|
Ngày 20 tháng 11 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chi trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), sau nhiều nỗ lực và thực hiện các bước theo đúng quy trình, từ năm 2012, tỉnh Yên Bái bắt đầu thực hiện chính sách này với số tiền chi trả trên 18 tỷ đồng cho 23.959 tổ chức, cá nhân trồng và bảo vệ rừng.
Chi trả DVMTR là một chính sách mới, các đối tượng sử dụng DVMTR như các nhà máy thủy điện, công ty nước phải có nghĩa vụ nộp tiền phí. Đối với các đơn vị sản xuất điện được tính vào giá thành bán điện với mức thu 20 đồng/kw điện, đối với đơn vị sản xuất nước thu 40 đồng/m3. Tiền phí DVMTR thu được là để bảo vệ, phát triển rừng (BV-PTR) và chi trả trực tiếp cho các tập thể, tổ chức và người dân trực tiếp trồng và BV-PTR nằm trong lưu vực.
Qua đánh giá, thống kê trong năm 2012, toàn tỉnh có trên 23.959 hộ dân được hưởng lợi từ phí DVMTR với số tiền trên 18 tỷ đồng. Theo chức năng nhiệm vụ của mình, Quỹ BV-PTR và các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng DVMTR có trách nhiệm ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR cho các chủ rừng. Thế nhưng cho đến nay, trên địa bàn tỉnh vẫn còn có những doanh nghiệp chưa thực hiện đúng nghĩa vụ, trách nhiệm của mình, thậm chí chưa ký ủy thác với Quỹ BV-PTR.
“Có khá nhiều doanh nghiệp còn nợ hoặc chậm nộp tiền với số tiền cả tỷ đồng. Năm 2013, theo kế hoạch các đơn vị sử dụng DVMTR phải đóng 29.895 triệu đồng. Trong đó: nhà máy thủy điện Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà đã nộp 13 tỷ/23,5 tỷ đồng, các doanh nghiệp nội tỉnh phải nộp 6,3 tỷ đồng nhưng đến nay mới nộp chưa đầy 750 triệu đồng.
Thậm chí Nhà máy thủy điện Mường Kim, Nhà máy thủy điện Ngòi Hút còn chưa ký hợp đồng ủy thác. Việc chậm nộp tiền phí DVMTR gây ảnh hưởng lớn đến đời sống các chủ rừng, cho đến nay, Quỹ BV-PTR vẫn không thể xây dựng được kế hoạch, đơn giá để chi trả cho các chủ rừng”, ông Kiều Tư Giang, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp, Phó giám đốc Quỹ BV-PTR nói.
Theo số liệu tài chính của Quỹ BV-PTR rừng, đến ngày 10/10/2013, mới thu ủy thác tiền DVMTR quý I, II đối với Công ty cổ phần thủy điện Hồ Bốn, Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển Miền Bắc nộp đến tháng 7/2013, Công ty cấp nước Yên Bái nộp quý I, II còn lại là chưa nộp. Như vậy, tổng số tiền các đơn vị chưa nộp phí DVMTR để chi trả cho các chủ rừng là 16,5 tỷ đồng của năm 2013.
Không chỉ chậm trả tiền phí DVMTR của năm 2013 mà ngay cả tiền phí DVMTR của năm 2011, năm 2012 các doanh nghiệp sử dụng DVMTR vẫn nợ, gây khó khăn cho công tác chi trả cũng như tính nghiêm minh của pháp luật. Các doanh nghiệp trung ương thực hiện khá tốt thì các doanh nghiệp tỉnh lại chây ỳ, thờ ơ thiếu trách nhiệm với các chủ rừng.
Phải chăng các doanh nghiệp có ý “ăn quịt” tiền công của những người ngày đêm chăm bẵm, bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của nhân loại? Cụ thể, Nhà máy thủy điện Hưng Khánh (Công ty TNHH Thanh Bình) 40 triệu 637 ngàn đồng (năm 2011 là 20 triệu 637 ngàn đồng, năm 2012 là 20 triệu đồng), Nhà máy thủy điện Nậm Tục 2 (Công ty TNHH Hoà Bình trên 455 triệu 315 ngàn đồng),
Nhà máy thủy điện Nậm Đông 3, 4 (Công ty cổ phần thủy điện Miền Bắc 3) trên 2 tỷ 689 triệu đồng, Nhà máy thuỷ điện Ngòi Hút I (Công ty cổ phần thủy điện Miền Bắc) trên 847 triệu đồng, Nhà máy thủy điện Mường Kim (Công ty cổ phần cơ khí thiết bị điện Hà Nội) 1 tỷ 700 triệu đồng, Nhà máy thủy điện Hồ Bốn 1 tỷ 460 triệu đồng.
Tiền phí DVMTR là một nguồn lực tài chính quan trọng góp phần cùng các nguồn lực khác chi cho các chủ rừng, cộng đồng dân cư, cá nhân được Nhà nước giao công tác quản lý BV-PTR, cho thuê rừng. Do đó, các đơn vị sử dụng DVMTR phải có nghĩa vụ nộp khoản phí này để nâng cao đời sống người dân, góp phần bảo vệ rừng hiệu quả, bền vững. (Báo Yên Bái 19/11) đầu trang(
Ngày 19/11, Sở NN&PTNN Hà Tĩnh phối hợp với Chi cục Lâm nghiệp tổ chức tập huấn về việc “Hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo nghị định 99/2010/NĐ- CP” cho các đối tượng sử dụng dịch vụ này trong toàn tỉnh.
Đây là lần đầu tiên chính sách chi trả DVMTR được triển khai tại Hà Tĩnh với mục đích thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng, triển khai mạnh mẽ công tác giao đất và khoán quyền sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, cá nhân tạo điều kiện sử dụng rừng và tài nguyên đất lâm nghiệp hiệu quả hơn, đồng thời góp phần đảm bảo điều hòa, cân bằng môi trường sống, bảo tồn đa dạng sinh học và hạn chế tác hại của thiên tai.
Theo Nghị định, trên địa bàn tỉnh, đối tượng phải chi trả tiền DVMTR gồm: Cơ sở sản xuất thủy điện (3 nhà máy), cơ sở sản xuất kinh doanh nước sạch (6 đơn vị) và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch (2 cơ sở); đối tượng được nhận tiền chi trả là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được Nhà nước giao, cho thuê rừng sử dụng lâu dài.
Trong thời gian 1 ngày, chương trình tập huấn sẽ trang bị cho các đối tượng sử dụng DVMTR về hệ thống các văn bản pháp luật của TW và địa phương, các nội dung trọng tâm của chính sách về nguyên tắc chi trả, hình thức chi trả, phương pháp và trình tự nghiệm thu, cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả, quyền hạn và nghĩa vụ của các bên liên quan… (Báo Hà Tĩnh 20/11) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Có thể nói Hội Bảo vệ Thiên nhiên & Môi trường Việt Nam (VACNE) là tổ chức tiên phong đi đầu trong việc bảo vệ cây quý mà ở đó vai trò của cộng đồng quyết định đến sự thành công trong việc bảo vệ những cây đã được gắn biển “Cây di sản Việt Nam".
Việc tổ chức công nhận vinh danh và gắn bia cây di sản Việt Nam là sự kiện mới mẻ nhằm góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng đồng trong việc bảo vệ nguồn gene quý hiếm, bảo vệ màu xanh trong các xóm làng, trong các thành đô, trong các đền chùa, công sở... và bảo vệ đa dạng sinh học của nước nhà đồng thời đánh dấu một mốc quan trọng mang ý nghĩa khoa học và nhân văn cao trong sự nghiệp bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường Việt Nam.
Theo số liệu thống kê cho đến nay, hơn 600 cây đã được đăng ký, 160 cây đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam với hơn 30 loài cây quỷ. Đã có 30 tỉnh, thành phố có đơn đăng kỷ xin công nhận Cây Di sản Việt Nam.
Cây Di sản đã có mặt ở bản Lũng Túng (Cao Bằng), ở Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Điện Biên, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Huế, Bình Định... Cho đến nay, các kỷ lục đã được ghi nhận khá nhiều. Cây Di sản cao nhất là cây Xa Mu dầu ở Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An), cao hơn 70m. Cây Di sản thân đơn có đường kính lớn nhất là cây Tung ở Đắc Lắc, đường kính 6,5m, còn cây Đa ở Lào Cai có chu vi kỷ lục là 45 m. Các Cây Di sản có tuổi cao nhất đang được ghi nhận ở Phú Thọ, nơi phả hệ ghi tuổi 2000 - 2100 năm đối với hai cây Táu ở miếu Thiên cổ Việt Trì...
TS. Nguyễn Ngọc Sinh - Chủ tịch VACNE cho biết, bảo vệ gìn giữ, chăm sóc cây cổ thụ, cây di sản Việt Nam dù hiện hữu bất kỳ ở đâu trên lãnh thổ Việt Nam là những cây không những có giá trị vể mặt lịch sử, văn hóa mà còn là điểm đến cho khách thập phương, là phòng thí nghiệm sinh động cho hoạt động nghiên cứu khoa học, là nơi giáo dục lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương tổ quốc Việt Nam, là nơi để chúng ta hồi tưởng, biết quý trọng sức lao động sáng tạo của các bậc tiền bối đã dầy công chăm sóc.
Phát triển kinh tế xanh, đương nhiên bao gồm trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội. VACNE bằng những nỗ lực liên tục của mình, đang cố gắng cùng với cộng đồng cả nước hướng tới sự phát triển bền vững. Những việc làm có ích cho môi trường đều là những viên gạch đóng góp cho sự nghiệp phát triển bền vững, lúc này là cho sự phát triển nền kinh tê xanh của đất nước.
Đây cũng chính là cách hữu hiệu để ngăn chặn sự suy giảm chất lượng môi trường của Trái đất, tránh cho nhân loại một thảm họa mõi trường có thể xảy ra trên phạm vi toàn cầu như nhiều dự báo đã đề cập. (Tài Nguyên&Môi Trường 19/11) đầu trang(
Cây sanh hơn 200 năm tuổi tán rộng gần 300m², từng được trả giá cả chục tỷ đồng ở Thái Bình vừa được công nhận là di sản Việt Nam.
Cây sanh được trồng sau bức trấn phong trước cửa đền Lưu Xá (Hưng Hà, Thái Bình). Cây có gốc chính cao 2,85m với 13 cành chính, chu vi từ 0,6m - 1,2m, được công nhận là cây di sản thứ 514 của Việt Nam.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng đây là một trong những cây sanh có thế đẹp và độc nhất vô nhị ở Thái Bình. "Cây là tài sản vô giá mà nhiều thế hệ cần phải chăm sóc, gìn giữ cho con cháu đời sau", ông Sinh nói. (Vnexpress.net 18/11) đầu trang(
Ngày 19/11, Ban chỉ đạo về kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái tổ chức hội nghị triển khai công tác phòng cháy chữa cháy rừng(PCCCR) năm 2013-2014.
Năm 2012-2013, công tác PCCCR đã đạt được một số kết quả nhất định: Thành lập và củng cố được 192 Ban chỉ huy PCCCR từ cấp huyện đến xã; 1416 tổ đội PCCCR ở cơ sở với gần 15.134 người tham gia; thường xuyên củng cố hệ thống mạng lưới dự báo, cảnh báo cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Công tác giáo dục tuyên truyền, tập huấn được đẩy mạnh với nhiều hình thức, tổ chức 286 hội nghị triền khai công tác PCCCR với 38.160 người tham gia. Xây dựng 40 bảng tin, 225 biển báo cấm lửa, in ấn 15.000 tờ rơi áp phích và 85.000 bản cam kết bảo vệ rừng. Xây dựng mới được 20 Km đường băng cản lửa, phát dọn và tu sửa 117,6 Km đường băng cũ tại các khu vực rừng phòng hộ, đặc dụng của các huyện Mù Cang Chải, Văn Chấn, Trạm Tấu, Lục Yên, Văn Yên, Yên Bình.
