|
Ngày 19 tháng 08 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã triển khai trên toàn quốc được gần 2 năm, mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Phóng viên Nông Thôn Ngày Nay có cuộc trao đổi với ông Phạm Hồng Lượng - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam.
Ông Lượng cho biết: Bản chất của chi trả DVMTR là thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa bên cung ứng (người bán) và bên sử dụng (người mua) DVMTR. Theo quy định của Nghị định 99, DVMTR gồm các loại cơ bản: Thứ nhất là bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; thứ hai là điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; thứ ba là dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các - bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính...
Theo ông Lượng: Người trả tiền là tất cả các tổ chức, cá nhân có sử dụng và hưởng lợi từ 5 loại dịch vụ nêu trên, cụ thể gồm: Các cơ sở sản xuất thủy điện, các cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước, các tổ chức, cá nhân có kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ DVMTR, các đối tượng phải trả tiền DVMTR cho dịch vụ hấp thụ và lưu trữ các - bon của rừng, dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước cho nuôi trồng thủy sản.
Người nhận tiền DVMTR là các tổ chức, cá nhân có cung ứng DVMTR, cụ thể gồm: Các chủ rừng được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng để sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao; các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định, lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước, gọi chung là hộ nhận khoán.
Hiện nay có sự chênh lệch rất lớn về đơn giá chi trả bình quân/ha giữa các lưu vực của các nhà máy thủy điện, liệu điều này có tạo ra sự bất công giữa những người bảo vệ rừng? Trả lời câu hỏi này, ông Lượng nói: Trước hết, tôi phải khẳng định rằng, chính sách chi trả DVMTR không thuần tuý giống như là các chính sách xã hội khác. Về bản chất, chính sách chi trả DVMTR là quan hệ giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ. Chủ rừng nào có cung ứng nhiều dịch vụ và có nhiều người sử dụng dịch vụ thực hiện chi trả thì người đó sẽ được hưởng nhiều tiền, nếu họ cung ứng ít dịch vụ thì hưởng ít, và nếu họ không cung ứng dịch vụ thì không hưởng. Đó là mối quan hệ rất công bằng.
Thực tế triển khai chương trình này đòi hỏi các địa phương, các cơ quan quản lý lâm nghiệp phải chủ động tham mưu cho các cấp chính quyền cân đối, điều phối, bổ sung kinh phí thông qua các chương trình, dự án và các nguồn kinh phí khác để đảm bảo mức chi trả bình quân không thấp hơn mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho bảo vệ rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 16/8)đầu trang(
16/8, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức Lễ ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng với Công ty Thủy điện Huội Quảng - Bản Chát.
Theo đó, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng là 20 đồng/kwh điện thương phẩm. Thời gian thanh toán tính từ tháng 3/2013. Tổng diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho Nhà máy Thủy điện Huội Quảng - Bản Chát thuộc địa bàn các huyện: Than Uyên, Tân Uyên, Tam Đường và thị xã Lai Châu là 84.567ha. Tiền dịch vụ môi trường rừng sẽ được chi trả cho các cá nhân, tổ chức có rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng.
Hợp đồng ủy thác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng nhằm chi trả tiền bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, sông, suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất điện của Nhà máy Thủy điện Huội Quảng - Bản Chát. (Báo Lai Châu 16/8)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
17-8, tại khu vực rừng phòng hộ của xã Đông Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã xảy ra vụ cháy rừng thông và keo.
Nhận được tin, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 (Quân khu 4) đã điều động 150 cán bộ, chiến sĩ giúp dân chữa cháy rừng. Do đám cháy xảy ra đúng thời điểm nắng nóng, lớp thảm thực vật dày lại có gió thổi mạnh nên công tác chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn. Sau hơn 4 giờ đám cháy mới được cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 và nhân dân khống chế.
Ước tính gần 15ha trong tổng số 30ha rừng thông và keo bị cháy. Nguyên nhân của vụ việc đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Quân Đội Nhân Dân 18/8)đầu trang(
Ngày 16/8, tại thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã có buổi làm việc với đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh.
Tại buổi làm việc, nhiều đại biểu cho rằng cây sâm Ngọc Linh là loại sâm quý, là 1 trong 4 loại sâm quý nhất trên thế giới với nhiều công dụng rất tốt cho sức khỏe con người. Do vậy, tỉnh Kon Tum nói riêng và Việt Nam cần thực hiện các giải pháp cấp thiết để cây sâm Ngọc Linh có “chỗ đứng” trên thế giới.
Tỉnh Kon Tum tiếp tục hợp tác với Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai dự án “hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh.” Đây cũng là dự án đã được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt chủ trương đầu tư vào tháng 6/2013.
Theo đó, từ nay đến năm 2022, dự án sẽ đầu tư khoa học công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống tạo ra số lượng cây giống lớn, dự kiến từ 4-5 triệu cây giống/năm; hoàn thiện quy trình công nghệ canh tác và mở rộng diện tích trồng sâm, đến năm 2022 sẽ đạt từ 800-1.000ha sâm.
Bên cạnh đó, dự án còn hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến, xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm cây sâm Ngọc Linh; áp dụng các công nghệ mới trong thu hoạch, bảo quản, chiết xuất nhằm tạo được các sản phẩm có giá trị cao; xây dựng nhà máy chế biến với quy trình công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.
Ngoài ra, Dự án còn đưa ra giải pháp để xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm của cây sâm Ngọc Linh và được bảo hộ trên thế giới; bảo vệ cùng với việc chống hàng giả cho hương hiệu sâm.
Dự án được chia thành 3 giai đoạn với tổng nguồn vốn đầu tư hơn 567 tỷ đồng. (VietnamPlus.vn 17/8)đầu trang(
Những “lâm tặc” một thời tung hoành trên các cánh rừng giờ đã hoàn lương, tình nguyện ngày ngày đi tuần tra, bảo vệ rừng. Người dân gọi họ là những “kiểm lâm không lương”
Theo dấu chân của ông Nguyễn Văn Bồng (65 tuổi), PV về khóm 7, thị trấn Khe Sanh và dạo qua một vòng xã Tân Liên, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Nơi đây từng là điểm nóng về tình trạng phá rừng khi nhiều rừng thông bạt ngàn nay chỉ còn trơ đồi trọc.
Ông Bồng kể: "Trước đây, tôi ở thôn Đại Thủy, xã Tân Liên, làm thợ sơn tràng. Ngày thường thì đốn củi khô bán khắp các chợ và quán xá trong làng xã, hết đợt tôi lại đi làm thuê. Vì thế, dân trong thôn cứ bảo tôi là "thợ đụng". Đến khi Lâm trường huyện Hướng Hóa mở chiến dịch trồng cây thông lấy mủ, tôi mới có công việc ổn định". Gia đình ông Bồng đấu thầu trồng được mấy hecta thông rồi khai thác nhựa thông. Ngay từ những ngày đầu, ông và một số hộ dân đã liên kết với các kiểm lâm để bảo vệ những khoảnh rừng mình được giao.
"Đội khai thác mủ thông của chúng tôi có 14 thành viên. Mỗi người đều được phân một khu vực cụ thể, có người lên tới 4-5 ha. Hằng ngày, công việc của chúng tôi là đi cạo mủ. Vì vậy, cây thông nào chúng tôi chả biết, có xê dịch gì là chúng tôi trực tiếp báo cáo với bảo vệ hay lâm trường liền" - ông Bồng nói.
Khi người dân có rừng thông để làm kinh tế cũng là lúc "lâm tặc" hoạt động trên diện rộng. Đây là khu vực rừng trồng, hầu hết cây cối đều gần 30 năm tuổi nên chỉ cần hạ được 1 cây, bọn phá rừng sẽ thu về món hời khá lớn. Trước đây, nhóm ông Bồng chỉ mang 1 chiếc rựa đi bảo vệ rừng. Bây giờ, do "lâm tặc" hung hãn dùng máy cưa chống trả nên đội phải trang bị cho mình nhiều "đồ nghề" thiện chiến.
Mỗi thành viên trong nhóm đều nuôi 3-4 chú chó săn thiện nghệ, chỉ cần đánh hơi thấy người lạ là chúng sủa ầm ĩ đánh động đội giữ rừng. Theo các thành viên trong đội, đội ngũ chó săn của ông Nguyễn Văn Tuân đông đảo nhất, nhiều lần từng làm cho bọn phá rừng và trộm nhựa khiếp vía.
