Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 20 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Sáng 19/7 tại Hà Nội, Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam và Tổ chức Động vật Châu Á đã ký kết thoả thuận hợp tác (MOU) với mục tiêu là xây dựng lộ trình và các kế hoạch cần thiết để chấm dứt nạn nuôi gấu lấy mật và bảo tồn số lượng gấu còn lại trong tự nhiên.
Lễ ký thoả thuận có sự tham gia của tiến sỹ Jill Robinson. MBE, Sáng lập viên kiêm Tổng giám đốc Tổ chức Động vật châu Á; Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm Nghiệp và các cán bộ chuyên trách của Tổng cục Lâm nghiệp và các cơ quan, tổ chức có liên quan, hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn động vật hoang dã.
Các số liệu năm 2015 của Văn phòng CITES cung cấp, có khoảng 1.245 cá thể gấu ngựa đang bị nuôi nhốt trong 430 trại nuôi nhốt gấu trên toàn Việt Nam. Do những khó khăn hiện tại của nền kinh tế, cùng với việc tăng cường giám sát của lực lượng kiểm lâm và các chiến dịch nâng cao nhận thức nhằm giảm tiêu thụ mật gấu, các chủ trại gấu có xu hướng chuyển giao gấu nuôi cho Chính phủ.
Hơn nữa, để giải quyết triệt để việc săn bắt gấu từ tự nhiên và khai thác gấu nuôi trái phép, cần có lộ trình đưa toàn bộ số gấu trang trại trên về các trung tâm cứu hộ.
Theo biên bản ghi nhớ, hai bên sẽ cam kết hợp tác và phối hợp cùng với các bên liên quan tăng cường quản lý bảo tồn gấu trên phạm vi toàn quốc thông qua các hoạt động như: Hoàn thiện chính sách bảo tồn gấu; Truyền thông và tăng cường thực thi pháp luật về quản lý, giám sát hoạt động nuôi gấu; Tăng cường năng lực của các trung tâm cứu hộ gấu; Tổ chức nghiên cứu, truyền thông và các hoạt động khác nhằm bảo tồn gấu trong tự nhiên.
Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm Nghiệp đánh giá cao thành công của mô hình Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam và những nỗ lực của Tổ chức Động vật châu Á trong việc chăm sóc, cứu hộ gấu trong thời gian qua, đồng thời bày tỏ kỳ vọng vào Thỏa thuận hợp tác giữa hai bên sẽ giúp thúc đẩy hơn nữa các hoạt động phối hợp trong nghiên cứu, triển khai thực hiện công tác quản lý bảo tồn gấu trong toàn quốc.
Tiến sỹ Jill Robinson. MBE, Sáng lập viên kiêm Tổng giám đốc Tổ chức Động vật Châu Á ghi nhận sự hỗ trợ và hợp tác của Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam và khẳng định sự liên kết giữa hai bên là vô cùng quan trọng, và Tổ chức Động vật châu Á sẽ làm hết sức để đảm bảo hoạt động hợp tác giữa hai đơn vị đạt hiệu quả cao nhất trong công tác quản lý bảo tồn gấu ở Việt Nam.
Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác được tổ chức nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Tổng cục Lâm nghiệp và Tổ chức Động vật châu Á phối hợp tổ chức thực hiện các hoạt động cần thiết để chấm dứt nạn nuôi gấu lấy mật, tăng cường quản lý chặt chẽ gấu nuôi ở các trung tâm cứu hộ đạt chuẩn và bảo tồn gấu trong môi trường tự nhiên tại Việt Nam./.
Tổ chức Động vật Châu Á là một tổ chức từ thiện quốc tế hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tài trợ, xây dựng và đang vận hành Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam.
Tổ chức đã bắt đầu cứu hộ gấu tại Việt Nam cách đây 9 năm, và hiện đã cứu hộ được 186 cá thể gấu (cả gấu chó và gấu ngựa), trong đó có 170 cá thể đang sống trong môi trường bán tự nhiên tại Trung tâm Cứu hộ Gấu Việt Nam, thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Đồng thời, về phương diện thúc đẩy thực thi pháp luật, Tổ chức Động vật châu Á đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, với ngành Kiểm lâm để cứu hộ gấu, tuyên truyền pháp luật bảo vệ loài gấu. (Vietnamplus 19/7)đầu trang(
Qua công tác tuần tra, Ban QLRPH Xuân Lộc đã phát hiện hàng trăm cây gỗ dầu và sao khoảng 12 năm tuổi bị kẻ xấu khoan lỗ và bơm thuốc độc vào và bắt đầu có dấu hiệu úa vàng, rụng lá.
