|
Ngày 20 tháng 08 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Để thực hiện mục tiêu, kế hoạch trồng mới 10.000 ha rừng trong năm 2013, các ngành, các cấp liên quan đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp như quy hoạch các nguồn giống, hệ thống vườn ươm bảo đảm đủ giống chất lượng phục vụ trồng rừng; hướng dẫn kỹ thuật trồng mới, cải tạo rừng sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng rừng trồng...
Đến trung tuần tháng 8-2013, các dự án lâm nghiệp, địa phương trên địa bàn tỉnh đã trồng mới được 7.500 ha rừng, đạt 75% kế hoạch trồng mới rừng năm 2013. Nét nổi bật là trong tổng số diện tích rừng trồng mới từ đầu năm 2013 đến nay phần lớn là rừng sản xuất. Cùng với trồng mới rừng, các địa phương, đơn vị đã tập trung chăm sóc 39.200 ha rừng trồng đúng quy trình kỹ thuật nên rừng sinh trưởng, phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt cao; bảo vệ an toàn 562.162 ha vốn rừng hiện có. (Báo Thanh Hóa 20/8)đầu trang(
Vườn Quốc gia Xuân Sơn nằm trên địa bàn huyện Tân Sơn (Phú Thọ), có hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi với kiểu rừng nhiệt đới. Đặc biệt, nơi đây còn tồn tại khá nhiều loài động, thực vật quý hiếm có giá trị trong nghiên cứu khoa học cũng như bảo tồn nguồn gen, đồng thời là điểm đến lý tưởng của du khách ưa khám phá, thích nét đẹp nguyên sơ, hoang dã.
Tuy nhiên, từ khi thành lập đến nay, Vườn Quốc gia Xuân Sơn vẫn chưa có quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng mà mới chỉ dừng lại ở lập dự án đầu tư, do đó thiếu một số nội dung nhiệm vụ trong bảo tồn và phát triển rừng bền vững. Các hoạt động chính mới tập trung vào công tác bảo vệ rừng, phục hồi rừng, xây dựng hạ tầng thiết yếu...; các hoạt động dịch vụ hầu như chưa đóng góp đáng kể. Dịch vụ du lịch sinh thái hiện tại còn sơ sài, quy mô nhỏ lẻ, tự phát và thiếu định hướng nên chưa gây ấn tượng và thu hút khách du lịch.
Để bảo tồn, phát triển bền vững rừng và phát huy tiềm năng, thế mạnh về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học, dịch vụ du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, việc xây dựng quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2013-2020 là hết sức cần thiết nhằm xác định rõ mục tiêu nội dung nhiệm vụ để tổ chức thực hiện.
Công tác bảo vệ rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng, trồng rừng… được thực hiện tích cực, góp phần nâng độ che phủ của rừng Vườn Quốc gia từ 60% (năm 2002) lên 84% (năm 2012); chất lượng các hệ sinh thái rừng ổn định và được bảo vệ tốt hơn; tạo việc làm thường xuyên cho hàng nghìn lao động tham gia vào việc trồng, bảo vệ rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập và đảm bảo an sinh xã hội cho người dân địa phương sống gần rừng; đồng thời làm giảm nguy cơ phá rừng và tài nguyên thiên nhiên.
Mỗi năm, Vườn Quốc gia Xuân Sơn đón từ 5.000-10.000 khách đến làm việc, nghiên cứu, tham quan, trong đó có từ 5-10% khách tham quan du lịch; khách ngủ qua đêm khoảng 700 người. Thời gian tới, khi dự án đường Xuân Sơn - Đền Hùng hoàn thành, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch của vườn. Dự kiến, lượng khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan đạt khoảng 15.000 người vào năm 2015 và 30.000 người vào năm 2020, trong đó có 3.000 - 5.000 người lưu trú qua đêm.
Khi ấy, vườn sẽ đa dạng các loại hình du lịch như: Tham quan học tập, nghiên cứu khoa học và hội thảo, nghiên cứu sinh học, đa dạng sinh học; du lịch sinh thái nghỉ dưỡng, leo núi, thể thao mạo hiểm, thư giãn kết hợp tham quan ngắm cảnh thiên nhiên trong những ngày nghỉ cuối tuần; du lịch tâm linh và cộng đồng: giao lưu văn hóa với cộng đồng các dân tộc...
Ông Trần Đăng Hùng, Phó giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Sơn cho biết: “Những năm qua, chúng tôi xác định công tác quản lý, bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm. Do vậy, vườn đã chủ động đưa ra các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả; ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; nhận thức của cộng đồng được nâng cao thông qua các lớp tuyên truyền, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nhờ đó, rừng được tăng cả về số lượng và chất lượng.
“Vườn Quốc gia Xuân Sơn đã phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng và thực hiện một số đề tài, công trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn như: Bảo tồn gà chín cựa, gà Lôi trắng; sưu tầm và lưu giữ mẫu vật các loài thực vật quý hiếm... Việc ứng dụng kết quả nghiên cứu không những góp phần bảo tồn nguồn gen quý của quốc gia mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, hướng đến quản lý rừng bền vững”, ông Hùng nói. (Kinh Tế Nông Thôn 19/8)đầu trang(
Với quan điểm nhận thức đúng đắn, để triển khai thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trước hết phải tạo được sự đồng thuận của cộng đồng dân cư, năm 2005, Đảng uỷ xã Minh Hòa (huyện Yên Lập) đã ban hành nghị quyết chuyên đề và xây dựng kế hoạch hành động nhằm từng bước chấn chỉnh công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phương và triển khai quán triệt tới các chi bộ, các tổ chức đoàn thể xã hội, lấy ý kiến đóng góp của từng cán bộ đảng viên, các hội viên để xây dựng chương trình hành động cụ thể, sát thực với điều kiện thực tiễn của địa phương.
Trong công tác tuyên truyền, chính quyền xã không những thực hiện tốt công tác phối hợp với lực lượng kiểm lâm để tuyên truyền tới các chủ rừng, các hội viên của các tổ chức đoàn thể xã hội, mà công tác tuyên truyền đã được mở rộng, lồng ghép trong các bài giảng của các nhà trường, tạo bước chuyển biến về nhận thức để các em tự giác thực hiện, đồng thời giám sát công tác bảo vệ rừng ngay trong mỗi gia đình.
Cùng với việc đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về công tác quản lý bảo vệ rừng, trên cơ sở bám sát các nội dung theo tinh thần nghị quyết của Đảng, UBND xã Minh Hoà đã thành lập ban chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ rừng của xã, các tổ đội phòng chống cháy rừng ở các khu dân cư, trong đó phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên.
Thông qua các biện pháp cụ thể, sát thực và với sự vào cuộc trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền cơ sở, sự đồng thuận của đông đảo người dân, công tác quản lý bảo vệ rừng ở Minh Hoà đã có những chuyển biến rõ rệt, tình trạng khai thác rừng trái phép đã không còn xảy ra, nhiều năm trở lại đây Minh Hoà không để xảy ra hiện tượng cháy rừng, quản lý bảo vệ rừng để hưởng lợi từ rừng đã thực sự trở thành một phong trào thi đua sâu rộng trong cộng đồng dân cư ở các thôn bản vùng cao.
Hiện nay, 100% các khu dân cư ở Minh Hoà đều thành lập được các tổ đội phòng chống cháy rừng, có quy chế hoạt động cụ thể để chủ động đối phó với các nguy cơ tác động làm ảnh hưởng tới quá trình phát triển bền vững của rừng. Đặc biệt đối với trên 200 ha diện tích rừng tự nhiên khu vực lòng chảo, UBND xã đã thành lập 1 tổ bảo vệ rừng chuyên trách với 15 người tự nguyện tham gia, đội được chia làm các tổ, mỗi tổ chịu trách nhiệm trông coi rừng 2 ngày 2 đêm và trực để kịp thời theo dõi mọi diễn biến của rừng.
Với điều kiện là một xã nghèo, nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp, tuy nhiên do nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý bảo vệ rừng trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương, vì vậy mỗi năm UBND xã Minh Hoà đã trích trên 40 triệu đồng để hỗ trợ công tác bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, trung bình mỗi ngày công trông coi bảo vệ được hưởng 25.000 đồng. Số kinh phí tuy nhỏ nhưng vì lợi ích chung của cả cộng đồng nên mọi người tham gia hoàn toàn tự giác.
Qua thực tế cho thấy, nhờ thực hiện tốt công tác bảo vệ diện tích rừng tự nhiên khu vực lòng chảo nên những năm gần đây Minh Hoà đã khắc phục được tình trạng hạn hán kéo dài làm ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, nhiều diện tích trước đây thường xuyên phải bỏ hoang do không chủ động được nguồn nước tới nay không những sản xuất được 2 vụ ăn chắc mà còn có điều kiện trồng các loại cây vụ đông nhằm giải quyết vấn đề về an ninh lương thực của địa phương. (Báo Phú Thọ 19/8)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
15/8, Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thị xã để kiểm điểm kết quả trồng rừng 8 tháng đầu năm 2013.
Với kế hoạch thực hiện 12.500ha rừng trồng mới trong năm 2013, toàn tỉnh đã thiết kế được 14.768ha, đạt 118% kế hoạch. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh đã trồng được 11.506ha rừng từ các nguồn vốn, đạt 92% kế hoạch; trong đó: Rừng sản xuất là 8.556ha, rừng phòng hộ là 828ha, rừng phân tán là 1.832ha, các doanh nghiệp thực hiện được 289,5ha, Chi cục Lâm nghiệp thực hiện được 9,73ha.
Huyện Bạch Thông là đơn vị đầu tiên của tỉnh hoàn thành diện tích rừng trồng mới theo kế hoạch giao đúng khung thời vụ. Đến ngày 30/6/2013, huyện Bạch Thông đã thực hiện được 1.701ha rừng trồng mới, đạt 106% kế hoạch. Sau Bạch Thông, hiện đã có một số đơn vị trồng xong rừng gồm: Chợ Mới (đạt 93% kế hoạch), thị xã Bắc Kạn (đạt 91% kế hoạch), Công ty TNHH Phúc Lộc, Chi cục Lâm nghiệp.
