|
Ngày 19 tháng 11 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Tháng tám mùa mưa bắt đầu chớm đến với vùng Đông Trường Sơn. Đây là thời điểm lâm tặc hay lợi dụng thời tiết xấu để phá rừng....
Chúng hoạt động lén lút, lợi dụng sự sơ hở của kiểm lâm và các lực lượng bảo vệ rừng để xâm hại rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép. Chuyến công tác lần này của PV theo sự phân công của cấp trên, để tăng cường cho công tác bảo vệ rừng của Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Kbang (Kon Hà Nừng- Gia Lai).
Vừa chân ướt, chân ráo tới trạm, anh Lâm, trạm trưởng đã vồn vã nói: "Cậu xuống đúng lúc lắm! Đêm nay chúng ta sẽ bí mật đi tuần tra rừng của trạm nhé. Bên huyện vừa thông báo, cơ quan an ninh, trật tự cho biết có toán lâm tặc từ phía Bắc mới xâm nhập địa bàn, chúng đã gây nên một số vụ bên Đăk roong, Krongpa, tình hình phức tạp lắm, hiện đội liên ngành của huyện đang truy quét, có thể nó dạt sang cánh đông phía ta đó, nên cần nâng cao cảnh giác, phát hiện kịp thời. Tụi này hoạt động chủ yếu về đêm, trang bị rất tinh vi, cơ động toàn bằng xe máy "độ chế", cưa xăng, đèn đội kiểu thợ mỏ, đặc biệt rất manh động, sẵn sàng chống trả lực lượng bảo vệ rừng".
Nói xong, anh Lâm chỉ tay về phía dãy núi xa xa nơi có cánh rừng tự nhiên của trạm quản lý với diện tích hơn 1.400 ha, nằm lọt giữa đại ngàn bao la của các công ty lâm nghiệp khác. Tuy nhiên nó lại giàu có tài nguyên vào bậc nhất khu vực, trên mấy trăm loài thực vật quý hiếm và trữ lượng hơn 400m3/ha.
Bao năm nay rừng này chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học không có tác động khai thác và còn được chăm sóc, bảo vệ rất nghiêm ngặt. Nhưng gần đây lâm tặc cũng đã đánh hơi và liên tục dòm ngó, thăm dò. Với Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Kbang, những người có thâm niên như anh Lâm ở trạm này thật hiếm. Anh vốn là cán bộ của Liên hiệp Lâm Công nghiêp Kon Hà Nừng, sau khi liên hiệp giải thể giao cho tỉnh quản lý, anh về công tác ở Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Kbang, thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp.
Hơn 20 năm gắn bó với mảnh đất này, anh hiểu và thuộc từng ngóc ngách khu rừng như vườn nhà. Anh tâm sự: Hiện nay công tác giữ rừng hết sức nặng nề, bằng mọi giá phải bảo vệ tốt khu rừng này. Nhiều đêm lo không ngủ được anh xách xe máy chạy vào rừng nghe ngóng, rồi gặp được anh em trực chốt trong cửa rừng, không có gì xảy ra anh mới yên tâm trở về nhà. Và bao nhiêu chuyện anh kể ra để hình dung công việc của các anh chẳng đơn giản chút nào.
Nhưng anh bảo đã "lỡ" theo nghề này rồi thì cứ vậy mà sống và làm việc thôi, không ngại ngần gì cả. Ngoài nhiệm vụ của một cán bộ nghiên cứu lâm nghiệp ra, anh rất chuyên tâm cho công tác bảo vệ rừng. Qua thái độ PV cũng đã cảm nhận được điều đó và thấy anh rất yêu nghề, yêu rừng…
Quãng đường từ trạm vào đến rừng khoảng tám ki-lô-mét nên cũng phải nửa tiếng mới vào đến rừng. Đường quá xấu, chốc chốc lại phải xuống xe để anh Lâm dắt xe qua khe đá, lạch nước, mùa mưa đã tàn phá con đường theo năm tháng. Trước đây các công ty lâm nghiệp còn khai thác gỗ, họ còn sửa đường, nay đóng cửa rừng, đường chỉ còn là lối đi bộ thật khó khăn cho người đi xe máy.
Tới chốt đầu tiên, nghe tiếng xe máy hai người chạy ra, qua anh Lâm PV biết hai anh là Bình và Hùng. Các anh nói vui: “Sao sếp vào rừng tối vậy, nghi tụi em tiếp tay cho lâm tặc à?”. Anh Lâm bảo gọi người chốt trên xuống đây hội ý để ta đi tuần rừng đêm nay. Khổ nỗi trong rừng ở đây không có sóng điện thoại, phải đi gọi trực tiếp. Bình nổ xe máy lao về chốt trên, một lát sau thì hai anh nữa là Dũng và Hiền về cùng. Sáu anh em chụm lại trên tấm bản đồ khu rừng do trạm quản lý dưới ánh sáng của chiếc đèn pin...
Đúng lúc mọi người chuẩn bị lên đường thì trời nổi gió, sấm chớp đùng đùng và mưa nặng hạt, có lẽ đành phải chờ mưa tạnh mới đi được... Đêm nay là đêm cuối tháng, cộng với mưa nên trời tối đen như mực, đứng cạnh nhau mà còn không nhìn rõ mặt, mọi người bước thấp bước cao lần mò mà đi, có đoạn đường anh em thi nhau vồ ếch ngã oành oạch, phải nhịn cười để không bật lên thành tiếng.
Đang đi bỗng anh Lâm dừng lại, ngăn mọi người, linh tính của anh thật chính xác khi phía trước vừa lóe lên ánh lửa rồi tắt ngấm có vẻ như ánh lửa của bật lửa. Đúng rồi, ai đó đang hút thuốc lá, chốc chốc một đốm đỏ lại hiện lên rõ lắm. Mọi người lặng lẽ tiến lại gần, để giữ một khoảng cách an toàn cho anh em, anh Lâm bảo mọi người tản ra xung quanh, chợt có tiếng thì thầm, anh Lâm vội đứng nép vào một gốc cây to rồi quát to: “Ai? Làm gì đấy?”.
Anh chiếu đèn pin thẳng về phía đó, hai bóng đen vụt đứng dậy, không nói không rằng biến luôn vào bóng tối, chúng không quên ném lại gói ớt bột làm mọi người mắt mũi cay xè không nhìn thấy gì hết. Đúng là bọn cảnh giới của lâm tặc rồi! Sau phút bất ngờ mọi người trấn tĩnh lại bảo nhau đuổi theo vừa lúc đó phát hiện một chiếc xe máy của chúng bỏ lại, anh em định nổ máy nhưng không có chìa khóa xe đành chịu, nhưng phải giữ xe này lại để làm tang chứng.
Lúc này tổ tuần tra đã đi được hết lâm phần quản lý của trạm nên anh Lâm bảo thôi không đi nữa mà dừng lại theo dõi tiếp. Phía xa xa tiếng cưa máy vẫn vọng lại rõ lắm và có phần hối hả hơn, bọn chúng cưa cây bên phía sông Côn, anh Bình quả quyết như vậy. Ầm, một tiếng động khô khốc trong đêm vọng lại, bọn chúng cưa đổ cây rồi, một vài con sóc hốt hoảng kêu thất thanh, tiếp theo là hai ba tiếng máy cưa lại ầm ầm vang lên, có lẽ chúng cắt khúc và bổ hộp đấy.
Nhưng chợt tiếng cưa im phắc, đêm trở lại tĩnh mịch như vốn có của nó, chỉ còn lại tiếng giun dế và sột soạt của lũ chuột hay chồn cáo gì đó đi ăn đêm. Có lẽ bọn cảnh giới của lâm tặc đã chạy về tới nơi, báo hiệu rồi nên chúng không dám cưa nữa. Ngay sau đó là tiếng xe máy ào ào chạy về phía PV, năm chiếc xe máy, mười tên lâm tặc mặt mày gân guốc, đen nhẻm nhảy xuống xe tiến lại, tay lăm lăm dao rựa, gậy gộc thật đáng sợ, nép vào mọi người.
Anh Lâm bình tĩnh hỏi bọn chúng: “Các anh đi đâu đêm hôm khuya khoắt thế này?”.Thấy nhóm PV ít người hơn, một tên có vẻ là đầu sỏ quát lại một cách hung hăng: “Các anh là ai mà dám giữ xe của tụi này?”, một tên trong bọn còn khởi động máy cưa cho xích chạy vù vù và múa may thị uy dằn mặt. Với kinh nghiệm của mình, anh Lâm bình tĩnh giải thích và đấu lý với bọn chúng, tuy không có phản ứng mạnh nhưng bọn chúng cũng đã xông vào cướp lại chiếc xe máy, đôi bên giằng co có nguy cơ xảy ra xô sát.
Để tránh căng thẳng và nguy hiểm đến tính mạng anh em, vì sự việc chưa có gì cụ thể, chưa bắt được quả tang lâm tặc hạ cây nên cũng khó làm gì được bọn nó nên anh Lâm bảo mọi người trả xe cho chúng. Song anh Lâm vẫn chưa chịu thua và vẫn tiếp tục tuyên truyền vận động bọn chúng không được vào rừng của trạm vì đây là khu rừng đặc dụng, rừng giống quốc gia nếu động vào thì hậu quả sẽ khôn lường.
Trước những thái độ cúng rắn của anh Lâm bọn chúng tự động bỏ đi... Nhớ lại sự vụ đêm qua, đúng là một đêm không yên tĩnh ở rừng. Nếu không có một người đầy kinh nghiệm và nhiệt tình như các anh thì không biết có chuyện gì đã xảy ra. Trong khi lực lượng bảo vệ rừng của ta rất mỏng, trang bị hầu như không có gì, chế độ chính sách còn nhiều bất cập, song ở nơi đây anh em đã làm việc bằng cả tấm lòng chân thực, bằng tình yêu đối với rừng không tính toán thiệt hơn...... (Nông Nghiệp Việt Nam 19/11, tr20) đầu trang(
Ngay từ những ngày đầu mùa khô Tây Nguyên này, PV ngược đường biên giới, thẳng tiến về huyện Đức Cơ với hy vọng tận mắt chiêm ngưỡng rừng gỗ hương cuối cùng còn sót lại nơi vùng đất cực tây Gia Lai này....
Đến đầu thị trấn Chư Ty (huyện Đức Cơ), rời quốc lộ 19, rẽ vào con đường dẫn về xã Ia Kriêng. Hai bên đường là bạt ngàn cao su, cứ ngỡ như chỉ duy nhất cây cao su đã có ở đây tự ngàn đời. Ghé vào UBND xã Ia Kriêng, Bí thư Đảng ủy xã Siu Mế (người dân tộc J’rai) pha trà mời và vui vẻ trò chuyện.
Khi hỏi về rừng gỗ hương còn sót lại trên địa bàn xã, ông nói: “Cả xã này, ai mà không biết đến khu rừng quý ấy. Nhưng biết rõ nhất vẫn là già làng Grông. Để tôi đưa anh vào gặp ông ấy”. 6 km nữa để đến làng Grông. Trên xe, Bí thư Siu Mế kể chuyện về xã mình. Theo ông thì nơi mà chiếc xe đang lăn bánh, trước kia là rừng nguyên sinh với rất nhiều loại gỗ quý đặc trưng của vùng tây Trường Sơn như giáng hương, trắc, cẩm chỉ, bằng lăng…
Chiến tranh đã lấy đi phần lớn diện tích rừng quý hiếm nơi đây. Tuy nhiên sau năm 1975, vùng đất biên giới miền tây Gia Lai này vẫn còn nhiều rừng lắm. Chưa hết câu chuyện, chúng tôi đã đến làng Grông - ngôi làng J’rai bây giờ chỉ toàn nhà xây với mái tôn, mái ngói. Hôm nay, già làng Puih Bưa không đi rẫy. Ông tiếp khách theo truyền thống của người J’rai và thong thả trò chuyện. Hơn bảy mươi tuổi, tuy đã móm mém nhưng vóc dáng ông còn khỏe lắm.
Ông kể: "Người J’rai sinh sống ở đây tự thuở khai thiên lập địa, đều dựa vào rừng. Rừng cho họ cái ăn cái mặc, cho con cá dưới sông, cho con nai con hoẵng trong rừng; rừng cho họ cây gỗ quý để làm mái nhà rông cong vút, cho cái thứ lá làm men rượu cần uống đến mềm môi, rừng còn cho người J’rai nơi đây những câu chuyện cổ đẹp đến ngàn đời…".
Những năm 1990 của thế kỷ trước, làn sóng dân di cư tự do tràn vào Tây Nguyên, đã lấy đi không ít khu rừng quý nơi đây. Thêm vào đó là phong trào chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây cao su nên trên địa bàn xã, rừng tự nhiên gần như đã bị xóa sổ. Năm 1997, trong lúc công nhân đang khai hoang rừng để trồng cao su, người dân làng Grông và làng Gà thấy khoảnh rừng gỗ quý nằm giữa hai làng sắp bị phát trắng, bèn báo lên ủy ban xã, đề nghị giữ lại khoảnh rừng này.
Lãnh đạo xã báo cáo lên huyện Đức Cơ, vậy là, khu rừng 3,8 ha được gìn giữ đến ngày hôm nay. Từ làng Grông vào khu rừng gỗ quý, PV lại xuyên qua bạt ngàn cao su- rừng cao su gần 20 năm tuổi đang chuẩn bị bước vào mùa thay lá. Đang đi, Siu Mế đập vai PV, chỉ về phía trước, nơi có một khoảng xanh đặc trưng của rừng nguyên sinh, nói: “Rừng hương đấy!”. Khu rừng tự nhiên gần 4 ha nằm lọt thỏm, lạc lõng giữa bạt ngàn cao su, có cảm giác như chính nó sống nhờ vào cây cao su trên mảnh đất này vậy.
Căn nhà xây, mái lợp tôn diện tích vài chục mét vuông nằm giữa khu rừng hương nguyên sinh. Đây là căn nhà mà huyện Đức Cơ đã trích ngân sách làm nên để cho hai người đàn ông tự nguyện giữ khu rừng này có nơi ăn chốn ở. Đó là sau này thôi, còn khi mới có quyết định giữ lại khu rừng này, xã giao cho nhân dân 2 làng Grông và làng Gà cắt cử nhau trông coi, vừa để bảo vệ khu rừng thoát khỏi những lưỡi cưa “lâm tặc”, vừa phát dọn và phòng cháy…
Đến năm 2011, xã khoán hẳn cho hai bảo vệ ở hẳn trong ngôi nhà này, làm công tác giữ rừng. Rơ Ma Kem (dân tộc J’rai ở làng Grông) và anh Nguyễn Hữu Mạnh (quê Hải Dương, hiện đang ở làng H’rang, xã Ia Kriêng) tự nguyện nhận lãnh trách nhiệm này. Suốt gần một buổi sáng, anh Mạnh và anh Kem dẫn PV dạo trong khu rừng nguyên sinh. Đã đi hầu khắp Tây Nguyên nhưng thú thật, ở thời điểm rừng hiếm hoi như bây giờ, được đi dạo giữa khu rừng nguyên sinh với điệp trùng gỗ nhóm một, cứ ngỡ như đang đi giữa đại ngàn Tây Nguyên thuở hoang sơ.
