ “nút thắt” cho giá thành gỗ Cà Mau được nâng cao, nhất là đảm bảo thực hiện tốt chủ trương trồng rừng, UBND tỉnh đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh Cà Mau tiếp tục chỉ đạo các ngân hàng có liên quan hướng dẫn trình tự, thủ tục và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân được vay vốn trồng rừng nguyên liệu. (Báo Cà Mau 22/9) đầu trang(./.