Bên cạnh đó thường xuyên phối hợp với cơ quan báo, đài đưa tin bài phục vụ công tác tuyên truyền bảo vệ rừng PCCCR. Tổ chức diễn tập PCCCR cấp huyện và thôn bản theo phương châm 4 tại chỗ ở 5 huyện là: Yên Bình, Lục Yên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Chấn. Nhờ chủ động trong công tác PCCCR nên vụ đông xuân năm 2012-2013 trên địa bàn chỉ để xảy ra 1 vụ cháy tại huyện Trạm Tấu làm thiệt hại 4,9ha rừng trồng phòng hộ. Nguyên nhân cháy rừng là do người dân đốt nương gây cháy lan vào rừng.
Mùa khô hanh năm 2013-2014 với phương châm: “Phòng là chính, cứu chữa kịp thời”; huy động và tăng cường các lực lượng để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái phép, PCCCR, quản lý, quy hoạch nương rãy gắn với công tác PCCR. Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát nhất là vào các thời điểm có gió lào thổi.
Phát biểu kết luận hội nghị, ông Hoàng Xuân Nguyên-Phó chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các huyện thị, Hạt kiểm lâm cơ sở làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền Luật PCCCR, Luật BVR; quán triệt chỉ thị 18/CT- UBND về việc triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô hanh năm 2013-2014; củng cố Ban chỉ đạo PCCCR đặc biệt là ban chỉ đạo cấp xã; thực hiện tốt công tác diễn tập PCCCR sát với thực tế từng địa phương…. (Báo Yên Bái 20/11) đầu trang(
Ngày 14/11, Ban chỉ đạo diễn tập huyện Văn Chấn tổ chức diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn cho xã Nghĩa Sơn năm 2013. Kết thúc cuộc diễn tập, Ban chỉ đạo diễn tập của huyện đánh giá cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn xã Nghĩa Sơn đạt loại giỏi.
Cuộc diễn tập Ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn xã Nghĩa Sơn năm 2013 được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 diễn tập cơ chế tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy – bảo vệ rừng, giai đoạn 2 thực hành chữa cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn. Trong giai đoạn 1, xã Nghĩa Sơn đã tổ chức Hội nghị Ban chỉ huy PCCCR – BVR điều chỉnh, bổ sung triển khai kế hoạch PCCCR – BVR năm 2013, giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng PCCCR – BVR cho các ban ngành, các thôn bản của xã.
Giai đoạn 2 tổ chức thực binh chữa cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn tại đồi Cham Khương, thôn Nậm Tộc 2, xã Nghĩa Sơn. Với tình huống giả định là: một đôi vợ chồng người Mông trên đường lên nương đốt tổ ong lấy mật, do sơ ý đã gây ra cháy rừng. Sau khi nhận được tín hiệu báo cháy rừng, Cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ huy PCCCR – BVR xã huy động lực lượng tăng cường phối hợp cùng lực lượng tại chỗ thôn Nậm Tộc 2 thực hành chữa cháy rừng và cấp cứu người bị nạn.
Với phương châm 4 tại chỗ, việc chữa cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn đã được nhân dân trong thôn và các lực lượng cơ động của xã tổ chức chữa cháy kịp thời, ứng phó của huyện khẩn trương huy động lực lượng chi viện, kịp thời ngăn chặn, không để xảy ra cháy lớn, đồng thời ứng cứu kịp thời làm giảm mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng, tính mạng và tài sản của người dân. Ban chỉ đạo diễn tập của huyện Văn Chấn đánh giá cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn xã Nghĩa Sơn đạt loại giỏi. 1 tập thể, 3 cá nhân có thành tích xuất sắc trong đợt diễn tập đã được UBND huyện tặng giấy khen. (Yenbai.gov.vn 19/11) đầu trang(
Quảng Trị có hơn 2/3 diện tích tự nhiên là rừng và đất lâm nghiệp. Những năm qua, mặc dù lực lượng kiểm lâm đã tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng song hiệu quả vẫn không đạt như mong muốn. Vì vậy, để bảo vệ rừng, cách tốt nhất là phải dựa vào dân.
Từ năm 2006, Quảng Trị là một trong 10 tỉnh của cả nước được chọn thực hiện thí điểm dự án lâm nghiệp cộng đồng, giao rừng cho cộng đồng dân cư bảo vệ và người dân cũng được sống dựa vào rừng một cách bền vững. Theo đó, 8 thôn thuộc 4 xã là Đakrông, Tà Long, A Vao và Ba Nang của huyện Đakrông được hưởng lợi từ dự án này. Rừng cộng đồng là rừng nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn để sử dụng rừng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Giao rừng cho cộng đồng là việc nhà nước trao quyền sử dụng rừng cho cộng đồng bằng quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quản lý rừng cộng đồng nhằm đảm bảo tính bền vững và phù hợp của nó trong tiến trình phát triển và phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước... Sau khi thực hiện thí điểm thành công, từ tháng 7/2012 đến nay, dự án khởi động giai đoạn 2 với 622 hộ dân trong vùng hưởng lợi tham gia dự án trên cơ sở phát huy những kết quả của giai đoạn 1.
Thành công lớn nhất dự án đạt được là nhận thức về công tác chăm sóc và bảo vệ rừng của người dân được nâng lên. Những buổi tuyên truyền về công tác bảo vệ, chăm sóc và phát triển rừng đã không còn xa lạ đối với người dân thôn, bản ở Đakrông. Nói đi đôi với làm, từ việc tuyên truyền, đồng bào được cán bộ kỹ thuật hướng dẫn qua mô hình trực tiếp cầm tay chỉ việc trên từng thân cây, tấc đất nên đồng bào dễ nhớ, dễ thuộc.
Qua tuyên truyền, đồng bào đã nhận thức được rừng rất quý và thực sự có ích trong đời sống của họ. Người dân đã thực sự thấu hiểu và làm theo những quy ước giữ rừng, bảo vệ và phát triển rừng. Anh Hồ Văn Miên, thôn Tà Lao, xã Tà Long, huyện Đakrông cho biết: “Đồng bào bây giờ không chặt phá rừng nữa mà thích trồng rừng lắm. Nghe cán bộ nói, chúng tôi biết bảo vệ rừng, trồng rừng. Hiện chúng tôi đã thu gỗ từ rừng trồng mấy năm trước và đang tiến hành trồng lại rừng”.
Để giao rừng cho cộng đồng quản lý một cách an toàn và bền vững thì điều quan trọng nhất là công tác bảo vệ và phát triển rừng phải được gắn với tạo sinh kế cho người dân. Theo đó, Dự án đã hỗ trợ cho người dân xây dựng mô hình tăng thu nhập từ rừng, giảm thiểu các tác động có ảnh hưởng lâu dài đến các sản phẩm lâm nghiệp; hỗ trợ cộng đồng hoàn thiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng; quy chế quản lý, sử dụng quỹ bảo vệ phát triển rừng cộng đồng nhằm quản lý rừng bền vững và chia sẻ lợi ích minh bạch, công bằng.
Đồng thời, dự án cũng nghiên cứu, khảo sát đánh giá thị trường tiêu thụ lâm sản tại các vùng thực hiện dự án để có đề xuất cơ chế chính sách, giải pháp tiêu thụ lâm sản nhằm hỗ trợ cộng đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và quản lý rừng bền vững. Dự án còn nâng cao năng lực cho các bên liên quan ở các cấp như tổ chức các khóa tập huấn tiểu giáo viên; triển khai các hoạt động nâng cao nhận thức về các vấn đề như: biến đổi khí hậu, nguồn gốc gỗ, bình đẳng giới...
Cùng với trách nhiệm bảo vệ rừng, cộng đồng còn phát triển rừng để đáp ứng một phần gỗ sử dụng cho nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng của công cộng và cung cấp lâm sản ngoài gỗ, góp phần nâng cao đời sống người dân. Trung bình mỗi tháng, cộng đồng trong thôn, bản tuần tra một lần, còn những người dân ra vào rừng hàng ngày để khai thác lâm sản phụ là lực lượng đông đảo nhất để giám sát rừng. Điều này không chỉ phát triển vốn rừng gắn với đời sống của người dân một cách bền vững mà còn góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo an sinh xã hội.
Ông Hoàng Đức Doanh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, Trưởng ban quản lý dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng Quảng Trị cho biết: “Rừng phải để cho dân quản lý, hưởng lợi từ những thành quả sinh lợi từ việc quản lý, bảo vệ, phát triển đó. Điều quan trọng mà chúng tôi mong muốn và dự án hướng tới là cần làm cho dân, đặc biệt là cho đồng bào nhận thức rõ hơn về trách nhiệm và quyền lợi bảo vệ rừng của họ”. (Báo Quảng Trị 20/11) đầu trang(
Huyện Hàm Thuận Bắc vừa tổ chức hội nghị sơ kết công tác quản lý, bảo vệ rừng 10 tháng năm 2013.
10 tháng qua, các lực lượng bảo vệ rừng trên địa bàn huyện có nhiều cố gắng, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, truy quét chống phá rừng tại các khu vực trọng điểm, nên đã góp phần giảm được số vụ, lẫn tính chất mức độ vi phạm.
Trong 10 tháng đã xảy ra 80 vụ, so với cùng kỳ năm ngoái giảm 21 vụ. Lực lượng chức năng tịch thu 27 phương tiện các loại, trên 88 m3 gỗ các loại, xử phạt hình sự 7 vụ, xử phạt hành chính 73 vụ. Tiền phạt và bán lâm sản nộp ngân sách nhà nước trên 900 triệu đồng.
Bên cạnh đó, công tác phòng ngừa, chống lấn chiếm, sử dụng, mua bán, sang nhượng đất lâm nghiệp trái phép cũng được tăng cường. Trong 10 tháng đã phát hiện 42 trường hợp tái lấn chiếm đất lâm nghiệp với diện tích trên 187.308 m2. Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được triển khai có kết quả, mùa khô 2012-2013 chỉ xảy ra 7 vụ cháy với diện tích 17,91 ha, chủ yếu cháy lớp thực bì dưới tán rừng không ảnh hưởng lớn đến cây rừng. (Đài PT - TH Bình Thuận 19/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
“Bộ trưởng chỉ làm tổng thể, chính sách chứ không thể đến từng cánh đồng, từng cánh rừng để xem việc trồng như thế có đúng quy hoạch hay không”. Đó là trả lời của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát tại phiên chất vấn chiều 19-11 về trách nhiệm trong việc để xảy ra tình trạng phá rừng, trồng vượt quy hoạch hơn 100.000 ha cao su.
Đề cập đến câu chuyện đua nhau phá rừng trồng cao su dẫn đến vượt quy hoạch hơn 100.000 ha, đại biểu (ĐB) Trương Văn Vở (Đồng Nai) đề nghị cho biết giải pháp khắc phục và trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng trên. Đáp lại, ông Phát cho hay trước đây Chính phủ có chủ trương sử dụng một số diện tích rừng nghèo kiệt, ít giá trị để chuyển sang trồng cao su, tạo điều kiện để người nông dân có công ăn việc làm và thu nhập ổn định.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có sơ hở dẫn đến lạm dụng. “Sau khi Chính phủ có chỉ đạo, chúng tôi đã kiểm tra và chỉ cho phép chuyển đổi rừng sang trồng cao su với những dự án đã được quy hoạch, còn lại là dừng không cho chuyển đổi nữa” - ông Phát nói.
Chưa hài lòng với câu trả lời trên, ông Vở truy tiếp: “Đề nghị bộ trưởng cho biết rõ giải pháp xử lý đối với diện tích vượt quy hoạch trên. Thời gian tới có chấm dứt được tình trạng phá rừng trồng cây cao su không? Và trách nhiệm thuộc về ai khi để xảy ra tình trạng này?”.
Đến lúc này ông Phát mới thừa nhận có hơn 100.000 ha cao su trồng vượt quy hoạch nhưng diện tích trồng vượt trên không hẳn do phá rừng mà được trồng trên nhiều diện tích khác nhau, có nơi người dân tự trồng. Riêng về trách nhiệm, ông Phát cho rằng bộ trưởng chỉ làm tổng thể, chính sách chứ không thể đến từng cánh đồng, từng cánh rừng xem việc trồng các loại cây đó có phù hợp không.
