|
Ngày 21 tháng 08 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Sáng 20/8, tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam với sự tài trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã tổ chức hội thảo “Chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam-Thực tiễn và giác giải pháp”.
Báo cáo tại hội thảo cho biết, tính đến năm 2012, tổng nguồn thu từ chi trả dịch vụ môi trường rừng là 1.782 tỷ đồng. Số tiền này được chi trả cho các chủ rừng - là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn.
Được biết, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa rừng; huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt của các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng vào việc bảo vệ và phát triển rừng gắn với việc xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào dân tộc, đồng bào nghèo ở vùng sâu vùng xa, miền núi.
Tính đến thời điểm hiện nay, các quỹ từ trung ương đến địa phương đã ký được 247 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng với các nhà máy thủy điện, công ty cấp nước và công ty du lịch. Đó chính là cơ sở quan trọng cho việc triển khai đôn đốc thu nộp và thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đến các chủ rừng.
Theo đó, trong 6 tháng đầu năm 2013, các Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã thu được hơn 400 tỷ đồng.
Mặt khác, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với việc phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Chính sách này còn góp phần tạo ra công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng. Đặc biệt, các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng ngoài luồng thu nhập từ các giá trị trực tiếp rừng còn được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng.
Tại một số địa phương, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng bình quân cho các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao, khoán, bảo vệ rừng rất cao nếu so sánh với mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước. Cụ thể như chi trả dịch vụ môi trường rừng Lâm Đồng là 300.000-450.000 đồng/ha/năm, tại Lai Châu là 319.000 đồng/ha/năm, trong khi hỗ trợ nhà nước chỉ khoảng 200.000 đồng/ha/năm.
Tại tỉnh Lâm Đồng, hàng năm đã khoán bảo vệ rừng cho gần 10.000 hộ gia đình; trong đó có 1/3 hộ đồng bào dân tộc thiểu số, bình quân mỗi hộ nhận được 10,5-12 triệu đồng/năm, góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng rõ rệt.
Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện thí điểm giao khoán bảo vệ rừng giảm 15% so với năm 2008 và theo kết quả tổng kết tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La, từ năm 2008-2010 số vụ vi phạm trong các lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng giảm hẳn 50%.
Tại hội thảo, các đại biểu nhất trí hướng đến mục tiêu quản lý bền vững tài nguyên rừng và cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng. Để chính sách đi vào thực tiễn thì nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng cần sớm đến tay các chủ rừng, hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng giúp họ an tâm, tin tưởng hăng hái tham gia quản lý. (VietnamPlus.vn 20/8; Công An Nhân Dân 20/8) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh đã khảo sát tại Ban quản lý rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu.
Qua khảo sát cho thấy, Ban quản lý rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu hiện đang quản lý 26 tiểu khu với tổng diện tích hơn 21.806ha, trong đó rừng phòng hộ hơn 13.630ha, rừng sản xuất hơn 8.175ha. Hiện có hơn 16.930ha đất rừng của Ban quản lý được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong quá trình sử dụng đất, đơn vị chủ yếu tập trung bảo vệ rừng tự nhiên, giao khoán trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Tuy nhiên, do địa bàn quản lý rộng, lực lượng mỏng (1.000ha/người) nên công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn đã xảy ra 30 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích hơn 30ha; nhiều diện tích đất rừng đang bị lấn chiếm, tranh chấp chưa xử lý...
Đoàn tiếp thu những ý kiến đóng góp của các ngành, địa phương liên quan về công tác quản lý, sử dụng đất rừng của đơn vị; đồng thời lưu ý đơn vị tiếp tục làm tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, chú trọng việc giao đất, giao rừng và khuyến khích người dân tích tụ ruộng đất, xây dựng mô hình, làm giàu... (Đại Biểu Nhân Dân 20/8) đầu trang(
Phó chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang Lâm Hoàng Sa vừa yêu cầu các cơ quan chức năng sớm hoàn chỉnh đề án thành lập Khu bảo tồn núi đá vôi Kiên Lương (H.Kiên Lương, Kiên Giang).
Theo đề án, khu bảo tồn có diện tích khoảng gần 720 ha; trong đó có 8 ngọn núi đá vôi cần bảo tồn gồm: núi Chùa Hang - hòn Phụ Tử, núi Hang Cá Sấu, núi Bà Tài, núi Mo So, núi Hang Tiền, hòn Lô Cốc, hòn Đá Lửa và núi Sơn Trà Nhỏ. Tiến sĩ Lưu Hồng Trường, Phó viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, cho rằng mặc dù diện tích khu vực đề nghị bảo tồn không lớn, nhưng lại chứa đựng mật độ đa dạng sinh học rất đáng kinh ngạc, chưa từng thấy tại các quần thể núi đá vôi khác trên khắp Việt Nam.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, núi đá vôi Kiên Lương là môi trường sống của nhiều hệ sinh vật độc đáo, trong đó có những loài vẫn chưa được biết đến, bao gồm 322 loài thực vật, 155 loài động vật có xương sống, 65 loài không xương sống, 9 loài dơi, 13 loài lưỡng cư, 32 loài bò sát, 144 loài chim trong đó 6 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, 31 loài thú trong đó có nhiều loài vẫn chưa điều tra khảo sát được tình trạng quần thể. Đặc biệt, vùng núi đá vôi Kiên Lương là nơi sinh cư của đàn voọc bạc Đông Dương, loài linh trưởng quý hiếm có tên trong sách đỏ với nguy cơ tuyệt chủng rất cao, hiện nay chỉ còn chưa đầy 200 con…
Trong khi đó, nhiều năm nay, các núi đá vôi trong khu vực đã được cấp phép đào bới để sản xuất xi măng, vôi và phân bón NPK. Theo một thống kê gần đây của Sở TN-MT Kiên Giang, toàn tỉnh hiện có 67 dự án khai thác khoáng sản (gồm đá xây dựng, đá granite, đá vôi, cát sỏi), tập trung chủ yếu ở vùng Kiên Lương, Hà Tiên, Hòn Đất. Riêng địa bàn H.Kiên Lương có 10 ngọn núi bị khai thác, với sản lượng lên đến 180 triệu tấn đá vôi và 70 triệu tấn đá xây dựng/năm.
Tuy nhiên, bà Võ Thị Vân, Phó giám đốc Sở TN-MT Kiên Giang, khẳng định: “Toàn bộ các ngọn núi được đề xuất đưa vào khu bảo tồn đều đã được tỉnh đưa vào quy hoạch cấm khai thác hoặc tạm cấm khai thác từ nhiều năm trước. Do đó, nếu thành lập khu bảo tồn tại đây sẽ không gặp khó khăn nào đáng kể”. (Thanh Niên 20/8) đầu trang(
Xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam có dấu hiệu hồi phục sau nhiều năm sụt giảm bởi ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới. Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc hồi phục mạnh mẽ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp đang lo không tận dụng hết cơ hội này.
Yếu tố giúp thị trường hồi phục, ngoài nguyên nhân chính do nhu cầu thế giới tăng trưởng trở lại, doanh nghiệp Việt Nam còn nhận được nhiều hợp đồng xuất khẩu từ Trung Quốc chuyển qua. Sự dịch chuyển này diễn ra từ trước đây nhưng năm nay thể hiện rõ nhất. Nhiều doanh nghiệp tăng số lượng đơn đặt hàng từ 20 – 30%.
Theo các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ nội thất, giá nhân công Trung Quốc tăng, đồng nội tệ mạnh và các yếu tố chính sách khác của Trung Quốc làm phát sinh chi phí đầu vào cao hơn, khiến cho các doanh nghiệp chế biến đồ gỗ đang đầu tư tại Trung Quốc phải chuyển sang các nước khác để gia công. Ngoài ra, các nhà đầu tư vào Trung Quốc cũng đang áp dụng chính sách Trung Quốc cộng một nhằm giảm bớt rủi ro, Việt Nam là một trong các quốc gia được hưởng lợi.
Theo bà Đỗ Thị Bích Sâm, tổng giám đốc công ty Bảo Hưng, từ đầu năm đến nay số lượng khách hàng Nhật đặt hàng công ty tăng 60%. Những khách hàng này bỏ thị trường Trung Quốc có lẽ vì nhiều lý do nhạy cảm như chính trị, chính sách, họ muốn thêm những nhà sản xuất mới làm đối trọng với Trung Quốc. Năm ngoái, Bảo Hưng có doanh thu xuất khẩu 5 triệu USD thì năm nay dự kiến sẽ đạt 8 triệu USD. Bà Sâm hy vọng sang năm tới, doanh thu sẽ tăng hơn nữa.
Nếu so sánh yếu tố chất lượng, có thể khẳng định sản phẩm đồ gỗ Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trên thị trường, được người dùng ưa chuộng do doanh nghiệp cố gắng hoàn thiện dây chuyền công nghệ, nhân công Việt Nam có tay nghề cao. Vì vậy, theo bà Ngô Thị Hồng Thu, phó tổng giám đốc công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ Trường Thành (TTF), việc có nhiều đơn hàng từ Trung Quốc chuyển qua Việt Nam, còn xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi của thị trường, các khách hàng có vẻ tin tưởng chất lượng đồ gỗ sản xuất tại Việt Nam hơn là có xuất xứ từ Trung Quốc.