Ngày 18/7, Ban quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Xuân Lộc (Đồng Nai) phối hợp với Công an và VKSND huyện Xuân Lộc đã vào khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ để điều tra việc hàng trăm cây gỗ dầu và sao thuộc lâm phần đơn vị này quản lý bị đầu độc.
Theo đó, chỉ trong vòng 10 ngày trở lại đây, qua công tác tuần tra, Ban QLRPH Xuân Lộc (Đồng Nai) đã phát hiện 242 cây gỗ dầu và sao khoảng 12 năm tuổi, đường kính khoảng 16 cm (thuộc phân trường Trảng Táo, xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc), bị úa vàng, rụng lá và một số bị chết khô.
Số cây này nằm trong diện tích khoảng 5 ha (trong tổng 7 ha) được giao khoán cho ông Nguyễn Mốc (ngụ xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc) chăm sóc, quản lý.
Theo ông Đặng Văn Hiện, Trưởng phân trường Trảng Táo: "Những cây này bị đổ thuốc vào khoảng 10 ngày trước. Cách đây mấy hôm, chúng tôi đi tuần và thấy cây héo úa bất thường. Khi kiểm tra thân ở phần gốc thì phát hiện vụ việc".
Sau khi xảy ra vụ việc, phân trường cũng đã 2 lần mời người được giao khoán chăm sóc là ông Nguyễn Mốc lên làm việc nhưng ông không đến.
Điều đáng nói bên cạnh những cây sao bị khô héo là những cây điều được trồng phía dưới tươi tốt. Một bảo vệ rừng cho biết: "Khả năng người được giao quản lý khu vực đã tự hạ độc cây để lấy diện tích và ánh sáng cho cây điều phát triển, chúng tôi đã báo sự việc lên cơ quan công an và họ sẽ điều tra vụ việc".
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc, đơn vị được giao quản lý 10.000 ha rừng. Cơ quan này đã giao khoán cho 2.000 hộ dân trực tiếp chăm sóc, bảo vệ cây với điều kiện họ sẽ được thu hoạch gỗ sau 50 năm chăm sóc. Để quản lý gỗ, lực lượng chức năng đánh số thứ tự và kiểm tra bằng hệ thống định vị GPS.
Cơ quan chức năng đang tiến hành điều tra xác minh và truy tìm đối tượng phá hoại. Hiện chưa xác định được thiệt hại, cây mới chớm vàng lá chứ chưa chết hẳn. Cây còn non chưa lấy gỗ được nên nếu tính thiệt hại phải chờ cơ quan kiểm lâm tính", Ông Hoàng Đình Long, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc thông tin.
Trước đó, hồi tháng 3/2017, tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (Tây Ninh) cũng xảy ra mộ vụ việc tương tự. Theo đó, trong quá trình đi kiểm tra lực lượng bảo vệ rừng đã phát hiện 124 cây rừng tự nhiên gồm cây cầy (kơ nia), cám, bằng lăng...có đường kính từ 10 cm-45 cm bị kẻ xấu lén lút khoan lỗ, vạt vỏ cây, sau đó chúng đổ thuốc độc (loại thuốc khai hoang 24 D) vào, với mục đích là làm cho cây rừng chết dần để lấn chiếm đất rừng làm rẫy. (PhapLuatNet 19/7)đầu trang(
Ngày 19/7, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng có văn bản báo cáo Sở NN và PTNT TP về việc gia đình một kiểm lâm viên công tác tại Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn bị 2 đối tượng uy hiếp, đe dọa tại nhà.
Cụ thể, trưa ngày 14/7, hai đối tượng từng bị kiểm lâm viên Nguyễn Hữu Vinh xử lý tại rừng Sơn Trà đã tìm đến nhà kiểm lâm viên Vinh tại chung cư 4A Làng cá Nại Hiên Đông (quận Sơn Trà, Đà Nẵng) với lý do lấy lại búa và rựa bị Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn tịch thu trước đó.
Khi hai đối tượng này đến, anh Vinh đi làm chưa về và chỉ có vợ anh Vinh là chị Võ Thị Liền cùng 2 con gái nhỏ ở nhà. Không có anh Vinh, hai đối tượng này yêu cầu chị Liền gọi anh Vinh về hoặc cung cấp số điện thoại anh Vinh để đòi lại búa và rựa, nhưng chị Liền từ chối.
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, 1 trong 2 đối tượng trên có tên là Trần Minh D. (SN 1978, trú tổ 1D, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, Đà Nẵng), đối tượng còn lại chưa xác định được họ tên, địa chỉ cư trú.