Tuy nhiên, về quản lý ngành thì bộ trưởng có trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng trên. Ngoài ra, chính quyền các địa phương cũng phải liên đới chịu trách nhiệm. Vì theo quy định, muốn chuyển đổi thì phải được chính quyền cho phép. “Ở đây Bộ và chính quyền các địa phương có trách nhiệm, có thiếu sót trong việc kiểm tra, giám sát” - ông Phát nói. (Pháp Luật TPHCM 20/11; Tiền Phong 20/11; VOV 20/11; Thanh Niên 20/11; Chinhphu.vn 20/11) đầu trang(
16/27 tỉnh chưa chỉ đạo trồng rừng, chưa thu tiền, chưa phê duyệt phương án trồng rừng đền bù nhưng vẫn cho xây dựng thủy điện.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, ngày 7/11, từ năm 2006-10/2013, cả nước có 205 dự án thuộc 27 tỉnh thành có rừng chuyển đổi sang làm thủy với diện tích gần 20.000ha.
Trong đó, Tây Bắc có 22 dự án với diện tích 2.794ha; Đông Bắc 44 dự án với diện tích 1.306,6ha; Bắc Trung Bộ 22 dự án, với diện tích 4.343,5ha; Nam Trung Bộ 45 dự án với diện tích 2.314,3ha; Tây Nguyên 64 dự án, với diện tích 7.952,2ha; Đông Nam Bộ 6 dự án với diện tích 1.090,4 ha; Tây Nam Bộ 2 dự án với diện tích 5,0ha.
Mặc dù trước đó đã có quy định rất rõ tại Nghị định 23/2006/NĐ-CP về việc trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác. Nghị định quy định đối với các doanh nghiệp, chủ đầu tư có diện tích chuyển đổi rừng làm thủy điện phải có phương án trồng rừng khả thi mới được khởi công công trình; đối với những tỉnh không còn đất trồng rừng thay thế thì phải nộp số tiền theo dự án trồng rừng thay thế được duyệt về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Trung ương để Bộ NN&PTNT bố trí cho tỉnh khác còn quỹ đất trồng rừng thay thế thực hiện.
Tuy nhiên, đến tháng 10/2013 mới có 11/27 tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng hoặc thu tiền để trồng rừng, tương ứng với diện tích trồng rừng là 1.897,6ha/19.805,3ha, đạt 10%.
16/27 tỉnh chưa chỉ đạo trồng rừng, chưa thu tiền hoặc phê duyệt phương án trồng rừng nhưng vẫn cho xây dựng thủy điện gồm: Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lắc, Đăk Nông, Bình Phước và Bình Thuận.
Tình trạng phê duyệt dự án thủy điện bừa bãi, không có phương án trồng rừng thay thế là nguyên nhân khiến hơn 20.000ha rừng bị chuyển đổi làm thủy điện nhưng chỉ có 735ha, bằng 3,7% rừng được trồng lại (theo báo cáo của Bộ NN&PTNT).
Theo một cán bộ Cục Kiểm Lâm, những địa phương có phương án chuyển đổi làm thủy điện nhưng không có phương án trồng lại rừng thực tế còn nhiều. Nhưng danh sách cụ thể lại không được công bố.
Một nguyên nhân nữa được lãnh đạo Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương giải thích là do các địa phương không có quỹ đất để trồng bù rừng nhưng lại không chịu nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng theo quy định để bố trí phương án trồng rừng ở địa phương khác.
Ông Phạm Hồng Lượng, phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Tài chính, Tổng cục Lâm nghiệp khẳng định: "Cho tới nay chưa có một đồng tiền nào của chủ dự án làm thủy điện được gửi về Quỹ”. Nguyên nhân là vì chưa có một cơ chế, chế tài nào quy định việc xử lý, ép buộc doanh nghiệp, chủ đầu tư phải nộp tiền, số tiền cụ thể là bao nhiêu nên mới có hiện tượng có quỹ phát triển rừng mà rừng vẫn mất.
Lý giải việc không chủ đầu tư nào muốn bỏ tiền ra nộp để trồng rừng, ông Lượng cho rằng: Một là việc phê duyệt dự án thủy điện tại địa phương có nhiều bất cập; hai là các chủ đầu tư xây dựng các dự án thủy điện không thực sự quan tâm tới việc trồng hoàn rừng.
Một lãnh đạo Tổng Cục đã ca thán, do các doanh nghiệp, chủ đầu tư không chịu trồng lại rừng nhưng cũng không nộp tiền về quỹ để họ trồng lại rừng. Nguyên nhân, có một phần thuộc trách nhiệm của Bộ Công thương đã không đốc thúc các chủ đầu tư thủy điện trả tiền cho quỹ.
Trái ngược hoàn toàn với Bộ NN&PTNT, ông Lê Tuấn Phong, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Năng lượng khẳng định: "Trong năm 2012, hầu hết các địa phương có các dự án thủy điện lớn, đều thu được hàng trăm tỉ đồng từ các dự án thủy điện. Những địa phương có thủy điện vừa và nhỏ như Sơn La, các tỉnh miền núi phía Bắc cũng thu được hàng chục tỉ đồng. Số tiền này đều nộp về quỹ phát triển rừng".
Ông Phong còn nhấn mạnh, toàn bộ số tiền đó đều đã được chi trả cho người dân để trồng lại rừng. Chỉ một số ít chủ đầu tư gặp khó khăn về tài chính xin nợ đọng.
"Việc tại sao 20.000ha rừng chuyển đổi lại chỉ trồng được 1.000ha rừng là trách nhiệm của Bộ NN&PTNT. Làm thế nào để tiền về quỹ là trách nhiệm của Bộ NN. Tại sao lại đẩy sang Bộ Công thương?", ông Phong đặt câu hỏi.
Tuy nhiên, khẳng định lại lần nữa, ông Lượng cho biết, tới nay quỹ vẫn chưa nhận được một đồng tiền nào từ các chủ đầu tư để trồng hoàn rừng cũng như con số 300 tỉ từ EVN và các doanh nghiệp thủy điện chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trước thực tế đó, Bộ NN&PTNT đề nghị Thủ tướng chỉ đạo ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các chủ đầu tư dự án thủy điện phải trồng lại rừng theo đúng quy định.
Đối với những địa phương không có đất để trồng lại rừng thì yêu cầu chủ dự án nộp tiền vào quỹ phát triển rừng trung ương để Bộ NN&PTNT bố trí trồng rừng ở tỉnh khác.
Từ cuối năm 2012, Bộ NN&PTNT từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012. Theo đó, trong 6 năm, có hơn 20.000 rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Nhưng trong báo cáo mới đây của Bộ NN&PTNT thì có tới 205 dự án thủy điện trên 27 tỉnh thành và có tới 16/27 tỉnh thành không có phương án, không nộp tiền hoặc không trồng lại rừng.
Thực tế, theo rà soát của Bộ Công Thương, con số lại khác hơn rất nhiều. Cụ thể có đến 50.930 ha rừng các loại đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện. Hậu quả, diện tích rừng trồng thay thế chỉ được hơn 1.000 ha, bằng 2% diện tích rừng đã chuyển đổi.
Lý giải con số vênh nhau giữa Bộ Công thương và Bộ NN&PTNT, ông Lê Thái Hà, Chánh văn phòng, kiêm phát ngôn Cục Kiểm Lâm (Bộ NN&PTNT) cho rằng vấn đề này đã được giải quyết, hai bộ đã ngồi lại với nhau và đã làm “đẹp” được các con số.
“Theo chỉ đạo của Chính phủ, sau khi hai bộ ngồi lại với nhau thì thấy các con số cũng không vênh nhau nhiều lắm, chỉ khoảng 10%. Giờ không còn vấn đề số liệu ai đúng, ai sai mà hiện giờ số liệu hai bộ đã khớp nhau, chúng tôi đã thống nhất được các con số”, ông Hà cho biết.
Nói vậy, hai bộ ngồi lại không vì làm thế nào để trồng lại diện tích rừng bị mất, cũng không để làm sao tiền chảy về quỹ mà thực tế, các bộ ngồi lại với nhau là để làm đẹp các con số, đẹp lòng Chính phủ hay để xoa dịu sức nóng của các đại biểu Quốc hội?
Khẳng định nắm rõ thực tế, nhưng ông Hà lại cho biết nó không thuộc thẩm quyền của Bộ NN&PTNT. Bộ NN&PTNT chỉ biết có bao nhiêu công trình, dự án như vậy, song về luận chứng kinh tế, đầu tư, phương án trồng hoàn rừng cụ thể lại do thủy điện và Bộ Công thương quyết định.
Theo quy định tất cả các dự án thủy điện khi được phê duyệt phải có phương án trồng hoàn rừng, tại văn bản chỉ đạo số 363/TB-VPCP ngày 31/10/2012 của Chính phủ cũng đã giao Bộ NN&PTNT phải có trách nhiệm hướng dẫn trồng rừng thay thế đối với các dự án khi chuyển mục đích sử dụng đất có rừng sang xây dựng dự án thủy điện.
Nhưng Bộ NN&PTNT lại không nắm được sơ đồ dự án, phương án trồng hoàn rừng của các chủ đầu tư mà thụ đồng ngồi chờ tiền tự chảy về Quỹ, liệu đã làm hết chức năng, thẩm quyền? Cứ cho là có tiền đi nữa thì, Bộ NN&PTNT sẽ dựa vào cơ sở nào để xây dựng phương án quy hoạch điều tiết trồng lại rừng?
Còn Bộ Công thương liệu có vô can khi hàng loạt các thủy điện được phê duyệt mà không có phương án trồng hoàn rừng? Khẳng định hầu hết doanh nghiệp đều đã nộp tiền, tại sao rừng mất, quỹ vẫn rỗng? Vậy số tiền đó đang ở đâu, đã được sử dụng thế nào?
Bức xúc trước tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, đại biểu Trương Văn Vở, Phó trưởng đoàn Quốc hội tỉnh Đồng Nai yêu cầu: “Phải làm rõ trách nhiệm, không để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm kéo dài được”. (Đất Việt 20/11) đầu trang(
Sau những thành công trong việc xây dựng những mô hình trồng và quản lý rừng ngập mặn để thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Sóc Trăng, Chính phủ Đức sẽ tiếp tục tài trợ tài chính để mở rộng mô hình trồng rừng ngập mặn thích ứng với biến đổi khí hậu cho 5 tỉnh khác ở ĐBSCL.
Ngày 19-11, tại TPHCM đã diễn ra hội nghị thích nghi với biến đổi khí hậu ở vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng do Tổ chức Hợp tác phát triển Đức GIZ (GIZ) thực hiện. Mục đích chính của hội nghị lần này là cùng các bên liên quan chia sẻ kinh nghiệm sau 6 năm thực hiện dự án kể từ khi dự án bắt đầu vào năm 2007.
Theo ông Klaus Schmitt, Cố vấn trưởng dự án GIZ Sóc Trăng, sau 6 năm thực hiện dự án trồng rừng ngập mặn, giáo dục và tuyên truyền cộng đồng biết và thích ứng với biến đổi khí hậu, dự án đã thu được những kết quả khả quan.
Cụ thể, nguồn lợi thủy sản tại vùng ven biển Sóc Trăng đã có nhiều loài thủy sản quay trở lại. Bằng chứng, nhiều người dân trong khu vực không phải đi xa để đánh bắt hải sản. Thu nhập của người dân ở đây, theo khảo sát của GIZ đã tăng 50.000-60.000 đồng/ngày so với thời điểm trước khi có dự án trồng lại rừng ngập mặn.
Deutsche Gesellschaft fuer Internationale Zusammenarbeit (GIZ) GmbH là một tổ chức thuộc Chính phủ CHLB Đức, hỗ trợ Chính phủ Đức hoàn thành các mục tiêu của mình trong lĩnh vực hợp tác quốc tế hướng tới phát triển bền vững. Ba lĩnh vực ưu tiên của hợp tác phát triển giữa Đức và Việt Nam như đào tạo nghề, chính sách môi trường, nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. GIZ đã có mặt tại Việt Nam từ năm 1993, hiện tại đang thực thi 25 chương trình và dự án tại Việt Nam.
“Một trong những mục đích của dự án chúng tôi là cố gắng thử nghiệm những mô hình trồng, cải tạo và quản lý rừng ngập mặn khác nhau. Sau đó, chọn ra những mô hình trồng, quản lý rừng ngập mặn tối ưu nhất để đưa vào tài liệu hướng dẫn người dân”, ông Klaus Schimitt nói.