Bây giờ đang là đầu mùa khô Tây Nguyên. Gió lồng lộng. Gió đưa những hạt của quả hương rơi về đất, để cho những mầm non tiếp tục đâm chồi. Già làng Puih Bưa nhặt một nắm hạt quả hương đưa cho PV, nói: “Mong sao rừng hương này tiếp tục được giữ gìn, được sinh sôi nảy nở để con cháu đời sau biết thế nào là cây gỗ quý, thế nào là cội nguồn!”.
Mấy năm làm công tác giữ rừng, anh Mạnh và anh Kem thuộc khu rừng này như thuộc chính bàn tay mình. Hằng ngày, hai anh cầm dao đi dạo trong rừng, phát dọn vệ sinh cho rừng, đếm từng cây gỗ trên diện tích gần 4 ha này.
Rơ Ma Kem nói: “Khu rừng này còn sót lại đúng một cây gỗ trắc, còn lại chủ yếu là gỗ giáng hương với trên 2.000 cây. Nếu tính cây hương có đường kính từ 3 tấc đến 6 tấc thì có khoảng 1.200 cây. Còn lại là một ít gỗ tạp”. Do mọc chen chúc nhau nên những cây gỗ hương nơi đây hầu hết đều thẳng tắp và cao vút, có những cây cao đến gần 50 m, phủ tán lá mát rượi và làm nơi trú ngụ cho nhiều loài chim.
Anh Mạnh chỉ những cái hố to đã kịp mọc lại cỏ xanh, nói: “Cách đây mấy năm, khi đang thi công quảng trường Đại Đoàn Kết ở thành phố Pleiku, dân làng Grông đã tự nguyện hiến tặng 20 cây gỗ hương, đường kính 15 đến 20 cm, đem về trồng quanh tượng Bác Hồ ở quảng trường, xem như món quà của dân làng dâng lên Người” (bây giờ, 20 cây gỗ hương ấy đang sống xanh tốt, là nơi bay về của nhiều loài chim quý ngay giữa lòng thành phố).
Quay lại căn nhà giữ rừng, anh Mạnh pha ấm chè Bắc vừa gửi vào mời khách. Anh cho biết: "Đây là chút nước mưa cuối cùng của mùa mưa Tây Nguyên. Hóa ra ở đây, mùa mưa các anh phải hứng nước mưa để ăn uống, còn mùa khô thì vài ngày phải về làng, chở từng can nhựa đựng nước vào đây để nấu cơm, pha trà, còn tắm giặt thì… “trông cho suối không cạn nước”, anh Mạnh nói.
Hỏi về những khó khăn, hai anh cho biết: Ở đây ngoài hai anh, bà con 2 làng đều tham gia giữ rừng, hễ có người lạ vào là dân làng phát hiện và báo ngay (thảo nào lúc đang đi dạo trong rừng, anh Mạnh nhận một cuộc điện thoại của một người tên Khương- cán bộ kiểm lâm địa bàn, nói rằng nhân dân vừa báo có người lạ vào rừng, anh Mạnh nói là nhà báo, do Bí thư Đảng ủy Siu Mế đưa vào).
Cuộc sống cũng tạm ổn bởi ngoài việc tranh thủ làm kinh tế gia đình, mỗi người còn được phụ cấp 2 triệu đồng/tháng. Ở đây còn nuôi được gà, lợn, trong rừng cũng có lá để nấu canh chua… Tuy nhiên sinh hoạt của hai anh thì vẫn rất thiếu thốn. Cần nhất vẫn là một cái giếng để khỏi phải về làng chở nước, đường điện phục vụ sinh hoạt và một vài công cụ hỗ trợ, phòng khi có kẻ xấu đột nhập.
Một vài mong ước nho nhỏ như vậy để gìn giữ một khu rừng quý hiếm hoi còn sót lại- là linh hồn của người Tây Nguyên, là một nơi du lịch lý tưởng cho những ai muốn có thêm hiểu biết về rừng- có lẽ cũng không là quá với chính quyền địa phương.... (Nông Nghiệp Việt Nam 19/11, tr19) đầu trang(
18/11, ông Nguyễn Duy Hải, Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết, vừa chỉ đạo Hạt kiểm lâm của huyện này phối hợp với các cơ quan chức năng khẩn trương tiến hành xác minh, làm rõ vụ đầu độc rừng thông tại tiểu khu 148A.
Vị trí rừng thông bị đầu độc là vùng ráp ranh giữa phường 7 (TP Đà Lạt) với xã Lát (huyện Lạc Dương). Ngay sau khi phát hiện, kiểm lâm địa bàn huyện Lạc Dương đã tiến hành kiểm tra thực địa, xác định có 20 cây thông gần 30 năm tuổi, cao 20m, đường kính gốc 60cm, bị chết bất thường.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện ở mỗi gốc thông bị chết đều có ít nhất 1 mũi khoan vào thân cây, sâu từ 5-10cm. Sau khi khoan thủng thân cây, kẻ xấu đã đổ chất độc (thường là thuốc diệt cỏ) vào bên trong. Cây thông ngấm độc dược sẽ chết từ từ khiến lực lượng bảo vệ rừng rất khó phát hiện.
Thời gian qua, tại Lâm Đồng liên tục xuất hiện tình trạng rừng thông bị đầu độc. Vào tháng 10/2014 vừa qua, tại phường 12, TP Đà Lạt, hàng chục cây thông khoảng 20 năm tuổi cũng đã bị đầu độc. Hầu hết những vụ triệt hạ rừng thông tại Lâm Đồng kiểu này từ trước đến nay hầu như không xác định được thủ phạm. (Công An Nhân Dân 19/11) đầu trang(
18.11, trao đổi với PV, ông Phạm Ngọc Ẩn, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Quảng Nam cho biết, hiện bệnh viện có đến 8 bệnh nhân đang được điều trị do bị rắn lục cắn, trong đó có 3 ca nặng.
Tại BVĐK Quảng Nam, ông Võ Văn Toán (SN 1968, trú tổ 10, thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, Quảng Nam) kể, vào tối 13.11, khi ông đi ra trước ngõ thì bị một con rắn lục đuôi đỏ cắn vào bàn chân trái. Sau đó, ông được đưa đến Trung tâm Y tế huyện Thăng Bình cấp cứu với chân trái bị sưng phù và qua hai ngày điều trị tại đây, ông Toán có biểu hiện nặng hơn với triệu chứng máu loãng nên được đưa vào BVĐK Quảng Nam điều trị. Đến nay, ông Toán đã được truyền 4 bịch máu, sức khỏe dần hồi phục.
Tiếp đến, tối 16.11, sau khi vào thăm ông Toán ở bệnh viện về, ông Nguyễn Bảy (SN 1962, hàng xóm với ông Toán) cũng bị rắn lục đuôi đỏ tấn công trước ngõ nhà. Ông Bảy nhanh chóng dùng gậy đập chết rắn rồi tự sơ cứu vết thương. Do biết sơ cứu kịp thời nên nạn nhân không bị nguy hiểm đến tính mạng. “Không hiểu vì sao thời gian gần đây rắn lục đuôi đỏ xuất hiện rất nhiều và tấn công nhiều người dân vào ban đêm khiến chúng tôi rất hoang mang, lo lắng…” - ông Bảy nói.
Không riêng gì ở Quảng Nam người dân bị rắn lục đuôi đỏ tấn công, mà tại TP.Đà Nẵng, rắn lục đuôi đỏ xuất hiện bò thẳng vào nhà, dù nhà dân nằm ở khu trung tâm không có cây cối, bụi rậm.
Bà Nguyễn Thị Thúy Vân (trú tổ 4, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP.Đà Nẵng) cho biết, chỉ trong vòng 3 ngày, nhà bà có đến 2 con rắn lục đuôi đỏ to bằng ngón chân cái, dài khoảng 50cm bò vào nhà. Cụ thể, tối 14.11, bà ra đóng cửa nhà để đi ngủ thì phát hiện một con rắn lục đuôi đỏ bò vào nhà, quá hoảng sợ, bà kêu chồng ra đập chết. Trước đó 3 ngày cũng có một con rắn lục đuôi đỏ to và dài như con rắn trên bò vào nhà bà Vân và một con rắn lục khác bò vào nhà bà Đợi đối diện nhà bà Vân.
“Tôi rất sợ và lo lắng, vì thời gian gần đây tivi và báo chí liên tục thông tin rất nhiều về trẻ em, người lớn bị rắn lục đuôi đỏ cắn, nhà có hai đứa con nhỏ nên tôi càng rất sợ hơn. Tôi cũng không hiểu sao nhà ở phố thế này, không có cây cối, bụi rậm mà rắn lục đuôi đỏ ở đâu cứ liên tục bò vào nhà…” - bà Vân nói. (Nông Thôn Ngày Nay 19/11) đầu trang(
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông (Bắc Kạn) vừa ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, bắt tạm giam Đàm Văn Từ, 26 tuổi và Đinh Như Hòa, 24 tuổi, cùng trú tại thôn Tốc Lù, xã Vũ Muộn, huyện Bạch Thông về hành vi khai thác lâm sản trái phép.
Từ báo cáo của Công an xã Vũ Muộn về hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép của một số đối tượng, Công an huyện Bạch Thông đã xác minh làm rõ đối tượng Đinh Như Hòa đã cùng một số đối tượng khác khai thác trái phép 4 cây gỗ nghiến thuộc nhóm IIA tại khu rừng Mò Loọc, thôn Tốc Lù, xã Vũ Muộn và khu rừng Đin Đeng, thôn Khuổi Đẳng, xã Sỹ Bình.
Tại cơ quan Công an, đối tượng khai nhận đã khai thác trái phép 8 cây gỗ nhóm IIA, trong đó có 7 cây gỗ nghiến và 1 cây gỗ Trai Lý. Công an huyện Bạch Thông cùng các cơ quan chức năng đã tiến hành khám nghiệm hiện trường trong đó có cây gỗ nghiến mà Đàm Văn Từ và Đinh Như Hòa cùng khai thác trái phép. Khối lượng gỗ khai thác trái phép của Từ là 27,797m3, của Hòa là 3,344m3.
Ngày 6/5/2013 Đinh Như Hòa đã bị UBND tỉnh Bắc Kạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác lâm sản trái phép, phạt tiền 40 triệu đồng, tuy nhiên hiện nay Hòa vẫn chưa chấp hành nộp phạt với quyết định trên và lại tiếp tục tái phạm.
Hiện cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bạch Thông đang hoàn tất thủ tục để sớm đưa các đối tượng xử lý theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 16/11) đầu trang(
Vừa qua, tại khu vực thuộc tổ 18 phường Nguyễn Trãi, TPHG tổ công tác của Công an thành phố Hà Giang đang làm nhiệm vụ phát hiện xe ô tô 7 chỗ, BKS 22L-5426 trên xe có 3 người cùng một số lâm sản.
Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra hành chính nhưng lái xe đã không chấp hành mà điều khiển xe chạy tiếp trên Quốc lộ 2 theo hướng Hà Giang - Bắc Quang. Lực lượng Công an Thành phố đã truy đuổi và thông báo cho Công an huyện Bắc Quang phối hợp bắt giữ.
Đến Km52 thuộc xã Việt Vinh huyện Bắc Quang lái xe đã bỏ phương tiện cùng hàng hóa để chạy trốn, lực lượng Công an đã kịp thời tạm giữ được 1 đối tượng tên là Vù Minh Lực sinh năm 1992 thường trú tại xã Thuận Hòa huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Bước đầu, Lực khai nhận: Xe chở theo 30 khúc gỗ nghiến dạng thớt có kích thước 30 x 40cm không rõ nguồn gốc, xuất xứ và giấy tờ kèm theo. Cơ quan Công an đã lập biên bản sự việc, tạm giữ người, phương tiện và số gỗ trên để tiếp tục điều tra làm rõ. (Đài PTTH Hà Giang 17/11) đầu trang(
18/11, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) đã chính thức ký kết hiệp định tài chính cấp chính phủ về việc tài trợ cho dự án “Bảo vệ và quản lý tổng hợp hệ sinh thái rừng ở các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai (gọi tắt là KfW10)”.
Đối với Dự án KfW10 sẽ có thời gian thực hiện là 7 năm (2014-2020), với tổng vốn của dự án là 11,29 triệu euro; trong đó vốn ODA không hoàn lại là 8 triệu euro, tương đương 224 tỷ đồng, vốn đối ứng của Việt Nam là 3,29 triệu euro.
Dự án sẽ tập trung góp phần duy trì sự toàn vẹn của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng tự nhiên sản xuất tại các khu vực thuộc miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam đồng thời nâng cao điều kiện sống cho cộng đồng dân cư địa phương.
Cụ thể, Dự án sẽ hướng tới bảo vệ và quản lý bền vững rừng tự nhiên sản xuất dựa vào cộng đồng khoảng 28.110 ha tại 3 tỉnh Quảng Nam, Kon Tum và Gia Lai góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và đảm bảo thu nhập ổn định thường xuyên cho 110 cộng đồng thôn bản thông qua việc tạo ra sự đa dạng về các sản phẩm từ rừng.
Phát biểu tại buổi lễ ký kết, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Công Tuấn cho biết, thời gian qua, chính phủ hai nước đã có những mối quan hệ hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Từ năm 1995 đến nay, Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức thông qua KfW đã hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực trồng rừng, bảo vệ quản lý tài nguyên thiên nhiên với tổng số tiền hơn 120 triệu euro trong 14 dự án, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chủ trì 11 dự án.
Đánh giá những hỗ trợ trong thời gian qua, Thứ trưởng Hà Công Tuấn cũng cho rằng, các dự án đã góp phần đáng kể vào việc tăng diện tích che phủ rừng, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng và đa dạng sinh học cũng như nâng cao thu nhập cho hàng trăm nghìn hộ dân ở nông thôn miền núi.
“Đặc biệt, Dự án KfW10 này sẽ tập trung hướng đến các tộc người thiểu số phụ thuộc vào rừng ở địa phương, đó là những nhóm mục tiêu tham gia bảo vệ rừng, quản lý rừng bền vững và giám sát tác động," Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh. (VietnamPlus 18/11) đầu trang(
Bình Thuận và Lâm Đồng có vùng giáp ranh khoảng 200km, trải dài trên ranh giới 5 huyện gồm: Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc, Tánh Linh, Đức Linh.
Hầu hết các vùng giáp ranh đều có địa hình đồi núi hiểm trở, chia cắt, trong đó diện tích rừng của Bình Thuận giáp với Lâm Đồng chủ yếu là rừng phòng hộ đầu nguồn, có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và duy trì nguồn nước cho các hồ, đập thủy điện, thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp vùng hạ du và đồng bằng.