Ông Vũ Tiến Thành, phó tổng giám đốc công ty Tavico, cũng cho biết công ty đang tăng về đơn hàng lên khoảng 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Công ty cố gắng chuẩn bị để đón nhận mức tăng thêm vào năm 2014.
Ông Đặng Văn Long, giám đốc công ty Đăng Long cho biết đơn đặt hàng năm nay tăng lên 30% và chủ yếu là khách hàng Mỹ, dự kiến sẽ còn tiếp tục tăng, chính vì vậy công ty phải mở rộng nhà xưởng, đáp ứng các yêu cầu của khách về các chính sách an toàn, tiền lương cho nhân công.
Nhiều tín hiệu khả quan nhưng các doanh nghiệp lại đang ở thế lúng túng. Nếu đơn đặt hàng tiếp tục tăng mạnh như hiện nay sẽ dẫn tới việc doanh nghiệp không đủ năng lực đáp ứng. Bà Ngô Thị Hồng Thu cho biết: “Kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường mục tiêu như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Hàn Quốc hồi phục mạnh mẽ. Bây giờ doanh nghiệp không dám nhận các hợp đồng giao ngắn hạn trong thời gian ba, bốn tháng, thậm chí là nửa năm vì không đủ năng lực về tài chính, nhân công, nguyên liệu”.
Ông Nguyễn Quốc Khanh, chủ tịch hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (Hawa) cho rằng: “Có thể có sự dịch chuyển các đơn đặt hàng lớn tới Việt Nam trong năm tới. Các doanh nghiệp phải tự mình chuẩn bị đón nhận bằng cách tăng cường năng lực sản xuất và nhân công lành nghề... Năm nay là thời điểm tốt để làm mới, đón đầu cơ hội. Hiệp hội đang giúp cho các doanh nghiệp huấn luyện kiến thức để chuyển đổi sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang đồ trong nhà, là những đơn đặt hàng mà các nước đang có nhu cầu lớn và là các đơn đặt hàng sắp đến với Việt Nam...”
Các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ cũng thừa nhận họ không có nhiều cơ hội tiếp nhận các đơn hàng xuất khẩu đồ gỗ lớn vốn đang tăng mạnh hiện nay, do tiềm lực không cho phép. Theo thống kê, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ bảy tháng đầu năm 2013 đạt 2,91 tỉ USD tăng 12,65%, nhưng thị phần chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Ông Đặng Văn Long cho biết các doanh nghiệp FDI, chủ yếu là của Đài Loan, Trung Quốc, họ có nguồn khách hàng ổn định, nhà xưởng quy mô và nguồn vốn lớn, do đó họ có thể có đơn hàng lớn.
Bà Hồng Thu phân tích, khủng hoảng kinh tế từ năm 2008 khiến doanh nghiệp Việt Nam rơi rụng khá nhiều, nay hầu như không còn tên tuổi nào mạnh. Ngay như Trường Thành, trước đây luôn đứng tốp đầu xuất khẩu, nhưng gần hai năm nay cũng không còn giữ được phong độ.
Tiềm lực tài chính là hạn chế lớn nhất đối với doanh nghiệp trong nước, họ phải phụ thuộc tới 70 – 80% vốn lưu động từ ngân hàng, nhưng vài năm nay ngân hàng siết lại hạn mức vay nên doanh nghiệp nào cũng thiếu vốn. “Một doanh nghiệp thường vay của nhiều ngân hàng. Nếu mỗi nhà băng siết lại định mức vài chục phần trăm thì doanh nghiệp còn vốn đâu nữa mà sản xuất, vì thông thường phải mất hai đến ba tháng sau khi giao hàng nhà nhập khẩu mới trả tiền”, bà Thu nói. (Sài Gòn Tiếp Thị 21/8) đầu trang(
REDD+ đang là vấn đề được nhiều quốc gia chú ý. Tuy nhiên, để những lợi ích của việc thực hiện REDD+ đến được với cộng đồng dân cư, dẫn đến sự thay đổi nhận thức cũng như lồng ghép cơ chế, chính sách để REED + thực sự có hiệu quả vẫn là câu chuyện dài khi truyền thông về vấn đề này đang còn những khoảng trống…
REDD+ không phải là vấn đề mới của Việt Nam. Tiến trình thực hiện REDD+ đã có những bước tiến rõ rệt. Từ khi được thực hiện ở Việt Nam, các tổ chức quốc tế, phi Chính phủ và cả phía Việt Nam cũng đã tổ chức không ít các chiến dịch tập huấn, truyền thông rầm rộ cho các tầng lớp nhân dân cũng như các Bộ, ngành từ Trung ương tới địa phương. Thậm chí, các tổ chức phi Chính phủ còn có hẳn một Chương trình truyền thông tới người dân địa phương có rừng, không có rừng với nhiều cuốn cẩm nang, sổ tay để người dân hiểu tác hại của việc mất rừng, cũng như hệ quả của nó đối với vấn đề gia tăng khí nhà kính.
Đặc biệt, Việt Nam đang trở thành quốc gia tiên phong trong các nỗ lực chống lại BĐKH, tiến đến thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Hiện Việt Nam đã trở thành quốc gia đầu tiên trong số 47 nước đối tác Liên hợp quốc về giảm phát khí thải nhà kính thông qua cải thiện quản lý rừng và sử dụng đất (UN – REED) nhận được khoản ngân sách 30 triệu USD tài trợ không hoàn lại từ Chính phủ Na Uy.
Song trên thực tế, tại rất nhiều địa phương vẫn chưa coi trọng và thiếu hiểu biết về REED +, đặc biệt là những tỉnh, thành phố ít hoặc không có rừng. họ vẫn quan niệm, bảo vệ rừng chỉ thuộc nhiệm vụ của những địa phương có diện tích rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ…mà không hiểu rằng hành vi tiêu thụ sản vật từ rừng cũng là một trong những nguyên nhân gây suy thoái môi trường, giảm diện tích rừng tự nhiên.
Ngay cả những người làm công tác truyền thông chuyên nghiệp như các hãng thông tấn, báo chí trong nước cũng chưa có người chuyên trách về mảng để tài này. Các buổi tập huấn do các tổ chức quốc tế và ngành liên quan tổ chức thường nhận được sự thiếu trách nhiệm bởi mỗi buổi tập huấn lại cử một người khác nhau, và như vậy REED + đối với họ luôn mới, luôn là ở “điểm xuất phát” thì làm sao mà truyền thông tường tận cho độc giả?
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn tới tình trạng “nói nhiều, hiểu ít” trong hoạt động truyền thông về REDD+ là do đây là một lĩnh vực đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu song lại phải truyền tải bằng ngôn ngữ “đơn giản”. Mà kỹ năng ấy, không phải ai làm truyền thông cũng có. Việc này đòi hỏi một quá trình lâu dài, bền bỉ và một Chiến lược truyền thông với những hoạch định cụ thể. Ngoài ra, việc xây dựng một lực lượng nòng cốt, làm hạt nhân cho chiến lược truyền thông cũng là một vấn đề cần quan tâm.
Hơn nữa, muốn REED+ thực sự đi vào cuộc sống, rất cần có các chuyên gia về truyền thông trong lĩnh vực này với cách thức tập huấn được cập nhật thường xuyên cũng như phân chia từng mảng đối tượng thích hợp. Tập huấn chung chung nhưng lại có hiệu quả truyền thông rộng khắp, thay đổi được nhận thức của các đối tượng tham gia là điều không thể. Ngoài ra, với ưu thế của REED +, gắn bó mật thiết với mục tiêu phát triển xanh, tăng trưởng xanh nên rất cần những nhà tổ chức, hoạch định chính sách kết hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí trong cả nước để tăng cường thời lượng, dung lượng truyền thông về REED + và ảnh hưởng của nó trên mặt báo, trên các diễn đàn báo chí.
Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu vừa được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 5/12/2011. Quyết định nêu rõ, BĐKH là thách thức nghiêm trọng nhất đối với toàn nhân loại, ảnh hưởng sâu sắc và làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội toàn cầu. Là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, Việt Nam coi ứng phó với BĐKH là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Trong đó, mục tiêu xây dựng nền kinh tế cácbon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững và nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với BĐKH của các bên liên quan là những vấn đề then chốt. (Tài Nguyên&Môi Trường 20/8) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai vừa có chỉ thị yêu cầu các cá nhân, tổ chức không được mua bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là sản phẩm từ động vật hoang dã có nguồn gốc không hợp pháp.
Các cơ quan, cán bộ, công chức phải nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Công an tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tổ chức kiểm tra, truy quét, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Sở NN&PTNT tỉnh Đồng Nai chủ trì tổ chức kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi săn bắn, mua bán, nuôi nhốt, giết mổ, chế biến, kinh doanh và vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm… (Pháp Luật TPHCM 20/8; Báo Đồng Nai 20/8) đầu trang(
20/8, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé tiến hành thả một số cá thể động vật hoang dã về môi trường cư trú tự nhiên.
Số động vật hoang dã thả về môi trường cư trú tự nhiên lần này do Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé thu giữ của người dân săn bắt trong khu vực rừng bảo tồn, gồm có: 3 cá thể Rùa đầu to có trọng lượng 1,4kg, nằm trong danh lục sách đỏ thế giới, thuộc nhóm IIb sách đỏ Việt Nam, là loài động vật nguy cấp cần được bảo vệ nghiêm ngặt; 1 cá thể khỉ Mốc trọng lượng 2,1kg, thuộc nhóm IIb sách đỏ Việt Nam.