Theo GIZ, đến thời điểm hiện tại, dự án được đánh giá là đã đạt được mục tiêu đặt ra. Vì thế, sau khi kết thúc dự án vào năm 2014 tại Sóc Trăng, ông Klaus Schimitt cho biết, chính phủ Đức sẽ tiếp tục hỗ trợ để phát triển mô hình này cho 5 tỉnh khác ở khu vực ĐBSCL trong việc trồng rừng ngập mặn để thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.
Theo ông Lê Thành Trí, Phó chủ tịch UBND Sóc Trăng, ĐBSCL là một trong những nơi bị ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu nước biển dâng.
"Việc thích nghi với biến đổi khí hậu cho người dân ở Sóc Trăng hay cả vùng ĐBSCL phải cần một giải pháp tổng thể, trong đó, việc trồng và giữ được rừng ngập mặn là một trong những mấu chốt quan trọng", ông Trí nói. (Tuổi Trẻ 20/11; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 20/11; VietnamPlus.vn 19/11; Công An Nhân Dân 19/11; Nông Thôn Ngày Nay 20/11) đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) khẳng định sẽ liên kết để phát triển bền vững ở thị trường nội địa.
Theo HAWA, trước đây phần lớn người tiêu dùng vẫn chưa quen với thương hiệu đồ gỗ của Việt Nam, chưa nhận diện được chất lượng sản phẩm. Do vậy, hơn 3 năm qua, HAWA đã liên tục tổ chức các kỳ hội chợ đồ gỗ và trang trí nội thất Việt Nam (VIFA Home) nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp (DN) tiếp cận thị trường trong nước, đưa các thương hiệu đồ gỗ mỹ nghệ Việt đến gần hơn với người tiêu dùng.
Cụ thể, những năm trước đó hội chợ do HAWA tổ chức thường chỉ nhắm đến thị trường xuất khẩu. Nhưng từ năm 2010 đến nay, HAWA đã có thêm hội chợ dành cho thị trường trong nước. Hội chợ VIFA Home 2013 vừa kết thúc vào ngày 17.11 vừa qua tại TP.HCM. Qua các kỳ hội chợ như thế này, các DN thể hiện thế mạnh của sản phẩm đồ gỗ Việt, để người tiêu dùng trong nước quen thuộc với các thương hiệu đồ gỗ Việt, cổ súy cho phong trào người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam.
“Qua 3 năm tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm đồ gỗ nội thất sản xuất tại Việt Nam, người tiêu dùng ngày càng quan tâm hơn đến việc mua sắm và trang trí đồ nội thất mang thương hiệu Việt. Đây là tín hiệu đáng mừng cho các nhà sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ trong nước”, HAWA nhìn nhận.
Tuy nhiên, HAWA cũng cho rằng các nhà sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong việc giành lấy thị phần và phát triển một cách bền vững ở thị trường nội địa. Với tình hình kinh tế vẫn chưa được phục hồi hoàn toàn như hiện nay, khó khăn của các DN đồ gỗ nội thất không nằm ở sự đầu tư, công nghệ và nguyên liệu sản xuất, mẫu mã, chất lượng sản phẩm, mà do sức mua của thị trường kém.
Ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch HAWA, đồng thời là Tổng giám đốc Công ty CP thủ công mỹ nghệ gỗ Liên Minh - HAWA CORP, cho biết sức mua của thị trường kém là nguyên nhân làm doanh số bán hàng đồ gỗ ở thị trường nội địa trong 3 năm qua giảm, năm 2012 chỉ đạt 1,7 tỉ USD, trong khi năm 2009 là 2,7 tỉ USD. Doanh số năm nay ước đạt bằng năm 2012.
Theo ông Hạnh, nguyên nhân chính là sự ngưng trệ của các công trình xây dựng (chiếm khoảng 40% doanh số tiêu thụ nội địa). Tuy vậy, các DN thuộc HAWA vẫn lạc quan hơn vào triển vọng của thị trường năm 2014 nhờ Chính phủ đã có những giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô.
“HAWA rất kỳ vọng vào sự phát triển bền vững và thành công của sự liên kết các DN đầu ngành. Sự liên kết, hợp tác sẽ giúp cho các DN dễ dàng nắm bắt nhu cầu của thị trường qua các nhà tư vấn thiết kế, các nhà kinh doanh phân phối sẽ có nguồn cung cấp sản phẩm ổn định với giá hợp lý, làm tăng tính cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ nội thất trong nước so với các sản phẩm nhập khẩu”, ông Hạnh nói. (Thanh Niên 20/11) đầu trang(
Đây là đề tài của nhóm nghiên cứu Vũ Văn Liên, Trần Thị Thanh Bình và cộng sự ở Đại học khoa học Huế.
Nghiên cứu bướm (Lepidoptera, Rhopalocera) được thực hiện ở các sinh cẳnh và độ cao khác nhau ở ba khu rừng đặc dụng là Vuờn quốc gia Ba Vì, Vườn quốc gia Xuân Soĩi và Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc. Tổng số 162 loài, bướm đã được ghi nhận tại ba khu vực, trong đó Xuân Sơn có sô" lượng loài nhiêu nhất (100 loài), tiếp đến là Ba Vì với 92 loài và ít nhất ở Phia Oắc với 66 loài. Một loài có giá trị bảo tồn là Troidesaeacus. Một loài ghi nhận mói cho Việt Nam là Capila pieridoides b Xuân Sơn.
Nhiều loài có sô lượng cá thể thấp từ 1 - 2 cá thể ở một khu vực (50 loài). Một sô loài chỉ thấy ở khu vực núi cao Phia oắc mà không thấy ở Xuân San hay Ba Vì là Artegeia erutae, Parasarpa houlderti, Sumalia daraxa, Athyma jina, Stichophthalma neumogeni, Heliophorus bradha.
Độ tương đồng về thành phần loài cao nhất giữa Ba Vì với Xuân Sơn (54%), thấp hơn giữa Phia oắc với Ba Vì (46%), và thấp nhất giữa Xuân Sơn với Phia Oắc (42%). Thành phần loài ở Phia oắc khá khác so vói ở thành phần loài ở Ba Vì và Xuân Sơn. (Khoa Học Phổ Thông 15/11) đầu trang(
Từ năm 2010 đến năm 2013, toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới gần 45.000 ha rừng, trong đó có 88% diện tích do người dân tự bỏ vốn trồng rừng.
Chỉ tính riêng năm 2013, diện tích rừng trồng mới của tỉnh là 13.787 ha, tổng giá trị đầu tư gần 400 tỷ đồng, thì có tới 90% được huy động từ sức dân. Tuyên Quang đã nâng độ che phủ rừng từ 32% năm 1993 lên 64,7% năm 2013, trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về độ che phủ rừng. (Nông Thôn Ngày Nay 20/11) đầu trang(
Chị Nguyễn Thị Hiền ở thôn 3, xã Văn Phú, TP Yên Bái (tỉnh Yên Bái) sau nhiều năm đã lai tạo thành công giống lợn lai giữa lợn rừng với các thế hệ lợn Mán, qua đó mỗi năm đem lại lợi nhuận cho gia đình từ 400-500 triệu đồng.
Chị Hiền cho biết: Trước đây, gia đình tôi chăn nuôi lợn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, nhưng đợt dịch năm 2008 đã khiến đàn lợn chết gần 100 con. Được sự hỗ trợ của địa phương và người thân, tôi phát triển chăn nuôi trở lại. Rút kinh nghiệm từ đợt dịch 2008, gia đình tôi đã chủ động phát triển mô hình chăn nuôi theo hình thức khép kín, chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn lai.
Theo chị Hiền, lợn lai có sức đề kháng cao, dễ nuôi, thức ăn đơn giản và 80% là chất sơ rau củ quả, ăn sống trực tiếp. Chuồng nuôi lợn cũng rất đơn giản, chỉ cần cách xa khu dân cư và đường sá. Ngoài ra, thịt lợn lai rừng thơm ngon, chất lượng cao, được thị trường chấp nhận, đặc biệt là các thành phố lớn do đó mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi. (Quân Đội Nhân Dân 20/11) đầu trang(
Về xã Trạm Thản (huyện Phù Ninh) vào đúng thời điểm tháng 11, các vườn ươm cây giống lâm nghiệp đều tất bật vào mùa. Nghề này xuất hiện ở Trạm Thản cách đây hơn 10 năm và đến nay ươm cây lâm nghiệp đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt, cho thu nhập cao, tạo việc làm cho bà con nông dân.
Cả xã hiện có khoảng gần 50 hộ làm nghề ươm cây giống, riêng khu 1 có khoảng 40 hộ. Từ năm 2008, theo chương trình của Hội liên hiệp phụ nữ huyện, nhóm ươm giống cây lâm nghiệp của khu 1 đã hình thành. Ban đầu nhóm mới chỉ có 15 hộ, trung bình mỗi năm nhóm có thêm từ 3 đến 4 hộ tham gia. Các loại cây được ươm đều là giống cây lâm nghiệp phổ biến như: Bạch đàn, keo tai tượng, lát, xoan, mỡ…
Khi mới bắt đầu làm, các hộ gặp không ít khó khăn do chưa có hiểu biết về kỹ thuật và sâu bệnh, chưa biết cách ủ và gieo hạt giống đúng cách nên tỷ lệ cây sống không cao, chưa nắm bắt được thị trường nên có tình trạng không xuất bán được cây. Từ khi nhóm ra đời, hàng tháng các thành viên trong nhóm trao đổi với nhau về kinh nghiệm sản xuất, cách tiếp cận thị trường, đặc biệt các thành viên còn đổi công và giúp đỡ nhau trong sản xuất.
Nhờ vậy, khoảng 5 năm trở lại đây, ươm giống cây lâm nghiệp đã phát triển mạnh. Trung bình mỗi hộ làm khoảng 50 vạn cây/năm, trong đó có khoảng 5 hộ làm với quy mô lớn, ươm khoảng 400 vạn cây/năm. Sau khi trừ chi phí, mỗi hộ thu lãi được 30 đến 50 triệu đồng, có hộ thu được trên 100 triệu đồng/năm. Mỗi vườn ươm tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 4 lao động với mức thu nhập bình quân 2,5 triệu đồng/tháng.
Từ mô hình này, các hộ nông dân ở Trạm Thản đã có thêm việc làm, biết áp dụng những kiến thức đã được tập huấn vào sản xuất. Các hộ đã bắt đầu làm chủ trong quy trình sản xuất cây giống với chất lượng tốt, chủ động áp dụng và đưa khoa học kỹ thuật vào ươm giống cây lâm nghiệp. Cây giống không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà còn tiêu thụ ở các tỉnh khác như Thái Nguyên, Yên Bái, Hòa Bình, Bắc Kạn... (Báo Phú Thọ 20/11) đầu trang(
Dù đã đưa vào vận hành sản xuất được gần một năm nay, tuy nhiên, hoạt động của Nhà máy sản xuất ván sàn tre và gỗ ghép thanh ở xã Núa Ngam, huyện Điện Biên vẫn đang gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn nguyên liệu.
Nhà máy sản xuất ván sàn tre và gỗ ghép thanh được xây dựng tại xã Núa Ngam, huyện Điện Biên vào tháng 10 năm 2012. Đây là dự án được đầu tư theo chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre theo Quyết định số 11/2011 của Chính Phủ với tổng kinh phí xây dựng khoảng 250 tỷ đồng với công suất 100.000m3/năm, sản xuất các sản phẩm như: tấm lót đường, tà vẹt đường tàu, tre ép khối làm nhà Zamin và một số sản phẩm nội thất cao cấp khác để xuất khẩu sang thị trường các nước Mỹ, Canada, Đức, Pháp.
Tuy nhiên, sau gần một năm đi vào hoạt động thì vài tháng trở lại đây nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng, thậm chí có tháng không thể hoạt động được. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do thiếu nguồn nguyên liệu phục vụ hoạt động chế biến của nhà máy, bởi hầu hết những diện tích rừng sản xuất đến độ tuổi khai thác hiện nay đều thuộc chương trình 327 và 661. (Đài PT - TH Điện Biên 20/11) đầu trang(
Hàng chục gốc cây, thân cây pơ mu đại thụ đến 3, 4 người ôm không chạm tay vẫn đang rỉ "máu". Hàng trăm tấm gỗ còn tươi rói xếp thành từng đống trong rừng, bên bờ suối. Từng tốp người Mông gò lưng "cõng" những tấm gỗ nặng xệ vai ra khỏi rừng. Đó là hình ảnh mà PV đã ghi được trong khu rừng đặc dụng Tà Xùa, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
Theo số liệu của cơ quan quản lý khu rừng Tà Xùa, khu rừng này có diện tích hơn 17.650ha, trong đó có 15.000ha nằm trong diện bảo vệ đặc biệt. Khu rừng đặc dụng Tà Xùa có 348 loài động vật, 613 loài thực vật, trong đó có 118 loại động, thực vật quý hiếm. Khu rừng có địa hình phức tạp, độ cao trên 1.500m, có điểm cao tới 2.000m so với mặt nước biển. Núi cao, độ dốc lớn nên việc đi lại của người dân ở đây rất khó khăn.