Xuất phát từ tầm quan trọng trên, nhiều năm trở lại đây, công tác bảo vệ rừng vùng giáp ranh luôn được lãnh đạo, các ban, ngành và cơ quan chức năng của tỉnh đặc biệt coi trọng. Do đó tài nguyên rừng ở các khu vực giáp ranh còn khá phong phú với đa chủng loại động, thực vật, trong đó có nhiều loại gỗ quý đặc trưng của Đông Trường Sơn và Nam Tây Nguyên.
Tuy nhiên, chính từ sự đa dạng và phong phú cùng với địa hình hiểm trở đã biến những khu vực giáp ranh trở thành lãnh địa mưu sinh của không ít đối tượng phá rừng, săn bắt động vật, ảnh hưởng xấu đến công tác quản lý, bảo vệ rừng, trật tự an toàn xã hội khu vực giáp ranh…
Từ những diễn biến phức tạp của những vụ khai thác trái phép lâm sản trước đây, cùng với những bài học rút ra trong công tác phòng và chống, UBND hai tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng cùng với Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn và các đơn vị, địa phương có liên quan đã ngày một kiện toàn công tác phối hợp quản lý và bảo vệ rừng.
Trong đó phải kể đến việc triển khai thực hiện Quy chế phối hợp 1087/QC – UBND ngày 16/5/2013 giữa hai địa phương về công tác quản lý bảo vệ rừng vùng giáp ranh. Thông qua quy chế, các địa phương và đơn vị liên quan đã tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, nâng cao và gắn trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng cho từng đơn vị và địa phương.
Từ đó đã có nhiều chỉ đạo và biện pháp cụ thể, thiết thực và cương quyết ngăn chặn, xử lý từng bước đẩy lùi tình trạng khai thác chặt phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, tình hình mua bán, vận chuyển gỗ trái phép và chống người thi hành công vụ vùng giáp ranh…
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong 10 tháng năm 2014, các địa phương, cơ quan chức năng và chủ rừng đã tiến hành 318 đợt truy quét, phát hiện 30 vụ với gỗ các loại trên 40m3. So với cùng kỳ năm 2013, số đợt truy quét tăng trên 133%, số vụ phát hiện lập hồ sơ giảm 175 vụ (683%), lượng gỗ thu giữ giảm trên 99m3 (342%), số lượng phương tiện tịch thu cũng giảm đáng kể… Qua số vụ truy quét của chủ rừng (tăng 197%), của Hạt (tăng 69%), cho thấy cấp cơ sở đã chủ động hơn trong công tác truy quét, phòng chống phá rừng…
Nói về công tác phòng, chống phá rừng vùng giáp ranh, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Các cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương có rừng đã thực hiện nghiêm túc nội dung phối hợp, trong đó ngoài tăng cường tuần tra, kiểm soát, cơ quan chức năng cũng kiên quyết trong xử lý vi phạm các loại phương tiện, tụ điểm cất giấu gỗ, cũng như việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng, từ đó góp phần chuyển biến đáng kể tình trạng khai thác gỗ trái phép.
Tuy nhiên đó mới chỉ là kết quả bước đầu, bởi công tác bảo vệ rừng đòi hỏi phải thường xuyên và liên tục, nhất là những khu vực có khả năng tái phát điểm nóng như khu vực rừng giáp ranh.
Do đó, thời gian tới cần tiếp tục duy trì triển khai thực hiện tốt quy chế, trong đó nâng cao tinh thần trách nhiệm của địa phương, cơ quan chức năng và chủ rừng trong công tác phối hợp phòng, chống và bảo vệ; thường xuyên trao đổi và nắm bắt thông tin tận gốc diễn biến tình hình tại các vùng trọng điểm.
BBên cạnh đó cần tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật và chủ trương của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp. Đồng thời giải quyết căn bản tình trạng xâm canh, thiếu đất sản xuất, ngăn chặn nạn di dân tự do, tái lấn chiếm đất lâm nghiệp… (Báo Bình Thuận 18/11) đầu trang(
Xã Hà Sơn nằm về phía Tây nam của huyện Hà Trung, là một xã nằm trong vùng trọng điểm cháy rừng của huyện. Có diện tích rừng và đất lâm nghiệp là 684,35 ha trong đó đất có rừng 525,47 ha (Rừng sản xuất là 194,47 ha, rừng phòng hộ là 331,0 ha), diện tích rừng xác định vùng trọng điểm cháy 256,4 ha.
Đa số diện tích là rừng là Thông thuần loài cấp tuổi IV, V với mật độ dầy, thảm thực bì dưới tán rừng lớn, chủ yếu là cây ràng ràng, lau lách nên rất dễ xảy ra cháy rừng trên phạm vi rộng; tập chung tại Khoảnh 9 – Tiểu khu 464 thuộc địa bàn thôn Tứ Quý và Chí Phúc, diện tích này hiện do UBND xã quản lý.
Thực tế công tác PCCCR những năm qua gặp không ít khó khăn, thách thức do tình hình thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, nắng nóng khô hạn kéo dài, độ ẩm không khí thấp, cộng với đây là khu vực có đền Hàn Sơn, hàng năm du khách thập phương đến dâng hương lễ hội nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao.
Qua thực tế, hầu như các vụ cháy rừng trong những năm trước đây đều rất khó tiếp cận để triển khai các biện pháp chữa cháy, do khối lượng vật liệu cháy lớn, thảm thực bì dày và không có đường để triển khai đội hình chữa cháy do đó khi lực lượng chữa cháy rừng tiếp cận được đám cháy thì đám cháy đã lan ra diện rộng, rất khó khăn cho công tác chữa cháy rừng.
Để chủ động ngăn chặn, giảm thiểu nguy cơ cháy lớn, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng; Chi cục Kiểm lâm Thanh Hoá, UBND huyện Hà Trung đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Hà Trung phối hợp với UBND xã Hà Sơn xây dựng phương án “Xây dựng hệ thống đường băng cản lửa, kết hợp đường tuần tra bảo vệ rừng, PCCCR” trình UBND huyện phê duyệt để tổ chức thực hiện làm đường băng cản lửa trên khu vực rừng thông. Với tổng chiều dài đường băng là 3,7 km, chiều rộng đường băng từ 6-20 m, tổng diện tích đường băng là 7,4 ha.
Qua việc làm đường băng trắng cản lửa tạo ra hệ thống đường băng, đường xương cá chia cắt các khu rừng thông tạo ra các lô rừng độc lập nhằm mục đích khống chế đám cháy lan tràn trên diện rộng khi có cháy rừng xảy ra, tạo ra hệ thống đường thuận tiện cho việc tuần tra, kiểm tra rừng kết hợp với đường di chuyển lực lượng tham gia chữa cháy rừng tiếp cận đám cháy nhanh nhất.
Với mục đích lâu dài còn thuận lợi cho việc giao đất lâm nghiệp lâu dài đến từng hộ gia đình, cá nhân và khai thác nhựa thông góp phần ổn định kinh tế của chủ rừng và nhân dân trong thời gian tới.
Việc làm đường băng cản lửa trên tạo ra điều kiện thuận lợi, ổn định tình hình an ninh rừng trên địa bàn, nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng dân cư đồng thời triển khai thực hiện tốt công tác PCCCR nói riêng và công tác BVR - PTR nói chung trên địa bàn xã Hà Sơn. (Kiểm Lâm Thanh Hóa 17/11) đầu trang(
Thiếu các quy định về phân tích nguy cơ xâm hại, phát hiện sớm và phản ứng nhanh là những “kẽ hở” khiến các loài sinh vật ngoại lai nguy hại xâm nhập vào Việt Nam gây ra những tác động xấu về môi trường cũng như kinh tế.
Năm 2000, chuột hải ly đã được nhập khẩu nuôi thử nghiệm. Tuy nhiên, đây lại là loài có tên trong danh sách 100 loài sinh vật xâm hại nguy hiểm nhất thế giới. Với khả năng sinh sản 3 lứa/năm và mỗi lứa đẻ từ 4-11 con, loài chuột hải ly còn mang các mầm bệnh như lao, lao tủy, lao da... gây bệnh cho người và vật nuôi, ảnh hưởng xấu đến các động vật khác.
Sau một thời gian, các nhà khoa học mới nhận thấy đây là loài sinh vật gây hại và Nhà nước đưa ra chính sách ngăn chặn, tiêu hủy. Tính đến cuối năm 2002, khoảng 4.000 con chuột hải ly đã bị tịch thu và tiêu hủy.
Sau chuột hải ly, chồn nhung đen bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng năm 2011 với lời đồn thổi về chất lượng thịt của loài này khiến người dân ở nhiều địa phương bỏ tiền ra mua về nuôi mong thu lợi cao.
Đến năm 2012, qua công tác quản lý nhằm bảo vệ ngành chăn nuôi, kết quả rà soát cho thấy, có 28 tỉnh, thành phố với gần 300 cơ sở đang nuôi hơn 13.000 con chồn nhung đen. Trái với những lời đồn thổi, đầu ra cho loài động vật này rất hẹp, người nuôi đều bị lỗ và khả năng phát triển không cao. Cục Chăn nuôi đã phải đề nghị các địa phương không phát tán chồn nhung đen, tập trung kiểm soát tốt các cơ sở.
Đầu năm 2014, câu chuyện nuôi gián đất tại Bắc Ninh nổi lên như một phương pháp làm giàu nhanh chóng. Mô hình nuôi gián đất được xác định là du nhập từ Trung Quốc qua cách làm ăn tự phát của người dân với các thương lái Trung Quốc. Gián đất là vật chủ trung gian truyền một số bệnh dịch về đường tiêu hóa và có tốc độ sinh trưởng cao. Sau khi nắm bắt tình hình thực tế, Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo Cục Chăn nuôi có văn bản chính thức cấm nuôi gián đất vì có nhiều nguy cơ rủi ro cho môi trường, xã hội và kinh tế.
Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn – Phó Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học Tổng cục Môi trường cho biết: “Sự tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại đã và đang gây ra những thiệt hại về kinh tế cũng như môi trường. Chính vì vậy, trên thế giới đã có những công ước, quy định để quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại”.
“Ở Việt Nam, chúng ta đã chứng kiến những tổn thất do ốc bươu vàng hay cây mai dương. Việc đưa ra các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu tác động do sinh vật ngoại lai xâm hại là hết sức cần thiết. Thời gian qua, chúng ta đã ban hành các quy định cũng như tổ chức các hoạt động quản lý. Tuy nhiên, chúng ta vẫn đang thiếu những biện pháp quản lý hữu hiệu khiến các loài sinh vật ngoại lai xâm hại vẫn tiếp tục phát tán, ảnh hưởng đến môi trường và đa dạng sinh học”, bà Nhàn đánh giá.
So sánh với kinh nghiệm quốc tế, bà Đặng Thị Kiều Oanh - Cục Bảo tồn đa dạng sinh học cho rằng: “Tại Australia, việc quản lý sinh vật ngoại lai được chia thành 3 giai đoạn. Ở giai đoạn trước khi nhập khẩu, các cơ quan sẽ phân tích rủi ro, nguy cơ với động vật, thực vật, hàng hóa lần đầu được nhập vào Australia để ra quyết định cho phép nhập hay không.
Trong khi đó, tại Việt Nam, chúng ta vẫn thiếu quy định phân tích rủi ro trước khi nhập khẩu. Ngoài ra, quy định đối với giai đoạn trong nước bao gồm phát hiện sớm, phản ứng nhanh, chương trình kiểm soát, diệt trừ... còn mờ nhạt, chưa có hướng dẫn cụ thể. Nhiều đối tượng cần quản lý cũng chưa được đề cập tới”, bà Oanh chia sẻ thêm.
Từ những phân tích trên, các chuyên gia đã kiến nghị xây dựng, hoàn thiện nội dung quản lý sinh vật ngoại lai xâm hại; Xây dựng, hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát, diệt trừ, tăng cường năng lực quản lý từ Trung ương đến địa phương; Thiết lập mạng lưới và xây dựng cơ chế trao đổi thông tin về loài ngoại lai xâm hại trên toàn quốc... (An Ninh Thủ Đô 19/11, tr6) đầu trang(
Hơn 2 tháng trở lại đây, tại tổ dân phố 9 (thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, Lâm Đồng) đã xuất hiện 1 con khỉ hoang hay vào nhà dân quậy phá và xin ăn.
Nhiều người cho rằng, con khỉ do người nào đó nuôi từ nhỏ, nay bị sổng chuồng. Hàng ngày, cứ khoảng 5 giờ sáng là con khỉ đến đùa giỡn với 2 con chó trong xóm; sau đó, đến các nhà để xin thức ăn và phá phách. Đến chiều tối, nó ngủ ngoài vườn cây và khi mưa gió thì leo hiên nhà.
Bà Phạm Thị Nga, người dân tổ dân phố 9, cho biết: “Từ khi con khỉ xuất hiện, nó đã bắt mấy con gà trong chuồng bẻ cổ. Quần áo ai phơi ngoài sào nó đều lôi vùi xuống đất. Có bữa nó còn lấy bình sữa của em bé để trong nhà mà chơi. Mới đây nhất, nó bóp chết con chim chào mào nhà tôi nuôi trong lồng”.
Không chỉ phá vật dụng, ngày đêm con khỉ cũng hay nhảy lên mái nhà gây ồn ào. Bà Nguyễn Thị Nguyệt, một người dân, cho biết: “Sáng sớm nó thường đến đập cửa nhà tôi xin thức ăn. Có nhiều bữa chưa kịp cho, nó vào tiệm tạp hóa của tôi rồi tự tiện lấy bánh ăn”.
Dù người dân trong tổ dân phố đã nhiều lần đặt bẫy nhưng vẫn không bắt được con khỉ hoang. Ngày 14-11, một cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm cho biết, là sẽ có biện pháp bắt con khỉ để thả vào rừng. Hiện tại, nhiều người dân tỏ ra lo lắng không chỉ vì con khỉ quậy phá, mà còn sợ bị đánh bắt, vì trước đó đã có một vài người dùng súng săn để bắn con khỉ này. (Người Lao Động 18/11; Nông Thôn Ngày Nay 18/11, tr5) đầu trang(
Đến trưa 18/11, khoa Nội tổng hợp (Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi tiếp nhận và điều trị cho 12 nạn nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn. Các nạn nhân đều được tiêm huyết thanh kháng nọc kịp thời nên không ảnh hưởng đến tính mạng.
Ông Nguyễn Văn Sơn (60 tuổi, ở thôn Phước Hòa, xã Bình Trị, huyện Bình Sơn), kể: Chiều ngày 7/11, ông đang nhổ cỏ cạnh trụ điện trước nhà thì bị con rắn to bằng ngón tay út, thân có màu xanh chuối non, đuôi màu đỏ cắn, được gia đình đưa vào bệnh viện tỉnh cấp cứu.
