Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 20 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngay sau khi PV đăng bài “Ào ạt xẻ rừng đào cao lanh” phản ánh tình trạng khai thác khoáng sản trái phép ở rừng Nam Giang, UBND tỉnh Quảng Nam và huyện Nam Giang đồng thời lập 2 đoàn kiểm tra liên ngành lên thực địa và ngay lập tức đình chỉ khai thác.
Tuy nhiên, liệu Quảng Nam có quyết liệt xử lý, hay lại “giơ cao đánh khẽ” để rồi tình trạng khai thác trái phép tiếp tục tái diễn tràn lan?
Làm việc với PV, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang Alăng Mai thừa nhận việc tư nhân đưa xe múc vào rừng Thạnh Mỹ (thuộc thôn Thạnh Mỹ 3, thị trấn Thạnh Mỹ) khai thác đất, cao lanh làm tan hoang, biến dạng một khoảnh rừng lớn là do các cán bộ cấp dưới có liên quan làm việc chưa tốt. “Để xảy ra chuyện như thế, không thể nào nói là tốt được”, ông Alăng Mai nói.
Trở lại hiện trường, 2 chiếc xe múc giờ đã được đưa ra nằm chắn ngay trên con đường độc đạo, im lìm. Việc đình chỉ đã được thực hiện. Theo ông Alăng Mai, việc khai thác lộ thiên ở rừng Thạnh Mỹ 3 không phải chính quyền không biết, đã từng vào kiểm tra, đình chỉ rồi nhưng sự việc không đến đâu, khoáng tặc tiếp tục tái diễn.
“Phải công nhận là bọn này liều quá. Chúng tôi từng xích xe múc lại, nhưng ban đêm họ lại lên, chặt xích, ngang nhiên khai thác. Ở Nam Giang có khai thác vàng trái phép, phá rừng…, nhưng chưa bao giờ bị tình trạng khai thác đất như thế này, chúng tôi cũng lúng túng trong việc xử lý” - ông Alăng Mai cho biết.
Theo vị chủ tịch huyện này, đất bị khai thác trái phép đã được cấp sổ đỏ cho dân với mục đích trồng lại rừng, tuy nhiên, tư nhân ở Đại Lộc lên tự thương lượng mua lại và bắt tay khai thác.“Việc thường xảy ra vào ban đêm, thứ Bảy và Chủ nhật, khi cán bộ nghỉ làm hết nên rất khó phát hiện”. Mặc dù vậy, trong mấy ngày thực tế, những hình ảnh mà PV quay lại được cho thấy người của Cty do Nguyễn Thành Trung đứng đầu bất chấp nắng mưa, ngang nhiên chở đất, cao lanh chạy rầm rập xuống bán cho nhà máy gạch, thu về siêu lợi nhuận.
Được biết, sau khi 2 đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh và huyện kết thúc, một chốt chặn đã được lập ở đầu cầu Thạnh Mỹ nhằm không cho sự việc tái diễn. Ông Alăng Mai cho hay, sự việc đã vượt quá thẩm quyền xử lý của huyện và lãnh đạo huyện đang khẩn trương hoàn tất hồ sơ báo cáo, chuyển lên UBND tỉnh.
Theo ông Nguyễn Văn Ba - Trưởng phòng Khoáng sản (Sở TN-MT tỉnh Quảng Nam), sau khi PV đăng bài phản ánh, UBND tỉnh đã chỉ đạo lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm Sở TN-MT và Phòng cảnh sát Môi trường (Công an tỉnh). Kết quả ban đầu cho thấy 6,5 ngàn mét vuông rừng đã bị khai thác trái phép làm biến dạng. Hai máy xúc đã bị xích lại, đưa ra khỏi hiện trường khoảng 70m.
Ông Ba cho biết dựa trên kết quả kiểm tra cũng như thông tin báo chí, đã kết luận được ông Nguyễn Thành Trung (Đại Lộc - Quảng Nam) là người điều hành trực tiếp việc khai khoáng trái phép. Tuy nhiên, xử lý như thế nào còn phải chờ hồ sơ của huyện gửi lên. “Thanh tra Sở sẽ áp dụng vào các nghị định để xử lý. Việc này phải được giải quyết xong trong tháng 11 để báo cáo lên Chủ tịch tỉnh” - ông Ba nói.
Điều đáng nói, trong rất nhiều vụ việc khai khoáng trái phép bị phát hiện trước đây, tỉnh Quảng Nam nói chung xử lý mức độ chưa đủ sức răn đe, phạt hành chính còn nhẹ so với nguồn thu siêu lợi nhuận, vì thế, mức độ tái diễn vẫn tràn lan.
Vừa qua, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt 2 đơn vị khai thác cao lanh trái phép tại thôn Nam Mỹ (Hòa Bắc, huyện Hòa Vang) với số tiền phạt là 2,7 tỷ đồng, thu hồi xe múc, thu hồi 500 triệu tiền bán cao lanh, bắt buộc hoàn thổ.
Tuy nhiên, qua tìm hiểu được biết, mức độ khai thác của 2 đơn vị trên ở Đà Nẵng không thể bằng mức độ tàn phá và thu lợi kinh hoàng của doanh nghiệp Nguyễn Thành Trung khai thác trái phép cao lanh ở Nam Giang (Quảng Nam). (Tiền Phong 20/11, tr10) đầu trang(
Được UBND tỉnh giao hơn 1.300ha rừng tự nhiên để làm du lịch, nhưng Cty caosu Đắc Lắc lại giao hết cho một Cty cổ phần có vốn của tư nhân, sau đó rừng bị tàn phá tan hoang. Chi cục Lâm nghiệp Đắc Lắc, UBND huyện Buôn Đôn khẳng định: Cty caosu Đắc Lắc phải chịu trách nhiệm về việc để mất rừng.
Năm 2005, UBND tỉnh Đắc Lắc có quyết định giao 1.336ha rừng tự nhiên tại xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) cho Cty TNHH MTV caosu Đắc Lắc để thực hiện dự án Khu du lịch sinh thái - văn hóa Bản Đôn. Đây là khu rừng có nhiều gỗ quý và thú hoang, bao quanh hồ Chư Minh, nằm gần tỉnh lộ 1 nên rất thuận lợi cho khai thác du lịch.
Đang kinh doanh hiệu quả, rừng tự nhiên được bảo vệ tốt thì năm 2013, Cty caosu Đắc Lắc cho DN tư nhân vào góp vốn, chuyển Trung tâm Du lịch sinh thái - văn hóa Bản Đôn thành Cty CP thương mại và du lịch Bản Đôn. Không lâu sau đó, trung tâm du lịch này chỉ còn là cái xác không hồn, nhân viên thất nghiệp về quê, hơn 1.300ha rừng tự nhiên bị lâm tặc tranh nhau đốn hạ.
Ngày 10.11, theo chân anh Y Bóng - công an viên xã Krông Na – PV thâm nhập khu rừng này để xem lâm tặc “xẻ thịt” gỗ quý. Khu du lịch rộng hơn 1.000ha nhưng chỉ có một bảo vệ tại cổng chính, với nhiệm vụ trông coi tài sản Cty chứ không phải bảo vệ rừng.
Chào xã giao anh bảo vệ, lượn xe máy qua các khu vui chơi, ăn uống, nghỉ dưỡng đã... hoang tàn, PV dừng lại vì tiếng cưa máy cùng lúc vang lên từ nhiều phía. Anh Y Bóng bỏ xe máy, dẫn PV vào rừng bằng những lối mòn do lâm tặc mở, tận mục sở thị những cây gỗ giáng hương, căm xe, gáo vàng bị đốn la liệt. Lâm tặc đã lấy hết gỗ, chỉ còn lại những gốc cây ứa nhựa đỏ bầm như máu, nhiều bãi cành ngọn vẫn còn tươi...
Cứ sau vài phút lội rừng, PV lại bắt gặp một bãi gỗ như thế. Trên đường trở ra, đụng một nhóm người đi xe máy độ chế phóng vào, thấy công an xã họ lập tức quay đầu. “Lâm tặc đi chở gỗ đấy, ngày nào mà chẳng thế” - anh Y Bóng nói.
Tính từ năm 2013 đến nay, riêng Công an xã Krông Na đã bắt 13 vụ khai thác, vận chuyển gỗ trong khu rừng này, trong đó có vụ triệt hạ 221 cây gỗ quý đã được Công an huyện Buôn Đôn khởi tố. Trước tình hình trên, huyện phải đưa lực lượng vào chốt chặn mấy tháng liền, nhưng khi đoàn liên ngành rút về thì lâm tặc lại xông lên. Tình trạng lâm tặc “mở hội” trong rừng sinh thái, rõ ràng không phải nguyên nhân khách quan mà chủ yếu do Cty caosu Đắc Lắc thiếu trách nhiệm.
Ông Nguyễn Quốc Hưng - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Đắc Lắc - cho biết, trước đây Cty caosu Đắc Lắc đề nghị tỉnh thu hồi rừng, giao cho Cty CP thương mại và du lịch Bản Đôn. Nhưng UBND tỉnh chưa ban hành các quyết định liên quan, vì vậy Cty caosu Đắc Lắc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về việc để mất rừng.
Trước đó, từ cuối năm 2013, UBND huyện Buôn Đôn đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh Đắc Lắc, Sở NNPTNT xem xét trách nhiệm của Cty caosu Đắc Lắc và Cty CP thương mại và tu lịch Bản Đôn, nhưng đến nay tỉnh chưa có văn bản chỉ đạo giải quyết. Trong khi đó, kết quả đợt kiểm tra ngày 9.9.2014 của huyện Buôn Đôn cũng tiếp tục cho thấy “Cty CP thương mại và du lịch Bản Đôn không có lãnh đạo điều hành, diện tích rừng đang bị xâm hại nghiêm trọng”.
Ngày 22.10, một lần nữa, UBND huyện Buôn Đôn đề nghị tỉnh UBND Đắc Lắc xem xét trách nhiệm của 2 Cty trên, thu hồi toàn bộ diện tích rừng giao cho đơn vị khác quản lý, bảo vệ. “Mất rừng phải xem xét trách nhiệm, UBND tỉnh giao rừng cho ai thì người đó phải chịu trách nhiệm” - một cán bộ lãnh đạo huyện Buôn Đôn cho biết. (Lao Động 19/11) đầu trang(
Theo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xã Hòa Bắc, Hạt đã phát hiện 16 vụ phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, phá hủy 22 lán trại của lâm tặc, tịch thu gần 28m3 gỗ, 1 máy cưa, tạm giữ 5 ôtô chở gỗ lậu…
Nạn phá rừng ở xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) diễn ra dai dẳng và hết sức phức tạp. Tình trạng này càng nóng hơn khi gần đây, vụ phá rừng ở Cà Nhông bị phát hiện, lực lượng chức năng liên tục tuần tra truy quét. Bị truy đuổi ráo riết, “lâm tặc” dạt về mạn sông Bắc, gia tăng phá rừng ở khu vực này.
Theo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn xã Hòa Bắc, Hạt đã  phát hiện 16 vụ phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép, phá hủy 22 lán trại của lâm tặc, tịch thu gần 28m3 gỗ, 1 máy cưa, tạm giữ 5 ôtô chở gỗ lậu… Ngoài ra, Ban Quản lý và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, lực lượng của xã Hòa Bắc cũng phát hiện, tịch thu khối lượng gỗ lậu không nhỏ.
Tình trạng phá rừng ở Hòa Bắc hiện nay “nóng nhất” là khu vực do Công ty CP Vinafor quản lý và thượng nguồn sông Bắc, phía Tây đèo Mũi Trâu. Theo nhận định của cơ quan Kiểm lâm, hiện có nhiều nhóm “lâm tặc” đang ẩn trong rừng, tìm gỗ quý chặt hạ, móc nối với người dân địa phương dùng xe máy chở từng phách đến sông Bắc, kết bè về xuôi.
Cách đây 3-4 ngày, từ nguồn tin của quần chúng, lực lượng Kiểm lâm Hòa Vang mai phục tại sông Bắc, phát hiện “lâm tặc” đang thả bè gỗ trên sông về xuôi, liền tổ chức truy bắt, song những đối tượng vận chuyển gỗ lậu đã nhanh chân chạy thoát. Tại hiện trường, “lâm tặc” để lại 16 phách gỗ xẻ.
Hai ngày sau, cũng trên sông Bắc, lực lượng địa phương và kiểm lâm phát hiện nhiều đối tượng kết bè gỗ thả trên sông về xuôi. Khi bị truy bắt, bọn chúng đã dùng đá ném chống trả. Lực lượng làm nhiệm vụ phải nổ súng cảnh cáo. Tuy vậy, lúc tiếp cận hiện trường, toàn bộ gỗ lậu “lâm tặc” đã kịp tẩu tán, cất giấu.
Trước đó, vào tháng 6/2014, tại tiểu khu 12, lực lượng chức năng phát hiện 99 cây bị chặt hạ, đường kính từ 30-85cm, thu tại hiện trường hàng chục mét khối gỗ. Ông Lê Đình Nam, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang cho biết: “Các đối tượng khai thác vận chuyển gỗ lậu tại khu vực sông Bắc rất liều lĩnh và manh động. Để khống chế các đối tượng này rất cần thiết phải lập điểm chốt chặn với lực lượng khá mạnh tại khu vực rừng do Công ty CP Vinafor quản lý”.
Không chỉ ở khu vực sông Bắc do Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa quản lý, thời gian gần đây, tại các tiểu khu 10, 15, giáp với lâm phận xã Hòa Liên và khu vực Bàu Bàng, tình trạng phá rừng cũng diễn ra vô cùng phức tạp. Đường ADB5 nối thông từ thôn Lộc Mỹ, xã Hòa Bắc về quốc lộ 1 nên “lâm tặc” dùng ôtô chở gỗ lậu là chủ yếu.
Không ít vụ ôtô chở gỗ lậu vượt mặt lực lượng làm nhiệm vụ, thậm chí cản trở, chống đối sự truy đuổi của Kiểm lâm. Điển hình là vụ việc ngày 28/7/2014, xe tải mang BKS 43X-0228 chở gỗ lậu vào ban đêm từ Lộc Mỹ về xuôi trên đường ADB5, bị lực lượng chức năng phát hiện, vừa chạy vừa trút 27 khúc gỗ tròn, 4 phách gỗ xẻ, tổng khối lượng gần 4m3 xuống đường, cản trở lực lượng truy đuổi và xe này đã chạy thoát. Vụ ngày 23/8/2014, các đối tượng đi trên xe tải ben mang BKS 43S-1081, chở gỗ lậu cũng đã chống trả quyết liệt lực lượng chức năng để tẩu tán tang vật.
Theo nhiều người dân địa phương, Trạm Kiểm lâm Bàu Bàng, thuộc Hạt Kiểm lâm Hòa Vang gần như bất lực trong việc ngăn chặn “lâm tặc” sử dụng ôtô chở gỗ lậu về xuôi. Việc chở gỗ lậu thường diễn ra vào ban đêm, hoặc giữa trưa, phổ biến nhất là ngày nghỉ. Ông Hồ Tăng Phúc, Bí thư Đảng ủy, kiêm Chủ tịch UBND xã Hòa Bắc, cho hay: Tại các tiểu khu 10, 15 chỉ còn cây gỗ nhỏ, thế nhưng “lâm tặc” vẫn không chừa. Bị xâm hại dai dẳng, nếu không ngăn chặn kịp thời, chẳng bao lâu nữa rừng tại đây sẽ cạn kiệt.