Xã Háng Đồng có 4 bản, 100% đồng bào là người dân tộc Mông. Đời sống của đồng bào còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, nhất là đường đi, trường học, trạm y tế còn tạm bợ. Háng Đồng là xã duy nhất của tỉnh Sơn La chưa có điện lưới. Vì nghèo người dân ở đây phải vào rừng xẻ gỗ bán lấy tiền. Nhà nào không đi xẻ gỗ thì đi gùi gỗ thuê.
Người dẫn đường cho biết, 1 tấm gỗ gùi ra khỏi rừng được trả công 100.000 đồng - 150.000 đồng. Người đến phá rừng Tà Xùa không chỉ ở Háng Đồng mà cả bên xã Suối Tọ (Phù Yên), xã Bản Mù (Trạm Tấu, Yên Bái). Họ đi theo từng tốp, ít cũng 5 - 6 người, đông thì 10 người. Người làm gỗ đem theo gạo, mắm muối, dựng lán ăn ở ngay trong rừng. Lực lượng kiểm lâm đến thì họ tránh đi. Kiểm lâm đi thì họ lại ra làm tiếp. Cán bộ kiểm lâm có thấy cây đổ, gỗ xẻ nằm trên đất cũng bó tay, sức đâu, người đâu mà chuyển xuống núi.
Những người dân ở Háng Đồng cho biết, khu rừng đặc dụng Tà Xùa bị tàn phá từ mấy năm nay. Lực lượng kiểm lâm lập 2 chốt, ăn ở ngay tại cửa rừng nhưng lâm tặc vẫn vác cưa máy vào rừng, chuyển gỗ ra thị trấn như "nhà vô chủ". Ngày đêm "máu" rừng Tà Xùa vẫn chảy. Song, nếu chỉ khoán trắng trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng cho lực lượng kiểm lâm thì rất khó có thể giữ được cả khu rừng Tà Xùa có diện tích rộng tới gần hai chục nghìn ha, với hàng chục cửa rừng. (Thanh Tra 19/11) đầu trang(
Theo thống kê của huyện Ba Chẽ cơn bão số 14 đã khiến cho gần 3.700ha rừng keo, thông, sa mộc trên địa bàn huyện bị gãy đổ, ước tính tổng giá trị thiệt hại trên 30 tỷ đồng, trong đó thiệt hại nặng nhất là xã Thanh Sơn, Đồn Đạc, Nam Sơn và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ.
Anh Nguyễn Văn Nhã, Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ, một trong những đơn vị bị ảnh hưởng nặng nề trong cơn bão vừa qua cho biết: Đến thời điểm này, tổng diện tích rừng của Công ty bị gãy đổ đã lên đến 1.100ha với tổng giá trị thiệt hại khoảng 15 tỷ đồng, trong đó khoảng 700ha là mất trắng, số diện tích còn lại cũng có đến 50% tỷ lệ cây bị gãy đổ không phục hồi được. Cùng với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ, xã Thanh Sơn cũng có đến 1.200ha rừng trồng bị gãy đổ.
Ông Lã Thanh Chương, Chủ tịch UBND xã Thanh Sơn cho biết: Thiệt hại này đối với xã là khá lớn. Vì phần lớn số rừng trồng bị gãy đổ đều là keo, thông, sa mộc mới trồng được 1 đến 2 năm. Cây nhỏ, tận thu cũng không được bao nhiêu, thậm chí một số cánh rừng xa thì thu không đủ chi bởi chi phí mở đường, thuê nhân công cao... trong khi đó việc tiêu thụ lại khó khăn, giá thấp. Hiện hầu như các cơ sở băm dăm gỗ ở Tiên Yên, Cẩm Phả vốn là nơi tiêu thụ sản phẩm gỗ trồng trong khu vực cũng đều đã đầy hàng, một số cơ sở nếu có nhận tiêu thụ thì mức giá cũng giảm từ 10%-15% so với thời điểm trước bão.
Điều đáng nói là vốn đầu tư trồng rừng của hầu hết các chủ rừng đều là vốn vay, bởi vậy việc khắc phục khó càng thêm khó. Tổng Giám đốc Nguyễn Văn Nhã cho biết thêm: Công ty mới chuyển đổi hình thức hoạt động, từ lâm trường sang doanh nghiệp, còn thiếu thốn rất nhiều thứ. Bởi vậy vốn đầu tư trồng rừng đều do vay mượn hoặc hợp tác với các đơn vị bạn.
Ngay như phần lớn diện tích rừng trồng bị thiệt hại trong cơn bão số 14 vừa qua đều nằm trong chương trình đặt hàng của ngành Than, do ngành Than ứng vốn trồng rừng. Với thiệt hại lớn thế này, Công ty chưa biết tính làm sao, nhất là trong hai năm tới đây, khi đến kỳ giao sản phẩm chúng tôi biết lấy đâu ra gỗ để trả sản phẩm theo cam kết.
Ông Lê Minh Hải, Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ cho biết: Như đã biết thì thiệt hại về lâm nghiệp do cơn bão số 14 gây ra trên toàn tỉnh khá lớn, trong đó có huyện Ba Chẽ. Từ cơ chế của tỉnh cũng như sự nỗ lực của địa phương, hiện nay chúng tôi đang cố gắng dành kinh phí hỗ trợ cho những hạng mục, công trình cấp thiết như dựng nhà cho các trường hợp bị sập, sửa chữa nhà bị hư hỏng, khắc phục công trình nước sinh hoạt cho bà con, sửa chữa cầu cống đảm bảo an toàn giao thông…
Còn đối với thiệt hại về rừng trồng, vẫn biết là giá trị tổn thất rất lớn nhưng trước mắt chúng tôi chỉ có thể động viên, hướng dẫn bà con tận thu, kết nối cho bà con bán thành phẩm cho các cơ sở băm dăm gỗ chứ thật sự là chưa có nguồn nào dành cho việc này cả…
Thực tế thiệt hại về lâm nghiệp do cơn bão 14 gây ra ở Ba Chẽ nói riêng, toàn tỉnh nói chung khá lớn. Theo thống kê sơ bộ, toàn tỉnh đã có gần 7.000ha rừng bị gãy đổ, trong đó thiệt hại nặng nề nhất là Ba Chẽ, Cẩm Phả, Tiên Yên... Sự thiệt hại này đã và đang khiến cho các chủ rừng khó càng thêm khó. Bởi vậy thiết nghĩ các địa phương, đơn vị chức năng cần xem xét cơ chế hỗ trợ thiết thực giúp đỡ các chủ rừng vượt lên sau bão. (Báo Quảng Ninh 19/11) đầu trang(
Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Khánh Hòa vừa có kết luận điều tra vụ án “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Vụ việc này xảy ra tại huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) tháng 9/2012. Hiện Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Khánh Hòa đề nghị VKSND tỉnh truy tố 5 bị can, trong đó 4 nguyên sĩ quan công an huyện Khánh Sơn.
Như báo đã đưa tin, giữa tháng 9/2012, có hàng nghìn người đến khu vực rừng Gộp Ngà (Sơn Trung, Khánh Sơn) để tìm kiếm trầm, kỳ nam. Ngày 24/9/2012, UBND huyện Khánh Sơn thành lập đội liên ngành, nhằm ngăn chặn việc đào bới, đưa người tìm trầm ra khỏi rừng.
Nhưng chỉ vài ngày sau, nhiều người dân tố cáo một số cán bộ Công an trong đội liên ngành đã chiếm đoạt trầm kỳ do họ tìm được. Cơ quan CSĐT, Công an Khánh Hòa tiến hành điều tra vụ việc này, xác định có hai nhóm người tìm được trầm kỳ trong đêm 26/9/2012, và đều phải giao cho sĩ quan Công an huyện Khánh Sơn trong đội liên ngành.
Nhóm thứ nhất của ông Nguyễn Ngọc Thừa (trú Đại Nghĩa, Đại Lộc, Quảng Nam) kết hợp với nhóm của ông Trần Văn Khánh (còn gọi là Khánh Trắng, trú khóm 2, thị trấn Tô Hạp, Khánh Sơn).
Tối 26/9/2012, ông Nguyễn Ngọc Thừa đào được một cục trầm kỳ, sợ bị nhóm khác cướp mất nên đã giao cho Trần Lệ Kiên, lúc đó là Thượng úy, Phó đội trưởng Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp, Công an Khánh Sơn. Sau đó, ông Nguyễn Thành Trung (lúc đó vừa bị giáng cấp từ Thượng tá xuống Trung tá, giáng chức từ Trưởng xuống Phó trưởng Công an huyện Khánh Sơn) đem cục trầm kỳ đi tiêu thụ.
Bán được cục trầm kỳ, ông Trung đưa cho nhóm của ông Thừa 1,6 tỷ đồng, đưa cho Vũ Anh Trung (lúc đó là Thiếu tá, Đội trưởng Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường, Công an Khánh Sơn) 1,4 tỷ đồng, đưa cho nhóm của Luân Văn Nam (tức Nam “lụi”, trú tại thị trấn Tô Hạp, Khánh Sơn) 800 triệu đồng. Với 1,4 tỷ đồng, Vũ Anh Trung chia cho số cán bộ Huyện đội Khánh Sơn trong đội liên ngành 220 triệu đồng, phần còn lại chia cho một số Công an trong đội liên ngành. Cơ quan CSĐT, Công an Khánh Hòa đã thu hồi đủ 1,4 tỷ đồng này.
Tối 26/9/2012, nhóm đào trầm của ông Huỳnh Trung Nghĩa (còn gọi là Gồ em, trú tại thôn Trung Dõng 2, Vạn Bình, Vạn Ninh, Khánh Hòa) cũng đào được 1 cục trầm kỳ, dài khoảng 20cm. Luân Văn Nam đòi ông Nghĩa đưa cục trầm kỳ cho mình, rồi giao lại cho Nguyễn Hồng Hà (khi đó là Trung tá, Đội trưởng Đội CSGT, Công an Khánh Sơn). Nguyễn Hồng Hà đưa lại cục trầm cho Nam cất giữ, ngày 30/9/2012 Nam đưa cục trầm kỳ cho ông Nguyễn Thành Trung.
Ông Trung bán cục trầm kỳ được 350 triệu đồng, chia cho nhóm của Nam 130 triệu đồng, chia cho Nguyễn Hồng Hà 195,5 triệu đồng. Sau khi vụ việc vỡ lở, Nguyễn Hồng Hà đã nộp lại số tiền được nhận cho Công an huyện Khánh Sơn.
Ngày 1/4/2013, Cơ quan CSĐT, Công an Khánh Hòa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Vũ Anh Trung, Trần Lệ Kiên, Nguyễn Hồng Hà, với tội danh “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Ngày 10/6/2013, đến lượt Nguyễn Thành Trung và Luân Văn Nam bị bắt tạm giam về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. (Tiền Phong 20/11; Tuổi Trẻ 19/11; Thanh Niên 19/11)đầu trang(
Thời gian gần đây, trên đại bàn xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa xuất hiện một nhóm “đá tặc” hằng ngày lập lán, đốt phá, đào khoét những khu rừng nguyên sinh để tìm đá xanh quý hiếm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan, môi trường, gây mất an ninh trật tự.
Bên cạnh các địa điểm đã khai thác không thấy hoạc các điểm khai thác đã xong bị bỏ, nhiều hầm trong lòng đất có thể gây nguy hiểm cho việc đi lại của cư dân khi vào rùng đốn củi. Khu vục xã Xuân Lẹ này có khoảng trên 150 ha rừng nguyên sinh bị các đối tượng này đtriệt hạ để tìm kiếm đá quý.