“Chắc do tôi nhổ cỏ đụng nó nên mới bị cắn. Tôi đâu lạ gì loại rắn này. Thấy nó mà không đụng vào thì nó đâu có cắn”, ông Sơn nói. Cũng theo ông Sơn, thôn Phước Hòa của ông đã có 3 người bị rắn lục đuôi đỏ cắn khi đang làm vườn, nhổ cỏ, nhưng không ai bị chết như dư luận loan tin.
Giám đốc Sở NN&PTNT Dương Văn Tô khẳng định: “Đây không phải lần đầu tiên Quảng Ngãi có rắn lục đuôi đỏ. Còn vì sao nó lại xuất hiện với số lượng nhiều như hiện nay thì ngành nông nghiệp sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng sớm điều tra, xác minh làm rõ”.
Theo ông Tô, nguyên nhân loại rắn này đột ngột gia tăng có thể vì điều kiện sống thay đổi, mất nơi trú ẩn, thời tiết bất thường hay do những đối tượng buôn bán để sổng… Nhưng dù là nguyên nhân gì thì người dân cũng nên bình tĩnh, không quá hoang mang, bị kẻ xấu lợi dụng ảnh hưởng đến sinh hoạt và sản xuất.
Lãnh đạo khoa Hồi sức tích cực chống độc, Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi, cho rằng: Tình trạng sức khỏe của nạn nhân bị rắn lục đuôi đỏ cắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ, liều lượng độc; cơ địa, mà nhất là thời gian cấp cứu xử lý.
Do đó, không riêng gì rắn lục đuôi đỏ, mà khi bị rắn cắn (nghi ngờ rắn độc), người dân tuyệt đối không được xử lý bằng các biện pháp dân gian mà phải lập tức đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất để điều trị. Tốt nhất là đưa đến bệnh viện tỉnh để được tiêm huyết thanh kháng nọc càng sớm càng tốt, vì để càng lâu, mức độ nguy hiểm càng cao. (Tiền Phong 19/11) đầu trang(
Tại xã Tiên Nguyên, huyện Quang Bình vừa tổ chức diễn ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn năm 2014.
Tham dự buổi diễn tập có ông Phùng Viết Vinh, phó Chủ tịch UBND huyện - trưởng Ban chỉ đạo PCCCR huyện Quang Bình, các thành viên BCĐ huyện, Đảng uỷ - HĐND - UBND xã Tiên Nguyên, xã đội trưởng, trưởng công an các xã, thị trấn trong toàn huyện.
Cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn được chia làm 02 giai đoạn; giai đoạn 1 vận hành cơ chế, Ban chỉ huy PCCCR xã Tiên Nguyên tổ chức hội nghị bất thường nhận định, đánh giá tình hình, xác định nội dung, biện pháp ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn; tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng đảm bảo cho các lực lượng PCCCR.
Giai đoạn 2 thực hành chữa cháy rừng với tình huống giả định là do sự bất cẩn của người dân trong khi làm nương rẫy đã làm cháy rừng tại khu vực thôn Tân Tiến và 1 dân quân bị thương. Với phương châm thực hiện 4 tại chỗ; lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ.
Xã Tiên Nguyên đã huy động trên 100 người là các lực lượng dân quân, công an viên, cán bộ các đoàn thể, giáo viên, trạm y tế xã ... trên địa bàn tham gia chữa cháy và sơ cứu người bị thương. Sau một thời gian triển khai khẩn trương, nhanh chóng và quyết liệt với sự tham gia tích cực của các lực lượng và nhân dân, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn.
Cuộc diễn tập này được thực hiện nhằm tiếp tục quán triệt và nâng cao nhận thức về công tác PCCCR, huy động sức mạnh tổng hợp các lực lượng, ban ngành đoàn thể, tổ chức chính trị ở cơ sở tích cực chủ động trong công tác tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân thực hiện có hiệu quả biện pháp bảo vệ rừng. Cuộc diễn tập còn nhằm nâng cao khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy các lực lượng trong công tác chữa cháy rừng, góp phần bảo vệ tài nguyên rừng.
Kết quả, Ban chỉ đạo PCCCR huyện Quang Bình đánh giá cuộc diễn ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn xã Tiên Nguyên năm 2014 đạt loại giỏi. (Quangbinh.hagiang.gov.vn 17/11) đầu trang(
Hàng trăm người Việt Nam và người nước ngoài sẽ cùng tham gia cuộc thi “Chạy vì động vật hoang dã của Việt Nam” trong khuôn khổ giải chạy Sông Hồng 2014 tổ chức vào ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng 12 tới.
Cuộc thi thường niên lần này dự kiến sẽ thu hút hàng trăm vận động viên tham gia ở tất cả các cự ly. Số tiền gây quỹ được từ cuộc thi sẽ được dành cho các hoạt động bảo vệ động vật hoang dã (ĐVHD) của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) - một trong những tổ chức xã hội đi đầu trong những nỗ lực ngăn chặn nạn săn bắt và buôn bán trái phép ĐVHD tại Việt Nam.
Giải chạy sẽ được tổ chức tại các tuyến phố an toàn và yên tĩnh của khu đô thị Ciputra (Hà Nội), cạnh Hồ Tây vào 8h sáng Chủ nhật, ngày 7/12. Giống như những năm trước, người tham gia có thể chọn các cự ly chạy khác nhau và có cả cự ly dành cho trẻ em.
Sự kiện năm 2013 đã thu hút 357 người tham gia. Mục tiêu của năm nay là thu hút hơn 500 người chạy, đặc biệt là người dân Hà Nội, đồng thời quyên góp 5.000 đô la Mỹ cho hoạt động bảo vệ ĐVHD. (Công An Nhân Dân 19/11) đầu trang(
Trong vai một người có nhu cầu mua sừng tê giác để làm đầu mối làm ăn lâu dài ở Hà Nội, PV đã gọi điện cho một người quen ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (nơi được coi là địa điểm trung chuyển sừng tê giác cho các vùng khác) để tìm hàng.
Việt - đầu mối bán lẻ sừng tê giác, nanh, móng hổ, ngà voi có tiếng ở Hương Sơn cho biết, hiện tại trong nhà Việt không có nhưng đi lấy thì lúc nào cũng có. Qua điện thoại Việt hỏi lấy bao nhiêu, chỗ người quen cứ yên tâm. Cần thì chụp ảnh gửi xem trước. Việt cũng cho biết hiện sừng tê giác ở Hương Sơn bán khoảng 900 triệu đến 1 tỷ đồng/kg. Nếu mang ra Hà Nội bán phải được trên 1,2 tỷ đồng/kg.
PV đề nghị Việt đến “tổng đại lý” chụp cho ít mẫu gửi ra cho mối ngoài này xem. Họ đồng ý thì sẽ về xem và có thể lấy mang ra Hà Nội luôn. Chưa đầy 30 phút sau, Việt đã gửi gần chục ảnh chụp sừng tê giác, đủ loại to nhỏ.
Sau mấy ngày hẹn, PV về Hương Sơn. Gặp Việt, PV gần như không nhận ra người quen nữa. Việt đánh con “Mẹc” đời mới sáng loáng, ăn mặc bảnh bao như đại gia. Thấy PV ngỡ ngàng, Việt giải thích luôn: “Làm về sừng tê lúc nào cũng phải ăn mặc như thế này mới tạo niềm tin với đối tác”.
Trên đường đến “tổng đại lý”, Việt tâm sự, làm nghề này siêu lợi nhận. Trong vòng một năm, Việt đã mua được nhà, tậu được xe, còn gửi ngân hàng 1,5 tỷ đồng. “Trước đây làm giáo viên hợp đồng, lương bèo. Có người nhà bên vợ buôn bán hàng quý hiếm mình mới mon men xin đi theo. May được anh em đi trước truyền nghề lại nên cũng thấm dần” – Việt chia sẻ.
Đi khoảng 20km, Việt đỗ xe trước một ngôi nhà khang trang, nhà bà chủ đại lý – một đại gia có tiếng ở vùng. Việt căn dặn PV là phải nói bạn thân của Việt từ Hà Nội về bắt mối sừng tê để bán cho dân chơi.
Nữ đại gia H sau màn chào hỏi xã giao, còn tỏ vẻ ngần ngại vì khách lạ. Nhờ tài thuyết phúc của Việt nên bà H dần thân thiện hơn. Bà bảo: “Chỗ quen biết của cậu Việt, hàng lúc nào cần cũng có. Hiện tại trong kho còn không nhiều lắm. Hàng xịn từ châu Phi về nên các em khỏi lo. Nếu phát hiện hàng dởm chị sẽ trả lại tiền và chịu phạt gấp đôi”.
Để tạo niềm tin, bà H dẫn PV sang kho nằm ngay cạnh nhà. PV không khỏi sững sờ khi thấy rất nhiều ngà voi chất ở góc kho, được phủ bởi một chiếc bạt . Bà H vào lấy ra một túi đựng khoảng chục chiếc sừng tê giác đã được cắt làm đôi. Theo bà H, sừng tê giác này được chuyển từ châu Phi về qua sân bay ở Bangkok (Thái Lan) rồi chuyển theo đường bộ về Việt Nam.
Trong khi PV tham khảo thông tin thì Việt lựa 4 cái sừng tê, tổng cộng hơn 5,8kg. Cậu lấy cả 4 cái nhưng không phải thanh toán luôn. “Chỗ chị em làm ăn lâu rồi, lấy hàng bán xong thì trả cho chị ấy cũng được, chứ tiền đâu ra mà trả luôn”, Việt bảo.
Trên đường về, Việt còn chỉ cho PV, nếu bán lẻ sừng tê giác thì lãi hơn nhưng lại phải cắt nhỏ ra bán theo lạng và lắt nhắt. Tốt nhất là bán cả cái, thu tiền về nhanh hơn... (Người Đưa Tin 18/11, tr7) đầu trang(
Bước vào mùa khô năm nay, để hạn chế thấp nhất cháy rừng xảy ra, huyện Chợ Mới đã phối hợp với các đơn vị, địa phương trên địa bàn và các chủ rừng tích cực triển khai thực hiện phương án phòng chống cháy rừng.
Huyện Chợ Mới hiện có trên 54.300ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, trong đó rừng trồng có trên 10.000ha, còn lại chủ yếu là rừng tự nhiên phân bố đồng đều tại 16 xã, thị trấn. Trong mùa khô, người dân các địa phương thường tiến hành xử lý thực bì cho vụ trồng rừng mới nên nguy cơ cháy rừng cao. Để thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng (BVR) và PCCCR huyện đã chủ động triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm.
Hiện tại, huyện đã thành lập, kiện toàn và củng cố lại 18 ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong BVR&PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho các thành viên; củng cố lại 167 tổ, đội PCCCR tại chỗ ở các thôn bản, tổ phố; phân công lực lượng PCCCR từ cấp huyện đến cấp xã, phân công trực 24/24h trong những tháng mùa khô nhằm nhanh chóng tiếp nhận thông tin và ứng phó kịp thời khi xảy cháy. Huyện cũng hợp đồng với 10 xã trọng điểm có nguy cơ cháy cao trong mùa khô để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, đảm bảo hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra.
Nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trong công tác PCCCR góp phần phát triển kinh tế - xã hội, huyện đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong cộng đồng dân cư, các cơ quan, trường học trên địa bàn. Huyện đã tổ chức ký cam kết không vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng với các hộ dân sinh sống gần khu vực rừng.
Để ứng phó nhanh với diễn biến tình hình phức tạp có thể xảy ra, huyện đã tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa 3 lực lượng là kiểm lâm, công an, quân đội trong công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR; phân công cán bộ thường xuyên kiểm tra, theo dõi, giám sát các hoạt động có liên quan đến công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại cơ sở.
Khi có cháy rừng xảy ra, các đơn vị chuẩn bị các điều kiện PCCCR, thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ: Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ. Huyện cũng chỉ đạo các Ban Chỉ huy PCCCR các cấp tăng cường kiểm tra, đôn đốc các địa phương, chủ rừng thực hiện tốt phương án bảo vệ rừng trên diện tích được giao; nghiêm túc thực hiện đúng quy trình xử lý thực bì.
Ông Phạm Minh Tuyến - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Mới cho biết: Những năm qua, người dân trên địa bàn đã nâng cao ý thức trong việc phòng chống cháy rừng, nhất là từ khi thực hiện chương trình giao đất, giao rừng ở địa phương. Đây là điều kiện để phát triển nghề rừng ở Chợ Mới góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Với nhiều nỗ lực trong công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, độ che phủ rừng của huyện Chợ Mới đã đạt trên 70%. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện không xảy ra cháy rừng. Thời điểm này, cùng với huyện Chợ Mới, các địa phương trên địa bàn tỉnh đều có sự chuẩn bị tốt cho công tác phòng chống cháy rừng, sẵn sàng ứng phó với các tình huống nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng có thể xảy ra. (Backan.gov.vn 18/11) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch kiểm tra công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đợt 2-2014, từ ngày 31/10-19 /11, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp cùng Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Kon Tum kiểm tra công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng đợt 2-2014 trên địa bàn các huyện Đắk Hà, Kon Rẫy, Konplông, Sa Thầy và thành phố Kon Tum.
Nội dung kiểm tập trung vào các vấn đề về kết quả triển khai thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, chỉ thị, kế hoạch của UBND tỉnh Kon Tum về công tác bảo vệ rừng và PCCC rừng; công tác phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan trong công tác kiểm tra, tuần tra, truy quét các điểm nóng; khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy trái pháp luật; mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với quy định của Nhà nước; tình hình vi phạm và xử lý vi phạm; công tác quản lý sản xuất nương rẫy, chống xâm canh; công tác tuyên truyền và hoạt động của các Trạm, Chốt liên ngành.
Đối với công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tập trung kiểm tra công tác chỉ đạo, điều hành (củng cố, kiện toàn, quy chế hoạt động của Ban chỉ huy, ban hành các văn bản chỉ đạo), thực tế công cụ, máy móc, phương tiện PCCC rừng; việc thực hiện chế độ theo dõi, thống kê, báo cáo tình hình cháy rừng; công tác tuyên truyền PCCC rừng; xây dựng và tổ chức triển khai thực tập phương án PCCC rừng mùa khô 2014-2015 ở cơ sở.
Qua công tác kiểm tra, Đoàn kiểm tra phát hiện ra nhiều thiếu sót sơ hở của cấp cơ sở, chủ rừng; kịp thời kiến nghị, chỉ đạo cơ sở và chủ rừng thực hiện tốt công tác an toàn PCCC rừng mùa khô năm 2014-2015. (Công An Kon Tum 18/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nghề nuôi và khai thác nghêu ở các bãi bồi ven biển là nguồn sinh kế quan trọng đối với cộng đồng dân cư ven biển ở nước ta. Trong những năm gần đây, có nhiều hợp tác xã nuôi nghêu được hình thành, biến nguồn sinh kế này trở thành một ngành sản xuất kinh doanh đem lại lợi nhuận.