Có thể nói, rừng ở Hòa Bắc đang bị xâm hại khắp nơi và ngày càng nghiêm trọng. Lâm tặc đang bám sâu trong rừng, sử dụng cưa lốc, săn tìm gỗ tốt chặt hạ, liên kết với người dân địa phương vận chuyển tập kết tại bờ sông kết bè, hoặc chất lên ô tô chở về xuôi. Tuy liên tục triển khai các biện pháp ngăn chặn, song lực lượng chức năng đang liên tục bị lâm tặc qua mặt.
“Lực lượng bảo vệ rừng đông nhưng không mạnh”, đó là nhận xét của ông Đặng Phú Hành, Phó Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang, tại buổi triển khai các giải pháp cấp bách bảo vệ rừng Hòa Bắc, tổ chức vào sáng 18/11, tại UBND xã Hòa Bắc. Tại buổi triển khai này, ông Hành cho biết, nhân dân, nhất là bà con 2 thôn Tà Lang, Giàn Bí vô cùng bức xúc trước tình trạng rừng bị tàn phá, không có giải pháp ngăn chặn hiệu quả. Không ít người không tin tưởng vào hiệu quả bảo vệ rừng của cơ quan chức năng, đã mạnh dạn đề nghị trên cho họ tự lập chốt tại các vị trí xung yếu để bảo vệ rừng.
Trên cương vị Trưởng ban Chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và PCCC rừng của huyện Hòa Vang, ông Hành yêu cầu 4 lực lượng, bao gồm: Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, UBND xã Hòa Bắc, thành lập 2 tổ, một tổ chốt chặn tại trạm của Công ty CP Vinafor, vừa tiến hành kiểm tra tại gốc, vừa kiểm soát việc vận chuyễn gỗ lậu theo đường sông và đường bộ; một tổ chịu trách nhiệm giám sát quản lý khu vực Bàu Bàng và các tiểu khu 10, 15.
UBND huyện Hòa Vang sẽ có quyết định thành lập các tổ này. Tuy vậy, do yêu cầu cấp bách, ngay trong ngày 19/11, lực lượng tuần tra chốt chặn phải có mặt tại rừng. Khi tuần tra tại gốc, phát hiện gỗ lậu “lâm tặc” chưa kịp chuyển đi, phải huy động lực lượng tịch thu bằng được, không hủy theo kiểu qua loa như từ trước đến nay vẫn làm.
Ông Hành cũng yêu cầu Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, khôi phục lại barie tại Trạm Quản lý bảo vệ rừng sông Nam. Bởi đây là trạm cửa rừng, phía Tây của trạm chỉ là đường công vụ, không phải đường ĐT 601, nên có quyền dựng barie để quản lý tài nguyên rừng hiệu quả hơn… (Công An Nhân Dân 19/11) đầu trang(
Nếu như trước kia chỉ là khai thác thủ công thì từ cuối tháng 9/2014 trở lại đây, lâm tặc đã dùng mìn phá đá để lấy rễ Hoàng Đàn. Đây là hiện tượng mới ở khu vực rừng đặc dụng Hữu Liên, huyện hữu Lũng (Lạng Sơn).
Anh Triệu Xuân Trường, trưởng trạm bảo vệ rừng thôn Diễn (một trong ba trạm bảo vệ rừng trực thuộc ban quản lý rừng đặc dụng) chỉ tay và bảo: "Anh xem, kia là một trong những khu vực mới bị nổ mìn lấy rễ Hoàng Đàn". Nhìn về phía tay anh chỉ, thấy cả vách đá dựng đứng, trắng ởn đã bị khoét thành một hố sâu hoắm.
Theo cán bộ ban quản lý, từ cuối tháng 9/2014, vào ngày cao điểm, thông qua tiếng nổ, ban xác định có khoảng 7 vụ nổ mìn, chủ yếu xảy ra ở khu vực phía Đông này, nơi trước kia tập trung nhiều Hoàng Đàn. Ước chừng khu vực nổ mìn cách chỉ tầm 300m theo đường chim bay, nhưng những người dẫn đường cho biết, muốn tới được vị trí ấy, người thạo đường phải mất thêm khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa.
Được biết, gỗ Hoàng Đàn có thể làm thuốc, làm hương liệu, mùi thơm giống như trầm hương, được ví là có hương thơm “trăm năm không phai”. Mặc dù chưa nghiên cứu hết, nhưng chỉ chừng ấy cũng khiến cho Hoàng Đàn bị săn lùng gắt gao, khai thác triệt để. Những năm 90 của thế kỷ trước, Hoàng Đàn, tập trung chủ yếu ở khu vực rừng Hữu Liên đã cơ bản cạn kiệt. Cũng bởi đặc tính của mình mà việc bảo tồn, nhân giống Hoàng Đàn rất khó khăn đối với các nhà khoa học.
Trở lại hiện tượng nổ mìn ở rừng đặc dụng Hữu Liên, ông Nguyễn Hữu Hưng, trưởng ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên cho biết: Hiện tượng này bắt đầu xuất hiện từ ngày 25/9/2014, sau khi tìm hiểu, nghiên cứu hiện trường có thể khẳng định các đối tượng nổ mìn để khai thác rễ và gốc cây Hoàng Đàn còn sót lại.
Theo ông Hưng, hiện nay gốc và rễ Hoàng Đàn (kể cả gốc, rễ vụn) được thu mua với giá rất cao, lên đến khoảng 10 triệu đồng/kg. Hiện tượng nổ mìn được xác định là rất nguy hiểm, không chỉ ảnh hưởng tới hệ sinh thái, đa dạng sinh học của rừng đặc dụng mà còn nguy hiểm đến tính mạng của người dân.
Ngay khi phát hiện hiện tượng này, cán bộ ban quản lý cùng với các lực lượng chức năng của huyện, cấp ủy, chính quyền xã đã vào cuộc. Một mặt tuyên truyền mạnh đến người dân sở tại, mặt khác tăng cường các biện pháp tuần tra, bảo vệ; đồng thời chốt chặn tại các cửa rừng để kịp thời phát hiện các hành vi vận chuyển thuốc nổ và dụng cụ hỗ trợ vào rừng...
Trước các biện pháp quyết liệt đó, hiện tượng có giảm nhưng không thể triệt để. Không triệt để bởi lẽ, ngay cả những hiện trường gần nhất như chúng tôi chứng kiến, thì từ khi phát hiện cho đến lúc tới nơi cũng mất cả tiếng đồng hồ. Những khu vực khác địa hình còn hiểm trở hơn nhiều. Và, nguyên nhân cơ bản là lợi nhuận quá cao có thế khiến các đối tượng mạo hiểm cả mạng sống để “săn” gốc, rễ Hoàng Đàn. Theo lãnh đạo ban quản lý rừng đặc dụng, trong vòng 1 tuần qua, cơ quan chức năng vẫn ghi nhận có 2 vụ nổ mìn xảy ra.
Ông Nguyễn Hữu Hưng cho biết thêm: Hiện nay, ban cũng đã bước đầu nhận diện được một số đối tượng nổ mìn, trong đó xác định chủ yếu là người dân sở tại. Vấn đề đặt ra hiện nay là phối hợp cùng với công an huyện xử lý nghiêm các đối tượng này, đồng thời tìm hiểu cặn kẽ, phát hiện các đầu nậu thu mua, đã hình thành đường dây hay chưa... để có biện pháp xử lý, ngăn chặn dài hơi.
Theo khảo sát của lực lượng chức năng, hiện nay, trong khu vực rừng đặc dụng Hữu Liên không còn quần thể Hoàng Đàn sống tập trung. Năm 2013, ban quản lý rừng đặc dụng Hữu Liên điều tra, chỉ còn 27 cây Hoàng Đàn nằm rải rác trong rừng. Thế nhưng, đến nay, con số này đã giảm xuống còn 17 cây (số còn lại bị chết, sâu bệnh).
Ngoài ra, nhân dân trong vùng tự ươm, nhân giống khoảng 200 cây (cây nhỏ). Hiện nay, tất cả những cây Hoàng Đàn này đều được đánh số, định vị để tiện theo dõi, quản lý. Thế nhưng, với giá thu mua rất cao, những thực thể Hoàng Đàn còn sót lại này vẫn đang bị đe dọa hàng ngày, hàng giờ. (Đời Sống & Pháp Luật 19/11) đầu trang(
VKSND tỉnh Phú Yên vừa có kháng nghị phúc thẩm đối với bản án của TAND tỉnh này trong việc xét xử Nguyễn Tấn Cần, Diệp Thanh Xuân và các đồng phạm về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Theo hồ sơ, từ tháng 1-2013 đến tháng 3-2013, các bị cáo đã nhiều lần mua gom gỗ của đồng bào dân tộc các tỉnh Tây Nguyên khai thác trái phép rồi bán lại cho Lương Anh Việt đem về Phú Yên tiêu thụ, trong đó Cần và Xuân mua bán hơn 138 m3 gỗ trái phép. Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt Cần và Xuân mỗi bị cáo hai năm ba tháng tù nhưng cho hưởng án treo, bốn đồng phạm khác bị phạt từ hai năm ba tháng tù đến bốn năm ba tháng tù.
Theo VKSND tỉnh Phú Yên, án sơ thẩm đã cho hai bị cáo Cần và Xuân được hưởng án treo là không đúng pháp luật. Bởi các bị cáo đã phạm tội nhiều lần, có sự câu kết chặt chẽ trong việc mua bán trái phép số lượng lâm sản lớn, thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Án sơ thẩm chỉ áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần đối với các bị cáo, bỏ sót tình tiết tăng nặng phạm tội có tổ chức, lại cho các bị cáo hưởng án treo là trái với quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01 năm 2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao... (Pháp Luật TPHCM 20/11) đầu trang(
Năm 2014, tỉnh Đắk Lắk đề ra kế hoạch trồng 4.600 ha rừng thế nhưng theo số liệu thống kê của Chi cục phát triển Lâm nghiệp Đắk Lắk đến nay toàn tỉnh mới trồng được 3.750 ha, trong khi mùa trồng rừng năm nay chỉ còn hơn 1 tháng nữa là kết thúc.
Theo lý giải của lãnh đạo Chi cục phát triển Lâm nghiệp Đắk Lắk thì nguyên nhân khiến công tác trồng rừng không đạt là do diện tích dự kiến trồng rừng của các công ty lâm nghiệp đang tranh chấp với các hộ dân vẫn chưa được giải quyết triệt để. Một nguyên nhân nữa là nhiều đơn vị thiếu nguồn lực tài chính, khó tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng, hoạt động sản xuất kinh doanh cầm chừng, nên triển khai trồng rừng gặp khó khăn.
Bên cạnh đó công tác giữ rừng vẫn còn nhiều bất cập. Điển hình như mới đây hơn 1.360 ha rừng sinh thái được UBND tỉnh Đắk Lắk giao cho Công ty TNHH MTV Cao su Đắk Lắk vừa quản lý, bảo vệ vừa kinh doanh du lịch sinh thái. Sau đó Công ty này giao lại cho Công ty CP Thương mại – Du lịch Bản Đôn quản lý, khai thác du lịch. Do buông lỏng quản lý và làm ăn không hiệu quả, công ty này đã "dâng” mảnh rừng màu mỡ này cho lâm tặc tự do "làm thịt” không thương tiếc. Hậu quả cả một khu rừng với nhiều loại gỗ quý bị phá tan hoang. Lâm tặc vào khu du lịch sinh thái còn dễ hơn vào "nhà trống”.
Bức xúc trước hiện trạng này, ông Y Thông Khăm Niê Kđăm, Chủ tịch UBND xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) kiến nghị UBND tỉnh nên thu hồi để bàn giao cho đơn vị khác quản lý. Sự việc đang làm nóng trong cuộc họp của các ngành chức năng tỉnh Đắk Lắk.
Không chỉ rừng được giao cho doanh nghiệp bị tàn phá mà rừng giao cho các địa phương quản lý, bảo vệ cũng nằm trong tình cảnh bị "lâm tặc xẻ thịt” từng ngày. Cụ thể như mới đây vụ rừng giáp ranh giữa xã Cư K’long (huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk) và xã Chư Đrăng (huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) bị "lâm tặc” tàn phá trong một thời gian dài nhưng chính quyền địa phương lại không hề hay biết. Sự việc này khiến cho dư luận đặt câu hỏi liệu có hay không việc chính quyền làm ngơ cho lâm tặc thả sức tàn phá rừng.
Trao đổi về vấn đề này ông Nguyễn Viết Thắng, Chủ tịch xã Cư Klong (huyện Krông Năng) một mực khẳng định, rừng đang bị lâm tặc tàn phá không phải do xã quản lý. Thế nhưng khi lấy bản đồ địa giới hành chính của xã ra xem, ông Thắng lại lập tức đổi chiều, xác nhận đó là tiểu khu 306 và diện tích rừng này do xã quản lý”. Và trong khi "lâm tặc đang mở hội trong rừng” thì ông Tắng lại cho biết xã chưa nắm được tình hình rừng của tiểu khu này có bị phá hay không.
Thiết nghĩ các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk cần nhanh chóng vào cuộc để trả lại sự bình yên cho các cánh rừng. (Đại Đoàn Kết 19/11) đầu trang(
Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh ủy Đắk Nông vừa ra Quyết định số 274-QĐ/UBKTTU thi hành kỷ luật khiển trách đối với ông Phạm Đình Dũng - Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh, Bí thư Chi bộ, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đức Hòa.
Theo quyết định, ông Dũng chưa thực hiện hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng. Việc phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan có liên quan trong triển khai thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng thiếu chặt chẽ.
Ngoài ra, còn tình trạng tài nguyên rừng bị khai thác và phá rừng xâm canh lấn chiếm đất xảy ra trong thời gian từ năm 2006 đến 2013 với tổng diện tích 567,3 ha nhưng chưa có biện pháp xử lý dứt điểm.
Chỉ đạo thực hiện việc xây dựng và đề nghị cấp có thẩm quyền phê duyệt, giao khoán, quản lý, bảo vệ rừng tập trung của công ty chưa chính xác; diện tích rừng do công ty xây dựng phương án và đề nghị được giao khoán năm 2010 lớn hơn diện tích rừng do công ty quản lý là 1.827,9 ha. (Tài Nguyên & Môi Trường 18/11; Người Lao Động 20/11, tr4) đầu trang(
Thành lập vào năm 1993 và đóng chân trên địa bàn huyện Đăk Song, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Trường Xuân (Cty Trường Xuân) xây dựng mô hình không hợp lý, không có năng lực quản lý, dẫn đến hoạt động không hiệu quả và thua lỗ trầm trọng. Đặc biệt, lãnh đạo Cty còn lơ là trách nhiệm quản lý, chỉ trong thời gian ngắn đã để mất hơn 3.500 ha rừng được giao.
Từ năm 1993 - 2007, Bộ Lâm nghiệp (cũ), UBND tỉnh Đăk Lăk và UBND tỉnh Đăk Nông ban hành 4 quyết định giao đất, giao rừng cho Cty Trường Xuân; đồng thời có 9 quyết định thu hồi đất của Cty giao cho các đơn vị, doanh nghiệp và UBND huyện Đăk Song, với tổng diện tích 7.237ha.
Quá trình thu hồi đất, rừng tại các quyết định không có từng loại diện tích đất bị thu hồi, cơ quan chức năng chỉ căn cứ trên hồ sơ, không bàn giao ngoài thực địa và phân giới cắm mốc. Đến nay, còn 233ha đất và rừng Cty chưa bàn giao cho địa phương và hơn 299ha được giao ban đầu không có quyết định thu hồi, nay không còn theo dõi được.