Ngoài ra, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé còn tiến hành tiêu huỷ 3 cá thể khỉ Mốc do bị chết trong quá trình nuôi dưỡng trước khi đưa trở lại môi trường tự nhiên. (Đài PT - TH Điện Biên 21/8) đầu trang(
Ngày 20/8, ông Trần Đăng Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã làm việc với lãnh đạo huyện Kim Bôi về kết qủa thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm 2013.
Theo báo cáo của UBND huyện Kim Bôi, tính đến ngày 30/7, trên địa bàn huyện có xã Trung Bì và Thị trấn Bo cơ bản cấp xong giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân. Toàn huyện còn 6.906,81 ha đất các loại của 26 xã có nhu cầu cấp giấy chứng nhận. Đến nay, đã cấp được 159 giấy chứng nhận, diện tích 20,8 ha đất ở và đất nông nghiệp tại xã Vĩnh Tiến. Toàn huyện có 26 xã đã thực hiện xong việc kê khai, lập hồ sơ và xét duyệt hồ sơ đủ điều kiện, không đủ điều kiện để đề nghị cấp giấy chứng nhận.
Đối với việc tiếp nhận, bàn giao đất nông - lâm trường, huyện đã thực hiện xong việc tiếp nhận, bàn giao đất của Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Hoà Bình với diện tích đất trả lại cho địa phương 774,93 ha, đơn vị giữ lại 300,13 ha. Đối với Công ty TNHH MTV Thanh Hà, huyện đã thực hiện tiếp nhận, bàn giao đất của công ty với diện tích trả địa phương 139,30 ha, diện tích đất giữ lại 264,55 ha.
Tại buổi làm việc, huyện Kim Bôi cũng đã nêu một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, cụ thể: toàn huyện còn 27 xã chưa được đo đạc địa chính chính quy. Việc cấp giấy chứng nhận các loại đất trước đây chủ yếu sử dụng tài liệu, bản đồ theo Chỉ thị 299 và một số tài liệu khác. Hầu hết các thửa đất cần cấp giấy chứng nhận hiện nay chưa có trong bản đồ, việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận chủ yếu là do người sử dụng tư kê khai hoặc đo đạc thủ công.
Phát biểu kết luận buổi làm việc, ông Trần Đăng Ninh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Huyện cần tập trung cấp mới quyền sử dụng đất cho các tổ chức, các hộ nông - lâm nghiệp. Tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thường xuyên rà soát, kiểm tra tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận tại các xã, thị trấn. (Báo Hòa Bình 20/8) đầu trang(
Từ sự quan tâm đầu tư của nhiều chương trình, dự án, chính sách dân tộc, xã Đồng Môn (Lạc Thủy) đã từng bước tìm ra lời giải xóa đói - giảm nghèo. Các tiềm năng về đất rừng, chăn nuôi đang được đánh thức. Xã đã khai thác tiềm năng đất rừng, giải quyết việc làm và cải thiện cuộc sống cho dân.
Trung bình mỗi năm rừng trồng mới được trên 100 ha. Độ che phủ rừng của xã đạt 75%. Hầu như gia đình nào cũng trồng rừng. Mỗi năm, doanh thu từ rừng đạt khoảng 5 tỷ đồng. Chăn nuôi cũng đang là hướng mở cải thiện cuộc sống cho người dân. Hộ nào cũng chăn nuôi trâu, bò và gia cầm. (Báo Hòa Bình 21/8) đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, hiện nay, toàn tỉnh có hàng trăm cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp, cung ứng hàng trăm triệu cây giống phục vụ công tác trồng rừng vụ Thu Đông năm 2013. Tuy nhiên, qua kiểm tra, tại một số địa phương, nhiều cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp không đảm bảo các điều kiện sản xuất, nguồn gốc giống không rõ ràng, kém chất lượng, ảnh hưởng đến công tác trồng rừng của tỉnh.
Để chấn chỉnh tình trạng này, Sở NN-PTNT vừa có văn bản gửi UBND các huyện, thị xã, thành phố đề nghị chính quyền các địa phương phối hợp chặt chẽ với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp. Đồng thời, có biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp kém chất lượng; công bố danh sách các cơ sở sản xuất giống không đảm bảo chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết. (Báo Bình Định 19/8) đầu trang(
Khoảng 4 năm trở lại đây, trên địa bàn xã Khánh Hòa-huyện Lục Yên- tỉnh Yên Bái nổi lên phong trào mở xưởng sản xuất gỗ bóc rừng trồng, nhiều cơ sở cho thu lãi hàng trăm triệu đồng một năm, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động.
Tuy nhiên, với việc ồ ạt mở xưởng của nhiều hộ dân đã dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu, khiến cho hoạt động sản xuất gỗ bóc trở lên thăng trầm.
Những năm 2009-2010, cùng với xu thế phát triển của một số địa phương trong và ngoài tỉnh, xã Khánh Hòa đã nổi lên phong trào mở xưởng sản xuất nghề gỗ bóc. Được biết đến như là một trong những cơ sở đầu tiên hoạt động trên địa bàn xã, cơ sở sản xuất gỗ bóc Hằng Nghinh đã có gần 3 năm tham gia vào lĩnh vực này.
Theo chủ cơ sở, qua khảo sát thị trường nhận thấy, Khánh Hòa là một trong số ít địa phương có đầy đủ tiềm năng để phát triển nghề sản xuất gỗ bóc, bởi hội tụ được những yếu tố quan trọng như: Nguồn nguyên liệu, vị trí giao thông đi lại, đặc biệt là nguồn nhân lực lao động dồi dào ngay tại địa phương.
Với số vốn 600 triệu đồng đầu tư vào máy móc, trang thiết bị sản xuất là đủ để thành lập được một cơ sở gỗ bóc, bước vào hoạt động với hình thức giao khoán sản phẩm cho công nhân nên cơ sở Hằng Nghinh đã thu hút được đông đảo lao động địa phương đến làm việc và có thu nhập tương đối ổn định.
Anh Vi Văn Tình- công nhân xưởng sản xuất gỗ bóc Hằng Nghinh tâm sự: “Làm ở đây có đồng ra đồng vào, nhưng những ngày mưa không đi làm được cũng rất khó khăn, nhất là mấy tháng gần đây do thời tiết mưa nhiều”.
Theo như nhận định của chủ cơ sở gỗ bóc Bùi Thị Hằng thì nghề gỗ bóc có lúc thăng, lúc trầm. Thời gian đầu hoạt động nguồn nguyên liệu dồi dào tại các xã ven quốc lộ 70, với đủ chủng loại gỗ rừng trồng như keo, bồ đề, mỡ…, sản phẩm được các thương nhân trong và ngoài nước ưa chuộng nên sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó.
Tuy nhiên, hơn 1 năm trở lại đây, các xưởng gỗ mọc lên nhiều đã khiến tình hình sản xuất gặp không ít khó khăn, nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, cơ sở phải sang các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ mua nguyên liệu với chi phí đắt hơn nhiều lần; lại đang là mùa mưa nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm.
Cùng chung hoàn cảnh khó khăn như cơ sở Hằng Nghinh, hiện nguồn nguyên liệu cho sản xuất đối với cơ sở của chị Trương Thị Chung cũng đang cạn dần. Được UBND xã Khánh Hòa tạo điều kiện mặt bằng, cho thuê đất, địa điểm, chị Chung đã đầu tư trên 600 triệu đồng để mua máy bóc, nhà xưởng.
Chị Chung cho biết, gần 3 năm nay đi vào hoạt động chưa bao giờ gặp nhiều khó khăn như hiện nay. Cách đây gần 1 năm, cơ sở luôn duy trì từ 15 đến 20 lao động sản xuất, với mức lương dao động từ 3 – 4 triệu đồng/người/tháng. Cùng với đó, sản phẩm gỗ bóc được bạn hàng từ Trung Quốc sang trực tiếp mua với giá cao, do đó trừ chi phí mỗi năm cơ sở cũng thu về hàng trăm triệu đồng.
Song đến thời điểm này, do nguồn nguyên liệu khan hiếm nên nhiều công nhân tạm thời nghỉ việc, sản phẩm bị ép giá đã ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất của cơ sở của chị Chung.
Qua khảo sát, hiện xã Khánh Hòa có 8 cơ sở tham gia sản xuất gỗ bóc, tập trung chủ yếu tại thôn 8, hàng năm các cơ sở đã đóng góp trên dưới 100 triệu đồng tiền thuế, đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 100-120 lao động tại địa phương. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, tại các khu vực như đường Nguyễn Bá Ngọc (tổ 6, phường Trà Bá, TP. Pleiku, Gia Lai), trước Đài Truyền thanh – Truyền hình TP. Pleiku; khu vực đường Lê Duẩn, trước Bệnh viện Hoàng Anh Gia Lai xuất hiện những chiếc xe công nông bán gốc, cành, rễ cây gỗ quý như trắc, dáng hương, cẩm… khiến nơi đây tấp nập người mua, kẻ bán một cách công khai như “chợ gỗ”.
Từ 7 giờ đến 15 giờ hàng ngày là khoảng thời gian “chợ gỗ” họp. Trung bình mỗi lần họp như thế thường có từ 3 – 5 xe, cao điểm có khi lên tới gần chục xe. Theo mỗi xe có khoảng 4 – 5 thanh niên người Jrai, trên mỗi xe chất khoảng 3 – 4 bộ gốc, rễ và khoảng 5 – 6 khúc gỗ có đường kính 30 – 40 cm, dài từ 80 – 120cm, mà theo lời các thanh niên này là để đẽo lục bình, tạc tượng.
Thành phần gỗ cũng khá đa dạng với các loại gỗ quý hiếm như dáng hương, trắc, cà chit đen, bằng lăng… Thế nhưng giá cả lại khá rẻ khi chỉ có từ 2 – 6 triệu đồng cho cả xe vừa gốc vừa gỗ. Chính vì vậy, “chợ gỗ” ngày càng thu hút đông đảo dân chơi gỗ vào săn lùng, tìm kiếm cho mình một khúc gỗ ưng ý với giá quá “hời”.
Trao đổi về công tác xử lý, dẹp bỏ những xe bán gỗ này, ông Nguyễn Nhĩ, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, cho biết: Tình trạng bà con đào gốc rễ, thậm chí tìm chặt cả cây gỗ quý đem bán tại khu vực thành phố đã có từ năm ngoái và Chi cục cũng đã phân công Đội Kiểm lâm tuần tra lưu động rà soát, bắt, tịch thu tang vật và đưa các xe công nông về tạm giữ. Những người bán ở “chợ gỗ” là đồng bào dân tộc thiểu số nên khi bị bắt khó có thể áp dụng chế tài xử phạt hành chính, lại càng khó thực hiện các biện pháp cưỡng chế vật dụng, giam giữ phương tiện, bởi đó cũng là phương tiện phục vụ lao động, sản xuất của họ.
Để giải quyết tình trạng trên, Chi cục sẽ tăng cường hơn nữa công tác tuần tra các địa điểm thường xuyên tụ họp bán gỗ; đồng thời thiết lập đường dây nóng, tạo lập cơ sở nguồn tin thông báo tại chỗ để kịp thời phát hiện và bắt giữ. Ngoài ra, Chi cục sẽ kiên quyết hơn trong xử phạt hành chính, cũng như thu giữ tang vật, phương tiện để răn đe và ngăn ngừa triệt để. (Thiên Nhiên 20/8) đầu trang(
Khi không còn là những “cỗ máy vắt tiền”, hàng nghìn con gấu đang được các chủ trại nuôi nhốt chẳng khác gì lợn, gà. Giá bán mật từ 200.000 đồng/cc đã giảm xuống còn 100.000 đồng và bây giờ là 15.000 - 20.000 đồng/cc. Làng nuôi gấu nổi tiếng một thời, nhộn nhịp bao nhiêu thì nay hiu hắt bấy nhiêu.
Làng Phụng Thượng và thị trấn Phúc Thọ, huyện Phúc Thọ (Hà Nội) từ hơn 10 năm nay là trung tâm nuôi nhốt gấu có tiếng. Trước kia, cảnh mua bán, chích hút mật gấu ở đây rất sôi động, từng đoàn khách ra vào nườm nượp. Nhưng cảnh ấy nay không còn nữa. Làng nuôi gấu rơi vào cảnh đìu hiu, mật gấu rao rẻ như bó rau nhưng cũng không còn đông người tìm đến mua.
Một chủ trại nuôi gấu ở làng Phụng Thượng cho biết, trung bình mỗi ngày, mỗi con gấu ăn hết 5 - 6kg gồm bột ngô, gạo, đậu xanh… và các món ăn phụ. Tính ra, mỗi con gấu ăn hết 30.000 đồng/ngày (chưa kể 10.000 đồng tiền điện, nước, thuê người vệ sinh chăm sóc), một tháng gần 1 triệu đồng. Trong khi một năm chỉ cho hai lần chích rút mật, mức bình quân mỗi túi mật là 200cc (nhiều con do ăn uống kém, lúc chích rút xong chỉ được 70cc) bán giá 20.000 đồng thì chỉ được có 4 triệu đồng cho 6 tháng trời, lỗ nặng.
Nhiều năm trước, làng Phụng Thượng nổi tiếng khắp miền Bắc vì khả năng cung ứng mật gấu. Nổi lên với những trang trại nuôi gấu tầm cỡ, nhà nào ít cũng có 4-5 con, hộ nào có điều kiện thì có tới 40-50 con. Trang trại của vợ chồng bà Lộc từng có 83 con gấu nhốt kín vườn trên nhà dưới, nhưng khi giá mật rớt thê thảm, không kham được, vợ chồng bà đã chuyển giao 14 con cho Trung tâm Cứu hộ gấu Việt Nam, còn lại “phân giao” cho anh em trong làng, xã. Từ bốn người thuê về làm mướn, nay chỉ giữ lại một.
Những chủ trại khác cũng phải chuyển giao gấu cho người khác, hiện chỉ dám nuôi khoảng 2-4 con để cầm cự. Cũng bởi vậy mà vào năm 2008, từng xảy ra vụ việc gây xôn xao, làng Phụng Thượng bỗng “mất tích” hàng chục con gấu khi cơ quan kiểm lâm về kiểm tra. “Mất tích” không phải vì bị trộm mà theo cơ quan điều tra, gấu đã được các chủ trại chủ động sang tay cho các nhà hàng, khách sạn ở TP Hạ Long (Quảng Ninh). Số gấu được chủ trại khai báo “ốm”, “chết” với cơ quan kiểm lâm cũng không ít.
Theo ông Lê Văn Hùng, Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đan Phượng (đơn vị được giao quản lý việc nuôi gấu ở huyện Phúc Thọ), thống kê đến tháng 4-2013 chỉ còn 37 trại với 257 cá thể, nguyên nhân do gấu chết hoặc được chuyển đi nơi khác. Hiện nay, luật vẫn quy định việc chích hút, kinh doanh mật gấu, buôn bán gấu là vi phạm, có thể bị xử phạt tới 7 năm tù. Nhưng người dân đã bỏ ra khá nhiều tiền để mua gấu, đầu tư chuồng trại nên hiện tại vẫn phải lén lút lấy mật để bán, tạo nguồn thu nuôi gấu vì theo quy định họ phải chăm sóc cho tới khi chúng chết.
Nhiều chủ trại cũng cho biết, nuôi gấu hiện nay không còn giá trị, dân đang ôm nợ nhưng khổ nỗi muốn thanh lý cũng không được, vì toàn bộ gấu đã được lực lượng kiểm lâm gắn chip để theo dõi, quản lý. Hàng tháng, kiểm lâm đều xuống kiểm tra. Mất gấu, gấu không có chip thì trách nhiệm thuộc về các hộ nuôi và bị xử lý. Song, nếu được phép bán, bây giờ cũng không ai muốn ôm gấu nữa. Vì thế, bà con chuyển sang đề nghị được chuyển giao gấu lại cho nhà nước, với điều kiện hỗ trợ cho họ ít tiền vốn đã bỏ ra mua gấu. Trong trường hợp vẫn để các chủ trại “bảo tồn” mà giá mật gấu rẻ như cho, điều kiện chăm sóc như hiện nay thì chẳng bao lâu gấu cũng tuyệt chủng.
Hiện nay, số lượng gấu đưa về Trung tâm cứu hộ gấu đặt tại Tam Đảo, đã tăng lên đến 100 cá thể. Theo ông Tuấn Bendixsen, Giám đốc Trung tâm, Trung tâm cũng đang tiếp tục mở rộng để đón nhận, cứu hộ thêm các cá thể gấu nhưng kinh phí cũng không thể thu nhận một lúc hàng nghìn cá thể đang nuôi nhốt ở các trang trại, hộ gia đình như hiện nay được. (An Ninh Thủ Đô 20/8) đầu trang(
Mùa mưa bão đã đến, người dân ở xã ven biển Vinh Hải, huyện Phú Lộc (Thừa Thiên Huế) luôn nơm nớp lo sợ biển tiếp tục xâm thực, ăn sâu vào đất liền. Dù con dân địa phương đã có nhiều giải pháp chống sạt lỡ biển nhưng vẫn không ăn thua. Hàng chục ha rừng phòng hộ trên địa bàn đã bị nước biển đánh ngã tan hoang và có nguy cơ “nuốt” hàng chục ha đất sản xuất của người dân nơi đây...
Chủ tịch UBND xã Vinh Hải nói, bờ biển qua địa bàn bây giờ không còn công trình nào che chắn bảo vệ nên sắp đến tình trạng sạt lở ngày càng gia tăng. Với thực trạng này không bao lâu nữa diện tích ruộng lúa và nhiều diện tích nuôi trồng thuỷ sản của bà con địa phương sẽ nối thông với biển. Lúc đó, Vinh Hải sẽ mất không ít diện tích đất sản xuất, ảnh hưởng đời sống dân sinh của người dân địa phương.
Được biết, mới đây lãnh đạo tỉnh tiến hành kiểm tra tình hình xâm thực của biển tại địa phương. Trước thực trạng nguy cơ xâm lấn của biển, lãnh đạo tỉnh đã quyết định đầu tư tại thôn 3, thôn 4 xã Vinh Hải một hệ thống đê kè chắn sóng dài 400 mét. Một niềm vui đã đến với Vinh Hải, nhưng theo anh Dũng, đó chỉ mới là giải pháp tạm thời. Nhưng về lâu dài, để đảm bảo đời sống, an sinh xã hội cho người dân nơi đây, tỉnh cũng nên quan tâm hỗ trợ xây hệ thống đê kè toàn tuyến dọc biển Vinh Hải; đồng thời khi triển khai tránh mùa mưa bão để công trình được bảo đảm và bền vững hơn. (Tài Nguyên&Môi Trường 18/8) đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa có văn bản chỉ đạo các sở, ngành chức năng của tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố, các đơn vị liên quan tăng cường công tác quản lý, sử dụng đất đai tại các công ty TNHH một thành viên nông-lâm nghiệp và ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu các nông-lâm trường quốc doanh trên địa bàn tỉnh tiến hành rà soát, đánh giá lại hiện trạng quản lý, sử dụng đất của đơn vị so với diện tích đã được Nhà nước giao đất, xác định diện tích đất sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả, diện tích đất sử dụng không đúng mục đích và trái quy định của pháp luật, diện tích không sử dụng, diện tích đất để dân lấn chiếm sản xuất và xây dựng nhà ở.
Qua đó, xác định thực tế toàn bộ diện tích đất không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích và trái quy định của pháp luật nói chung, báo cáo ngành chức năng tổng hợp, đề xuất UBND tỉnh. Đồng thời, tổ chức cắm mốc ranh giới quản lý và sử dụng đất của đơn vị ngoài thực địa, cũng như giải quyết dứt điểm các vụ việc dân lấn chiếm, tranh chấp đất đai với đơn vị.
Các địa phương trong tỉnh Gia Lai không triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các trường hợp lấn chiếm đất nông nghiệp, đất rừng của các nông-lâm trường quốc doanh để sản xuất và xây dựng nhà ở, mua bán và sang nhượng đất trái pháp luật.
Giám đốc các công ty nông-lâm nghiệp và Trưởng các Ban quản lý rừng phòng hộ trên địa bàn tỉnh Gia Lai phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai nếu để xảy ra tình trạng quản lý sử dụng đất trái quy định, tự ý giao đất cho công nhân xây dựng nhà ở, bỏ đất trống không sử dụng, để dân lấn chiếm đất đai. Khi xảy ra tình trạng lấn chiếm đất đai, các đơn vị phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương giải quyết vụ việc ngay từ cơ sở, không để kéo dài gây phức tạp và ảnh hưởng an ninh trật tự, đồng thời báo cáo UBND tỉnh để chỉ đạo kịp thời.
Ngoài ra, UBND tỉnh Gia Lai cũng yêu cầu các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục phổ biến pháp luật về đất đai và công tác quản lý bảo vệ rừng, để nâng cao nhận thức của người dân, đồng thời vận động người dân không lấn chiếm đất đai các nông-lâm trường. Rà soát, đánh giá lại tình hình thiếu đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương, tình hình đói nghèo và có giải pháp giải quyết đất sản xuất, việc làm cho nhân dân theo đúng chính sách pháp luật. (Tài Nguyên&Môi Trường 19/8) đầu trang(
TPHCM đi đầu cả nước trong việc đưa con cá sấu vào chương trình phát triển trọng điểm với nhiều chính sách ưu đãi. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân; đặc biệt là thị trường đầu ra còn bấp bênh đã khiến cá sấu chưa được khai thác đúng với tiềm năng vô cùng to lớn của nó.
Những vùng từng rộ lên phong trào nuôi cá sấu nông hộ như các huyện Củ Chi, Hóc Môn (TPHCM) giờ trở nên đìu hiu vì nhiều người dân dần bỏ nuôi. Trong khi đó, tại một số vùng khác như huyện Bình Chánh vẫn có khá nhiều trang trại chăn nuôi "cá dữ" trúng lớn và tiếp tục mở rộng chuồng trại do biết liên kết nhóm sản xuất và tổ chức làm ăn bài bản...
Ông Nguyễn Sỹ Phước, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Hóc Môn cho biết, lúc phong trào nuôi cá sấu mới có, chúng tôi cũng giúp nhiều bà con đi tập huấn, học hỏi kinh nghiệm với hy vọng sẽ phát triển được loài vật nuôi mới có hiệu quả kinh tế cao. Sau đó, nhiều hộ dân cũng xây dựng, sửa sang chuồng trại và mua giống nuôi thử theo dạng nhỏ lẻ vài chục con/hộ, nhưng chỉ được vài năm thì rơi rớt dần.
Gần đây nhất, toàn huyện Hóc Môn chỉ còn hộ anh Trương Ngọc Minh (ấp 3, xã Đông Thạnh), hộ anh Nguyễn Văn Quang (khu phố 2, thị trấn Hóc Môn) và hộ chị Nguyễn Thị Kiều Oanh (xã Thới Tam Thôn) theo nghề. Nhưng giờ chị Oanh cũng chuyển hết đàn cá sấu về Bình Phước, còn hộ anh Quang mới năm rồi (2012) có cá sấu sổng chuồng do chuồng trại không đảm bảo nên huyện không cho nuôi nữa.
Anh này cũng vừa xin nuôi lại nhưng hồ sơ huyện thấy không khả thi (theo phương án của anh Quang sẽ đầu tư nuôi vịt, trồng lúa, rồi lấy lúa nuôi vịt và lấy vịt cho cá sấu ăn), đất nuôi cũng đi thuê, tài chính cũng yếu nên huyện kiên quyết dẹp.
Ông Phước cũng khẳng định, người chăn nuôi cá sấu nhỏ lẻ gần như bỏ hết vì lúc nuôi, nông dân phải mua con giống giá cao, chi phí cho thức ăn, thuốc thú y, công chăm sóc nhiều, nhưng khi xuất bán thì giá cả bấp bênh, có thời điểm rớt xuống 70.000 - 80.000 đ/kg, kêu bán không ai mua nên chỉ được 1 - 2 vụ là họ dẹp gần hết.
Một số trại lớn như trại của chị Nguyễn Thị Kiều Oanh thì gặp “nạn” khác khi bị một số cơ sở SX dây nịt (thắt lưng) và bóp (ví) da cá sấu đặt hàng, nhưng chỉ một vài năm họ thường xuyên nợ tiền, nhiều thời điểm giá lại rớt quá mạnh nên chị Oanh buộc phải giảm đàn và chuyển hẳn về Bình Phước.
Chính vì thế, trong báo cáo hàng năm của Hội Nông dân huyện Hóc Môn giờ không nói về con cá sấu vì không có mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao, không nhân rộng được. Đây cũng là nghề nguy hiểm vì chỉ cần sơ sểnh là con cá sấu sẽ sổng chuồng gây hại nên nhiều người nghi ngại.
“Giờ chỉ còn hợp tác xã cá sấu giống Nam Bộ (xã Nhị Bình) còn phát triển với khoảng 230 con cá bố mẹ, gần đây ấp nở thành công khoảng 1.000 con cá giống. Nếu thị trường tốt thì có thể chỉ còn xã Nhị Bình có điều kiện để nuôi con cá sấu thương phẩm”, ông Phước nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/8) đầu trang(
Sau khi báo Nhân Dân phản ánh về tình trạng nhiều xe ô tô tải chở gỗ lậu lưu thông trên Quốc lộ 9 đoạn qua huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Trị cùng công an huyện đã tích cực tuần tra, phát hiện nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu, tịch thu tang vật chuyển cơ quan cơ thẩm quyền xử lý. (Nhân Dân 20/8) đầu trang(
Báo Nông Thôn Ngày Nay cùng nhiều cơ quan báo chí từng lên tiếng về tình trạng phá rừng đặc dụng Khâu Tinh ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (thuộc Khu vực bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung). Cứ tưởng sau khi dư luận, báo chí lên tiếng, tình trạng này sẽ bị ngăn chặn, nào ngờ, việc phá rừng ở đây còn trở nên trắng trợn hơn.
Trở lại rừng đặc dụng Khâu Tinh vào những ngày đầu tháng 8 này, PV dễ dàng nhận thấy gỗ nghiến - loại gỗ quý thuộc nhóm 2A vẫn ngày đêm bị lâm tặc triệt hạ vô tội vạ. Nếu sự thật hiển hiện này không bị ngăn chặn, chẳng mấy chốc loại gỗ nghiến quý sẽ sạch bóng ở khu bảo tồn thiên nhiên này.
Gỗ nghiến ở Khu bảo tồn Tát Kẻ - Bản Bung, thuộc địa bàn xã Khâu Tinh lâu nay vẫn bị “trảm” làm thớt, làm con tiện, khung cửa. Nhưng mấy năm gần đây lại rộ lên việc lâm tặc cắt bìu nghiến làm cho rừng nghiến rơi vào tình trạng chết đứng và làm mồi cho những mùa phá rừng năm sau.
Ông Triệu Văn Tuyến (43 tuổi), người dân tộc Tày nói: “Bây giờ mà đi xẻ nghiến lấy gỗ cũng chỉ thu nhập đủ ngày vài bữa rượu thôi. Muốn đổi đời phải biết đường đi tìm bìu nghiến, mà dân chơi hiện nay vẫn gọi là ngọc nghiến.
Thực chất ngọc nghiến chỉ phát triển được ở những cây nghiến khoảng 300 năm tuổi trở lên. Lúc đầu, trên thân cây xuất hiện một vết thương, rồi qua năm tháng vết thương này hình thành một cục gỗ ngày một to lên, rất rắn. Cái bìu nghiến này thường có vân, có lớp tuyệt đẹp. (Nông Thôn Ngày Nay 21/8) đầu trang(
Nhiều ngày qua, rừng phòng hộ ở khu vực các xã Trà Thọ, Trà Trung (huyện Tây Trà, Quảng Ngãi) liên tục bị nhiều người khai thác gỗ trái phép xâm nhập lén lút đốn hạ cây rừng, rồi tổ chức cưa xẻ đưa ra khỏi rừng bằng cách thả trôi theo lòng sông Tang.
Có mặt tại vùng lòng hồ chứa nước Nước Trong, chúng tôi phát hiện rất nhiều điểm tập kết gỗ trái phép dọc sông Tang. Ông Đỗ Văn Của - hạt trưởng Hạt kiểm lâm Tây Trà - xác nhận chuyện nhiều đối tượng phá rừng dọc vùng lòng hồ chứa nước Nước Trong là có.
Tuy nhiên theo ông Của, việc xử lý rất khó khăn do Hạt kiểm lâm Tây Trà không có phươn tiện ghe, thuyền để truy quét “lâm tặc”, lực lượng kiểm lâm địa bàn quá mỏng.
“Hạt sẽ triển khai tuần tra, kiểm tra thường xuyên hơn các địa bàn thuộc vùng lòng hồ, phối hợp với Hạt kiểm lâm Sơn Hà cùng truy quét để chấn chỉnh tình trạng khai thác, mua bán vận chuyển lâm sản này” - ông Của nói. (Tuổi Trẻ 21/8) đầu trang(
Việt Nam được coi là một trong những điểm trung chuyển động vật hoang dã (ĐVHD) trái phép, chính vì thế hoạt động buôn lậu ĐVHD qua biên giới lâu nay vẫn là vấn đề nhức nhối. Vấn nạn này càng khó kiểm soát hơn khi chúng được tiếp tay bởi một bộ phận các lực lượng chức năng khu vực biên giới.
Những ghi chép dưới đây về tình hình buôn lậu ĐVHD tại biên giới Việt – Trung của TS. Scott Roberton – Giám đốc Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) tại Việt Nam – sẽ cho độc giả thấy rõ thêm một khía cạnh của hoạt động buôn bán trái phép này.
Cất giấu trong những khoang chứa của xe tải công-ten-nơ hoặc ngụy trang dưới lớp nhựa phế thải, hải sản và các sản phẩm khác, động vật sống và các bộ phận của chúng được chuyển đi khắp nơi trên thế giới. Từng kiện, từng kiện hàng được bốc dỡ lên những con thuyền ọp ẹp neo đậu tại khu vực sông Ka Long (Móng Cái, Quảng Ninh), trong đó có thể là ngà voi, sừng tê giác, hổ, tê tê hay rùa hoang dã. Có con đã chết, có con còn thoi thóp. Những loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng này không phải đi xa, chỉ cần qua sông thêm 10 m nữa là chúng đã thâm nhập vào Trung Quốc – một trong những thị trường tiêu thụ ĐVHD lớn nhất thế giới.
Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2011 đến tháng 1/2012, Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) – Chương trình Việt Nam đã phối hợp cùng các đối tác địa phương tiến hành hàng trăm giờ khảo sát về việc mua bán các mặt hàng ĐVHD dọc sông Ka Long. Phân tích của chúng tôi cho thấy hơn 90% các mặt hàng mua bán (cả hợp pháp và bất hợp pháp) tại Móng Cái giữa Việt Nam và Trung Quốc được vận chuyển trái phép. Chỉ trong vòng 3 tháng, chúng tôi đã ghi nhận gần 17.000 phương tiện vận chuyển 34.000 lượt hàng nhập vào và xuất ra từ Trung Quốc.
Các loài bị buôn lậu nhiều nhất là tê tê (còn sống, đông lạnh và đã bị cạo vảy), rùa nước ngọt mai cứng và mai mềm, rắn (rắn hổ mang, rắn ráo, trăn), ngà voi, cá sấu, cầy hương, gấu (còn sống và chân gấu), khỉ, tắc kè Tô-kê, sừng tê giác và một lượng lớn các loài chim. Danh sách loài này bao gồm những loài đang được bảo vệ tại Trung Quốc, Việt Nam; loài bị cấm buôn bán trên toàn cầu theo Công ước Buôn bán Quốc tế Các loài Động Thực vật Hoang dã Nguy cấp (CITES); và cả loài đang nằm trong danh mục Nguy cấp và Cực kỳ Nguy cấp của Sách đỏ IUCN.
Dữ liệu thu thập được trên sông Ka Long và kết quả các cuộc điều tra khác của chúng tôi đã hé lộ một thực tế đáng buồn rằng nạn buôn lậu ĐVHD đang lan tràn tại Việt Nam và đẩy ngày càng nhiều loài quý hiếm đến bờ vực tuyệt chủng.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy số lượng các băng nhóm tội phạm có tổ chức chi phối hoạt động buôn lậu ở Móng Cái đã tăng lên nhanh chóng do sự quản lý yếu kém và nạn tham nhũng ở các chính quyền và cơ quan thực thi pháp luật vùng biên giới. Những trùm bảo kê đã tạo điều kiện cho nạn buôn người và ma túy qua biên giới cũng đóng vai trò chủ chốt trong các đường dây buôn bán ĐVHD trái phép, cụ thể là vai trò làm trung gian cho khách hàng Trung Quốc và thương lái người Việt Nam, đồng thời duy trì mối quan hệ chặt chẽ và đút lót cho cơ quan thực thi pháp luật để tránh bị bắt giữ, truy tố và trừng phạt.
Hậu quả tất yếu là công tác truy bắt tội phạm diễn ra rất lỏng lẻo. Từ giữa năm 2006 đến năm 2009 chỉ có 317 vụ vi phạm bị bắt giữ tại Móng Cái, Quảng Ninh; tệ hơn là mới chỉ có 14 vụ bị truy tố hình sự và chỉ một số ít trong đó bị phạt tiền nặng hoặc ngồi tù.
Cho dù vậy vẫn có những dấu hiệu đáng khích lệ để chúng ta hy vọng. Dấu hiệu đầu tiên bắt nguồn từ truyền thông Việt Nam. Các nhà báo rõ ràng đã cho chúng ta thấy sự dũng cảm của họ khi thường xuyên viết bài về những chiến dịch truy quét, đồng thời in các bài bình luận và phóng sự điều tra về tình trạng buôn bán ĐVHD và buôn lậu trên địa bàn thành phố Móng Cái.
Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam cũng thể hiện những động thái quan tâm hơn đến vấn nạn này. Đáng nói nhất là việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành chỉ thị tới các bộ nhằm thắt chặt quy định về thương mại qua biên giới và hành động chống lại các nhóm buôn lậu có tổ chức.
Điều này đã dẫn đến hành động thứ ba diễn ra gần đây và có lẽ đáng khích lệ nhất, đó là: Chính phủ Việt Nam đã trực tiếp chỉ đạo truy quét một nhóm buôn lậu ĐVHD lớn tại Móng Cái, tóm gọn và bắt giữ 20 tên thuộc băng đảng Dũng “Mặt sắt”, tên trùm khét tiếng nhất về buôn lậu ĐVHD và các mặt hàng khác ở khu vực biên giới Việt – Trung.
Mặc dù buôn lậu ĐVHD qua biên giới quốc tế là hành vi phạm tội hình sự ở Việt Nam, song vẫn có một số lượng lớn các đối tượng ở khắp các tỉnh, thành đã vi phạm nhiều lần. Khi bị bắt, hầu như họ chỉ phải trả một khoản tiền phạt tương đối thấp so với số tiền kiếm được, mức phạt hành chính cao nhất có thể lên đến 500 triệu đồng, tương đương khoảng 24.000 USD. Còn để các chuyến hàng phi pháp của mình được vận chuyển trót lọt qua biên giới, thường thì những kẻ buôn lậu phải hối lộ quan chức hàng chục nghìn USD.
Thực tế này một lần nữa khẳng định đẩy lùi nạn buôn bán trái phép ĐVHD qua biên giới là một mục tiêu dài hạn đầy thách thức. Do đó, Chính phủ Việt Nam nên ưu tiên khởi động một chiến dịch lâu dài để phòng ngừa nạn tham nhũng của các quan chức khu vực biên giới bằng cách tìm kiếm và áp dụng hình phạt mạnh và hiệu quả đối với bất kỳ ai nhận hối lộ. Đồng thời cũng cần thiết lập chế độ khen thưởng hợp lý đối với hành động tố cáo tham nhũng, xây dựng các rào chắn dọc bờ sông và lắp đặt các máy quét tia X tại một số trạm hải quan Móng Cái để tăng tỷ lệ phát hiện sai phạm…
Các thành viên của WCS Việt Nam đã và đang nỗ lực giảm thiểu nạn buôn bán ĐVHD trái phép tại đây trong suốt gần một thập kỷ qua. Ngoài việc khảo chứng và chia sẻ thông tin liên quan tới quy mô và động lực thúc đẩy nạn buôn lậu ĐVHD với cơ quan chính phủ cũng như nhiều tổ chức, cá nhân khác, chúng tôi còn tiến hành tập huấn, đào tạo hơn 800 cán bộ thực thi pháp luật trong công tác điều tra và kỹ thuật thực thi; hỗ trợ các cuộc đối thoại song phương giữa Việt Nam và các nước đối tác thương mại chủ chốt. (Thiên Nhiên/Diễn Đàn Doanh Nghiệp 21/8) đầu trang(
Ban Chỉ đạo Tây Nguyên vừa đề nghị Chính phủ, Bộ Công Thương và UBND các tỉnh tạm dừng xây mới các dự án thủy điện ở Tây Nguyên trong năm 2013 và 2014 do có tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống. Tuy nhiên, hiện các sở, ngành tỉnh Đắk Lắk vẫn đang khảo sát để xây dựng thủy điện trong Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin.