Trước đó, ngày 14/6, tại khu vực Hố Sâu, tiểu khu 63 bán đảo Sơn Trà, lực lượng kiểm tra liên ngành phát hiện Trần Minh D. mang theo búa, rựa đi từ trong rừng ra và có thái độ chống đối, bất hợp tác với lực lượng liên ngành. Qua đấu tranh, đối tượng Trần Minh D. khai nhận đi đóng “bảng cấm” cho khu vực rừng của ông Phạm Hùng Mạnh.
Được biết, vào đầu tháng 6/2016, sau khi phát hiện tại khu vực đất rừng giao khoán cho gia đình ông Phạm Hùng Mạnh ở tiểu khu 63 bán đảo Sơn Trà xảy ra vụ phá rừng, khai thác gỗ trái phép, Chi cục Kiểm lâm đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Theo Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, các đối tượng đến nhà riêng của kiểm lâm viên Nguyễn Hữu Vinh là động thái manh động, uy hiếp gia đình của người thi hành công vụ, gây hoang mang tinh thần đối với bản thân và gia đình ông Vinh dù chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Vì vậy, Chi cục Kiểm lâm báo cáo vụ việc để Sở NN và PTNT có ý kiến, đề nghị các cơ quan chức năng thành phố vào cuộc điều tra, xử lý các đối tượng uy hiếp gia đình kiểm lâm viên Nguyễn Hữu Vinh theo quy định pháp luật, giúp cán bộ kiểm lâm yên tâm công tác quản lý, bảo vệ rừng. (VietTimes 20/7)đầu trang(
Hoàng cầm 2 cục đá đập thẳng vào mặt anh Phổ gây trọng thương ở phía dưới mắt bên phải.
Ngày 19/7, tin từ Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha, Kẻ Bàng (Quảng Bình) cho biết, đơn vị đã có văn bản đề nghị Công an huyện Minh Hóa điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng tấn công lực lượng kiểm lâm trong lúc đang thi hành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Trước đó, khoảng 15h10 phút ngày 13/7, anh Nguyễn Văn Phổ, kiểm lâm viên Trạm Kiểm lâm Thượng Hóa thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, nắm bắt thông tin phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng tại khu vực từ Tổ chốt Pà Nùn đến Đồng Ón (thuộc bản Ón, xã Thượng Hóa). Khi đi qua trước cửa nhà ông Trần Xuân Phúc (bản Ón) thì bị ông Phúc và 3 đối tượng khác gồm: Trần Xuân Hoàng, Trần Xuân Huy, (cùng trú tại bản Ón, xã Thượng Hóa) và Cao Xuân Lợi, (trú tại bản Yên Hợp, xã Thượng Hóa) dùng xe máy chắn ngang đường chặn xe lại.
Đối tượng Phúc chụp tay và đấm mạnh vào đầu anh Phổ. Tiếp đó, cả 3 đối tượng Hoàng, Huy, Lợi cùng lao vào đánh.
Đặc biệt, đối tượng Trần Xuân Hoàng cầm 2 cục đá đập thẳng vào mặt anh Phổ khiến anh bị thương ở phía dưới mắt bên phải.
Bất ngờ bị đánh, anh Phổ đã cố gắng thoát khỏi vòng vây nhưng các đối tượng vẫn tiếp tục đuổi đánh. Đối tượng Cao Xuân Lợi còn dùng xe máy chạy với tốc độ cao đuổi theo và cố ý đâm thẳng vào người anh Phổ, rất may anh đã kịp thời tránh được.
Sau khi sự việc được báo cáo, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha – Kẻ Bàng đã có văn bản đề nghị Công an huyện Minh Hóa điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật. (Giao Thông 19/7) đầu trang(
Ở đền Cao còn có một “báu vật” kỳ vĩ và vô giá, người dân trong làng sẵn sàng hi sinh tính mạng để bảo vệ đến cùng báu vật ấy - đó là rừng lim cổ thụ.
Đền Cao (thôn Đại, xã An Lạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) nằm trong quần thể khu di tích đền Cao thờ 5 vị tướng họ Vương đã có công lớn giúp vua Lê Đại Hành giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược năm 981.
Trải qua hơn 1000 năm, với bao thăng trầm, biến thiên của lịch sử, ngôi đền vẫn “tọa” cùng “tuế nguyệt” và trở thành một địa chỉ tâm linh không chỉ của người dân An Lạc mà còn của bao du khách thập phương. Ở đền Cao còn có một “báu vật” kỳ vĩ và vô giá, người dân trong làng sẵn sàng hi sinh tính mạng để bảo vệ đến cùng báu vật ấy - đó là rừng lim cổ thụ.