Về quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), Cty Trường Xuân được giao theo Quyết định số 1089 ngày 19/8/2008 của UBND tỉnh Đăk Nông là 8.246ha (trong đó rừng tự nhiên 6.457ha). Sau khi UBND tỉnh có quyết định thu hồi đất rừng của Trường Xuân giao cho các doanh nghiệp khác, đến cuối năm 2013, Cty Trường Xuân còn quản lý là 6.436ha (trong đó rừng tự nhiên gần 5.239ha). Theo số liệu thống kê mới đây, rừng tự nhiên chỉ còn 1.728ha, Cty Trường Xuân đã để mất thời gian từ 9/2008 đến cuối năm 2013 là 3.510ha rừng.
Việc phá rừng, lấn chiếm đất rừng diễn ra liên tục với số lượng rất lớn nhưng Cty cũng như Hạt Kiểm lâm huyện Đăk Song báo cáo không đúng thực tế, gây khó khăn trong theo dõi diện tích thực tế mất rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp... Tính đến cuối năm 2013, diện tích đất do Cty quản lý và chuyển thành đất khác là 4.519ha, đã bị 189 hộ dân xâm chiếm làm nhà, trồng hoa màu, cây công nghiệp là 337ha, song, chưa có trường hợp vi phạm nào bị cưỡng chế thu hồi đất để trồng lại rừng.
Lãnh đạo Cty ký 7 Hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp với 7 hộ dân gồm diện tích 140,5ha, để trồng rừng 66ha, QLBVR là 71,2ha. Trong quá trình thực hiện các hộ chỉ trồng được 59ha, diện tích QLBVR sau khi giao khoán bị tàn phá 17ha.
Cty Trường Xuân ký Hợp đồng liên doanh liên kết với Công ty TNHH Thương mại Liên Minh để trồng các loại cây với diện tích 242ha và QLBVR 189,6ha. Rốt cuộc, chỉ trồng được 14ha rừng sản xuất, diện tích còn lại người dân lấn chiếm trồng hoa màu, cây công nghiệp và diện tích QLBVR đã bị mất là 43ha.
Theo kết luận của UBND tỉnh, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng của Cty Trường Xuân quản lý, có liên quan đến trách nhiệm của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện, Công an huyện Đắk Song và UBND xã Trường Xuân. Hiện nay, các cơ quan trên đang tiến hành kiểm điểm theo Kết luận thanh tra số 2267/KL-TTCP ngày 11/12/2013 của Thanh tra Chính phủ nên phải gắn với trách nhiệm để xảy ra mất rừng tại Cty Trường Xuân.
Hiện tại, Cty không có vốn để sản xuất kinh doanh, đời sống cán bộ nhân viên gặp rất nhiều khó khăn, không có khả năng QLBVR với diện tích còn lại là 1.728ha, nằm trên lưu vực của các con suối Đắk Nông, Đắk Rung, Đắk Rtih và suối ĐăkBukSo, nếu tiếp tục để mất diện tích đất rừng còn lại trên sẽ tác động rất lớn đến môi sinh, môi trường, nguồn nước trên địa bàn phía Tây Nam của tỉnh, nên UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng và địa phương phối hợp với chủ rừng, lập một số điểm chốt chặn tại những địa bàn xung yếu để ngăn chặn nạn phá rừng.
UBND tỉnh còn yêu cầu Cty Trường Xuân thanh lý hợp đồng liên doanh liên kết với Cty Thương mại Liên Minh do không thực hiện được. Chấm dứt ngay hiện tượng buông lỏng quản lý rừng và đất lâm nghiệp, tăng cường lực lượng QLBVR, quản lý cán bộ nhân viên, lực lượng QLBVR, không để xảy ra tiêu cực. Phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện xử lý nghiêm tất cả các hành vi phá hoại rừng, lấn chiếm, chuyển nhượng đất rừng trái phép.
Kết luận thanh tra số 3022/KL-UBND của UBND tỉnh về thanh tra toàn diện Cty Trường Xuân, chỉ rõ: Những sai phạm trên thuộc trách nhiệm chính của người đứng đầu là ông Trần Quyết Tâm - Giám đốc, đến mức cần phải chuyển hồ sơ để điều tra xử lý về mặt hình sự. Tuy nhiên, xét về mặt khách quan, sai phạm với thời gian dài, có liên quan đến tập thể lãnh đạo Cty; liên quan đến cơ chế, chính sách, sự tác động xã hội vì lợi ích kinh tế qua phá rừng… nên cần được xem xét miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng phải xử lý hành chính ở mức nghiêm khắc.
Tại Thông báo kết luận thanh tra số 2490/TB-TTCP ngày 15/10/2014 về quản lý, sử dụng đất đai, giao đất, giao rừng và một số dự án đầu tư giai đoạn 2004 - 2011 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị UBND tỉnh thu hồi hơn 1,58 tỷ đồng về tiền thuê đất của Cty Trường Xuân, nhưng đơn vị này mất khả năng về tài chính. (Dân Trí 19/11) đầu trang(
Gia Lai đang bước vào mùa hanh khô, cùng với đó là tập quán phát đốt làm nương rẫy làm tăng nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Trước tình hình này, UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo triển khai quyết liệt các biện pháp để chủ động phòng, chống cháy rừng.
Theo thống kê, Gia Lai có 708.450 ha rừng. Trong đó, diện tích rừng có nguy cơ cháy cao chiếm khoảng 40%, tập trung ở các huyện Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Chư Pưh, Đăk Đoa, Krong Pa…
Dự báo mùa khô kéo dài, nguy cơ cháy rừng còn diễn biến phức tạp. Do đó, Hạt kiểm lâm các huyện và đơn vị chủ rừng phải xây dựng kế hoạch, phương án phòng cháy chữa cháy. Sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia chữa cháy rừng trong mọi thời điểm.
Ngoài ra, các Hạt kiểm lâm phải quản lý chặt chẽ diện tích đất nương rẫy cũ để ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng và hướng dẫn người dân phòng cháy khi thu dọn, phát đốt trên nương rẫy để canh tác. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, đôn đốc phòng cháy chữa cháy rừng, giữ vững thông tin liên lạc để chỉ đạo trong thời gian cao điểm của mùa khô.
Bên canh đó, Hạt kiểm lâm ở các huyện cũng tổ chức tuyên truyền về phòng chống cháy rừng, xây dựng và lắp các biển dự báo cháy rừng, biển tuyên truyền bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra khu vực trọng điểm dễ cháy; gắn quyền lợi, trách nhiệm của người dân, chủ rừng đến các hộ dân và cộng đồng về việc bảo vệ rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 19/11) đầu trang(
Cơ quan chức năng Hà Nội tiến hành kiểm tra, khảo sát cây xanh trên toàn thành phố và thay thế những cây không đảm bảo an toàn, kể cả cây to lâu năm. Trong đó sẽ thay thế loại bỏ dần những cây xanh dễ đổ gãy nhằm chuẩn hóa cây xanh đô thị.
Theo thống kê của Công ty Công viên cây xanh Hà Nội, tổng số cây xanh 9 quận là hơn 44.500 cây các loại. Trong số này đa phần là những cây lâu năm đã bộc lộ nhiều bất cập khi có mưa gió. Điển hình như cây xà cừ, một loại cây xanh lâu năm có bộ rễ chùm tốn đất, tán rộng nhưng rất dễ bị đổ gãy.
Bên cạnh đấy là những loại cây có rễ chùm không chống chịu được mưa bão lớn kéo dài. Chính vì vậy sau đợt mưa bão vừa qua, tại Hà Nội đã có nhiều cây xanh bị gãy đổ và phần lớn là các cây cổ thụ như xà cừ, muồng…“Hiện chúng tôi đang rà soát để có đánh giá toàn diện và thay thế dần các cây xanh không đảm bảo an toàn, kể cả cây to lâu năm”- đại diện Cty Công viên cây xanh cho biết.
Điều đáng nói, hệ thống cây xanh nhiều khu vực “lôm côm”, khi mà các tuyến phố được trồng nhiều loại cây khác nhau, trong đó nhiều loại cây không thuộc nhóm cây trồng cho đô thị. Đơn cử trên đường Nguyễn Trãi có 597 cây bóng mát được trồng hai bên vỉa hè và trên dải phân cách giữa đường dành cho xe buýt và đường giao thông.
Các loại cây trồng chủ yếu ở đây là xà cừ, lát hoa, phượng, còn dải phân cách cây trồng chủ yếu là keo. Một số loài cây không thuộc loại cây đô thị như bàng, dâu da, dướng, keo, trứng cá, vông, xoan. Đặc biệt trong số này có những cây cong nghiêng, sâu mục gây mất an toàn giao thông, ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị cần được chặt hạ, thay thế để đảm bảo cảnh quan, an toàn giao thông.
“Trong tháng 11 này chúng tôi sẽ chặt hạ 275 cây trên tuyến đường Nguyễn Trãi trong tổng số 579 cây được trồng trên hai bên vỉa hè, dải phân cách. Việc thí điểm chỉnh trang cây trên đường Nguyễn Trãi nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống cây bóng mát của tuyến đường và sẽ rút kinh nghiệm để triển khai trên các tuyến phố khác của Hà Nội”, ông Nguyễn Xuân Hưng - Phó Giám đốc Công ty Công viên cây xanh Hà Nội cho biết.
Sở Xây dựng Hà Nội hiện đang phối hợp với các ngành, quận, huyện, thị xã trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và hồ thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 vừa được thành phố phê duyệt.
Theo đó, phát triển chỉ tiêu cây xanh khu vực đô thị theo quy hoạch sẽ tiến hành bảo tồn, chăm sóc các tuyến cây xanh đường phố lâu năm, tạo dấu ấn đặc trưng cho từng tuyến phố như Nguyễn Du, Lò Đúc, Phan Đình Phùng…
Các tuyến đường mới mở sẽ được trồng cây; phủ xanh tuyến đường trên cao, đường sắt đô thị bằng cây leo; kết hợp yếu tố thiết kế đô thị với thiết kế cảnh quan trên các tuyến đường, dải phân cách có mặt cắt ngang lớn…
“Chủ trương của thành phố là khuyến khích sử dụng tối đa các nguồn lực khác ngoài vốn ngân sách tham gia đầu tư xây dựng công viên, cây xanh, vườn hoa và hồ nước trên địa bàn. Trong đó thay thế dần các cây xanh để chuẩn hóa cây đô thị và việc này đang được làm trong thời gian qua”, đại diện Sở Xây dựng nhấn mạnh. (Tiền Phong 20/11, tr14) đầu trang(
19.11, Công an huyện và Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn tiếp tục điều tra xử lý vụ tàng trữ động vật hoang dã trái phép số lượng lớn vừa được phát hiện tại địa phương.
Trước đó qua tin báo của quần chúng, ngày 18.11, Công an huyện Hoài Nhơn phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện và Công an xã Hoài Tân tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện ông Lê Văn Thuận (SN 1954, ở thôn An Dưỡng 2, xã Hoài Tân) đang cất giấu tại nhà 49 con chồn.
Ông Thuận trình bày số chồn đó không phải của mình, do một người khác gửi nhờ. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc và giao 49 con chồn chưa rõ nguồn gốc đó cho Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn quản lý trong khi chờ điều tra kết luận. (Báo Bình Định 19/11; Thanh Niên 20/11, tr18) đầu trang(
Chiều ngày 19/11, Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi gửi văn bản hỏa tốc yêu cầu các Hạt kiểm lâm phối hợp với các huyện, thành phố khoanh vùng xuất hiện rắn lục đuôi đỏ để mở đợt truy bắt.
Ông Nguyễn Văn Hân, Chi cục trưởng Kiểm lâm Quảng Ngãi nhận định, do lượng mưa năm nay thấp hơn trung bình các năm trước, lại chưa có lũ về đã tạo điều kiện cho loài rắn lục đuôi đỏ sinh sôi nhiều ở vùng đồng bằng.
Ông Hân khuyến cáo người dân nên phát quang bụi rậm quanh nhà, nhất là những khu vực có vũng nước; đi lại ban đêm phải có đèn pin, cây gậy, thận trọng đi qua những khu vực ẩm thấp. Khi lao động sản xuất (nhất là mùa trồng rừng) cần mang ủng, đeo găng tay đề phòng rắn cắn.
Thống kê sơ bộ của các bệnh viện tuyến huyện và tỉnh Quảng Ngãi, từ đầu tháng đến nay có gần 40 trường hợp nhập viện do bị loài rắn này cắn. Riêng hôm nay cũng có 2 nạn nhân.
Theo bác sĩ  Phan Minh Đan, Giám đốc bệnh viện đa khoa Tư Nghĩa, rắn lục cắn thường gây sưng, đau nhức, nặng có thể hoại tử. Nếu gây tổn thương toàn thân có thể gây rối loạn đông máu (gây chảy máu hoặc tạo những cục máu đông trong mạch máu).
Khi bị rắn cắn, những người xung quanh cần động viên, trấn an để người bệnh đỡ lo lắng, hốt hoảng, không để tự đi lại. Nếu cắn ở tay, cần cố định bàn tay, cẳng tay, dùng khăn hoặc dây treo quàng lên cổ người bệnh. Nếu cắn ở chân cần cố định bàn chân, cẳng chân, đùi. Có thể dùng dây vải hoặc băng vải cố định hai chân lại với nhau. Khẩn trương đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế có đủ điều kiện cấp cứu.
Không được băng ép, không garot, không chích rạch, giác hút, đắp lá vết cắn... Trường hợp nạn nhân khó thở thì hô hấp nhân tạo (hà hơi thổi ngạt), đồng thời nhanh chóng đưa đến cơ sở y tế gần nhất. (VnExpress 19/11) đầu trang(
Ông Phạm Ngọc Vũ, kiểm lâm viên phụ trách bộ phận pháp chế Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (đóng trên địa bàn huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai), 19-11 cho biết: Từ đầu năm đến nay, lực lượng kiểm lâm khu bảo tồn đã phát hiện, tiêu hủy trên 5.200 bẫy các loại, hơn 1.500 m lưới, 16 chòi tạm đặt trái phép tại khu bảo tồn.
Cũng theo ông Vũ, lực lượng kiểm lâm khu bảo tồn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, phát triển rừng 14 vụ với số tiền xử phạt gần 82 triệu đồng, lập hồ sơ gửi cho cơ quan điều tra khởi tố một vụ án hình sự.
Cùng ngày, ông Lê Xuân Lâm, quản lý Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TP.HCM), cho biết vừa thả bảy con vượn má vàng, một cá thể mèo rừng và một diều hoa Miến Điện về Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng. Đây là số động vật hoang dã quý hiếm vừa được Chi cục Kiểm lâm TP.HCM thu giữ từ các đối tượng mua bán, vận chuyển động vật trái phép. (Pháp Luật TPHCM 20/11) đầu trang(
Vụ heo rừng tấn công người ở thôn Hòn Lay (xã Khánh Hiệp, huyện Khánh Vĩnh) đang đặt ra nhiều 1 vấn đề pháp lý liên quan. Để làm rõ vấn đề này, PV đã có  cuộc trao đổi với luật sư Nguyễn Văn Nam, Đoàn Luật sư TP.HCM.
Luật sư Nguyễn Văn Nam cho biết: Vụ việc vừa xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng, hậu quả của nó để lại ra là vô cùng lớn, không chỉ với gia đình của các nạn nhân, mà còn gây hoang mang đối với những người dân sống trong khu vực. Hiện nay, số lượng động vật hoang dã ở nước ta đang có dấu hiệu suy giảm về loài cũng như về cá thể.