Tình trạng khai thác đá xanh trái phép này diễn ra trong suốt thời gian dài, nhưng lại không hề bị chính quyền địa phương cũng như các cơ quan chức năng ngăn chặn? Điều quan trọng là địa điểm khai thác nằm ngay trong vùng đệm Khu Du lịch sinh thái Xuân Liên khiến rừng nguyên sinh bị tàn phá một cách trầm trọng.
Ông Cầm Bá Xuân - Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân, cho biết: Việc khai thác đá xanh dưới hình thức nhỏ lẻ diễn ra ở đây từ lâu. Trước đây, các đối tượng chỉ nhặt đá lộ thiên, chứ không tổ chức đào bới như bây giờ. Để dẹp bỏ tình trạng này, UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ngành chức năng, UBND các xã vùng trọng điểm an ninh rừng thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát.
Theo báo cáo nhanh về tình hình an ninh rừng trên địa bàn và kết quả kiểm tra, ngăn chặn tình trạng khai thác khoáng sản tại tiểu khu 526 xã Xuân Lẹ ngày 12/9/2013 của Hạt Kiểm lâm huyện, qua rà soát phát hiện tại khu vực lô 2, khoảnh 6, tiểu khu 526 (thôn Liên Sơn, xã Xuân Lẹ) thuộc diện rừng phòng hộ đang giao cho hộ gia đình quản lý, bảo vệ có hiện tượng người dân trong vùng hoặc từ các huyện lân cận đến dựng lều để đào bới, khai thác đá quý trái phép, làm ảnh hưởng không nhỏ tới an ninh rừng và trật tự an toàn xã hội trong khu vực.
Hạt Kiểm lâm đã chỉ đạo kiểm lâm viên địa bàn tham mưu cho UBND xã Xuân Lẹ tổ chức lực lượng kiểm tra, truy quét, phá bỏ lán trại, ngăn việc đào bới khai thác khoáng sản trái phép nhưng cũng chỉ được một thời gian đâu lại vào đó.
Từ đầu năm đến nay, UBND xã Xuân Lẹ đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức 3 đợt kiểm tra. Lần thứ nhất từ ngày 25 - 28/2/2013, lần thứ 2 từ ngày 10 - 11/5/2013. Lần thứ 3 từ ngày 10 - 12/9/2013, một lực lượng mạnh bao gồm lực lượng từ Kiểm lâm, Công an huyện, UBND xã Xuân Lẹ chia làm 2 tổ truy quét, phá bỏ lều lán của các đối tượng.
Hiện trường khai thác chủ yếu tập trung tại 3 điểm, chiếm diện tích khoảng 4 ha, trong đó có 2 điểm đào mới và 1 điểm đào từ thời gian trước đây. Lực lượng cũng phát hiện 10 lán, trại, trong đó có 4 lán trại tương đối rộng và 6 lán che nắng tạm thời. Tổ công tác đã tháo dỡ, tiêu hủy toàn bộ số lán, trại cùng dụng cụ phương tiện phục vụ khai thác đá, nhưng cũng chỉ được một thời gian sau bọn chúng lại làm lại rất khó khăn cho công tác quản lý địa bàn.
Ông Xuân cho biết thêm: "Anh em làm thì bài bản, nhưng do không có tổ công tác thường trực, nên khi lực lượng rút ra, các đối tượng lại quay lại tiếp tục khai thác tiếp.
Được biết, tiểu khu 526 thôn Liên Sơn thuộc địa bàn hiểm trở, lại xa khu dân cư, phía Tây giáp các huyện Quỳ Châu, Quế Phong (Nghệ An). Chính vì thế, việc đi lại của lực lượng chức năng gặp nhiều khó khăn, công tác kiểm tra, giám sát, ngăn chặn đối tượng từ địa bàn khác đến khai thác khoáng sản còn nhiều bất cập.
Theo Hạt trưởng Hạt Kiểm Lâm Thường Xuân Lê Phú Vẽ, khai thác đá ở Xuân Lẹ diễn biến lai rai nhiều năm nay, có thời điểm anh em chúng tôi đã làm cho bọn chúng tương đối ổn định, nhưng rồi lại bùng lên. Tuy nhiên, khi tổ công tác vào thì chúng giải tán, cứ dẹp xong lại tái hoạt động. Việc cắm chốt tại chỗ 3 ngày/1 lần trực đã từng được triển khai, nhưng do khó khăn về kinh phí, địa hình hiểm trở đã gây khó cho việc thực hiện.
Trước diễn biến phức tạp của tình trạng này, ỗng Vẽ cho rằng, cần có sự tăng cường lực lượng từ Công an, Bộ chỉ huy Quân sự huyện vào cuộc. Mặt khác cần đầu tư kinh phí để tiến hành kiểm tra, xử lý dứt điểm. Hiện Hạt Kiểm lâm đã tham mưu, kiến nghị các phương án với UBND huyện nhằm xây dựng chiến lược dài hơi, giải quyết kịp thời các vấn đề, bảo vệ tài nguyên rừng và an ninh trật tự trên địa bàn. (Đời Sống&Pháp Luật 20/11) đầu trang(
Quảng Ninh có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn, chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Tuy nhiên, công tác quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất (GCNQSDĐ) đối với loại đất này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ.
Theo báo cáo của Đoàn kiểm tra liên ngành (Sở TN&MT, Sở NN&PTNT), diện tích đất rừng do các tổ chức quản lý, sử dụng trên toàn tỉnh là 203.287,6ha, đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng là 129.938,7ha; đất chưa giao do các địa phương đang quản lý là 83.553,6ha; đất do các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng nhưng chưa được giao 10.427ha (do vướng quy hoạch 3 loại rừng hoặc do các hộ dân chưa đủ điều kiện giao đất); đất nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng là 1.170,7ha.
Năm 2007, sau khi UBND tỉnh phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, Sở NN&PTNT đã thực hiện hướng dẫn các địa phương, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ đặc dụng bàn giao đất lâm nghiệp (những diện tích chuyển đổi) về địa phương quản lý và lập đề án giao đất, giao rừng kết hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Tuy nhiên, đến nay sau hơn 5 năm mới có huyện Hoành Bồ thực hiện xong, huyện Ba Chẽ đang triển khai, còn lại các địa phương khác đều chưa thực hiện. Sau khi nhận diện tích đất lâm nghiệp bàn giao từ các lâm trường về, có nhiều địa phương lại chưa thực hiện bàn giao ngay cho hộ dân, chính vì vậy mà diện tích đất lâm nghiệp chưa bàn giao hiện do các địa phương quản lý còn tới trên 83.553ha.
Vì chưa giao cho các hộ dân nên rừng, đất lâm nghiệp dù rằng do xã, huyện quản lý nhưng thực tế vẫn trong tình trạng vô chủ hoặc quản lý lỏng lẻo nên người dân lấn chiếm, sử dụng bất hợp pháp, dẫn đến những tranh chấp, xâm lấn trái phép. Đây cũng là lý do ảnh hưởng đến tiến độ cấp GCNQSDĐ.
Bên cạnh những khó khăn trên phần lớn các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh được UBND các địa phương giao rừng tự nhiên hoặc rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước trước đây, có hộ đã được cấp GCNQSDĐ (từ năm 1990 đến năm 1993 và rải rác đến năm 1997) để khoanh nuôi bảo vệ đã tự ý thay thế rừng được giao bằng rừng trồng (chặt rừng tự nhiên và rừng trồng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước để trồng lại rừng).
Việc thay thế này diễn ra trong thời gian dài, diễn biến phức tạp nên khó xác định chính xác được thời điểm rừng bị thay thế. Cho đến thời điểm khi tiến hành việc cấp và cấp đổi GCNQSDĐ gặp vướng mắc do không xử lý được việc hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao rừng để khoanh nuôi bảo vệ đã tự ý thay thế rừng được giao bằng rừng trồng.
Bên cạnh đó, theo quy hoạch rà soát lại 3 loại rừng theo Quyết định số 4903/2007/QĐ của UBND tỉnh thì một số hộ dân trước đây được giao đất rừng sản xuất nay theo quy hoạch rà soát lại 3 loại rừng thì diện tích được giao nằm trong quy hoạch rừng phòng hộ và một số hộ gia đình được giao đất trước đây là đất rừng phòng hộ nay theo quy hoạch rà soát lại 3 loại rừng thì thuộc đất rừng sản xuất, đối với các trường hợp này việc xử lý tài sản rừng trước khi cấp GCNQSDĐ gặp vướng mắc do khi chuyển từ rừng sản xuất sang rừng phòng hộ và chuyển từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất, chế độ sử dụng đất và rừng khác nhau ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân.
Đơn cử khi người dân được giao đất rừng sản xuất để trồng rừng thì người dân có quyền khai thác một phần hoặc toàn bộ rừng mà mình đầu tư để trồng rừng tại bất kỳ thời điểm nào nhưng khi chuyển sang rừng phòng hộ thì chỉ được khai thác từng phần diện tích rừng vào những khoảng thời gian nhất định và phải được phép của cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, việc xác định nguồn gốc sử dụng đất khó khăn, phức tạp. Bởi không ít trường hợp các hộ gia đình, cá nhân tự khai hoang, tự chia tách rồi cho, nhượng, thừa kế sử dụng đất mà không thông qua chính quyền địa phương, không có các loại giấy tờ để chứng minh nguồn gốc đất theo quy định của Luật Đất đai.
Trước những khó khăn, vướng mắc trên, UBND tỉnh giao cho Sở TN&MT, Sở NN&PTNT rà soát và kiên quyết xử lý, thu hồi diện tích đất rừng mà các doanh nghiệp đã được giao nhận nhưng sử dụng không hiệu quả, giao cho các hộ dân có nhu cầu thật sự để sản xuất, phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng từ đất rừng.
Đồng thời, Sở Tài nguyên và Môi trường đã làm việc với các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng, đề nghị các đơn vị này rà soát diện tích đất đang quản lý sử dụng. Qua đó, lập hồ sơ điều chỉnh ranh giới giao đất và GCNQSDĐ đã cấp theo đúng diện tích thực tế đang quản lý. Bởi diện tích đất lâm nghiệp của tổ chức chưa được cấp GCNQSDĐ là 86.554,16ha, tập trung chủ yếu là đất của 11 đơn vị đang sử dụng đất là các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp, các tổ chức được giao quản lý đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.
Sở Tài nguyên và Môi trường đã báo cáo UBND tỉnh có văn bản chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc về giao đất giao rừng theo Thông tư 07/2011 của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hiện nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đang đôn đốc đơn vị tư vấn đẩy nhanh tiến độ đo vẽ hiện trạng quản lý sử dụng đất, cắm mốc ranh giới đối với các tổ chức này để phục vụ công tác giao đất và cấp GCNQSDĐ.
Nhờ những giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đất lâm nghiệp, đến hết 30-9 tỷ lệ cấp giấy đất lâm nghiệp đã đạt 87,49%, hoàn thành tiến độ theo chỉ đạo của UBND tỉnh. (Báo Quảng Ninh 20/11) đầu trang(
Báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết: Diện tích rừng trong lưu vực sông Đồng Nai trên địa bàn tỉnh là gần 436.000 ha, gồm 3 loại rừng: rừng đặc dụng trên 41.000 ha (chiếm 9,6%); rừng phòng hộ 136.800 ha (chiếm 31,4%); rừng sản xuất 257.120 ha (chiếm 59%).
Trong những năm qua, dù địa phương đã có nhiều chủ trương và biện pháp để bảo vệ và phát triển rừng trong lưu vực sông, tuy nhiên diện tích rừng và đất rừng vẫn bị giảm một cách đáng kể. Đến hết năm 2009, mới chỉ giảm trên 2,6%, nhưng đến năm 2013, con số này đã là 4,3% so với số liệu tổng kiểm kê của năm 1999.
Nguyên nhân chính gây mất diện tích rừng được cho là: Do dân số tiếp tục gia tăng, nên nhu cầu sử dụng đất càng nhiều; năng suất cây trồng nông nghiệp và cây công nghiệp thấp nên dẫn đến thu nhập và sinh kế cộng đồng hộ, hộ dân giảm, từ đó tạo áp lực mở rộng diện tích sản xuất cây trồng vào đất rừng.
Thêm vào đó, thủy điện cũng một phần là nguyên nhân dẫn đến diện tích đất rừng bị giảm. Theo thống kê, từ năm 2006 đến nay, đã có 1.886 ha đất rừng tự nhiên chuyển đổi sang xây dựng các công trình thủy điện.
Bên cạnh diện tích đất rừng giảm, rừng ở lưu vực sông Đồng Nai trên địa bàn Lâm Đồng cũng đang có dấu hiệu suy thoái cao. Cháy rừng; chưa thực hiện tố các giải pháp lâm sinh (khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng, nuôi dưỡng rừng hợp lý); khai thác chọn gỗ rừng tự nhiên với tác động còn cao, nên khả năng phục hồi của rừng chậm; tình hình mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng tăng và chưa được xử lý triệt để... là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái của rừng. (Báo Lâm Đồng 20/11) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, 10 tháng của năm 2013, toàn tỉnh xảy ra 58 vụ phá rừng trái pháp luật. Mục đích phá rừng để chiếm đất trồng mì, điều, cao su. Tổng diện tích rừng tự nhiên bị thiệt hại là 60,762 ha, so với cùng kỳ năm 2012 giảm 20 vụ, nhưng diện tích rừng thiệt hại tăng 24,446 ha.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã củng cố hoạt động và tổ chức lại các đơn vị bảo vệ rừng tại Lộc Ninh và Bù Gia Mập. Tại huyện Lộc Ninh, đã củng cố lại 2 ban quản lý rừng phòng hộ Tà Thiết và Lộc Ninh, do giám đốc 2 ban này bị khởi tố hình sự về trách nhiệm bảo vệ rừng.
Tại đây, ngành chức năng đã phát hiện 38,28 ha thuộc diện tích rừng chừa lại khoanh nuôi, bảo vệ trong dự án chuyển đổi rừng sang trồng cây cao su bị phá và lấn chiếm trồng cao su, điều từ năm 2011. Hiện Hạt kiểm lâm đã phối hợp với các cơ quan pháp luật của huyện Lộc Ninh xác minh hiện trường, điều tra để xử lý theo thẩm quyền.
Trên địa bàn huyện Bù Gia Mập, tại Nông lâm trường Đắk Ơ thuộc Công ty TNHH MTV cao su Phước Long, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, quá trình rà soát, bàn giao đã phát hiện nhiều vụ phá rừng từ năm 2011, 2012 trở về trước, nhưng các chủ rừng không nắm được và không báo cáo các cơ quan chức năng. Tại đây, trong quá trình bàn giao giữa lãnh đạo cũ và mới của Nông lâm trường Đắk Ơ (tháng 2-2013) đã xảy ra nhiều vụ phá rừng nhưng không được chủ rừng phát hiện, báo cáo.
Hạt kiểm lâm đã xác minh, lập hồ sơ xử lý và Công ty TNHH MTV cao su Phước Long cũng đã xử lý kỷ luật các cán bộ, nhân viên có liên quan từ hình thức khiển trách (10 người) đến cảnh cáo (4 người). Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã Đắk Ơ (Bù Gia Mập).
Như vậy, thực tế diện tích rừng bị phá trái pháp luật 10 tháng của năm 2013 chỉ là 22,482 ha, chủ yếu xảy ra trên địa bàn huyện Bù Gia Mập (35 vụ, với 12,89 ha), hầu hết là do các đối tượng người dân tộc thiểu số tại chỗ thực hiện.
Với sự cố gắng của các chủ rừng, lực lượng chức năng các địa phương, đến nay tình hình phá rừng đã giảm. Trong quý 3/2013, toàn tỉnh chỉ xảy ra 1 vụ phá rừng tại khoảnh 5, Tiểu khu 318 Nông lâm trường Nghĩa Trung, Công ty TNHH MTV cao su Sông Bé (Bù Đăng), nhưng chưa xác định được đối tượng thực hiện. (Báo Bình Phước 20/11) đầu trang(
Ở cửa khẩu sân bay Tambo, khi PV làm thủ tục nhập cảnh Nam Phi, nhân viên hải quan nhìn PV chằm chằm sau khi xem hộ chiếu: “Ông đến Nam Phi làm gì? Ở lại bao lâu? Ông đi cùng ai?” PV hơi bất ngờ nhưng cũng đoán được nguồn cơn thái độ thiếu thiện chí này, bởi đã được nghe về những vụ buôn bán sừng tê giác bị bắt tại Nam Phi, trong đó người Việt Nam chiếm đa số!
Sau những chặng dừng nghỉ ở nhiều nơi, nhóm PV đón chào một ngày mới ở khu bảo tồn thiên nhiên Imfolozi. Hôm nay là một ngày đặc biệt vì nhóm PVi có cơ hội đi săn tê giác đen để... bảo tồn.
Sau gần một giờ đồng hồ chạy ôtô, PV đến nơi tập kết. Tất cả mọi người đã có mặt và sẵn sàng cho chuyến đi săn, từ bác sĩ thú y, nhân viên bảo tồn, các nhà nghiên cứu cho tới những chiếc trực thăng, xe chuyên dụng dùng để chở tê giác. Các nhà báo đến từ VTV1, Green Renaissance Film Crew, Africa TV… cũng có mặt đầy đủ với các thiết bị sẵn sàng cho những cảnh quay đắt giá.
Tiến sĩ Jacques Flamand – trưởng dự án bảo tồn, mở rộng vùng phân bố của loài tê giác đen (thuộc quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên – WWF) phổ biến cho cả đoàn về công việc săn tê giác. Dù gần 70 tuổi nhưng Flamand trông vẫn khoẻ mạnh, hoạt bát và năng nổ. Nhóm PV gọi ông bằng cái tên thân thiện “God father” (bố già), vì ông là chỉ huy chính ở đây.
“Bố già” cho biết: “Dự án bảo tồn, mở rộng vùng phân bố của loài tê giác đen của WWF được Chính phủ Nam Phi đồng ý cho phép hoạt động trong vòng ba năm, nhưng sau khi hoàn tất đã thành công ngoài mong đợi, nên chính phủ quyết định cho phép WWF tiếp tục thực hiện dự án này, đến nay đã mười năm và hàng trăm con tê giác đen đã được di chuyển đến vùng sinh cảnh mới, có 45 con tê giác con đã ra đời”.
Sau khi lượn vài vòng trên không, nhóm PV phát hiện hai con tê giác đen đang ăn sáng ở một bụi cây lớn. Chiếc trực thăng lập tức hạ độ cao và đuổi con tê giác lớn hơn chạy đến bãi đất trống, nơi các đồng nghiệp khác với phương tiện đặc chủng có thể tiếp cận được. Từ trên cao, người kiểm lâm da đen ngồi cạnh tôi nhanh nhẹn đưa cây súng bắn thuốc mê ra ngoài cửa trực thăng.
Khẩu súng rung nhẹ và mũi kim thuốc mê đã trúng vào mông con tê giác. Sau này PV mới biết anh là tay súng chuyên nghiệp đã từng bắn vài trăm con như thế. Bị trúng mũi kim, con tê giác đen bất ngờ lao đi với tốc độ khủng khiếp trong khu rừng chằng chịt bụi rậm, nhưng chỉ vài phút sau con vật ngã xuống khi đã ngấm thuốc. Nhận được tín hiệu từ trực thăng, các nhân viên bảo tồn dưới mặt đất gấp rút di chuyển đến khu vực con tê giác đen đang nằm bất động.
Rất chuyên nghiệp, các nhân viên bảo tồn phát quang những bụi cây nhỏ xung quanh và dùng thiết bị bịt tai con tê giác – vì đây là giác quan nhạy cảm nhất của loài thú cổ đại này. Tiếp theo, con tê giác được bịt mắt, tưới nước lên người, xịt thuốc tím vào các vùng da bị trầy xước…
Bác sĩ thú y lấy mẫu máu, mẫu lông đuôi, mẫu da và mẫu sừng để phân tích ADN, rất quan trọng để so sánh với sừng tê giác tịch thu được từ bọn săn trộm nhằm tìm ra nguồn gốc con tê giác bị săn ở vùng phân bố nào.Chuyên gia gắn chíp bắt đầu khoan hai mũi sâu vào chiếc sừng lớn (sừng trước) để gắn hai con chíp, nhờ đó sau này có thể kiểm tra nguồn gốc phân bố cũng như đường đi của con tê giác sau khi được thả vào vùng sinh cảnh mới.
Khi được hỏi về quy trình tiêm thuốc độc vào sừng tê giác, tiến sĩ Jo Shaw (điều phối viên chương trình Bảo tồn tê giác của WWF) cho biết: “Quy trình cũng gần giống như việc gắn chíp, các bác sĩ sẽ khoan một lỗ nhỏ, dài và sâu trong thân sừng để tiêm một loại thuốc cực độc nhằm chống săn trộm. Loại thuốc này không phát tán vào cơ thể tê giác vì sừng không có các mao mạch dẫn truyền, chất độc chỉ tồn tại ở dạng keo cứng trong sừng và chiếc sừng của con tê giác đó sẽ được sơn màu đỏ để cảnh báo những kẻ săn trộm”.
Sau khi công việc hoàn tất, con tê giác đen được đưa lên xe đặc chủng để đưa đến vùng định cư mới của nó cách đấy vài trăm cây số.
Vì các khớp xương bả vai trước của loài tê giác rất yếu nên các nhân viên bảo tồn không thể lôi nó vào thùng xe chuyên dụng mà phải làm cho nó tỉnh dậy. Bác sĩ thú y chích một mũi thuốc vào tĩnh mạch chủ ở vành tai con tê giác để đánh thức nó. Mọi người cùng đếm từ 1 – 20: đó là thời gian cho con tê giác tỉnh thuốc mê. Ngay khi nó vừa thức giấc, tất cả cùng đẩy, kéo, chích điện vào mông con tê giác để nó tiến thẳng vào thùng. Những người không có phận sự và kinh nghiệm đều phải tránh xa để đề phòng bất trắc.
Nhưng vì ánh mắt tò mò, háo hức của PV, “bố già” Flamand cho phép PV tham gia công việc này như một ngoại lệ. Lần đầu tiên trong đời, PV được chạm tay vào một con tê giác còn sống và chiếc sừng rất to của nó. Đây là cảm xúc vô cùng đặc biệt, bởi những ngày sau đó, tôi được tiếp xúc với nhiều con tê giác khác nữa, nhưng với sự đau lòng khôn tả.
Nhiệm vụ hoàn tất. Mọi người hồ hởi dù nhiệt độ ngoài trời thời điểm đó là hơn 400C. Nhóm PV lên trực thăng để tìm kiếm con tê giác đen khác. Với những con tê giác bị ngã thuốc tại khu vực hiểm trở mà các xe chuyên dụng không thể tiếp cận được, thì một chiếc máy bay trực thăng cỡ lớn sẽ được điều đến để cẩu nó đến nơi thuận tiện hơn cho nhân viên bảo tồn xử lý. (Sài Gòn Tiếp Thị 20/11) đầu trang(
Ngày 1/1/2013, Báo Tiền Phong có bài viết “Sưa tặc lộng hành táo tợn giữa trung tâm Hà Nội”, phản ánh việc kẻ gian táo tợn cưa trộm cây sưa đỏ trước cửa nhà số 75 Lý Thường Kiệt, quận Hoàn Kiếm.
UBND TP Hà Nội cho biết, sau khi Tiền Phong đăng tin, ông Nguyễn Văn Khôi, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội, đã giao Công an TP chủ trì phối hợp với các Sở Xây dựng, Giao thông vận tải, UBND quận Hoàn Kiếm và các đơn vị chức năng điều tra, giải quyết, xử lý nghiêm hành vi chặt trộm sưa trên địa bàn. (Tiền Phong 20/11) đầu trang(
Vừa qua, Chi cục bảo vệ môi trường (thuộc Sở Tài nguyên&Môi trường tỉnh Thanh Hóa) kiểm tra và lập biên bản xử phạt hành chính 5 cơ sở chế biến lâm sản gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn huyện Quan Hóa (mỗi cơ sở phạt từ 10-50 triệu đồng).
Các cở sở gồm: Công ty TNHH thương mại vận tải Hoàn Vân, Hợp tác xã Xuân Dương (đều ở xã Hồi Xuân); Hợp tác xã Hợp Phát, Hợp tác xã Sông Mã, Hợp tác xã Hà Long (đều xã Xuân Phú, huyện Quan Hóa).