Vào xuân, tiết trời hây hây, cảnh vật cây cối thay áo mới, với màu xanh tươi non của mầm cây đang đâm chồi nảy lộc được điểm xuyết bởi những hạt mưa xuân phơi phới bay khiến trong lòng du khách xốn xang, dâng trào bao cảm xúc.
Đang trong mùa lễ hội mùa xuân nên dòng người đổ về đền Cao luôn đông đảo, tấp nập, nhất là vào những dịp cuối tuần. Ai cũng áo quần xênh xang, gương mặt háo hức, phấn khởi. Ngoài thắp hương chiêm bái, du khách còn có dịp chiêm ngưỡng rừng lim cổ thụ khổng lồ tỏa bóng sum sê che mát cho du khách.
Đền Cao nằm trên đỉnh núi Thiên Bồng, giữa quần thể với 99 ngọn núi bao bọc vùng đất này. Còn rừng lim cổ thụ lại bao bọc toàn bộ di tích đền Cao với hàng trăm cây lim, trong đó có 54 cây lim đại thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Hỏi nhiều cụ cao niên trong làng, cán bộ ban quản lý di tích không một ai biết chính xác rừng lim này có từ bao giờ, chỉ biết rằng rừng lim đã có rất lâu rồi.
Cụ Nguyễn Văn Tặng, 80 tuổi, ở thôn Đại là một trong những người có nhiều năm làm công việc ở đền Cao. Cụ dẫn chúng tôi đi tham quan từng gốc lim cổ thụ ở quanh khu vực đền. Cây nào cũng già mốc thếch, hốc hác, u sần. Nhiều gốc cây bị rỗng ruột, bị sâu bệnh, nhiều chỗ bị chặt, bị gãy, bị cháy qua nhiều năm mà vẫn chưa liền sẹo được.
Nhiều “cụ” lim còn “cõng” trên thân thể già nua, trầm mặc của mình những cây đa sống ký sinh to vật vã. Mặc dù vậy, các “cụ” lim vẫn trường tồn cùng “tuế nguyệt” để che chở cho ngôi đền thiêng và tỏa bóng mát, dưỡng khí cho làng.
Cụ Tặng dẫn tôi đến một gốc cây lim cổ nằm cạnh đền, cụ chỉ tay giới thiệu: “Cây này cũng có hàng trăm năm rồi. Đây là dấu tích của vết cháy của mấy chục năm về trước, chính tôi lúc đó đã chạy lên dập lửa dưới gốc cây. Đến mấy chục năm sau “vết thương” vẫn chưa thể liền được”.
Nói xong cụ lại khoát tay chỉ sang một cây lim cổ to hơn ở cuối sân đền và dẫn tôi đến. Cụ bảo: “Cây nào cũng già lão cả rồi. Từ hồi tôi còn bé, chúng tôi đã thấy những cây lim này đã to cao như vậy”.
Chúng tôi đi đến chỗ cây lim già to cao sừng sững, chắc là cao nhất trong số những cây lim ở đây. Tôi áng chừng nhìn từ mặt đất đến ngọn cây cũng phải vài chục mét. Đứng dưới gốc cây, chúng tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé trước sự khổng lồ, kỳ vĩ của cây lim ngót nghìn tuổi này. Tôi áng chừng đường kính gốc lim này phải 2 người ôm mới trọn. Trên thân cây trồi ra một cái bướu rất to, người thì bảo trông giống mặt hổ, người lại bảo trông giống mặt cáo.
Bên dưới gốc lim cổ thụ có dựng một tấm bia, có biểu tượng một cây cổ và có đề “Cây di sản Việt Nam”. Bên cạnh là một ngôi mộ cổ. Cụ Tặng giới thiệu: “Đây là mộ cụ tổ khai sinh ra 12 họ của làng gọi là “Thập nhị gia tiên”. Chúng tôi coi rừng lim này là báu vật của cả làng. Ai cũng tự hào”.
Cũng theo cụ Tặng, trong ngọc phả đền Cao còn giữ có một truyền thuyết kể lại rằng. Vào thời Giao Chỉ, giặc nhà Hán sang xâm lược nước ta, chúng thực hiện chính sách “sát phu hiếp phụ” hòng tận diệt nòi giống dân Việt. Chúng lùng sục khắp nơi, giết sạch đàn ông, con trai ở các vùng quê. Tuy nhiên ở An Lạc có một người đàn ông đã may mắn trốn chạy vào rừng sâu thoát thân. Nhờ địa thế rậm rạp, nhiều cây cối nên người đàn ông đó đã tìm được nơi ẩn trốn an toàn trong một thời gian ngắn.