Tuy nhiên, lại có tình trạng heo rừng xuất hiện và tấn công người ở khu vực dân cư là điều khá ngạc nhiên. Có thể nói rằng, đây cũng là hậu quả của việc phá rừng tràn lan, dẫn đến tình trạng động vật hoang dã không còn nơi trú ngụ, nên thường di cư về các rẫy hoa màu của người dân để tìm thức ăn. Nếu để tình trạng này tiếp tục kéo dài, thì đây sẽ là mối họa đối với người dân.
Căn cứ Điều 11, Nghị định 32/2006/NĐ-CP quy định xử lý động vật rừng xâm hại đến tính mạng và tài sản của người dân, thì khi gặp con heo rừng nói trên, người dân chỉ có thể tìm cách xua đuổi, bắt giữ hoặc báo cho cơ quan chức năng có thẩm quyền để có biện pháp xử lý kịp thời.
Tuy nhiên, nếu trong trường hợp những người dân này cũng bị con heo rừng tấn công, thì đây không còn là động vật hoang dã thông thường, mà đã chuyển hóa thành nguồn nguy hiểm cao độ, có thể xâm phạm đến tính mạng cũng như sức khỏe của người khác. Trong những trường hợp như vậy, người dân có thể tiêu diệt con heo rừng để bảo vệ tính mạng cho mình.
Đối với vụ việc nêu trên, để quy trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị quản lý nhà nước là điều rất khó khăn. Bởi lẽ, heo rừng là động vật hoang dã thường sống theo bầy đàn. Tình trạng heo lạc đàn, di cư xuống khu vực dân cư là việc hiếm thấy. Điều này gây nhiều khó khăn trong công tác kiểm soát đối với cơ quan chức năng.
Tuy nhiên, căn cứ Điều 4 Nghị định 32/2006/NĐ-CP quy định về theo dõi diễn biến của động vật rừng, thì Chi cục kiểm lâm và UBND nơi có vụ việc xảy ra, phải chịu trách nhiệm liên đới khi để tình trạng heo rừng tấn công người. (Công Lý & Xã Hội 18/11, tr4) đầu trang(
Những năm gần đây, trung bình mỗi năm trên địa bàn huyện Sóc Sơn xảy ra 30 vụ cháy rừng, thiêu rụi hàng chục héc ta rừng trồng và rừng phòng hộ.
Để kiểm soát được số vụ cháy, giảm tối đa thiệt hại do cháy rừng gây ra, ngay từ đầu mùa khô, huyện Sóc Sơn đã xây dựng nhiều giải pháp phòng chống cháy rừng (PCCR), trong đó giao trách nhiệm rõ ràng cho các đơn vị quản lý, chủ rừng và từng thôn, xóm...
Ngay tháng đầu mùa khô 2014-2015, tại huyện Sóc Sơn xảy ra 2 vụ cháy rừng là ngày 9-10 xảy ra cháy tại xã Phù Linh, gây thiệt hại 0,12ha rừng thông cấp tuổi 4 và ngày 18-10, tại khu vực hồ Hàm Lợn, xã Nam Sơn, cháy thảm thực bì, ảnh hưởng đến 600m2 rừng phòng hộ. Nguyên nhân được xác định là do học sinh, sinh viên vào khu vực này dã ngoại, đốt lửa nấu ăn để tàn than bén vào thực bì gây cháy.
Ông Nguyễn Văn Thành, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sóc Sơn cho biết, toàn huyện có hơn 4.550ha rừng và đất lâm nghiệp trải đều trên 11 xã, thị trấn, trong đó chủ yếu là rừng thông, keo, có thảm thực bì dày (0,5m) nên rất dễ bắt lửa. Hằng năm, Hạt Kiểm lâm phối hợp với các xã có rừng, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp xác định 8 khu vực trọng điểm dễ cháy rừng ở 6 xã để xây dựng các biện pháp kiểm soát cháy rừng, giảm thiểu thiệt hai do cháy rừng gây ra.
Tuy nhiên, trong 5 năm gần đây, số vụ cháy rừng ở Sóc Sơn luôn diễn biến phức tạp, tăng giảm thất thường; trong đó năm 2009 xảy ra 54 vụ cháy, gây thiệt hại 77ha rừng, năm 2011 giảm xuống chỉ còn 7 vụ, năm 2013 tăng lên 36 vụ, gây thiệt hại 22ha rừng, 10 tháng của năm 2014 là 7 vụ và 5 điểm cháy, thiệt hại 6,1 ha rừng. Nguyên nhân chính được xác định là do sự bất cẩn của người dân khi đốt thực bì, vứt tàn thuốc lá, thắp hương, học sinh, sinh viên vào rừng dã ngoại đốt lửa trại, nấu ăn; thậm chí do một số đối tượng thù hằn cá nhân cố tình đốt rừng...
Bên cạnh đó, lực lượng làm công tác quản lý, bảo vệ rừng mỏng, trang thiết bị PCCR thô sơ, không được đầu tư nâng cấp như: Các chòi canh lửa rừng hỏng, đường băng cản lửa xây dựng nhiều năm chưa bàn giao đã xuống cấp...
Theo ông Lê Văn Sơn, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Sóc Sơn, với trang thiết bị và nhân lực như hiện nay chủ yếu làm công tác phòng là chính, bởi khi xảy ra cháy lớn ở địa hình núi cao thì khó có thể ứng cứu, chữa cháy kịp thời.
Biện pháp chính vẫn là huy động lực lượng tại chỗ hoặc phối hợp với lực lượng quân đội, công an, PCCC thì mới đủ nhân lực, vật lực chữa cháy. Ông Sơn đề xuất, thành phố sớm cho đầu tư các dụng cụ chữa cháy chuyên nghiệp, hiện đại để trung tâm chủ động chữa cháy trong mọi tình huống, địa hình... đạt hiệu quả cao nhất.
Bước vào mùa khô 2014-2015, Hạt Kiểm lâm, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp, Ban quản lý rừng Sóc Sơn đã triển khai nhiều biện pháp PCCR ở những vùng trọng điểm, khu du lịch, các di tích... có nguy cơ cháy rừng cao, sẽ được tăng cường công tác kiểm tra giám sát, thi công hạ cấp vật liệu cháy và trồng nâng cấp các cây bản địa tạo rừng nhiều tầng, giữ độ ẩm PCCR tận gốc.
Đối với UBND các xã, chủ rừng phải xây dựng phương án PCCR, phân công lãnh đạo trực, bố trí lực lượng xung kích ứng trực 24/24h trong 7 tháng mùa hanh khô. Khi có sự cố cháy rừng xảy ra phải huy động lực lượng và phương tiện dập tắt ngay lửa rừng, không để cháy lan, cháy lại.
Ngoài ra, các đơn vị quản lý rừng ở Sóc Sơn hằng năm đều phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Hà Nội mở các lớp tập huấn nghiệp vụ PCCR cho cán bộ, nhân dân, tổ đội xung kích, chủ rừng với gần 1.000 người tham gia; tổ chức 8 đợt tuyên truyền lưu động đến tận thôn, cụm dân cư có rừng, dựng biển cảnh báo cháy rừng để nhắc nhở người dân, khách du lịch chấp hành các quy định về PCCR.
Để giảm thiệt hại đến mức thấp nhất khi có cháy rừng xảy ra, đầu năm 2014, Trung tâm Phát triển lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm và chính quyền địa phương ký hợp đồng quản lý, bảo vệ rừng và PCCR tới từng hộ dân sống gần rừng, đồng thời tăng cường lực lượng kiểm tra giám sát các hộ dân đốt nương làm rẫy, dọn thực bì, chăn thả gia súc, đốt ong.
Ở hai xã Minh Trí, Bắc Sơn giáp ranh với rừng của tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, chính quyền địa phương và Hạt Kiểm lâm hai bên thường xuyên phối hợp tuần tra, gác lửa rừng, trao đổi nhằm thông tin kịp thời để chữa cháy. (Hà Nội Mới 19/11, tr3) đầu trang(
17-11, tại khu vực ấp Thạnh Biên, xã Lộc Thạnh, huyện Lộc Ninh, Đoàn Đặc nhiệm miền Nam, Cục Phòng chống tội phạm (PCTP) ma túy Bộ đội Biên phòng phối hợp với Đồn Biên phòng Chiu Riu, Phòng PCTP ma túy, Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh, tiến hành kiểm tra, bắt giữ một xe ô tô Toyota loại 16 chỗ, biển kiểm soát 53N 8849, và một  ô tô tải 2,5 tấn, biển kiểm soát 54N 8127, cùng ba đối tượng đang có hành vi bốc xếp gỗ nhập lậu từ Cam-pu-chia về địa điểm tập kết để đưa vào nội địa tiêu thụ.
Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng biên phòng đã tiến hành tạm giữ hai xe ô tô và ba đối tượng là người địa phương tham gia bốc vác, vận chuyển gỗ. Qua kiểm tra sơ bộ, tại hiện trường có hơn 1.100 khúc gỗ xẻ các loại, trong đó chủ yếu là gỗ hương. Toàn bộ người, hàng hóa và phương tiện vi phạm đều không có giấy tờ.
Ngay sau đó, các lực lượng chức năng đã chuyển các đối tượng và toàn bộ tang vật về tạm giữ tại Đồn Biên phòng Chiu Riu. Tổng khối lượng gỗ đo đếm ban đầu khoảng 60 tấn (tương đương hơn 40m3). (Quân Đội Nhân Dân 19/11, tr8; Đại Đoàn Kết 20/11, tr10) đầu trang(
“Năm 1989, nhà tôi nhận giao khoán rừng. Hồi ấy, cả xã chỉ có 1- 2 khoảnh rừng có chủ. Dân bản vẫn quen kiểu khai thác rừng tự nhiên, tự do đến chặt phá. Mình giữ không cho, nhiều người chửi, giận lắm”, bà Cà Thị Loan (dân tộc Thái, ở bản Phiêng Quái, xã Noong Luống, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) kể về những ngày đầu nhận khoanh nuôi bảo vệ rừng.
Năm 1975, bắt đầu từ 8 hộ ở các bản ven sông Nậm Rốm bị lũ lụt phải sơ tán, lập ra bản Phiêng Quái. Rồi số hộ về đây sinh sống nhiều lên. Mùa nương đâu đâu cũng thấy cảnh phát cây đốt nương, tàn bay, nứa nổ, bầu trời đen xì, âm u khó thở. Mùa mưa, nước cùng đất đá như giặc xô xuống bản.
Có hôm, bất chợt nhìn lên núi toàn một màu đỏ, sợ quá, mãi sau mới nghĩ ra là mưa bóc đất núi. Cứ như thế như thế, đến năm 1993, thì Phiêng Quái cũng như cả xã Noong Luống, cơ bản phá xong rừng.
Rừng nhà bà Loan nhận từ trước đó (năm 1989) đang xanh tốt, bỗng nhiên thành miếng mồi ngon treo trước mắt mọi người. Người tử tế thì hỏi xin cây để sửa chuồng trâu, bắc cái cầu. Người trơ mặt thì nghĩ rừng của trời, cứ chặt đẵn vô tư.
“Nghe tin có trộm, tôi hớt hải ngược dốc lên bảo, rừng của tôi không được lấy. Họ nói, tôi xin mấy cây có đáng là bao. Nói nữa, thì họ trừng mắt, rừng mày trồng đâu mà giữ? Mày chỉ nhận chứ…”, bà Loan kể lại trong uất ức.
Mệt mỏi, có lúc muốn buông xuôi. Không thể mười mắt, mười chân, canh trộm mãi được. Một khi những nhà xung quanh không có rừng thì họ còn tìm cách lấy rừng của mình. Nghĩ vậy, bà Loan bàn với gia đình tìm cách bảo vệ rừng lâu dài, căn cơ hơn.
Cái thuận là dịp ấy kiểm lâm huyện cũng về tuyên truyền dân bản giữ rừng, lại có ông Cà Văn Muôn (bố đẻ bà Loan, thời gian đó làm Bí thư Đảng ủy xã), chồng chị làm trưởng bản cũng đồng lòng ủng hộ nên việc vận động dân bản nhận rừng khoanh nuôi bảo vệ thu được kết quả khá tốt.
Tháng đầu có chục hộ rụt rè nhận khoán, tháng sau thêm vài hộ, rồi bỗng dưng im lặng. Hỏi ra mới biết, họ nghĩ rừng của trời đất, nhận chả hơn gì không nhận, vừa mất công vừa mất lòng nhau.
Tối tối, trưa trưa, bà Loan lại đi từng nhà, nói điều hơn lẽ thiệt, lợi ích cao xa lâu dài. Dần dần, mọi người, một phần thấy rừng quanh bản sắp có chủ hết, một phần “chị Loan nói hay” nên chỉ chưa đầy năm sau rừng Phiêng Quái 100% diện tích đều có chủ.
Thế là chung riêng đều được. 8 ha rừng bà Loan có hàng rào là rừng các nhà xung quanh. 87 ha của những nhà khác cũng có người bảo vệ. Từ đây bà Loan cùng chồng con mới tạm ngơi khâu trông giữ để tu bổ chăm sóc rừng nhà mình.
Khi hỏi, làm rừng có gì khó, bà Loan bảo: "Rừng khoanh nuôi bảo vệ không mất nhiều công, nhà ít lao động vẫn nhận được. Rừng gần nhà, chỉ cần tranh thủ lúc xong việc ruộng đồng, lên tỉa cành, phát cây bụi cần bỏ... Mình yêu quí rừng như ruộng vườn nhà mình mà. Việc nuôi rừng như thế, ai cũng có thể làm được".
Rồi bà Loan giải thích: “Người Thái quen sống cộng đồng, ít riêng tư, “tự nhiên” có một cánh rừng của bà Loan, tự nhiên bà Loan đổi tính lên tận rừng xin mấy cây bằng bắp tay cũng không cho, thì tức quá. Một người kể lại, truyền miệng nhau, người tốt bỗng thành người xấu không cần biết thật giả. Làm rừng phải kiên trì, nhẫn chịu thôi… Nể nang, cho một người thì nhiều người cũng muốn. Cho hôm nay thì ngày mai sẽ có kiểu xin vắng mặt. Chẳng mấy chốc rừng rỗng ruột rồi tan hoang”.
Từ tấm gương bà Loan, quanh bản Phiêng Quái không còn đất trống đồi trọc. Rừng 100% đã có chủ và đã vượt qua giai đoạn sơ sinh non nớt. Nghĩa là khâu bảo vệ đã nhàn đi. Người ngay không “xin” nữa, họ đã hiểu được rằng, rừng nếu để tự nhiên thì hết sạch từ lâu. Tất nhiên kẻ gian vẫn lén lút đêm hôm, thậm chí ban ngày lợi dụng lúc các nhà bận buổi gặt, đám cưới, làm nhà mới…, họ lén lên rừng trộm vài cây mang ra phố bán.
Phiêng Quái có 72 hộ, 303 nhân khẩu, kẻ gian khó mà thoát được. Xưa kia, toàn bản cùng phá rừng, thì nay ngược lại tất cả tự giác giữ rừng - vì rừng nhà mình, thấy nó trộm nhà khác không đuổi không bắt thì mai kia nó sẽ đến “hỏi tội” rừng nhà mình.