Nhằm đánh giá các minh chứng khoa học về mối quan hệ giữa rừng ngập mặn và nguồn lợi nghêu, ngày 18-11, Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) thông qua sáng kiến rừng ngập mặn cho tương lai (MFF) phối hợp với Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB) tổ chức hội thảo về mối liên hệ giữa rừng ngập mặn và nguồn lợi nghêu.
Có thể nói, rừng ngập mặn đã hỗ trợ quan trọng cho nghề khai thác nghêu. Do vậy, việc chăm sóc, trồng, bảo vệ rừng ngập mặn được xem là giải pháp quan trọng bậc nhất để bảo tồn và phát triển nguồn lợi nghêu, giúp người dân duy trì sinh kế bền vững.
PGS.TS Hoàng Nghĩa Sơn, Viện trưởng ITB cho biết, theo nghiên cứu của ITB, năng suất nghêu nuôi không chỉ phụ thuộc vào cao trình bãi và tỷ lệ cát mà còn phụ thuộc vào hàm lượng chất dinh dưỡng tại bãi. Tất cả các yếu tố này được cung cấp bởi rừng ngập mặn thông qua 3 chức năng: tham gia vào việc phân phối dòng chảy, lòng dẫn và dòng chảy tràn, giảm thiểu sự bào mòn, xói lỡ bãi triều; chuyển hóa vật chất hữu cơ thành thức ăn cho nghêu sò; giảm thiểu ô nhiễm hữu cơ từ sinh hoạt nuôi trồng thủy sản và sản xuất nông nghiệp.
Bàn về giữa bên hưởng lợi và bên cung cấp dịch vụ, các đại biểu tại hội thảo cho rằng, cần có sự bù đắp thông qua một cơ chế kinh tế nhằm tạo ngân sách trong việc đầu tư, phục hồi và duy trì bền vững các giá trị sinh thái rừng ngập mặn và đó chính là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, để cơ chế này được hoạt động hiệu quả, cần có các nghiên cứu làm rõ mối quan hệ, cũng như tính toán cụ thể, các lợi ích, chức năng của rừng đối với nguồn lợi nghêu.
TS. Andrew Waytt, Giám đốc phụ trách Chương trình Đồng bằng sông Mê Kông (IUCN) Việt Nam, nhận định: “Trong quá trình xây dựng chính sách và thực hiện chi trả dịch vụ môi trường từ rừng ngập mặn, cộng đồng khai thác nguồn lợi nghêu là một trong những đối tượng tiềm năng được áp dụng phí dịch vụ môi trường này. Tuy nhiên, một số hộ nuôi nghêu đã bày tỏ quan điểm cho rằng họ thấy rất ít hoặc không thấy được lợi ích từ rừng ngập mặn. Do đó, việc tổ chức hội thảo này sẽ góp phần giúp các nhà khoa học và những người nghêu ngồi lại với nhau thảo luận những bằng chứng khoa học về mối liên hệ giữa nuôi nghêu và rừng ngập mặn, từ đó hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách PFES”. (Kinh Tế Nông Thôn 18/11) đầu trang(
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển và bảo vệ rừng là góp phần tích cực cho công cuộc giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều giải pháp và đã mang lại nhiều kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là việc tiếp nhận và nhân rộng sáng kiến REDD+.
Là một trong các quốc gia thực hiện thí điểm Chương trình UN-REDD ngay từ thời điểm ban đầu, Việt Nam đã đi đầu trong việc thực hiện sáng kiến REDD+ (là thực hiện ý tưởng các nước đang phát triển giảm tỷ lệ mất rừng và suy thoái rừng (so với một giai đoạn tham khảo) để nhận được thù lao về mặt tài chính từ phía các nước phát triển).
Đảm bảo sự tham gia tích cực của các bên liên quan nhằm tiến hành các hoạt động như giám sát rừng, đảm bảo sự chấp thuận tự nguyện của người dân địa phương và các cộng đồng sống dựa vào rừng khác trên cơ sở được cung cấp thông tin, kiến thức.
Từ những thành công đạt được của giai đoạn I trong nỗ lực thích nghi với BĐKH toàn cầu, Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN–REDD được chuyển sang giai đoạn II với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD.
Bên cạnh đó, Dự án “Hỗ trợ chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+ ở Việt Nam” do Quỹ Đối tác các-bon trong lâm nghiệp (FCPF) do Ngân hàng Thế giới tài trợ đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt ngày 10/1/2013. Dự án nhằm mục tiêu: Hỗ trợ nâng cao năng lực tổ chức và kỹ thuật của Ban Chỉ đạo, Văn phòng REDD+ Việt Nam, một số các cơ quan có liên quan ở trung ương và ở 3 tỉnh thí điểm nhằm chuẩn bị sẵn sàng thực hiện REDD+, góp phần thực hiện thành công Chương trình hành động quốc gia về REDD+. Dự án sẽ được thực hiện từ 2013 - 2015 với tổng vốn đầu tư là 3,8 triệu đô la Mỹ.
Thạc sĩ Lê Trọng Hải (Viện Chiến lược và Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn) cho rằng hai dự án REDD+ quan trọng này cùng với các dự án thực hiện REDD+ ở Việt Nam do các tổ chức khác thực hiện trên phạm vi cả nước đang hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tổ chức, điều phối thực hiện REDD+ trên phạm vi toàn quốc, hoàn thiện Hệ thống theo dõi diễn biến rừng toàn quốc để theo dõi và báo cáo các hoạt động REDD+; xây dựng đường phát thải cơ sở toàn quốc (REL/FRL); nghiên cứu tính toán trữ lượng cac-bon tại các bể chứa và biến động; lồng ghép, phối hợp với các chương trình, dự án hiện có triển khai các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng một cách tập trung trên các địa bàn trọng điểm để có thể giảm được lượng phát thải khí nhà kính lớn và rút kinh nghiệm nhân rộng ra các địa phương khác.
Theo Văn phòng quốc gia về biến đổi khí hậu (BĐKH) và bảo vệ tầng ô zôn, thay đổi về rừng và sinh khối khác có thể giảm được 39,27 triệu tấn CO2, chuyển đổi rừng và đồng cỏ sẽ gây phát thải 56,72 triệu tấn CO2. Theo dự báo phát thải khí nhà kính đến năm 2030 thì phát thải khí nhà kính ngành lâm nghiệp được kỳ vọng sẽ tăng dần lượng hấp thụ cácbon và lên đến khoảng 32,10 triệu tấn vào năm 2030. Lượng hấp thụ này sẽ đóng góp vào việc giảm tổng phát thải của Việt Nam và là nguồn tiềm năng để tham gia Cơ chế Phát triển sạch, qua đó nhận được tín dụng từ các quốc gia phát triển.
Việc đánh giá khả năng lưu trữ khí nhà kính của rừng và đất rừng hiện nay chưa được kiểm kê trữ lượng các bon, xây dựng đường phát thải cơ sở cho cả nước. Tuy vậy, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tính toán lượng hấp thụ CO2 của các loại rừng, theo từng độ tuổi. Những nghiên cứu ban đầu về lĩnh vực này có ý nghĩa rất quan trọng, làm nền tảng thiết lập thị trường giao dịch các-bon trong nước và REDD+ là một chương trình đáp ứng vấn đề còn “để ngỏ“ này.
Chính vì vậy, trong đề án “Giảm phát thải khí nhà kính trong nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và Quyết định Số: 543/QĐ-BNN-KHCN, Ban hành kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011 - 2015 và tầm nhìn 2050 đề ra các giải pháp để tăng khả năng hấp thụ carbon và giảm phát thải KNK trong lâm nghiệp, các hoạt động chính cần thực hiện gồm: Đẩy mạnh trồng rừng, phục hồi rừng, xúc tiến tái sinh và làm giàu rừng trên các vùng đất quy hoạch cho lâm nghiệp theo chiến lược phát triển lâm nghiệp cho giai đoạn 2010 - 2020.
Với quy mô 2,6 triệu ha rừng trồng tại các vùng đất lâm nghiệp trên phạm vi cả nước, có khả năng hấp thụ 702 triệu tấn CO2. Bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững đất rừng để tănglượng hấp thụ carbon và loại bỏ phát thải KNK: Với quy mô 13,8 triệu ha trên các vùng đất lâm nghiệp trên phạm vi cả nước có tiềm năng giảm phát thải, hấp thụ 669 triệu tấn CO2.
Đồng thời Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng và đang trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế về một số chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển. Mục tiêu của chính sách là: Giảm nhẹ thiên tai, hạn chế tác hại của gió bão, sóng biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống xói lở bờ biển; chắn cát bay, chống sa mạc hóa, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ven biển. (Tài Nguyên & Môi Trường 18/11, tr8) đầu trang(
Mặc dù chỉ được cấp phép trồng rừng, nhưng “chủ đầu tư” là Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết đã tự vẽ ra một “siêu dự án” được quảng cáo là sang trọng, nhiều tiện ích mang tên Casablanca Villas Đại Lải. Từ đây, “chủ đầu tư” đã đứng ra kêu gọi, huy động góp vốn với số tiền lên tới hàng tỉ đồng.
Trong thời gian qua, các trang mạng BĐS liên tiếp đăng tải lời mời chào, rao bán, thậm chí bán trả góp cho tất cả những ai có nhu cầu mua đất với giá dao động chỉ 5 triệu đồng/m2 tại hồ Thanh Niên, thôn Thanh Cao II, xã Ngọc Thanh (Phúc Yên, Vĩnh Phúc) trong quần thể “Dự án khu biệt thự nghỉ dưỡng 4 sao Casablanca Villas Đại Lải”.
Ngay như trang web của Công ty CP Công nghiệp Việt Nam liên kết được giới thiệu là “chủ đầu tư dự án” cũng dành không ít mỹ từ để nói về Casablanca Villas Đại Lải: “Quần thể khu nghỉ dưỡng – biệt thự sinh thái Casablanca Villas mang đầy đủ yếu tố thân thiện và văn minh, gắn kết hài hòa với thiên nhiên... bạn còn được hưởng tiện nghi hàng đầu thế giới với những dịch vụ hoàn hảo như: bãi đỗ xe, bể bơi, quầy bar, khu vui chơi ngoài trời, sân chơi trẻ em, bến thuyền, nơi câu cá, khu thể thao đa năng, sân golf mini cao cấp”.
Nhưng thực tế, đây chỉ là một quả đồi với cây bụi mọc lên khắp nơi. Người dân địa phương cho biết, khu đất này thường diễn ra hoạt động san lấp trái phép vào buổi tối. UBND xã Ngọc Thành đã từng lập biên bản vi phạm về hành vi này.
Được biết, toàn bộ diện tích hơn 3,7 ha mà Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết gọi là dự án Casablanca Villas là diện tích đất rừng. Hạt kiểm lâm Thị xã Phúc Yên giao cho ông Lê Văn Hữu (xã Ngọc Thanh) quản lý. Sau đó, ông Hữu đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết.
Đến ngày 28/7/2010, UBND thị xã Phúc Yên cấp Giấy CNQSD số BC231306 cho ông Nguyễn Tuấn Anh với diện tích là 3,7 ha, thuộc đất lâm nghiệp với mục đích là trồng rừng và không được chuyển đổi mục đích sử dụng khi chưa có sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền, cho đến nay toàn bộ diện tích trên vẫn là đất lâm nghiệp.
Thế nhưng, bằng nhiều hình thức khác nhau Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết đã quảng bá tới công chúng rằng Công ty là chủ đầu tư và đang tiến hành xây dựng biệt thự nghỉ dưỡng theo tiêu chuẩn 4 sao với cái tên “Dự án Casablanca Villas Đại Lải”. Đồng thời, ra lời kêu gọi các nhà đầu tư cùng bắt tay góp vốn hợp tác nhằm xây dựng dự án biệt thự nghỉ dưỡng.
Qua tìm hiểu, đến nay, đã có khoảng trên 20 người ký hợp đồng mua bán đất được ký dưới dạng “hợp đồng góp vốn” với Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết. Mỗi hợp đồng góp vốn có giá trị từ 1 đến 2 tỷ đồng.
Sau nhiều năm chờ đợi một “siêu dự án” Casablanca Villas Đại Lải nhưng không thấy triển khai, nhiều khách hàng góp vốn đã vào cuộc tìm hiểu về tính pháp lý của dự án thì mới “tá hoả” khi biết dự án này chỉ là một dự án “ma” do Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết “vẽ” ra để lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản.
Theo như đơn tố cáo gửi các cơ quan chức năng và báo chí của ông Nguyễn Văn Hoàng, trú tại phố Trần Đăng Ninh, Cầu Giấy, Hà Nội, là người đại diện theo uỷ quyền hợp pháp của bà Nguyễn Thị Hằng, trú tại phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai.
Theo nội dung đơn tố cáo, năm 2011, bà Nguyễn Thị Hằng được ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghệp Việt Nam Liên Kết giới thiệu là đang triển khai dự án Casablanca Villas Đại Lải có diện tích 3,7ha nhằm xây dựng dự án quần thể biệt thự sinh thái phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng cao cấp tiêu chuẩn 4 sao tại thôn Thanh Cao, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Sau đó, ông Tuấn Anh đã đề nghị bà Hằng ký hợp đồng góp vốn số 29/ĐL-VNL ngày 28/5/2011 để được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 01 lô đất tại dự án.
Sau khi ký hợp đồng góp vốn, bà Hằng đã nộp số tiền tổng cộng cho Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết số tiền gần 1,3 tỉ đồng. Khi chuyển toàn bộ số tiền nói trên, bà Hằng đã nhiều lần yêu cầu phía Công ty cung cấp những hồ sơ tài liệu liên quan đến việc thực hiện dự án cũng như tiến độ thực hiện. Tuy nhiên, lãnh đạo Công ty này đã không có một bất kỳ phản hồi nào.
Thấy những biểu hiện bất thường và có dấu hiệu lừa đảo, bà Hằng đã uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Hoàng làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của ông Nguyễn Tuấn Anh, Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghiệp Việt Nam Liên Kết lên Công an Thành phố Hà Nội và Công an quận Cầu Giấy.
Liên quan đến vụ việc này, trao đổi với PV báo Kinh doanh & Pháp luật, Đại uý Nguyễn Phi Hùng, Phó Đội trưởng Đội CSĐTTP về TTQLKT&CV Công an quận Cầu Giấy cho biết, sau khi nhận được đơn tố cáo của ông Nguyễn Văn Hoàng, ngày 21/10, công an quận đã tiến hành điều tra xác minh. “Đây là một vụ việc phức tạp, cơ quan công an đang tiền hành thu thập các tài liệu liên quan, khi nào có kết luận sẽ thông tin lại cho quý báo”, Đại uý Hùng khẳng định.
