|
Ngày 22 tháng 08 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Nghị định 99 về chính sách chi trả Dịch vụ Môi trường rừng (DVMTR) được ban hành và đi vào cuộc sống hơn 2 năm. Tuy nhiên, các vấn đề về nguồn thu và phương thức chi trả hiện vẫn đang là những “điểm nghẽn” cần được tháo gỡ nhằm thực thi chính sách hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Tại hội thảo Chi trả DVMTR do Tổng cục Lâm nghiệp và Quỹ Bảo vệ Phát triển rừng (BVPTR) Việt Nam tổ chức ngày 20/8, báo cáo của các địa phương cho thấy, nguồn thu DVMTR đang gặp rất nhiều khó khăn do các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ (thủy điện tư nhân) tìm mọi lý do để thoái thác nghĩa vụ chi trả, xin miễn giảm hoặc trì hoãn thanh toán.
Lý do được các nhà máy này đưa ra đó là trong hợp đồng mua bán điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) giá bán chưa được tính toán, bổ sung thêm tiền DVMTR.
Đại diện Quỹ BVPTR Việt Nam cho hay: Hiện nay quy định mức thu nộp tiền chi trả DVMTR cố định đối với các cơ sở thủy điện là 20 đồng/Kw đã không còn phù hợp và không theo kịp với mức độ biến động giá cả sinh hoạt chung, làm ảnh hưởng tới thu nhập thực tế của người làm nghề rừng. Ngoài ra, mức thu nộp 20 đồng/kw theo sản lượng điện thương phẩm của các nhà máy thủy điện trong các năm vừa qua chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với giá bán điện bình quân…
Theo đó, nếu giá bán lẻ điện bình quân có xu hướng tăng liên tục trong các năm (năm 2012 giá bán điện đã tăng 61,64% so với năm 2008) thì tiền chi trả DVMTR so với giá bán điện trong 5 năm qua (2008 - 2012) giảm từ 2,25% xuống còn 1,39% cho thấy sự bất hợp lý trong quy định mức chi trả cố định.
Về bất cập này, Vụ Kế hoạch Tài chính - Tổng cục Lâm nghiệp và Quỹ BVPTR Việt Nam đang kiến nghị Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn phối hợp với Bộ Công Thương và EVN sớm có nghiên cứu, tổng kết đánh giá tình hình thực tiễn chính sách để làm cơ sở đề xuất thay đổi mức chi trả cho phù hợp với tình hình biến động giá cả của thị trường, đảm bảo mức chi trả phù hợp với công sức của người làm nghề rừng.
Để triển khai thực hiện chi trả DVMTR đúng và trúng, cần thiết phải xác định rất chính xác, rõ ràng ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng, hộ gia đình và cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng cả trên hồ sơ quản lý và cả trên thực địa.
Tuy nhiên đây là vấn đề tồn tại lớn nhất liên quan đến quá trình giao đất, giao rừng trước đây và do biến động rất lớn của quá trình quản lý, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất rừng đã và đang diễn ra hiện nay.
Đại diện Vụ Kế hoạch Tài chính - Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: “Đến nay, ngoài tỉnh Lâm Đồng và Sơn La, hầu hết các tỉnh còn lại đều chưa hoàn thành nhiệm vụ này do thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện. Đây được coi là nút thắt chính làm ảnh hưởng đến tiến độ và tỷ lệ giải nhân tiền DVMTR đến các chủ rừng. Trong khi đó, việc không xác định chính xác ranh giới, diện tích mà vẫn vội vàng thực hiện thanh toán, chi trả DVMTR sẽ rất rủi ro và là nguy cơ tiềm ẩn, phát sinh mâu thuẫn, gây mất đoàn kết, khiếu kiện, khiếu nại trong nay mai…”.
Theo đại diện các tỉnh, phương thức chi trả DVMTR sẽ là tâm điểm cần chú ý trong thời gian tới bởi nó sẽ quyết định đến tiến trình thực hiện chính sách. Thực tế tại tỉnh Sơn La cho thấy, trong giai đoạn đầu thực hiện thí điểm, tỉnh này đã phải chi trả trực tiếp đối với hơn 420.319 ha rừng của 51.015 chủ rừng thuộc địa bàn 157 xã trên 9 huyện, thành phố. Do đó đã phải huy động lực lượng đến hơn 3.200 người tham gia vào hệ thống chi trả.
“Với phương thức chi trả trực tiếp này, chúng tôi thấy rất bất cập và bất tiện, đặc biệt với những xã có diện tích rừng lớn, nhiều chủ rừng quản lý, diện tích rừng manh mún dẫn đến tăng chi phí giao dịch và tốn kém thời gian”, đại diện Quỹ BVPTR tỉnh Sơn La cho hay.
Hiện nay, tỉnh Quảng Nam với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đang thực hiện phương thức chi trả theo nhóm hộ tại 5 thôn của xã Mà Cooih. Phương thức này phát huy được ưu điểm là giảm được đầu mối quản lý, giảm chi phí giao dịch, phát huy được quyền dân chủ, tự quyết định của cộng đồng và rút ngắn được thời gian giải ngân.
Kinh nghiệm thực tiễn của các địa phương cho thấy, để chính sách này thực sự đi vào cuộc sống, nguồn tiền DVMTR phải sớm đến được với các chủ rừng, giúp họ an tâm, tin tưởng, tham gia quản lý bảo vệ rừng. Bên cạnh đó chính quyền các địa phương cũng cần quan tâm bố trí các nguồn lực, cân đối ngân sách, thông qua các chương trình, dự án để hỗ trợ công tác rà soát, lập hồ sơ quản lý phục vụ công tác chi trả đến từng chủ rừng. (Kinh Tế Việt Nam 21/8) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Theo Quyết định số 1318 của UBND tỉnh về việc phê duyệt dự án đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giai đoạn 2013-2015, mỗi năm có 500 ha diện tích rừng tiếp tục đưa vào giao khoán bảo vệ.
Theo đó, phạm vi đầu tư của dự án nằm trong lâm phận của Ban Quản lý rừng phòng hộ tỉnh đang quản lý là 10.090 ha. Tổng vốn đầu tư bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ giai đoạn 2013-2015 gần 10 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh.
Mục tiêu của dự án là tạo ra hệ thống rừng có chức năng phòng hộ môi trường bền vững, bao gồm phòng hộ đầu nguồn chống xói mòn, phòng hộ bảo vệ đất ngập nước và phòng hộ ven biển; bảo tồn và phát triển các loại thực vật rừng đặc hữu đang có nguy cơ tuyệt chủng như: Cẩm lai Bà Rịa; giẻ núi Dinh; cẩm liên núi Minh Đạm; dầu long Long Sơn; gõ đỏ, dáng hương; dầu cát, sến cát…
Đồng thời bảo vệ nơi cư trú của các loài động vật rừng, thủy sản; Bảo vệ nguồn gien thực vật, giống cây trồng và các sinh cảnh tự nhiên; Cung cấp nơi du lịch, vui chơi, giải trí và nghiên cứu khoa học… Dự án thu hút khoảng 700 lao động, tương đương khoảng 300 hộ vào làm nghề rừng mỗi năm. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 21/8) đầu trang(
Hiện tượng phá rừng ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị đang ở mức báo động, nhiều khu rừng bị tàn sát để phục vụ các mục đích khác nhau. Trước cảnh những khoảng rừng dần biến mất, nhiều hộ dân ở thôn Đại Thủy, xã Tân Liên, H. Hướng Hóa cùng nhau chung tay để bảo vệ rừng.
Xã Tân Liên là một xã giáp Đường 9 Nam Lào, phần phía bắc là những khoảng rừng thông che chắn. Nhiều năm qua rừng thông đã bị nhiều người tàn phá để phục vụ các nhu cầu xây dựng hay lấy đất rừng làm nương rẫy. Đau lòng trước cảnh đó nhiều hộ dân đã thành lập các tổ tự quản để bảo vệ rừng. Là địa bàn hay xảy ra lũ quét lũ ống, có nhiều mùa nước lũ từ các đỉnh đồi kéo xuống cuốn phăng cả căn nhà nên người dân ở đây thấu hiểu rằng việc giữ rừng là vô cùng quan trọng.
Trưởng thôn Đại Thủy Lê Văn Dũng nói: “Việc giữ rừng là việc làm của tất cả cán bộ và nhân dân trong thôn, nhất là những người hằng ngày tiếp xúc với rừng hay làm nghề rừng. Ở đây chúng tôi là những cộng tác viên của Lâm trường Hướng Hóa, có việc gì là liên hệ với lâm trường ngay. Không để một súc gỗ lọt ra ngoài, nhờ thế mà nhiều năm qua ở đây không có chuyện phá rừng đâu”.
Theo ông Dũng, những năm qua thôn Đại Thủy đã tích cực xử lý nhiều trường hợp phá rừng. Có lần một số đối tượng vào khu vực rừng thông cổ thụ của xã để xẻ gỗ, chúng đóng lán tại những địa hình hiểm trở, không dùng cưa máy mà dùng cưa tay xẻ gỗ để đảm bảo bí mật. Người trong thôn đi rừng phát hiện, thế là huy động cả làng phối hợp với kiểm lâm để đuổi chúng. Do đây chỉ có một tuyến đường nên muốn đưa gỗ về nhà lâm tặc phải vượt qua tai mắt của nhân dân, nhiều lúc chúng gạ gẫm không được chuyển qua đe dọa nhưng “những kiểm lâm không lương” ở đây vẫn kiên quyết đấu tranh không cho chúng mượn đường chuyển gỗ.
Hiện tại đội bảo vệ rừng gồm nhiều thành viên từ trẻ đến già, có sự liên kết chặt chẽ với nhau giữa các thôn trong xã. Nằm dưới sự quản lý trực tiếp của địa phương và thừa lệnh lực lượng kiểm lâm. Mặc dù không thuộc biên chế của lực lượng nào, chưa qua đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ nhưng những đội “kiểm lâm” tự quản lại hoạt động rất tích cực và hiệu quả.
Nói về phương pháp bảo vệ rừng, Nguyễn Văn Tuân tự hào: “Chúng tôi có nhiều cách để trị lâm tặc lắm. Ở đây chúng tôi có hẳn một phi đội chó săn tựa chó nghiệp vụ vậy. Tuy là loài chó cỏ nhưng chúng tôi huấn luyện theo cách riêng nên chúng khá tinh ranh. Quần thảo trong rừng gặp người lạ là chúng báo động cho anh em tuần tra biết”.
Hễ có súc gỗ nào được chuyển bằng xe máy ra đường là người dân cương quyết chặn lại cho bằng được. Nếu nguồn gốc của gỗ không rõ ràng thì lập tức liên hệ với chính quyền địa phương hay kiểm lâm để giải quyết. Lắm khi ông Nguyễn Văn Bồng cùng các thành viên trong đội đi cùng với tổ tuần tra của lâm trường hẳn một tuần liền. Cơm đùm gạo bới thế là lên đường, đối với họ việc ăn núi ngủ rừng là thường tình.
Nhiều gia đình trong đội có hoàn cảnh tương đối khó khăn như anh Nguyễn Văn Huân nhưng không vì thế mà anh lơ là nhiệm vụ của mình hay thỏa hiệp với những kẻ phá rừng. Lắm lúc vợ con đau ốm triền miên, không có tiền viện trạm thế là nhiều kẻ đưa rước muốn lôi kéo anh chung đường với chúng, song anh nhất quyết không đồng ý để lâm tặc có thể tận dụng từng sơ hở để dễ dàng phá rừng.
Trong đợt nhận danh hiệu Thôn văn hóa cấp huyện vừa qua, thành tích nổi bật nhất được UBND H. Hướng Hóa công nhận chính là khả năng tự tổ chức và kiểm soát khu vực rừng thông tại địa bàn Đại Thủy. Nhiều cá nhân được khen thưởng, các thành viên trong đội “kiểm lâm không lương” đều nhận được những lời khen ngợi từ chính quyền và nhân dân. (Công An Đà Nẵng 21/8) đầu trang(
Xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hàng đầu, thời gian qua Chi nhánh Lâm trường Khe Giữa luôn tích cực, chủ động bằng nhiều biện pháp chỉ đạo lực lượng bảo vệ rừng bám sát địa bàn để giữ rừng. Nhờ vậy mà vốn rừng ngày càng tăng trưởng, việc làm, thu nhập của cán bộ nhân viên ổn định, họ yên tâm gắn bó với rừng.
Khó khăn lớn nhất nổi lên trong công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR) ở Lâm trường Khe Giữa là do hầu hết diện tích rừng của đơn vị được phân bố trên địa bàn các xã tập trung số đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Địa phận lâm phần hiện có gần 1.200 hộ dân, với hơn 6.000 nhân khẩu sống rải rác khắp các tiểu khu (đa số là đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều) và có nhiều đơn vị thi công công trình giao thông, công trình dân sinh đóng quân trên địa bàn...
Ý thức BVR của người dân còn hạn chế, tập quán sản xuất "phát, đốt, cốt, trỉa" của người dân chưa được loại bỏ nên tác động tiêu cực của người dân đối với rừng vẫn còn rất lớn. Cá biệt có một số địa phương thực hiện cấp đất sai thẩm quyền cho người dân, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép như ở bản Chuôn (xã Kim Thủy), khu vực bản Km19... Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật và phối hợp với các lực lượng chức năng trong công tác quản lý và BVR còn có phần hạn chế nên chưa làm thay đổi một cách căn bản về nhận thức và thái độ ứng xử của nhân dân đối với công tác quản lý và BVR.
Để BVR có hiệu quả, thời gian qua Lâm trường áp dụng biện pháp giao khoán rừng về tận các tổ, trạm và hộ dân quản lý, bảo vệ đối với những diện tích rừng đã được xác định. Đồng thời củng cố và tăng cường lực lượng cơ động, phối hợp với các đơn vị và chính quyền địa phương trên địa bàn thực hiện các quy định trong công tác quản lý và BVR đối với các khu vực trọng yếu. Lâm trường đã phối hợp khá chặt chẽ với Đồn Biên phòng 597, Đồn 601, Đoàn kinh tế quốc phòng 79-Binh đoàn 15... kịp thời ngăn chặn, xử lý nhiều vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn.
Ông Đinh Xuân Hòa, Phó Giám đốc, Trưởng ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR, của Chi nhánh Lâm trường Khe Giữa được biết: đơn vị có 7 trạm và 1 tổ cơ động với 42 cán bộ công nhân viên thường xuyên phối hợp với tổ công tác của Đồn biên phòng 601, 597 để quản lý BVR, truy quét lâm tặc tại các "điểm nóng".
Riêng trong năm 2012 và 7 tháng đầu năm 2013, lực lượng BVR của đơn vị đã phối hợp bắt giữ 28 vụ khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, thu giữ gần 21m3 gỗ các loại và một số xe máy, xe kéo là phương tiện vận chuyển gỗ trái phép. Định kỳ hàng tháng, quý, năm, đơn vị thành lập hội đồng kiểm tra để đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý BVR, nhằm chấn chỉnh thiếu sót, hạn chế một cách kịp thời...
Một vấn đề nổi lên trong việc BVR ở Khe Giữa trong thời gian qua là có nhiều đối tượng lợi dụng thực hiện Chương trình 134 và Chương trình 167/QĐ-TTg của Chính phủ về việc hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo để khai thác gỗ trái phép. Trong 3 xã miền núi nằm trong Lâm phần của lâm trường quản lý có 131 hộ thuộc diện chính sách được hỗ trợ làm nhà ở. Mỗi hộ làm nhà có nhu cầu khai thác từ 7-10m3 gỗ, nhưng các cơ quan chức năng không quy hoạch khu vực khai thác cho người dân. Theo đó có nhiều người đã lợi dụng khai thác gỗ không chỉ để làm nhà mà dùng để buôn bán, làm cho công tác BVR thêm khó khăn phức tạp.
Qua báo cáo của lâm trường trong năm 2012 và 7 tháng đầu năm 2013, tại địa bàn của lâm trường xảy ra 7 vụ gây rối, chống người thi hành công vụ làm bị thương 2 cán bộ, nhân viên BVR của lâm trường. Mặc dù chịu áp lực như vậy nhưng lực lượng cán bộ, nhân viên BVR của lâm trường không nao núng, ngày đêm bám trụ địa bàn làm tròn trách nhiệm được giao. (Báo Quảng Bình 21/8) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tốc độ tăng trưởng của ngành xuất khẩu gỗ chế biến cả năm 2013 có thể tăng từ 10% -15% so với năm 2012, kim ngạch ước đạt 5,5 tỉ USD.
Cũng theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 7 tháng của năm 2013 xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt trên 2,9 tỉ USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngoài một số thị trường như Đức, Pháp có sự sụt giảm về giá trị nhập khẩu thì các thị trường xuất khẩu truyền thống tiếp tục có mức tăng, như Mỹ (6,4%), Trung Quốc (15,9%), Nhật Bản (19%); Hàn Quốc là thị trường có mức tăng cao nhất với 43%.
Bên cạnh đó, với việc đang dẫn đầu về kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng nội thất từ Việt Nam, Canada hiện được đánh giá là thị trường xuất khẩu đồ gỗ nội thất tiềm năng với các sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam có thể khai thác như ghế khung gỗ, đồ nội thất… (Đảng Cộng Sản VN 22/8) đầu trang(
Sáng 21/8, UBND tỉnh Quảng Bình tổ chức hội nghị công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh ranh giới mở rộng Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng là 123.326 ha, tăng 30.570 ha so với diện tích cũ. Trong đó, có trên 100. 000 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Việc điều chỉnh ranh giới, tăng diện tích Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nhằm bảo tồn nguyên vẹn tính đa dạng sinh học và các giá trị ngoại hạng về địa chất, địa mạo mang tính toàn cầu của khối núi đá vôi Phong Nha – Kẻ Bàng, đồng thời góp phần vào chiến lược quản lý hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. (VOV 21/8; VietnamPlus.vn 21/8) đầu trang(
Tối 20.8, cán bộ Viện Tài nguyên - Môi trường Biển (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam) và nhiều người dân đã không thể chứng kiến cảnh rùa da con nở ra từ ổ trứng tại khu vực biển Bãi Dài (xã Cam Hải Đông, H.Cam Lâm, Khánh Hòa). Nguyên nhân là do các trứng rùa này không có phôi.
Ổ trứng rùa da nói trên nằm trước quán của anh Nguyễn Ngọc Tân ở khu vực biển Bãi Dài. Vào rạng sáng 24.6, gia đình anh Tân phát hiện một con rùa da dài 2 m, thân rộng 1,25 m, trọng lượng hơn 400 kg mắc cạn và bị thương nhẹ nên báo cơ quan chức năng.
Anh Tân phát hiện con rùa da nói trên đã đào ổ đẻ trứng ngay trước quán của mình. Anh Tân vinh dự nhận nhiệm vụ trông coi, bảo vệ ổ trứng rùa và báo cho cơ quan chức năng biết khi có bất kỳ “tín hiệu” gì. Còn con rùa da được thả về biển.
Anh Tân chia sẻ rằng gia đình anh có duyên với rùa biển. Năm 2005, người thân của anh cũng phát hiện một con rùa da dài hơn 2 m, nặng khoảng 500 kg lên bờ. Một số người biết tin đã tìm đến hỏi mua con rùa này, nhưng gia đình đã quyết định không bán và báo cho cơ quan chức năng để thả rùa về với biển.
“Trước kia người dân quê tôi đi biển bắt được nhiều loài rùa, nhưng giờ đây không thấy nữa. Tôi nghĩ rùa biển đang ngày càng hiếm nên muốn thả rùa về với tự nhiên để góp phần chung tay bảo vệ loài vật này”, anh Tân nói.
Thạc sĩ Chu Thế Cường (Viện Tài nguyên - Môi trường Biển), người chuyên nghiên cứu về các loài rùa biển, cho biết theo quy luật sinh sản của loài rùa này thì sau 56 ngày từ khi rùa da đẻ thì trứng sẽ nở. Vì thế, anh đã đến nhà anh Tân và “trực” rùa nở từ nhiều ngày qua.
Tối 20.8, ổ trứng rùa đã quá ngày nở. Với kinh nghiệm trong nghề, anh Cường quyết định kiểm tra ổ trứng và thất vọng khi phát hiện trứng rùa không có phôi.
Anh Cường nhận định: Rùa ở Việt Nam đang bị suy giảm nghiêm trọng, riêng rùa da suy giảm đến 99%. Nguyên nhân chính là do bị đánh bắt quá nhiều. Có thể do vùng biển còn quá ít cá thể rùa da nên con cái không có cơ hội giao phối với con đực, dẫn đến ổ trứng không có phôi. Ổ trứng rùa này có 84 quả và tất cả đều không có phôi nên không thể nở ra rùa con được.
Cũng theo anh Cường, năm 2005, người dân ở Quảng Trị cũng phát hiện một con rùa da lên bờ đẻ trứng. Tuy nhiên, rùa chưa kịp làm ổ đẻ thì đã bị người dân “xẻo” mất bộ phận sinh dục rồi thả xuống biển.
Anh Cường buồn rầu nói: “Rùa da là một trong năm loài rùa biển ở Việt Nam (cùng với vích, đồi mồi, đồi mồi dứa và quản đồng) có nguy cơ tuyệt chủng cao. Phải đến gần chục năm nay mới có một con rùa da lên bờ đẻ trứng và chưa nghe thông tin nào về ổ trứng rùa da nở thành công từ trước đến nay. Vì thế chúng tôi rất nóng lòng chờ đợi rùa con sẽ nở ra từ ổ trứng này. Tuy nhiên, điều kỳ diệu đã không xảy ra. Có thể nói, rùa da ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Việc bảo vệ rùa biển rất khó khăn, cần sự đồng lòng của nhiều người”. (Thanh Niên 21/8) đầu trang(
Đó là chỉ đạo của ông Vương Đình Huệ, Ủy viên T.Ư Đảng, Trưởng ban Kinh tế T.Ư làm Trưởng đoàn tại buổi làm việc với Tỉnh ủy tỉnh Đắk Nông hôm 21/8.
Ông Vương Đình Huệ chỉ đạo: Để người nông dân là chủ nhân thực sự của những thành tựu phát triển nông nghiệp và nông thôn, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ nông dân thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, bảo quản nông sản sau thu hoạch, phát triển kinh tế trang trại và kinh tế tập thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đắk Nông cũng cần sớm thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, nhất là tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nhưng phải giữ được diện tích rừng hiện có. (Báo Đà Nẵng 22/8) đầu trang(
Hàng trăm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp của người dân ở các huyện miền núi Thanh Hóa bị thu gom cho dự án trồng rừng và phát triển rừng có dấu hiệu lừa đảo từ nhiều năm, đến nay vẫn chưa được thu hồi trả lại cho người dân.
Hiện tượng thu gom giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (GCNQSDĐ) xuất hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa từ nhiều năm nay, trong đó chủ yếu là ở các huyện miền núi như: Thường Xuân, Lang Chánh, Như Thanh, Ngọc Lặc và Quan Sơn.
Để thu gom được GCNQSDĐ lâm nghiệp của người dân, một số đối tượng đã về các xã vận động người dân, chính quyền các xã phải nộp bản gốc để cùng tham gia chạy dự án trồng rừng và phát triển rừng.
Sau nhiều năm xảy ra hiện tượng thu gom GCNQSDĐ lâm nghiệp của người dân đến nay vẫn chưa được thu hồi và chưa có cá nhân, đơn vị nào liên quan bị xử lý?
Trước tình hình trên, mới đây, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có công văn về việc ngăn chặn, xử lý việc thu gom GCNQSDĐ lâm nghiệp có hành vi lừa đảo.
Trước đó, Sở NN&PTNT Thanh Hóa cũng đã có báo cáo gửi UBND tỉnh Thanh Hóa. Theo đó đến ngày 30/7, toàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn 601 GCNQSDĐ lâm nghiệp đã bị thu gom đến nay vẫn chưa thu hồi lại được.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo các địa phương, các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện các dấu hiệu thu gom GCNQSDĐ lâm nghiệp của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức và doanh nghiệp để làm thủ tục đầu tư không đúng theo qui định của pháp luật, có biện pháp xử lý, ngăn chặn, tránh để hậu quả xấu xảy ra; đồng thời, tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chủ trương đầu tư, thủ tục đầu tư và chính sách của Nhà nước về trồng rừng, bảo vệ rừng đến tận cộng đồng dân cư.
Chủ tịch các huyện liên quan khẩn trương làm rõ nguyên nhân, đối tượng thu gom số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp nhưng chưa hoàn trả, có biện pháp xử lý kiên quyết, đảm bảo chủ rừng yên tâm sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp, ổn định trật tự xã hội. (Dân Trí 22/8) đầu trang(
Khác với cây keo lai lâu nay chủ yếu được nhân giống bằng hom, giống keo lai mô được nhân giống bằng nuôi cấy mô. Tiến bộ của khoa học kỹ thuật này cho phép tạo ra cây giống lâm nghiệp, sạch bệnh, phát triển khỏe, nâng cao chất lượng rừng trồng.