Quân giặc hay biết đã tìm cách truy sát đến cùng người đàn ông này. Chúng đã cho quân lùng sục khắp các bụi rậm, đến đâu chúng dùng dao băm nát cây cối đến đó. Một lần, đang ẩn trong một bụi cây rậm thì giặc đi lùng, chúng băm nát bụi cây nơi ông nấp, chẳng may bị chúng chặt đứt một cánh tay. Trong lúc đang hết sức đau đớn, máu me đầm đìa, lo sợ bị quân giặc phát hiện thì bỗng có một con cáo từ bụi rậm bên cạnh chạy ra, lũ giặc mới chịu bỏ đi.
Hồi đó, giặc Hán lấy cớ ép 12 cô gái trong làng làm vợ bằng cách bắt họ trồng 12 loại hoa với điều kiện, khi nào cây lên xanh tốt thì phải theo hầu. Hằng ngày 12 cô gái này đã bí mật mang cơm tiếp tế cho người đàn ông sống sót kia. Chính người đàn ông này đã nghĩ ra cách bày cho 12 cô gái đun nước sôi tưới quanh gốc hoa để cây cứ khô héo rồi chết dần. Giặc vốn tin chuyện phong thủy nên khi thấy hoa chết dần thì cho rằng vùng đất không tốt. Vì vậy, chúng cũng nhanh chóng thu quân để chuyển sang vùng đất khác.
Sau khi giặc rút quân, người đàn ông đó đã lấy cả 12 cô gái làm vợ. 12 cô gái đẻ con đều mang họ mẹ. Chính vì vậy 12 dòng họ khác nhau ra đời gồm: Dương, Phạm, Lê, Nguyễn, Mạc, Hoàng, Bùi, Đỗ, Cao, Lỗ, Tạ, Đào và phát triển cho đến ngày nay.
Nhiều người cho rằng, cái bướu lớn ở thân cây cổ thụ này chính là hiện thân của vị ân nhân đã từng cứu giúp ông tổ 12 dòng họ thoát khỏi vòng vây của giặc. Vì lẽ đó, ngay dưới gốc cây lim, dân làng lập một ban thờ nho nhỏ, hương khói quanh năm.
Nhiều cụ cao niên trong làng cho chúng tôi biết thêm rừng lim cổ thụ ở đây trước kia trải rộng đến tận tỉnh Quảng Ninh. Hiện ở huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) vẫn còn 2 cây lim cổ thụ. Rất có thể đây là hậu duệ của rừng lim mà Ngô Quyền khi xưa đã sai quân chặt cây, vót nhọn đầu rồi bọc sắt cắm xuống cửa sông Bạch Đằng đánh giặc Nam Hán và làm nên chiến thắng lịch sử năm 938.
Khoảng 10 năm trước, các nhà khoa học Viện Khoa học lâm nghiệp có tiến hành các biện pháp xác định tuổi của các cây lim ở đền Cao. Kết quả cho thấy 54 cây lim còn đến nay có tuổi khoảng trên dưới 700 năm. Đây là rừng lim có tuổi thọ cao nhất nhì Việt Nam hiện nay.
Còn Hội Bảo vệ tài nguyên và môi trường Việt Nam đánh giá cây lim to nhất ở đền Cao có đường kính lên đến 1,3 m, cao trên 20 m và có độ tuổi hơn 800 năm. Cây bé nhất có đường kính trên 0,3m, độ tuổi hơn 200 năm. Còn theo các chuyên gia ngành lâm nghiệp thì cây lim to nhất ở đây chỉ có niên đại hơn 300 năm. Ngày 25-2-2011, 54 cây lim cổ thụ tại đền Cao đã được vinh danh là “Cây di sản Việt Nam”.
Cụ Tặng tự hào nói rằng: “Dân làng Đại và cả xã An Lạc chúng tôi coi đó là “báu vật” và không tiếc công sức, thậm chí tính mạng để bảo vệ “báu vật” vô giá này. Chuyện bảo vệ rừng lim cổ cũng hết sức gay cấn ly kỳ”.
Những năm 50-60 của thế kỷ trước, lúc này rừng lim còn 60 cây. Khi ấy, chính quyền đã cho phá bỏ một số di tích đền chùa. Rừng lim này cũng nằm trong chủ trương bị đốn hạ. Nhân dân trong làng, trong xã đau đớn, xót xa khi chứng kiến những cây lim cổ thụ khổng lồ bị chặt hạ. Khi mới chặt được 6 cây, chẳng ai bảo ai các cụ già ở làng Đại cùng đông đảo người dân An Lạc đã thay nhau, mỗi ngày có 2-3 cụ lên ôm một gốc cây để ngăn không cho chặt cây.