Ông Phó Ngọc Long, Chủ tịch UBND xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc: “Công ty CP Công nghiệp Việt Nam liên kết chỉ có giấy phép cải tạo trồng rừng, trong khi theo quy định không được phép cải tạo quá 30% diện tích đất rừng để làm mô hình nông lâm ngư nghiệp kết hợp. Vị trí đất đó, hoàn toàn không phải đất dự án như đơn vị này quảng cáo”. (Kinh Doanh & Pháp Luật 18/11) đầu trang(
Sau hơn 3 năm hoạt động, bộ máy Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Yên Bái đã đi vào ổn định, từng bước đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Công tác chi trả phí dịch vụ môi trường rừng thực hiện kịp thời bảo đảm chi trả đủ, đúng đối tượng.
Năm 2013, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng đã tiếp tục rà soát và bổ sung thêm 1 doanh nghiệp có sử dụng dịch vụ môi trường rừng, đưa tổng số doanh nghiệp sử dụng dịch vụ môi trường rừng lên 10 doanh nghiệp, gồm: 2 công ty kinh doanh nước sinh hoạt, 8 công ty sản xuất thủy điện.
Để làm tốt công tác chi trả đúng đối tượng, đủ số người trong diện được hưởng lợi, công tác điều tra, thống kê cũng đã được Quỹ quan tâm thực hiện. Đến nay, đã cơ bản ổn định với tổng diện tích rừng thuộc lưu vực có cung ứng dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh là 213.113ha với 22 chủ rừng là tổ chức, 8 chủ rừng là các hạt kiểm lâm được UBND các huyện giao trách nhiệm quản lý tổ chức giao khoán bảo vệ rừng và trên 20 nghìn hộ gia đình, cá nhân.
Trên cơ sở đó, hàng năm, Quỹ đều có hướng dẫn các chủ rừng, UBND các huyện rà soát, xây dựng hồ sơ, kế hoạch chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng theo quy định, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ thực hiện. Công tác đào tạo nâng cao nghiệp vụ đã được quan tâm với nhiều lớp tập huấn hướng dẫn trình tự lập hồ sơ kế hoạch chi trả, nghiệm thu thanh toán cho các chủ rừng, ban chi trả tiền dịch vụ cấp huyện.
Nhằm triển khai sâu rộng tới các tổ chức, doanh nghiệp và mọi tầng lớp nhân dân hiểu và nắm rõ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quỹ đã phối hợp với các cơ quan tuyên truyền trên địa bàn tỉnh xây dựng các chương trình, nội dung tuyên truyền, tổ chức gần 300 hội nghị tuyên truyền tại các thôn, bản cho trên 17 nghìn lượt người tham dự.
Ngoài ra còn tuyên truyền bằng tờ rơi, áp phích, biển báo với 20.000 quyển tài liệu tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Tuy nhiên, đây là một chính sách còn rất mới, Yên Bái là địa phương thứ hai thực hiện nên còn nhiều khó khăn.
Ông Kiều Tư Giang - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết: “Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011. Tuy nhiên, do năm 2011, 2012, Cục Điều tiết điện lực thuộc Bộ Công thương chưa quy định giá bán điện của các nhà máy bao gồm phí dịch vụ môi trường rừng, các đơn vị sản xuất thủy điện nội tỉnh chưa xác định được nguồn kinh phí phải trả cho phí dịch vụ môi trường rừng nên các đơn vị chưa nộp. Năm 2013 trở đi, Cục Điều tiết điện lực đã tính phí dịch vụ môi trường rừng vào giá bán điện nên đã có một số doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc”.
Một khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách là đơn giá chi trả cho chủ rừng theo từng lưu vực không đồng đều, có khu vực rất cao như lưu vực sông Đà 322.102 đồng/ha, trong khi đó lưu vực sông Hồng chỉ 28.612 đồng/ha và lưu vực sông Chảy 34.234 đồng/ha, đặc biệt có sự chênh lệch đơn giá ngay trên cùng một huyện gây khó khăn cho công tác thực hiện chi trả đối với các chủ rừng.
Chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã tạo bước phát triển tốt, tăng thu nhập cho người dân làm nghề rừng, đặc biệt ở các vùng nông thôn, các vùng dân tộc thiểu số, khó khăn, góp phần ổn định dân cư, xóa đói giảm nghèo. Đơn giá nhận khoán bảo vệ rừng phòng hộ thuộc lưu vực sông Đà đã tăng từ 200.000 đồng/ha năm 2012 lên 437.200 đồng/ha năm 2013.
Từ kết quả đó cho thấy, cùng với các nguồn thu nhập khác từ rừng, tiền phí dịch vụ môi trường rừng đã đóng góp một phần trong tổng thu nhập của người dân, từng bước nâng cao ý thức người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Báo Yên Bái 18/11) đầu trang(
Từ khi thực hiện Chính sách chi trả Dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho các đơn vị, cộng đồng, nhóm hộ và hộ cá nhân tham gia quản lý, bảo vệ rừng thuộc các lưu vực có cung cấp nguồn nước cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh liên quan đến vốn.
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT), diện tích rừng ở Dak Lak hiện nay khoảng 633.000 ha, trong đó diện tích rừng có cung ứng DVMTR trong lưu vực các nhà máy thủy điện là 233.757 ha, chiếm tỷ lệ 37%. Với diện tích này, từ năm 2011 đến nay, bình quân mỗi năm phía doanh nghiệp có sử dụng DVMTR phải chi trả cho Dak Lak khoảng 41- 47 tỷ đồng. Theo đó, hằng năm Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã chi cho chủ rừng từ 30-40 tỷ đồng. Đây là nguồn lực đáng kể giúp các chủ rừng thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng của mình.
Ama H’Len (xã Cư Pui-huyện Krông Bông) cho biết, gia đình ông nhận khoán quản lý, bảo vệ 20 ha rừng với Vườn quốc gia Cư Yang Sin. Ngoài số tiền được hưởng theo Quyết định 187 của Thủ tướng Chính phủ từ trước, nay còn được Quỹ bảo vệ và phát triển rừng chi trả thêm DVMTR bình quân 150.000 đồng/ha/năm.
Tính hai khoản cộng lại, gia đình Ama H’Len có mức thu nhập từ nghề rừng 7-8 triệu đồng/năm. Số tiền tuy không lớn, nhưng đó là sự quan tâm, khích lệ kịp thời và có ý nghĩa của Đảng, Nhà nước về chủ trương xã hội hóa nghề rừng trong bối cảnh hiện nay - đó cũng là nguồn tài chính đáng kể giúp các hộ gia đình ở đây gắn bó và có trách nhiệm hơn với diện tích rừng được giao khoán quản lý, bảo vệ.
Giám đốc Vườn quốc gia Cư Yang Sin-Tống Ngọc Chung đánh giá: Trong 4 năm qua (2011-2014), tại các lâm phần có triển khai chính sách chi trả DVMTR, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và khai thác lâm sản trái phép đã giảm hẳn. Theo đó môi trường rừng từng bước được cải thiện, làm tăng khả năng phòng hộ, điều tiết nước của rừng trên địa bàn.
Mặt khác, từ kết quả thực hiện Chính sách chi trả DVMTR không những từng bước nâng cao ý thức, trách nhiệm của chủ rừng, tăng số hộ nhận khoán bảo vệ rừng… mà còn huy động được nguồn lực lớn cho công tác tuần tra, bảo vệ rừng một cách thường xuyên.
Theo ông Chung, đến nay số hộ nhận khoán bảo vệ rừng Cư Yang Sin đã tăng dần qua các năm, nếu như năm 2013 là 1.190 hộ thì đến năm 2014 con số này là 1.438 hộ. Lượt người tuần tra rừng cũng tăng đáng kể, từ 950 lượt trước năm 2013 lên hơn 10.640 lượt/ 10 tháng của năm 2014. Nhờ tăng cường công tác tuần tra nên số vụ vi phạm lâm luật xảy ra trên lâm phần của các hộ nhận khoán bảo vệ rừng đã giảm rất nhiều (52 vụ của năm 2013 đến nay chỉ còn 10 vụ).
Cũng nhờ nhận được khoản chi trả DVMTR mà trong năm 2013 và những tháng đầu năm 2014, Vườn quốc gia Cư Yang Sin đã phối kết hợp với các cơ quan, đơn vị trên địa bàn như: Công an, Hạt kiểm lâm, Quân sự huyện Krông Bông… tổ chức được 114 đợt tuần tra, truy quét dài ngày (4-5 ngày) để đuổi gần 970 đối tượng có hành vi xâm hại rừng ra khỏi rừng, phá hủy 18 lán trại dựng trái phép trong các lâm phần, tạm giữ nhiều phương tiện, công cụ vi phạm, đồng thời ngăn chặn kịp thời nhiều vụ vi phạm khác trên địa bàn.
Tương tự, các đơn vị có triển khai Chính sách chi trả DVMTR khác như Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, Lak, Ea H’leo… đều có bước cải thiện đáng kể trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nổi lên như huyện Krông Bông, đây là một trong những “điểm nóng” về tình trạng chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép từng diễn ra nhiều năm qua, nhưng đến nay từng bước được kiềm chế nhờ chính sách trên.
Báo cáo của Công ty Lâm nghiệp Krông Bông cho thấy: số vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trước năm 2011 luôn ở con số hàng chục, đến năm 2012 giảm còn 9 vụ với khối lượng gỗ vi phạm gần 38 m3 và năm 2013 chỉ còn 2 vụ với khối lượng gỗ tịch thu chưa đầy 1m3.
Bên cạnh đó, số vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy ở đây cũng được ngăn chặn, kiểm soát chặt chẽ. Những năm trước, khi chưa thực hiện Chính sách chi trả DVMTR, tình trạng này diễn ra tràn lan, có thời điểm lên tới cả trăm vụ, đến năm 2013 chỉ còn 64 vụ với diện tích rừng và đất rừng bị xâm hại khoảng 24 ha. Công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng được các chủ rừng siết chặt và quan tâm hơn.
Theo ông Kiều Thanh Hà-Phó Chi cục Lâm nghiệp, kiêm Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Dak Lak, đến nay có 22 chủ rừng (là các Công ty Lâm nghiệp và các tổ chức không thuộc Nhà nước), 33 cộng đồng và 6 xã được chi trả DVMTR, với diện tích rừng được nghiệm thu hơn 222.185 ha.
Trong đó diện tích rừng được giao khoán cho người dân trong vùng bảo vệ và nhận mức thụ hưởng từ DVMTR (bình quân 150.000 đồng/ha) gần 100.595 ha với 5.190 hộ nhận khoán.
Hầu hết các chủ rừng trên địa bàn tỉnh được thụ hưởng chính sách này đã có thêm điều kiện để gia tăng công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, nhất là khi ngân sách Nhà nước phục vụ cho nhiệm vụ quan trọng này còn hạn chế, chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế… thì đây chính là “chìa khóa” mở ra hướng đi khả quan cho việc gìn giữ, bảo vệ và phát huy vốn tài nguyên rừng hiện nay. (Báo Đắc Lắc 18/11) đầu trang(
Trong khuôn khổ hoạt động NSO-5, Dự án Hỗ trợ thương mại và đầu tư của châu Âu (EU - MUTRAP) hỗ trợ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện báo cáo nghiên cứu về ngành gỗ Việt Nam.
Báo cáo là tài liệu hữu ích cho các doanh nghiệp ngành gỗ, các nhà hoạch định chính sách và các cán bộ đàm phán hiệp định thương mại quốc tế, đặc biệt là đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU.
Tại hội thảo "Ngành gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU", bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO (VCCI), chuyên gia dự án Mutrap cho biết: Là một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng ấn tượng, với các sản phẩm chế biến nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao nhất liên tiếp trong nhiều năm trở lại đây, ngành chế biến gỗ đang nhận được sự quan tâm của Chính phủ trong các chính sách, cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất, thương mại.
Với 180 - 200 triệu USD/năm, xuất khẩu gỗ đang đứng thứ 5 trong 10 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và trở thành nước đứng thứ 2 Châu Á, đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu đồ gỗ. Với quy mô thị trường lên tới 100 tỷ USD/năm và 17 tỷ USD năm 2017đối với ngành hàng đồ gỗ chế biến và lâm sản ngoài gỗ, trong khi Việt Nam mới chỉ đạt 2-3% kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ thế giới, Việt Nam có rất nhiều triển vọng. Bên cạnh 100 quốc gia và vùng lãnh thổ mà đồ gỗ Việt Nam đã hiện diện, thị trường nội địa với quy mô 90 triệu dân đang được nhiều nhà sản xuất đồ gỗ quan tâm trở lại.
Tính đến tháng 7/2014, cả nước có 3.500 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành chế biến gỗ, 340 làng nghề và hàng vạn cơ sở chế biến gỗ. Tuy nhiên, xét theo cả quy mô lao động và đầu tư, đa phần các doanh nghiệp này đều là quy mô nhỏ và siêu nhỏ. Đáng chú ý, năng suất lao động của doanh nghiệp ngành chế biến gỗ Việt Nam rất thấp, chỉ bằng 50% của Philippines, 40% của Trung Quốc và 20% của EU.
Nếu xét về công nghệ, nhóm doanh nghiệp FDI, DN nội địa lớn sản xuất đồ gỗ để xuất khẩu đều đang sử dụng các công nghệ hiện đại của EU và Đài Loan, thấp hơn là nhóm sản xuất để tiêu thụ nội địa chủ yếu đang sử dụng công nghệ của Trung Quốc và Đài Loan, phân khúc khác là chế biến đồ mỹ nghệ thì chủ yếu là thủ công với công cụ truyền thống.
Theo đánh giá, ngoài các nhóm DN xuất khẩu trực tiếp ra thị trường nước ngoài có khả năng cạnh tranh cao thì các nhóm còn lại đều ít có khả năng cạnh tranh. Nguyên nhân là các DN này chủ yếu gia công, giá trị gia tăng thấp, bán FOB và không tiếp cận được với chuỗi phân phối nước ngoài, khả năng chuyển đổi phân khúc thị trường còn hạn chế.
Mặt khác, nguồn nguyên liệu đa phần phải nhập khẩu cũng là một trong những hạn chế của ngành chế biến gỗ Việt Nam hiện nay. Cụ thể, gỗ nguyên liệu đang phải nhập khẩu một lượng tương đối lớn, khoảng 30-50% từ 100 quốc gia trên thế giới. Dù vậy, nguồn này cũng đang dần được cải thiện khi DN đã cố giảm tỷ trọng nhập khẩu, kim ngạch gỗ nguyên liệu nhập khẩu bằng khoảng 30% kim ngạch xuất khẩu gỗ thành phẩm. Còn vật tư, hiện các DN Việt Nam vẫn phải nhập tới 90% do nguồn trong nước không ổn định.
Trong khi đó, các chính sách ưu đãi đối với ngành gỗ chủ yếu liên quan tới lâm nghiệp mà chưa có chính sách tín dụng, đầu tư riêng cho ngành chế biến gỗ. Đóng góp của chính sách nội địa đối với phát triển của ngành gỗ là còn hạn chế và khá rời rạc, thiếu tính hệ thống và do đó hạn chế về hiệu quả.