Qua kiểm tra của Chi cục bảo vệ môi trường tại các cơ sở chế biến nêu trên đều cho thấy nước rò rỉ từ các bể ngâm kiềm lạnh, nước thải bốc mùi hôi thối được dẫn theo mương thoát nước, thải trực tiếp ra sông Mã. Các cơ sở này chưa xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thu gom, xử lý nước thải sản xuất, nên liên tục chảy ra sông Mã.
Kết quả phân tích chất lượng nước thải ra môi trường tại các cơ sở nêu trên vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần. Bên cạnh đó, các cơ sở trên đều chưa có giấy phép khai thác nước mặt theo quy định. Các cơ sở này còn đổ chất thải rắn trong quá trình chế biến lâm sản bên bờ sông Mã như: tro xỉ lò đốt cấp hơi, mùn cưa, rác luồng, rác thải sinh hoạt; vỏ bao chứa xút, vỏ bao chứa lưu huỳnh rất nguy hại cho môi trường… (Tài Nguyên&Môi Trường 19/11; Thanh Niên 20/11) đầu trang(
Báo Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Hoạt động buôn bán, vận chuyển động vật hoa dã trái phép xuất hiện tại một số xã thuộc huyện Tân Biên. (Quân Đội Nhân Dân 20/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát trả lời chất vấn sẽ là điểm nóng nghị trường, bởi vì sự xuất hiện của vị bộ trưởng này ngay sau khi cơn hồng thủy vừa xảy ra tại miền Trung, gây ra thiệt hại rất lớn chưa thể tính hết về người và của.
Có thể sẽ có những biện luận rằng, lũ là do thiên tai. Nhưng dân chúng hôm nay không nhìn lũ theo trời mà nhìn qua việc làm của con người, tên thường gọi đó là “nhân tai”.
Nhân tai ở đây là nạn phá rừng. Trịnh Công Sơn từng tiên tri về chuyện này với ca khúc “Rừng xưa đã khép”. Không sai, rừng ngày xưa nay về cơ bản đã hết sạch rồi. Và đó là căn nguyên cho những cơn lũ khủng khiếp đổ về, tàn phá nhà cửa, ruộng vườn, công trình như đã xảy ra.
Trong muôn triệu khối nước đổ về miền hạ du và đồng bằng có biết bao nhiêu khối nước xả ra từ các công trình thủy điện. Vậy thì, thủy điện có hai “tội ác”, một là xả lũ và hai là phá rừng.
Mỗi một công trình thủy điện mọc lên, có biết bao nhiêu cánh rừng đầu nguồn, rừng quốc gia bị san bằng?
Có thể sẽ có lời biện luận rằng, thủy điện là do Bộ Công thương, do quyết định của các địa phương, không phải của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Nhưng sẽ không thể không nói đến trách nhiệm của ngành nông nghiệp, bởi lẽ rừng là do chính ngành này quản lý.
Nếu như ngành nông nghiệp kiên quyết bảo vệ rừng bằng chính sự quyết tâm, bằng tầm nhìn xa rộng, bằng sự chứng minh về hậu quả mà các cơn lũ gây ra về sau thì sẽ không thể có những dự án thủy điện dễ dàng được thực hiện.
Nên nhớ rằng, có rất nhiều quan điểm từ phía dư luận, từ các chuyên gia ủng hộ bảo vệ rừng và chống xây dựng công trình thủy điện. Có rất nhiều tiếng nói cảnh báo về một hậu quả khôn lường do lũ lụt mang đến.
Nhưng tất cả đều bỏ ngoài tai. Sự tồn tại của 15 công trình thủy điện tại các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và hàng chục công trình thủy điện khác khắp cả nước tất nhiên có sự “gật đầu” hoặc chí ít là im lặng của ngành nông nghiệp.
Chính vì thế, khi trả lời các đại biểu Quốc hội liên quan đến việc xây dựng các công trình thủy điện, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng nói: “Quy hoạch thủy điện trải qua nhiều thời kỳ là quy hoạch chung của cả nước chứ không phải quy hoạch riêng của Chính phủ hay Bộ Công thương... Chúng ta nói về chúng ta chứ không phải chúng ta nói về Chính phủ, cũng không phải chúng ta chỉ nói về bộ, ngành này hay bộ, ngành khác mà chúng ta nói về chúng ta”.
Thấy chưa, rõ ràng theo ý tứ của ông Vũ Huy Hoàng, đó là không phải chỉ riêng ngành của ông quản lý phải chịu trách nhiệm về thủy điện, mà là “chúng ta”.
Chúng ta ai vậy? Xin trả lời thật nhanh rằng trong đó có Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Theo thống kê diện tích rừng bị mất do làm thủy điện, thủy lợi trung bình 14,5ha/MW ở Tây Nguyên và khoảng 16,5ha/MW ở lưu vực sông Đồng Nai. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa sức để làm phép cộng để tính ra bao nhiêu hecta rừng bị mất đi khi xây dựng các dự án thủy điện, nhưng đã không có hành động để ngăn chặn.
Cử tri rất mong các đại biểu Quốc hội chất vấn chỉ ngần ấy việc thôi. (Dân Trí 19/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Để sản xuất loại “rượu ngâm hổ”, các nhà chăn nuôi Trung Quốc không tiếc tay giam cầm và bỏ đói loài động vật quý hiếm cho đến chết.
Trang Maxisciences tiết lộ săn trộm và suy thoái môi trường sống không còn là những nguyên nhân đe dọa loài hổ mà chính là cách chăn nuôi dã man nói trên đã khiến loài động vật quý hiếm này ngày càng mất dạng.
Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) ước tính vào những năm 1990, châu Á có khoảng 100.000 con hổ sống khắp nơi trên châu lục. Vậy mà ngày nay, số lượng hổ sống trong thiên nhiên chỉ còn 3.500 con trong khi số lượng chăn nuôi kiểu giam cầm ở Trung Quốc và Mỹ là 5.000 con.
Dưới hình thức chăn nuôi, dân Trung Quốc đã “che mắt” chính quyền bằng cách khai thác và sản xuất chúng một cách ngang nhiên.
Cũng giống như sừng tê giác, loài hổ cũng là nạn nhân của cách chữa bệnh cổ truyền ở Trung Quốc trong việc điều trị bệnh phong thấp và viêm khớp.
Hiện Trung Quốc có hơn 200 trại chăn nuôi hổ hợp pháp. Chúng bị nhốt trong những cái chuồng chật hẹp và bị đánh đập dã man cho đến chết. Sau đó, xác hổ sẽ được ngâm với rượu gạo trong nhiều tháng.
Những nhà chăn nuôi thường khẳng định hổ tự nhiên mà chết nhưng thực tế cho thấy chúng chết là vì đói.
Hồi tháng 2-2013, Cơ quan điều tra môi trường (EIA) của Anh tiết lộ thị trường bán “rượu ngâm hổ” ở Trung Quốc vẫn hoạt động sầm uất dù rằng nước này đã có lệnh cấm sử dụng xương hổ kể từ năm 1993.
EIA cáo buộc chính quyền Trung Quốc đã tiếp tay với nạn chăn nuôi khi cho phép những doanh trại có hơn 500 con hổ được quyền bán loại “rượu ngâm hổ”.
Nhiều tổ chức, quốc gia và ngay cả người dân Trung Quốc đều lên tiếng kêu gọi chính quyền Trung Quốc thay đổi các quy định đối với thị trường mua bán “rượu ngâm hổ”. Tuy nhiên, nạn buôn lậu khó “ngầm” khó kiểm soát hết được. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
Chính phủ và các tổ chức bảo tồn động vật hoang dã tại Nam Phi đã sử dụng các phương pháp từ tuần tra tới việc cắt sừng tê giác hay tiêm thuốc độc vào sừng tê giác, để khiến sừng loài động vật này không còn giá trị trên thị trường chợ đen.
Cho tới thời điểm này, hàng nghìn con tê giác đã được tiêm thuốc độc vào sừng với hy vọng sẽ tạo được sự khác biệt trong cuộc chiến cứu loài động vật quý hiếm này khỏi bị tuyệt chủng.
Các con tê giác sau khi được tiêm thuốc tê sẽ tê liệt. Sau đó, sừng của chúng được khoan một lỗ nhỏ để tiêm thuốc độc được nhuộm đỏ.
Chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã Lorinda Hern cho biết chất độc này an toàn đối với tê giác nhưng độc hại cho con người nếu sử dụng. Người sử dụng sừng tê giác ngấm chất độc có thể gặp các triệu chứng như buồn nôn, tiêu chảy, tê liệt thần kinh, thậm chí tử vong.
Ông Hern cho biết sau khi hoàn tất công việc, những con tê giác được tiêm thuốc tỉnh dậy tuy chếnh choáng nhưng không gặp nguy hiểm.
Các chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã hy vọng sẽ cứu được hàng trăm con tê giác mỗi năm bằng cách làm cho sừng của chúng không còn giá trị gì đối với những kẻ săn lậu.
Nam Phi là nơi cư trú của hầu hết loài tê giác trắng trên thế giới. Nước này đang nỗ lực tìm cách để ngăn chặn nạn săn trộm tê giác đang ở mức báo động trong những năm gần đây. Tê giác bị săn lậu vì sừng của chúng có thể bán với giá hàng chục nghìn USD trên thị trường chợ đen ở châu Á.
Mặc dù các nhà khoa học khẳng định sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh, song tại nhiều nước châu Á, sừng tê giác vẫn được sử dụng trong y học cổ truyền. Tại một số nước Trung Đông, sừng tê giác được coi là biểu tượng của quyền lực và giàu sang./. (VietnamPlus.vn 20/11; Tin Tức 20/11) đầu trang(
Bộ trưởng Môi trường Brazil, bà Izabella Teixeira cho biết tốc độ phá rừng Amazon đã tăng lên 28% tính từ tháng 8 năm 2012 đến tháng 7 năm nay. Sô' diện tích rừng bị phá hủy là 5.843km2. Dù đã thực hiện nhiều chính sách bảo vệ rừng Amazon song tốc độ phá rừng tăng mạnh như hiện nay khiến dư luận rất lo ngại.
Rừng nhiệt đới Amazon được coi là một trong những nơi quan trọng nhất báo vệ thế giới tự nhiên, chống lại sự nóng lên toàn cầu vì khả năng hấp thụ một lượng lớn khí C02. Khoảng 75% lượng khí thải của Brazil được tiêu tán tại Amazon, thảm thực vật lớn nhất thế giới. Brazil hiện là nước thải khí CO2 lớn thứ 6 thế giới. (Sài Gòn Giải Phóng 19/11) đầu trang(
Các nhà khoa học từ Cơ quan Hàng không - vũ trụ Mỹ (NASA) vừa công bố dữ liệu rõ nhất từ vệ tinh cho thấy nạn phá rừng, cháy rừng, những cơn bão cùng sự tác động vào môi trường của côn trùng trên toàn cầu.
NASA nhờ vệ tinh khảo sát địa chất Landsat 7 thu nhận hình ảnh mất rừng trên toàn thế giới với độ phân giải cao, qua đó tạo ra bản đồ để cảnh báo. Các nhà nghiên cứu đã phân tích 143 tỉ điểm ảnh từ 654.000 hình ảnh vệ tinh gửi về để lập bản đồ rừng đã bị mất từ năm 2000 - 2012. NASA cho biết qua bản đồ chi tiết này đã cho thấy sự quan trọng của rừng đối với từng địa phương, khu vực.
Hãng tin UPI dẫn lời trưởng nhóm nghiên cứu Matthew Hansen từ Trường đại học Maryland cho biết rừng đã mất một diện tích rất lớn trong 12 năm qua. Cụ thể, đã có 2.279.189 km2 rừng bị tàn phá trong khi chỉ có 309.000 km2 rừng được tái trồng.
Trước nghiên cứu này, dữ liệu lâm nghiệp mà các quốc gia báo cáo là rất khác nhau. Theo Matthew Hansen, nhờ thuật toán qua máy tính mà dữ liệu về rừng bị hủy diệt rất rõ, ví dụ như ở Congo, Indonesia, Amazon… nhờ vậy giúp giám sát toàn cầu hữu hiệu hơn. (Thanh Niên 20/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||