Nghĩa là, nhà mình bị đói rất dễ “ăn non”. Cây mới bằng bắp tay, lúc giáp hạt tặc lưỡi bán đi, mua mấy yến gạo. Con vào năm học mới, bí quá lại chặt dăm cây lấy tiền mua sách vở quần áo…
Như thế là bóc ngắn cắn dài, được trước mắt mất về sau. Vì vậy, khó khăn lắm cũng phải cắn răng chịu đựng vượt qua. Bí quá thì vay họ hàng, dân bản, thậm chí vay lãi cũng được miễn sao giữ rừng. Rừng thêm tuổi thì người thêm tiền.
Thực tế, rừng nhà bà Loan dù đã 25 tuổi (tính từ khi nhận khoanh nuôi bảo vệ) nhưng khai thác rất ít. Bà Loan kể: “25 năm tôi mới cho động rừng 4 lần - Lần hai con trai, hai con rể làm nhà. Dù cây làm cột kèo được rồi nhưng không bán bao giờ, chỉ khi có việc lớn, tôi xin phép kiểm lâm huyện, báo kiểm lâm xã đàng hoàng mới chặt. Làm rừng phải biết quên đi năm năm, mười năm”.
Dân bản có rừng, bà Loan yêu quí rừng nên tự nhiên truyền ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng ra khắp dân bản. Trong các cuộc họp bản (bà Loan là trưởng bản), sau khi phổ biến nhanh chuyện diệt trừ sâu bệnh, bón phân đạm cho lúa…, bao giờ mọi người cũng nói chuyện rừng.
Người lo lắng bảo, mùa khô này cấm ai đốt nương; người bảo xin huyện thêm kiểm lâm viên về vì dạo này thấy có kẻ lạ vào bản; người bàn cách giữ gìn, nhân giống cây trám trắng đang mọc ngoài tự nhiên về trồng rừng…
Bà Loan lắng nghe xong, rồi cùng mọi người bàn bạc. Bà nói: "Bản mình đoàn kết cùng nhau làm ruộng, làm ao làm rừng, trông giữ rừng của nhà khác như của nhà mình thì mới bền. Rừng cho chúng ta nhiều thứ, nhất là gỗ làm nhà, nếu mua thì mất mấy trăm triệu một nếp, làm nông sao đủ tiền? Bản mình nằm cuối nguồn, nước kênh Nậm Rốm khó vào ruộng, bao năm nay không có rừng Phiêng Quái thì khe cạn, người chết đói".
Chốt lại, tất cả mọi người phải tự giác và biết cách bảo vệ rừng. Với vài người nghiện lấy trộm thì cảnh giác, nó lấy tất phải mang đi bán, trăm người giữ làm sao nó thoát được. Giữ rừng lâu dài là các nhà phải có kế hoạch làm ăn, ruộng ao làm ra lúa cá, lấy cái ăn hàng ngày để nuôi rừng, rồi sau này rừng cho mình gấp trăm gấp nghìn. Bản phải biết nghe lời kiểm lâm, nhất là phòng cháy chữa cháy rừng. Không đốt nương lúc gió lớn, khi đốt phải báo cho nhà xung quanh để cùng canh lửa…
Cách tuyên truyền chăm sóc bảo vệ rừng của bà Loan đơn giản như thế. Kiểm lâm huyện Điện Biên thừa nhận rất hiệu quả, dân bản nghe hơn nhiều kiểu hội nghị bàn ghế, micro, máy chiếu.
Mươi năm nay, Phiêng Quái là bản điển hình về khoanh nuôi bảo vệ rừng của xã Noong Luống, của huyện Điện Biên. Vào Phiêng Quái, khách xa sẽ lập tức thích ngay những cánh rừng xanh mát nối nhau lên lưng trời.
Người Phiêng Quái tự hào và biết ơn, noi gương bà Cà Thị Loan, người phụ nữ vượt lên hoàn cảnh gia đình gia đình (chồng mất 2003, một tay chèo chống nuôi năm con ăn học trưởng thành; làm trưởng bản, ủy viên hội đồng nhân dân xã) đem rừng về cho mọi nhà. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/11, tr20) đầu trang(
Tam Đường là huyện có diện tích rừng lớn toàn tỉnh và cũng là khu vực trọng điểm về phòng chống cháy rừng vào mùa khô. Vì vậy, để bảo vệ màu xanh cho những cánh rừng, đến thời điểm này các cấp, ngành chức năng từ huyện đến cơ sở đã triển khai các phương án, kế hoạch phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) hạn chế đến mức thấp nhất cháy rừng xảy ra.
Mùa khô vừa qua, trên địa bàn toàn huyện xảy ra 10 vụ cháy rừng, làm cháy 14,89ha thảm thực vật và 1,43ha rừng trồng và rừng tự nhiên tập trung ở các xã Bản Bo, Hồ Thầu, Thèn Sin… Nguyên nhân là do ý thức bảo vệ rừng, PCCCR của một bộ phận Nhân dân có nơi chưa cao. Đây cũng chính là bài học giúp cấp ủy chính quyền từ huyện đến cơ sở rút kinh nghiệm trong công tác PCCCR để bước vào mùa khô năm nay hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng.
Theo Ông Hoàng Quốc Hùng - Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tam Đường thì, năm nay thời tiết diễn biến phức tạp, có khả năng mưa ít, nhất là  từ tháng 2 đến tháng 5 nắng nóng có thể kéo dài, nguy cơ cháy rừng rất lớn. Ngoài ra, nhu cầu sử dụng lâm sản của Nhân dân trên địa bàn như: Lấy gỗ làm nhà, củi đun, cộng với tình trạng người dân các huyện lân cận tự ý vào rừng chặt cây lấy gỗ, phát rừng làm nương, đốt lửa trong rừng là những mối đe dọa đối với các cánh rừng.
Trước thực trạng này, công tác PCCCR đang được huyện đặt lên hàng đầu. Ngay từ đầu mùa khô, Ban Chỉ đạo PCCCR của huyện đã tổ chức Hội nghị cấp huyện, kiện toàn và phân công nhiệm vụ trong Ban về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR. Với quyết tâm giữ rừng, Hạt đã cử cán bộ xuống thường trực tại các xã, thị trấn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cảnh báo cháy rừng trong cộng đồng và thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với các hộ, kiên quyết đình chỉ và xử lý việc phát đốt rừng làm nương trái phép kể cả việc phát nương vào các khu vực núi đá có thảm thực vật đã quy hoạch là đất rừng phòng hộ.
Đối với những vùng trọng điểm, nguy cơ cháy rừng cao cán bộ kiểm lâm luôn trực 24/24h. Đồng thời, huy động nhân lực tham gia sửa chữa các bảng quy ước về bảo vệ rừng, biển báo cấm lửa, cấm chặt đốt rừng. Triển khai đồng bộ các phương án PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ: “Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, hậu cần tại chỗ” để mọi người dân trong xã cùng nhau thực hiện.
Cùng với đó, các Tổxung kích bảo vệ rừng, PCCR các thôn, bản tăng cường kiểm tra đôn đốc, tuần tra kiểm soát việc bảo vệ rừng, phát hiện các hành vi xâm hại tới rừng, nhắc nhở Nhân dân thực hiện tốt việc PCCCR. Hướng dẫn bà con cách phát dọn, thu gom cỏ tạp, cây bụi, cách đốt nương. Khi đốt nương bà con nên đốt lúc trời râm mát, không có gió to, đốt lúc buổi sáng sơm hoặc chiều tối; cử người canh gác khi lửa tắt hẳn quan sát thấy an toàn mới được về.
Từ công tác tuyên truyền hầu hết các bản, dòng họ ở 14/14 xã, thị trấn đều xây dựng các quy ước, hương ước bảo vệ rừng. Cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn cũng thường xuyên xuống từng bản hướng dẫn bà con cách trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng góp phần giữ đất, giữ nước để sản xuất nông nghiệp phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Qua đó, ý thức của bà con được nâng lên, tình trạng khai thác rừng bừa bãi không còn xảy ra.
Sơn Bình là một trong những xã có diện tích rừng nhiều nhất của huyện Tam Đường. Với địa bàn rộng, đường vào các cửa rừng hiểm trở gây khó khăn trong công tác PCCCR nhưng nhìn những cánh rừng bạt ngàn màu xanh như chứng minh cho ý thức bảo vệ rừng của bà con Nhân dân nơi đây. Điều đặc biệt ở các đường mòn dẫn lên các khu rừng đều có những biển báo, biển cấm xâm hại rừng để nhắc nhở, tuyên truyền bà con không được vào rừng chặt phá, lấy gỗ. Nhờ vậy, 100% người dân trong bản đều ủng hộ và tự nguyện tham gia ký cam kết bảo vệ, không đốt phá rừng.
Anh Sùng A Giang ở bản Chu Va 12 - xã Sơn Bình nói: “Mấy năm nay, được  cán bộ Ban Quản lý Rừng phòng hộ hướng dẫn chuyển giao kỹ thuật thâm canh trên đất dốc nên bà con đã biết trồng cây sơn tra, thảo quả vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ rừng. Giờ bà con đã hiểu lợi ích từ rừng mang lại không chặt phá rừng, biết cách đốt nương sao cho an toàn không bị cháy lan rộng, ý thức PCCCR được bà con nêu cao”.
Với những giải pháp đúng đắn cùng với tinh thần trách nhiệm cao của bà con nhân dân hy vọng mùa khô năm nay huyện Tam Đường sẽ hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra. (Báo Lai Châu 19/11) đầu trang(
Sau nhiều đêm theo dõi, mật phục, lúc 2h30 ngày 19.11, Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Hà Tĩnh đã bắt giữ một xe tải chở gỗ lậu.
Thời điểm nói trên, khi đang mật phục trên quốc lộ 8A (đoạn qua địa bàn xã Sơn Long, huyện Hương Sơn), các chiến sĩ thuộc Phòng Cảnh sát Môi trường đã phát hiện, bắt giữ xe ô tô tải BKS 37N - 0234 do Phan Anh Tuấn (42 tuổi, trú xóm 10, xã Sơn Châu, huyện Hương Sơn) điều khiển chở gần 5m3 gỗ lậu các loại (từ nhóm V đến nhóm VIII).
Khi kiểm tra, tài xế đã không xuất trình được giấy tờ hợp pháp của số gỗ nói trên. Tại cơ quan điều tra, Tuấn khai nhận số gỗ trên được một đầu nậu buôn gỗ (không rõ danh tính) thuê chở từ xã Sơn Kim 1 (huyện Hương Sơn) về huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh) để tiêu thụ thì bị bắt giữ. Hiện cơ quan chức năng đang tạm giữ tang vật và phương tiện để tiếp tục điều tra. (Lao Động 20/11; Thanh Niên 20/11, tr10) đầu trang(
17-11, UBND tỉnh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đặng Hùng Tháp (trú tại Toàn Thắng, Kim Động, Hưng Yên) 30 triệu đồng vì đã có hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật; xử phạt 50 triệu đồng đối với ông Đinh Văn Toản (trú Tứ Hạ, TX Hương Trà) về hành vi cất giữ lâm sản trái với các quy định của Nhà nước.
Đồng thời, tịch thu nhập kho Nhà nước toàn bộ số lâm sản là tang vật vụ vi phạm. Trước đó ngày 1-10-2014, Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường Công an TX Hương Trà phối hợp với Hạt Kiểm lâm thị xã tổ chức kiểm tra và phát hiện ô tô mang BKS 89C - 024.18 do ông Đặng Hùng Tháp điểu khiển dừng đỗ tại thị trấn Tứ Hạ có 66 thanh gỗ hương với khối lượng 1,8m3.
Tiếp tục điều tra mở rộng, lực lượng chức năng phát hiện ông Đinh Văn Toàn đang cất giữ trái phép 64 thanh gỗ hương và gỗ lim với khối lượng 2,549 m3. Toàn bộ số gỗ trên đều không có hồ sơ, giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, gỗ không có dấu búa kiểm lâm. (Báo Thừa thiên Huế 17/11) đầu trang(
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 17-11, trên đường tránh TP Đồng Hới, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý Kinh tế-Chức vụ (Công an TP Đồng Hới) phối hợp với Hạt Kiểm lâm Đồng Hới phát hiện xe khách mang BKS 17B-00463 đang lưu thông theo hướng Nam-Bắc do Nguyễn Kim Cương (SN 1974) ở Thái Bình điều khiển vận chuyển động vật hoang dã.
Qua kiểm tra thực tế, phát hiện trên xe có 477kg rắn (gồm rắn ráo thường, rắn ráo trâu, rắn sọc dưa). Sau khi làm việc với cơ quan chức năng, chủ hàng đã xuất trình giấy phép vận chuyển đặc biệt (thực vật rừng và động vật rừng quý hiếm) do Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp cấp ngày 11-11-2014 và một bảng kê khai lâm sản ngày 11-11-2014 có xác nhận của Chi cục Kiểm lâm Đồng Tháp.
Trước đó, trên đường tránh TP Đồng Hới, lực lượng này cũng đã kiểm tra hàng của anh Ngô Quang Trung (SN 1979) ở Bắc Ninh và phát hiện 68kg rùa (gồm rùa hộp, rùa đất, rùa sa nhân). Chủ lô hàng cũng đã xuất trình giấy phép vận chuyển đặc biệt do Hạt Kiểm lâm liên huyện Tam Nông-Tân Hồng (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp) cấp.
Được biết, sau khi kiểm tra, cân nặng cả 2 lô hàng trên đều có số lượng ít hơn so với bảng kê khai lâm sản có xác nhận của cơ quan chức năng. (Báo Quảng Bình 18/11) đầu trang(
Hơn chục năm về trước, xã Hoàng Quế (Đông Triều) phải đối mặt với tình trạng chặt phá rừng lấy gỗ làm chèn, chống lò của một số đối tượng khai thác than trái phép trên địa bàn và một số người dân chặt gỗ đốt lấy than hoa.
Với sự vào cuộc tích cực của cấp uỷ, chính quyền cơ sở và sự đồng lòng của người dân, từ 5 năm trở lại đây, tình trạng trên đã không còn. Những cánh rừng nơi đây được bảo vệ, chăm sóc tốt, không để xảy ra cháy rừng. Nhiều cánh rừng thông nhựa, keo gỗ xanh ngút tầm mắt đang dần phủ xanh những ngọn đồi trọc.
Để có kết quả này trước hết là nhờ nỗ lực tuyên truyền, vận động với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ xã đến 100% các thôn và từng hộ dân.
Theo ông Ngô Quốc Khánh, Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Quế thì những năm qua, xã và các thôn đã tổ chức giao đất, giao rừng cho các hộ dân và lồng ghép các quy định quản lý, bảo vệ rừng cùng chế tài xử lý đối với các trường hợp vi phạm vào hương ước, quy ước của các thôn. Cùng với đó, xã, thôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật PCCC, Luật Bảo vệ và phát triển rừng và các thông tư, nghị định liên quan đến công tác bảo vệ rừng (BVR) tới cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn.
Cùng với việc thành lập Ban Chỉ huy PCCC - BVR của xã với 20 thành viên, 6 thôn trong xã đều có tổ, đội PCCC - BVR với 113 thành viên tham gia. Qua đó, giao nhiệm vụ cụ thể tới từng thành viên đảm nhận, phụ trách từng khu vực, thường xuyên tuần tra, kiểm soát việc ra, vào rừng, đã góp phần nâng cao ý thức BVR của người dân nơi đây.