Đặc biệt trong bối cảnh Chính phủ đang thực hiện đàm phán các hiệp định thương mại tự do với các đối tác lớn như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), ngành gỗ đang tỏ ra khá lúng túng khi chưa đưa ra được các đề xuất phương án đàm phán tổng thể cho ngành của mình và vì vậy chưa tận dụng hiệu quả cơ chế tham vấn trong đàm phán thương mại quốc tế mà Thủ tướng Chính phủ đã cho phép. Hiện các DN chế biến gỗ đang phải đối mặt với nguy cơ bị kiện ở một số thị trường xuất khẩu trọng điểm.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng này được cho là ngành thiếu một định hướng phát triển về sản phẩm, thị trường cũng như năng lực sản xuất phù hợp với năng lực, nhu cầu của doanh nghiệp. Từ góc độ quản lý, tương tự như nhiều ngành kinh tế khác, ngành gỗ đã được Chính phủ xây dựng và thông qua các quy hoạch và chiến lược phát triển ngành gỗ.
Tuy nhiên, đây hầu hết là các mục tiêu chủ quan từ góc độ quản lý Nhà nước, không có các biện pháp hỗ trợ thực hiện cụ thể và đặc biệt là không gắn trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trước mắt, về chính sách phát triển nguồn nguyên liệu, cần xác định loại cây ưu tiên, từ đó, hỗ trợ tín dụng và đầu tư phát triển giống cây, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ liên quan tới rừng.
Đặc biệt, để đảm bảo nguồn gốc hợp pháp của gỗ phục vụ sản xuất xuất khẩu, cần xây dựng chính sách khoa học công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật đối với mỗi sản phẩm. Đồng thời xây dựng lại chính sách thuế xuất khẩu gỗ để hỗ trợ cho các DN ngành chế biến gỗ Việt Nam... (Tài Chính Điện Tử 18/11) đầu trang(
Thời gian qua, báo Dân trí nhận được đơn phản ánh của những hộ dân sống tại tổ 10, khu phố 1, phường Trung Mỹ Tây, quận 12, TPHCM về việc cơ sở gia công đồ gỗ tại số 138/1 đường TMT05 (tổ 10, khu phố 1, phường Trung Mỹ Tây, quận 12) do bà Vũ Thị Hương làm chủ, trong quá trình sản xuất gây ồn ào và ô nhiễm cho người dân xung quanh.
Theo phản ánh của người dân, cơ sở này thường xuyên cưa xẻ gỗ ngay trong khu dân cư gây ra tiếng ồn rất lớn, ngoài ra các công nhân của cơ sở còn đưa các sản phẩm gỗ ra ngay giữa đường TMT05 để tiến hành sơn xịt gây phát tán dung môi độc hại trong khu dân cư.
Chưa kể những lúc đơn đặt hàng nhiều, cơ sở này còn tăng ca hoạt động liên tục cả ngày lẫn đêm gây ra những tiếng ồn rất lớn khiến bà con trong khu phố không ngủ được.
Do phải chịu đựng tiếng ồn với cường độ mạnh trong thời gian dài nên nhiều người dân bị ảnh hưởng sức khỏe; nhất là những người cao tuổi thường mắc triệu chứng mất ngủ. Còn các cháu học sinh bị tiếng ồn làm ảnh hưởng đến quá trình học tập tại nhà.
Bà Trần Mỹ Hạnh (ngụ 138 đường TMT05) bức xúc nói: Kể từ ngày cơ sở này đi vào hoạt động là dân chúng tôi không có ngày nào yên, ban ngày thì công nhân đem gỗ ra giữa đường để sơn xịt khiến mùi hóa chất bay nồng nặc, ban đêm thì họ dùng máy móc để xẻ gỗ gây ra những tiếng ồn rất lớn khiến chúng tôi không thể ngủ được.
“Nhiều lần chúng tôi kiến nghị lên UBND phường Trung Mỹ Tây thì lực lượng chức năng xuống kiểm tra, những lúc như thế cơ sở tạm ngưng được vài ngày sau đó họ hoạt động ồn ào trở lại. Cả gia tôi có 3 người thì 2 người đã mắc các chứng bệnh về hô hấp. Mỗi lúc gia đình ăn cơm thì tôi xin họ tạm ngưng xẻ gỗ để tránh bụi bay vào nồi cơm nhưng họ vẫn không chịu”, bà Hạnh kể.
Trong khi đó, gia đình ông Nguyễn Đức Thọ (nhà số 138/2) cũng rất bức xúc nói: Gia đình chúng tôi về mua ngôi nhà này được hơn 2 năm nay nhưng chưa được ngày nào yên, nhiều lúc cơ sở tiến hành cưa xẻ gỗ đến 1, 2 giờ sáng khiến cả gia đình không ngủ được.
Theo ông Thọ thì ngoài việc đưa các sản phẩm đồ gỗ ra ngoài đường sơn xịt khiến dung môi bay vào các nhà dân lân cận, cơ sở này còn cưa xẻ gỗ ngay trong nhà gây ra những tiếng ồn rất lớn.
“Gần đây do chúng tôi liên tục phản ánh lên cơ quan chức năng nên cơ sở này tiến hành đưa gỗ vào trong nhà để sơn xịt, tuy nhiện họ lại dỡ mái tôn để hóa chất bay lên trên, phát tán trong không khí”, ông Thọ phản ánh.
Trao đổi với PV về vấn đề này, ông Mai Văn Thọ, Phó chủ tich UBND phường Trung Mỹ Tây, quận 12 cho biết: Sau khi nhận được phản ánh của các hộ dân tại tổ 10, khu phố 1, phường Trung Mỹ Tây. UBND phường đã phối hợp với Phòng Tài nguyên Môi trường của quận 12 tiến hành kiểm tra đột xuất cơ sở này, qua kiểm tra, Phòng Tài nguyên Môi trường quận đã phát hiện một số sai phạm tại cơ sở gia công đồ gỗ ở số 138/1 đường TMT05 do bà Vũ Thị Hương đứng tên đăng ký kinh doanh.
Cụ thể hành vi của cơ sở là gây tiếng ồn vượt quy chuẩn kỹ thuật về tiếng ồn trong khu dân cư là dưới 0,5 dBA, vi phạm quy định tại khoản 1 điều 17, Nghị định 179/2013/NĐ - CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Hiện UBND quận 12 đã ra quyết định xử phạt cơ sở gia công đồ gỗ này. Cụ thể tại quyết định số 850/QĐ – XPHC do ông Nguyễn Tương Minh - Phó chủ tịch UBND quận 12 ký về việc ra quyết định xử phạt cơ sở gia công đồ gỗ tại số 138/1 đường TMT05 với số tiền 3 triệu đồng.
Biên bản nêu rõ, trong 15 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt, hộ kinh doanh vi phạm phải thực hiện quyết định cũng như khắc phục tình trạng ô nhiễm do hành vi vi phạm gây ra.
Ông Thọ thừa nhận, việc kiểm tra những vi phạm của các cơ sở sản xuất trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn. Cụ thể, theo quy định, mỗi lần phường nhận được phản ánh của người dân về việc các cơ sở sản xuất trong lúc hoạt động gây ô nhiễm. Lúc này phường muốn kiểm tra xác minh nội dung người dân phản ánh thì phải thông báo trước cho họ về nội kiểm tra, nên những lúc như thế họ đều có sự chuẩn bị trước. (Dân Trí 18/11) đầu trang(
Ông Nguyễn Tiến Dũng, Tổng Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận cho biết: Sau 2 năm thành lập Xí nghiệp chế biến gỗ Đức Long (đơn vị chế biến gỗ thứ 2 của Cty, sau Xí nghiệp chế biến gỗ Phan Thiết), Cty đã đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất gỗ ván công nghiệp để làm ra nội thất thông minh dùng trong sinh hoạt hàng ngày như bàn, tủ…
Mặc dù cùng là một sản phẩm nhưng nội thất thông minh có nhiều chức năng và tiện ích sử dụng khác nhau, dễ dàng tháo lắp và tiết kiệm không gian sống một cách tối đa. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/11, tr13) đầu trang(
Nhằm tạo điều kiện về đất sản xuất cho người dân, từ cuối năm 2013, huyện Ba Chẽ đã triển khai giao toàn bộ diện tích trên 5.000ha đất lâm nghiệp hiện các xã, thị trấn, trên địa bàn đang quản lý cho người dân.
Hiện nay, huyện đã lập phương án bàn giao được 3.900ha, chỉ còn 1.100ha do còn gặp khó khăn trong việc định giá nên chưa bàn giao được, nhưng sẽ phấn đấu đến cuối năm 2014 sẽ bàn giao xong.
Có thể thấy huyện Ba Chẽ đã rất cố gắng trong việc triển khai giao đất, giao rừng cho người dân sản xuất và đã đạt được những kết quả khá tốt. Được biết, để đạt được kết quả này, ngay từ thời điểm cuối năm 2013, huyện đã thuê đơn vị tư vấn đo đạc diện tích, cắm mốc ranh giới tại thực địa và điều tra đánh giá trữ lượng rừng.
Các phòng chuyên môn của huyện cũng kiểm kê, rà soát kỹ lưỡng diện tích rừng đã được giao và trong diện sẽ giao; nắm bắt nhu cầu nhận đất rừng sản xuất của nhân dân cũng như tổ chức các buổi họp dân tuyên truyền mạnh mẽ, tập trung về chính sách, thủ tục giao nhận đất rừng của huyện Ba Chẽ.
Chính nhờ sự vào cuộc tích cực ấy nên hiện cả 8/8 xã, thị trấn trên địa bàn đều đã lập và hoàn thiện phương án giao đất, giao rừng. Bên cạnh đó, trong phương án giao đất, giao rừng của các xã trên địa bàn đều chú trọng việc giao cho người dân để lấy đất sản xuất.
Trong đó ưu tiên các trường hợp mới tách khẩu, chưa được giao đất, giao rừng hoặc đã được giao song diện tích dưới 3ha; các hộ dân hiến, đổi đất để xây dựng các công trình nông thôn mới… Chính bởi vậy nên người dân rất phấn khởi, hoàn toàn ủng hộ chủ trương của huyện.
Chị Đặng Thị Thạnh, một người dân ở xã Lương Mông vừa được nhận đất rừng trong đợt này phấn khởi nói: Nhà tôi trước đây cũng đã được cấp đất rừng để trồng rừng phát triển kinh tế. Tuy nhiên, do con cái lớn, lập gia đình riêng nên chúng tôi cũng phải cắt một phần diện tích để cho con, thành ra giờ còn ít đất sản xuất quá. Rất may là nhà tôi lại được xã, huyện quan tâm giao thêm đất. Như vậy thì cả mẹ và còn tôi đều yên tâm, ổn định và phát triển cuộc sống.
Anh Đàm Quang Thành, Phó Trưởng Phòng Tài nguyên Môi trường huyện cho biết thêm: Đối với Ba Chẽ, rừng và đất rừng là tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất của người dân. Chính bởi vậy nên các đợt giao đất giao rừng nếu làm không cẩn thận đều có thể phát sinh đơn kiện hoặc nảy sinh những vấn đề phức tạp. Thế nhưng lần giao đất giao rừng này do đã được triển khai cẩn trọng, kỹ lưỡng, công khai và hợp lý nên được người dân đồng thuận, từ đó ủng hộ, góp phần đẩy mạnh tiến độ công việc.
Hiện nay để đẩy mạnh tiến độ công tác giao đất giao rừng, huyện Ba Chẽ đang tập trung gỡ khó đối với số diện tích còn lại, chưa xây dựng được phương án giao do chưa có định giá rừng. Đây hầu hết là diện tích thông có độ tuổi từ 7-15, được trồng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Theo quy định, để giao diện tích này cho các hộ dân cần phải có tính toán trên cơ sở định giá rừng để thu hồi phần vốn nhà nước đã đầu tư.
Hiện đã có tới gần 90 hộ dân đúng đối tượng có đơn xin nhận giao đất rừng với diện tích trên 500ha. Được biết, để giải quyết việc này, mới đây, huyện Ba Chẽ cũng đã đề xuất phương án giao linh động để người dân kịp thời quản lý, bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên rừng. Bên cạnh đó, huyện cũng mong muốn tỉnh kịp thời cấp nốt phần kinh phí gần 2,5 tỷ đồng trong việc hỗ trợ huyện trong giao đất giao rừng. Hiện tỉnh mới cấp được 1 tỷ đồng.
Có thể thấy huyện Ba Chẽ đã rất tích cực, nỗ lực trong công tác giao đất giao rừng và đạt được kết quả khả quan. Để hỗ trợ huyện hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho người dân có đất sản xuất, thiết nghĩ tỉnh và các sở, ngành liên quan cần nhanh chóng định giá rừng cũng như cấp kinh phí cho huyện. (Báo Quảng Ninh 18/11) đầu trang(
Tận dụng địa hình đồi rừng, những năm qua, nhiều hộ dân trên địa bàn huyện Đông Triều đã phát triển các mô hình chăn nuôi, trồng trọt theo hướng phát huy lợi thế địa phương. Qua đó, nhiều mô hình đã được triển khai, nhân rộng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Qua giới thiệu, PV tới thăm mô hình nuôi rắn của gia đình ông Nguyễn Văn Mềm, thôn Đồng Đò, xã Bình Khê. Hiện tại, với mô hình nuôi rắn mới phát triển được hơn 2 năm, nhưng mỗi năm đã cho gia đình ông nguồn thu hàng trăm triệu đồng.
Ông Mềm chia sẻ: “Trước đây, gia đình tôi cũng chỉ làm ruộng, vườn, chăn nuôi đơn thuần, quanh năm vất vả mà thu nhập cũng chẳng để ra được bao nhiêu. Thấy có mấy người quen ở Hải Dương có nghề nuôi rắn làm tốt lắm, tôi quyết định đầu tư xây chuồng, bể rồi mua giống rắn hổ mang đen, rắn ráo trâu về nuôi. Vừa làm, vừa học hỏi kinh nghiệm, lại thêm địa hình nhà gần đồi nên con rắn phát triển tốt lắm.
Từ 60 con giống ban đầu, đến nay, gia đình tôi đã gây được đàn rắn trên 160 con. Mỗi năm từ tiền bán trứng rắn làm giống cũng cho gia đình nguồn thu trên 100 triệu đồng. Dự kiến năm tới đây, đàn rắn nuôi của gia đình có thể xuất bán thương phẩm, với giá trung bình như hiện nay từ 400.000 đến 500.000 đồng/kg, ước tính gia đình sẽ thu về cả trăm triệu đồng…”.
Giống như ông Mềm, gia đình bà Nguyễn Thị Phòng, thôn Đông Sơn (xã Bình Khê) cũng tận dụng lợi thế đất vườn rừng để phát triển mô hình nuôi lợn rừng. Khởi nghiệp từ đàn lợn rừng gần chục con, sau một thời gian chăn nuôi thấy có hiệu quả, không mất quá nhiều công chăm sóc mà giá bán lại cao, gia đình bà đã mở rộng đàn nuôi với gần 100 con. Mô hình chăn nuôi này mang lại nguồn thu ổn định cả trăm triệu đồng cho gia đình bà.
Không riêng gia đình ông Mềm, bà Phòng, hiện trên địa bàn huyện Đông Triều, các mô hình chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã và các mô hình trang trại, gia trại chăn nuôi, mô hình vườn rừng cũng đang được bà con các xã nhân rộng. Đến nay, toàn huyện Đông Triều có trên 270 trang trại, gia trại, trong đó có hơn 60 trang trại, gia trại đạt doanh thu từ 1 tỷ đồng/năm, nhiều gia trại có doanh thu từ 200 triệu đồng/năm trở lên.
Bên cạnh đó, với đặc thù địa phương có diện tích đất đồi, vườn rừng rộng, thuận lợi cho các mô hình chăn nuôi động vật hoang dã, nên những năm qua các hộ dân trong huyện cũng tích cực áp dụng các mô hình chăn nuôi theo hướng này. Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện, hiện trên địa bàn có 31 hộ phát triển chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã như: Chim trĩ đỏ, lợn rừng, rắn, nhím, hươu sao… Các trang trại, gia trại chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang đã, đang phát triển mạnh mẽ trên địa bàn, đã mở thêm hướng làm giàu cho người nông dân.
Cùng với đó, để việc phát triển kinh tế rừng đạt hiệu quả cao, huyện cũng thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích bà con phát triển bền vững rừng trồng trên địa bàn. Huyện đã đẩy mạnh thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ nông dân quản lý và canh tác.
Đồng thời khai thác triệt để các chương trình, dự án trồng rừng của tỉnh, của huyện đưa vào triển khai thực hiện ở địa phương, vận động nhân dân phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, tích cực trồng rừng sản xuất kết hợp với khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng.
Theo thống kê, đến nay toàn huyện đã giao trên 4.700ha diện tích đất rừng cho 1.400 hộ dân quản lý. Trong đó, tổng diện tích trồng rừng tập trung đạt trên 257ha. Hàng năm, tổng khối lượng lâm sản khai thác trên 7.000m3 gỗ keo, bạch đàn, đã mang lại nguồn thu không nhỏ cho người dân trên địa bàn huyện. (Báo Quảng Ninh 19/11) đầu trang(
Dù còn khó khăn nhưng nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tỉnh Phú Thọ đã không ngừng cố gắng, vươn lên, khai thác thế mạnh của rừng và trở thành những điển hình trong phát triển kinh tế, xây dựng đời sống mới...
Trưởng khu Thành Công, xã Võ Miếu, Thanh Sơn, Phú Thọ Triệu Văn Quang - dân tộc Dao - là chủ nhân của hơn 20ha rừng trồng đủ các loại cây từ keo, bồ đề, sắn, gió bầu… đến măng Bát độ. Ngoài trồng rừng, gia đình ông còn trồng hơn 4.000m2 lúa nước và thả cá. Mỗi năm, trừ chi phí, gia đình ông thu nhập khoảng 200 triệu đồng, nuôi được 3 con học cao đẳng, đại học.
Ông Quang chia sẻ: Muốn thuyết phục bà con, tôi xác định miệng nói, tay làm, bởi đồng bào dân tộc chỉ tin và làm theo khi thấy hiệu quả. Trước đây, cũng như hơn 49 hộ đồng bào dân tộc Dao ở bản Thành Công, gia đình ông Quang nghèo lắm. Sau khi có chính sách giao đất, giao rừng của Chính phủ, vợ chồng ông nhận hơn 20ha đất rừng và vay vốn ngân hàng để trồng cây lâm nghiệp như keo, bồ đề.
Những năm đầu cây chưa khép tán, để tiết kiệm đất và tăng thu nhập, gia đình ông Quang trồng thêm sắn để lấy ngắn nuôi dài. Ở vùng đất thấp hơn, gia đình trồng cây sơn lấy nhựa, dưới chân đồi trồng măng Bát độ, xung quanh nhà trồng gió bầu và một số cây ăn quả như xoài, trám, vải. Những nơi tương đối bằng phẳng, ông Quang đào ao, làm ruộng, đắp khe dẫn nước về trồng lúa nước và nuôi cá.
Sau khi có thu nhập từ rừng, ông mở rộng quy mô sản xuất, nuôi thêm nhím, rúi, gà, ngan, vịt để tăng thu nhập. Thành công với mô hình phát triển kinh tế gia đình, ông Quang vận động nhiều hộ dân trong bản tham gia trồng rừng, lập xưởng chế biến tinh bột sắn, thu mua và chế biến cây nguyên liệu giấy...
Cũng như ông Quang, biết dựa vào thế mạnh của rừng để phát triển kinh tế gia đình và động viên, hướng dẫn bà con, ông Phùng Đức Hòa, dân tộc Mường, khu Đồn, xã Hương Cần, Thanh Sơn là tấm gương tiêu biểu về phát triển kinh tế. Gia đình ông có 7 sào lúa nước, 6 sào bãi chuyên trồng ngô, 1 mẫu chè, 12ha rừng trồng keo, bồ đề xen cây sắn.
Ông thường xuyên áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sử dụng 100% giống mới có năng suất cao, đầu tư thâm canh hợp lý, phòng trừ sâu bệnh kịp thời nên năng suất lúa đạt 200kg/sào, ngô đạt 130 – 140kg/sào. Ngoài sản xuất, lúa, ngô, làm rừng, gia đình còn phát triển chăn nuôi lợn, gà, ngan, nhím, bồ câu sinh sản, và gần 20 đàn ong. Mỗi năm gia đình ông Hòa thu nhập từ chăn nuôi, trồng rừng khoảng 250 triệu đồng...
Không chỉ tích cực tham gia phát triển kinh tế, nhiều đồng bào DTTS ở Phú Thọ được bà con tín nhiệm, bầu làm già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng. Bằng lời nói, hành động cụ thể, nói dân nghe, làm dân tin, hàng trăm già làng, trưởng bản, người có uy tín tại các xã, bản vùng cao đã thể hiện tốt vai trò của mình trong việc vận động dân bản xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện tốt các phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh.
Trưởng bản Lóng 1 xã Thạch Kiệt, Tân Sơn Phùng Sinh Quyền không chỉ trở thành người nhà bà con trong bản mà còn thân thiết với nhiều hộ đồng bào Dao trong khu vực. Luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, gần gũi với bà con, ông Quyền thường xuyên tuyên truyền, vận động bà con đoàn kết, không nghe theo kẻ xấu, bảo vệ rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Dao... (Đại Biểu Nhân Dân 18/11, tr7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hơn một tấn ngà voi biến mất khỏi nhà kho chính phủ Uganda một cách bí ẩn trong vụ việc được cho có liên quan đến tham nhũng và sự cấu kết của quan chức cơ quan bảo vệ động vật hoang dã Uganda với tội phạm.
Một quan chức cảnh sát cho biết chính phủ đang tiến hành điều tra tìm ra thủ phạm, thông tin ban đầu cho rằng có sự cấu kết và tham nhũng của các quan chức thuộc cơ quan bảo vệ động vật hoang dã Uganda trong vụ việc, theo The Guardian ngày 17.11.
Số ngà voi bị "bốc hơi" ước tính trị giá hơn 1 triệu USD và được tịch thu từ các vụ trộm cắp hơn một thập kỉ trước. “Chúng tôi đang thu thập chứng cứ giúp cho cuộc thẩm vấn điều tra như tại sao họ vẫn còn cất giữ số ngà voi đó trong khi chúng được biết đã bị tiêu hủy?”, một quan chức cảnh sát cho biết, theo The Guardian.
Theo tờ báo địa phương, chính phủ Uganda đã phát động cuộc điều tra chính thức đối với các viên chức bị cáo buộc liên quan và do Thanh tra chính phủ đảm nhận.
Liên Hợp Quốc cho biết họ đang điều tra việc các tội phạm quốc tế đang tổ chức buôn lậu lô hàng ngà voi toàn cầu có sự cấu kết giữa lực lượng biên phòng và quan chức của cơ quan bảo vệ động vật hoang dã.
Liên minh giám sát chống tham nhũng Uganda cho rằng vụ việc hơn một tấn ngà voi "bốc hơi" cho thấy biểu hiện nghiêm trọng của tình hình quan liêu trong bộ máy chính quyền Uganda.
Trên thế giới ước tính có khoảng 300.000 con voi tự nhiên, trong đó 30.000 con voi bị giết mỗi năm để cung cấp ngà voi bất hợp pháp. Chính phủ Mỹ đã tiêu hủy 6 tấn ngà voi sau khi phát hiện nạn buôn lậu hồi 11.2013. (Thanh Niên 19/11) đầu trang(
Diện tích rừng Amazon bị phá hoại trong tháng Mười đã tăng lên mức báo động, gấp hơn 5 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Đây là số liệu công bố mới nhất của nhóm Imazon, một tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển bền vững hệ sinh thái.
Theo tổ chức trên, trong tháng Mười, diện tích rừng Amazon bị chặt phá tại 9 bang của Brazil lên tới 244km2, gấp hơn 5 lần so với con số chỉ khoảng 43km2 trong cùng kỳ năm ngoái và bằng với diện tích của 24.000 sân bóng đá.
Thống kê của nhóm Imazon cũng chỉ rõ khoảng 60% diện tích rừng bị tàn phá diễn ra tại khu vực do tư nhân kiểm soát hoặc do nông dân chiếm dụng bất hợp pháp.
Trước tình hình này, chính phủ Brazil đang tiến hành một loạt biện pháp nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành động phá rừng, trong đó có việc sử dụng công nghệ chụp ảnh từ vệ tinh.
Cuối thángMười, Brazil cũng đã đặt một khu vực giàu sinh thái thuộc rừng rậm nhiệt đới Amazon dưới sự bảo vệ của chính quyền liên bang nhằm tạo ra một khu bảo tồn lớn có tổng diện tích hơn 6.000km2. Khu bảo tồn này gồm các phần rừng nguyên sinh và trước nay chưa có người sinh sống.
Nhóm Imazon đưa ra số liệu trên ngay trước thềm Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, dự kiến diễn ra tại thủ đô Lima của Peru từ ngày 1-12/12. Thu hẹp tỷ lệ mất rừng được coi là nhiệm vụ cốt lõi nhằm hạn chế các tác động của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu.
Rừng rậm nhiệt đới Amazon thuộc lưu vực sông Amazon ở Nam Mỹ. Với diện tích gần 7 triệu km2, rừng Amazon trải dải trên lãnh thổ của 8 nước gồm Brazil, Peru, Bolivia, Ecuador, Colombia, Venezuela, Guyana và Suriname. Trong đó, 60% diện tích rừng nằm trên lãnh thổ của Brazil. Rừng rậm Amazon được coi là "lá phổi" của Trái đất và là "ngôi nhà sinh thái" của hàng nghìn loài động, thực vật.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nạn phá rừng, khai thác gỗ bất hợp pháp, khai thác mỏ, chăn nuôi gia súc và xây dựng đập thủy điện đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh sinh thái của khu rừng lớn nhất Nam Mỹ này. (VietnamPlus 18/11) đầu trang(
Đài truyền trung ương Trung Quốc (CCTV) ngày 18.11 cho hay, Cục Kiểm Lâm nhà nước này vừa phát hiện và quay được clip về con hổ quý hiếm tên là Ustin. Đây là một trong số những con hổ đã được Tổng thống Nga Vladimir Putin tận tay thả vào thiên nhiên hoang dã ở vùng viễn Đông Nga.
Theo video do Cục Kiểm Lâm Trung Quốc công bố vào hôm thứ Sáu tuần trước, con hổ trên được cho là xuất hiện tại đảo Heixiazi. Trong khi đó, con hổ Ustin này vốn được ông Putin thả ra ở vùng Oblast của Nga vào tháng 6.2014.
Nguồn tin trên cho biết, trên người Ustin có dính băng tuyết, có thể do nó đã bơi qua sông để tới đảo Heixiazi. Tuy nhiên, con hổ dường như đang không thể tìm thấy con mồi nào ở khu vực này. Hiện các nhà chức trách của Trung Quốc vẫn đang theo dõi con hổ để có những hỗ trợ nhằm giúp nó thích nghi với môi trường.
Đồng thời, các nhà chức trách nước này cũng cảnh báo đối với người dân cần có biện pháp phòng ngừa để tránh những điều đáng tiếc xảy ra khi phải đối mặt với chú hổ Ustin. Trước đó vào tháng 10.2014, một con hổ Siberia khác do ông Putin thả ra cũng được cho là đã di chuyển sang vùng lãnh thổ của Trung Quốc.
Được biết, hổ Siberia hay còn gọi là hổ Amur, hổ Mãn Châu, là giống hổ lớn nhất thế giới, con trưởng thành có thể nặng 350 kg. Hiện chúng là một trong những động vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới. (Dân Việt 18/11) đầu trang(
Tại công viên bảo tồn sư tử ở thành phố Rancagua, du khách sẽ được tham gia một trò chơi mạo hiểm mới: Chui vào lồng sắt và ngắm sư tử đi lại nghênh ngang trên đầu của mình.
Những tour du lịch quan sát động vật hoang dã trong tự nhiên đã được nhiều nơi trên thế giới tổ chức. Tuy nhiên, dịch vụ ngắm những con thú nguy hiểm tại cự ly rất gần thì rất ít quốc gia dám mạo hiểm đầu tư và Chile là một trong những quốc gia đi đầu trong loại hình du lịch mới này.
Công viên Parque Safari ở Rancagua, miền trung Chile mở cửa một dịch vụ khá mạo hiểm và không dành cho những người yếu tim: chui vào lồng sắt để nhìn ngắm và... cù bụng sư tử.
Du khách sẽ được ngồi trong một chiếc lồng sắt chắc chắn trên một chiếc xe tải lớn và tham quan khắp công viên. Parque Safari là nhà của 6 chú sư tử. Trong chuyến đi nhìn ngắm động vật hoang dã sống trong môi trường tự nhiên này, du khách sẽ có cơ hội được tiếp cận với những chú sư tử dũng mãnh tại khoảng cách rất gần.
Những chú sư tử này sẽ nhảy lên mui xe, lên nóc của lồng sắt và tò mò nhìn những người ngồi phía dưới. Nhờ đó, du khách có thể tiếp cận loài thú nguy hiểm này trong khoảng cách rất gần.
Nhiều người can đảm còn thò ngón tay qua khe hở của lồng sắt và cù vào chiếc bụng mềm, đầy lông mượt của sư tử. Đây là công viên đầu tiên tại Chile và một trong số ít tại châu Mỹ la tinh có dịch vụ "chơi" với sư tử độc đáo như thế này. (VnExpress 18/11) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||