Trên vườn đồi trồng cây keo lai mô của gia đình anh Lê Đình Tú ở xã Bình Sơn huyện Triệu Sơn. Trong khoảng thời gian gần 20 năm anh Tú trồng chủ yếu bằng cây keo lai sử dụng cây giống giâm hom. Thực tế cho thấy cây keo ươm theo phương pháp giâm hom có một số nhược điểm như không có rễ cọc, chỉ có rễ chùm nên dễ đổ ngã, thân giòn, dễ gãy, thường chẻ ngọn thành 2-3 nhánh, khi gió mạnh dễ bị tướt nhánh. Sau khi trồng chừng 2 năm, cây ra hoa nhưng tốc độ phát triển chậm.
Vốn là người ham học hỏi, chịu khó tiếp cận với khoa học kỹ thuật, thông qua hệ thống khuyến nông anh Tú biết đến giống keo lai mô với ưu thế phát triển khỏe, năng suất vượt trội. Không ngần ngại anh Tú đã liên hệ với công ty cổ phần giống cây lâm nghiệp Thanh Hóa để đưa về gần 5.000 cây giống keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô, về trồng trên diện tích 3 ha, với mật độ 1.600 cây/ha, khoảng cách hàng cách hàng là 3 mét, chăm sóc theo quy trình kỹ thuật của khuyến nông. Đến nay sau gần 1 năm so sánh với với keo lai truyền thống trồng trên cùng chân đất và chăm sóc như nhau, cây keo mô đã cho thấy rõ ưu điểm vượt trội
Hiện nay cây keo giống cấy mô có giá khá cao. Tuy nhiên, cây keo giống cấy mô sinh trưởng nhanh, tỉ lệ cây sống cao, mật độ trồng chỉ 1.600 cây/ha với keo giâm hom là 2.200cây/ha. Như vậy, trên cùng một diện tích, chi phí phải đầu tư thêm cho mua cây giống cấy mô và công trồng không cao lắm, mà hiệu quả thu được là rất lớn. (Sở NN&PTNT Thanh Hóa 20/8) đầu trang(
Với mục tiêu “xanh hóa” những khu rừng nghèo, cải tạo và nâng cao giá trị kinh tế cho trên 20.000 ha đất rừng nghèo kiệt trên địa bàn tỉnh, từ năm 2008 đến nay, nhiều dự án trồng thí điểm cây cao su trên địa bàn huyện Bác Ái, Ninh Sơn được triển khai. Bước đầu đã mở ra triển vọng về hướng đi mới cho các vùng đất khô cằn trong tỉnh.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, tính đến nay, các Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng trên địa bàn tỉnh đã hợp tác với một số doanh nghiệp đầu tư trồng thí điểm được hơn 910 ha cây cao su, chủ yếu trên địa bàn 2 huyện Bác Ái và Ninh Sơn. Để tìm hiểu rõ hơn về các mô hình cây cao su, chúng tôi đã đến tham quan trực tiếp tại các tiểu khu 75, 58a, 58b… xã Phước Tiến (Bác Ái) thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến. Đây là những địa điểm đang được đơn vị triển khai thí điểm và liên doanh hợp tác với Công ty CP TM-DV&SX Đại Phú Quý trồng thí điểm gần 395 ha cây cao su, gồm các mô hình từ 1 đến 5 năm tuổi.
Ông Trần Anh Vũ, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến, cho biết: Lâu nay việc cải tạo các diện tích rừng nghèo trên lâm phần của đơn vị luôn được quan tâm, nhiều loại cây như keo, điều, măng điền trúc… đã được đơn vị chọn cải tạo, chuyển đổi.
Tuy nhiên, các loại cây trên không chịu nổi khí hậu khô hạn kéo dài nên hiệu quả kinh tế giảm. Nhưng đối với cây cao su, từ năm 2008 đến nay, qua trồng thí điểm đã đạt tỷ lệ sống và sinh trưởng khá cao. Đặc biệt khi trồng thử tại một số vùng đất khô cằn nhất thuộc các tiểu khu trên lâm phần của đơn vị, cây cao su phát triển tốt, mức tăng trưởng bề vòng thân cây hằng năm đều lớn hơn so với bề vòng thân cây cao su truyền thống tại các khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.
Được biết, trong tổng diện tích trồng cây cao su (giống khả năng chịu hạn cao PB260 và RRIV4 ) đang được thí điểm trên lâm phần của Công ty Tân Tiến, đa số cây từ 2 năm đến 5 năm tuổi, đều đạt chiều cao bình quân từ 2,5 m đến 6,5 m; đường kính thân cây bình quân vượt từ 2 đến 4 cm so với tiêu chuẩn bề vòng thân cây của Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam. Ngoài ra, 10,8 ha cao su do đơn vị triển khai trồng từ năm 2008 cũng đang bắt đầu tiến hành cho lấy mủ để gửi đến các cơ quan chức năng đánh giá về chất lượng và sản lượng theo độ tuổi. (Báo Ninh Thuận 21/8) đầu trang(
Với gần 2/3 diện tích là đồi núi, trong những năm qua, phường An Tây (TP Huế) đã chủ trương vận động nhân dân bám đất để phát triển kinh tế xây dựng các mô hình trang trại chăn nuôi và trồng trọt nhằm phát triển kinh tế, đồng thời góp phần phủ xanh đất trống đồi trọc.
Các giống cây trồng được ưa chuộng nơi đây chủ yếu vẫn là các giống cây công nghiệp ngắn ngày đem lại lợi ích cao như tràm, keo lai và các giống cây ăn quả như: cam, chanh, măng cụt.... (Đài PT - TH Thừa Thiên Huế 22/8) đầu trang(
Loại mới trong họ sâu tím, có những chiếc lông hình thù đặc biệt bao quanh toàn cơ thể, đã được tìm thấy lần đầu tiên ở vùng rừng rậm Việt Nam.
Phát hiện này được nhà nghiên cứu Ivo de Sena Oliveira và đồng nghiệp thuộc trường đại học Leipzig, Đức nêu ra trong bài viết đăng trên tạp chí Zoologischer Anzeiger.
Loài sâu này cực khó tìm và vẫn còn ít được biết đến do chúng dành phần lớn thời gian giấu mình trong những khu vực ẩm ướt dưới cát, những gốc cây mục hay dưới đá. Làn da của chúng có cấu tạo đặc biệt, nước có thể thấm qua, nên bề mặt da luôn khô ráo. Thường, loài này chỉ rời nơi ẩn nấp của mình vào mùa mưa.
Không giống như loài chân đốt, loài sâu tóm không có xương sống. Cơ thể chúng được tạo thành từ chất dịch, được bao phủ bởi một làn da mỏng.
Loài này có cách săn mồi kỳ lạ. Chúng thường phun ra một loại chất keo từ 2 phần phụ trên lưng lên người kẻ thù. Loại chất lỏng này khiến kẻ thù không thể di chuyển được.
Hóa thạch của loài sâu tím cho thấy chúng không thay đổi mấy từ khi tách ra khỏi những người họ hàng của mình (là tổ tiên của động vật chân đốt) khoảng 540 triệu năm trước.
Loài sâu tím ở Việt Nam được phát hiện lần đầu vào năm 2010 bởi nhà nghiên cứu Thái Trần Bái. Nhưng đây là lần đầu tiên loài này được miêu tả sâu như vậy. (Kiến Thức 22/8) đầu trang(
Trong các tháng đầu năm 2013, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (huyện Thường Xuân) đã triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án, mô hình phát triển kinh tế cho cộng đồng thuộc 5 xã vùng đệm trên địa bàn.
Điển hình như tập huấn nâng cao năng lực sản xuất, nhận thức về công tác quản lý, bảo vệ rừng; xây dựng các mô hình như nuôi nhím, lợn rừng, lợn cỏ, ong mật, trồng rừng thâm canh cây luồng, trám trắng ghép, cỏ voi... đã đem lại hiệu quả thiết thực cho cộng đồng. Riêng mô hình nuôi ong mật cho 20 hộ tại 2 xã Yên Nhân và Vạn Xuân (Thường Xuân), trong 2 tháng đã sản xuất được 250 lít mật ong. Tổng thu nhập ban đầu trị giá 75 triệu đồng, bình quân mỗi hộ tham gia mô hình đạt 3.750.000 đồng/vụ.