Đồng thời, xã luôn quan tâm và chỉ đạo các thôn tổ chức họp dân thống nhất cao và ký cam kết về xây dựng nội dung hương ước của các thôn, cũng như vận động những hộ dân có diện tích trồng rừng đóng góp Quỹ bảo vệ rừng. Các ban, ngành, đoàn thể, các thôn tích cực tuyên truyền vận động nhân dân ở các thôn gần rừng, các hộ trồng rừng và mọi người dân, công nhân đi làm, người dân đi chăm sóc rừng đề cao ý thức PCCC - BVR, qua đó nhận thức sâu sắc về tác hại của cháy rừng và tham gia tích cực vào công tác bảo vệ và PCCCR.
Cùng với đó, tăng cường tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia công tác PCCC - BVR, tổ chức tốt lực lượng để chữa cháy rừng tại thôn để đảm bảo PCCC rừng theo phương châm “4 tại chỗ”. Ban Chỉ huy PCCC - BVR thường xuyên làm tốt công tác tuần tra, trực gác lửa rừng 24/24h trong các giờ cao điểm mùa hanh khô, tại những khu vực trọng điểm để phát hiện kịp thời khi có cháy rừng xảy ra.
Nhờ vậy, từ chỗ xã có 622ha rừng, chủ yếu là rừng gỗ tạp, lau sậy, ràng ràng giá trị không cao, bằng sự tuyên truyền, vận động người dân làm tốt công tác PCCC - BVR và khuyến khích người dân nhận đất, nhận rừng, đến nay toàn xã đã trồng được hơn 300ha thông nhựa cho giá trị kinh tế cao, diện tích còn lại được người dân trồng keo, cây lấy gỗ khác.
Song song với đó, xã luôn phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, doanh nghiệp đứng chân trên địa bàn như: Công ty 397 (Tổng Công ty Đông Bắc), Công ty Than Hồng Thái - TKV và Kho K60 (Tổng Cục Công nghiệp quốc phòng) tổ chức tuyên truyền Luật PCCC, Luật Bảo vệ và phát triển rừng tới cán bộ, công nhân của các đơn vị này.
Cùng với đó, Ban Chỉ huy PCCC - BVR của xã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với lực lượng bảo vệ của các đơn vị tại các khai trường sản xuất nằm trong rừng, cũng như nơi đơn vị đứng chân kịp thời thông báo khi có khói, lửa để nhanh chóng xử lý, tránh để lửa lan rộng.
Phát huy vai trò của đảng viên đối với công tác BVR, các tổ, đội BVR đều được chi bộ phân công, giao trách nhiệm cho các đảng viên phụ trách. Đồng thời, chi bộ ra nghị quyết chuyên đề về công tác quản lý, BVR. Nếu đảng viên phụ trách nhóm nào để xảy ra việc vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định. Nhờ vậy, 5 năm qua, không có đảng viên hay trường hợp nào bị nhắc nhở về công tác BVR.
Có thể thấy, việc quản lý BVR thật sự đạt hiệu quả nếu có sự vào cuộc thực sự của cấp uỷ, chính quyền tại các cơ sở. Trong đó, đặc biệt chú ý tới việc phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia và gắn với việc giao đất, giao rừng cho người dân yên tâm đầu tư, khai thác và gìn giữ, bảo vệ rừng.
Nhờ cách làm này, Hoàng Quế đã trở thành một trong những địa phương tiêu biểu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của huyện Đông Triều nói riêng và của tỉnh nói chung. (Báo Quảng Ninh 19/11) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chiều 19-11, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trả lời chất vấn các vị Đại biểu Quốc hội.
Quan tâm tới đất ở, đất sản xuất cho hơn 300.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) thiếu đất, ĐB Danh Út (Kiên Giang) cho rằng hiện nay các nông lâm trường tuy được giao nhiều đất rừng nhưng sử dụng còn lãng phí và đề nghị Thủ tướng đề xuất giải pháp cho vấn đề này.
Không trả lời thẳng vấn đề, nhưng Thủ tướng phân tích: Đây là trăn trở day dứt của Chính phủ. Để giải quyết vấn đề này, phải có nhiều biện pháp nhưng trước hết Chính phủ nhận thấy, đồng bào DTTS sống gắn bó với rừng, nên giải pháp là giao rừng cho người dân.
Chính phủ đã thảo luận dự thảo nghị định của Bộ NNPTNT về chính sách phát triển rừng, gắn với đó là giảm nghèo cho đồng bào DTTS. Ngoài ra, tôi cũng đã yêu cầu xây dựng cơ chế chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn. Trước tỷ lệ hộ nghèo của đồng bào DTTS là trên 50%, nay đã giảm xuống còn 34%. (Nông Thôn Ngày Nay 20/11, tr2; Đại Đoàn Kết 20/11, tr2) đầu trang(
Một số lâm trường ở huyện Tri Tôn (An Giang) biến thành những lô đất trồng lúa, rồi mua bán sang tay, cho người khác thuê lại để thu lợi. Hiện các cơ quan chức năng đang lúng túng trước việc đất lâm trường bị xà xẻo.
Từ nhiều năm nay, Lâm trường Bưu điện (xã Tân Tuyến) chỉ còn lác đác vài rặng tràm thưa thớt, phần lớn diện tích trồng rừng biến thành những lô trồng lúa. Gần đây, sau khi bị cấm canh tác, đất phải bỏ hoang kéo dài, lau lách mọc um tùm.
Tuy nhiên lúc này một số lô vừa được dọn sạch cỏ dại chuẩn bị sản xuất vụ mùa mới. “Đất rừng không còn, ruộng thì không cho trồng lúa, những hộ đổ nhiều tiền của, công sức vào đây thấy đất bỏ hoang thì xót nên có người lại lén lút xuống giống” - ông Nguyễn Hải Trọng, phó ban quản lý lâm trường, nói.
Theo tài liệu, đất cấp cho Lâm trường Bưu điện vốn là đất hoang hóa, nhiều hộ dân được địa phương giao để canh tác nhưng do làm lúa mùa không hiệu quả nên bỏ hoang. Năm 1987, ông Phan Thanh Xiếu - lúc đó là bí thư xã Tân Tuyến - phát động dân trồng rừng. Hai năm sau, khi về làm giám đốc Bưu điện An Giang, ông Xiếu làm đơn xin đất tại đây.
Tháng 5-1991, UBND huyện Tri Tôn ký quyết định giao quyền sử dụng 243ha đất cho Bưu điện với thời gian sử dụng 25 năm. Đơn vị này thành lập lâm trường, phát hành 235 cổ phần, sau đó tạm ứng tiền cũng như dùng phần vốn góp của cổ đông để đào kênh, trồng rừng tràm... Tháng 12-1993, UBND tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 250ha tại đây cho Bưu điện.
Năm 2007, UBND tỉnh có quyết định phê duyệt lâm trường này là khu vực bảo tồn đất ngập nước. Thế nhưng giám đốc mới của Bưu điện An Giang là ông Trần Văn Trận lại ký quyết định giao khoán và ký hợp đồng giao đất trồng tràm cho 18 cá nhân, chủ yếu là cán bộ trong ngành, thu 1,32 tỉ đồng.
Cùng lúc đó, Bưu điện An Giang tách thành hai đơn vị là Bưu điện và Viễn thông, ông Trận ký tiếp quyết định giao Viễn thông tiếp nhận quyền sử dụng đất. Viễn thông vẫn giữ hợp đồng giao khoán đất cho các cá nhân (trong đó có ông Trận) như Bưu điện đã ký kết, 250ha được chia thành 28 lô. Những hộ nhận khoán lần lượt phá rừng, bỏ vốn đầu tư cải tạo đất để trồng lúa.
“Một số lô được chuyển nhượng với giá gần cả tỉ đồng, một số lô cho thuê hàng chục triệu đồng mỗi năm. Điều này dẫn đến việc hàng chục hộ dân từng khai phá đất hoang trước kia khiếu nại, có lúc khá gay gắt” - ông Lê Văn Dưỡng, phó chủ tịch UBND xã Tân Tuyến, cho hay.
Theo kết luận của Thanh tra tỉnh An Giang, sau khi giao khoán đất cho các cá nhân thì đất rừng lần lượt chuyển qua trồng lúa. Các hộ nhận khoán tự ý chuyển mục đích sử dụng, sang nhượng, cho thuê thu lợi trái pháp luật, làm diện tích rừng bị thu hẹp chỉ còn 66ha (29%). Thanh tra cho rằng Bưu điện không thuộc đối tượng giao khoán đất, việc giám đốc đơn vị này ký quyết định và hợp đồng giao khoán lại đất cho các cá nhân là không đúng thẩm quyền, trái pháp luật.
Quyết định giao đất trước kia cho Bưu điện là có thời hạn và không thu tiền sử dụng đất, sau khi Viễn thông tiếp nhận sử dụng thì về pháp nhân, diện tích này vẫn thuộc Bưu điện quản lý. Cho nên giám đốc Viễn thông ký hợp đồng và biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng thời gian sử dụng, bồi hoàn thành quả lao động với ba doanh nghiệp (giá trị 30 tỉ đồng, chưa kịp thực hiện) là trái với mục đích sử dụng theo quyết định giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND tỉnh.
Nhiều hộ nhận khoán đất tại đây cho biết sở dĩ họ phá bớt rừng để trồng lúa là do ngày 2-4-2007, UBND tỉnh An Giang có quyết định xác định lâm trường là rừng sản xuất, dù trước đó (ngày 28-3-2007) UBND tỉnh có quyết định phê duyệt Lâm trường Bưu điện là khu bảo tồn.
Theo người dân, với rừng sản xuất thì chủ rừng được phép sản xuất nông ngư kết hợp. Với tư cách cổ đông nhận khoán, họ trồng lúa là không có gì sai. Ở các lâm trường lân cận cũng bỏ cây tràm để phát triển trồng lúa tương tự.
Trong bản giải trình, ông Trận cho rằng trước đây những hộ nhận khoán tự bỏ vốn đầu tư trồng tràm, do cây tràm rớt giá mạnh nên chuyển một phần diện tích qua trồng lúa. Tháng 5-2008, UBND huyện Tri Tôn có văn bản nêu chủ trương cho phép chủ rừng muốn chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ lâm nghiệp thành đất nông nghiệp.
Đặc biệt là tháng 12-2009, UBND tỉnh An Giang có văn bản nêu rõ: “Có định hướng cho sử dụng 30% đất lâm nghiệp của Viễn thông và các chủ rừng quản lý để sản xuất nông lâm ngư kết hợp, thông báo cho làm phương án và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt cụ thể”. Ông Trận đặt vấn đề: “Nếu thấy việc giao khoán là sai thì địa phương cho dừng ngay để chấn chỉnh, yêu cầu thực hiện đúng quy trình, thủ tục. Tại sao để diễn ra trồng lúa trong thời gian dài mà không ngăn chặn?”.
Hai quyết định “tréo ngoe” ra đời gần như cùng lúc nói trên cho thấy sự bất nhất trong công tác quản lý cũng như mục đích sử dụng đất đối với lâm trường, dẫn tới việc phá rừng trồng lúa. Thanh tra tỉnh kiến nghị thu hồi số đất đã giao cho Bưu điện, UBND tỉnh xem xét lại các quyết định trước đây để thống nhất về mặt quản lý nhà nước.
Sau khi có kết luận thanh tra, UBND tỉnh An Giang đã ra công văn yêu cầu Sở Tài nguyên - môi trường tham mưu việc thu hồi quyết định phê duyệt Lâm trường Bưu điện là khu bảo tồn thiên nhiên để điều chỉnh quy hoạch lại thành đất rừng sản xuất nông lâm kết hợp.
Theo ông Phan Văn Sương - chủ tịch UBND huyện Tri Tôn, UBND tỉnh vừa ra quyết định thu hồi đất, giao cho UBND huyện quản lý sử dụng, lập quy hoạch sử dụng đất và phương án sản xuất. Hiện nay huyện đang lập đề án phục hồi phát triển khu vực Lâm trường Bưu điện thành khu bảo tồn sinh thái đất ngập nước.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh An Giang, tại Lâm trường Bình Minh, xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn có diện tích đất lâm nghiệp 964ha, qua kiểm tra xác định có 86 hộ bỏ cây tràm trồng lúa với diện tích 460ha.
Thanh tra tỉnh An Giang kiến nghị các cấp thẩm quyền xử lý trách nhiệm ông Trần Văn Trận (nguyên giám đốc Bưu điện, giám đốc Viễn thông An Giang vừa về hưu) và những cán bộ, cá nhân tự ý chuyển mục đích sử dụng, sang nhượng, cho thuê đất thu lợi bất hợp pháp. “Trong khi ở huyện Tri Tôn, các lâm trường như Bình Minh, Tỉnh Đội... cũng biến thành đất trồng lúa, tại sao không xử lý, không thu hồi?” - nhiều hộ nhận khoán ở Lâm trường Bưu điện bức xúc. (Tuổi Trẻ 19/11) đầu trang(
Qua 04 năm tổ chức thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, tỉnh Lạng Sơn đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tài nguyên rừng và đất rừng được quản lý sử dụng hợp lý hơn, bước đầu tạo được vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến.
Trong giai đoạn 2011 - 2013, toàn tỉnh trồng rừng mới 28.783 ha, đạt 115,1% kế hoạch, diện tích chăm sóc rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng đều đạt 100% kế hoạch. Ước thực hiện trồng rừng giai đoạn 2011-2015 đạt 49.304 ha, bằng 112,1% kế hoạch; các chỉ tiêu về khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, chăm sóc rừng dự kiến đều vượt kế hoạch. Đến năm 2015, tỷ lệ che phủ rừng đạt 54,5% đảm bảo mục tiêu đề ra; giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân 4,5%/năm vượt so với kế hoạch.
Những kết quả trên làm tăng độ che phủ rừng, tăng hiệu quả chức năng phòng hộ của rừng, giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống, góp phần cải thiện đời sống cho người dân, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, chất lượng và giá trị kinh tế của rừng thấp, thu nhập của người làm nghề rừng chưa cao, chưa ổn định; giống cây trồng rừng còn nghèo nàn; công nghiệp chế biến lâm sản chưa phát triển.
Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng, trong thời gian tới tỉnh sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng quy hoạch, hoàn thiện cơ chế chính sách và tập trung huy động các nguồn lực đất đai, nhân lực, khoa học công nghệ, vốn cho công tác bảo vệ, phát triển rừng. (Langson.gov.vn 19/11) đầu trang(
Trong khuôn khổ hoạt động NSO-5, Dự án Hỗ trợ thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) hỗ trợ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện báo cáo nghiên cứu về ngành gỗ Việt Nam.
Báo cáo là tài liệu hữu ích cho các doanh nghiệp ngành gỗ, các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ đàm phán hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU.
Tại hội thảo “Ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU” do Dự án EU-MUTRAP phối hợp với VCCI tổ chức ngày 18/11, bà Nguyễn Thị Thu Trang- Giám đốc Trung tâm WTO (VCCI), chuyên gia dự án MUTRAP- cho biết, là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng, với các sản phẩm chế biến nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao nhất liên tiếp trong nhiều năm trở lại đây, ngành chế biến gỗ đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ trong các chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất, thương mại.
Tuy nhiên, các biện pháp chính sách đối với ngành này còn khá rời rạc, thiếu tính hệ thống và do đó hạn chế về hiệu quả. Đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đang thực hiện đàm phán các hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối táckinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngành gỗ đang tỏ ra khá lúng túng khi chưa đưa ra được các đề xuất phương án đàm phán tổng thể cho ngành của mình và vì vậy chưa tận dụng hiệu quả cơ chế tham vấn trong đàm phán thương mại quốc tế mà Thủ tướng Chính phủ đã cho phép.