Các cụ thẳng thắn, hiên ngang tuyên bố: “Cưa rừng lim thì phải cưa chúng tôi trước”. Có gia đình lo cho sức khỏe cha già đã kéo cả gia đình lên khuyên nhủ về nhưng cụ không nghe cứ khư khư ôm cây không rời.
Ngoài cắt cử lực lượng hằng ngày lên ôm cây ngăn không cho chặt phá, các cụ còn bàn nhau cử một đoàn gồm các bô lão cơm nắm cơm đùm kéo lên tỉnh, lên Trung ương để đệ đơn kiến nghị không chặt phá rừng lim. Vì với người dân An Lạc không chỉ là lá phổi xanh mà còn là một phần máu thịt đã quá đỗi quen thuộc và thân thiết trong đời sống tín ngưỡng.
Trước sự kiên trì, kiên quyết giải thích thấu tình đạt lý, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký văn bản chỉ đạo tạm dừng việc chặt phá rừng lim ở đây. Tin vui báo về khiến người dân trong làng, trong xã vui mừng đến rơi nước mắt. Các bô lão và dân làng đã bảo vệ thành công rừng lim cổ. Để đến hôm nay, nhân dân và du khách thập phương mới có dịp chiêm ngưỡng rừng lim cổ tỏa bóng mát sum sê che chở mưa nắng cho di tích và du khách về chiêm bái.
Cụ Tặng cũng cho biết: “Trong 6 cây lim bị cưa, một số người dùng để đóng các vật dụng như giường, tủ, bàn, ghế... Tuy nhiên không hiểu vì lý do gì mà những gia đình sử dụng đồ gỗ lim này lại bí mật mang trả lại đền. Hỏi ra mới biết những người chỉ đạo chặt cây, tham gia chặt cây và sử dụng đồ đạc từ gỗ của cây lim cổ đều gặp chuyện chẳng lành. Nhẹ thì tiêu tán tài sản, nặng thì bỗng dưng bị điên hoặc mất mạng(?). Từ đó đến nay, người dân ra sức bảo vệ rừng lim và không còn cảnh chặt phá lim cổ nữa.
Chúng tôi hỏi: “Tại sao dân làng mình lại quyết bảo vệ rừng lim, thậm chí sẵn sàng hi sinh cả mạng sống để bảo vệ rừng cây?”. Cụ Tặng giải thích: “Vì rừng cây này gắn với truyền thuyết về sự ra đời của 12 dòng họ của làng mà tôi vừa kể trên. Thứ nữa, rừng cây có từ lâu đời gắn bó gần gũi, mật thiết đối với đời sống của dân làng tôi từ bao đời nay và rừng lim lại ở đền Cao linh thiêng nên chúng tôi phải bảo vệ di sản của cha ông. Nếu mất rừng lim cũng có nghĩa là mất đi biểu tượng, tín ngưỡng và “linh hồn” của cả làng, của từng dòng họ nơi đây”.
Anh Phan Văn Đức, tổ trưởng tổ quản lý khu di tích đền Cao cho chúng tôi biết: Ngoài không quản công sức, tính mạng để bảo vệ rừng lim cổ khỏi bị chặt phá, các ngành chức năng từ địa phương, đến các cơ quan chuyên môn cũng ra sức tôn tạo, bảo vệ, bảo tồn nguồn gen vô cùng quý giá của rừng lim này.
Cụ thể đối với 54 cây lim trong diện tích rừng 1,2 ha được quy vào rừng đặc dụng, loại rừng dùng để bảo tồn thiên nhiên và được kiểm lâm bảo vệ chăm sóc. Mặt khác, năm 2000 các ngành chức năng đã tiến hành trồng nâng cấp mở rộng diện tích rừng lim lên 12 ha, với mật độ hơn 300 cây/ha ở khu vực phụ cận vành đai tiếp giáp với rừng lim cổ.
Đặc biệt, từ khi được công nhận “Cây di sản Việt Nam”, rừng lim cổ thụ đã được chính quyền địa phương, Ban Quản lý di tích Chí Linh và nhân dân, ngành chức năng chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Tuy nhiên, qua quan sát chúng tôi thấy có một số cây lim cổ thụ đã bị mục ruỗng và một số cây bị chết cành, thân cây bị thương, bị sâu, bị mối ăn dần; dưới gốc một số cây lim bị rác lấp kín. Những nguy cơ này nếu không được quan tâm và có chế độ chăm sóc tốt hơn sẽ trực tiếp đe dọa đến sự sinh tồn của rừng lim cổ thụ.
Mặt khác, qua tìm hiểu, các nhà khoa học cũng cho rằng vấn đề cốt lõi nhằm bảo vệ rừng lim cổ thụ di sản này đó là cần sự chung sức bảo tồn cây quý của cả cộng đồng. Cần thường xuyên theo dõi sâu bệnh, nấm mốc và chữa trị kịp thời, định kỳ, làm vệ sinh khu vực dưới tán, phòng chống gió bão làm gãy cành lay gốc. Thường xuyên quan sát, theo dõi phần thân cây bị thối ruỗng để có biện pháp xử lý; không nên lấn chiếm không gian sống của cây; nghiên cứu làm hàng rào bao quanh khu vực để chống lấn chiếm đất đai quanh đền, nơi sinh sống của các cây lim cổ. (VTCNews 20/7)đầu trang(
Nằm ở phía Đông của tỉnh Gia Lai, Vườn Quốc gia (VQG) Kon Ka Kinh được đánh giá là một trong những VQG lớn và có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao không chỉ của khu vực Tây Nguyên mà còn của cả nước.
Cùng với 3 VQG khác của Việt Nam (Ba Bể, Hoàng Liên, Chư Mom Ray) và 24 VQG khác của Đông Nam Á, VQG Kon Ka Kinh được công nhận là Vườn di sản ASEAN tại Hội nghị Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường các nước ASEAN tổ chức tại Yangon (Myanmar) vào năm 2003. Tuy nhiên, thực trạng khai thác rừng trái phép, săn bắt động vật... đang khiến VQG đối mặt với nhiều nguy cơ bị xâm hại.
Nằm trong khu vực giữa Đông và Tây của dãy Trường Sơn, VQG Kon Ka Kinh thuộc địa bàn 3 huyện Mang Yang, Kbang và Đắc Đoa của tỉnh Gia Lai. Với nhiều dãy núi cao, cao nhất là đỉnh Kon Ka Kinh nằm ở 1.748m so với mực nước biển đã phân bố nên một địa hình riêng ở nơi đây. Theo đánh giá của GS.TS. Lê Vũ Khôi thì: “Càng điều tra, nghiên cứu càng phát hiện VQG Kon Ka Kinh đang bảo tồn rất nhiều loài động vật, thực vật, rừng đặc trưng còn khá nguyên vẹn.
Đặc biệt ở đây còn lưu giữ được hơn 2.000ha rừng hỗn giao rừng cây lá rộng với rừng cây lá kim đặc trưng với nhiều loài cây có giá trị quý và hiếm như pơ mu, chò đỏ, kim giao. Đây là khu rừng đặc dụng duy nhất ở Việt Nam có kiểu rừng hỗn giao này”.
Chính từ những yếu tố đặc biệt đó, thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây những loài động, thực vật đặc hữu của vùng và của riêng nơi này. Đến nay, qua nghiên cứu, khảo sát của các nhà khoa học và phía VQG Kon Ka Kinh đã ghi nhận nơi đây có một hệ thực vật rất đa dạng và phong phú. Với 1.022 loài thực vật bậc cao, trong đó có tới 22 loài có ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Sách Đỏ thế giới năm 2010.
Hệ động vật rừng của VQG Kon Ka Kinh cũng rất đa dạng với 556 loài, trong đó có tới 16 loài đặc hữu, 47 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Sách Đỏ thế giới năm 2010. Theo các nhà nghiên cứu, với một hệ động thực vật đa dạng và phong phú, hệ sinh thái đặc trưng, VQG Kon Ka Kinh là nơi bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái và là kho lưu trữ vô giá các loài động thực vật quý hiếm của vùng Tây Nguyên.
Khi nhắc đến VQG Kon Ka Kinh người ta nhắc đến khướu Kon Ka Kinh, đây là loài chim mới được phát hiện lần đầu tiên ở đây và trở thành loài đặc hữu của Việt Nam.
Không chỉ làm mê hoặc những nhà nghiên cứu mà loài chim này trở thành biểu tượng của VQG Kon Ka Kinh. Không chỉ thế, theo ghi nhận của các nhà khoa học, nơi đây còn là “ngôi nhà” của nhiều loại động vật quý hiếm và đặc hữu như: vượn đen má hung Bắc, voọc chà vá chân xám, mang Trường Sơn và Mang lớn; khu hệ chim ở VQG Kon Ka Kinh là một phần của vùng chim đặc hữu Bắc Tây Nguyên ở độ cao từ 1.000-1.700m và đã ghi nhận 3 loài đặc hữu cho Việt Nam như: khướu Kon Ka Kinh, khướu đầu đen, khưới mỏ dài và 4 loài đặc hữu cho Việt Nam và Lào, gồm: khưới đầu xám, trèo cây mỏ vàng, gà lôi vằn và thầy chùa đít đỏ; khu hệ bò sát VQG Kon Ka Kinh có 4 loài đặc hữu cho vùng và cho Việt Nam, trong đó: thằn lằn Buôn Lưới là loài đặc hữu cho vùng Nam Trường Sơn (Lào), 3 loài đặc hữu cho Việt Nam: thằn lằn đuôi đỏ, chàng Sapa, ếch gai sần.