Theo các cụ, nhờ đội giữ rừng mà tình trạng gỗ thông bị cưa xẻ và tuồn ra ngoài giảm hẳn, thậm chí đã chặn đứng được bọn phá rừng. Cụ Lê Quận Thám, Chủ tịch Hội Người mù huyện Hướng Hóa, tâm sự: "Tôi mù lòa đến nay đã mấy chục năm. Thời mắt còn sáng, những cây thông mới bén rễ, giờ thì ôm một vòng tay tôi mà chả hết được. Có được như vậy đâu đơn giản! Rừng có sẵn thì giữ đã đành, rừng trồng cũng phải giữ chứ, không giữ thì "lâm tặc" đốn sạch". (Người Lao Động 17/8)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
"Về hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, cho rằng nhà đầu tư về mặt lý thuyết và thực tiễn đã thể hiện rằng họ vẫn muốn tiếp tục dự án. Nhưng nếu như dân chưa hiểu biết, chưa đồng tình thì cũng chưa nên quyết định ngay, dù là chủ trương lớn cũng không thể trái ý dân’.
GS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ, một trong những thành viên Hội đồng thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của hai dự án thủy điện gây nhiều tranh cãi thời gian qua là Đồng Nai 6 và 6A đã chia sẻ với Đất Việt sát ngày hội đồng chính thức họp.
Việc làm hay không làm thủy điện Đồng Nai 6 và 6A đã khiến những nhà quản lý, nhà khoa học và dư luận tranh cãi suốt 6 năm nay. Theo ông vì sao lại có sự tranh luận kéo dài như vậy? Là một nhà khoa học vừa tham gia khảo sát hai dự án thủy điện này, quan điểm của ông như thế nào? Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung nói: - Tôi cho rằng dự án này "đầu thai" không đúng thế kỷ. Trước kia, các dự án được duyệt một cách cởi mở, nay kinh nghiệm thực tế thấy đã bộc lộ nhiều rủi ro nên đã thận trọng và khắt khe hơn. Sinh ra vào thời điểm khắt khe thì dù ưu việt vẫn phải xem xét kỹ hơn, khó được chấp nhận hơn. Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A nằm trong diện đó.
Theo tôi, hai dự án này có ưu điểm là đã cố gắng sử dụng thiết bị và công nghệ hiện đại, không làm hồ nước lớn. Thông thường, so với các công trình thuỷ điện khác thì tỷ lệ phá rừng trên 1kW công suất thiết kế thuộc loại nhỏ nhất vì không làm hồ lớn.
Ngoài ra, dự án áp dụng công nghệ xả nước đáy đập, tuy đòi hỏi chi phí lơn hơn, nhưng đảm bảo ổn định dòng chảy điều chỉnh theo ngày, giảm nhẹ chênh lệch độ tích nước, xả nước lớn giữa mùa mưa, mùa khô, tạo ổn định dòng chảy không bị ngắt quãng để hạn chế sự ảnh hưởng tới lưu lượng dòng chảy hạ lưu. Tuy nhiên, còn cần nghe bình luận sâu hơn của các chuyên gia thuỷ văn, công trình.
Như vậy là làm thủy điện sẽ phá rừng. Hai dự án Đồng Nai 6 và 6A lại nằm trong rừng Quốc gia Cát Tiên cho nên việc cân nhắc giữa việc giữ rừng và làm thủy điện phải tính thế nào? Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung cho rằng: Chưa có thủy điện nào là không chạm đến rừng. Vì các sông suối đều ở đầu nguồn, cho nên làm thủy điện là phải phá rừng đầu nguồn. Vấn đề là phá ít hay nhiều, rừng có giá trị cao hay ít giá trị…
Bản thân tôi chỉ chuyên sâu phần rừng và môi trường trong báo cáo Tác động môi trường của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. Dự án chiếm 372,23 ha đất rừng, trong đó có 128,37 ha đất ở khu Cát Lộc thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên. Trên giấy tờ, chủ yếu là vùng lõi của Vườn quốc gia nhưng thực tế khảo sát thì chưa phải hoàn toàn như vậy.
Như tôi từng nói trong Chương trình "Nghĩ mở nói thẳng" trên VTV2 tháng trước, khu vực đó nguyên là rừng phòng hộ ven sông Đồng Nai thuộc xã Cát Lộc (cũ), huyện Cát tiên, tỉnh Lâm Đồng, xa trung tâm Bàu Sấu của VQG Cát Tiên, tỉnh Đồng Nai tới 35 km theo đường thẳng, năm 1992 đã kịp thời chuyển thành khu bảo tồn Cát Lộc, khi phát hiện đàn tê giác ở đó, mãi đến tháng 12 năm 2008 mới sát nhập vào VQG Cát tiên tỉnh Đồng Nai để tiện việc quản lý.
Môi trường sinh sống của tê giác không phải là rừng gỗ nguyên sinh, mà là rừng đã bị tàn phá lâu đời thành đầm lầy, trảng cỏ, cây bụi, rừng hỗn giao tre nứa với cây gỗ, do đó tính nguyên thuỷ, tính đa dạng sinh học không cao.
Từ tháng 4/2011 khi con tê giác cuối cùng bị bắn chết, khu rừng Cát Lộc tuy hết đối tượng bảo tồn, vẫn chưa kịp thời trả lại là rừng phòng hộ, khiến cho việc thẩm định ĐTM bị rắc rối.
Mặc dù chủ quản là Bộ NN&PTNT trong công văn số 1741/BNN-TCLN ngày 20/06/2011 gửi Thủ tướng Chính phủ ngay khi chưa biết đã hết tê giác, cũng đã khẳng định rằng “Việc xây dựng 2 công trình này tuy có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học trong VQG Cát Tiên và BQL rừng phòng hộ Nam Cát tiên nhưng ít ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực bảo tồn loài tê giác và sinh cảnh Bàu Sấu của VQG Cát Tiên, các mục tiêu cơ bản của vườn này vẫn được đảm bảo do diện tích chuyển mục đích không lớn và kéo dài theo dải hẹp dọc sông Đồng Nai là ranh giới ngoài của vườn”.
Song, ý kiến của tôi ở góc độ khảo sát rừng và môi trường rừng, chắc chỉ thoả mãn được 1 phần sức ép của dư luận xã hội.
Các vấn đề quan trọng khác cũng sẽ được đánh giá như phối hợp quản lý hệ thống thuỷ điện trên sông Đồng Nai, tác động môi trường trong quá trình chuẩn bị, thi công, vận hành, tác động của biến đổi dòng chảy, giải pháp giảm thiểu các tác động xấu, kế hoạch quản lý và giám sát môi trường ….
Hội đồng Thẩm định sẽ phải nghe và thảo luận tất cả các ý kiến, phần giải trình, từ đó mỗi thành viên hội đồng mới có ý kiến độc lập cuối cùng.
Giáo sư Nguyễn Ngọc Lung chia sẻ: Phải nói thật nguyên nhân để cấm thủy điện hay không cấm. Như thủy điện Sông Tranh 2, mới tích nước đã bị thấm đập là vì sao? Nhiều thuỷ điện nhỏ ở Miền Trung, Tây Nguyên, khi vỡ đập mới biết chất lượng khảo sát và xây dựng. Cần công khai chỉ rõ nguyên nhân và trách nhiệm từ khâu nào, khảo sát, thiết kế, thi công hay quản lý mới xử lý thích đáng được.
Ở nước ta nạn tham nhũng, dối trá không phải chỉ trong 1 ngành nào. Việc phát triển thuỷ điện theo phong trào, hết giai đoạn quá mạnh dạn, gặp sự cố tất yếu sẽ đến giai đoạn quá thận trọng, điều đó phải hỏi chuyên ngành quản lý, nhất là trách nhiệm của người phê duyệt cao nhất, cho dù có dẫn ra hàng loạt quy hoạch.
Về nguyên tắc thì thuỷ điện vẫn là nguồn năng lượng rẻ, sạch, tự tái tạo, không phát thải khí nhà kính, vì vậy thủy điện vẫn ưu việt, phù hợp với thời đại, vấn đề là điều kiện sử dụng, quản lý, xây dựng và vận hành thủy điện như thế nào, còn cụ thể cho 2 công trình 6 và 6A thì ta đang bàn luận, đang cân nhắc để trình cấp thẩm quyền quyết định… (Đất Việt 19/8) đầu trang(
Đến ngày 17-8, UBND huyện Quỳ Châu (Nghệ An) cùng Ban Giám đốc Lâm trường Cô Ba (huyện Quỳ Châu) đã hoàn thành phân chia 135 ha đất (đợt 1) cho người dân xã Châu Bình (huyện Quỳ Châu).
Như đã đưa tin, từ ngày 9 đến 13-6, hơn 1.000 người dân của 16/17 bản thuộc xã Châu Bình vì thiếu đất trồng trọt, canh tác nên đã vào chặt phá các khu rừng đầu nguồn do Lâm trường Cô Ba quản lý để chiếm đất. Do người dân phá rừng quá đông nên Lâm trường Cô Ba và lực lượng chức năng không thể ngăn chặn. Hậu quả, đã có 10 ha rừng hàng chục năm tuổi bị chặt phá hoàn toàn và hơn 300 ha rừng bị xâm hại.
Trước tình hình trên, ngày 13-7, UBND tỉnh Nghệ An đã ra quyết định thu hồi hơn 1.500 ha đất của Lâm trường Cô Ba tại xã Châu Bình để tổ chức giao đất cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo quy hoạch và đúng pháp luật. Hiện chính quyền đang xem xét cấp đợt 2. (Pháp Luật TPHCM 18/8)đầu trang(
Từ nay đến năm 2015, huyện Tủa Chùa phấn đấu giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, những hộ trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp đang thiếu đất sản xuất hoặc không có đất sản xuất với tổng diện tích dự kiến giao là gần 37.000ha.
Những hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, những hộ trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp đang thiếu đất sản xuất hoặc không có đất sản xuất sẽ là đối tượng được huyện Tủa Chùa ưu tiên giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Đài PT – TH Điện Biên 18/8)đầu trang(
Chiều 15-8, các cán bộ Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam đã có mặt tại xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An để làm thủ tục tiếp nhận 1 con cá voi nhám nặng khoảng 800 kg do người dân tặng để đưa về Hà Nội phục vụ nghiên cứu.
Trước đó vào đêm 13-8, khi đang đánh cá trên ở vịnh Bắc Bộ, cách bờ khoảng 145 hải lý, ngư dân Vũ Ngọc Diên (trú tại xóm Minh Thành, xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) phát hiện 1 con cá lớn đã chết mắc vào lưới.
Sau khi cùng các ngư dân khác vớt cá lên, ông Diệm đã ướp lạnh cá và cho thuyền chạy vào bờ.
Con cá được xác định là cá voi nhám, có chiều dài 4,2 m, nặng 780 kg, đường kính chỗ rộng nhất gần 1 m. Ngay sau đó, ông Diên đã liên hệ với Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam để hiến tặng con cá này. (Người Lao Động 17/8)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Đinh Quốc Thái vừa ban hành Chỉ thị tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, xử lý buôn bán, sử dụng động vật hoang dã và các sản phẩm từ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm trên địa bàn tỉnh này.
Theo đó, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã Long Khánh và TP. Biên Hòa chỉ đạo các cơ quan chức năng địa phương, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại đơn vị nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo tồn loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Đặc biệt không mua bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là sản phẩm từ động vật hoang dã có nguồn gốc không hợp pháp.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đồng Nai chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi săn bắn, mua bán, nuôi nhốt, giết mổ, chế biến, kinh doanh và vận chuyển trái phép các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Công an tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các phòng nghiệp vụ tổ chức kiểm tra, truy quét, ngăn chặn, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm các quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ động vật hoang dã.
Ngoài ra, chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu các đơn vị liên quan và các cơ quan thông tin đại chúng tăng cường công tác tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển động vật hoang dã. (Công An Đã Nẵng 17/8)đầu trang(
Ngày 16.8, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết đã ban hành văn bản đôn đốc 20 doanh nghiệp (DN) được thuê đất rừng trên địa bàn chấp hành bồi thường giá trị tài nguyên rừng vào ngân sách nhà nước, với tổng số tiền phải nộp trên 25 tỉ đồng.
Trong số này có 8 DN được gia hạn tiến độ nộp tiền bồi thường giá trị tài nguyên rừng (nhiều nhất là Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lộc Bắc với số tiền phải nộp trên 7,1 tỉ đồng); 7 DN đang bị xem xét thu hồi dự án; và 5 DN đã bị thu hồi dự án. Tùy từng DN được ấn định thời gian nộp cụ thể, nhưng DN trong số được gia hạn thì chậm nhất đến ngày 30.11.2013 nếu không chấp hành sẽ bị thu hồi dự án vô điều kiện. (Thanh Niên 17/8; Sài Gòn Giải Phóng 17/8) đầu trang(
Công ty cổ phần Giống lâm nghiệp vùng Tây Nguyên thuộc Công ty Giống lâm nghiệp Trung ương (Bộ NN-PTNT) đóng tại Đà Lạt có nhiệm vụ chính là sản xuất hạt và cây giống lâm nghiệp phục vụ công tác phát triển rừng của khu vực Tây Nguyên.
Hiện tại, doanh nghiệp cổ phần nhà nước này đang “giữ hộ” nhà nước 5.033,2 ha rừng thông và đất rừng. Do chỉ là “giữ hộ rừng cho nhà nước” nên từ năm 2010 tới nay, công ty không được nhà nước cấp kinh phí phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng và công tác phòng chống cháy rừng (từ năm 2010 tới nay, công ty phải lấy từ nguồn SX-KD của đơn vị 1,629 tỷ đồng để chi cho công tác quản lý bảo vệ rừng và gần 90 triệu đồng để chi cho công tác phòng chống cháy rừng) trong khi SX-KD của ngành lâm nghiệp nói chung và của công ty nói riêng đang gặp khó khăn.
Để góp phần tháo gỡ những khó khăn của Công ty Giống lâm nghiệp vùng Tây Nguyên, ngày 15/8, đồng chí Phạm S - Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã cùng với lãnh đạo Sở NN-PTNT tổ chức buổi làm việc cùng Ban Giám đốc Công ty.
Tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu Công ty cổ phần Giống lâm nghiệp vùng Tây Nguyên tăng cường hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng, xử lý nghiêm các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai đã xảy ra trên lâm phần do đơn vị quản lý; rà soát và mở rộng ngành nghề SX-KD; sớm hoàn tất các thủ tục pháp lý về quản lý bảo vệ rừng (hoặc bàn giao diện tích rừng “giữ hộ” về cho địa phương quản lý) và thủ tục liên doanh - liên kết trồng rừng trên diện tích đất trống và rừng nghèo kiệt để trình UBND tỉnh và các cơ quan có thẩm quyền xem xét.
UBND tỉnh và Sở NN-PTNT cũng đã chấp thuận thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với diện tích rừng trồng của công ty, chỉ đạo các cơ quan chuyên ngành thuộc Sở NN-PTNT tăng cường quan hệ công tác, giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn để phát triển sản xuất kinh doanh… (Báo Lâm Đồng 188)đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, hiện nay, toàn tỉnh Bình Định có hàng trăm cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp, cung ứng hàng trăm triệu cây giống phục vụ công tác trồng rừng vụ Thu Đông năm 2013. Tuy nhiên, qua kiểm tra, tại một số địa phương, nhiều cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp không đảm bảo các điều kiện sản xuất, nguồn gốc giống không rõ ràng, kém chất lượng, ảnh hưởng đến công tác trồng rừng của tỉnh.
Để chấn chỉnh tình trạng này, Sở NN-PTNT vừa có văn bản gửi UBND các huyện, thị xã, thành phố đề nghị chính quyền các địa phương phối hợp chặt chẽ với Chi cục Lâm nghiệp tỉnh tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh giống cây trồng lâm nghiệp. Đồng thời, có biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp kém chất lượng; công bố danh sách các cơ sở sản xuất giống không đảm bảo chất lượng trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết. (Báo Bình Định 18/8)đầu trang(
Vừa qua, TAND tỉnh Bình Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Thuấn (SN 1960, nguyên giám đốc Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ, trụ sở tại phường Trần Quang Diệu, Quy Nhơn, Bình Định) 14 năm tù về tội “cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế của Nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo cáo trạng, từ năm 1998 đến tháng 10-2000, với cương vị giám đốc Công ty Nguyễn Huệ (thuộc Tổng Công ty lâm sản Việt Nam, Bộ NN&PTNT) trong quá trình hợp đồng mua bán gỗ với Công ty Hero Worksipper Enterprise Corp (Campuchia), Nguyễn Văn Thuấn đã chỉ đạo cho nhân viên thanh toán vượt 106m3 gỗ, trị giá gần 35.000 USD, sau đó còn cho công ty này mượn thêm trên 200,2m3 gỗ hương, trị giá gần 2,58 tỉ đồng để xuất bán cho Công ty Ngoại thương Xuzhou (Trung Quốc).
Ngoài ra, Nguyễn Văn Thuấn đã lấy tiền của công ty trả nợ thay cho Công ty Hero Worksipper Enterprise Corp, duyệt chi tạm ứng trái nguyên tắc cho nhân viên của công ty này tổng cộng trên 2,14 tỉ đồng. Hết sai phạm này rồi đến sai phạm khác, Nguyễn Văn Thuấn còn chỉ đạo xuất hóa đơn khống về việc bán gỗ cho Công ty Tiếp thị - Thương mại và xây dựng Hà Nội, làm phát sinh thuế doanh thu Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ phải nộp 159 triệu đồng. Tổng cộng, Công ty Lâm nghiệp Nguyễn Huệ bị thiệt hại tổng cộng trên 5,4 tỉ đồng, gồm 35.000 USD và trên 4,7 tỉ đồng.
Đầu năm 2001, Nguyễn Văn Thuấn bị Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam buộc thôi giữ chức giám đốc. Trong thời gian này, cơ quan Công an tỉnh Bình Định tiến hành điều tra những sai phạm trên thì ngày 1-4-2003 Nguyễn Văn Thuấn bỏ trốn vào TPHCM sinh sống và làm việc tại Công ty TNHH sản xuất - chế biến Suối Nho, trụ sở số C16, hẻm 22 thuộc tổ 49, P.Trung Mỹ Tây, Q.12, TP Hồ Chí Minh. Chiều ngày 2-10-2012, Nguyễn Văn Thuấn vừa đến trụ sở làm việc thì bị các trinh sát ập đến bắt giữ, công bố lệnh bắt giữ theo quyết định truy nã ngày 1-4-2003 của Cơ quan CSĐT CA tỉnh Bình Định. (Kinh Tế Nông Thôn 16/8)đầu trang(
16-8, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM lại một lần nữa hoãn xử vụ bà Phạm Thị Lang kiện giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang. Sau khi tòa tuyên bố, bà Lang nói trong bức xúc: “Tôi sẽ quyết theo kiện tới cùng bởi thiệt hại của tôi quá lớn nhưng đến nay không ai đứng ra nhận trách nhiệm cả”.
Theo bà Lang trình bày, năm 2002, bà cùng ông Đặng Minh Dũng đã trả 1 tỉ đồng (tương đương 200 cây vàng lúc đó) tiền công giữ rừng cho 10 hộ dân ở ấp Cán Gáo, xã Đông Hưng B, An Minh (Kiên Giang) thì mới được giao 130 ha đất rừng phòng hộ. Việc chuyển nhượng thành quả lao động trên đất đã được chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng chấp nhận.
Một năm sau, bà Lang đầu tư thêm 500 triệu đồng làm đường băng cản lửa phòng, chống cháy rừng theo quyết định của Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang. Tiếp đó, bà dựng tám căn nhà, mua xuồng ghe, máy móc, trồng cây gây rừng và thuê bảy hộ dân quản lý, bảo vệ rừng. Hằng năm đến mùa khô, bà còn thuê người trực lửa, dọn cỏ trên bờ, dưới sông, bơm nước, mua tám xuồng hơi tuần tra rừng... để phòng cháy.
“Quá trình nhận khoán, tôi trả đủ tiền, không hề có sai phạm nên phần đất rừng của tôi không bị tranh chấp gì. Thời gian này ban quản lý rừng làm trái chủ trương, chính sách, không cho tôi nhận quyền lợi gì theo quyết định của Chính phủ nhưng tôi vẫn bám rừng, vay tiền, thế chấp toàn bộ tài sản ở Long An để tiếp tục đầu tư bảo vệ rừng” - bà Lang kể tiếp.
Đến năm 2007, ban quản lý rừng có chủ ý chuyển đất rừng khoán thành đất rừng sản xuất như vậy dân sẽ thu hồi được vốn đầu tư và sẽ có lợi nhuận. Bà Lang chưa kịp vui mừng thì bất ngờ vào tháng 2-2009, giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang đã ra quyết định thu hồi phần đất rừng mà bà nhận khoán để đem giao cho người khác.
Bao nhiêu tiền của, công sức, tâm huyết đầu tư rừng và giữ rừng bỗng chốc trở thành tay trắng, bà Lang đã đi khiếu nại nhiều nơi về quyết định thu hồi trên, đồng thời đòi bồi thường nhưng không được giải quyết thỏa đáng. Cuối năm 2010, chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang xác nhận quyết định của giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh không sai nên bác việc khiếu nại của bà. Vì vậy, bà Lang buộc phải khởi kiện quyết định của giám đốc Sở ra TAND tỉnh Kiên Giang vào tháng 2-2012.
Trong thời gian tòa đang giải quyết vụ kiện, tháng 1-2013, giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang đã ra quyết định mới với nội dung hủy bỏ quyết định thu hồi đất rừng đối với bà Lang. Dù đối tượng khởi kiện không còn nhưng bà Lang vẫn cương quyết không rút đơn khởi kiện bởi theo bà, việc yêu cầu bồi thường tổn thất chưa được giải quyết.
“Hiện nay đất rừng của tôi đã bị thu hồi hết và giao khoán cho hộ khác. Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang chỉ hủy quyết định của mình mà không khôi phục quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tôi. Họ phủi tay xong chuyện, vậy thiệt hại của tôi ai sẽ đứng ra chịu trách nhiệm đây?” - bà Lang nghẹn ngào.
Xử sơ thẩm hồi tháng 3, TAND tỉnh Kiên Giang đã bác đơn khởi kiện của bà Lang vì cho rằng đối tượng khởi kiện không còn, đồng thời tách yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của bà thành một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu. Bà Lang kháng cáo. Quá trình giải quyết án sau đó, thẩm phán tòa phúc thẩm khuyên bà nên rút kháng cáo nhưng bà vẫn cương quyết không đồng ý.
Theo bà Lang, nếu rút kháng cáo thì đồng nghĩa với việc bà sẽ phải đi khởi kiện ban quản lý rừng (bên ký hợp đồng giao khoán đất rừng cho bà) theo thủ tục tố tụng dân sự để đòi bồi thường thiệt hại. Thế nhưng kiện ban quản lý rừng sẽ không đem lại kết quả gì bởi ban quản lý rừng không làm gì sai. Họ không phải là cơ quan ra quyết định thu hồi đất rừng. Trong khi đó, cơ quan ra quyết định ở đây là Sở NN&PTNT tỉnh thì sẽ “ung dung thoát khỏi vòng tố tụng”.
PV đã mang vụ việc của bà Lang đi trao đổi với nhiều thẩm phán có kinh nghiệm xử án hành chính. Theo các thẩm phán, việc giải quyết án hành chính bao gồm cả việc giải quyết yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do hành vi, quyết định hành chính trái pháp luật gây ra. Vì thế, phán quyết tách phần đòi bồi thường thiệt hại ra thành vụ án dân sự khác nếu người đi kiện có yêu cầu của tòa sơ thẩm là không hợp lý. Thông thường, các tòa sẽ chỉ tách nếu yêu cầu của đương sự nằm ngoài phạm vi giải quyết theo luật định.
Đồng tình, một kiểm sát viên cao cấp Viện Phúc thẩm III VKSND Tối cao cũng cho rằng nếu tách phần đòi bồi thường thiệt hại ra thành vụ án dân sự thì người dân sẽ không có cơ sở đòi bồi thường khi quyết định sai đã bị rút. Cách làm này không khác gì “phủi tay bỏ mặc dân”. (Pháp Luật TPHCM 17/8)đầu trang(
Ngày 16/8, Chi cục kiểm lâm tỉnh Tây Ninh vừa lập biên bản tạm giữ tại kho hàng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Anh Mạnh Gia Lai, địa chỉ ấp Tân Khai, xã Tân Lập, huyện Tân Biên (khu vực đồn biên phòng Chàng Riệc) một số lượng gỗ không có giấy tờ hợp pháp.
Số gỗ trên bao gồm hơn 6m3 gỗ dầu, 4 mặt bàn tròn gỗ bên (bề dày 10-12cm, đường kính 1-1,2m) trị giá trên 200 triệu đồng.
Theo lời khai của ông Trần Khánh Thành, người đại diện kho hàng, số gỗ trên có nguồn gốc nhập từ Campuchia là của một số người khác gửi nhưng không cho biết cụ thể là của ai.
Theo Chi cục kiểm lâm Tây Ninh, tình trạng tàng trữ, cất giấu gỗ lậu, nhiều nhất là các loại gỗ phách, gỗ xẻ...có giá trị lớn, dùng để gia công, chế biến bàn ghế, vật dụng gia đình cao cấp tại khu vực các cửa khẩu biên giới Tây Ninh đã tồn tại từ lâu, nhưng ngành chức năng rất khó phát hiện do hàng hóa thường tập kết ở khu vực biên giới, cất giấu trong kho ngoại quan vào ban đêm.
Khi vận chuyển vào trong nội địa, có người dò đường, phương tiện vận chuyển bằng xe con, xe chuyên dụng.
Trước đó, tại khu vực Đồn biên phòng 817 (Kà Tum), thuộc địa phận xã Tân Đông, huyện Tân Châu, Hạt kiểm lâm của Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cũng đã bắt giữ 2 vụ vận chuyển 31m3 gỗ dầu, 4 bình gỗ cao 2 m và 2 mặt bàn đường kính 1,2m.
Số gỗ lậu kể trên cũng có nguồn gốc từ Campuchia vận chuyển sang. (VietnamPlus.vn 16/8)đầu trang(
Thời gian gần đây tình hình khai thác gỗ trái phép tại vùng rừng giáp ranh giữa huyện Sông Hinh, Phú Yên và huyện M’Đrắk tỉnh Đăk Lăk diễn biến phức tạp.
Tại các khoảnh 4, 7, 10-Tiểu khu 309, xã Ea Trol, huyện Sông Hinh, thuộc lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ (RPH) Sông Hinh quản lý, lực lượng chức năng phát hiện các đối tượng đã dùng các phương tiện cơ giới, chặt hạ 63 cây gỗ lớn, với tổng khối lượng 286,196m3.
Trước đó, tháng 7-2012, lực lực lượng chức năng Phú Yên cũng phát hiện một nhóm người ở xã Cư Prao (huyện M’Đrắk) tự ý mở đường sâu vào khu vực giáp ranh hai huyện nói trên để khai thác hàng trăm mét khối gỗ trái phép.
Trước tình hình này, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên ngày 15-8-2013 đã có công văn 2642/UBND-KT chỉ đạo yêu cầu Công an Tỉnh chủ trì phối hợp UBND huyện Sông Hinh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các đơn vị liên quan chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường, xác minh điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng khai thác gỗ trái phép theo đúng quy định pháp luật.
Theo đó, UBND tỉnh giao UBND huyện Sông Hinh chỉ đạo các lực lượng chức năng chủ động phối hợp với các đơn vị, địa phương thuộc huyện M’Đrắk, tỉnh Đăk Lăk để nắm thông tin, đồng thời tăng cường năng lực bảo vệ rừng, công tác tuần tra, trinh sát vùng giáp ranh giữa hai tỉnh theo quy chế phối hợp, nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại tài nguyên rừng, nhất là khu vực tiếp giáp với các tuyến giao thông, khu vực sản xuất nông lâm nghiệp, khu dân cư của tỉnh Đăk Lăk.
Tỉnh Phú Yên dự kiến sẽ trao đổi, làm việc với UBND tỉnh Đăk Lăk để cùng thống nhất và phối hợp chỉ đạo quyết liệt các biện pháp bảo vệ rừng, nhằm ngăn chặn tình trạng xâm hại tài nguyên rừng vùng giáp ranh giữa hai tỉnh. (Nhân Dân 18/8)đầu trang(
Nhiều tháng qua, khu vực rừng Ngàn Me thuộc xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên) đã bị tàn phá nghiêm trọng, không những mất tài nguyên rừng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái, khả năng giữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, kéo theo nhiều bất ổn về an ninh trật tự tại địa bàn.
Theo nhiều người dân địa phương, việc chặt phá rừng Ngàn Me diễn ra từ nhiều năm ngay nhưng các đối tượng khai thác lâm sản trái phép chỉ chặt phá nhỏ lẻ để lấy gỗ, lấn đất rừng, mỗi năm khoảng vài ha. Từ khoảng tháng 2/2013 đến nay, nhiều người tiến hành chặt phá rừng ồ ạt, công khai và triệt để với mục đích để chiếm đất trồng rừng mới.
Ước tính sơ bộ, hiện diện tích rừng bị phá đã lên tới hàng chục ha. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, rừng Ngàn Me nằm trên địa bàn xã Tân Lợi do Công ty lâm nghiệp Thái Nguyên quản lý với diện tích khoảng 600 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên đầu nguồn là 197,3 ha. Năm 2006, xã Tân Lợi đã đề nghị tỉnh Thái Nguyên quy hoạch diện tích 197,3 ha rừng tự nhiên đầu nguồn là rừng phòng hộ và giao cho địa phương quản lý.
Đến năm 2011, khu vực này đã được cắm mốc chỉ giới quy hoạch là rừng phòng hộ và Chi Cục Lâm nghiệp Thái Nguyên đã bàn giao chỉ giới cho UBND huyện Đồng Hỷ và UBND xã Tân Lợi. Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, khu vực rừng này vẫn đang chờ quyết định của UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận diện tích trên là rừng phòng hộ.
Song theo các quy định về quản lý và bảo vệ rừng, dù rừng đầu nguồn Ngàn Me chưa phải là rừng phòng hộ thì việc chặt phá rừng vẫn trái với quy định của pháp luật bởi muốn trồng rừng, khai thác rừng phải được cấp có thẩm quyền cho phép. Đáng lưu ý, từ cuối tháng 5/2013, chính quyền xã Tân Lợi, các ngành chức năng và đơn vị chủ rừng là Công ty lâm nghiệp Thái Nguyên đã 4 lần kiểm tra tại các khu vực rừng đầu nguồn Ngàn Me bị chặt phá, nhưng cũng chỉ lập biên bản ghi lại hiện trạng chứ không xác định được hoặc bắt được đối tượng nào phá rừng.
Ông Nghiêm Sơn Hà, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Lợi cho biết, khu vực chặt phá có trách nhiệm của Công ty lâm nghiệp cho người dân vào trồng cây ở gần khu vực rừng đầu nguồn, trách nhiệm chính trong quản lý, bảo vệ rừng ở đây là Hạt kiểm lâm huyện. Về phía địa phương nhận thấy trách nhiệm trong quản lý nhưng do địa bàn xã đường sá đi lại khó khăn, phụ cấp ít, lực lượng mỏng… nên việc quản lý, bảo vệ rừng rất khó khăn.
Còn đại diện Công ty lâm nghiệp Thái Nguyên lại cho rằng tuy đã được Nhà nước giao quản lý nhưng không có kinh phí, trước đây lại chỉ giao chỉ tay trên giấy, không có đo đạc, ranh giới cụ thể nên khó quản lý. Phía Kiểm lâm thì cho rằng để xảy ra tình trạng phá rừng Ngàn Me một phần do lỗi của cấp chính quyền địa phương và chủ rừng... (Tin Tức 18/8)đầu trang(
Ngày 17/8, ông Phạm Khắc Quang, Giám đốc Cty CP Phúc Trung Nam cho biết, Đồn biên phòng cửa khẩu Năm Căn (Cà Mau) vừa gia hạn thêm 23 ngày tạm giữ 3 tàu, chứng chỉ hành nghề và hơn 70 m3 gỗ trắc qua xử lý của doanh nghiệp này nhập từ Campuchia.
Theo đó, thiếu tá Đoàn Văn Thỉnh, Đồn trưởng Đồn biên phòng cửa khẩu Cảng Năm Căn quyết định gia hạn tạm giữ hành chính đối với tàu, hàng hóa và 3 thuyền trưởng là Seshout, Leangno, Lethbunleang quốc tịch Camphuchia từ ngày 15/8 đến ngày 7/9/2013 để điều tra, xác minh, làm rõ nguồn gốc gỗ trắc.
Trước đó, Đồn trưởng Đồn biên phòng cửa khẩu Cảng Năm Căn đã quyết định tạm giữ hành chính từ ngày 8/8 nhưng việc bốc dỡ, kiểm đếm, cân đo chưa thể hoàn thành với lượng gỗ trắc khoảng 100 tấn. Cty CP Phúc Trung Nam đã gửi đơn yêu cầu các cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau, Bộ đội biên phòng, Hải quan và Kiểm lâm nhanh chóng cho nhập cảng, thông quan để tránh thất thoát cho doanh nghiệp nhập khẩu gỗ. (Tiền Phong 18/8)đầu trang(
10 năm nay, cụ Đinh Thị Liên (89 tuổi, thôn Cây Gia, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình) là mẹ của liệt sĩ Đinh Biện (hy sinh năm 1968), nhiều lần lên xã, lên huyện, đến tòa đòi lại mảnh đất đã được cấp Giấy quyền sử dụng đất bấy lâu để trồng rừng nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Gia đình cụ Đinh Thị Liên là gia đình có công với cách mạng, cả cụ ông và cụ bà đều được trao tặng Huy chương trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước.
Cụ Liên cho biết, cách đây hơn 10 năm, khi thực hiện chính sách giao đất trồng rừng, phủ xanh đồi trọc của nhà nước, gia đình cụ đã xung phong nhận đất để trồng rừng nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Gia đình được giao đất và UBND xã Xuân Hóa đã thành lập tổ công tác cùng cán bộ lâm trường huyện Minh Hóa đến thực địa tại đồi Chôông Kè phóng tuyến, cắm mốc, giao đất cho gia đình cụ và 6 hộ khác để phát bụi bờ, cuốc hố trồng cây lâm nghiệp, phủ kín đồi trọc.
Đến ngày 11/7/1999, UBND huyện Minh Hóa đã có quyết định và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Đinh Khánh (chồng của cụ Đinh Thị Liên) với tổng diện tích 21.400m2, trong đó đất trồng rừng là 2.200m2 và đất khoanh nuôi bảo vệ 19.200m2.
Sau khi nhận được đất, hai vợ chồng già cặm cụi, dồn hết sức lực để phát rẫy và cuốc hố được hơn 2/3 phần diện tích đất trồng rừng. Cũng trong thời gian đó, nhiều đoàn cán bộ và địa chính xã đã đi đo đạc lại nhiều lần trên phần đất của gia đình. Lúc đó, gia đình cụ nghĩ rằng người ta đi đo đạc lại cho các chủ hộ nhận đất.
Tuy nhiên, đến ngày đi nhận cây để trồng thì gia đình cụ không được nhận cây với lý do, gia đình không có đất để trồng. Điều đáng nói là phần đất của gia đình cụ và con gái (cũng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng biệt) lại bị hai ông Đinh Minh Sòng và Đinh Triêm (anh, em rể của ông Đinh Thanh Sơn, cán bộ địa chính xã) ngang nhiên trồng cây lên.
Bức xúc trước sự việc trên, gia đình đã viết đơn và trực tiếp đến UBND xã Xuân Hóa yêu cầu làm rõ thì lãnh đạo xã biện minh rằng: UBND huyện làm sai nên xã làm lại và phần đất của gia đình cụ Liên nằm trong lô đất của con gái là Đinh Thị Hoa, với diện tích chung là 4.400m2. Tuy nhiên, phần đất của con gái cụ Liên đang sử dụng còn thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 18.000m2. Do vậy gia đình cụ không chấp nhận với lý giải của UBND xã Xuân Hóa đưa ra vì cụ Liên và bà Hoa là mẹ con nhưng lại có hai hộ khẩu tách biệt và cả hai đều có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng biệt.
Không thể ngồi chờ, trong lúc đất không có để canh tác, năm 2003, gia đình cụ Liên bắt đầu hành trình đi tìm câu trả lời xác đáng. Cụ Liên cho biết: Ngày cụ ông còn sống, một tháng hai vợ chồng cụ phải lên xã, xuống huyện không biết bao nhiêu lần để hỏi thì nhận được câu trả lời rằng đất đã được cấp và có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi nên vấn đề kiện tụng, tranh chấp thì chỉ có tòa mới giải quyết được. Năm 2005, sau khi cụ ông qua đời, cụ Liên vẫn tiếp tục đi tìm công lý. Đến năm 2009, do tuổi cao, sức yếu, cụ Liên đã ủy quyền cho con dâu là bà Đinh Thị Tòng tập hợp hồ sơ để kiện đòi đất.
Bà Tòng cho biết: Sau rất nhiều lần đi tìm công lý, năm 2009 gia đình mới hoàn thành tất cả thủ tục, hồ sơ đến nộp cho Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa để kiện đòi đất từ hai ông Đinh Minh Sòng và Đinh Triêm (trú tại thôn Cây Gia, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa) là những người đang trồng cây và sử dụng diện tích đất của gia đình cụ Liên. Hồ sơ nộp xong nhưng đợi mãi không thấy tòa xét xử, gia đình đã lên hỏi nhưng chỉ nhận được câu trả lời từ phía tòa án rằng “sẽ giải quyết”. Một năm, hai năm rồi 5 năm trôi qua, khi cụ Liên sắp bước qua tuổi 90, mà “quý tòa” vẫn không giải quyết, cũng không có câu trả lời bằng văn bản.
Trước sự việc trên, PV đã có cuộc làm việc với đại điện lãnh đạo UBND xã Xuân Hóa, tuy nhiên câu trả lời của chính quyền địa phương vẫn vòng vò và thờ ơ. Tuy sự việc đã xảy ra khá lâu nhưng xã vẫn để mặc cho gia đình cụ Liên tự đi đòi kiện.
Làm việc với Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, khi PV thắc mắc trước thông tin gia đình mẹ liệt sĩ Đinh Thị Liên đã nộp đơn khiếu kiện 5 năm mà chưa được giải quyết thì ông Cao Thanh Bình, Chánh án Tòa án nhân huyện Minh Hóa thừa nhận sự chậm trễ trong việc tổ chức xét xử và đổ thừa sang việc tòa thiếu nhân lực.
Ông Bình cho biết: Trường hợp của cụ bà Đinh Thị Liên, đã nhận hồ sơ cách đây 5 năm nhưng do tòa án huyện chỉ có 2 thẩm phán mà một người đã luân chuyển đi tỉnh khác nên việc xét xử chậm trễ. Ông Bình còn cho biết thêm, hiện tại hồ sơ của gia đình cụ Liên không biết nằm ở đâu và sẽ tìm lại để giải quyết. (Tin Tức 18/8)đầu trang(
Dù UBND TP.Đà Nẵng đã “nghiêm cấm chặt phá cây rừng phá vỡ cảnh quan”, nhưng Công ty CP du lịch sinh thái và trang trại Bamboo (gọi tắt là Công ty Bamboo) lại đốt, chặt phá rừng Sơn Trà quy mô lớn, để xây dựng Trung tâm ứng dụng công nghệ sinh học.
Theo Ban Quản lý bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch TP.Đà Nẵng (gọi tắt là BQL), ngày 8.8, khi tuần tra kiểm soát theo dõi hoạt động của chủ đầu tư ở tuyến, điểm du lịch Sơn Trà, BQL phát hiện phần đất sát đường giao thông từ ngã ba Yết Kiêu lên đỉnh Sơn Trà bị phát dọn và đốt thực bì. Cây rừng thì bị chặt với quy mô nhỏ và BQL đánh giá sơ bộ không gây ảnh hưởng nhiều đến hệ sinh thái rừng tại khu vực.
Nhưng đến ngày 10.8, BQL tiếp tục thấy khói tại khu vực rừng nên kiểm tra sâu vào trong thì phát hiện Công ty Bamboo chặt cây rừng và tiến hành đốt thực bì quy mô lớn ở tiểu khu 62 với diện tích thiệt hại do phá và đốt rừng là 3 - 4 ha. Theo cán bộ BQL, việc tiếp cận hiện trường không dễ dàng do công ty chặn lối vào bên ngoài, nên để tránh xung đột cán bộ BQL đã đi đường vòng mới tiếp cận được hiện trường của vụ đốt, phá rừng.
Theo tài liệu PV có được, ngày 15.4.2013, UBND TP.Đà Nẵng có công văn đồng ý đề xuất của Sở Xây dựng cho phép Công ty Bamboo thuê 5 ha phía tây đường lên đỉnh bán đảo Sơn Trà để đầu tư xây dựng Trung tâm ứng dụng công nghệ sinh học (trung tâm) và lưu ý công ty không xây dựng nhiều công trình, đặc biệt nghiêm cấm chặt phá cây rừng phá vỡ cảnh quan môi trường khu vực.
BQL kết luận Công ty Bamboo đốt, chặt phá cây rừng của dự án trung tâm không những không chấp hành yêu cầu của UBND TP.Đà Nẵng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng.
Theo Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, đây không phải là lần đầu tiên Công ty Bamboo qua mặt cơ quan chức năng để đốt, phá rừng Sơn Trà. Tháng 6 vừa qua, lực lượng kiểm lâm phát hiện người của Công ty Bamboo đang đốt thực bì để lấy mặt bằng làm vườn ươm hoa trong khi Chi cục Kiểm lâm cảnh báo cháy rừng báo động 3, nghiêm cấm đốt thực bì trong mọi trường hợp do nắng nóng kéo dài.
Ông Lê Văn Nhì, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm liên quận khẳng định hành vi đốt phá rừng Sơn Trà của Công ty Bamboo là đã “đi trước một bước”, bởi lẽ công văn ngày 15.4 của UBND TP.Đà Nẵng chỉ mới đồng ý về mặt chủ trương cho phép Công ty Bamboo thuê 5 ha đất để xây trung tâm. Công văn này nêu rõ công ty còn phải phối hợp với Viện Quy hoạch xây dựng lập quy hoạch, khi được phê duyệt thì Sở Tài chính họp hội đồng thẩm định thống nhất giá thuê rồi Sở Tài nguyên - Môi trường mới hướng dẫn công ty làm thủ tục thuê đất.
Khi bị kiểm lâm phát hiện đốt thực bì vào tháng 6 công ty không xuất trình đầy đủ giấy phép nên Hạt Kiểm lâm tạm đình chỉ hoạt động xâm phạm rừng. Đến tận ngày 2.8, thời gian gia hạn 7 - 10 ngày đã qua lâu mà công ty vẫn không xuất trình được giấy tờ hợp lệ nên Hạt Kiểm lâm lập biên bản đình chỉ, buộc công ty không được phép tiếp tục tác động vào khu vực tiểu khu 62. Thế nhưng đến ngày 10.8, Công ty Bamboo lại tiếp tục đốt phá rừng quy mô lớn. (Tin Tức 17/8)đầu trang(
UBND tỉnh Gia Lai vừa có công văn 2647/UBND-CNXD chỉ đạo Sở NNPTNT và UBND huyện Đăk Pơ xử lý việc khai thác vàng trái phép tại xã Ya Hội (Đăk Pơ).
UBND tỉnh yêu cầu huyện Đăk Pơ chỉ đạo tiến hành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản trái phép đối với ông Nguyễn Văn Sỹ, trú tại xã Tây Thuận (Tây Sơn, Bình Định), tịch thu toàn bộ tang vật liên quan, đồng thời, huyện chỉ đạo Công an huyện Đăk Pơ tiến hành điều tra, làm rõ hành vi tàng trữ vật liệu nổ trái phép để xử lý theo quy định; kiểm điểm trách nhiệm đối với UBND xã Ya Hội vì để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép trên địa bàn nhưng chậm ngăn chặn, xử lý...
UBND tỉnh Gia Lai cũng yêu cầu Sở NNPTNT kiểm điểm trách nhiệm đối với Ban quản lý rừng phòng hộ Ya Hội vì để các đối tượng khai thác vàng trái phép trong lâm phần quản lý nhưng không phát hiện và xử lý. (Nông Thôn Ngày Nay 19/8)đầu trang(
16-8, lãnh đạo Hải quan Hải Phòng cho biết, đang chỉ đạo cơ quan chuyên môn hoàn thiện hồ sơ để xử lý nghiêm minh vụ vận chuyển trái phép 6,2 tấn tê tê.
Trước đó, tại cảng Hải Phòng, lực lượng chức năng của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng đã bắt giữ 6,2 tấn tê tê nhập lậu. Số tê tê này được đóng trong một công-ten-nơ vận chuyển từ In-đô-nê-xi-a về cảng Hải Phòng. Trên tờ khai, hàng hóa được doanh nghiệp thể hiện là cá, vẩy cá, xương cá và dạ dày cá đông lạnh. Tuy nhiên, qua kiểm tra, hải quan phát hiện trong công-ten-nơ chứa 6,2 tấn tê tê. (Quân Đội Nhân Dân 17/8)đầu trang(
Vừa qua, Tòa án Nhân dân huyện Lạc Dương đã xử và tuyên phạt 19 đối tượng khai thác trái phép số gỗ pơ mu này tổng cộng 195 tháng tù giam và buộc các đối tượng bồi thường cho nhà nước số tiền lâm sản bị thiệt hại là 432,345 triệu đồng.
Các đối tượng phải nhận bản án nghiêm khắc của Tòa án Nhân dân huyện Lạc Dương gồm 11 người (trong đó có 4 người là anh em ruột) hộ khẩu thường trú tại các huyện Khánh Sơn và Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa; 8 người khác có hộ khẩu thường trú tại các tỉnh Bình Định và Phú Yên. (Báo Lâm Đồng 16/8; Pháp luật Việt Nam 17/8)đầu trang(
Từ năm 2005 tới nay, rừng của Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà đã được quản lý, bảo vệ tốt; đầu năm 2012 tới cuối tháng 6/2013 chỉ xảy ra 3 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng xảy ra trong lâm phần của vườn.
Trong đó có 2 vụ khai thác gỗ pơ mu trái phép tại tiểu khu 89 giáp ranh lâm phần của Công ty Lâm nghiệp Khánh Hòa (tỉnh Khánh Hòa) với khối lượng 26,55m3 gỗ pơ mu đã được Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà phát hiện ngày 27/11/2012 và truy tố trước pháp luật. (Báo Lâm Đồng 16/8)đầu trang(
THẾ GIỚI
Các thành viên thuộc diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) vừa cam kết tăng diện tích đất trồng rừng thêm 20 triệu ha vào năm 2020.
Cam kết trong Tuyên bố chung Cusco của các Bộ trưởng Lâm nghiệp APEC này, được đưa ra sau cuộc họp vừa diễn ra ở Cusco (Peru), cũng bao gồm việc phát triển một chính sách về khai thác bền vững để bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực.
Bộ trưởng Nông nghiệp Peru, Minton Hesse cho biết tuyên bố được các Bộ trưởng Lâm nghiệp APEC ký đó kêu gọi các nước thành viên phát triển những dự án về môi trường nhằm thúc đẩy việc bảo tồn rừng. Theo đó, việc tăng thêm hàng triệu ha đất rừng là "một mục tiêu đầy tham vọng" và tất cả các thành viên APEC đã cam kết hợp tác hướng tới mục tiêu chung này.
Theo Thư ký APEC, Allan Bollard, việc bảo tồn rừng không chỉ là một vấn đề về các chính sách môi trường và sản xuất mà còn có liên quan tới các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh tế của các thành viên APEC và khoảng 80% kim ngạch buôn bán toàn thế giới liên quan đến rừng đang diễn ra tại các thành viên này.
Peru hiện là quốc gia có diện tích đất rừng lớn thứ hai khu vực Mỹ Latinh với 70% lãnh thổ tạo nên vùng Amazon. (VietnanPlus.vn 18/8)đầu trang(
Sau 10 năm, các nhà khoa học của Viện Nghiên cứu Khoa học Smithsonian (Mỹ) mới xác nhận một loài động vật có vú mới ở Colombia và Ecuador.
Sinh vật mới này được đặt tên là olinguito, tên khoa học là Bassaricyon neblina, và quá trình nhận dạng loài olinguito này mất tới 10 năm, đánh dấu việc phát hiện loài này lần đầu tiên tại khu vực Nam Mỹ trong 35 năm qua.
Một con olinguito nặng khoảng 1 kg, có đôi mắt to và lông màu nâu đỏ, trông giống như lai giữa mèo nhà và gấu thuộc họ gấu trúc Mỹ. Thức ăn chủ yếu của chúng là hoa quả và côn trùng. Dù vậy, chúng vẫn được được coi là động vật ăn thịt vì có hàm răng sắc nhọn. Loài động vật này thích sống ở trên cây và sinh mỗi lứa chỉ một con.
Kristofen Helgen, người phụ trách về động vật có vú ở Bảo tàng quốc gia về lịch sử tự nhiên của Viện Nghiên cứu Smithsonian, cho biết loài olinguito sống đơn độc và hoạt động về đêm. Chúng sinh sống ở dãy núi Andes và các khu rừng nhiệt đới ở Colombia và Ecuador, độ cao khoảng 1.500-2.700m trên mực nước biển.
Dù 42% diện tích khu vực sinh sống của chúng đã bị chuyển đổi thành các khu nông nghiệp và đô thị, các chuyên gia vẫn không liệt chúng vào danh sách những loài đang gặp nguy hiểm, thậm chí tin rằng có thể cả nghìn con đang sinh sống ở Venezuela và Peru.
Loài Olinguito đã bị nhận nhầm với người anh em họ to lớn hơn của chúng là loài olingo trong suốt 100 năm qua, dù chúng đã được nhìn thấy nhiều lần ở các bảo tàng và thậm chí là vườn thú. Trên thực tế, loài olinguito có kích thước nhỏ hơn, đầu và răng chúng có hình dạng hoàn toàn khác, lông của chúng dày và rậm hơn. (VietnamPlus.vn 17/8)đầu trang(
Namibia sẽ gửi 10 con tê giác và 5 con voi đến Cuba trong một dự án đặc biệt mang tên “tàu Noah II”.
Theo dự án, nhiều loài động vật hoang dã của Namibia sẽ được đưa đến Cuba bằng máy bay trong tháng 9. Sau đó, Cuba sẽ áp dụng các biện pháp bảo vệ đặc biệt đối với những loài vật này tại một số vườn quốc gia ở nước này.
Ông Pohamba Shifeta, Bộ trưởng Du lịch của Namibia cho biết, dự án nhằm thiết lập một chương trình bảo vệ động vật hoang dã tại Cuba, và điều này còn thể hiện sự ủng hộ của Namibia với Cuba.
Namibia từng nhận nhiều sự giúp đỡ từ Cuba trong cuộc chiến giành độc lập từ Nam Phi vào những năm 1970 – 1980. Hiện Namibia đã vận chuyển khoảng 120 con thú hoang dã đến Cuba. Trong tháng 11, Nambia dự kiến sẽ đưa thêm 23 loài mới đến Cuba, bao gồm cả loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như tê giác, báo và sư tử. (Vnxpress.net 17/8)đầu trang(
Các nhà khoa học tại Đức đang tiến hành thử nghiệm đưa những loài động vật ăn cỏ lâu nay không còn xuất hiện ở châu Âu quay trở lại nhằm thúc đẩy sự phát triển của thực vật bản địa đang dần biến mất tại đây.
Ngôi làng Töpchin thuộc bang Brandenburg cách Berlin khoảng 40km là một trong những nơi đầu tiên thực hiện thử nghiệm và loài ngoại lai được nhập khẩu là trâu nước châu Á. 10.000 năm trước, trâu nước vẫn là loài bản địa ở châu Âu nhưng vì nạn săn bắt nở rộ đã đẩy phạm vi sống của chúng ra xa tới phía đông nam của lục địa.
Mãi đến mùa hè năm 2011, người ta mới đưa trâu nước về chăn thả tại ngôi làng Töpchin theo một dự án phối hợp cùng Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Brandenburg tiến hành. Những con vật màu đen sừng được lai tạo giống theo đơn đặt hàng riêng tại Pháp có thể gặm cỏ ở những môi trường ẩm ướt và nghèo dinh dưỡng mà loài bò ở Đức đã ngán ngẩm, bao gồm một số vùng đầm lầy bị đe dọa và khu vực đầm lầy muối còn sót lại.
Ông Holger Rössling thuộc Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Brandenburg cho biết: “Chúng ta cần trâu để loại bỏ sinh khối, nếu không những khu vực nói trên sẽ mất đi các loài cây đặc hữu và chỉ còn tồn tại các loài phổ biến… Khác với bò, loài trâu chịu đựng giỏi và thích nghi tốt. Ngoài lợi thế về bộ móng guốc khỏe, chúng còn có thể gặm hầu như tất cả các loài thực vật”.
Dự án Töpchin là ví dụ về một xu hướng bảo tồn đang phát triển ở châu Âu, sử dụng các loài động vật ăn cỏ lớn, ngoại lai để làm tăng sự đa dạng của hệ động, thực vật bản địa. Nhiều người vẫn tin rằng bảo tồn thiên nhiên tức là để cho hệ động, thực vật bản địa tồn tại biệt lập, không có sự cạnh tranh của các loài ngoại lai hoặc khôi phục nguyên trạng môi trường sống của chúng. Nhưng trong một thế giới bị chi phối bởi con người và môi trường thay đổi nhanh chóng như hiện nay thì mọi thứ đã trở nên phức tạp hơn, không thể lúc nào cũng duy trì một khu vực thuần túy các loài bản địa. Đôi khi chúng ta phải sáng tạo và linh hoạt hơn trong cách điều chỉnh cảnh quan để duy trì đa dạng sinh học.
Điều đang xảy ra ở Đức hưởng ứng một xu hướng được gọi là “tái tạo tự nhiên” (rewild), một phong trào toàn cầu nhằm mở rộng các khu vực hoang dã trọng yếu, kết nối chúng thông qua các hành lang cho phép con người và động vật cùng tồn tại, đồng thời bảo vệ và tái du nhập các loài động vật ăn thịt hàng đầu. Nếu sáng kiến “Tái tạo tự nhiên châu Âu” do các nhóm bảo tồn như Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) dẫn đầu đặt mục tiêu đến năm 2020 “tái tạo tự nhiên” được 1 triệu héc-ta đất thuộc 10 khu bảo tồn từ Tây Ban Nha tới lưu vực sông Danube và dãy núi Carpathian thì trái lại, các dự án ở Đức lại nhằm phục hồi đa dạng sinh học cho những cảnh quan mà con người đã tác động.
Chỉ trong thời gian ngắn, rất nhiều dự án tương tự như Töpchin đã xuất hiện trên toàn nước Đức. Cách Berlin vài cây số về phía tây, Quỹ Heinz Sielmann đã đưa 19 con ngựa Przhevalsky – loài bản địa của Mông Cổ – cùng chung sống với 41 con bò rừng bizon châu Âu ở Döberitzer, nơi trước đây từng là khu huấn luyện quân sự. Mục tiêu của dự án là để những con ngựa hoang và bò rừng bizon châu Âu dọn bớt cỏ ở khu vực này, tạo điều kiện cho các loài ưa nhiệt phát triển.
Dự án tiếp theo cũng sử dụng động vật ăn cỏ lớn nhằm khôi phục cảnh quan thiên nhiên tại một nhà máy xử lý nước thải cũ gần thủ đô Berlin. Hay ở quận Barnim thuộc bang Brandenburg, người ta kết hợp chăn thả ngựa konik – loài ngựa được cho là có nguồn gốc từ ngựa hoang châu Âu cổ đại – và các loài gia súc của Anh. Với lợi thế về sức vóc, chúng được kỳ vọng sẽ dễ thích nghi với địa hình gồ ghề và ẩm ướt hơn so với những chú bò bình thường ở Đức.
Ông Josef Reichholf, nhà động vật học và sinh học tiến hóa của Đại học Kỹ thuật Munich, người từ lâu đã ủng hộ việc đưa những loài ăn cỏ lớn để tăng cường đa dạng sinh học ở các cảnh quan có con người sinh sống, cho biết: “Chăn thả ngựa konik và các động vật ăn cỏ lớn khác là phương pháp tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên ở Đức”.
Ông giải thích rằng cảnh quan nơi đây chịu ảnh hưởng của một lượng lớn phân bón từ không trung khi các phương tiện giao thông và các nhà máy thải ô-xít ni-tơ. Điều này khiến các loài không đặc hữu phát triển và từ đó thu hẹp và cuối cùng là triệt tiêu các loài quý hiếm vốn thích nghi với môi trường nghèo dinh dưỡng. Thảm thực vật dày đặc cũng tạo ra một vi khí hậu ẩm ướt mát mẻ gây bất lợi cho nhiều loài côn trùng và loài chim vốn thích hợp với các sinh cảnh thoáng đãng. Do đó việc đưa các loài ăn cỏ lớn tới đây là nhằm loại bỏ bớt các loài cây phát triển quá mức, cho phép các loài bản địa hiếm hơn phát triển mạnh.
Khác với khu vực nhiệt đới, phần lớn đa dạng sinh học ở châu Âu không nằm trong các cánh rừng, mà ở khu vực đồng cỏ, đầm lầy và các vùng đất hoang. Sau nhiều thế kỷ được con người sử dụng, cảnh quan đó khi trở về trạng thái tự nhiên thường sẽ có ít loài hơn, vì thế lý do đằng sau rất nhiều kế hoạch bảo tồn ở Đức liên quan đến việc tái du nhập các động vật ăn cỏ ngoại lai. Mấu chốt của việc tái du nhập chính là tập trung theo dõi tác động của những loài ăn cỏ lớn tới cảnh quan.
Những dự án bảo tồn như Töpchin lúc đầu cũng bị người dân địa phương hoài nghi như một hình thức chiếm đất hợp pháp, song dần dần, họ đã nhận ra tính hiệu quả của dự án và đồng ý cho trâu nước đến gặm cỏ trên đất của mình. Cuối năm ngoái, một vài hộ gia đình ở Töpchin còn sản xuất được thịt và xúc xích trâu đem bán. Họ tin rằng cư dân thành phố Berlin sẽ thích thứ hương vị từ tự nhiên này… (Người Đưa Tin 18/8)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||