Theo bà Trang, một trong những nguyên nhân của tình trạng này được cho là ngành thiếu một định hướng phát triển về sản phẩm, thị trường cũng như năng lực sản xuất phù hợp với năng lực, nhu cầu của doanh nghiệp. Từ góc độ quản lý, tương tự như nhiều ngành kinh tế khác, ngành gỗ đã được Chính phủ xây dựng và thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển ngành gỗ. Tuy nhiên, đây hầu hết là các mục tiêu chủ quan từ góc độ quản lý Nhà nước, không có các biện pháp hỗ trợ thực hiện cụ thể và đặc biệt là không gắn trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhằm hỗ trợ ngành gỗ Việt Nam xác định định hướng phát triển phù hợp trong tương lai để từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách phù hợp, Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu hỗ trợ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện báo cáo ngành gỗ và tổ chức hội thảo lấy ý kiến đóng góp hoàn thiện dự thảo báo cáo.
Hội thảo, với sự tham gia của các chuyên gia thực hiện báo cáo thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, sẽ chỉ ra thực trạng và triển vọng phát triển ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập cũng như đưa ra những khuyến nghị phương án đàm phán FTA Việt Nam – EU về ngành chế biến gỗ. (Công Thương 19/11) đầu trang(
Việc các nhà máy gỗ ép Tùng Lâm (thuộc Công ty CP Lâm sản Đắk Lắk đóng tại Tổ dân phố 6, phường Khánh Xuân, TP. Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) và Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt đứng chân trên địa bàn xã Thuận Hạnh, huyện Đắk Song (Đắk Nông) vô tư xả bụi, khói, nước thải ra môi trường gây ô nhiễm khu dân cư đã được người dân nhiều lần phản ánh đến các cơ quan chức năng.
Tuy nhiên, những ý kiến, kiến nghị của người dân đến nay vẫn chưa được giải quyết. Theo phản ánh của người dân phường Khánh Xuân (TP. Buôn Ma Thuột) cho biết, để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng và che mắt người dân thì cứ khoảng 21 giờ khi người dân bắt đầu đi ngủ thì nhà máy chế biến lâm sản Tùng Lâm bước vào hoạt động.
Ông Trần Văn Thịnh - nhân viên bảo vệ Trường THPT Lê Duẩn ở gần nhà máy cho biết: "Cứ sau 1 đêm sản xuất là các phòng học của nhà trường lại bị phủ một lớp bụi gỗ trắng xóa, nhiều hôm trong giờ thể dục do hít phải mùi hóa chất nồng nặc khiến cả thầy và trò chảy nước mắt, nước mũi nên giờ học phải tạm ngưng”.
Bà Nguyễn Thị Mạnh ở Tổ dân phố 6, phường Khánh Xuân, nguyên là công nhân nhà máy đã nghỉ mất sức cho biết, trong tổ dân phố đã có 3 người trước là công nhân của Nhà máy chế biến gỗ ván dăm này chết vì ung thư do làm việc trong môi trường độc hại lâu ngày. Có những cặp thanh niên mới lập gia đình, làm công nhân ở nhà máy này bị sẩy thai nên phải bỏ việc. Không chỉ gây ô nhiễm bụi, tiếng ồn, mà xưởng sản xuất gỗ ván dăm này còn gây ô nhiễm không khí do sử dụng Keo ure formaldehyde để trộm với bột dăm.
Ông Nguyễn Công Trường, Giám đốc nhà máy cho biết: "Hiện nhà máy có hơn 30 công nhân làm việc, tuy đã xây 2 hộc chứa bụi nhưng vẫn không đủ chỗ chứa, còn việc xử lý mùi hóa chất Keo ure formaldehyde trong quá trình ép gỗ lâu nay nhà máy chưa thực hiện được”.
Còn xung quanh Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt (Đắk Nông), theo phản ánh của người dân, do ảnh hưởng của bụi, nhiều người dân bị mắc bệnh về đường hô hấp, quanh năm suốt tháng người dân không dám mở của vì lượng bụi nhiều đóng dày hàng chục mm trên mái lợp. Nhiều diện tích cây trồng như càphê, rau màu nhiễm bụi giảm năng suất gây thiệt hại kinh tế cho người dân. Không chỉ có bụi mà nước thải không qua xử lý cũng được nhà máy để chảy tràn ra khu dân cư, đường giao thông, chảy xuống suối, ao, hồ bốc mùi hôi hám…
Ông Hoàng Duy Chuyển, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Nông xác nhận, việc Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của hàng trăm hộ dân như người dân phản ánh là có cơ sở.
UBND tỉnh Đắk Nông đã thành lập đoàn kiểm tra công tác bảo vệ môi trường định kỳ của Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt. Qua kết quả kiểm tra cho thấy, Nhà máy sản xuất MDF Long Việt chưa báo cáo chất thải nguy hại theo định kỳ 6 tháng, không quản lý chứng từ chất thải nguy hại theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, Đoàn kiểm tra yêu cầu Nhà máy sản xuất gỗ MDF Long Việt cần nhanh chóng khắc phục tồn tại như tập trung xử lý nước thải, bụi và khí thải, không để người dân khiếu kiện đông người về vấn đề gây ô nhiễm của nhà máy, ảnh hưởng đến an ninh chính trị tại địa phương.
Tại phường Khánh Xuân (TP. Buôn Ma Thuột) sau khi nhận được đơn thư phản ánh của người dân và trường THPT Lê Duẩn, ông Nguyễn Hữu Danh, Chủ tịch UBND phường Khánh Xuân cho biết: "Tới đây, UBND phường tiến hành kiểm tra, nếu phát hiện cơ sở này việc sản xuất gây ô nhiễm sẽ báo cáo UBND thành phố và các cơ quan chức năng xử lý”.
Thiết nghĩ, với việc gây ô nhiễm môi trường cho khu dân cư, trường học đe dọa đến cuộc sống của người dân trong vùng, các cấp chính quyền tỉnh Đắk Lắk sớm tiến hành kiểm tra, đánh giá mức độ gây ô nhiễm của cơ sở chế biến lâm sản này, đồng thời sớm di dời vào vùng quy hoạch trả lại môi trường trong sạch cho người dân. (Đại Đoàn Kết 19/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều hộ dân ở các thôn Thuận Thành, Thuận Tiến, Thuận Tân của xã Thuận Hạnh (Đắk Song) rất bức xúc trước việc Nhà máy chế biến gỗ MDF Long Việt đã gây ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của họ.
Ông Bạch Huy Thông, một người dân ở thôn Thuận Thành bức xúc nói: “Nhà máy MDF Long Việt đã xả trực tiếp hàng ngàn khối nước thải chưa qua xử lý ra đường giao thông, vào khu vực dân cư sinh sống. Nước thải đặc sệt, đen ngòm và mùi hôi thối cũng rất nồng nặc, lâu ngày nên đã thấm vào mạch nước ngầm, xuống giếng, trong khi đây là nguồn nước sinh hoạt duy nhất của người dân địa phương. Một số người dân vì sợ ảnh hưởng đến sức khỏe phải đi xin nước ở các địa phương khác về sinh hoạt”.
Còn bà Võ Thị Dung một người dân khác trong thôn, cũng cho biết: "Vào những ngày nhà máy làm việc, bụi gỗ cũng bay mù mịt. Trong nhà của nhiều hộ dân nơi đây, nhà nào, nhà nấy bụi đóng dày. Mặc dù đã mua bạt, may rèm vải che chắn, nhưng không tài nào cản nổi, bụi vẫn len lỏi vào khắp nhà. Để đảm bảo sức khỏe, nhiều người dân ở đây đêm nằm ngủ cũng phải đeo khẩu trang tránh bụi. Còn các cây trồng cà phê, tiêu thì bị bụi bám từng lớp dày đặc, không thể sinh trưởng bình thường, giảm sút năng suất nghiêm trọng”.
Trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Văn Ninh, Bí thư Chi bộ thôn Thuận Thành cho biết: “Đã hơn 3 năm nay, hàng chục hộ dân sống xung quanh Nhà máy MDF Long Việt đã phải “gồng mình” chịu đựng sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng do nhà máy gây ra. Nhiều người dân địa phương đã bị các loại bệnh như: viêm xoang, viêm phế quản, tức ngực, khó thở… thường xuyên phải đi bệnh viện để điều trị.
Người dân đã nhiều lần làm đơn “kêu cứu” gửi đến lãnh đạo nhà máy, các ngành chức năng, nhưng sự việc vẫn chưa được xử lý. Thậm chí, người dân đã nhiều lần tập trung đông người lên gặp lãnh đạo nhà máy để phản đối. Còn lãnh đạo nhà máy chỉ cho công nhân ra quyét dọn bụi, đồng thời hứa hẹn sẽ đưa ra biện pháp xử lý, nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn tiếp tục tái diễn”.
Trao đổi về sự việc, theo ông Hoàng Duy Chuyển, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thì việc người dân phản ảnh Nhà máy MDF Long Việt gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất là có cơ sở.
Vừa qua, Sở TN-MT đã phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành kiểm tra công tác quản lý, xử lý chất thải của nhà máy và phát hiện có 5 điểm xả từ hàng rào nhà máy ra phía khu vực quốc lộ 14C, trong đó, 4 điểm có nước rỉ màu đen. Tại thời điểm kiểm tra, nhà máy đang xả nước thải vào hệ thống xử lý nước thải của nhà máy. Tuy nhiên, hệ thống này chưa được xây dựng hoàn thiện theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, mới chỉ có một hồ chứa nước thải có lót lớp chống thấm HDPE, còn hai hồ chứa không có lót đáy.
Mặt khác, các hồ chứa nước thải sản xuất của nhà máy đã đầy và có nguy cơ tràn ra ngoài bất cứ lúc nào khi có trời mưa. Tại khu vực bên ngoài tường rào của nhà máy dọc theo quốc lộ 14C có một khối lượng lớn nước màu đen đọng lại tại mương nước tự nhiên…
Đoàn kiểm tra đã lấy 5 mẫu nước thải tại 5 điểm xả nước thải ra ngoài tường rào của nhà máy để đi phân tích, sau khi có kết quả thì sẽ tham mưu cho UBND tỉnh biện pháp xử lý một cách cụ thể.  Trong quá trình chờ kết quả phân tích mẫu nước thải, đoàn kiểm tra cũng đề nghị lãnh đạo nhà máy khắc phục ngay tình trạng ô nhiễm, tuyệt đối không được xả nước thải ra ngoài quốc lộ 14C, bịt các điểm xả nuớc thải ra môi trường… tránh làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân.
Theo lãnh đạo Nhà máy MDF Long Việt thì trước kia, đoạn đường ở ngã ba đồn 8, quốc lộ 14C có cống dẫn nước mưa, nhưng sau khi mở rộng thì đường cống bị bịt lại, không thoát được nước, nên gây nên tình trạng ô nhiễm.
Bên cạnh đó, hiện nay, công ty đang tái sử dụng nước sau khi được lắng tại bể lắng để tưới cây xanh trong khuôn viên nhà máy nên khi trời mưa, nước chảy theo địa hình từ cao xuống thấp đã chảy tràn ra các khu vực khác. Để xử lý dứt điểm những vấn đề nêu trên, nhà máy cũng cam kết trong thời gian tới sẽ đào thêm hồ chứa lắng và không xả nước thải ra ngoài môi trường.
Ngoài ra, nhà máy cũng sẽ có phương án thỏa thuận với công ty quản lý đường bộ để đấu nối ra hệ thống cống khu vực quốc lộ 14, 14C; đồng thời, xây dựng thêm các hố thu gom nước mưa để lắng lọc và xử lý đảm bảo đạt chuẩn môi trường trước khi thải ra ngoài. (Báo Đắc Nông 19/11) đầu trang(
PV đã định tránh từ “vua” nhưng cuối cùng vẫn phải dùng câu “vua rừng đất Bắc” để nói về Hiền “trọc”. Bởi anh là người đang sở hữu tới hơn 100ha rừng ở huyện Yên Bình, Yên Bái, bên cạnh lòng hồ Thác Bà, và được coi là người có diện tích rừng lớn nhất ở miền Bắc.
Tình cờ gặp lại Lê Mai Hiền sau đúng 10 năm trong một lần đi Lào Cai về và dừng chân ở Làng Đát gần TP.Yên Bái. Năm 2004 từ đường 70, PV theo Hiền đi sâu vào rừng, ra tới tận sát mép hồ Thác Bà. Vậy mà sau đó PV đã đánh mất số điện thoại của Hiền. Niềm vui lóe lên khi bà chủ một nhà hàng nói: “Bây giờ Hiền “trọc làm ăn lớn và giàu có lắm rồi” sau đó đưa luôn cho PV số điện thoại của anh.
PV vào nhà, Hiền vẫn đang ở tít trong rừng để đưa rau thịt cho thợ xẻ, các anh chị em, bà con mà anh thuê vào dọn cỏ, trồng rừng… Dưới gầm nhà sàn, một con xe hơi 4 chỗ sáng bóng đậu chễm chệ. Quả là khác thật.
10 năm trước, i gặp Lê Mai Hiền để viết bài về một đoàn viên thanh niên làm kinh tế giỏi. Lúc đó, Hiền còn đang là Bí thư chi đoàn. Nói là một gương làm kinh tế giỏi nhưng tất cả mới chỉ bắt đầu. Vì theo lời Hiền kể thì năm 2002 anh mới bắt tay trồng rừng. Lúc đó, vẫn chỉ có thể gọi là “làm kinh tế liều” khi anh bỏ mặc tất cả lời can của các thành viên gia đình, bạn bè để lao vào mua lại hàng chục hécta rừng của bà con trong vùng với giấc mơ sẽ được đổi đời từ rừng, chứ đã làm gì có nguồn thu nào.
Bỗng nhiên sở hữu cả một cánh rừng với 17 quả đồi và núi chạy dọc từ đường 70 Yên Bái, Lào Cai ra tận lòng hồ Thác Bà, không chỉ phải đi vay tiền mua cây giống rồi thuê máy móc san gạt, mà Hiền còn phải ngày ngày thuê bà con vào dọn nương phát cỏ, đào ao đắp đập, mở đường… Đó thực sự là một cuộc chơi mạo hiểm mà nếu không có quyết tâm cao thì sao có thể làm nổi.
Hiền cũng kể, trong vòng 2-3 năm đầu chẳng có nguồn thu nào ngoài trông đợi 2-3 cái ao cá dưới khe, 1-2 con trâu. Cứ kiếm được xu nào lại lo đem trả nợ. Vì vậy vợ Hiền phải trở ra thuê một cái lán gỗ cũ ở ngoài mặt Quốc lộ 70 để làm máy khâu, để có chút thu nhập ngắn ngày nuôi cả gia đình, để tạo điều kiện cho anh nuôi giấc mộng trồng rừng.
Hồi đó, Hiền là một thanh niên cao gầy, da lúc nào cũng đen cháy vì nắng gió, mặt mày hốc hác vì vất vả. Vợ anh cũng gầy gò queo quắt, từ sáng tới chiều dán mặt vào chiếc máy khâu cũ kỹ để lo bươn chải. Hiền mặc chiếc áo bay đất lấm mồ hôi, chở PV vào rừng bằng một con xe máy cà tàng, cứ đi một đoạn lại phải xuống té nước suối làm mát máy. Gần như đêm ngày Hiền bám trụ lại rừng. Ăn ngủ với rừng. Dẫn PV leo lên các ngọn đồi nhưng tay lúc nào cũng cầm sẵn cái quắm, gặp cỏ là phạt để mở đường. Tuy nhiên đứng giữa những cánh rừng mà mắt nhìn không hết tầm, lúc ấy PV đã tin rằng, rồi đây tất cả sẽ khác, Hiền sẽ đổi đời từ tình yêu rừng của anh.