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo tỉnh, tổng diện tích rừng đã trồng đang trong chu kỳ chăm sóc trên địa bàn tỉnh (từ năm thứ hai đến năm thứ tư) là 22.538ha, gồm: 1.008ha rừng phòng hộ, 21.530ha rừng sản xuất. Hiện nay, các Ban Quản lý dự án trồng rừng cơ sở đang hướng dẫn các hộ trồng rừng chăm sóc theo quy trình kỹ thuật. Theo chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao, diện tích rừng giao khoán, bảo vệ năm 2013 là 155.000ha, diện tích khoanh nuôi tái sinh tự nhiên là 110.000ha. Từ đầu năm đến nay, những diện tích rừng được giao khoán, bảo vệ tốt, không có tình trạng cháy rừng xảy ra.
Đối với việc triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đang được UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu UBND tỉnh ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức thực hiện tại các địa phương.
Những khó khăn trong công tác bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 là: Thiếu vốn; tiến độ trồng rừng chậm so với khung thời vụ; tiến độ giải ngân của các Ban Quản lý ở cơ sở còn chậm; công tác tuyên truyền tại một số nơi chưa có hiệu quả; dịch sâu ong hại cây mỡ trên địa bàn các huyện Bạch Thông, Na Rì, Chợ Đồn và dịch sâu róm tại Ngân Sơn, Ba Bể khiến người dân lo ngại trong việc đăng ký kế hoạch trồng rừng…
Tại Hội nghị, các địa phương đã kiến nghị với Ban Chỉ đạo tỉnh một số vấn đề về: Bổ sung kinh phí để trả tiền nhân công trồng, chăm sóc rừng; có biện pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền; mở đường lâm nghiệp; việc giao kế hoạch trồng rừng hàng năm phải sát với thực tế địa phương; nghiên cứu biện pháp giải quyết dịch sâu bệnh hại rừng, đặc biệt là sâu ong hại trên cây mỡ và sâu róm hại trên cây thông…
Năm 2014, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục đề ra kế hoạch thực hiện trồng mới 12.500ha rừng, gồm: 520ha rừng phòng hộ, đặc dụng, 10.380ha rừng sản xuất, 1.600ha rừng trồng phân tán; khoán bảo vệ rừng 80.070ha; khoanh nuôi tái sinh 29.413ha; chăm sóc 938,68ha rừng phòng hộ, đặc dụng và 31.830,01ha rừng sản xuất.
Kết luận cuộc họp, ông Nông Văn Chí- Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Trong 8 tháng đầu năm 2013, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm. Công tác trồng rừng có sự chỉ đạo sớm cùng nhiều điều kiện thuận lợi; tính đến nay, toàn tỉnh đã thực hiện đạt 92% kế hoạch. Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong thời gian quan chưa đáp ứng yêu cầu khi diện tích rừng trồng chưa hoàn thành kế hoạch, còn để xảy ra nhiều vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do các địa phương chưa quyết liệt, sát sao trong công tác chỉ đạo nên một số nơi đăng ký thực hiện với diện tích lớn nhưng không trồng, giải ngân chậm tiến độ.
Ông Chí đề nghị các địa phương chấm dứt trồng rừng trong tháng 8/2013, những diện tích nào không trồng được chuyển sang năm 2014; tổ chức chăm sóc, tra dặm diện tích đã trồng trong vụ năm 2012 và vụ 2013 ngay trong tháng 8/2013 để đảm bảo tỷ lệ cây sống, đủ điều kiện nghiệm thu; tổ chức giải ngân đảm bảo tiến độ…
Đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng, các địa phương cần tiếp tục và quyết liệt hơn trong việc thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 2/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh với nhiều biện pháp khác nhau; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trực tiếp là Chi cục Kiểm lâm) cần đánh giá lại việc thực hiện quy chế quản lý cưa xăng, búa kiểm lâm và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả hơn; giao Chi cục Kiểm lâm tổ chức Hội nghị về quản lý, bảo vệ rừng trong tháng 9 tới để xây dựng nhiệm vụ bảo vệ rừng trong mùa khô 2013 - 2014.
Để chuẩn bị cho vụ trồng rừng năm 2014, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu lãnh đạo các huyện, thị xã rà soát lại từng dự án của địa phương, sớm báo cáo để thường trực các huyện, thị ủy xác định diện tích trồng rừng mới năm 2014. Riêng đối với trồng rừng phân tán, các huyện, thị xã chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội của địa phương, đặc biệt là tổ chức Đoàn thanh niên. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các Ban Quản lý dự án trồng rừng cơ sở chủ động cơ cấu giống ngay từ bây giờ; phối hợp với Ban Quản lý dự án các huyện, thị xã tham mưu cho chính quyền tạm giao kế hoạch trồng rừng năm 2014 cho các địa phương…
Yêu cầu các địa phương sớm hoàn thành quy hoạch đường lâm nghiệp để làm cơ sở huy động vốn, phân bổ vốn tổ chức thực hiện; rà soát lại các dự án trồng rừng trên địa bàn, nếu dự án nào không thực hiện theo luật thì báo cáo UBND tỉnh thu hồi giấy phép đầu tư; Sở Tài nguyên và Môi trường cần đôn đốc các đơn vị thực hiện việc cấp giấy quyền sử đất cho người dân… (Báo Đăk Nông 18/8) đầu trang(
17/8, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã khảo sát tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam được thành lập năm 1988 trên cơ sở sáp nhập Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng và Viện Nghiên cứu Kinh tế Lâm nghiệp. Từ năm 2008 đến nay, hoạt động của Viện chủ yếu là nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực: giống cây lâm nghiệp; quy trình sản xuất, chế biến lâm sản. Qua đó, thực hiện được 27 nhiệm vụ cấp Nhà nước, 121 nhiệm vụ cấp Bộ, 59 nhiệm vụ cấp cơ sở.
Tại cuộc làm việc, Viện đã nêu một số khó khăn trong hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lâm nghiệp như: hệ thống các phòng thí nghiệm chưa được đầu tư nhiều; các tiến bộ kỹ thuật được tạo ra chậm được triển khai, nhân rộng vào sản xuất...; đề nghị tạo cơ chế để Viện có thể thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu thường xuyên (đề tài cấp cơ sở), điều chỉnh cơ chế chi tiêu theo hướng đơn giản hơn về thủ tục để Viện có thể đầu tư nâng cao chất lượng phòng thí nghiệm, tập trung cho nghiên cứu cơ bản.
Đánh giá cao những kết quả mà Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đạt được trong 5 năm qua; ghi nhận những kiến nghị của Viện là khá sát với thực tế của ngành lâm nghiệp. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường bày tỏ băn khoăn trước thực trạng nhiều giống cây quý có giá trị cao chưa được phát triển, nhân giống.
Thường trực Ủy ban đề nghị, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và các đơn vị trực thuộc cần chú ý đến việc chuyển giao công nghệ đến các vùng núi sâu, vùng xa, nhất là việc nghiên cứu và ứng dụng các kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng kinh tế, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho hộ trồng rừng ở các khu vực này. (Đại Biểu Nhân Dân 18/8)đầu trang(
16-8, Ban Pháp chế HĐND tỉnh do ông Trần Quang Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh, làm trưởng đoàn, đã tiến hành giám sát về công tác quản lý và sử dụng đất tại Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ Lang Chánh.
BQL rừng phòng hộ Lang Chánh được UBND tỉnh giao quản lý, bảo vệ và sử dụng 8.899 ha rừng và đất lâm nghiệp. Thực hiện chủ trương bảo vệ, phát triển rừng, trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng và sản xuất lâm nghiệp của đơn vị đã có nhiều chuyển biến theo hướng chuyển dần từ khai thác sang chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ gắn với phát triển rừng kinh tế. Từ năm 2007 đến nay, đơn vị đã trồng mới được 999,38 ha rừng; trong đó, có nhiều mô hình trồng rừng thâm canh có bón phân cho hiệu quả kinh tế cao.
Đặc biệt, đối với diện tích rừng trồng phòng hộ không thuộc đối tượng giao khoán theo Nghị định 135/NĐ-CP của Chính phủ, đơn vị đã áp dụng giao khoán theo công đoạn với diện tích 1.323,958 ha, với 368 hộ nhận khoán được hưởng lợi theo Quyết định 343/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa...
Với sự linh hoạt trong quản lý, giao khoán đất lâm nghiệp đã góp phần giúp các hộ nhận khoán tham gia sản xuất lâm nghiệp từng bước có thu nhập khá từ nghề rừng, đồng thời, tăng độ che phủ của rừng từ 93,54% (năm 2006) lên hơn 98,5%. Ngoài ra, hàng năm ban còn phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Lang Chánh, chính quyền các xã trong huyện tổ chức tuần tra bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ vậy, công tác bảo vệ rừng luôn được bảo đảm, an ninh rừng ổn định, không có cháy rừng xảy ra.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tại buổi giám sát, các thành viên Ban Pháp chế HĐND tỉnh và các đại biểu tham dự buổi giám sát cũng đã thảo luận chỉ ra những mặt tồn tại, hạn chế mà BQL rừng phòng hộ Lang Chánh cần khắc phục trong thời gian tới như: công tác cắm mốc giới giữa các loại đất rừng, hiện tượng giao đất trùng với diện tích đã giao cho dân theo Nghị định 02.
Phát biểu kết luận buổi giám sát, ông Trần Quang Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Trưởng Ban Pháp chế HĐND tỉnh, ghi nhận và đánh giá cao mô hình quản lý của BQL rừng phòng hộ Lang Chánh. Để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao, ban cần tập trung các giải pháp vào công tác quản lý, bảo vệ, phát triển sản xuất từ rừng.
Thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương và hạt kiểm lâm huyện tuyên truyền đến các hộ dân địa phương ý thức được lợi ích của trồng, bảo vệ rừng trong việc phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; chuyển giao những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, như: cây giống; các khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến các hộ dân trong khu vực. Xây dựng, tổ chức thực hiện tốt phương án phòng, chống cháy rừng. (Báo Thanh Hóa 18/8)đầu trang(
Hôm qua (19/8), Trung tâm Bảo tồn Rùa (TCC) thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương đã đón nhận 71 con rùa Trung Bộ - loài rùa đặc hữu của Việt Nam, từ Vườn thú Rotterdam (Hà Lan) và Vườn thú Münster (Đức) - nơi nhân nuôi thành công loài động vật hoang dã quý hiếm này.
71 con rùa trở về từ châu Âu lần này sẽ được đoàn tụ với hơn 200 con rùa khác đang được cứu hộ tại Trung tâm Bảo tồn Rùa Cúc Phương. Tất cả đều được thu giữ từ những vụ buôn bán trái phép, do người dân tự nguyện chuyển giao hoặc được sinh ra tại Trung tâm Bảo tồn Rùa. Mục tiêu cuối cùng là các con rùa này sẽ được thả về môi trường sống tự nhiên phù hợp nhất tại tỉnh Quảng Ngãi, đây cũng là một phần trong dự án Bảo tồn rùa Trung Bộ (MAP) thuộc Chương trình Bảo tồn Rùa châu Á (ATP).
Rùa Trung Bộ là loài rùa quý hiếm, chỉ được tìm thấy ở những vùng đất ngập nước, trong ao hồ và các dòng sông của một số tỉnh miền Trung Việt Nam. Kể từ cuối những năm 1980, quần thể loài rùa Trung Bộ trong tự nhiên đã gần như biến mất bởi nạn săn bắt, buôn bán bất hợp pháp. (Tin Tức 20/8)đầu trang(
Hàng trăm ha rừng bồ đề tại huyện Văn Chấn, Yên Bái đang đứng trước nguy cơ chết trụi bởi sâu tàn phá trước sự bất lực của người dân.
Nhiều người dân địa phương cho biết, loại sâu lạ này đã từng xuất hiện tại đây 2 năm trước, thời gian sâu bùng phát mạnh bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8. Có thời điểm mật độ sâu xuất hiện lên tới hàng nghìn con trên 1 cây.
Theo kết quả kiểm tra của ngành chức năng Yên Bái, loại sâu hại này là sâu khoang, sâu xanh. Chúng có thể phá hoại cây rừng từ 5ha lên tới gần 20ha chỉ trong vòng 1 tuần. Đặc tính của sâu này là ăn trụi lá, ăn cả cành non khiến cây bồ đề không thể ra lá tái sinh dẫn đến chết. Chị Hoàng Thị Ri - cán bộ khuyến nông viên phụ trách xã Tân Lập, Văn Chấn cho hay, đây là một loại sâu mới, chúng ăn mạnh về ban đêm và ban ngày chúng trú ẩn ở dưới gốc cây.
Ông Nguyễn Đăng Hiệt - Phó Chủ tịch UBND xã Minh An cho biết, hiện cả xã có trên 70ha rừng bị sâu phá hại hoàn toàn, khó có khả năng phục hồi. Còn theo thống kê của Chi cục Bảo vệ thực vật Yên Bái, hiện trên địa bàn tỉnh đã có hàng trăm ha rừng bồ đề bị sâu hại. Trong đó, nhiều nhất là các xã Nghĩa Tâm và Minh An, huyện Văn Chấn (trên 100ha). (Nông Thôn Ngày Nay 20/8)đầu trang(
Rừng sau khi khai thác hoặc xử lý thực bì thường có một khối lượng gỗ tạp, gỗ không đạt chất lượng được người dân sử dụng làm củi và đem bán mang lại một nguồn thu đáng kể.
Hiện nay, 1 m3củi có giá bán khoảng 500.000đ, mỗi 1ha rừng trồng sau khi khai thác gỗ cũng cho từ 10-15 khối gỗ tận thu làm củi, đem lại nguồn thu nhập cho người dân. Các loại gỗ tận thu thường là những cây chặt bài thải cong queo, sâu bệnh, cây phẩm chất xấu, cây không phù hợp mục đích kinh doanh, hoặc gỗ khi vệ sinh rừng…
Việc khai thác gỗ tận thu vừa giúp vệ sinh rừng, thu dọn hiện trường góp phần đẩy nhanh tiến độ xử lý thực bì để bước vào vụ trồng rừng mới vừa góp phần hạn chế tình trạng lãng phí tài nguyên rừng, chặt phá rừng bừa bãi, lại làm tăng thu nhập cho người dân. Được biết, khai thác ngỗ tận thu được người dân các địa phương có diện tích rừng trồng lớn tích cực thực hiện và cũng đem lại hiệu quả đáng kể . (Đài PT - TH Bắc Kạn 19/8)đầu trang(
Nhận thấy việc trồng rừng đã đem lại hiệu quả kinh tế khá cao, năm nay, hơn 1.180 hộ dân ở Định Hóa đã đăng ký trồng 1.050ha rừng (đạt 105% kế hoạch).
Hiện huyện có trên 30 nghìn ha rừng, trong đó có gần 14,5 nghìn ha rừng sản xuất, hằng năm cung cấp khoảng 500 nghìn m3 gỗ. Đây chính là nguồn nguyên liệu cung cấp cho các xưởng chế biến gỗ trên địa bàn, trong đó có nghề gỗ bóc.
Ông Hứa Đức Chung, Phó Trưởng Ban quản lý rừng ATK Định Hóa cho biết: Nghề sản xuất gỗ bóc phát triển mạnh trên địa bàn huyện vào khoảng 2-3 năm nay. Từ vài xưởng sản xuất nhỏ ban đầu, đến nay, toàn huyện đã có 18 xưởng, góp phần tạo việc làm tại chỗ cho hàng trăm lao động địa phương. Mỗi năm, các xưởng gỗ bóc này tiêu thụ khoảng trên 13 nghìn m3 gỗ cho các hộ trồng rừng ở huyện. (Báo Thái Nguyên 18/8)đầu trang(
Ngay khi vụ trồng rừng 2013 kết thúc, Xí nghiệp Giống và tư vấn thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh, huyện Chợ Mới lại bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị cây giống cho vụ trồng rừng tiếp theo.
Năm 2013, vườn ươm cây giống trồng rừng của Xí nghiệp Giống và tư vấn thiết kế lâm nghiệp Nông Thịnh đã gieo ươm được trên 4,3 triệu cây con, trong đó có khoảng 3,1 triệu cây mỡ, 42 vạn cây keo, còn lại là xoan, lát, trám và cây keo hom. Số cây giống này phục vụ cho nhu cầu trồng cây nguyên liệu của các lâm trường trực thuộc công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bắc Kạn và Dự án trồng rừng sản xuất các huyện Chợ Đồn, Bạch Thông.
Chuẩn vị cho vụ trồng rừng 2014, Xí nghiệp dự kiến sẽ ươm mới khoảng 20 vạn cây keo lai, 60 vạn keo tai tượng cùng khoảng hơn 3 triệu cây mỡ phục vụ cho nhu cầu trồng rừng của các đơn vị địa phương, trong đó, việc ươm cây keo lai đã thực hiện được khoảng 15 vạn bầu cây. (Đài PT - TH Bắc Kạn 18/8)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Hà Quảng đã trồng được 7.037 cây phân tán tác loại.
Công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng được tăng cường, ngăn chặn và xử lý kip thời các vụ vị phạm qui định quản lý, bảo vệ rừng. Xảy ra 2 vụ cháy rừng với diện tích 1,4 ha cây thông và 0,56 ha thảm thực vật; xử lý 1 vụ vận chuyển động vật hoang dã trái phép, bán lâm sản tịch thu 12,75 m3 gỗ nghiến; nộp ngân sách nhà nước trên 51 triệu đồng. (Báo Cao Bằng 19/8)đầu trang(
Thời gian qua, hầu hết các chủ rừng (bao gồm các doanh nghiệp, ban quản lý rừng, cá nhân, hộ gia đình) đều quản lý, sử dụng tương đối tốt diện tích đất rừng đã được giao, tuy nhiên hoạt động này vẫn còn không ít những bất cập cần phải khắc phục, đặc biệt là tình trạng kém hiệu quả trong tổ chức quản lý, sử dụng rừng và đất rừng.
Theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, đến thời điểm này tỉnh đã giao, cho thuê rừng và đất rừng đối với các hộ gia đình, cá nhân tổng diện tích trên 135.976ha; đối với các tổ chức tổng diện tích 206.118ha. Riêng diện tích đất rừng của tổ chức lại chia nhỏ cho 8 công ty TNHH MTV lâm nghiệp (vốn trước đây là các lâm trường) quản lý trên 63.000ha; 10 ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng quản lý trên 93.876ha; các tổ chức, doanh nghiệp khác quản lý 49.238ha.
Thế nhưng tổng quỹ đất rừng còn lại chưa giao cũng không nhỏ. Sau khi rà soát, kiểm tra lại cho thấy tổng diện tích đất rừng chưa giao, đang được các địa phương quản lý là trên 83.553ha. Trong đó gần một nửa số địa phương (Ba Chẽ, Vân Đồn, Tiên Yên, Hoành Bồ, Cẩm Phả, Móng Cái, Bình Liêu) có diện tích đất rừng chưa giao chiếm từ 5.000 đến hơn 10.000ha.
Điều đáng nói là không ít địa phương sau khi rà soát, kiểm đếm diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn lại xảy ra tình trạng sai lệch về số liệu thực tế so với số liệu quản lý của đơn vị chức năng tỉnh. Đơn cử như huyện Ba Chẽ, theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích đất lâm nghiệp chưa giao là 12.696ha, thế nhưng con số cuối cùng địa phương báo cáo là trên 8.500ha. Tương tự ở huyện Hải Hà, theo thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường còn 4.481ha, nhưng thực tế chỉ còn 1.900ha...
Nguyên nhân của tình trạng này được cho là do điều kiện đo đạc trước kia chưa hiện đại, phương pháp và thiết bị đo vẽ bản đồ, xác định vị trí thiếu chính xác, dẫn đến có sai số nhất định giữa thực tế và trong sổ sách. Tuy nhiên, qua đây cũng phải thấy rằng việc quản lý diện tích rừng và đất rừng của một số địa phương chưa thật sự chặt chẽ, không ít phần diện tích trong đó mặc dù chưa được giao thế nhưng vẫn được người dân đã và đang sử dụng.
Ngoài ra thì cũng phải thấy rằng hầu hết các địa phương mới chỉ thống kê diện tích rừng và đất rừng trên số liệu cơ học, đến thời điểm này vẫn chưa rà soát, xác định rõ được vị trí, diện tích, hiện trạng rừng, loại rừng theo thực tế, diện tích có khả năng trồng rừng và không thể trồng rừng.
Cùng với đó thì các địa phương cũng chưa xác định được nhu cầu thực sự của các hộ dân về đất rừng để phục vụ phát triển sản xuất. Điều này đương nhiên dẫn tới khó khăn trong việc đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng theo chỉ đạo của tỉnh, nhất là trong tình trạng phần nhiều diện tích đất lâm nghiệp còn lại thực sự không thuận lợi, thậm chí xa dân cư, nghèo kiệt, chất đất xấu, dốc cao…
Thực tế đến cuối tháng 7 vừa qua, mới chỉ có huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ đã xây dựng được phương án giao đất giao rừng và đang triển khai giao cho dân, còn các địa phương khác chưa có cải thiện nào đáng kể.
Tại nhiều cuộc họp liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp của UBND tỉnh gần đây, nhiều đại diện các sở, ngành đã thẳng thắn chỉ ra những bất cập trong công tác quản lý và sử dụng diện tích rừng và đất rừng đã giao cho các cá nhân, tổ chức. Trong đó đối với cá nhân, hộ gia đình thì vẫn còn hiện tượng quản lý chồng chéo; người dân tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, tranh chấp, lấn chiếm đất rừng, nhất là với diện tích chưa giao…
Thực tế trong tổng số 2.147ha rừng phòng hộ thuộc quyền quản lý của Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Lập thì hiện có tới 1.878ha là của trên 250 hộ dân sinh sống trong khu vực đầu tư trồng, chăm sóc rừng, trong đó 126 hộ đã được huyện Hoành Bồ giao đất rừng để sản xuất từ cách đây vài chục năm về trước.
Như vậy đến thời điểm này diện tích thực do Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Lập quản lý và sử dụng, có thể chủ động đầu tư triển khai các hoạt động liên quan chỉ còn gần 270ha, con số quả thật vô lý. Hay như trong tổng thể diện tích rừng đặc dụng của Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan môi trường TP Hạ Long đang lẫn vào hơn 933ha diện tích rừng sản xuất và diện tích này cũng đã được giao khoán cho người dân đầu tư sản xuất từ lâu.
Đáng nói là thực trạng trên không chỉ tồn tại ở Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Lập hay Ban Quản lý rừng đặc dụng cảnh quan môi trường TP Hạ Long mà còn ở nhiều đơn vị khác. Bên cạnh đó, thời gian qua hàng loạt các vụ xây dựng nhà ở trái phép trên đất rừng, mua bán, lấn chiếm diện tích đất rừng… đã được cơ quan chức năng phát hiện và làm rõ tại một số địa phương.
Một bất cập lớn trong quản lý sử dụng rừng và đất rừng hiện nay chính là một số đơn vị, doanh nghiệp đã không đầu tư hiệu quả, chậm đầu tư hoặc bỏ hoang đất. Theo thông tin mới nhất của Sở Tài nguyên và Môi trường, cơ quan này đã chính thức đề nghị và đang hoàn thiện hồ sơ trình UBND tỉnh thu hồi trên 10.600ha của 11 doanh nghiệp, tổ chức, trong đó nhiều đơn vị có diện tích bị đề xuất thu hồi lên đến hàng ngàn ha.
Đơn cử như Công ty TNHH Phát triển trang trại Thành Tín trên 4.700ha, Công ty TNHH Innogreen gần 1.600ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tiên Yên gần 3.000ha, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đông Triều trên 1.100ha…
Nguyên nhân do các đơn vị này trong quá trình quản lý đã giao khoán sai đối tượng; để xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm nhiều năm mà không xử lý được; hoặc không tổ chức trồng rừng, chăm sóc rừng đúng tiến độ dự án đã được phê duyệt.
Thực tế trong tổng số gần 33.000ha đất trống chưa có rừng đang giao cho 36 doanh nghiệp để phát triển rừng từ năm 2003 đến nay thì hiện mới thực hiện được trên 18.000ha, còn lại 15.000ha vẫn trong tình trạng đất trống, đồi núi trọc. Một lần nữa khẳng định tác dụng to lớn của việc gìn giữ và phát triển rừng, đất rừng. Bởi vậy thiết nghĩ những bất cập tồn tại trong công tác quản lý và sử dụng rừng, đất rừng kể trên cần phải được khắc phục hiệu quả.
Ông Nguyễn Mạnh Cường, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường đề xuất: “Để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, trước tiên đối với các công ty lâm nghiệp sau khi được giao đất, cho thuê, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đã bàn giao cho địa phương một số diện tích đất lâm nghiệp để giao cho nhân dân; hoặc bị thu hồi một phần chuyển sang mục đích khác, bắt buộc phải lập lại bản đồ, hồ sơ thuê đất, cắm lại mốc ranh giới tại thực địa và trình UBND tỉnh điều chỉnh lại ranh giới thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.
Đối với việc quản lý đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân thì các địa phương cần tiến hành ngay việc rà soát lại quỹ đất lâm nghiệp chưa giao cho hộ gia đình, cá nhân; đồng thời lập đề án giao đất cho các hộ gia đình. Một nội dung nữa chúng tôi muốn đề nghị UBND tỉnh bố trí đủ kinh phí để hoàn thành việc đo đạc bản đồ địa chính và cắm mốc ranh giới đất lâm nghiệp để việc quản lý sau này thuận lợi hơn”.
Ông Triệu Văn Hải, Phó Chủ tịch UBND huyện Hoành Bồ cho rằng: “Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và sử dụng rừng, đất rừng không gì hơn hết là công tác quản lý nhà nước phải chặt chẽ, đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng.
Cụ thể với thực tế của Hoành Bồ, chúng tôi đang đặc biệt tránh tối đa tác động có thể không tốt cho rừng phòng hộ và đặc dụng, thay vào đó chỉ tập trung khoanh nuôi, bảo vệ, xúc tiến tái sinh rừng. Với loại rừng này, ở vị trí ít xung yếu, lại nằm xen kẽ khu dân cư thì rà soát và đề xuất tỉnh cho chuyển sang rừng sản xuất, nhằm thuận lợi hơn trong quản lý bảo vệ rừng, đồng thời tạo thêm quỹ đất để giao cho dân sản xuất, cải thiện đời sống.
Ngoài ra thì trong kế hoạch phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện, thời gian qua huyện đã và đang vận động người dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trồng thâm canh trên đất rừng, đặc biệt quan tâm một số cây lâm sản ngoài gỗ thế mạnh của địa phương; khai thác cây trồng đúng độ tuổi; tiến tới trồng cây gỗ lớn thay thế cây keo. Riêng các xã vùng cao, với ưu thế về vị trí, thời tiết, Hoành Bồ đang thí điểm trồng cây đặc sản, cây dược liệu trên đất lâm nghiệp, nếu thành công sẽ tạo ra các vùng sản xuất tập trung, rộng lớn”.
Ông Nguyễn Trung Hải, Trưởng Ban Quản lý Di tích và Rừng Quốc gia Yên Tử cho biết: “Có thể nói rừng Quốc gia Yên Tử ngày càng được quản lý, bảo vệ và phát triển hiệu quả. Nhiều năm qua ở đây không xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng, cháy rừng, đặc biệt công tác vệ sinh môi trường rừng, tạo cảnh quan phục vụ du khách đến Yên Tử được làm rất tốt.
Có được kết quả trên, trước tiên tôi cho rằng chính là nhờ sự vào cuộc, hợp tác tích cực của các hộ dân sinh sống trong vùng giáp ranh và các vùng lân cận. Chúng tôi đã bằng nhiều cách giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu được tầm quan trọng của vị trí và giá trị rừng Quốc gia Yên Tử, cũng như nhận thấy được lợi ích thiết thực khi rừng Quốc gia Yên Tử được bảo vệ và phát triển. Bên cạnh đó tỉnh và TP Uông Bí cũng dành nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực cho người dân địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội”.
Theo ông Dương Minh Tuấn, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp: “Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác trồng rừng cũng như quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cần tái cơ cấu lại ngành Lâm nghiệp. Có nghĩa là từng bước chuyển một số diện tích rừng sản xuất của người dân sang sản xuất, kinh doanh gỗ lớn với chu kỳ 15-20 năm mới khai thác.
Trong điều kiện kinh tế của người dân còn nhiều khó khăn, nguồn vốn đầu tư trồng rừng có hạn nên để thực hiện được việc tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp theo hướng sản xuất, kinh doanh gỗ lớn, Nhà nước, tỉnh cần có một số chính sách hỗ trợ người dân.
Cùng với đó, trồng rừng gỗ lớn kết hợp với trồng xen canh cây lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của lâm nghiệp cũng như quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp.
Theo tính toán, nếu sản xuất, kinh doanh gỗ nhỏ như hiện nay, sau 6-7 năm, giá trị thu được trên 1ha rừng bình quân chỉ đạt 30-40 triệu đồng (cây gỗ đứng). Nếu sản xuất, kinh doanh gỗ lớn, sau 15-20 năm thì giá trị cây đứng trên 1ha đạt từ 100-150 triệu đồng, trong khi đó chỉ phải một lần đầu tư trồng rừng”. (Báo Quảng Ninh 17/8) đầu trang(
Những năm qua, huyện Vân Đồn rất tích cực đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và đã đạt được kết quả đáng mừng, cụ thể đã giao 9.222,8ha cho các hộ gia đình, cá nhân, tuy nhiên, trong việc rà soát quy hoạch 3 loại rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); đặc biệt là đẩy nhanh tiến độ đầu tư theo phê duyệt của các chủ rừng trên địa bàn thì lại gặp những khó khăn và tồn tại.
Ông Nguyễn Văn Sơn, Giám đốc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất của huyện cho biết: “Đến thời điểm này huyện đã cấp được 1.212 GCNQSDĐ lâm nghiệp với diện tích 8.995ha, đạt 61,43% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp cần cấp giấy. Hiện đang phấn đấu cấp tiếp 848 giấy với diện tích 5.648,21ha cho các đối tượng đủ điều kiện”.
Cũng theo ông Nguyễn Văn Sơn, hiện nay huyện còn 429 hồ sơ cần cấp nhưng lại không đủ điều kiện cấp. Đây phần lớn là những trường hợp các hộ gia đình có thửa đất liền kề với đất của các tổ chức, đơn vị sự nghiệp chưa có thống nhất về ranh giới, mốc giới thửa đất; giữa các hộ liền kề vẫn có tranh chấp về đất, chưa thống nhất xác định ranh giới.
Cùng với đó, có khoảng 20% số thửa đất chưa được cấp nằm trong ảnh hưởng của các dự án thuộc quy hoạch chung khu kinh tế Vân Đồn... Cũng nằm trong quy hoạch này thì khoảng 200 tổ chức sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp.
Không chỉ việc cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp gặp khó, việc rà soát 3 loại rừng trên địa bàn huyện Vân Đồn cũng còn nhiều bất cập. Hiện nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp chưa được giao do địa phương quản lý là 15.761,18ha, trong đó đất rừng phòng hộ là 10.053ha; đất rừng sản xuất 5.708ha.
Tuy nhiên, trong số diện tích đất rừng sản xuất còn lại thì chủ yếu là quản lý trên hồ sơ, giấy tờ chứ thực tế một phần đã được các hộ dân trồng rừng, mặc dù chưa được giao. Một số ít còn lại thì ở những vị trí núi cao, khu vực không thể trồng rừng được. Còn đối với diện tích rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn chủ yếu ở vị trí xung quanh 28 hồ, đập lớn trên địa bàn huyện và phần nhiều đã được các xã giao cho người dân để sản xuất.
Theo quy hoạch phát triển rừng của huyện hiện đang trình tỉnh, thì hơn 10.000ha rừng sản xuất tại các hồ đập, diện tích các rừng chắn sóng ven biển các xã Quan Lạn, Ngọc Vừng; diện tích rừng ở vị trí cầu Vân Đồn đến đảo Cái Bầu sẽ chuyển thành rừng phòng hộ.
Thế nhưng theo bà Trần Thị Hồng Vân, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện thì việc này nếu được triển khai thì cũng rất khó về phần kinh phí. Đồng thời, qua rà soát của huyện, trong số 10.053ha đất rừng phòng hộ còn lại trên địa bàn huyện đến nay cũng đã giảm đi hơn 3.000ha, gồm rừng đầu nguồn các hồ, đập, rừng ven biển do người dân đã tự ý phá, chuyển sang trồng keo.
Cùng với đó, hiện nay trên địa bàn huyện Vân Đồn có 12 chủ rừng là các tổ chức, doanh nghiệp được tỉnh giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ và phát triển sản xuất lâm nghiệp với tổng diện tích 23.817,37ha. Tuy nhiên, một thực tế là hiện nay, rất nhiều doanh nghiệp trong đó không triển khai trồng rừng theo dự án đã được phê duyệt hoặc nếu có thì tiến độ chậm.
Đáng ngại hơn là một số doanh nghiệp đầu tư không đúng mục đích thậm chí năng lực yếu nên không đầu tư sản xuất kinh doanh. Điều này dẫn đến tình trạng giữ đất, lãng phí đất lâm nghiệp. Ngoài ra thì hầu hết các doanh nghiệp được thuê rừng tự nhiên chưa có hồ sơ đánh giá chất lượng, trữ lượng để bàn giao vốn rừng nhằm gắn chặt trách nhiệm của chủ rừng trong công tác quản lý, bảo vệ đối với diện tích rừng tự nhiên được thuê theo quy định của pháp luật. (Báo Quảng Ninh 17/8) đầu trang(
Thanh Sơn là huyện có diện tích rừng hơn 48 nghìn ha vì vậy công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCC rừng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn xác định để làm tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng cần phải xã hội hóa, trong đó xây dựng, phát huy vai trò của kiểm lâm địa bàn để bảo vệ rừng tận gốc.
Đến nay, trên địa bàn huyện có 5 trạm kiểm lâm địa bàn, mỗi trạm phụ trách 3-5 xã. Các trạm địa bàn đều được đặt ở các khu vực trọng điểm, thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho UBND xã, phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. Lực lượng kiểm lâm địa bàn đã tạo mối quan hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương cấp xã, tham mưu đắc lực cho UBND xã thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ nay là Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8/2/2012 ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
Kiểm lâm địa bàn đã tham mưu cho các xã có rừng và các công ty lâm nghiệp trên địa bàn tổ chức thực hiện tốt phương án quản lý bảo vệ rừng và PCCCR giai đoạn 2011-2015. Đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể, trưởng thôn, bản làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng. Thông qua tuyên truyền đã giúp cho nhiều người dân, nhiều chủ rừng hiểu được tầm quan trọng của rừng, nắm được chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng từ đó tích cực tham giá có hiệu quả vào công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Trong những năm qua, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã thực hiện tốt công tác khuyến lâm tại cơ sở, hướng dẫn nhân dân trồng rừng đạt năng suất và hiệu quả cao, kết hợp tạo vành đai xanh phòng chống cháy rừng và nâng cao thu nhập cho người dân. Năm 2012, toàn huyện trồng được hơn 1.800 ha rừng, trong đó dự án bảo vệ phát triển rừng trồng hơn 800 ha.
Vụ xuân 2013 toàn huyện trồng được gần 1.400 ha, dự án bảo vệ và phát triển rừng trồng hơn 600 ha. Kiểm lâm địa bàn luôn phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tăng cường tuần tra, kiểm soát địa bàn đặc biệt là địa bàn tại các khu rừng tự nhiên, địa bàn giáp ranh, kịp thời phát hiện và xử lý khi có cháy rừng, phá rừng xảy ra. Vì vậy tình trạng phá rừng trái phép, cháy rừng xảy ra không đáng kể.
Để tiếp tục đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ rừng, thời gian tới Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn tiếp tục củng cố hệ thống các trạm kiểm lâm địa bàn, tạo điều kiện nơi ở và làm việc để cán bộ yên tâm công tác. Tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm trong thực thi công vụ, rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc “tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Tập trung cán bộ xuống công tác tại các khu vực có nhiều rừng tự nhiên, đảm bảo quân số thực hiện nhiệm vụ “bảo vệ rừng tại gốc”. Đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về cả chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý Nhà nước, sử dụng vũ khí quân dụng, công cụ hỗ trợ, võ thuật… cho kiểm lâm địa bàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ hiện nay. (Báo Phú Thọ 17/8) đầu trang(
Là một xã miền núi còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ người dân theo đạo công giáo chiếm đến 96%, mọi thu nhập của người dân xã Hương Lung, huyện Cẩm Khê chủ yếu trông vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế đồi rừng.
Ông Tống Quang Lục, Phó Chủ tịch UBND xã đánh giá: Kinh tế đồi rừng là thế mạnh và cũng là mũi nhọn phát triển kinh tế trọng điểm của xã. Nhờ kinh tế đồi rừng mà cuộc sống của người dân địa phương đã thay đổi rõ rệt, số hộ nghèo giảm đáng kể. Nhiều hộ đã vươn lên trở thành khá giả, mua sắm được nhiều vật dụng đắt tiền, có thêm tiền để tái đầu tư sản xuất. Đặc biệt, trong chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, cùng với việc hiến đất làm đường, nhiều gia đình cũng đã tự nguyện ủng hộ tiền cho việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường, nhà văn hóa khu… Tất cả là nhờ kinh tế đồi rừng.
Tổng diện tích đất đồi rừng của xã Hương Lung khoảng trên 670ha/1.637ha đất tự nhiên, có hơn 300/1.441 hộ tham gia sản xuất đồi rừng. Trong năm 2013, toàn xã đã trồng mới được 53ha rừng sản xuất. Nhiều hộ có hàng chục ha đất rừng đã mạnh dạn đầu tư trồng cây nguyên liệu mang lại hiệu quả kinh tế cao như hộ ông Hoàng Văn Tuấn, Nguyễn Văn Bồng, Phạm Văn Tửu, Nguyễn Xuân Năm, Dương Minh Loan… Ngoài đồi rừng, đa phần các hộ đều đầu tư phát triển theo mô hình VACR, có nhiều nguồn thu nhập khác nhau.
Trước kia, người trồng rừng ở Hương Lung chủ yếu trồng các giống bạch đàn, nhưng nay đã chuyển sang trồng các giống keo vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao, vừa góp phần cải tạo đất. Từ khi mô hình trồng keo thâm canh do Trung tâm Khuyến nông triển khai ở xã có những kết quả tích cực, ngày càng nhiều hộ tham gia. Một lợi thế nữa cho người trồng rừng ở Hương Lung là trên địa bàn xã có khá nhiều cơ sở khai thác, chế biến gỗ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiêu thụ cây nguyên liệu.
Nếu như trước kia, người trồng rừng phải vận chuyển xa, bị tư thương ép giá nên giá bán gỗ khá thấp thì nay làng nghề chế biến nông lâm sản Tiền Phong với 15 cơ sở chế biến gỗ, nông - lâm sản, việc thu mua tại chỗ đã cải thiện nhiều tình trạng trên. Các cơ sở đó cũng tạo việc làm cho gần 300 lao động trong xã. Một điều thuận lợi cho việc trồng, bảo vệ rừng ở Hương Lung là do có số dân công giáo chiếm tỷ lệ lớn, chính quyền có sự phối hợp chặt chẽ với cha xứ, thông qua nhà thờ tuyên truyền vận động về các chính sách chăm sóc, bảo vệ rừng nên bà con tuân thủ khá tốt.
Ông Tống Quang Lục khẳng định: Phát triển kinh tế đồi rừng đã được địa phương xác định là mũi nhọn chủ lực nên trong những năm tới cấp ủy, chính quyền xã Hương Lung vẫn tiếp tục khuyến khích các hộ trồng rừng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người trồng rừng như tạo điều kiện cho vay vốn mua cây giống, phân bón hoặc mua máy móc chế biến gỗ; mở một số tuyến đường lên đồi để giúp người trồng rừng thuận tiện trong khai thác; tiến hành đo đạc lại, chuẩn bị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp lâu dài cho các hộ để họ yên tâm đầu tư sản xuất… (Báo Phú Thọ 17/8) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Thanh Hóa, đến ngày 30/7, toàn tỉnh Thanh Hóa vẫn còn 601 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) lâm nghiệp đã bị thu gom đến nay vẫn chưa thu hồi lại được gồm: huyện Lang Chánh có 1 tổ chức và 153 hộ gia đình, Như Thanh có 11 hộ gia đình, Ngọc Lặc có 36 hộ gia đình, Quan Sơn có 103 hộ gia đình, Thường Xân có 298 hộ gia đình.
Để ngăn chặn hành vi lừa đảo liên quan đến các chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng, ảnh hưởng xấu đến sản xuất và một bộ phận nhân dân, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã chỉ đạo: Chủ tịch các huyện tiếp tục tuyên truyền sâu rộng chủ trương đầu tư, thủ tục đầu tư và chính sách của Nhà nước về trồng rừng, bảo vệ rừng đến tận cộng đồng dân cư; kịp thời phát hiện các dấu hiệu thu gom giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp của cá nhân, hộ gia đình, tổ chức và doanh nghiệp để làm thủ tục đầu tư không đúng theo qui định của pháp luật, có biện pháp xử lý, ngăn chặn, tránh để hậu quả xấu xảy ra.
Chủ tịch các huyện trên khẩn trương làm rõ nguyên nhân, đối tượng thu gom số giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp nhưng chưa hoàn trả, có biện pháp xử lý kiên quyết, đảm bảo chủ rừng yên tâm sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp, ổn định trật tự xã hội. Ngành lâm nghiệp phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời việc thu gom giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp có dấu hiệu lừa đảo... (VOV 19/8)đầu trang(
Hai hộ dân được giao giữ rừng tự đo đạc và khẳng định chỉ cháy 1,6 ha nhưng cơ quan tố tụng quy kết cháy đến gần 6 ha và xử bị cáo năm năm sáu tháng tù.
Nếu không bị vướng vào vòng lao lý thì năm nay bị cáo Hoàng Văn Vững (trú xã Cổ Đạm, huyện Nghi xuân, Hà Tĩnh) đã là sinh viên năm thứ hai Trường CĐ Nông lâm nghiệp Hà Tĩnh. Nhưng kể từ sau phiên tòa phúc thẩm ngày 24-1-2013 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, Vững đã bị bắt đi thi hành án bản án tù năm năm sáu tháng về tội vi phạm quy định về phòng cháy chữa cháy.
Một ngày mùa hè năm 2012, sau khi thi đậu trường CĐ, Vững mang một con khướu cùng dụng cụ lên núi bẫy chim bán kiếm tiền để sắm sửa, chuẩn bị bước vào quãng đời sinh viên xa nhà. Đến buổi trưa, Vững bẫy được một số chim và nhóm lửa định nướng ăn. Khi đang nướng giữa chừng thì Vững nghe tiếng chim khướu hót tại nơi đặt bẫy nên xuống dưới kiểm tra. Lúc này trời nắng nóng, Vững ngồi nghỉ trong bụi cây tại đó và… ngủ quên.
Khoảng 20 phút sau, Vững thấy nóng và nghe tiếng cây bị cháy nổ lốp bốp. Tỉnh dậy, Vững thấy lửa đã cháy lan từ nơi nướng chim ra khu vực rừng xung quanh. Vững vội dùng dao chặt cành cây để dập lửa nhưng đám cháy đã lan rộng không thể dập được. Lo sợ bị phát hiện, Vững vội nhặt lồng chim bỏ chạy, vô ý làm rơi điện thoại di động ở đấy. Đến chiều, đám cháy được dập tắt. Chiếc điện thoại của Vững được một cán bộ quản lý rừng nhặt được.
Sáng hôm sau, Vững thú nhận với cả nhà việc mình đốt lửa nướng chim vô ý gây cháy rừng. Gia đình đã động viên Vững ra đầu thú. Công an huyện lập biên bản và cho về nhà, khi có lệnh triệu tập thì lên trình diện. Gia đình Vững cũng mang 12 triệu đồng nộp để góp phần khắc phục hậu quả.
Quá trình điều tra, cơ quan tố tụng quy kết Vững đã làm cháy gần 6 ha rừng nên truy tố theo khoản 3 Điều 240 BLHS về tội vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy (có mức án 7-12 năm tù). Ngày 22-10-2012, Vững bị TAND huyện Nghi Xuân tuyên xử năm năm sáu tháng tù.
Vững kháng cáo vì cho rằng mình chỉ làm cháy 1,6 ha rừng nên theo luật, bị cáo chỉ phải chịu khung hình phạt theo khoản 1 (cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm). Tuy nhiên, TAND tỉnh Hà Tĩnh đã bác kháng cáo và tuyên y án sơ thẩm.
Mặc dù đang là buổi làm đồng nhưng khi biết chúng tôi đến, bà con đã bỏ việc về gặp phóng viên để kêu oan cho Vững. Người dân cho biết diện tích rừng Vững làm cháy nằm trong phần rừng được Nhà nước giao khoán cho hai hộ dân chăm sóc và bảo vệ. Đó là hộ ông Phan Văn Tấn và hộ ông Tống Chí Nguyện.
Bà Nguyễn Thị Lan, vợ ông Nguyện, cho biết hộ bà nhận chăm sóc, bảo vệ 5 ha rừng. “Dựa trên sổ sách và thực tế, phần rừng nhà tôi bị cháy chỉ 1 ha” - bà Lan khẳng định. Tương tự, ông Phan Văn Tấn khẳng định diện tích bị cháy nhà ông chỉ khoảng 0,6 ha trong số 4 ha ông nhận chăm sóc, bảo vệ. “Ngoài ra, không còn chỗ rừng nào bị cháy cả. Tính ra diện tích bị cháy của hai hộ chúng tôi chỉ 1,6 ha chứ mô (đâu) ra 6 ha như cáo trạng” - ông Tấn nói.
Ông Trần Văn Niêm, người nhận khoán bảo vệ rừng gần với hai hộ nói trên, nói: “Rừng ni tôi lội nát. Chỗ mô cháy, chỗ mô không tôi nắm trong lòng bàn tay. Chính tôi là người trực tiếp đi đo những thửa rừng cháy cùng cha con Vững, cộng tất cả 17 thửa bị cháy lại diện tích chỉ hơn 1,6 ha”. Nói xong, ông Niêm đưa ra sơ đồ ghi rõ từng thửa bị cháy mà ông đã đo đạc cùng số liệu từng thửa chi tiết.
Trao đổi với chúng tôi về hai số liệu khác biệt nói trên, Đại tá Phan Văn Đán, Trưởng Công an huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), cho rằng con số gần 6 ha rừng bị cháy đã được các cơ quan chức năng điều tra rõ ràng, cơ quan điều tra không thể làm nên con số ấy được. Tuy nhiên, khi được hỏi cơ quan cụ thể nào điều tra, đo đạc, ông Đán không trả lời mà chỉ sang VKS và tòa án để hỏi.
Đáng chú ý, khi cơ quan điều tra đo đạc diện tích rừng bị cháy đã không để Vững cùng các hộ dân (bảo vệ rừng) có rừng bị cháy đi cùng. Tại phiên tòa phúc thẩm, HĐXX cho rằng khi lập biên bản tại hiện trường thì Vững đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Trong khi đó, người dân địa phương nói từ khi gây cháy đến lúc tòa xử, bị cáo luôn có mặt tại địa phương, không hề đi khỏi ngày nào. Thậm chí đến ngày tựu trường, Vững vẫn không dám rời địa phương để đến Trường CĐ Nông lâm nghiệp Hà Tĩnh - nơi Vững vừa thi đậu trước khi làm cháy rừng để nhập học. Ngoài ra, Vững không hề nhận được lệnh triệu tập của cơ quan điều tra khi đi đo đạc.
Tại phiên xử phúc thẩm, cha của bị cáo đề nghị tòa cho điều tra lại phần diện tích bị cháy nhưng HĐXX đã bác bỏ. Theo tòa, qua sáu tháng bị cháy, cây rừng đã lên xanh nên không thể phân biệt được chỗ nào bị cháy, chỗ nào không, nói chung không thể đo lại được.
Về điểm này, nhiều người bảo vệ rừng cho rằng rừng trồng hơn 10 năm với rừng mới đâm chồi (do bị cháy) không cứ gì người có chuyên môn mà ai cũng có thể phân biệt được. Ông Nguyễn Phi Quỳnh, Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, khẳng định: “Rừng trồng trên 10 năm và rừng mới tái sinh do cháy, nhìn bằng mắt thường ai cũng phân biệt được”. (Pháp Luật TPHCM 19/8; Kinh Tế Nông Thôn 19/8)đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa quyết định xử phạt bà Nguyễn Thị Thành (thôn Hòa Hạ, xã Bạch Hạ, huyện Phú Xuyên) 350 triệu đồng về hành vi mua, bán trái pháp luật 24 con tê tê Java (Manis Javanica), là động vật rừng quý, hiếm thuộc nhóm IIB, không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.
Ngoài ra, UBND TP Hà Nội cũng quyết định phạt bổ sung: Tịch thu toàn bộ 24 con tê tê trọng lượng 93kg (23 con sống, trọng lượng 90,7kg, 1 con đã bị chết, trọng lượng 2,3kg). Số tiền 142 triệu đồng do bán đấu giá 24 con tê tê đã bị tịch thu cũng được sung công quỹ Nhà nước. (Công An Nhân Dân 18/8)đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Sông Hinh vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội vi phạm các quy định trong khai thác, bảo vệ rừng.
Theo Chi cục Kiểm lâm, đầu tháng 6 năm 2013, tại các khoảnh 4, 7, 10, tiểu khu 309, xã Ea Trol, thuộc lâm phần của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Sông Hinh, lực lượng kiểm lâm phát hiện 63 cây gỗ lớn (khối lượng gần 300m3) bị lâm tặc triệt hạ. Trước đó, trong tháng 7/2012, lực lượng chức năng cũng đã phát hiện một nhóm người ở xã Cư Prao, huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) tự ý mở đường, dùng xe cơ giới vào khu vực rừng giáp ranh với tỉnh Phú Yên khai thác gỗ trái phép.
Trước thực trạng trên, ngoài việc chỉ đạo các lực lượng chức năng tổ chức trinh sát, truy quét, sắp tới UBND tỉnh Phú Yên sẽ phối hợp với UBND tỉnh Đắk Lắk triển khai quyết liệt các biện pháp bảo vệ vùng rừng giáp ranh. (Báo Phú Yên 20/8)đầu trang(
19-8, Hạt Kiểm lâm huyện Hiệp Đức (Quảng Nam) cho biết phát hiện, bắt giữ vận chuyển gỗ trái phép trong tuần qua.
Trước đó, vào chiều thứ bảy 17-8, trên đường 14E, từ Phước Sơn đến Hiệp Đức (đoạn qua khu vực xã Sông Trà), Hạt Kiểm lâm huyện đã phát hiện, bắt giữ xe tải mang biển kiểm soát 92C-023.18, do Nguyễn Đức Lạc (SN 1952, trú tại thành phố Vinh, Nghệ An) điều khiển.
Trong quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 6,5 mét khối gỗ chò được giấu dưới lớp thùng chở dầu, bên trên phủ bạt ngụy trang. Qua điều tra, chiếc xe này được xác định là của ông Võ May, trú tại thôn 3, xã Phước Chánh, huyện Phước Sơn (Quảng Nam).
Hiện, Hạt Kiểm lâm huyện đã tạm giữ số gỗ trái phép này và đang phối hợp các cơ quan chức năng ở địa phương tiếp tục điều tra, xử lý. (Nhân Dân 19/8)đầu trang(
Thời gian gần đây, khu vực bờ biển xã Quảng Cư, TX.Sầm Sơn, Thanh Hóa tiếp tục sạt lở nghiêm trọng, khiến rừng phi lao dài gần 5 km, rộng khoảng 500 m có nguy cơ biến mất.
Theo Ban phòng chống lụt bão Thanh Hóa, từ năm 2009 đến nay, biển đã ăn sâu vào xã Quảng Cư 200-300 m, cuốn hàng trăm ha rừng phi lao xuống biển.
Cơn bão số 6 vừa qua, biển khoét vào đất liền hơn 6 m, làm biến mất 1,2 ha rừng phi lao, hơn 10 ha ao, đầm cùng nhiều cơ sở du lịch.
Năm 2010, Bộ NN-PTNT và tỉnh Thanh Hóa đã lập dự án 600 tỉ đồng xây dựng công trình chống sạt lở 3.553 m bờ biển Sầm Sơn nhưng đến nay chưa được thực hiện. (Thanh Niên 20/8)đầu trang(
Hiện nay, nhiều diện tích đất lâm nghiệp người dân đã sử dụng lâu năm nhưng xảy ra tình trạng khi cơ quan chức năng kiểm kê thì đó lại là đất của lâm trường, hoặc ranh giới đất giữa các hộ dân không rõ ràng dẫn đến tranh chấp khiếu kiện kéo dài. Hầu hết người dân chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Hiện nay việc quy hoạch sử dụng và giao đất lâm nghiệp được Dự án Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn thực hiện thí điểm tại 3 huyện Ba Bể, Pác Nặm và Na Rỳ. Dự án đã hoàn thành đo, giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gần 3.400 hộ dân tại 26 xã với tổng diện tích gần 12.000ha. Năm 2013 dự án tiếp tục giao thêm 10.000 ha đất lâm nghiệp cho người dân tại 9 xã thuộc 3 huyện nêu trên, nâng tổng số diện tích đất lâm nghiệp giao cho dân lên 22.000ha.
Thực tế thì số hộ dân cần được cấp sổ đỏ cho diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh còn khá nhiều. Trong Quy hoạch phát triển lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn xác định, huy động mọi thành phần kinh tế tham gia trồng rừng lại đối với diện tích cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt và đất rừng sau khi khai thác trắng. Tuy nhiên đến thời điểm này, nhìn lại sau 3 năm tập trung trồng rừng sản xuất thì diện tích rừng trồng được chủ yếu là trong dân, các doanh nghiệp có tham gia nhưng diện tích không đáng kể. (Đài PT - TH Bắc Kạn 19/8)đầu trang(
Để duy trì và phát triển cây quế trên đất Trà Bồng, hằng năm Chương trình 30a cũng đã hỗ trợ cho người dân một số lượng lớn quế giống để trồng. Tuy nhiên, nhiều người nhận ra rằng, so với cây keo thì cây quế không mang lại hiệu quả kinh tế bằng, nên họ đã chọn cây keo làm cây kinh tế chủ lực.
Anh Hồ Văn Nhất ở thôn 3, xã Trà Thủy chia sẻ: “Gia đình tôi trồng được 6.000 gốc quế, nhưng tính ra hiệu quả kinh tế vẫn không bằng cây keo. Có thời điểm, tôi chỉ bán được 3.000 – 4.000 đồng/kg quế tươi. Giá quế thấp như thế nên chỉ tính riêng tiền thuê người làm cỏ cho quế cũng không đủ. Trong khi đó thay vì trồng một vụ quế thì tôi có thể trồng được 2 vụ keo, mà giá keo cũng luôn ổn định. Hơn nữa, năm 2012 vừa rồi tự nhiên hàng loạt cây quế đột nhiên bị khô lá rồi chết, gây thiệt hại. Vì vậy đợt này thu hoạch quế xong, gia đình tôi sẽ chuyển sang trồng keo hết”.
Bên cạnh đó, lâu nay cây quế cũng chỉ được người dân trồng nhỏ lẻ tại nhà chứ chưa có nhu cầu mở rộng. Vì đa số người dân thích trồng keo hơn trồng quế. “So với cây quế thì thời gian thu hoạch keo ngắn lại hiệu quả hơn nên bà con đã chọn cây keo để phát triển kinh tế gia đình. Người nông dân bây giờ chú trọng lợi nhuận trước mắt chứ chưa thể tính chuyện lâu dài”, ông Nguyễn Thế Kiều – Chủ tịch Hội Nông dân huyện Trà Bồng cho biết.
Mặt khác, sự xuất hiện của cây quế phía Bắc cũng làm cho diện tích cây quế bản địa bị thu hẹp. Bởi lẽ cây quế miền Bắc thời gian thu hoạch ngắn hơn. Hơn nữa vỏ của cây quế miền Bắc cũng láng mịn hơn, thuận lợi trong việc làm đồ thủ công mỹ nghệ. Tuy nhiên, nói về chất lượng tinh dầu thì không có loại quế nào sánh được quế Trà Bồng. Đây chính là điều làm nên thương hiệu đặc trưng của quế Trà Bồng.
Ông Nguyễn Đức Lương – Giám đốc Công ty TNHH Hương quế Trà Bồng cho biết: Việc quế Trà Bồng được lọt vào Tốp 10 đặc sản thiên nhiên của Việt Nam là cơ hội để thương hiệu quế Trà Bồng khẳng định và lan xa hơn nữa. Tuy nhiên, chúng tôi cũng lo rằng một khi thị trường được mở rộng mà chúng ta vẫn chưa xây dựng được một vùng chuyên canh nguyên liệu quế thì sẽ rất khó. Hiện tại Công ty vẫn duy trì giá đầu vào để khuyến khích nông dân trồng quế, nhưng trong thời gian dài thì Công ty không thể đáp ứng được. Vì vậy cần phải có cơ chế để chính quyền cùng với doanh nghiệp gánh vác trách nhiệm này.
Theo ông Nguyễn Xuân Bắc – Phó Chủ tịch UBND huyện Trà Bồng: Cây quế là cây truyền thống của Trà Bồng nên huyện luôn chú trọng đến việc phát triển. Hiện tại huyện tập trung chỉ đạo phát triển 2 loại cây phù hợp với vùng đất Trà Bồng là quế và keo. Tuy nhiên không thể phủ nhận rằng, cây keo đang được người nông dân ưa chuộng hơn cây quế do sớm mang lại lợi nhuận. Vì thế trong tương lai huyện phải tính đến việc xây dựng vùng chuyên canh cây quế. Nhưng muốn được như thế thì cần có những cơ chế chính sách để khuyến khích người dân … (Báo Quảng Ngãi 19/8)đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Ở Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) có ông Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã kiêm nghề chở gỗ thuê bác ạ.
- Tốt quá. Lương nhà nước ba cọc ba đồng làm sao đủ chi phí sinh hoạt đắt đỏ, ai chẳng phải làm thêm cái gì đó để cải thiện cuộc sống.
- Vấn đề là, ông này chỉ chở gỗ lậu, gỗ khai thác trái phép thôi.
- Nếu vậy thì to chuyện rồi đây. Người ta là cán bộ, phải thận trọng khi nhận xét, đánh giá, chớ có quy kết bừa. Họ chở củi về đun mà lại “nâng quan điểm” thành chở gỗ lậu là không được đâu.
- Chỉ chở củi mà ông ấy phải chấp nhận chịu phạt 13,5 triệu đồng, chịu để toàn bộ số gỗ trên xe bị tịch thu à?
- Nếu thế, chắc chắn đây là hành vi tiếp tay cho lâm “tặc”, thậm chí, ông này là lâm “tặc” cũng nên. Vậy đã có biện pháp xử lí kỉ luật ông này chưa?
- Chưa thấy động tĩnh gì, chắc lại hòa cả làng thôi.
- Xử lí nửa vời như thế, nếu là tôi, ngay ngày mai tôi lại tiếp tục phá rừng. Tiền phạt bõ bèn gì so với lợi nhuận từ khai thác gỗ trái phép.
- Vậy theo bác, những trường hợp tương tự thế này chính quyền địa phương phải làm thế nào cho hợp lẽ?
- Cứ tống hết vào tù là xong.
- Nước mình có nhiều loại “tặc” lắm, lấy chỗ đâu mà nhốt được hết đám này?
- Nếu không xử tù thì bắt bọn chúng khắc phục hậu quả. Là lâm “tặc” thì bắt đi trồng rừng vài năm, là cát “tặc” thì bắt gánh hết số cát trộm cắp lên thượng nguồn đổ xuống sông, hay gánh thẳng đến các công trình xây dựng cách nơi khai thác trái phép vài chục cây số, chúng sẽ “tởn” ngay.
- Nghe cũng có lí. Vậy còn bọn dâm “tặc” thì làm thế nào, không lẽ...? (An Ninh Thủ Đô 20/8)đầu trang(
THẾ GIỚI
Các nhà động vật học tại Viện Smithsonian (Mỹ) cho biết họ mới phát hiện một loài thú ăn thịt mới ở Tây bán cầu. Động vật này được gọi là olinguito, tên khoa học Bassaricyon neblina, đặc trưng với mắt lớn, lông màu nâu và được coi là thành viên nhỏ thuộc gia đình gấu trúc sống ở dãy núi Andes.
Hãng tin UPI dẫn lời Kris Helgen, người phụ trách động vật có vú tại Bảo tàng Quốc gia về lịch sử, tự nhiên thuộc Viện Smithsonian, cho biết việc phát hiện ra các olinguito cho thấy thế giới vẫn còn nhiều bí ẩn cần tiếp tục được nghiên cứu, khám phá.
Olinguito là động vật ăn thịt nhưng chúng cũng ăn cả côn trùng, mật hoa và trái cây. Helgen cho biết các nhà khoa học phát hiện olinguito trên cây cao thuộc vùng núi ở Ecuador và Colombia. Trước đó nó đã từng được nhìn thấy nhưng bị bỏ qua vì người ta không nghĩ đây là một loài mới.
Đội nghiên cứu do Helgen phụ trách lần đầu tiên nhìn thấy loài thú có vú này hồi năm 2006, đến nay xác định được 4 phân loài olinguito. Lần đầu trong đêm nhóm nghiên cứu nhìn thấy olinguito có thể trèo cây như khỉ và đang ăn các quả sung. (Thanh Niên 19/8)đầu trang(
Theo kết quả một nghiên cứu vừa đăng trên tạp chí Biến đổi Khí hậu Tự nhiên (Nature Climate Change) của Anh, khả năng hấp thụ khí cácbon điôxít (CO2) của những khu rừng già châu Âu đang tiến tới mức bão hòa, đe dọa một trong những hàng rào bảo vệ chính của "lục địa già" chống lại hiện tượng nóng lên của Trái Đất.
Nghiên cứu cho biết các khu rừng từ Tây Ban Nha tới Thụy Điển đang ngày càng già cỗi, cùng với đó cây cối giảm hấp thụ các khí thải vốn là nguyên nhân khiến nhiệt độ Trái Đất tăng cao, làm dâng mực nước biển và gia tăng các trận lụt lội và hạn hán.
Các đám cháy rừng, các trận bão và sâu bọ cũng đe dọa sự phát triển của các cánh rừng. Tại nhiều khu vực ở châu Âu, nạn chặt phá rừng đang diễn ra phổ biến.
Tất cả những yếu tố trên đồng nghĩa với việc các khu rừng châu Âu sẽ không thể tiếp tục hấp thụ nhiều khí phát thải cácbon từ các công xưởng, nhà máy điện và phương tiện đi lại. Theo ước tính, các khu rừng hiện chỉ hấp thụ khoảng 10% khí thải của khu vực châu Âu.
Tiến sĩ Gert-Jan Nabuurs, thuộc Đại học và Nghiên cứu Wageningen của Hà Lan, trưởng nhóm nghiên cứu quốc tế gồm các nhà khoa học Phần Lan, Thụy Sĩ và Italy, dự báo thời điểm bão hòa hấp thụ khí CO2 của các khu rừng ở châu Âu có thể xảy ra năm 2030 trừ khi các chính phủ hành động khẩn cấp để cứu các cánh rừng già.
Châu Âu là khu vực có nhiều cây xanh nhất từ nhiều thế kỷ qua với những khu rừng bao phủ diện tích rộng nhất kể từ thời Trung cổ nhờ công cuộc trồng trọt tái thiết lục địa sau sự tàn phá của Chiến tranh Thế giới thứ II.
Tuy nhiên, những số liệu từ năm 2005 cho thấy sự phát triển của những khu rừng này diễn ra chậm lại, cây cối đang già đi. Cây cối hấp thụ khí từ không khí và giữ cácbon trong thân cây, rễ cây, cành cây. Chúng giảm độ hấp thụ khi già đi và hoàn thải khí cácbon ra môi trường khi chết và thối rữa.
Các chuyên gia biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc cho rằng khí thải CO2 do loài người tạo ra là nguyên nhân chính làm tăng nhiệt độ Trái Đất từ năm 1950.
Ông Nabuurs cho rằng cần có sự quản lí tốt hơn mới có thể giải quyết được tình trạng rừng già châu Âu. Ông cũng kiến nghị việc khai thác có tuyển chọn hay trồng thêm cánh rừng mới để mở rộng diện tích rừng ở lục địa già.
Liên minh châu Âu đặt mục tiêu tới năm 2020, sẽ giảm 20% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính so với mức năm 1990. Kế hoạch này nằm trong nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế làm chậm quá trình nóng lên của Trái Đất.
Theo một báo cáo quốc tế công bố năm 2011, tổng khối lượng gỗ gia tăng hàng năm trong các khu rừng ở châu Âu đã giảm còn 609 triệu mét khối vào năm 2010 so với mức 620 triệu mét khối của năm 2005. (VietnamPlus.vn 19/8)đầu trang(
Nghiên cứu tại phòng thí nghiệm ở Đức cho thấy sử dụng thuốc trừ sâu hay thuốc diệt cỏ có thể gây hại cho sinh vật nhiều hơn những gì con người biết đến.
Số lượng dân cư trên trái đất tăng gần gấp đôi trong 50 năm qua. Việc sử dụng thuốc trừ sâu trong quá trình sản xuất lương thực đã có tác động mạnh tới con người, động thực vật. Thuốc diệt cỏ có thể làm thay đổi hệ sinh thái toàn cầu và quá trình thâm canh trong sản xuất nông nghiệp cũng làm sụt giảm nhiều quần thể động vật hoang dã, đe dọa các loài động vật lưỡng cư, Science Daily đưa tin.
Giáo sư Heinz Kohler và Rita Triebskorn từ Đại học Tiến hóa Sinh thái (EVE) ở Tubingen, Đức, công bố một nghiên cứu về mối liên hệ giữa thuốc trừ sâu và quá trình làm thay đổi hệ sinh thái trên ấn phẩm mới nhất của tờ Science.
Kohler và Triebskorn nói: "Mặc dù có nhiều dấu hiệu cho thấy các loài sinh vật và hệ sinh thái thay đổi do thuốc trừ sâu, nhưng rất ít các nghiên cứu chứng minh vấn đề này".
Các nhà khoa học sử dụng cách tiếp cận liên ngành, áp dụng công cụ toán học, phân tích hóa học, sinh học để nhận ra ảnh hưởng của thuốc trừ sâu tới cá thể sinh vật, hệ sinh thái trong khu vực và nơi thâm canh nông nghiệp.
Kohler và Triebskorn cũng chỉ ra mối quan hệ giữa thuốc trừ sâu và hiện tượng nóng lên toàn cầu. Họ dự báo những thay đổi của chọn lọc tự nhiên, lan truyền bệnh tật, khả năng sinh sản của động vật hoang dã, từ đó gây nên hiệu ứng dây chuyền trên các quần thể, hệ sinh thái và chuỗi thức ăn.
"Giới khoa học sẽ gặp nhiều thách thức để chứng minh ảnh hưởng mạnh mẽ của thuốc trừ sâu cũng bị tác động bởi biến đổi khí hậu. Các mức độ ảnh hưởng của nó tới sinh vật cần được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn", Kohler và Triebskorn nói. (Vnxpress.net 19/8)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||