Ngoài ra, ban đã tổ chức quy hoạch và thiết lập mô hình khu chăn thả gia súc tập trung tại thôn Hang Cáu (xã Vạn Xuân) với quy mô 37,61 ha. Cụ thể như hỗ trợ thôn thiết kế khu chăn thả, xây dựng hàng rào thép và phát quang tạo đồng cỏ, hỗ trợ 30 hộ gia đình trồng 2 ha cỏ voi cho gia súc; giúp thôn bổ sung quy ước thôn, bản làm cam kết quản lý chăn nuôi gia súc trong cộng đồng. (Báo Thanh Hóa 22/8) đầu trang(
Sở NN-PTNT tỉnh Khánh Hòa vừa có quyết định thi hành kỷ luật cách chức Phó giám đốc Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Khánh Sơn (Khánh Hòa) đối với ông Huỳnh Long Vấn.
Như đã phản ánh, ông Vấn phạm pháp hình sự và bị tuyên phạt một năm cải tạo không giam giữ, bị khai trừ Đảng cách đây nhiều tháng nhưng vẫn tại vị chức vụ Phó giám đốc BQL rừng phòng hộ H.Khánh Sơn. Theo luật, ông Vấn bị cách chức phó giám đốc; quyền và trách nhiệm cách chức thuộc lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Khánh Hòa sau khi bản án có hiệu lực. Tuy nhiên, Sở này không thực thi nhiệm vụ, để sự việc kéo dài gây bức xúc dư luận.
Sau khi báo chí phản ánh, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa yêu cầu UBND tỉnh chỉ đạo xử lý vụ việc theo đúng pháp luật. Ngày 6.8, UBND tỉnh Khánh Hòa có công văn chỉ đạo Sở NN-PTNT tỉnh khẩn trương báo cáo kết quả xử lý về mặt nhà nước đối với ông Huỳnh Long Vấn. (Thanh Niên 22/8) đầu trang(
Một hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng rừng, với thời hạn 50 năm. Nhưng không hiểu sao, nguyên Bí thư Đảng ủy của một xã, lại chỉ đạo “ép” gia đình này thu hồi trả lại đất, để chia cho dân một cách sai luật?.
Trong đơn gửi Báo Gia Đình Việt Nam, bà Tào Thị Xoan, thôn Đồng Ngư, xã Thành An, huyện Thạch Thành, Thanh Hoá cho biết, ngày 1/12/1996, gia đình được UBND huyện Thạch Thành cấp cho một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên số tờ bản đồ K1-L1; số thửa 218; được quyền sử dụng 308.500 m2 đất; mục đích sử dụng trồng rừng; thời hạn sử dụng từ tháng 12/1996 đến tháng 12/2046; giấy chứng nhận đứng tên ông Bùi Văn Đoài, là chồng bà Xoan.
Trong thời gian được cấp đất, gia đình bà Xoan luôn chấp hành mọi quy định của pháp luật. Nhưng đến cuối năm 2009, UBND xã Thành An mở một cuộc họp tại thôn Đồng Ngư và “ép” gia đình bà Xoan trả lại số diện tích đã được cấp 308.500 m2 đất (30,8 ha) cho thôn. Đây là ý kiến chỉ đạo trực tiếp của ông Mạ, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Thành An (nay đã chuyển công tác lên huyện Thạch Thành-P/V”.
Cuộc họp kết thúc, gia đình bà Xoan đã đồng ý chia đất đang sử dụng cho dân và gia đình được sử dụng 1/3 diện tích còn lại. Nhưng có một điều, mà gia đình bà Xoan phân vân về cách chỉ đạo của ông Mạ, cho đến nay vẫn chưa được giải thích. Đó là, ông Mạ thu hồi đất của gia đình theo văn bản chỉ đạo cơ quan nào? Tại sao thu hồi đất của gia đình có sổ đỏ, lại không được kinh phí đền bù? Tại sao nhà ông Mạ cũng có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khoảng 37 ha, lại không bị thu hồi?...
Theo bà Xoan, thực tế gia đình đã bị thu hồi đất 20 ha và đã chia cho các hộ dân trồng rừng từ lâu nay. Còn lại 10,26 ha để lại cho gia đình bà Xoan, nhưng gia đình cũng mới chỉ nhận được 6 ha, còn 4,26 ha như đã hứa trong hội nghị, gia đình vẫn chưa nhận được. Trong khi đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 30,8 ha, gia đình vẫn đang cất giữ và còn nguyên giá trị tính pháp lý. Nếu xảy ra cháy rừng và đóng thuế thì gia đình bà Xoan vẫn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn.
Bà Xoan còn cho biết, “Nếu vì mục đích chung mà lo cho dân, tôi tự nguyện hoàn toàn, nhưng đằng này, nhà ông Mạ cũng có khoảng 37 ha đất, cùng thời điểm được cấp giấy chứng nhận giống như nhà tôi, mà không bị thu hồi. Tại sao, ông lại bắt “ép” thu hồi đất một mình nhà tôi, thật vô lý?”…
Liên quan đến số diện tích của gia đình bà Xoan bị thu hồi và chia cho 23 hộ dân lấy đất trồng rừng. Nhưng không biết UBND xã Thành An đã chia theo cách nào, mà 11 hộ lại có đất để trồng rừng, còn 12 hộ vẫn chưa nhận được đất, nên đã thắc mắc. Theo các hộ, nguyên do là phần diện tích còn lại, đã bị một số hộ gia đình của xã Thành Long chiếm đất trồng rừng, không đòi được. Trong khi đó, địa chính xã lại nói, nếu muốn lấy đất lại, thì các hộ gia đình phải nộp tiền đền bù tài sản hoa màu cho họ, nhưng 12 hộ gia đình đã không đồng ý cách giải quyết này.
Ông Bùi Văn Tỵ, Chủ tịch UBND xã Thành An cho biết, “Chúng tôi đã nắm được nội dung về trường hợp gia đình bà Xoan, trước đây số diện tích của nhà bà Xoan đã được cấp giấy chứng nhận đất, đó là đất hoang hóa bỏ không. Nhưng khi có ý kiến của ông Mạ về thu hồi đất để chia cho dân ở thôn Đồng Ngư, là do gia đình bà Xoan tự nguyện, chứ xã không “ép”. Còn nếu bà Xoan không tự nguyện mà xã “ép” thu hồi đất, rồi chia cho dân là sai luật. Còn về phần 12 hộ dân chưa nhận được đất, thì liên quan đến địa giới hành chính 2 xã Thành An và Thành Long, việc này huyện mới có thẩm quyền giải quyết”… (Gia Đình VN 21/8) đầu trang(
Theo tìm hiểu của PV, dự án thủy điện Ea K’tuor nằm trong quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ đã được UBND tỉnh Đắk Lắk phê duyệt, được Bộ Công Thương cho nghiên cứu đầu tư xây dựng.
Ngày 21-8, phóng viên Báo Người Lao Động tiếp tục liên hệ các cơ quan chức năng và chủ đầu tư Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor về dự án xẻ Vườn Quốc gia (VQG) Chư Yang Sin để làm thủy điện.
Một số tài liệu mà phóng viên có được cho thấy, các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk đã đồng ý cho Công ty TNHH Hoàng Nguyên khảo sát xây dựng Nhà máy Thủy điện Ea K’tuor trong VQG Chư Yang Sin. Cụ thể, ngày 1-8, Sở Công Thương có báo cáo gửi UBND tỉnh cho biết ngày 30-8, sở chủ trì cùng đại diện Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức cuộc họp xem xét điều chỉnh công suất của dự án thủy điện Ea K’tuor từ 7,5 MW xuống 5 MW.
Dự án này nằm trong quy hoạch dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được UBND tỉnh phê duyệt và được Bộ Công Thương cho phép nghiên cứu đầu tư xây dựng. Vì vậy, các sở - ngành đồng ý điều chỉnh công suất để chủ đầu tư tiến hành các thủ tục tiếp theo.
Trước đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk chủ trì phối hợp với đại diện các sở, ngành khảo sát hiện trạng rừng khu vực xây dựng thủy điện. Ngày 25-6, sở này đã có báo cáo gửi UBND tỉnh cho rằng khu vực xây dựng thủy điện thuộc trạng thái rừng trung bình, là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG Chư Yang Sin.
Dự án sẽ ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và khu di tích lịch sử cách mạng cấp quốc gia, hang đá Đắk Tur. Dù vậy, sở vẫn đề nghị UBND tỉnh xem xét cho Công ty TNHH Hoàng Nguyên tiếp tục triển khai dự án, đồng thời yêu cầu chủ đầu tư thực hiện các thủ tục để được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chuyển đổi mục đích 6 ha rừng VQG Chư Yang Sin để làm thủy điện.
Tuy nhiên, trong những lần trả lời phóng viên Báo Người Lao Động, đại diện các sở nói trên đều khẳng định chưa có thông tin gì về dự án. Khi được hỏi UBND tỉnh Đắk Lắk giao Sở Công Thương tỉnh chủ trì cùng các sở, ngành khảo sát, đánh giá và đã báo cáo tỉnh chưa, ông Võ Thanh, Giám đốc Sở Công Thương, cũng nói là chưa.
Ngày 21-8, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Hoàng Đình Tuấn - Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Nguyên, chủ đầu tư dự án thủy điện Ea K’tuor - khẳng định dự án đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Riêng UBND xã Cư Pui và VQG Chư Yang Sin không đồng ý nhưng chẳng ảnh hưởng gì đến dự án vì 2 nơi này không có quyền quyết định.
Ông Tuấn nói: “UBND xã Cư Pui và VQG bảo kê cho lâm tặc khai thác gỗ, săn bắn thú rừng”, nếu công ty đặt nhà máy thì sẽ chặn ngay cửa rừng, coi như chặn đường làm ăn của họ nên họ không đồng ý (?!). Nếu không tin, anh thử vào đó hỏi mua thú rừng, gỗ pơmu giờ nào cũng có”.
Trong khi đó, ông Tống Ngọc Chung, Giám đốc VQG Chư Yang Sin, phản bác: “Sao lại nói chúng tôi bảo kê cho lâm tặc trong khi chúng tôi luôn có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Đó là một sự vu khống trắng trợn, chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề này”.
Lý giải về việc vì sao xây dựng thủy điện trong VQG, ông Hoàng Đình Tuấn cho biết: “Dự án đã được tỉnh phê duyệt. Tỉnh Đắk Lắk mời chúng tôi tới chứ chúng tôi có vẽ ra đâu. Có 5 MW điện mà chỉ mất khoảng 5 ha rừng thì có gì đâu. Ngoài ra, thủy điện không ảnh hưởng gì tới khu di tích lịch sử hết. Theo đánh giá của cơ quan chức năng, đây là một trong những dự án thủy điện hiệu quả nhất nước (?!)”.
Chiều 21-8, trả lời phóng viên Báo Người Lao Động về những vấn đề liên quan đến dự án thủy điện Ea K’tuor, ông Trần Thế Liên, Vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), cho biết chưa có thông tin về dự án. Tuy nhiên, ông Liên khẳng định: “Một dự án thủy điện chỉ có 5 MW mà lại lấy đất rừng đặc dụng ở phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG thì không thể đồng tình”.
TS Đào Trọng Tứ, cố vấn cao cấp Mạng lưới sông ngòi Việt Nam (VRN), cho rằng đối với các dự án thủy điện vừa và nhỏ thì cần cân nhắc lợi, hại vì đầu tư vào các dự án này rất tốn kém, hiệu quả không cao; chưa kể việc đặt ở vị trí xa xôi thì còn phải tính đến đường dây truyền tải, làm đường...
Còn theo ông Trần Viết Ngãi, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, xây thủy điện nhỏ sẽ để lại hậu quả là nạn phá rừng không thể cứu vãn nổi. “Thủy điện từ 5-7 MW thì nên dẹp đi bởi chỉ tổ làm đường cho lâm tặc “mượn gió bẻ măng” phá rừng mà thôi” - ông Ngãi nói.
Cũng theo ông Ngãi, đến năm 2017, Chính phủ sẽ chấm dứt không cho làm thủy điện nữa, còn những thủy điện cỡ 50-70 MW thì Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng Công ty Sông Đà đã làm hết rồi, số lượng như hiện nay là đủ dùng.
“Vì vậy, dự án này không những không giải quyết được nhu cầu bổ sung điện năng mà còn gây nhiều tác hại. Cả khi dự án này không nằm trong VQG Chư Yang Sin thì cũng không nên cho làm” - ông Ngãi quả quyết. (Người Lao Động 22/8) đầu trang(
Rừng đặc dụng Na Hang (thuộc Khu vực bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung) nằm trên địa bàn xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang đang bị lâm tặc ngày đêm chặt phá tàn tạ. Trước đây lâm tặc chỉ khai thác gỗ đinh. Nhưng giờ cây đinh hết rồi, chúng chuyển sang hạ những gốc nghiến ngàn năm tuổi.
Không chỉ bị chặt hạ không thương tiếc, những cây nghiến cổ thụ nơi rừng già khu bảo tồn Tát Kẻ - Bản Bung, thuộc địa bàn xã Khâu Tinh còn bị lâm tặc "làm xiếc" với các thân gỗ nghiến, khiến những cây gỗ quý này trong cảnh sống dở, chết dở. Mấy năm gần đây, mốt chơi bìu gỗ nghiến phát triển, bán được giá cao, nên có những nhóm lâm tặc chỉ đi rừng săn bìu nghiến. Chúng chỉ nhằm vào việc khai thác cái bìu, nên một cây nghiến to, chúng chỉ xem chỗ có bìu là dùng cưa lốc lách vào xẻ phần đó cho đỡ tốn sức và đỡ lãng phí tiền xăng cưa máy.
Do đó, nhiều cây nghiến cổ thụ vẫn đứng đó, nhưng 1 phần, thậm trí cả nửa cây có bìu đã bị chúng xẻ lấy thịt, chính là những phần bìu gỗ có văn hoa đẹp đem đi tiêu thụ. Người dẫn đường liên tục chỉ cho tôi những cây gỗ nghiến bị phanh thây khi còn đang đứng, mới thấy sức tàn phá của nhóm lâm tặc này thật đáng sợ. Anh cũng kể cho tôi nghe chuyện về nhiều cây nghiến đứng ở rất xa vẫn nhìn thấy cành lá xum xuê, nhưng phần gốc đã bị cắt mất một nửa.
Ông Nguyễn Tiến Long, Hạt Phó Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang cho biết, "Chúng tôi đã làm rất quyết liệt, hết sức mình, nhưng chỉ lực lượng Kiểm lâm thì rất khó bảo vệ rừng, mà rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các ngành, cả xã, thôn nữa, mới có thể dẹp bỏ nạn phá rừng". (Tầm Nhìn 22/8) đầu trang(
Chiều 21-8, ông Trần Duy Tấn - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Sông Hinh (Phú Yên) cho biết vừa ký quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội vi phạm các quy định trong khai thác, bảo vệ rừng phòng hộ tại xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, nằm giáp ranh với xã Ea M’Doal, huyện M’Drăk (Đắk Lắk).
Trước đó, lợi dụng địa hình phức tạp, các nhóm lâm tặc đã đổ bộ vào rừng phòng hộ đầu nguồn và tranh nhau triệt hạ tất cả các loại cây gỗ lớn. Đường giao thông vừa san ủi dài hơn 1km, với cây cối, gỗ xẻ nằm ngổn ngang như một “công trường” đang thi công ngay trong rừng.
Ông Đặng Phú Quang, cán bộ Trạm bảo vệ rừng Buôn Đức thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh, cho biết, đến ngày 20-8 đã thống kê lượng gỗ khai thác trái phép là 286 m3 gồm các loại cây chò, huỷnh, trâm... Lực lượng chức năng đã di dời khỏi rừng 42 khúc gỗ hộp, 48 lóng gỗ tròn; hiện vẫn còn 36 cây gỗ đã chặt dài 15-20m, đường kính từ 0,5-1m (chưa cắt ngọn), với tổng khối lượng hơn 210m3 chưa thể vận chuyển ra ngoài.
Theo ông Trần Ngọc Tiên - trưởng Trạm Bảo vệ rừng Buôn Đức (đơn vị quản lý rừng Ea Trol, thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh) - đây là vụ phá rừng lớn có tổ chức.
Ông Võ Trọng Bình - phó giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh - nói: “Tiểu khu rừng 309 Ea Trol nằm giáp ranh với xã Ea M’Doal, huyện M’Drăk, Đắk Lắk, cách nơi làm việc khoảng 50km. Lực lượng của trạm quá mỏng, chỉ có bốn người phải quản hơn 2000 ha rừng phòng hộ”.
Trước tình hình trên, ông Phạm Đình Cự - Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên - vừa ký công văn yêu cầu Công an tỉnh chủ trì phối hợp UBND huyện Sông Hinh, và các đơn vị liên quan khám nghiệm hiện trường, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác gỗ trái phép.
UBND huyện Sông Hinh cũng đã phê duyệt chi 671 triệu đồng để thu gom, vận chuyển hơn 210m3 khai thác trái phép tại tiểu khu 309 xã EaTrol về nơi bảo quản chờ xử lý theo quy định pháp luật. (Tầm Nhìn 22/8) đầu trang(
Thời gian gần đây, người dân sống tại vùng rừng cạn Lâm trường Bồng Lai (Bố Trạch, Quảng Bình) hết sức bức xúc khi lâm trường này chặt hạ rừng đầu nguồn với thân gỗ có đường kính hơn 1m, cao hàng chục mét để trồng cây keo lai.
3 năm trước, Lâm trường Bồng Lai tham mưu cho Công ty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình trình UBND tỉnh phê duyệt vùng rừng đầu nguồn sông Bồng Lai thuộc Lâm trường Bồng Lai quản lý chuyển đổi thành rừng nghèo, phát triển rừng kinh tế, trồng cao su. Từ đó, Lâm trường Bồng Lai phát trắng 70ha rừng đầu nguồn sông Bùng khiến người dân phản ứng vì hệ rừng trên có tác dụng phân lũ, giảm lũ quét, bảo vệ mùa màng hạ du.
Trước sự việc trên, ông Phan Văn Gòn, Chủ tịch UBND huyện Bố Trạch, cho biết: Huyện đã đình chỉ việc phát trắng rừng để chờ xử lý kỷ luật của cấp trên, vì Lâm trường Bồng Lai tự ý phát trắng rừng để trồng keo lai là trái mục đích. Tuy nhiên, khi lệnh đình chỉ ban ra thì lâm trường đã gần như hoàn thành phát trắng rừng đầu nguồn. (Sài Gòn Giải Phóng 22/8) đầu trang(
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Tiên Lãng vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Văn Toán, 63 tuổi và Nguyễn Văn Tuyên, 33 tuổi, cùng trú tại xã Đông Hưng về tội “hủy hoại rừng”. Đây là bài học đắt cho những kẻ coi thường pháp luật.
Vụ việc bắt đầu từ giữa tháng 4/2013 khi 6.300m2 rừng phòng hộ chắn sóng năm ngoài đê biển II thuộc địa bàn xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đang xanh tốt bỗng bị một số người trong gia đình ông Nguyễn Văn Toán, trú tại xã này, chặt phá không thương tiếc.
Nghiêm trọng hơn, ngay sau đó, ông Toán còn thuê cả máy xúc leo qua đê quốc gia, khoanh vùng, đắp bờ biển khu rừng phòng hộ quan trọng của huyện thành một khu đầm nuôi trồng thủy sản có diện tích lên tới 31.000m2. Hành vi trên, dù được ngụy biện rất khéo là “công trình khai hoang, lấn biển” ngay lập tức vấp phải sự phản ứng của chính những người dân địa phương.
Ngày 18/4, cơ quan chức năng của huyện Tiên Lãng đã phải vào cuộc, yêu cầu đương sự đình chỉ ngày việc chặt phá rừng, đào đắp bờ vùng và có biện pháp khôi phục nguyên trạng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Toán vẫn tiếp diễn những hành vi vi phạm như không có chuyện gì xảy ra.
Theo UBND huyện sở tại, hành vi của ông Toán đã vi phạm khoản 1 điều 12, Luật Bảo vệ và phát triển rừng; khoản 9, điều 7, Luật Đê điều, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái, an ninh nông thôn... Các cơ quan chức năng của địa phương cũng đã kiên quyết yêu cầu ông Toán phải khắc phục hậu quả. Bước đầu, gia đình ông Toán đã san lấp trả lại mặt bằng, trồng bổ sung 1.000 cây bần trên diện tích rừng phòng hộ đã bị chặt phá.
Xét hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 189 BLHS, cơ quan CSĐT - Công an huyện Tiên Lãng vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, bắt tạm giam Nguyễn Văn Toán, 63 tuổi và Nguyễn Văn Tuyên, 33 tuổi, cùng trú tại xã Đông Hưng, thuộc huyện về tội “hủy hoại rừng”. Đây là bài học đắt cho những kẻ coi thường pháp luật. (Công An Nhân Dân 21/8) đầu trang(
Khoảng 4 năm trở lại đây, trên địa bàn xã Khánh Hòa, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái nổi lên phong trào mở xưởng sản xuất gỗ bóc rừng trồng. Nhiều cơ sở cho thu lãi hàng trăm triệu đồng/năm, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động địa phương. Tuy nhiên, việc ồ ạt mở xưởng của nhiều hộ dân đã dẫn đến tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu, khiến hoạt động sản xuất gỗ bóc trở nên thăng trầm.
Ông Nguyễn Kim Ba, Chủ tịch UBND xã Khánh Hòa nói: “Trước đây, xã Khánh Hòa có nhiều thế mạnh trong sản xuất gỗ bóc, do vậy nhiều cơ sở đã mọc lên. Theo thống kê của UBND xã, hiện nay toàn xã có 8 cơ sở sản xuất nghề gỗ bóc, tập trung chủ yếu tại thôn 8, hàng năm đóng góp trên dưới 100 triệu đồng tiền thuế, đồng thời giải quyết việc làm cho khoảng 100 - 120 lao động.
Tuy nhiên, do các cơ sở thi nhau sản xuất đã xảy ra tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu, lao động thiếu việc làm, hàng hóa bán chậm, giá thấp… Mặc dù UBND xã đã tạo điều kiện để các cơ sở phát triển, nhưng thực trạng này rất khó giải quyết”.
Trong khi bài toán về nguyên liệu chưa được giải quyết, các xưởng gỗ bóc trên địa bàn xã Khánh Hòa nói riêng và huyện Lục Yên nói chung vẫn tiếp tục mọc lên dẫn tới hệ lụy là: Hiệu quả kinh tế chưa cao, mà gánh nặng trả ngân hàng đã trông thấy trước mắt. (Thanh Tra 22/8) đầu trang(
Ngày 20/8, tại Km 104 QL18 (Hà Khẩu- Hạ Long - Quảng Ninh), Đội Tuần tra kiểm soát giao thông Trung tâm, Công an tỉnh Quảng Ninh kiểm tra xe ôtô khách biển kiểm soát 16N-2194 do Phạm Hữu Long, trú tại Hải Phòng điều khiển đi hướng Hạ Long – Móng Cái, đã phát hiện trên xe vận chuyển 90 cá thể rùa đầu to còn sống, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
Toàn bộ số rùa trên đã được bàn giao cho Đội cơ động - Hạt kiểm lâm Cẩm Phả xử lý theo chức năng.
Loài rùa đầu to có tên khoa học Platysternum megacephalum. Chúng phân bố tại các vùng núi miền Bắc, một phần miền Trung và Tây Nguyên của Việt Nam. Chúng đã được xếp hạng mức độ đe dọa ở bậc R (hiếm gặp ngoài tự nhiên) trong Sách Đỏ Việt Nam. Đôi khi chúng còn được rao bán trên mạng với giá lên đến 500.000 đồng/con, mỗi con nặng chừng 100g. (VOV 21/8; Nhân Dân 22/8) đầu trang(
Tỉnh ủy Khánh Hòa cho biết, đang xem xét xử lý kỷ luật ông Nguyễn Như Thuận - Phó bí thư huyện ủy Khánh Vĩnh vì để vợ chứa 19m3 gỗ bất hợp pháp tại cửa hàng riêng. (Tuổi Trẻ 21/8) đầu trang(
Chỉ trong thời gian ngắn, các nhóm lâm tặc đã lộng hành mở đường, tranh nhau “trảm” hàng loạt các loại cây gỗ lớn với khối lượng lên đến 286m3 tại rừng phòng hộ (RPH) Ea Trol nằm giáp ranh hai tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk.
Ngày 21.8, Trạm Bảo vệ rừng (BVR) Buôn Đức khẳng định, có đơn vị hoặc cá nhân “bảo kê” cho lâm tặc triệt hạ RPH.
Lợi dụng địa hình phức tạp gây khó khăn trong quản lý BVR của lực lượng chức năng, lâm tặc đã đổ bộ vào RPH đầu nguồn và tranh nhau triệt hạ không thương tiếc tất cả các loại cây gỗ lớn. Đường giao thông vừa san ủi dài hơn 1km, với cây cối, gỗ xẻ nằm ngổn ngang giống như đại “công trường” đang thi công ở ngay trong rừng!
Càng đi sâu vào rừng, càng thấy cảnh rừng bị lâm tặc “bức tử” đến rỗng ruột! Điều dễ nhận ra sự bất cập ở đây là, tại khu vực RPH giáp ranh rộng lớn, tỉnh Phú Yên khoanh vùng rừng tự nhiên để quản lý, bảo vệ; trong khi đó tỉnh Đắc Lắc lại “ưu ái” giao cho các đơn vị khai thác trắng để trồng rừng. Vì thế nạn xâm lấn, phá rừng ở vùng giáp ranh Phú Yên càng dữ dội hơn.
Ông Đặng Phú Quang - cán bộ Trạm BVR Buôn Đức thuộc BQL RPH Sông Hinh - cho biết, đã phát hiện số lượng lớn gỗ khai thác trái phép, hiện đã dời khỏi rừng 42 khúc gỗ hộp, 48 lóng gỗ tròn; vẫn còn 36 cây gỗ đã chặt dài 15-20m, có đường kính từ 0,5-1m (chưa cắt ngọn), với tổng khối lượng hơn 210m3 chưa thể vận chuyển được ra ngoài.
Ngày 21.8, ông Trần Ngọc Tiên – Trưởng trạm BVR Buôn Đức (đơn vị quản lý rừng Ea Trol, thuộc Ban Quản lý RPH Sông Hinh) - cho biết, hiện đã thống kê lượng gỗ khai thác trái phép hơn 286,2m3 gỗ, gồm các loại cây chò, huỷnh, trâm thuộc nhóm 3-5. Đây là vụ phá rừng lớn có tổ chức, và chắc chắn có đơn vị hoặc cá nhân nào đó “núp bóng” đằng sau để “bảo kê” cho lâm tặc triệt hạ RPH với quy mô lớn như vậy!
Khi hỏi lực lượng BVR ở đâu, làm gì mà để xảy ra nạn lâm tặc dựng cả lán trại và tàn phá RPH Ea Trol nghiêm trọng như vậy, ông Trần Ngọc Tiên – Trưởng trạm BVR Buôn Đức - phân trần, tiểu khu rừng 309 Ea Trol nằm giáp ranh với xã Ea M’Doal, huyện M’Drăk (Đắk Lắk) nằm cách nơi làm việc khoảng 50km.
Mỗi lần đi kiểm tra, kiểm soát, chúng tôi phải cắt đường rừng đi về mất 2 ngày đêm; còn nếu đi “ké” đường từ xã Ea M’Doal thì cũng mất cả ngày. Trong khi lực lượng của trạm quá mỏng, chỉ có 4 người phải “quản” hơn 2.000ha RPH.
Theo ông Võ Trọng Bình – Phó Giám đốc phụ trách BQL RPH Sông Hinh - mới đây, lực lượng liên ngành của huyện trực tiếp truy quét, kiểm tra hiện trường phá rừng ở tiểu khu 309 và phát hiện 6 người đang khai thác gỗ, cùng một số người khác đang lẩn trốn trong rừng. Khi đoàn công tác thu giữ gỗ, máy cưa... thì bọn chúng dùng dao, rựa uy hiếp, tấn công đoàn.
Dù có đến 8 cán bộ của BQL RPH Núi Vọng Phu (Đắk Lắk) đến hỗ trợ, nhưng vẫn không “ngăn” được lâm tặc chống đối người thi hành công vụ. “Ngăn chặn lâm tặc để BVR ở vùng giáp ranh đang thật sự là một cuộc chiến không cân sức!” - ông Bình nói. (Lao Động 22/8) đầu trang(
Với 80.434 ha rừng, huyện Thường Xuân có nhiều khu rừng tự nhiên ở các xã Yên Nhân, Bát Mọt, Xuân Chinh, Xuân Lẹ còn giàu tài nguyên đang đối mặt với nguy cơ khai thác trái phép gỗ rừng.
Để ngăn chặn tình trạng khai thác rừng nhỏ lẻ tại một số xã, Hạt Kiểm lâm Thường Xuân, cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành liên quan, chủ rừng và người dân trên địa bàn đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp BVR. Từ đầu năm 2013, hạt kiểm lâm đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo các xã trên địa bàn giao đất lâm nghiệp và rừng cho các hộ gia đình BV&PTR. Rừng có chủ thực sự đã hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng khai thác rừng trái phép như các năm trước.
5 trạm kiểm lâm trực thuộc Hạt Kiểm lâm Thường Xuân đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các xã có rừng tự nhiên còn giàu tài nguyên rà soát, thống kê, quản lý chặt các cưa xăng. Hình thức quản lý theo quy ước BVR của thôn, các hộ đưa cưa xăng đến nhà trưởng thôn bỏ vào tủ khóa. Khi có nhu cầu sử dụng chính đáng phải báo cáo cụ thể, rõ ràng và ký cam kết không sử dụng vào việc chặt phá rừng trái phép. Quá trình sử dụng có sự giám sát của chính quyền, cộng đồng thôn, bản và kiểm lâm viên (KLV) địa bàn. Do làm tốt công tác quản lý sử dụng cưa xăng, trong các tháng đầu năm 2013 đã hạn chế được các vụ khai thác rừng trái phép như các năm trước đây.
Ngoài ra, KLV địa bàn đã tham mưu cho UBND các xã đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật BV&PTR để người dân chủ động giữ rừng và phát triển rừng. Đồng thời, tổ chức cho các hộ ký cam kết BVR, phòng cháy, chữa cháy rừng; các trưởng thôn, bản ký cam kết với chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBND các xã ký cam kết với chủ tịch UBND huyện về thực hiện tốt trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp; phối hợp với các tổ chức chính trị, xã hội như MTTQ, đoàn thanh niên, dân quân tự vệ tham gia BVR có hiệu quả.
Các trạm kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan đổi mới công tác trinh sát, phương thức hoạt động tuần tra các vùng rừng còn giàu tài nguyên và biết dựa vào chính quyền, tai mắt của nhân dân, phát hiện và ngăn chặn các đối tượng xấu đưa tiền, hàng hóa lợi dụng, xúi giục người dân đêm tối lén lút vào rừng khai thác gỗ, dùng trâu kéo ra bìa rừng đưa về xuôi tiêu thụ. Công tác quản lý lâm sản, tang vật sau khi xử lý cũng được quan tâm bảo vệ tốt, chế độ xuất, nhập đúng nguyên tắc, đúng quy chế, không để xảy ra thất thoát hoặc thiếu hụt.
Riêng trong 6 tháng đầu năm 2013, Hạt Kiểm lâm Thường Xuân đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm Quế Phong (Chi cục Kiểm lâm Nghệ An) và chính quyền các xã vùng giáp ranh huyện Thường Xuân tổ chức 31 đợt kiểm tra các khu vực rừng giáp ranh, khu vực rừng còn giàu tài nguyên, phát hiện 18 vụ vi phạm Luật BV&PTR, tịch thu gần 44 m3 gỗ các loại, 18,8 kg động vật hoang dã, xử lý theo quy định. Thu nộp vào ngân sách Nhà nước thông qua công tác xử lý gần 209 triệu đồng. (Báo Thanh Hóa 22/8) đầu trang(
Người dân sống ở hẻm 105 đường Lê Lợi, phường 6 (TP.Vũng Tàu) bức xúc phản ánh: Hộ bà Nguyễn Thị Minh Lý, trú tại 105/17 đường Lê Lợi, nuôi cá sấu gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ dân.
Được biết, ngày 30-12-2011, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đăng ký trại nuôi sinh sản, sinh trưởng trồng cấy nhân tạo động, thực vật hoang dã với vật nuôi cá sấu nước ngọt cho hộ bà Nguyễn Thị Minh Lý, mã số trại 08-VTA (thời hạn 5 năm đổi giấy 1 lần).
Ông Nguyễn Hoàng Vân, cán bộ phụ trách nông, lâm, ngư nghiệp phường 6 (TP.Vũng Tàu) cho biết: Năm 2010, UBND phường 6 đã nhận được phản ánh của người dân về việc hộ bà Lý nuôi cá sấu gây ô nhiễm môi trường. Sau đó, chính quyền địa phương kết hợp với Phòng Tài nguyên - Môi trường, Phòng Kinh tế, Hạt Kiểm lâm TP.Vũng Tàu xuống kiểm tra chuồng nuôi cá sấu của hộ bà Lý và đề nghị hộ bà Lý chuyển địa điểm nuôi cá sấu ra khỏi địa bàn khu dân cư để bảo đảm môi trường và tính mạng cho người dân.
Bà Phạm Thị Kim Ngọc, chuyên viên Phòng Tài nguyên - Môi trường TP.Vũng Tàu cho hay, thời gian tới, Phòng sẽ phối hợp với chính quyền địa phương xuống kiểm tra trại nuôi cá sấu nói trên và đưa ra hướng xử lý. (Báo Bà Rịa - Vũng Tàu 22/8) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||