UBND tỉnh Đắk Lắk vừa có công văn đề nghị các sở, ngành khảo sát, đánh giá tác động môi trường khu vực xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tour (công suất 5 MW). Trước đó, Công ty TNHH Hoàng Nguyên (TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) đã có công văn xin chuyển đổi mục đích sử dụng 6 ha rừng VQG Chư Yang Sin để xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor tại tiểu khu 1196, 1200 và 1214, là phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt VQG Chư Yang Sin.
Theo chân ông Lộc Xuân Nghĩa, Phó Giám đốc VQG Chư Yang Sin, vào khu vực dự kiến xây Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor, chúng tôi tận mắt chứng kiến những khu rừng nguyên sinh, cây cối chằng chịt với rất nhiều loài động - thực vật quý hiếm. Chỉ tay về khu vực dự kiến xây đập, ông Nghĩa nói: “Giờ thì các anh hiểu vì sao chúng tôi kịch liệt phản đối xây thủy điện rồi nhé! Đây là khu vực có hệ động - thực vật phong phú, đa dạng nhất của vườn”.
Theo ông Nghĩa, VQG Chư Yang Sin có hơn 2.000 loài động - thực vật, trong đó có hàng trăm loài đặc hữu quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Qua điều tra khảo sát, khu vực dự kiến xây dựng thủy điện xuất hiện hầu hết các loài động - thực vật quý hiếm, đặc hữu như: Pơ mu, hồng tùng, thông 5 lá, lan kim tuyến, khướu đầu đen má xám, ếch cây Chư Yang Sin, mang lớn, vượn má hung, chà vá chân đen…
Ngoài ra, các nhà khoa học Nga đã điều tra trong khu vực này còn 8 loài chưa xác định được tên, có khả năng là các loài mới chưa công bố trên thế giới. “Nếu xây dựng thủy điện, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các loài động - thực vật trên, trong đó có khoảng 3 km suối bị khô cạn (nước chảy trong ống áp lực) sẽ làm chết nhiều loài cây cối, thủy sinh có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới” - ông Nghĩa cho biết.
Việc xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái mà còn “đè” lên di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia là hang đá Đắk Tur, thuộc khu căn cứ cách mạng H9 (buôn Đắk Tur, xã Cư Pui, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk). Theo đó, khu vực dự kiến xây đập thủy điện chỉ cách hang đá Đắk Tur chừng 1 km, đường ống áp lực dẫn nước chạy qua cửa hang và khu vực đặt nhà máy chồng lên hội trường Tỉnh ủy Đắk Lắk trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Ông Huỳnh Văn Cần, nguyên bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk, cho biết: Từ năm 1966 - 1975, căn cứ H9 là trung tâm đầu não, nơi ở và làm việc của Tỉnh ủy Đắk Lắk. Những năm cuối của thập niên 1970, địch càn quét ngày đêm nhưng được sự bao bọc của đồng bào bản địa nên nơi đây đã diễn ra thành công nhiều cuộc họp quan trọng và 3 kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk. Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk đang quy hoạch để tái tạo tổng thể khu di tích phục vụ du lịch và giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ.
Theo ông Y Ben Byă, Giám đốc Trung tâm Quản lý di tích tỉnh Đắk Lắk, dự án thủy điện Ea K’tuor nằm gần trọn trong khu căn cứ H9. “Nếu xây dựng thủy điện coi như phá bỏ khu di tích nên chúng tôi kiên quyết phản đối” - ông Y Ben Byă khẳng định.
Trong khi đó, theo ông Đỗ Xuân Dũng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, Bộ Công Thương đã có chủ trương cho phép Công ty TNHH Hoàng Nguyên khảo sát xây dựng thủy điện. Sở NN-PTNT cũng đã cùng các sở, ngành của tỉnh khảo sát để báo cáo UBND tỉnh Đắk Lắk xem xét trong thời gian tới. (Người Lao Động 21/8) đầu trang(
Nhận được tin báo của người dân về một vụ vận chuyển gỗ trái phép trên đường 14E từ Phước Sơn đến Hiệp Đức, ngày 17.8 tại khu vực xã Sông Trà, Hạt Kiểm lâm Hiệp Đức đã chốt chặn, bắt giữ xe tải mang biển kiểm soát 92C-023.18.
Chủ xe là Võ May (trú tại thôn 3, xã Phước Chánh huyện Phước Sơn), do Nguyễn Đức Lạc (SN 1952, trú tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An) điều khiển, vận chuyển gần 6,5m3 gỗ chò trái phép.
Số gỗ trên được giấu dưới lớp thùng phuy chở dầu và tấm bạt nguỵ trang, khoảng 100 hộp gỗ chò. Hạt Kiểm lâm huyện lập biên bản số gỗ trái phép nói trên để xử lý theo quy định của pháp luật.
Gần đây, trên tuyến quốc lộ 14E thuộc địa bàn huyện Hiệp Đức, Hạt Kiểm lâm huyện cũng đát bắt giữ gần 20m3 gỗ vận chuyển trái phép, bằng xe ô tô tải. Những người vận chuyển gỗ lậu thường nguỵ trang dưới các hình thức như: chở gỗ keo, nguỵ trang bằng củ ráy, nguỵ trang bằng xe chở dầu… (Báo Quảng Nam 20/8) đầu trang(
Thanh tra Lâm Đồng cho biết, đã phát hiện nhiều sai phạm tại huyện Lạc Dương trong cuộc thanh tra được tiến hành gần đây với tổng số tiền sai phạm 926 triệu đồng.
Cụ thể, trong công tác quản lý bảo vệ rừng huyện còn để xảy ra nhiều vụ khai thác gỗ trái phép, lấn chiếm đất rừng làm thiệt hại hàng nghìn khối gỗ; tình trạng khai thác thiếc, cát trái phép còn diễn ra trên địa bàn; quản lý đầu tư xây dựng thiếu chặt chẽ, thanh toán khối lượng lớn hơn thực tế thi công.
Kết thúc thanh tra, Thanh tra tỉnh đã ban hành quyết định thu hồi trên 386 triệu đồng từ các khoản nghiệm thu, thanh toán không đúng qui định, đồng thời đề nghị huyện kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm về những sai phạm. Thanh tra tỉnh cũng đề nghị UBND tỉnh sớm phê duyệt phân định đất nông lâm cho huyện trong quản lý bảo vệ rừng. (Báo Lâm Đồng 21/8) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Võ Thanh Phương, sinh năm 1989, hiện ở tại xã Khánh Đông, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa về hành vi vận chuyển 7,276 m3/102 hộp gỗ xẻ trái pháp luật, đồng thời cũng là chủ số hàng lâm sản này, với tổng hai hành vi có mức phạt chung là 80 triệu đồng.
Ngoài ra, tịch thu 7,276 m3/102 hộp; gồm: 6,008 m3/84 hộp gỗ SP nhóm V không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm và 1,268 m3/18 hộp gỗ Gụ mật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA là tang vật vi phạm; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe của ông Võ Thanh Phương trong thời hạn 6 tháng. (Thanh Niên 21/8; Quangngai.gov.vn 20/8) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Tình trạng phá rừng tái diễn ở vườn quốc gia mũi Cà Mau. (Nhân Dân 21/8) đầu trang(
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, hiện toàn tỉnh còn 601 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) lâm nghiệp bị các đối tượng lừa với hình thức “chạy dự án” đến nay chưa thể thu hồi.
Từ khoảng năm 2007, trên địa bàn tỉnh (chủ yếu là ở các huyện miền núi) xuất hiện hiện tượng một số đối tượng về các xã vận động người dân, chính quyền các xã cùng tham gia chạy dự án phát triển kinh tế. Để tham gia chạy các dự án này, các chủ sở hữu giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp hoặc chính quyền địa phương phải nộp giấy chứng nhận QSDĐ (bản gốc) cho những người đấu mối, thu gom.
Ngay sau đó, cơ quan chức năng vào cuộc điều tra, làm rõ các hành vi thu gom giấy chứng nhận QSDĐ trái quy định của pháp luật và một khối lượng lớn đã được thu hồi cho người dân. Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết: Trong số 601 giấy chứng nhận QSDĐ chưa được thu hồi, huyện Lang Chánh 1 tổ chức và 153 hộ gia đình, Ngọc Lặc 36 hộ gia đình, Quan Sơn 103 hộ gia đình, Thường Xuân 298 hộ gia đình, Như Thanh 11 hộ gia đình.
Trước thực trạng trên, ngày 16-8, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn số 6433 chỉ đạo các huyện nêu trên khẩn trương làm rõ nguyên nhân đối tượng thu gom giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp nhưng chưa hoàn trả; có biện pháp xử lý kiên quyết, bảo đảm cho chủ rừng yên tâm sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp, trật tự xã hội ổn định. Đồng thời với việc này, ngành chức năng của tỉnh cùng với các địa phương tuyên truyền các chủ trương đầu tư, thủ tục đầu tư cùng với các chính sách của Nhà nước về trồng rừng; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi thu gom giấy chứng nhận QSDĐ để làm thủ tục đầu tư không đúng quy định của pháp luật... (Báo Thanh Hóa 21/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Na Rỳ đã tiến hành xử lý hành chính gần 80 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Hạt Kiểm lâm huyện đã chuyển các cơ quan chức năng khởi tố 1 vụ với 3 đối tượng; tịch thu nhiều xe máy, cưa xăng và hơn 60 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 240 triệu đồng.
Tại những địa phương có điểm nóng về tình trạng khai thác gỗ như các xã Liêm Thuỷ, Xuân Dương, Cư Lễ, Vũ Loan, Văn Minh, Văn Học..., lực lượng kiểm lâm của huyện Na Rỳ đã tập trung triển khai quyết liệt công tác tuần tra, kiểm tra, tổ chức truy quét, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Huyện cũng đã xây dựng và tích cực thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành trong việc tiếp nhận, giải quyết thông tin tố giác về các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng của quần chúng nhân dân. (Đài PT - TH Bắc Kạn 20/8) đầu trang(
THẾ GIỚI
Các nhà khoa học Mỹ đã vô cùng bất ngờ khi một chú cá mập lớn nhảy lên nuốt trọn chú cá mập nhỏ họ vừa câu được.
Các nhà nghiên cứu đại dương học thuộc Trường ĐH Delaware đã đến vịnh Delaware để bắt những chú cá mập hổ từng được gắn thẻ vệ tinh theo dõi hoặc thu hồi những chiếc thẻ không may bị rơi khỏi người chúng.
Để bắt được nhữ chú cá mập hổ, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra loại mồi hiệu quả nhất là cá mòi. Tuy nhiên, một chú cá mập voi loại nhỏ ham ăn đã không may nhanh chóng mắc câu. Nhưng bất ngờ chú các mập voi này lại bị “kẻ săn mồi tàn ác nhất trong đại dương” nuốt trọn.
Các nhà khoa học tại Trường ĐH Delaware cho biết trên Facebook: “Chú cá mập voi thiếu may mắn đã không thể cưỡng lại chú cá mòi mồi câu và càng không may khi trở thành nạn nhân của một trong những kẻ săn mồi hàng đầu trong vịnh. Chú cá nhám dài khoảng 1 m và lọt thỏm trong miệng của chú cá mập hổ”. (Người Lao Động 21/8) đầu trang(
Đại dương chiếm tới hơn 90% khối lượng nước của hành tinh và là ngôi nhà của hơn một triệu loài từ những loài lớn nhất như cá voi xanh tới những loài kỳ lạ nhất như cá blobfish.
Tuy vậy đại dương và những cư dân của nó cũng không thoát khỏi bị ảnh hưởng bởi con người, với tình trạng đánh bắt cá quá mức, thay đổi khí hậu, và ô nhiễm làm mất ổn định môi trường biển khắp thế giới. Các nhà khoa học biển xem đánh bắt cá quá mức là một trong những mối đe dọa lớn nhất. Theo Điều tra về đời sống biển, một cuộc khảo sát quốc tế kéo dài một thập kỷ về đời sống đại dương hoàn thành năm 2010, ước tính 90% những loài cá lớn đã biến mất khỏi các đại dương trên thế giới, là nạn nhân đầu tiên của việc đánh bắt cá quá mức.
Hàng chục nghìn cá ngừ vây xanh bị đánh bắt mỗi năm ở Biển Bắc trong những năm từ 1930 tới 1940. Ngày nay các vùng biển ở Bắc Âu hầu như không còn thấy bóng dáng của loại cá này. Cá bơn (halibut) cũng chịu chung số phận, biến mất phần lớn ở các biển Bắc Đại Tây Dương trong thế kỷ 19. Nghề cá cũng bị ảnh hưởng, những lưới đánh cá rê còn lại ở Biển Ireland mang về chẳng có gì ngoài tôm và sò. Tình hình này còn tồi tệ hơn ở Đông-Nam Á. Ở Indonesia và Thái-lan, người ta đánh bắt cả cá con và trứng cá, nghiền thành bột để làm thức ăn cho những trang trại nuôi tôm ven biển. Nhà sinh học biển Callum Roberts, Trường đại học York, Anh nói. “Chúng ta cần một môi trường biển đa dạng giống loài, điều đó khiến nó có thể chống chọi tốt hơn với sự biến đổi khí hậu”.
Lưới kéo đáy biển là một trong những biện pháp đánh cá hủy hoại nặng nề nhất môi trường biển. Chiếc lưới rộng khoảng 60 m2 rê trên đáy biển 20 km, lôi theo rùa, san hô và bất cứ thứ gì trên đường đi của nó, giống như chiếc máy ủi đất vậy. Với cách đánh bắt này, những sinh vật biển không mong muốn có thể chiếm tới 90% khối lượng đánh bắt trong một mẻ lưới.
Theo ước tính trong báo cáo năm 2010 của tổ chức Conservation Letter (thuộc Hiệp hội bảo tồn sinh học), một triệu con rùa biển bị giết do đánh bắt trong giai đoạn 1990-2008 và nhiều loài nằm trong danh sách bị đe dọa của Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN). Những người tham gia chiến dịch với sự hỗ trợ của các nhà khoa học biển, đã nhiều lần cố thuyết phục các nước đồng ý với một lệnh cấm quốc tế, với lý do kiểu đánh bắt này hủy hoại các rạn san hô và những loài cá phát triển chậm, có thể mất nhiều thập kỷ để trưởng thành.
Tác động lớn của việc đánh bắt bằng lưới kéo đáy biển biểu hiện rõ nhất ở cá biển sâu. Theo các nhà khoa học biển, loài cá orange roughy hiện số lượng giảm tới 90%. Cá này được tìm thấy ở những núi dưới biển giàu khoáng chất hình thành nên san hô và được xem như trung tâm sinh sản và nuôi dưỡng sự đa dạng sinh vật biển.
Giáo sư sinh học biển Ron O’Dor tại Trường Dalhousie Canada nói trong Điều tra về đời sống biển: Thực tế đáng buồn là con người không nhận ra chúng ta tác động sâu sắc đến đại dương thế nào, nhiều điều chúng ta chưa kịp thấy đã biến mất trước khi chúng ta có cơ hội. Phương pháp đánh bắt này cần bị cấm.
Đại dương hấp thụ tới 1/3 khí thải các-bon đi-ô-xít trong lúc sản sinh tới 50 % lượng ô-xy chúng ta hít thở. Nhưng cái giá phải trả của việc hút nhiều lượng CO2 là ngày càng tăng lượng axit trong nước. Giáo sư O’Dor nói: Hai điều tồi tệ nhất xảy đến với đại dương là sự ấm lên toàn cầu và axit hóa đại dương. Chúng sẽ tạo nên những tác động khủng khiếp tới rạn san hô. Bởi sự axít hóa, san hô không thể phát triển và sẽ bị phân hủy.
Đại dương trở nên axit hóa nhiều hơn 30% từ khi cách mạng công nghiệp bắt đầu vào thế kỷ 18 và được dự đoán sẽ tăng lượng axit tới 150% vào cuối thế kỷ này, theo báo cáo của UNESCO đưa ra năm ngoái. Một rặng san hô ở ngoài khơi biển Na Uy được phát hiện năm 2007 có nguy cơ sẽ chết vào năm 2020. Ước tính gần đây cho rằng, 30% rặng san hô sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm vào năm 2050, bởi tác động của việc axit hóa đại dương và trái đất ấm lên.
Mức axit cao cũng làm gián đoạn khả năng phát triển, tái sinh và thở của các sinh vật biển. Điều tra đời sống sinh vật biển cho biết, sinh vật phù du, những thực vật cực nhỏ sản sinh phần lớn ô-xy của đại dương đã giảm chừng 1% từ 1900. Con số tuy nhỏ nhưng ít người biết rằng đời sống thực vật ảnh hưởng rất lớn tới chuỗi thức ăn của các sinh vật biển khác. Chẳng hạn chim biển thường nghỉ và ăn ở Spitsbergen, một hòn đảo Na Uy gần Bắc Cực nay đã hoàn toàn vắng bóng bởi không còn nguồn thức ăn dồi dào như trước.
Giáo sư bảo tồn sinh học tại trường Oxford, Anh, Alex Rogers nói: Có những điều lớn lao không thể tính đếm bằng giá trị kinh tế được. Chúng ta có thể tính thiệt hại của nghề cá, nhưng sao có thể tính giá trị việc sản xuất ô-xy hay hấp thu các-bon đi-ô-xít của biển?
Các nhà bảo tồn biển cho rằng, ít nhất 30% đại dương cần được đưa vào vùng bảo vệ, nơi đánh cá và khai thác mỏ khoáng có giá trị ở đáy biển phải bị cấm hay hạn chế. Nhà sinh học biển Callum Robert, người giúp hình thành mạng lưới đầu tiên về các vùng bảo vệ biển năm 2010 nói rằng như thế chưa đủ. “Tôi có thể tổng kết: Chúng ta cần đánh cá ít hơn, bằng những cách gây hại ít hơn, ít nước hơn, ít ô nhiễm hơn và bảo vệ nhiều hơn. Chúng ta sẽ phải xây dựng sức sống, sự đa dạng, giàu có, của đời sống biển, tạo cho đại dương khả năng phục hồi chúng cần để vượt qua những giai đoạn khó khăn trước mắt”. (Nhân Dân 21/8) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||