Tất cả trên anh vẫn không thay đổi, vẫn cái phong thái một anh nông dân trồng rừng lam lũ, chỉ có một sự thay đổi rõ rệt đó là tóc của Hiền đã “bay” mất hàng mảng. Hóa ra, cái từ Hiền “trọc” là thế chứ 10 năm trước, anh chưa có biệt danh này. Lúc đó, người ta vẫn gọi anh bằng cái tên khai sinh là Lê Mai Hiền – cái tên mà khi nghe cán bộ tỉnh Yên Bái giới thiệu, PV cứ nghĩ là một cô gái. Khi hỏi về chuyện sao tóc rụng sạch, Hiền xoa xoa bàn tay lên đầu như một thói quen, bảo: “Sau một thời gian trồng rừng, tôi bị bệnh và tóc rụng sạch. Trước còn gần như trọc lóc, hói trụi chỉ còn vài chỏm lơ thơ nên tôi cạo luôn cho nhẵn”.
Bên chén nước, anh kể lại những chuyện cũ và chuyện mới: “Tôi đeo đuổi trồng rừng bắt đầu từ năm 2000. Ban đầu chỉ vài héc-ta do bố mẹ tôi từ Hà Nam lên khai hoang để lại. Tới năm 2001 -2002, bà con ở đây có phong trào trồng cà phê nhưng chỉ được một mùa thì cà phê thi nhau chết, bà con thua lỗ chán nản nên thi nhau bán đất rừng hoặc bỏ hoang cho cỏ dại. Lúc đó tôi nghĩ nếu bỏ hoang rừng, để đồi trọc thì quá lãng phí và cũng sẵn tinh thần đoàn thanh niên, tôi xung phong đứng ra “làm mẫu” cho các đoàn viên.
Thế là tôi đi vay tiền bà con họ hàng để mua gom lại tất cả được chừng 50ha rừng. Cũng may lúc đó giá còn khá rẻ. Khi ôm cả một tập bản đồ đất trong tay, tôi đau đầu lắm, không biết nên đầu tư trồng cây gì, nuôi con gì để còn trả nợ tiền vay mượn. Vợ tôi thì coi đó là quyết định liều, còn bảo anh thích đánh bạc với giời thì đánh, còn em thì phải dựa vào cửa hiệu may cho chắc. Sau đó, tôi nhận định thị trường gỗ xây dựng sẽ phát triển, gỗ dăm xuất khẩu cũng ngày càng có giá trị, bét cũng để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy giấy ở Phú Thọ…
Thế là tôi quyết định trồng các cây gỗ công nghiệp như keo, bồ đề, mỡ… Nói vậy chứ cũng phải 5-7 năm mới có thể thu. Nên trên thì tôi thuê bà con trồng rừng lâu năm, còn dưới thì nuôi trâu, thả cá, trồng lúa nương… để có khoản thu ngắn ngày”.
Tuy nhiên khi bắt tay, Hiền “trọc” cũng nghĩ nếu chỉ trồng keo, mỡ, bạch đàn sẽ không giá trị bằng cây trẩu vì giá bán cao hơn, độ che phủ rộng, lợi đất. Ngoài sử dụng làm gỗ xây dựng có thể bóc để xuất khẩu. Và anh dồn tất cả vốn liếng vào 30ha chuyên trồng trẩu, còn lại 10ha trồng mỡ để bán gỗ cho dân làm nhà cửa. Còn lại trồng keo kiểu “mì ăn liền”…
Đến năm 2004, gỗ rừng lớn dần và thị trường đầy triển vọng, Hiền “trọc” tiếp tục gom tất cả tiền trong nhà và các lời lãi “ôm” nốt 50ha rừng ở xung quanh, nơi bà con không còn thiết tha với rừng và “mời” anh mua lại, để phủ xanh bằng cây rừng. Lúc đó, gỗ rừng trồng cũng đã có thể tỉa được, anh nhảy lên một bước nữa, tiếp tục vay thêm vốn liếng ngân hàng mở xưởng chế biến gỗ.
Khai thác cả “gốc” lẫn “ngọn” – kinh tế của gia đình Hiền “trọc” bắt đầu khấm khá dần lên. Uy tín của anh cũng tăng lên trong mắt vợ. Tới năm 2007, Hiền “trọc” còn mua sắm thêm được chiếc xe tải để chở gỗ nguyên liệu về tận Hòa Bình, Hà Nội, Phú Thọ… để tiêu thụ. Cũng vào khoảng năm 2008-2010 thị trường xây dựng sôi động nên rừng của anh “đẻ” ra vàng thực sự.
Nhấp một ngụm trà nóng, hỏi về tình hình kinh tế từ nghề trồng rừng thế nào – như một thói quen tò mò. Hiền “trọc” không trả lời câu hỏi đó, nhưng rất tự tin bảo: “Từ năm 2007 đến nay, năm nào tôi cũng đóng góp đáng kể cho các hoạt động của địa phương và ngân sách nhà nước. Năm đầu sau khi thành lập công ty là 70 triệu đồng, năm 2008 là 130 triệu đồng, còn từ năm 2009 đến nay, mỗi năm trên 200 triệu đồng”.
Ngoài ra, Lê Mai Hiền cho biết cũng liên tục tài trợ bằng tiền hoặc vật liệu cho các phong trào xây dựng nông thôn mới, xây trường học, tài trợ cho các cháu học sinh nghèo vượt khó, hỗ trợ xây dựng trạm y tế xã và tham gia hàng loạt chương trình khác… như một doanh nhân thực sự. Tất cả đều từ rừng đem lại. Cả cuộc đời Hiền “trọc” chỉ biết có trồng rừng và bán gỗ rừng trồng từ việc làm hồi sinh hơn 100ha đồi núi chết ở cạnh lòng hồ Thủy điện Thác Bà.
Như để ôn lại kỷ niệm, Hiền “trọc” lại muốn mời PV vào rừng để tham quan 17 quả đồi của anh. Đường đi bây giờ có dễ hơn trước một chút do anh dày công cải tạo. Do quỹ đất lớn và liên tục trồng gối vụ nên hầu như lúc nào rừng của anh cũng có gỗ để khai thác. Trên các quả đồi, có thời điểm lượng công nhân của Hiền “trọc” lên tới hơn 100 người.
Chỗ khai thác gỗ, nơi hạ trồng lứa cây mới, hoặc phát cây dọn cỏ. Những cái lán trại cũng được xây khang trang hơn để có chỗ cho anh em công nhân, thợ thuyền ở. Lê Mai Hiền kể: “Từ năm 2009 đến nay có rất đông đoàn tham quan từ các nơi về đây học tập mô hình trồng rừng của tôi. Tôi sẵn sàng tham gia và chia sẻ mọi kinh nghiệm cho bà con”. (Nông Thôn Ngày Nay 20/11, tr16) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Đánh hơi sự nguy hiểm, 3 con tê tê thoắt cái đã thu mình lại như những quả bóng. Trong môi trường hoang dã, hành động này nhằm giúp chúng bảo vệ mình trước kẻ thù như gấu và các loài mèo lớn. Nhưng chúng sẽ bất lực trước sự tấn công hung hãn và quỷ quyệt của những tay buôn lậu động vật hoang dã và những thực khách sành ăn trước món thịt tươi ngon, bổ dưỡng.
Quán ăn rực rỡ đèn neon này nằm ở Mong La, một thị trấn tồi tàn trong lòng lãnh địa của một phiến quân thủa trước tại biên giới Trung Quốc - Myanmar, đây là điểm kết thúc của một thị trường thương mại toàn cầu và đang khiến cho loài tê tê đi đến bờ vực của sự diệt vong. Yếu tố kích hoạt chính là đà tăng cao nhu cầu tiêu thụ thịt và vẩy tê tê, phần lớn đến từ Trung Quốc.
Tại Mong La, tê tê được bán công khai ở các nhà hàng gần biên giới để thu hút luồng du khách Tàu. Gần kề đó là các cửa hàng bán buôn sản phẩm từ động vật hoang dã, hàng hóa chủ yếu tập trung vào da và vẩy tê tê được ngâm trong rượu gạo. Tại khu chợ ngoài trời, một thương nhân Tàu bán cho chúng tôi miếng da của một con tê tê Sunda, loài động vật có tên trong danh sách “đặc biệt nguy cấp” của IUCN, với giá 200 Nhân dân tệ (NDT, tương đương 32 USD).
Ở Trung Quốc, có tên là Lingling, tê tê từ lâu đã được đánh giá cao. Lớp vảy của loài động vật này được cấu tạo từ Keratin, cùng chất liệu với móng tay và tóc của con người (cũng như sừng tê giác). Các thầy lang truyền thống mô tả rằng lớp vảy của loài tê tê có khả năng trị dứt một số chứng bệnh về da cũng như các dạng bệnh khác, bất chấp việc thiếu các bằng chứng y tế thuyết phục.
Việc buôn bán các bộ phận của tê tê ở Đông Nam Á tập trung chủ yếu vào hai thị trường chính là Hồng Kông và Trung Quốc, quy mô thương mại đã hình thành ít nhất vào đầu thế kỷ 20 - theo ông Dan Challender, đồng chủ tịch của Tổ chức chuyên gia tê tê (PSG, IUCN).
Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, da của loài tê tê cũng được xuất một lượng nhỏ sang thị trường Mỹ và Mexico, nơi đây chúng sẽ được sử dụng làm giày và quần áo. Ngành xuất khẩu “chính thức” các sản phẩm dạng này đã đến hồi cáo chung vào năm 2000, khi hoạt động đánh bắt tê tê từ môi trường hoang dã đã bị cấm theo Công ước động vật hoang dã quốc tế CITES. Nhưng với sự bùng nổ của Trung Quốc, nhu cầu tê tê đã tăng vọt. Ngày nay, với nhiều thành phần trung lưu Trung Quốc giàu có, nhu cầu tiêu thụ tê tê trên thị trường “chợ đen” cũng đồng nghĩa với sự giàu có và phẩm trật xã hội.
Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ tăng phi mã, ngày nay việc khai thác và sản xuất tê tê chủ yếu qua hình thức phi pháp trên quy mô công nghiệp. Chỉ trong vòng 1 tuần vào tháng 3/2008, nhà chức trách Việt Nam đã tịch thu 23 tấn tê tê tại cảng Hải Phòng, đây là một phần của lô hàng áp tải tê tê đang trên đường di chuyển từ Indonesia đến Trung Quốc.
Trong năm 2010, 7-8 tấn tê tê khác đã bị bắt giữ ở miền Nam Trung Quốc cùng với 1.800 ký vảy tê tê. Những chuyến vận tải hàng tương tự cũng đổ về thị trường Trung Quốc. Vào thời điểm chúng được đóng gói thành những lô hàng lớn, tê tê ở dạng “thịt tươi”.
Khi mà nguồn cung tê tê ở Trung Quốc và các quốc gia láng giềng đang dần cạn kiệt thì các tay buôn bán động vật hoang dã đã dõi mắt nhìn xa hơn. Biên giới mới nhất là Phi châu. Người dân tại các quốc gia như Gabon, Kenya, Cameroon, Nigeria và Cộng hòa Trung Phi đang nâng cao sự cảnh giác của họ về giá trị của tê tê đối với các tay buôn tê tê quốc tế.
Vì thế vào năm 2014 này, hơn 6 tấn vảy tê tê Phi châu đã bị tịch thu trước khi chúng xuất sang châu Á hơn tất cả số lượng các lần bắt giữ vảy tê tê gộp lại trên lục địa Phi.
Các nhà bảo tồn nói rằng mặc dù những đợt bắt giữ quy mô lớn và bất chấp thực tế là tê tê được bảo vệ bởi luật pháp tại các quốc gia ASEAN - đáng chú ý là 2 quốc gia Brunei và Bhutan, nhưng việc tháo dỡ các mạng lưới buôn bán tê tê vẫn còn là một ưu tiên thấp.
Ở Campuchia, tổ chức bảo tồn Toby Eastoe quốc tế (TECI) hiện đang bắt tay làm việc với các kiểm lâm viên tại cánh rừng nguyên sinh rặng núi Cardamom (núi Bạch Đậu Khâu), một trong vài nơi ở Campuchia nơi còn tập trung đông đúc loài tê tê. Như nhiều quốc gia khác, buôn bán tê tê đến từ thành phần nghèo khó và cơ hội. Với những dân làng Campuchia nghèo khổ, việc tìm thấy một con tê tê sống hay vô tình bẫy nó trong rừng được xem như “trúng số độc đắc”. Một con tê tê sống có giá dao động từ 100 USD đến 400 USD.
Bất chấp những điều này, vẫn còn đó những lý do để lạc quan. Sự gia tăng nhận thức về tê tê đang lớn hơn lúc nào hết, đây là bước cần thiết đầu tiên để đấu tranh hiệu quả của luật động vật hoang dã. Và trong môi trường nuôi nhốt, tê tê mẹ chỉ đẻ 1 lần 1 con, nhưng trong tự nhiên, chúng lại sinh sản khá nhanh chóng, nghĩa là dân số chúng có tiềm năng phục hồi lớn nếu giảm bớt áp lực.
Nhưng nếu không có một lực thúc đẩy nhằm chống lại các nghiệp đoàn buôn lậu quốc tế và trưng ra các công ước động vật hoang dã thì tê tê vẫn là loài vật dễ đánh bắt nhất. (Giáo Dục & Thời Đại 17/11, tr22) đầu trang(
Một người đàn ông ở bang Karnataka, Ấn Độ đã chứng kiến cảnh tượng kinh hãi khi một con trăn lớn đang siết chặt chú chó của anh.
Tuy nhiên, sau khi lấy lại được bình tĩnh, người đàn ông trên đã cầm lấy cành cây gần đó để đập con trăn giải cứu chú chó cưng.
May mắn cho chú chó khi con trăn đã buông con mồi của mình ra và bò vào bụi cây để lẩn trốn. Chú chó may mắn không bị thương dù bị siết chặt một lúc. (VietnamPlus 19/11) đầu trang(
Những nhà hoạt động môi trường và bảo vệ động vật hoang dã đã lên tiếng phản đối việc đặt các tấm lưới ngăn cá mập của chính phủ Australia khi chứng kiến cái chết thương tâm của một chú cá mập trắng dài 2,5m tại bãi biển Bondi.
Chú cá mập trên đã bị mắc vào một tấm lưới thuộc dự án nhằm ngặn chặn cá mập tiến sâu vào các bờ biển của chính phủ Australia. Các tấm lưới ngăn cá mập được thiết lập vào năm 1937. Mạng lưới được đặt cách bờ của 51 bãi biển (từ Wollongong đến Newcastle) với khoảng cách 500m.
Những nhà hoạt động môi trường than phiền rằng những tấm lưới này không chỉ cướp đi mạng sống của những chú cá mập mà còn cả cá voi, cá heo hay rùa biển.  Bất chấp những than phiền từ phía các nhà bảo vệ môi trường, Chính phủ Australia vẫn giữ nguyên quyết định chăng lưới để bảo vệ các bờ biển của nước này khỏi sự xâm nhập của các loài cá dữ.
Theo phát ngôn viên của Viện Thủy sản Australia, các tấm lưới trên đã giúp bảo vệ tính mạng của hơn hai triệu người mỗi năm. (VietnamPlus 20/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng