|
Ngày 21 tháng 11 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Vào mùa khô năm nào cũng thế, cứ từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau trên địa bàn tỉnh Yên Bái thường xảy ra cháy rừng. Mức độ thiệt hại hàng năm có khác nhau nhưng để xảy ra cháy rừng không chỉ thiệt hại nặng nề về kinh tế mà còn làm cho môi trường sống bị suy thoái.
Nguyên nhân chính xảy ra cháy rừng một phần do khí hậu thời tiết khắc nghiệt, một phần do đồng bào vùng cao có tập quán đốt nương làm rẫy. Nếu không có biện pháp phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) thì tốc độ trồng rừng không thể bù đủ cho diện tích rừng bị cháy.
Trong những năm qua, công tác PCCCR được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Trước mùa khô hanh, các địa phương thường chủ động việc xây dựng kế hoạch PCCCR sát với tình hình thực tế địa phương. Thành lập các ban chỉ huy PCCCR từ tỉnh đến cơ sở, củng cố lại các tổ, đội xung kích bảo vệ rừng. Các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng (BVR) và PCCCR trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Hàng năm, ký cam kết với các hộ dân về PCCCR và xây dựng quy ước BVR ở các thôn bản. Từ đó, đã tạo được chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức ở cơ sở về công tác PCCCR. Phương án diễn tập ứng cứu cháy rừng ở các địa phương đã sát với thực tế. Bên cạnh đó là thường xuyên củng cố hệ thống mạng lưới dự báo, cảnh báo cháy rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Tuy nhiên, về mùa khô thời tiết khô hanh, nắng nóng kéo dài cùng tác động của gió lào những cành cây, tán lá và những thảm thực vật khô ron. Những cánh rừng ở các huyện thị phía Tây của tỉnh như: Văn Chấn, Mù Cang Chải, Trạm Tấu chỉ cần một tàn lửa nhỏ cũng đủ gây ra những vụ cháy nghiêm trọng. Khi xảy ra cháy rừng thì rất khó để dập tắt vì địa hình hiểm trở, phương tiện chữa cháy còn thô sơ.
Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn PCCCR là: “Phòng là chính - cứu chữa kịp thời”, không để cháy lan và chủ động tổ chức huy động lực lượng theo phương án 4 tại chỗ. Do đó, để hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, ngay từ bây giờ các địa phương cần kiện toàn Ban chỉ đạo PCCCR các cấp, xây dựng quy chế phân công nhiệm vụ cho các thành viên cụ thể, chủ động kiểm tra sát sao PCCCR.
Các huyện, thị cần xác định rõ các vùng trọng điểm cháy rừng ở từng địa phương đặc biệt là các xã vùng cao để có phương án PCCCR hiệu quả. Tăng cường kiểm tra các phương án PCCCR ở các địa phương; nâng cao năng lực cảnh báo dự báo cháy rừng; đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác chữa cháy. Đối với các xã vùng cao nơi bà con có tập quán đốt nương làm rẫy, lực lượng kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương thống kê diện tích nương rẫy, hướng dẫn đốt nương theo đúng trình tự kỹ thuật.
Về lâu dài, để giảm áp lực vào rừng, cần tiếp tục quy hoạch diện tích sản xuất nương rẫy, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, đầu tư thủy lợi, khai hoang ruộng nước, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác để ngăn chặn tình trạng phá rừng làm nương rẫy. (Báo Yên Bái 20/11) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên huyện Mường Nhé rộng hơn 45.500 ha trên địa bàn 5 xã biên giới, trong đó có gần 6.000 ha rừng đặc dụng nguyên sinh thuộc xã Sín Thầu. Trong khi rừng ở nhiều nơi đang bị tàn phá, thì những cánh rừng nguyên sinh nơi đây vẫn xanh ngút ngàn bởi được đồng bào Hà Nhì địa phương đồng lòng gìn giữ bằng tình yêu và tục cúng thần rừng linh thiêng, huyền bí vào ngày đầu xuân.
Tết cúng bản năm nay, già làng Sừng Phạ Sàn, ở bản Tả Kố Khừ tròn 63 tuổi. Là người am hiểu mọi phong tục, tập quán của dân tộc Hà Nhì nhưng già làng cũng không nhớ được tục cúng bản có từ khi nào. Chỉ biết rằng trong tết cúng bản có tục cúng rừng và tục cúng rừng này của người Hà Nhì xuất phát từ lòng biết ơn những gì rừng đem lại cho cuộc sống con người. Và thần rừng được người Hà nhì Sín Thầu tôn thờ, sùng kính như đối với ông bà, tổ tiên, là một một đấng tối cao có thể giúp cho con người làm ăn may mắn, mùa màng tươi tốt.
Già làng Sừng Phạ Sàn, nói: "Hôm nay là ngày cúng bản, cúng rừng chúng tôi mong muốn sao cho một năm mới được mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt, chăn nuôi thì phát triển, sức khoẻ của bà con nhân dân trong bản được đảm bảo".
Tín ngưỡng thờ thần rừng của người Hà Nhì như một sợi dây tâm linh truyền qua nhiều thế hệ. Mỗi bản làng đều có một khu rừng cấm riêng được dân bản giữ gìn và thờ cúng thần rừng. Tục lệ cúng rừng gắn với những quy định về bảo vệ rừng, đặc biệt là với những khu vực rừng đầu nguồn, rừng thiêng đã trở thành ngày hội văn hoá cộng đồng độc đáo của xã Sín Thầu từ nhiều năm nay.
Điều đặc biệt của lễ hội cúng rừng này là ngoài việc cúng thần linh nó còn được xem như là một cuộc họp tổng kết hàng năm của cả bản, có sự tham gia của tất cả các chủ hộ trong bản. Việc thực hiện các quy ước, hương ước về bảo vệ rừng cấm, tình hình phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, an ninh trật tự thôn bản, các khoản được nhà nước hỗ trợ đều được đem ra bàn bạc công khai. Cũng tại đây bà con đã cam kết với nhau bảo vệ rừng, cam kết không chặt phá rừng, khai thác rừng trái phép, không săn bắt động vật hoang dã và không đốt nương làm rẫy.
Nằm trong vùng lõi của khu bảo tồn, xã Sín Thầu có tổng diện tích tự nhiên hơn 16.500 ha, trong đó rừng tự nhiên đặc dụng là gần 6 nghìn ha. Với phương châm bảo vệ rừng tận gốc và xã hội hoá công tác bảo vệ rừng, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đã giao khoán gần 4 nghìn ha rừng tự nhiên đặc dụng cho người dân Sín Thầu chăm sóc, bảo vệ theo hình thức nhóm hộ được hưởng lợi theo quy định của Nhà nước.
Trên cơ sở diện tích rừng hiện có xã Sín Thầu thành lập 4 tổ bảo vệ rừng, mỗi tổ từ 12-15 người phân bố đều ở 4 bản, đây là cánh tay đắc lực của kiểm lâm khu bảo tồn trong công tác tuần tra bảo vệ rừng. Những năm gần đây Đảng, Nhà nước, huyện Mường Nhé cũng như Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé đã có nhiều chủ trương, chính sách, chương trình dự án cụ thể. (Báo Điện Biên 21/11) đầu trang(
Những bất hợp lý, khó khăn trong công tác giao đất giao rừng (GĐGR) cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được chính quyền sở tại, các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành mổ xẻ, phân tích nhằm đề xuất các giải pháp giữ rừng bền vững.
Không phải “vô cớ” mà Quảng Nam dừng công tác GĐGR cho cộng động dân cư từ năm 2007 đến nay. Còn nhớ giai đoạn 2004 - 2006, các huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Bắc Trà My và Nam Trà My đã triển khai GĐGR cho 249 cộng đồng dân cư thuộc 46 xã, với tổng diện tích 160.540ha. Có chủ trương của tỉnh, chính quyền các địa phương thành lập ban chỉ đạo giao đất lâm nghiệp với các phương án rất cụ thể. Tuy nhiên, những lổ hổng của GĐGR đã dần lộ diện, từ thực tiễn đã đặt ra nhiều vấn đề cần xem xét lại.
Ông Lê Quốc Bảo, Phó Trưởng phòng TN-MT huyện Tây Giang cho rằng, chính sách giao đất lâm nghiệp không đem lại hiệu quả như mong đợi. Tiềm năng đất đai chưa được khai phóng có hiệu quả, năng suất cây trồng thấp, cơ cấu cây trồng đơn điệu, diện tích đất chưa sử dụng còn lớn.
Theo thống kê, 10 xã của huyện Tây Giang tiến hành đo đạc, lập hồ sơ thủ tục giao cho 56 cộng đồng làng với tổng diện tích hơn 41.923ha rừng để quản lý, bảo vệ. Trong khi đó, diện tích giao cho hộ chỉ gần 7.000ha (chiếm hơn 8,2% tổng diện tích đất lâm nghiệp của toàn huyện).
Cũng theo ông Bảo, tuy đã giao đến từng cộng động dân cư, hộ gia đình nhưng vẫn chưa bảo vệ và phát triển được diện tích đất rừng. Thêm nữa, có nhiều trường hợp không xác định được phạm vi ranh giới đất lâm nghiệp được giao trên thực địa nên phát sinh tranh chấp chủ sử dụng ở vùng ranh giới. “Vì giao đất chưa gắn với giao rừng, kèm theo các điều kiện cụ thể về cơ chế hưởng lợi, hỗ trợ nên hiệu quả sử dụng đất rừng thấp, đời sống người dân không mấy được cải thiện” - ông Bảo cho biết.
Chính quyền các huyện miền núi đồng nhận định, sự “mơ hồ” thông tin về trạng thái rừng trong khi chúng ta lại “đốt cháy giai đoạn” quy trình, thủ tục hồ sơ lẫn khảo sát thực địa nên dẫn đến hệ lụy GĐGR… trên giấy. Đọc hồ sơ giao đất lâm nghiệp, chỉ thấy cập nhật các thông tin liên quan về đất đai, còn các dòng về trạng thái rừng giàu - nghèo thì… trống trải.
Một số nơi, công tác giao đất khoán rừng chưa xuất phát từ nhu cầu thật của cộng đồng thôn bản, nên bỏ qua công đoạn khảo sát, giao trên thực địa. Thực tế đã xảy ra tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, phát rừng làm rẫy trên diện tích đất rừng đã giao cho cộng động quản lý. Nhiều xã xây dựng quy ước bảo vệ rừng, thành lập tổ bảo vệ rừng thôn song còn mang tính hình thức.
Trước những tồn tại trên, thời gian qua, được sự tài trợ của tổ chức Malteser International, chính quyền huyện Tây Giang triển khai dự án “Khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên rừng” đã giao thí điểm 1.300ha đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại xã Bha Lêê (Tây Giang). Hiệu ứng rõ nét là đồng bào phát huy hiệu quả sử dụng đất và rừng được giao.
Nhiều năm nghiên cứu, khảo sát về thực trạng GĐGR ở miền núi Quảng Nam, Trung tâm Phát triển sáng kiến môi trường và cộng đồng - C&E (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam) đã chỉ ra nhiều điểm không gặp nhau giữa văn bản pháp lý với thực tiễn.
Chẳng hạn, Nhà nước quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của cộng đồng thôn, bản khi được giao đất rừng để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh nhưng không thể triển khai do trước khi giao không xác định được trạng thái, trữ lượng rừng. Về pháp lý thì cộng đồng chưa được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất; các sản phẩm của rừng cộng đồng khi lưu thông, tiêu thụ chưa có hướng dẫn, xác nhận nguồn gốc hợp pháp. Kế nữa là phát triển rừng cộng đồng gặp trở lực lớn khi luật tục của đồng bào bị phá vỡ và chưa phù hợp với những quy định của pháp luật.
Kết quả khảo sát năm 2012 của Trung tâm C&E cho thấy, sự hiểu biết của người dân các huyện miền núi trong tỉnh về các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý, sử dụng đất rừng, GĐGR còn rất hạn chế. Theo quy định, cộng đồng và hộ gia đình có quyền xử phạt đối với những người xâm hại khu rừng đã giao nhưng trên thực tế cộng đồng “quên” mất cái quyền này. Nghiên cứu của Trung tâm C&E cũng chỉ ra, hầu hết khâu đo đạc trên thực địa đều do cán bộ chuyên môn đảm trách, còn người dân gần như đứng ngoài cuộc.
Bà Hoàng Thanh Tâm – Giám đốc Trung tâm C&E đề nghị, phải có sự tham gia, lên tiếng của đồng bào tại các cuộc họp. Với điều kiện kinh tế hiện nay, người dân miền núi cần được hỗ trợ vốn ban đầu để trồng, chăm sóc, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, làm giàu rừng. Cần thiết xây dựng mô hình quản lý bảo vệ rừng tự nhiên có quy chế và luật tục phù hợp, theo nguyên tắc chủ rừng chịu trách nhiệm.
Trong khi đó, ngành kiểm lâm đã “thu lợi” ban đầu từ những câu lạc bộ sử dụng rừng thân thiện với môi trường. Điển hình, tại thôn Xà Nghìn 1, xã Zà Hung (Đông Giang) có 30 thành viên tham gia câu lạc bộ này. Nhờ hướng dẫn của Trung tâm C&E, người dân nắm được kỹ thuật trồng nhiều loại cây ăn quả, kết hợp với lâm sản phụ và cây dược liệu… Đáng nói, qua hoạt động của câu lạc bộ, người dân bảo vệ được vốn rừng, chấp hành các quy định của pháp luật hiện hành nhưng vẫn giữ được luật tục truyền thống. (Báo Quảng Nam 21/11) đầu trang(
Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Đằn, tiền thân được sáp nhập từ Lâm trường Phú Thành và Trạm Lâm nghiệp Thường Xuân (2 đơn vị đều thuộc huyện Thường Xuân) thành Lâm Trường Thường Xuân. Đến năm 1982 được UBND tỉnh Thanh Hóa đổi tên thành Lâm trường Sông Đằn (thuộc ty Lâm nghiệp tỉnh).
Thực hiện Quyết định số 138/QĐ-TTg ngày 16/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định số 3215/QĐ-UBND ngày 7/11/2006 về việc chuyển Lâm trường Sông Đằn thành Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Đằn, việc chuyển đổi này đã đánh dấu bước ngoặt mới cho hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Ban.
Hiện nay, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đằn quản lý diện tích rừng và đất rừng trên địa bàn 6 xã của Huyện Thường Xuân (tỉnh Thanh Hoá), với tổng số 28 cán bộ công nhân viên và hơn 700 hộ nhận khoán. Ban quản lý có nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng trên diện tích được giao là 6.576 ha.
Những năm qua, mặc dù gặp không ít những khó khăn thách thức như nắng nóng khô hạn kéo dài, địa bàn hoạt động rộng lớn xen lẫn ở các khu dân cư và phân tán ở các xã, các thôn đặc biệt khó khăn, kinh phí phục vụ công tác quản lý bảo vệ rừng rất hạn chế. Nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban giám đốc và tập thể cán bộ công nhân viên của Ban quản lý đã nâng cao tinh thần trách nhiệm, tập trung sức lực, trí tuệ vượt qua mọi khó khăn thách thức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Ban quản lý luôn chỉ đạo các trạm bảo vệ rừng, các hộ nhận khoán tập trung làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, củng cố các trạm Bảo vệ rừng, các tổ phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và tuyên truyền rộng rãi cho các hộ dân nhận thức được trách nhiệm Bảo vệ rừng và PCCCR. Thường xuyên tiếp xúc và tham gia các buổi họp dân để lồng ghép tuyên truyền công tác Bảo vệ rừng và PCCCR, với các giải pháp linh hoạt, bám sát thực tiễn và giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh, tạo cơ sở và không ngừng đổi mới phương pháp trong mọi hoạt động.
Với hoạt động tăng cường công tác quản lý về mọi mặt, Ban quản lý đã và đang đạt được những kết quả đáng khích lệ. Về công tác bảo vệ rừng, an ninh rừng tiếp tục được giữ vững và ổn định, các trạm bảo vệ rừng, cơ sở và các phòng ban nghiệp vụ đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương, thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR. Nhờ đó đã ngăn chặn và xử lý kịp thời các vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng và PCCCR.
Bên cạnh đó, Ban quản lý đã xác định những vùng trọng điểm dễ cháy để khoanh vùng và triển khai xây dựng các phương án PCCCR. Do vậy trong năm qua, đã hạn chế được các vụ vi phạm xuống thấp nhất và đặc biệt không để xảy ra cháy rừng trên địa bàn.
Từ công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ngày càng được làm tốt nên độ che phủ rừng tăng cao, tạo công ăn việc làm, thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân trong vùng. Đặc biệt, Ban quản lý luôn quan tâm đến chế độ chính sách cho các hộ nhận khoán và đảm bảo quyền, lợi ích cho cán bộ công nhân viên trong Ban. Vì thế khối đoàn kết trong cơ quan ngày càng vững bền.
Có được kết quả đó, Ban quản lý đã có bước chuyển biến theo hướng lâm nghiệp xã hội; chuyển từ khai thác là chủ yếu sang trồng mới, chăm sóc và đặc biệt là bảo vệ, gắn với phát triển rừng phòng hộ với phát triển rừng kinh tế, tạo điều kiện cho nông dân từng bước có thu nhập từ nghề rừng, thu hút các tổ chức và hàng trăm hộ gia đình tham gia phát triển rừng.
Phát huy truyền thống 50 năm xây dựng và trưởng thành, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Đằn chủ động khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 28 của Bộ chính trị khóa IX về “Tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển các nông lâm trường Quốc doanh”, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trên quê hương Thường Xuân theo đường lối đổi mới của Đảng. (Nhà Báo&Công Luận 21/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Phát biểu tại hội thảo quốc tế về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, do Tổng cục Môi trường tổ chức sáng 20.11, tại Hà Nội, ông Phạm Anh Cường- Cục trưởng Cục Bảo tồn đa dạng sinh học (Tổng cục Môi trường) cho biết, Việt Nam là một trong những trung tâm giàu nguồn gen của thế giới.
Tuy nhiên, những lợi ích có được từ việc tiếp cận nguồn gen hiện vẫn chưa được chia sẻ một cách công bằng giữa người cung cấp và sử dụng nguồn gen một cách hiệu quả.
Theo ông Cường, những năm qua, Việt Nam đã mất rất nhiều nguồn gen mang tính đặc hữu cũng như nhiều cây thuốc quý.
Vì vậy, việc tham gia Nghị định thư Nagoya sẽ góp phần thúc đẩy các tổ chức của nước ta tham gia tích cực vào thị trường nguồn gen của các quốc gia trên toàn cầu. (Nông Thôn Ngày Nay 21/11; VietnamPlus.vn 21/11) đầu trang(
“Chào đón chim di cư” là sự kiện lần đầu tiên được tổ chức ở Việt Nam nhằm kêu gọi ý thức bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ chim hoang dã nói riêng. Sự kiện được tổ chức tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) và Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) cuối tháng 11.
Công ty Du lịch hoang dã (Wildtour Co. LTD) kết hợp Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife International), Hiệp hội bảo vệ chim Vương quốc Anh (RSPB), Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (Viet Nature Conservation Centre) tổ chức sự kiện này. Dự kiến khoảng 100 người sẽ tham gia hai sự kiện diễn ra tại Xuân Thủy và Tràm Chim.
Theo giám đốc Công ty Du lịch hoang dã, ông Nguyễn Hoài Bão, cứ bắt đầu mỗi mùa đông, hàng triệu con chim ở xứ lạnh phương bắc lại phải bay hàng chục ngàn cây số để tránh các điều kiện khắc nghiệt, sự giá rét, khan hiếm thức ăn…
Tập tính thích nghi này có ở hơn 1.800 loài chim trên thế giới, đã hình thành và chọn lọc từ hàng triệu năm trước. Thế nhưng, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, con người đã và đang phá hủy môi trường sinh thái, đặc biệt là đất ngập nước tự nhiên, chính là các điểm dừng chân quan trọng để chim tiếp thêm năng lượng trên đường bay. Các vùng đất này phần lớn đã biến thành đất nông nghiệp, công nghiệp, đô thị.
Chính sự biến đổi này đã làm ảnh hưởng lớn đến quần thể các loài chim di cư, nhiều loài trong số đó đang bên bờ vực tuyệt chủng. Hơn thế nữa, sự mất mát này còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người như thiếu nguồn nước sinh hoạt, ô nhiễm môi trường, mất cảnh quan, biến đổi khí hậu…
Chính vì vậy, sự kiện được tổ chức nhằm tuyên truyền và nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và bảo tồn chim hoang dã, nâng cao hiểu biết về chim di cư và mùa di cư của chim, sự cần thiết phải bảo vệ các sinh cảnh dọc theo đường bay của chim di cư, giới thiệu xem chim và chụp ảnh thiên nhiên, một thú vui góp phần nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường. (Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 21/11) đầu trang(
Ngày 20/11, UBND tỉnh ban hành Công văn số 1545 về việc triển khai thực hiện công tác kiểm kê rừng trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Theo đó, Giao Sở NN&PTNT tham mưu UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo, tổ công tác kiểm kê rừng theo quy định. Đồng thời chủ trì phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan xây dựng phương án kiểm kê rừng, lập và trình UBND tỉnh phê duyệt khái toán kinh phí thực hiện và đề nghị Trung ương hỗ trợ kinh phí thực hiện.
Giao Chi cục Kiểm lâm – Sở NN&PTNT làm đầu mối để triển khai thực hiện và sao gửi kèm theo Công văn số 3988 ngày 07/11/2013. (Laichau.gov.vn 21/11) đầu trang(
Loài trà hoa Krempf tưởng chừng tuyệt chủng nay đã được tìm thấy lại, mở ra một hướng mới trong nghiên cứu, nhân rộng loại thực vật quý hiếm này.
Thạc sĩ Lê Văn Hương – Giám đốc Vườn quốc gia (VQG) Bidoup Núi Bà (Lâm Đồng) cho biết: Tại khu vực đèo Hòn Giao (thuộc vườn, nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng), cán bộ VQG Bidoup Núi Bà và thạc sĩ Lương Văn Dũng -Phó Chủ nhiệm khoa Sinh, Đại học Đà Lạt, vừa phát hiện một quần thể trà mi được xác định là “trà hoa Krempf”. Đây là loài trà mi được phát hiện hơn 100 năm trước và “biệt tích” từ đó đến nay.
Theo thông tin do VQG Bidoup Núi Bà vừa chính thức công bố: “Qua so sánh mẫu thu được và mẫu chuẩn có số hiệu P00700354 (Type), nhóm nghiên cứu xác định đây là loài trà hoa Krempf, có tên khoa học là Camellia krempfii (Gagnep.) Sealy”. Nhóm nghiên cứu phát hiện ra trà hoa Krempf trên đỉnh Hòn Giao nói trên gồm nhà khoa học Lương Văn Dũng của Trường Đại học Đà Lạt và hai cán bộ của VQG Bidoup Núi Bà là Phạm Hữu Nhân và Trương Quang Cường.
Cũng theo thông tin vừa được nhóm nghiên cứu công bố, trà hoa Krempf được ông M. Krempf lần đầu tiên thu được mẫu tại Ton Ha nằm trong khu vực miền núi của tỉnh Khánh Hòa, giáp với Lâm Đồng. Sau đó, năm 1912, ông M. Krempf chính thức công bố tiêu bản loài trà hoa mà ông phát hiện được với số tiêu bản “Krempf. 1564”.
“Tiêu bản mà ông M. Krempf công bố năm 1912 về loài trà hoa phát hiện tại Ton Ha chỉ có lá và nụ hoa (không có hoa)” – nhóm nghiên cứu cho biết. Tiếp đến, năm 1942, trên cơ sở tiêu bản của M. Krempf, một nhà khoa học khác tên là Ganepain đã mô tả và chính thức công bố loài “trà hoa Krempf” với tên khoa học là “Thea krempfii Gagnep”.
Trong văn bản công bố loài trà hoa Krempf vừa phát hiện tại Hòn Giao, nhóm nghiên cứu của VQG Bidoup Núi Bà và Đại học Đà Lạt nêu: “Như vậy, sau hơn 100 năm kể từ lần phát hiện đầu tiên, chúng tôi đã ghi nhận có sự phân bố của loài này tại dãy núi Hòn Giao”. Nhóm tác giả còn cho biết thêm: “Kết quả này cung cấp thêm một bằng chứng thuyết phục cho tính đa dạng cao của hệ thực vật tại đây”.
Điều cần nhấn mạnh: Sau công bố tiêu bản của M. Krempf năm 1912 và công bố loài của Ganepain năm 1942, mặc dù các nhà nghiên cứu của Việt Nam và cả nước ngoài (Nhật Bản, Pháp, Úc…) đã bỏ nhiều công sức để nghiên cứu và tiến hành nhiều chuyến khảo sát thực địa tại Việt Nam, đặc biệt là Tây Nguyên (trong đó có Lâm Đồng) nhưng thông tin khoa học về trà hoa Krempf cũng chỉ dừng lại ở tiêu bản lá và nụ hoa của M. Krempf thu được năm 1912 tại Ton Ha.
“Từ đó đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa ghi nhận thêm thông tin về hình ảnh tự nhiên, hình dáng quả và đặc biệt là màu sắc của loài hoa này” – nhóm nghiên cứu cho biết.
Cũng theo nhóm nghiên cứu của Đại học Đà Lạt và VQG Bidoup Núi Bà, loài trà hoa Krempf vừa được phát hiện không là một cá thể hay một vài cá thể đơn lẻ mà là cả một quần thể khá phong phú trên dãy núi Hòn Giao. Địa điểm phát hiện quần thể trà hoa Krempf nằm ở độ cao khoảng 800m, trong kiểu rừng kín thường xanh.
Trà hoa Krempf (Camellia krempfii) vừa được phát hiện là loài tiểu mộc có thân cao khoảng 5 – 8m, có lá phiến hình thon dài, đáy lá hình tim; đặc biệt, cuống lá to và dài hơn loài hải đường (Camellia amplexicaulis) nên cuống lá trà hoa Krempf không ôm sát cành như loài hải đường.
Càng đặc biệt hơn, đây là lần đầu tiên trà hoa Krempf được phát hiện và thu được tiêu bản hoa (năm 1912 chỉ thu được tiêu bản nụ hoa và lá). Theo mô tả của các nhà nghiên cứu thì hoa của trà hoa Krempf vừa được phát hiện “có màu đỏ gạch, cánh hoa xếp chồng lên nhau gần giống như loài trà hoa Piquet (Camellia piquetiana (Pierre) Sealy)”.
Trước phát hiện này, sau 100 năm nghiên cứu, khảo cứu thực địa… nhưng không tìm thấy loài trà hoa Krempf ở bất kỳ nơi nào tại Việt Nam, một số nhà khoa học tuy dè dặt nhưng cũng đã chính thức nêu ý kiến trên các diễn đàn rằng: Rất có thể loài trà hoa Krempf (Camellia krempfii (Gagnep.) Sealy) đã tuyệt chủng!
Như vậy, công bố về sự phát hiện mới đây nhất như trên vừa đề cập của nhóm nghiên cứu của Đại học Đà Lạt và VQG Bidoup Núi Bà đã chính thức xóa tan nghi ngờ về “sự tuyệt chủng” trà hoa Krempf của một số nhà khoa học trong thời gian gần đây. (Nông Thôn Ngày Nay 21/11) đầu trang(
Từ nguồn vốn bảo vệ và phát triển rừng năm 2013, Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa (Đà Nẵng) đã khảo sát hiện trường, xây dựng Hồ sơ thiết kế trình Sở NN&PTNT phê duyệt để triển khai thực hiện.
Ngay sau khi Hồ sơ thiết kế kỹ thuật được duyệt Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa đã bàn giao hiện trường khoán bảo vệ rừng đến cho các hộ nhận khoán thuộc cộng đồng dân đồng bào dân tộc thiểu số ở 2 thôn Tà Lang và Giàn Bí với diện tích 1.320 ha tại các tiểu khu 3, 5 và 39; đây là khu vực giáp ranh các với tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên – Huế, rừng dễ bị tác động trái phép. Các hộ nhận hợp đồng bảo vệ rừng là những hộ có lực lượng lao động, có sức khỏe và có tâm huyết gắn bó với rừng.
Sau khi nhận hiện trường quản lý bảo vệ, các hộ nhận khoán đã cùng các trạm QLBVR Sông Nam, Sông Bắc tích cực thực hiện công tác kiểm tra hiện trường, không để xảy ra hành vi chặt phá rừng trái và săn bắt động vật trái phép trên lâm phận quản lý. (Sở NN&PTNT Đà Nẵng 20/11) đầu trang(
Đến nay, bà con nhân dân trong xã Phúc Lợi đã trồng mới 200 ha rừng kinh tế, đạt 80% kế hoạch năm.
Các loại cây trồng chủ yếu là keo, mỡ, bồ đề. Thời gian tới, xã tiếp tục đẩy mạnh công tác trồng rừng, phấn đấu hoàn thành trồng mới 250 ha rừng kinh tế trước tháng 12 năm nay. (Dân Tộc&Phát Triển 20/11, tr8) đầu trang(
Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh đã giám sát việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quản lý, sử dụng đất của các nông trườâng, lâm trường huyện Định Hóa. Kết quả giám sát cho thấy, công tác cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được huyện triển khai thực hiện nghiêm túc, các hồ sơ bảo đảm đúng quy định.
Đến nay, huyện đã cấp giấy cho gần 40.000ha/49.000ha diện tích đất cần cấp, đạt 81% kế hoạch; số lượng thửa đất tồn đọng không đủ điều kiện để cấp giấy chủ yếu là đất nông nghiệp và đất ở. Tuy nhiên, địa giới hành chính 364 cấp xã trên địa bàn huyện tại nhiều khu vực chưa phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng, nhân khẩu của địa phương; việc phân định 3 loại rừng đang trong giai đoạn điều chỉnh nên thiếu cơ sở xác định loại rừng để cấp giấy chứng nhận; biến động đất đai tại một số xã đã đo bản đồ địa chính các năm trước...
Qua giám sát, huyện đề nghị HĐND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng khẩn trương rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng; giải quyết dứt điểm tranh chấp địa giới 364 giữa xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hóa và xã Ôn Lương, huyện Phú Lương; đề nghị đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính đối với thị trấn Chợ Chu để thực hiện việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện. (Đại Biểu Nhân Dân 17/11) đầu trang(
Thực tế ở Lâm Đồng trong thời gian gần đây, việc trồng rừng thay thế không những gặp phải không ít khó khăn vì quỹ đất trống lâm nghiệp hạn hẹp mà còn gặp trở ngại do các chủ dự án chậm thực hiện nghĩa vụ nộp tiền bồi thường rừng.
Số liệu thống kê cho biết: Từ năm 2006 - 2012, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng thủy điện với diện tích 19.792ha. Cho đến nay, diện tích trồng rừng thay thế được 735ha, đạt 3,7% tổng diện tích theo yêu cầu.
Tại Lâm Đồng, theo kế hoạch vừa được phê duyệt, trong năm 2014, sẽ có 130ha rừng được trồng mới theo chương trình trồng rừng thay thế cho diện tích đất lâm nghiệp đã được chuyển đổi sang mục đích không phải lâm nghiệp.
Cụ thể hơn, tại 6 đơn vị chủ rừng có diện tích đất lâm nghiệp chuyển sang mục đích khác phải trồng rừng thay thế là Công ty TNHH một thành viên Lộc Bắc trồng 50ha; hai Ban quản lý rừng phòng hộ Serepok và Nam Ban cùng Hạt Kiểm lâm Bảo Lộc trồng mỗi đơn vị 20ha; và, hai Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Gia và Tân Thượng trồng mỗi đơn vị 10ha.
Con số này hẳn là quá nhỏ so với diện tích rừng đã được chuyển đổi để xây dựng các công trình, đặc biệt là các công trình thủy điện. (Báo Lâm Đồng 21/11) đầu trang(
Ngày 20-11, ông Đinh Văn Đối, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa cho biết, đơn vị đã nhận lại toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Công an tỉnh Thái Bình.
Trước đó, Ban quản lý rừng phòng hộ Minh Hóa đã sử dụng 33 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất để chạy vốn bảo vệ rừng và trồng rừng. Tuy nhiên số thẻ đỏ này lại xuất hiện tại nơi ở của 2 đối tượng liên quan đến vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản xảy ra tại tỉnh Thái Bình.
Cùng trong sự việc trên, ông Nguyễn Hoài Nam, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Tuyên Hóa cho hay, ông cũng đã nhận lại 32 thẻ đỏ từ Công an tỉnh Thái Bình. (Báo Quảng Bình 21/11) đầu trang(
UBND TP Hà Nội vừa ban hành quyết định về việc thành lập Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội trực thuộc Sở NN-PTNT trên cơ sở tổ chức lại Cty TNHH MTV Đầu tư & phát triển nông lâm nghiệp Sóc Sơn.
Đây là đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng và mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng theo quy định của pháp luật. Trung tâm có chức năng quản lý, trồng rừng, chăm sóc, duy trì, bảo vệ và phát triển vốn rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xây dựng hệ thống rừng phòng hộ, tạo cảnh quan, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường sinh thái cho Thủ đô... (Nông Nghiệp Việt Nam 20/11) đầu trang(
Với độ che phủ gần 54%, Nghệ An hiện là một trong những địa phương có độ che phủ rừng cao của cả nước. Có được kết quả này là nhờ trong những năm qua, ngoài đẩy mạnh công tác trồng rừng thì các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn đã tăng cường liên kết với người nông dân, nhờ vậy đã không chỉ giúp cho rừng được chăm sóc và bảo vệ tốt hơn, mà đời sống của nhiều hộ dân cũng được nâng cao.
Gia đình ông Nguyễn Viết Định ở xóm 10, xã Xuân Thành, huyện Yên Thành là một trong những hộ dân được Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Yên Thành hợp đồng khoanh nuôi, bảo vệ và khai thác nhựa thông. Với 4ha rừng thông được giao khoán, hơn 10 năm nay, mỗi tháng, gia đình ông đã có thêm nguồn thu khoảng 3 triệu đồng. Cùng với nguồn thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi thì đây là một nguồn thu ổn định, giúp gia đình ổn định cuộc sống.
Ban Quản lý rừng phòng hộ Yên Thành hiện có 350ha rừng thông đang trong thời kỳ khai thác. Toàn bộ số diện tích này đều được Ban Quản lý hợp đồng với các hộ dân trong vùng để người dân chăm sóc, bảo vệ, phòng chống cháy rừng và khai thác nhựa với cơ chế số nhựa thông được khai thác, mỗi bên được hưởng lợi 50%.
Nhờ làm tốt công tác giao khoán này đã giúp cho Ban Quản lý thực hiện tốt công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng, người dân thì có nguồn thu nhập ổn định. Nguồn thu từ khai thác nhựa thông hiện cũng chiếm lớn nhất trong tổng nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Ban Quản lý rừng hộ Yên Thành với hơn 50%.
Công ty TNHH 1 thành viên Lâm nghiệp Đô Lương cũng đã liên kết chặt chẽ với người nông dân trong công tác đầu tư, chăm sóc, khai thác nhựa thông. Với 500ha rừng thông trong thời kỳ khai thác, công ty đã giao khoán tất cả cho 390 hộ dân trên địa bàn 8 xã của huyện, trong đó một số xã được công ty giao khoán với diện tích lớn như Mỹ Sơn, Hòa Sơn, Giang Sơn Đông…
Và không chỉ hai đơn vị này mà hiện nay, các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đều thực hiện tốt công tác giao khoán rừng đến các tổ chức, hộ dân và cộng đồng dân cư. Với việc giao khoán này mà các địa phương, đơn vị đã thực hiện tốt hơn công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Riêng trong năm 2013, các đơn vị, chủ rừng đã phối hợp với chính quyền địa phương, các tổ chức tuyên truyền vận động người dân bảo vệ tốt 888.695 ha diện tích rừng hiện có, khoanh nuôi tốt hơn 85 nghìn ha và trồng mới được gần 15.400 ha. Nhờ vậy, độ che rừng trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây mỗi năm tăng thêm 1%.
Trong thời gian tới, ngành lâm nghiệp tỉnh sẽ tiếp tục áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất chất lượng và hiệu quả kinh doanh rừng trồng, đa dạng hoá sản phẩm nguyên liệu lâm sản phục vụ chế biến, đẩy mạnh công tác xã hội hoá nghề rừng, từ đó vừa góp phần nâng cao công tác quản lý, bảo vệ và khai thác rừng theo hướng bền vững, vừa tạo thu nhập ổn định và nâng cao đời sống cho người dân nông thôn, miền núi. (Đài PT - TH Nghệ An 20/11) đầu trang(
Nhờ hiệp đồng thống nhất, hỗ trợ hiệu quả giữa Cảnh sát Phòng chống tội phạm về môi trường (PCTPVMT) và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên, tình hình vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên (BVR và BTTN) trên địa bàn tỉnh bước đầu đã được kiềm chế, giảm đáng kể. Tuy vậy, công tác này vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Những năm qua, tình trạng phá rừng, vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, BVR và BTTN trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp. Điều này không chỉ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đa dạng sinh học mà còn gây mất an ninh trật tự (ANTT) tại địa phương.
Trước tình trạng trên, Phòng Cảnh sát PCTPVMT và Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tăng cường công tác phối hợp, chủ động nắm tình hình, trao đổi thông tin, đẩy mạnh công tác truy quét, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Từ tháng 6/2011 đến nay, 2 đơn vị đã phối hợp kiểm tra bắt giữ, xử lý 157 vụ vi phạm về BVR và BTTN; tổ chức 28 lượt truy quét, triệt xóa 18 điểm khai thác chế biến vàng; xử lý hành chính 133 vụ, phạt hơn 746 triệu đồng; tạm giữ hơn 286m3 gỗ các loại, tịch thu 563,6kg động vật rừng, trên 15 tấn than hầm; tiêu hủy 41 lán trại, 46 máy nổ, 950m ống nhựa, tịch thu 40 xe máy… đồng thời chuyển cơ quan cảnh sát điều tra công an các huyện điều tra xử lý hình sự 24 vụ.
Điều đáng ghi nhận là công tác nắm tình hình, trao đổi thông tin, phương án hành động giữa 2 đơn vị ngày càng chặt chẽ. Nhờ vậy trong năm 2013, các vụ phá rừng, vận chuyển động vật hoang dã trái phép đã kịp thời được phát hiện, ngăn chặn.
Theo đại tá Nguyễn Nhất Tâm, Phó giám đốc Công an tỉnh, thời gian đến, 2 đơn vị tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền sâu rộng đến từng người dân; thường xuyên thông báo, trao đổi thông tin cho nhau để chủ động nắm tình hình, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng vi phạm, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về khai thác khoáng sản, BVR và BTTN. Đồng thời tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các loại rừng trên địa bàn tỉnh nhằm tạo cơ sở chặt chẽ để xử lý hình sự các đối tượng vi phạm. (Báo Phú Yên 20/11) đầu trang(
Ngày 19.11, một số người dân thôn Phước Lộc, xã Lộc Tiến (Phú Lộc) hoảng hồn khi phát hiện 1 con cá sấu nặng 30kg nằm trên mương nước cách Trường THPT Thừa Lưu 100m.
Người dân dùng sào để vây bắt nhưng cá sấu lặn sâu xuống nước. Phải đến khi sử dụng kích điện thì họ mới bắt được con cá sấu. Theo người dân, đây là trường hợp bất thường bởi từ trước đến nay trong vùng chưa từng xuất hiện cá sấu và cũng không có hộ dân nào nuôi cá sấu, trong khi mương nước trên thường xuyên bị cạn vào mùa khô. (Nông Thôn Ngày Nay 20/11) đầu trang(
Từ năm 2012 đến nay tại Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau bị mất hơn 1.000m³ gỗ không rõ nguyên nhân.
Trước thực trạng trên, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau chỉ đạo các sở, ngành có liên quan tiếp tục mở rộng điều tra, làm rõ vụ việc tàn phá rừng ở đây. Một số vấn đề khuất tất được yêu cầu làm rõ là tổng số diện tích rừng bị thiệt hại; những sai phạm của cán bộ VQG Mũi Cà Mau đã để mất rừng; cán bộ kiểm lâm có dấu hiệu tiếp tay với lâm tặc tàn phá cây rừng. Nếu cơ quan điều tra xét thấy đủ điều kiện sẽ khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.
Song song đó, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau yêu cầu kiểm điểm, xử lý nghiêm các đơn vị, cá nhân, cán bộ quản lý trực thuộc VQG Mũi Cà Mau không hoàn thành nhiệm vụ, để xảy ra mất rừng trong một thời gian dài.
VQG Mũi Cà Mau có diện tích gần 42.000ha, vừa được công nhận là khu Ramsar thứ 2088 của thế giới. Đây là khu rừng ngập mặn nguyên sinh lớn nhất ở Việt Nam. Thời gian qua, nạn phá rừng kéo dài nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu. Hệ lụy là một diện tích lớn rừng ngập mặn đã bị tàn phá nghiêm trọng, có dấu hiệu cán bộ quản lý tiếp tay với lâm tặc để trục lợi từ việc phá rừng. (Thanh Niên 21/11) đầu trang(
Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán (Đồng Nai) vừa hoàn tất cáo trạng truy tố ra trước Tòa án nhân dân cùng cấp để xét xử Trương Văn Phong (42 tuổi, ngụ xã Gia Canh, huyện Định Quán) và Trần Công Bạc (28 tuổi quê tỉnh Tiền Giang) về hành vi hủy hoại rừng.
Ngày 9/2/2013, Phong cùng Bạc mang theo cưa, búa chặt gỗ vào khu vực Tiểu khu 86 (Phân trường 3 do Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú quản lý thuộc ấp 3, xã Gia Canh) để chặt gỗ. Tại đây, hai đối tượng đã dùng cưa hạ một cây gỗ Trắc rồi đem cất giấu ở khu vực gần đó.
Những ngày sau, Phong và Bạc đã dùng xe máy vận chuyển số gỗ này về tiêu thụ thì bị lực lượng bảo vệ Phân trường 3 phát hiện bắt giữ.
Qua quá trình điều tra, lực lượng chức năng xác định cây gỗ Trắc bị Phong và Bạc đốn hạ được xếp vào nhóm IIA có khối lượng 1,367m3 trị giá hơn 246 triệu đồng. (VOV 21/11; Báo Đồng Nai 21/11) đầu trang(
Lợi dụng chủ trương của Chính phủ cho phép chuyển 100.000ha rừng nghèo tại Tây Nguyên sang trồng cao su phục vụ nhu cầu an sinh xã hội, tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người lao động tại chỗ, ông Trần Văn Khanh, nguyên Giám đốc Công ty TNHH MTV Bình Dương tự ý phá hàng nghìn ha rừng tại các xã Ia Puch, Ia Me, huyện Chư Prông (Gia Lai) để trồng cao su kém chất lượng ngoài ranh giới dự án phê duyệt.
Từ năm 2010 – 2011, thực hiện chủ trương chuyển rừng nghèo sang trồng cao su của Chính Phủ, UBND tỉnh Gia Lai ra 4 quyết định thu hồi 2.774ha đất lâm nghiệp của Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Puch, huyện Chư Prông cho Công ty TNHH một thành viên Bình Dương - Binh đoàn 15 thuê trồng cao su.
Tuy nhiên, thay vì thực hiện đúng quy định trình tự, thủ tục trồng cao su trên đất lâm nghiệp mà ông Phạm Thế Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai chỉ đạo tại Quyết định 746/QĐ-UBND, ông Trần Văn Khanh, cấp bậc Đại tá lúc ấy trên cương vị Giám đốc doanh nghiệp Bình Dương ngang nhiên xâm hại hàng nghìn ha rừng phòng hộ trước sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý tài nguyên của UBND huyện Chư Prông.
Theo điều tra của PV, trong hơn 840ha đất lâm nghiệp (80 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng, còn lại hơn 760 ha là đất rừng tự nhiên-PV) thuộc các tiểu khu 896, 897, 900, 991 lâm phần xã Ia Me được UBND tỉnh Gia Lai giao trồng cao su, Công ty TNHH một thành viên Bình Dương chỉ trồng 529 ha cao su trong diện tích được giao.
Mặc dù không được UBND tỉnh Gia Lai cho phép chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang trồng cao su nhưng ông Khanh, trên cương vị Giám đốc đã huy động cả nhân lực lẫn vật lực san phẳng hơn 600ha rừng khu vực lân cận để trồng 474,2 ha cao su ngoài diện tích được giao!
Ngoài hàng trăm ha rừng tại xã Ia Me bị triệt hạ, mặc dù đã được UBND tỉnh Gia Lai giao hơn 1.661ha đất lâm nghiệp tại các tiểu khu 925, 932, 935, 936 xã Ia Puch nhưng ngoài việc trồng 1.307ha cao su trong diện tích được giao, Công ty TNHH một thành viên Bình Dương tiếp tục xâm lấn hàng trăm ha rừng ngoài vùng dự án và trồng hơn 206ha cao su.
Cụ thể tại tiểu khu 935, 936, doanh nghiệp Bình Dương ngang nhiên triệt hạ hàng trăm ha rừng và tiến hành trồng hơn 135ha cao su. Tại tiểu khu 925, 932, doanh nghiệp này cũng trồng hơn 71ha cao su ngoài diện tích được UBND tỉnh Gia Lai phê duyệt.
Như vậy chỉ riêng tại 2 xã Ia Me và Ia Puch huyện Chư Prông, Công ty TNHH một thành viên Bình Dương đã xâm hại hàng nghìn ha rừng ngoài diện tích được UBND tỉnh giao để trồng hơn 680ha cao su trái phép.
Trong tổng diện tích hơn 680ha cao su do Công ty TNHH một thành viên Bình Dương xâm lấn tài nguyên rừng trồng được thì hiện có 326,2ha cao su trồng trong năm 2010 và 2011 đang trong tình trạng kém chất lượng, không phát triển được. Để hạn chế thiệt hại, Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) đang yêu cầu dừng chăm sóc và dự kiến sẽ tiến hành thanh lý trong thời gian đến.
Có thể khẳng định ngoài việc xâm hại hàng nghìn ha rừng, thất thoát lượng gỗ cho đến hiện nay vẫn chưa thể thống kê được nhưng nếu tính giá trị đầu tư bình quân cho mỗi ha cao su vào khoảng 70 triệu đồng/ha thì dưới sự lãnh đạo “tài tình”, liều lĩnh phá rừng để trồng cao su vượt ra ngoài quy hoạch của Đại tá Trần Văn Khanh đã gây thiệt hại sơ bộ hơn… 20 tỷ đồng đối với Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15).
Theo báo cáo số 517/BC-KH của phòng Kinh tế - Kế hoạch, Binh đoàn 15: “Diện tích cao su nằm ngoài dự án 680,60ha của Công ty TNHH MTV Bình Dương là diện tích đo vẽ thực tế của đơn vị tư vấn. Số liệu này chưa được báo cáo, thống nhất với huyện Chư Prông và tỉnh Gia Lai.”(!)
Như vậy, cho đến hiện nay từ UBND huyện Chư Prông cho đến UBND tỉnh Gia Lai vẫn chưa xác định được tổng diện tích rừng bị ông Trần Văn Khanh, nguyên Giám đốc doanh nghiệp Bình Dương san ủi ngoài diện tích được giao. Hay nói đúng hơn, hiện các cấp chính quyền tỉnh Gia Lai vẫn chưa xác định được nguồn tài nguyên rừng trên địa bàn đã bị Công ty TNHH một thành viên Bình Dương xâm hại ở mức độ nào.
Nhằm tìm hiểu rõ hơn vấn đề trên, nhóm PV chúng đến Công ty TNHH trắc địa bản đồ Nhật Tuấn, đây là doanh nghiệp được Công ty Bình Dương thuê đo đạc, lập bản đồ hoàn công là đơn vị tư vấn của doanh nghiệp này. Nhưng trao đổi với PV, ông Phạm Đình Thọ, Giám đốc Công ty TNHH trắc địa bản đồ Nhật Tuấn kiên quyết không cung cấp cho báo chí, đồng thời yêu: Phóng viên báo chí muốn làm việc với tôi phải có giấy giới thiệu của Ban Giám đốc Công ty Bình Dương!? (Tầm Nhìn 21/11) đầu trang(
Ngày 18/11, Thượng tá Phạm Trọng Cát, Phó trưởng Phòng CS phòng chống tội phạm về môi trường, Công an TP Hải Phòng, cho biết: Lực lượng trinh sát PC49 và Chi cục Kiểm lâm, vừa phát hiện 1 lô hàng gỗ dổi, chò và vàng tâm gồm 64 hộp có khối lượng trên 20m3 không có giấy tờ hợp pháp.
Thời điểm phát hiện lô hàng trên vào hồi 14h00’ ngày 29/10 tại bãi hàng cảng Vật Cách (Hải Phòng), đại diện chủ hàng là chị Lê Hồng Ngân, 26 tuổi, ĐKTT thôn 3, xã Việt Tiến, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng, chỉ xuất trình được 1 bộ hồ sơ phô tô, có đóng dấu “Sao y bản chính” của doanh nghiệp tư nhân Trường Giang.
Trong đó gồm: 1 hợp đồng ngày 11/10/2013, doanh nghiệp Trường Giang (địa chỉ: Số 268/15 Phan Chu Trinh, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk), xuất bán cho anh Tô Xuân Bách, ở xã Nam Cường, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, 19,100m3 gỗ dổi và 20,046 m3 gỗ chò; 1 hóa đơn GTGT số 0000053; 4 tờ kê lâm sản do doanh nghiệp Trường Giang lập, có xác nhận của Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột; 1 Biên bản kiểm tra lâm sản lập ngày 11/10 và 1 Hợp đồng thuê xe.
Theo khai báo của chị Ngân, số gỗ trên do chồng là Nguyễn Văn Kiên, 30 tuổi, mua tại TP Buôn Ma Thuột từ ngày 12/10, gửi về Hải Phòng bằng tàu hỏa. Do chưa thanh toán hết tiền nên chủ hàng chưa giao hồ sơ gốc.
Phát hiện có nhiều điểm khả nghi, các cán bộ Công an đề nghị Kiểm lâm Hải Phòng tạm giữ lô hàng nói trên. Quả nhiên, ngày 1/11, chủ hàng Nguyễn Văn Kiên xuất trình bộ hồ sơ gốc có nội dung khác với hồ sơ phô tô xuất trình ban đầu.
Tại cơ quan Công an, anh Nguyễn Văn Kiên khai nhận đã mua số gỗ này của Nguyễn Tiến Trường, chủ doanh nghiệp tư nhân Trường Giang thông qua một môi giới là Trần Thế Liệu, 38 tuổi, ĐKNKTT thôn 1, xã Cưđróa, huyện Mađrắk, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, cả Chi cục thuế TP Buôn Ma Thuột và Cục thuế tỉnh Đắk lắk đều xác nhận là không có Doanh nghiệp tư nhân Trường Giang (địa chỉ và mã số thuế như ghi trên tờ hóa đơn GTGT số 0000088).
Hạt Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột khẳng định vào ngày 11/10 không kiểm tra cũng như không xác nhận xuất lâm sản cho doanh nghiệp trên. Nhất là chữ ký trên các tờ bảng kê lâm sản đều không phải của ông K Pă Y Ngọc - Hạt trưởng Kiểm lâm TP Buôn Ma Thuột.
Còn Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk cho biết: Hiện trên hệ thống quản lý danh sách doanh nghiệp của Sở, không có doanh nghiệp tư nhân Trường Giang với địa chỉ như trong hồ sơ mua bán gỗ và cũng chưa hề cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp này.
Hóa ra Doanh nghiệp tư nhân Trường Giang là doanh nghiệp “ma”, bộ hồ sơ lô hàng gỗ mà vợ chồng anh Nguyễn Văn Kiên mua của Nguyễn Tiến Trường là hồ sơ giả. Căn cứ hành vi vận chuyển trái phép trên 20m3 gỗ quý và dấu hiệu làm giả giấy tờ của đối tượng, Phòng PC49 Công an Hải Phòng đã đề nghị Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng khởi tố vụ án để tiến hành điều tra. (Công An Nhân Dân 21/11) đầu trang(
Vườn chim, cò ở ĐBSCL là điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn, thu hút nhiều khách phương xa đến tham quan, chiêm ngưỡng. Nhưng hiện nay, các vườn chim, cò ở miền Tây Nam Bộ từ Cần Thơ đến Cà Mau đang ở trong tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, không còn là nơi đất lành chim đậu nữa.
Ngoài ra, còn có hơn 150 loài thực vật thuộc 50 họ, cùng với 100 loài động vật khác và 15 loài bò sát sống chan hoà, xen lẫn tồn tại ở các sân vườn chim đang đứng trước nguy cơ bị xoá sổ.
Mặc dù dư luận và báo chí đã nhiều lần cảnh báo nạn săn bắt các loài chim trời quý hiếm nhưng các tay bẫy chim vẫn ngang nhiên săn lùng, đuổi bắt một cách thô bạo. Ngay cả những vườn chim, cò nổi tiếng ở ĐBSCL, từng thu hút khách du lịch đem lại nguồn doanh thu mỗi năm hàng trăm triệu đồng và được nhiều người biết đến như vườn chim, cò ở Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Giang… nay bị săn đuổi ráo riết, khiến số lượng chim cò mỗi ngày càng ít đi. (Đại Đoàn Kết 20/11) đầu trang(
Nhiều xã thuộc huyện Nghĩa Hành (Quảng Ngãi) đang kiệt quệ sau cơn lũ lịch sử. Người dân gần như mất trắng khi nước dâng gần nóc nhà, cuốn trôi tất cả vật dụng, gia súc, gia cầm…
Ông Nguyễn Minh Tâm, Chủ tịch xã Hành Tín Tây cho biết: “Ít nhất phải 5 năm, Hành Tín Tây mới phục hồi kinh tế như trước cơn lũ”. Hành Tín Tây có 1.182 hộ thì trong đại nạn vừa rồi, tất cả đều ngập 1 - 4m, số nhà ngập 4m chiếm 60%.
Ông Tâm cho rằng, riêng với trận lũ bất thường, lên nhanh mấy tiếng ở Nghĩa Hành, khó có thể quy kết hết trách nhiệm cho thủy điện. “Nên nhớ rằng, sông Vệ không hề có một nhà máy thủy điện nào ở thượng nguồn. Nhưng chỉ trong mấy tiếng, lũ đã dâng cao gần nóc nhà”.
Ông Nguyễn Văn Như, Phó Chủ tịch xã, quả quyết, mưa lớn bất thường kèm với lở núi chính là nguyên nhân nước về nhanh ào ạt. “Trong đêm 15/11, núi lở ầm ầm như bom, ai cũng hoảng hốt. Núi lở đặc biệt ở Hành Tín Đông, Minh Long.
Riêng ở Hành Tín Tây có tới hơn 15 chòm núi bị sạt lở. Không có gì ngăn được nước chảy xuống sông Vệ khiến nước sông dâng cao nhanh chóng. Mà nguy hiểm nhất chính là sạt lở núi gây lũ quét. Rất dễ chết người”. Ông Như cho rằng, nạn phá rừng đầu nguồn, rừng tự nhiên chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc núi lở.
Ông Đàm Bàn, Phó ban Phòng chống lụt bão huyện Nghĩa Hành, có chung nhận định và cho rằng, chúng ta đang hứng chịu hậu quả của việc tàn phá rừng tự nhiên. Phó Chủ tịch UBND huyện Nghĩa Hành Lữ Đình Phô cho hay, với hơn 13.500 hộ dân (chiếm phần lớn dân số Nghĩa Hành) bị ngập sâu, hơn 1.000 trâu bò, gần 5.000 lợn và gần 1 triệu gà, vịt chết cùng hàng loạt thiệt hại khác về lúa, hoa màu, nhà cửa, có thể nói huyện Nghĩa Hành đã tái nghèo sau lũ. (Tiền Phong 21/11) đầu trang(
Những năm trước đây, nhiều người dân rủ nhau trồng cây dó bầu để cấy trầm, ôm giấc mơ thu tiền tỉ. Song, giấc mơ ấy khó thành sự thật khi cây đã đến tuổi mà nông dân chẳng biết bán cho ai.
Trầm hương và kỳ nam là phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó bầu. Khi sản phẩm tự nhiên ngày càng cạn kiệt, vào những năm 1990, với những thành công bước đầu trong việc cấy hóa chất vào cây dó bầu tạo trầm đã tạo ra làn sóng ồ ạt trồng dó bầu.
Vốn bỏ ra không nhiều, cách trồng đơn giản và chỉ sau vài năm cây dó bầu được cấy trầm lợi nhuận có thể cho lợi nhuận vài tỉ đồng/héc ta. Nghe đồn thổi thế, nhiều hộ không chỉ trồng cây dó bầu xung quanh vườn nhà, hàng rào, trồng xen canh với các loại cây trồng khác mà còn chuyển sang trồng trên cả đất nông nghiệp. Nhiều địa phương còn xem dó bầu là cây xóa đói giảm nghèo, nên đã cấp cây giống miễn phí khuyến khích dân trồng.
Trở lại xã ở huyện miền núi Trà Bồng, Tây Trà, Quảng Ngãi, không khó để thấy cây dó bầu từ nhỏ đến lớn vươn lên lấn át cây keo, cây quế. Chỉ tay vào những cây dó bầu bên vườn nhà, anh Hồ Thanh Hùng ở thôn Trà Ong, xã Trà Thanh (Tây Trà) nói: “10 năm trước nghe nói trồng dó bầu có thể kiếm tiền tỉ nên quyết định trồng 300 cây xen với keo, quế. Tôi hy vọng lắm, nhưng cây dó bầu có vẻ như không thích nghi được như cây keo, cây quế, nó chết chỉ còn 60 cây. Giờ đã đến tuổi mà chẳng thấy ai hỏi mua”.
Cũng như anh Hùng, anh Hồ Xuân Đoàn ở thôn 5, xã Trà Thủy (Trà Bồng) vì nghe nói loại cây này cho lợi nhuận cao, một cây 10 năm tuổi hơn chục triệu đồng nên đã mua về trồng 150 cây, nhưng cây cũng bị chết chỉ còn 10 cây. Nay đã hơn 10 năm, cây dó bầu có đường kính hơn 25 cm cũng chẳng ai đoái hoài.
Theo nhiều nông dân, cây dó bầu được trồng tại đây không thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng, có tới 80-90% số lượng cây bị chết, nhiều hộ rơi vào cảnh trắng tay và quay trở lại với cây keo, quế, mì.
Chủ vườn ươm cho biết, trồng cây dó bầu rất dễ, không khác gì trồng rừng. Để có trầm hương nhân tạo bằng cách dùng khoan khoan sâu vào thân, lấy mảnh thép găm vào thân cây và tiêm vào đó một hỗn hợp hóa học kích thích tạo trầm.
“Chỉ cần cây dó bầu 3 năm tuổi là có thể cấy trầm. Thời gian trôi qua từ 4 năm trở lên, nước mưa thấm vào, hòa với nhựa của cây, sẽ kết trầm. Mỗi ký trầm nay có giá 2,7 triệu đồng”- ông chủ vườn ươm nói chắc nịch.
Như lời chủ vườn ươm nói với mỗi hécta dó bầu, sau 7 năm sẽ thu được vài tỉ. Đây quả là con số nằm mơ nhiều người cũng không dám nghĩ tới. Tuy nhiên khi hỏi các nông dân thì hầu hết đều cho biết, họ chỉ nghe đồn thổi chứ chưa có ai đến đặt vấn đề hỏi mua hay tạo trầm cho cây dó bầu.
Một cán bộ của Hạt Kiểm lâm Trà Bồng xin được giấu tên cho chúng tôi biết, đó chỉ là trò "câu mồi" của các chủ vườn ươm. Nhiều chủ vườn ươm hằng ngày lặn lội đến các gia đình trồng dó bầu trả giá mỗi cây vài chục triệu khiến người dân ôm mộng rồi bỏ đi. Họ làm như thế để thu lợi nhuận từ bán cây con giống.
“Nhà tôi cũng trồng vài chục cây đã gần 12 năm tuổi, tôi trông cho có ai hỏi mua vài trăm nghìn/cây tôi bán ngay lấy tiền chứ để làm chi. Lấy gỗ cũng chẳng được vì thân mềm sụp”- vị cán bộ kiểm lâm nói.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn- Phó Chủ tịch UBND xã Trà Thủy cho hay, vài năm trước trên địa bàn xã cũng có thương lái đến đặt mua dó bầu từ 10 năm tuổi trở lên, một số người cũng đặt vấn đề mua dó bầu để cấy thuốc tạo trầm, nhưng không hiệu quả nên hoạt động mua bán bị ngưng lại. Cây dó bầu không phát huy hiệu quả như mong đợi của nhiều người.
Dó bầu là một loại cây rất đặc biệt, có thời gian sinh trưởng kéo dài. Theo một số tài liệu đúc kết được của các nhà khoa học, có hai phương pháp chính để tạo trầm trên cây dó bầu đó là gây tổn thương và gây tổn thương kết hợp với chế phẩm sinh học hoặc hóa chất.
Về mặt khoa học, việc tạo trầm, kỳ nam cũng chưa được khẳng định chắc chắn. Từ xưa đến nay ở Việt Nam chưa có mô hình hiệu quả cao nào được tổng kết chuyển giao, trong khi thị trường tiêu thụ phần lớn bán cho thương lái Trung Quốc, vì thế bà con nông dân không nên đặt niềm hy vọng lớn vào loại cây trồng này. (Người Lao Động 21/11) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Bạch Thông đã kiểm tra, phát hiện và lập biên bản xử lý 52 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Đáng chú ý có 13 vụ khai thác gỗ trái phép, 26 vụ vận chuyển, mua bán trái phép lâm sản, 12 vụ cất giữ lâm sản trái phép. Tịch thu 16,600m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại, trong đó 8,070m3 gỗ xẻ, gỗ tròn, quý hiếm nhóm IIA, 1 ô tô, 8 xe máy các loại, 1 cưa xăng, 1 súng săn, thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 160 triệu đồng.
Hạt kiểm lâm huyện đã xử phạt hành chính 45 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng, chuyển cơ quan chức năng xử lý hình sự 4 vụ, khởi tố 4 vụ vi phạm và đã xét xử 3 vụ với 10 bị cáo. Việc ra quyết định xử lý hình sự đối với một số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đã góp phần răn đe, giáo dục các đối tượng vi phạm. (Đài PT - TH Bắc Kạn 21/11) đầu trang(
Thực trạng một số đối tượng vào khu vực giải phóng mặt bằng Nhà máy Thủy điện Hủa Na lừa phỉnh người dân bán đất rừng, đất ở với giá rẻ mạt, sau đó "ăn chặn" tiền đền bù với giá cao là có thật. UBND huyện Quế Phong (Nghệ An) đã giao cho Công an huyện điều tra làm rõ. Hiện, Công an huyện đã khởi tố một đối tượng có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tiền đền bù của người dân.
Trước đây, báo Công An Nghệ An đã có bài viết phản ánh nhiều hộ dân không biết trước chủ trương giải phóng mặt bằng Nhà máy Thủy điện Hủa Na nên đã bán đất ở, đất rừng cho một số đối tượng khác. Đến khi đền bù, số người dân này không được nhận tiền nên chịu rất nhiều thiệt thòi. Sau khi báo đăng, ngày 3/10/2013, UBND tỉnh Nghệ An có Công văn số 6904/UBND-CN yêu cầu UBND huyện Quế Phong kiểm tra làm rõ.
Sau một thời gian kiểm tra, làm rõ, UBND huyện Quế Phong khẳng định: Sau khi Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương đầu tư xây dựng Nhà máy Thủy điện Hủa Na, UBND huyện Quế Phong đã ban hành Chỉ thị số 25/CT-UBND ngày 3/7/2007 về việc giữ nguyên hiện trạng vùng lòng hồ.
Theo đó, diện tích đất đai sử dụng cho Nhà máy Thủy điện Hủa Na là 2.183 ha, trong đó có 1.712 ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, di dân 1.006 hộ thuộc các xã Đồng Văn và Thông Thụ.
Chỉ thị này đã được UBND huyện phối hợp với chủ đầu tư phát hành đến tận từng hộ dân. Sau đó, UBND huyện Quế Phong tiếp tục có nhiều văn bản chỉ đạo các lực lượng, chính quyền cơ sở, đảng viên thực hiện nghiêm túc việc giữ nguyên hiện trạng lòng hồ. Khi có chủ trương về đền bù giải phóng mặt bằng, UBND huyện thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng và cho niêm yếu công khai chủ trương cũng như giá đền bù đến từng thôn, bản và thường xuyên chỉ đạo chính quyền xã, các thôn, bản tổ chức họp dân để tuyên truyền về chủ trương tái định cư, đền bù giải phóng mặt bằng.
Tuy nhiên, do quá trình thực hiện bồi thường, di dân kéo dài từ năm 2008 đến năm 2012 cùng với nhận thức còn hạn chế của một số hộ dân, vì hám lợi trước mắt nên đã bị một số đối tượng xấu ở nơi khác đến dụ dỗ, mua, bán, cầm cố tài sản.
Trong quá trình thực hiện công tác bồi thường, UBND huyện, Hội đồng đền bù cũng đã nắm bắt được một số thông tin, dư luận phản ánh tình trạng một số hộ dân thuộc vùng lòng hồ bán đất rừng cho các đối tượng khác và lấy hồ sơ kiểm kê tài sản đi cầm cố để ăn tiêu… Nhưng việc mua, bán này chỉ thực hiện giữa người mua, người bán mà không thông qua chính quyền địa phương xác nhận.
Trước thực trạng trên, Hội đồng giải phóng mặt bằng Nhà máy Thủy điện Hủa Na đã siết chặt việc chi trả tiền đền bù. Những hộ gia đình đến nhận tiền đền bù đều phải cầm theo mọi giấy tờ liên quan như hồ sơ kiểm kê tài sản, bìa đất, hộ khẩu, chứng minh nhân dân… Hội đồng đền bù chỉ chi trả cho người trực tiếp được đền bù, khi nhận tiền phải ký tên và điểm chỉ.
Nhưng khi các hộ dân đã bán đất cho các đối tượng khác hoặc đem hồ sơ kiểm kê tài sản, bìa đỏ đi cầm cố nhận tiền liền bị các đối tượng mua đất, cho vay lấy hết tiền đền bù dù tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp không phụ thuộc vào diện tích đất, tài sản được đền bù.
Sau khi xác minh lại thông tin và xác nhận có hiện tượng người dân được đền bù bị một số đối tượng "ăn chặn" tiền do kém hiểu biết, ngày 30/9, ông Lữ Đình Thi - Chủ tịch UBND huyện Quế Phong đã giao cho Công an huyện Quế Phong điều tra làm rõ. Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, vừa qua, Công an huyện Quế Phong đã khởi tố đối tượng Lê Thị Sâm ở thị trấn Kim Sơn về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Qua môi giới của Lê Thị Sâm, ngày 28/10/2010, ông Hồ Viết Hòa ở huyện Quỳ Hợp được ông Lang Văn Học ở Thông Thụ chuyển nhượng 10 ha đất rừng 163, thửa 308, tờ bản đồ số 13, nhưng mọi giấy tờ chuyển nhượng đều đứng tên Sâm. Khi có tiền đền bù, lợi dụng sự kém hiểu biết, Sâm đã nhờ ông Học lên lấy toàn bộ số tiền đền bù là 840 triệu đồng gồm cả số tiền gần 500 triệu đồng tiền hỗ trợ nghề nghiệp mà không chia cho ông Hòa. (Công An Nghệ An 21/11) đầu trang(
Kiểm lâm tỉnh Bình Phước cho hay, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh còn hơn 154 ha rừng bị diệt. Phần lớn rừng bị phá để tồng mì, điều, cao su. (Tuổi Trẻ 20/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
- Đợt lũ vừa rồi ở mấy tỉnh miền Trung kinh hoàng quá bác ạ!
- Vâng, thật là khủng khiếp, nước mênh mông trắng đồng, thiệt hại về người và tài sản không biết đâu mà kể, thương quá mà không biết làm thế nào.
- Phá rừng làm thủy điện, rồi thì người dân chặt cây lấy gỗ làm nhà, dòng lũ không có gì ngăn được đổ ụp lên đầu người vô tội như xô nước dội lên đàn kiến vậy, làm sao đỡ nổi. Đợt này, bác có định quyên góp gì không?
- Cứu trợ bao nhiêu cho đủ, vấn đề là người dân, đặc biệt là chính quyền địa phương cần có những giải pháp căn cơ, lâu dài.
- Thì họ vẫn quyết liệt chống thiên tai đấy thôi.
- Nhưng vừa rồi, đúng hôm đỉnh lũ, tại trụ sở UBND phường Thủy Châu (thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế), người ta tổ chức ăn uống hát hò linh đình, trong khi có cậu bé vì thương ông bà đói, chèo thuyền đi mua gói mì tôm đã bị dòng nước lũ cuốn đi mất xác.
- Sao lại thế nhỉ? Họ không làm gì à?
- Hay là, mấy ngày trời vật lộn với dòng nước lũ, nên họ nghỉ ngơi, thư giãn để có sức khỏe, tinh thần phục vụ bà con trở lại.
- Thì có ai cấm họ ngủ một giấc đâu. Vấn đề là, trong lúc hàng nghìn con người ngâm mình dưới dòng nước lạnh với cái bụng đói meo thì ai lại điềm nhiên ăn uống, hát hò linh đình như vậy, người có lương tâm không ai làm thế. (An Ninh Thủ Đô 21//11) đầu trang(
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của nước ta. Không chỉ là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo đời sống dân sinh cho hàng triệu người mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, góp phần ngăn chặn xói mòn, lũ lụt, đảm bảo môi trường không khí sạch… và thậm chí rừng còn đóng góp vào nhiệm vụ an ninh quốc phòng. Do đó, từ lâu việc bảo vệ rừng đã được Nhà nước đặt lên thành một trong những mục tiêu hàng đầu.
Thế nhưng nhiều năm qua, cùng với đà phát triển của kinh tế - xã hội, rừng ngày càng bị tàn phá, suy giảm diện tích nặng nề. Có nhiều nguyên nhân khiến rừng bị phá ồ ạt như tốc độ tăng đô thị hóa, sức ép gia tăng dân số, cháy rừng…, bộ máy kiểm lâm kém hiệu quả, một số nơi chính quyền địa phương thiếu trách nhiệm bảo vệ rừng... khiến nạn phá rừng ngày càng trầm trọng.
Theo thống kê của Bộ NN-PTNT, hiện nước ta có tổng diện tích rừng hơn 13,1 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên vào khoảng 10,4 triệu ha. Gọi là rừng tự nhiên nhưng thực tế có hơn một nửa là rừng nghèo hoặc được tái sinh, còn rừng già, rừng nguyên sinh chỉ còn lại khoảng hơn 9%.
Trong chiến tranh, rất nhiều cánh rừng nguyên sinh của nước ta đã bị bom mìn tàn phá. Nhưng hơn 30 năm qua, rừng đã và đang tiếp tục bị tàn phá bởi bàn tay của con người. Theo Bộ NN-PTNT, diện tích rừng tự nhiên của nước ta đang suy giảm với tốc độ chóng mặt. Diện tích rừng nguyên sinh chỉ còn hơn 9% là một thực trạng đáng báo động.
Ở miền Bắc, tốc độ phá rừng diễn ra nhanh chóng vào những năm 80 và 90 của thế kỷ trước. Bây giờ đi lên các tỉnh biên giới xa xôi như Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lạng Sơn… thật chẳng khó khăn để gặp những dãy đồi, dãy núi trơ ngọn.
Trong khi bà con ở nơi đây nói rằng, chỉ cách đây vài chục năm vẫn còn là thảm rừng xanh. Độ che phủ rừng cả nước chỉ còn chủ yếu ở miền Trung và Tây Nguyên. Gần đây, tốc độ phá rừng ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên đang liên tục được báo động. Những cánh rừng già ở Quảng Nam và Đắk Nông, Đắk Lắk, Kon Tum… liên tiếp bị lâm tặc xâm phạm với quy mô lớn.
Trước thực trạng báo động của rừng, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ và phát triển rừng, đến nay đã được 10 năm. Tuy nhiên, sau 10 năm triển khai luật, rừng vẫn đang từng ngày bị đốn hạ không thương tiếc. Việc quản lý và bảo vệ rừng vẫn còn rất lỏng lẻo. Thật đáng buồn là ở địa phương nào có rừng cũng đang xảy ra những vi phạm… từ đơn giản như đốn chặt gỗ trái phép đến phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng. Thậm chí có nơi, lâm tặc hoành hành, chống trả người thi hành công vụ.
Ở mức độ cao hơn, có những cách “phá rừng” còn khủng khiếp hơn mà lại có vẻ hợp pháp (như “dọn sạch” cả một thảm rừng rộng lớn) như xây dựng các công trình thủy điện vừa và nhỏ. Tình trạng đua nhau làm thủy điện trong thời gian qua đã xâm hại một phần rừng không nhỏ.
Tệ hơn, gần đây còn đang có những công trình đề nghị được xây dựng ngay tại vùng lõi của rừng quốc gia, không chỉ quét sạch cả thảm thực vật nguyên sinh mà còn đe dọa nhiều loài động vật hoang dã đang được bảo tồn ở đó, làm dư luận rất bức xúc. Chương trình trồng 5 triệu ha rừng đã được dừng lại, ngân sách chi ra không nhỏ nhưng hiệu quả vẫn chưa như mong đợi. Độ che phủ rừng của nước ta vẫn còn khá thấp, chỉ chưa đầy 40%.
Hiện nay, câu chuyện về “rừng” ngày càng thêm nghiêm trọng. Không giữ được rừng đâu chỉ có mất rừng mà hiện ở nhiều địa phương, chính người dân sở tại đang phải đối mặt với nhiều hậu quả tai hại như lũ lụt từ đầu nguồn đổ về xối xả. Đã có những trận lũ quét trôi cả một bản làng ở Lào Cai làm 19 người thiệt mạng, vì rừng đầu nguồn bị phá trộm.
Lũ ở miền Trung và Tây Nguyên về càng nhanh hơn do các công trình thủy điện nhỏ và vừa ở đầu nguồn xả lũ, do chính rừng đầu nguồn bị tàn phá, không còn khả năng cắt lũ. Lũ chôn cả thủy điện An Khê và mỗi lần lũ về, gỗ rừng đủ loại từ thượng nguồn lại ồ ạt đổ theo dòng nước, người dân mới vỡ lẽ rừng đầu nguồn đã bị tàn phá. Có những chuyện xưa ít gặp nhưng nay đã thành cơm bữa: voi bỏ rừng về buôn làng giết hại người, phá hoại tài sản…
Có lẽ, việc bảo vệ rừng không thể chỉ trông chờ vào nhận thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân mà các cơ quan có trách nhiệm phải xây dựng ngay những thiết chế đủ mạnh để xử lý các đường dây lâm tặc, cùng một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất toa rập với những phần tử làm ăn bất chính tàn phá rừng dưới nhiều hình thứ. Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác trồng rừng, xem xét lại các dự án, công trình thủy điện và những chương trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp không có lợi.
Chúng ta đang tích cực thực hiện 2 chương trình lớn là Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu và Chương trình quốc gia về phòng chống giảm nhẹ thiên tai. Giờ đây phải vào cuộc mạnh mẽ nếu không mai này nhiều thế hệ càng phải trả giá với những hậu thảm khốc! (Sài Gòn Giải Phóng 21/11) đầu trang(
Nhiều tin vui dồn dập đến đúng dịp ngày Di sản Việt Nam. Đó là cây đa làng Bạch Tuyết (xã Hùng Tiến, Mỹ Đức, Hà Nội), cây sanh 200 tuổi trước cửa đền Lưu Xá (Hưng Hà- Thái Bình); 20 cây xoài ngự (tiến vua) hơn 200 tuổi tại khuôn viên chùa Đá Trắng (xã An Dân, huyện Tuy Hòa, Phú Yên)…vừa chính thức được công nhận là cây di sản Việt Nam.
Năm nay, Ngày Di sản văn hóa Việt Nam lần thứ 9, diễn ra tại Hà Nội mang chủ đề - "Tuần Văn hóa du lịch Di sản xanh - Nơi gặp gỡ con người và thiên nhiên”. Chủ đề của hoạt động năm nay cũng nhằm tôn vinh và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên độc đáo của Việt Nam. Chính vì thế, việc vinh danh cây di sản lại càng có ý nghĩa.
Ấy vậy, nhưng nhìn lại, sau khi vinh danh, không ít cây di sản đang phải chịu số phậm hẩm hiu. Trong chuyến công tác về xã Cát Quế (Hoài Đức - Hà Nội), chúng tôi đã chứng kiến cây đa tía (cây đa Cầu Gạo), dù được Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam công nhận Cây Di sản Việt Nam (3-2013), địa phương đã đầu tư kinh phí và vận động nhân dân ủng hộ tiền xây dựng tường khoanh vùng bảo vệ quanh cây, dựng bia Cây Di sản, song xung quanh gốc đa, hàng quán vẫn "vây” kín.
Hay một minh chứng khác, vào năm 2012, 9 cây muỗm di sản ngàn tuổi ở đền Voi Phục (Hà Nội) cũng trong tình trạng được vinh danh nhưng không được bảo vệ, phải oằn mình chống chọi với tác động của môi trường sống…Có một lời giải thích chung cho những cây di sản hẩm hiu ấy là …do thiếu kinh phí (!)
Từ một sáng kiến của Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, từ năm 2010 danh hiệu "Cây di sản Việt Nam” đã ra đời, được cộng đồng biết đến và quan tâm. Cho đến nay đã có hàng trăm cây di sản khắp mọi miền được vinh danh. Không chỉ có giá trị về khoa học tự nhiên, cây Di sản còn có giá trị đặc biệt về văn hóa-lịch sử, vì những cây di sản thường gắn liền với đình, đền, chùa…và có tuổi đời tương đương với các công trình lịch sử cùng thời.
Song, suy cho cùng, để cây di sản xơ xác, tiêu điều không hẳn do thiếu kinh phí. Nguyên nhân chính do con người chưa thực sự yêu cây, chưa nhận thấy được giá trị mọi mặt mà cây xanh nói chung và cây di sản nói riêng mang lại. Con người đang lạm dụng lòng tốt của cây để mưu sinh. Trên đường phố, trước cổng các di tích, thật dễ bắt gặp những hình ảnh thân cây bị đóng đinh để treo biển quảng cáo, căng dây bán hàng…
Tệ hơn thế, vì nghĩ cái cây cổ thụ án ngữ trước cửa nhà cản trở mặt tiền kinh doanh, con người cũng đang tâm "giết” cây bằng nhiều cách dã man. Chẳng hạn như ra sức đổ nước sôi vào gốc cây mỗi ngày. Nỗi đau của cây, chỉ có cây mới hiểu… (Đại Đoàn Kết 21/11) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Tổ chức Human Rights Watch vừa công bố một báo cáo nghiên cứu, trong đó cho biết tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp và quản lý rừng yếu kém của ngành lâm nghiệp đã khiến Indonesia thất thu ngân sách tới 7 tỷ USD trong giai đoạn 2007-2011, nhiều hơn khoản chi nhà nước dành cho ngành y tế.
Một trong những tác giả chính của báo cáo trên, Emily Harwell, nhấn mạnh rằng vấn đề thiệt hại nói trên sẽ càng đáng lưu tâm khi biết rằng nó không bao gồm khoản thất thu từ gỗ xuất khẩu lậu, và trong cùng kỳ ngân sách của Chính phủ Indonesia chỉ thu được 300 triệu USD tiền thuế từ khai thác gỗ và tái trồng rừng.
Báo cáo còn cho biết, quản lý yếu kém của ngành lâm nghiệp cũng đã góp phần không nhỏ vào thất thu ngân sách của quốc gia lớn nhất Đông Nam Á và đông dân thứ tư thế giới này, khi lên tới hơn 2 tỷ USD năm 2011 - một con số còn cao hơn chi ngân sách nhà nước cho ngành y tế trong cùng kỳ.
Trong sự quản lý yếu kém còn có tác động không nhỏ của yếu tố tham nhũng, mà theo xếp hạng năm 2012 của Tổ chức Minh bạch Thế giới, Indonesia đứng khá thấp ở vị trí 118 trong tổng số 178 quốc gia được khảo sát.
Cuộc điều tra cũng trong năm 2012 của Ủy ban Chống Tham nhũng Quốc gia Indonesia (KPK) cho thấy trong số 20 cơ quan chính phủ ở trung ương, Bộ Lâm nghiệp là cơ quan duy nhất có điểm số thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu về cung cấp dịch vụ công.
Người phát ngôn bộ này, Sumarto Suharno, trong cuộc họp báo về vụ tham nhũng trị giá gần 1 triệu USD liên quan đến khai thác bất hợp pháp và buôn lậu gỗ tại Papua mới đây, cũng đã thừa nhận có sự móc ngoặc giữa cảnh sát và quan chức chính quyền, và những vụ việc như vậy khá phổ biến ở các địa phương giàu tài nguyên rừng ở Indonesia.
Tuy nhiên, quan chức này nói rằng thiệt hại nhà nước từ khai thác gỗ bất hợp pháp hiện đã được thu hẹp xuống còn chưa đầy 1.000 tỷ rupiah (87,6 triệu USD) mỗi năm, từ mức 30.700 tỷ rupiah năm 2002, nhờ áp dụng biện pháp giấy chứng nhận xuất xứ đối với gỗ giao dịch trên thị trường.
Ngoài ra, trong báo cáo của mình, Human Rights Watch còn cảnh báo về xu hướng gia tăng chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng ở Indonesia, nhất là phá rừng để khai thác khoáng sản hay trồng cọ dầu.
Chính nhờ mở rộng diện tích trồng cọ dầu mà Indonesia đã trở thành nhà sản xuất dầu cọ lớn nhất thế giới với sản lượng 26 triệu tấn năm 2012, và dự kiến sẽ nâng con số này lên 26,7-27 triệu tấn năm 2013, chưa kể mục tiêu nâng gấp đôi công suất các nhà máy hiện nay vào năm 2015 của ngành công nghiệp giấy Indonesia. Các động thái này sẽ tác động sâu sắc, lâu dài đến rừng, đa dạng sinh học của rừng cũng như đời sống của những cộng đồng sống gần gũi và có sinh kế dựa vào rừng ở Indonesia. (VietnamPlus.vn 20/11) đầu trang(
Các nhà xuất khẩu Úc đang muốn bán thịt kangaroo sang Trung Quốc, đất nước đang có nhu cầu ngày càng cao về thịt khi tầng lớp trung lưu bùng nổ.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhu cầu về thịt của Trung Quốc sẽ tăng tới 17% trong 8 năm tới khi tầng lớp trung lưu bùng nổ.
Hiện các nhà xuất khẩu Úc chưa được phép bán thịt kangaroo sang Trung Quốc nhưng gần đây các quan chức Úc đã có những bình luận lạc quan về vấn đề này.
Bộ trưởng Nông nghiệp Barnaby Joyce cho biết: “Tôi sẽ cố gắng thảo luận với Trung Quốc vì tôi nghĩ thị trường Trung Quốc có triển vọng rất lớn”.
Wang Jun, chủ sở hữu của một nhà hàng nhỏ ở Bắc Kinh, cho biết ông rất muốn thử bán món thịt kangaroo. Wang nói: "Tại sao không? Miễn là nó ngon".
Tuy nhiên, chỉ có rất ít người dân Úc dám ăn thịt kangaroo vì cảm thấy tội lỗi và thương cho những con vật đáng yêu này.
Úc là nhà cung cấp thịt đỏ lớn của Trung Quốc, với giá trị lên tới 577 triệu USD trong mùa 2012/13.
Ray Borda, người sáng lập và giám đốc điều hành của nhà sản xuất thịt kangaroo và thịt thú rừng lớn nhất Úc, Macro Meats cho biết: “Thị trường Trung Quốc có tiềm năng rất lớn và chúng tôi chắc chắn rất quan tâm tới thị trường này”.
Kangaroo hay còn gọi là chuột túi được bảo vệ bởi luật tiểu bang và liên bang, được đánh bắt tự nhiên và không nuôi. Những thợ săn được cấp phép sẽ được bắt một số lượng nhất định hàng năm. (Theo Infonet 20/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||