Ngoài những loài mới phát hiện và những loài có giá trị đặc hữu nêu trên, hệ động vật rừng VQG Kon Ka Kinh còn có 26 loài thú, 9 loài chim và 12 loài lưỡng cư bò sát quý hiếm, có giá trị bảo tồn nguồn gen và nghiên cứu khoa học, được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới.
Mới đây UBND tỉnh Gia Lai đưa VQG Kon Ka Kinh vào bản đồ du lịch Gia Lai - vấn đề gần như bị bỏ ngỏ trong nhiều năm qua với nhiều lý do khác nhau. Khó khăn chồng chất khó khăn nên dù Ban Giám đốc VQG Kon Ka Kinh cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các tuyến, tour tham quan rừng nhưng vì còn nhiều khó khăn trong cơ sở hạ tầng khiến du khách chưa mặn mà đến đây. Bên cạnh đó, hầu như các tuyến, tour vẫn đơn điệu, chủ yếu lội rừng hòa mình vào thiên nhiên chứ chưa có những dịch vụ giải trí đi kèm. Thế nên, tiềm năng vẫn còn đang bỏ ngỏ.
Có thể thấy, dù được công nhận là Vườn Di sản ASEAN nhưng lâu nay ít ai biết đến VQG Kon Ka Kinh có hệ động thực vật đa dạng và phong phú như thế nào, ngoài các nhà khoa học. Chính các nhà khoa học cũng đánh giá khu vực này vẫn còn khá mới mẻ, nhiều tiềm năng về đa dạng sinh học chưa được biết đến.
Ngoài những công trình nghiên cứu về hệ động thực vật ở đây chỉ đếm trên đầu ngón tay thì Di sản ASEAN này vẫn còn chứa nhiều bí ẩn chưa được khám phá. Chính những người làm công tác nghiên cứu, bảo tồn, quản lý tại vườn đều đánh giá những kết quả nghiên cứu trên là chưa thực sự tương xứng với tiềm năng về đa dạng sinh học của vườn.
Mới đây, đích thân ông Dương Văn Trang - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Gia Lai đã có chuyến khảo sát ở khu vực vườn, mắc võng ngủ giữa những cánh rừng già cùng đoàn khảo sát để tìm những giải pháp biến VQG Kon Ka Kinh trở thành điểm sáng trong loại hình du lịch sinh thái của khu vực Tây Nguyên và của cả nước.
Đồng thời, cũng nhiều giải pháp được đưa ra nhằm vừa khai thác được tiềm năng vừa đảm bảo được nguồn đa dạng sinh học tại đây. Tuy nhiên, tiềm năng đa dạng là thế nhưng vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra khi vẫn còn tình trạng con người xâm hại đến hệ thực vật, động vật ở đây. Điều đó đặt ra những thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ nơi được đánh giá là khu vực ưu tiên bảo vệ đa dạng sinh học không chỉ của Việt Nam mà của khu vực ASEAN. (Công An TP Đà Nẵng 19/7)đầu trang(
Chiều 18-7, Bộ Chỉ huy BĐBP Đắk Lắk và Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk tổ chức lễ ký kế hoạch phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ở khu vực biên giới; đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua địa bàn khu vực biên giới.
Theo đó, hai bên thống nhất sẽ phối hợp tham mưu, đề xuất với các cấp ban hành những chủ trương, giải pháp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động buôn lậu và vận chuyển trái phép lâm sản qua địa bàn khu vực biên giới.
Thường xuyên trao đổi thông tin về các hoạt động của các đối tượng vi phạm pháp luật liên quan đến chặt phá rừng, buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản; phối hợp điều tra xác minh, đấu tranh, xử lý các vụ việc buôn lậu, vận chuyển lâm sản qua biên giới; tăng cường tuần tra nhằm phát hiện người, phương tiện vi phạm về hoạt động lâm sản...
Hai bên cũng sẽ phối hợp chặt chẽ để tổ chức các đợt tuyên truyền, vận động nhân dân ở khu vực biên giới chấp hành tốt các quy định của pháp luật về công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; nâng cao chất lượng huấn luyện về chuyên môn, nghiệp vụ trong xử lý vụ việc vi phạm pháp luật về lâm sản; tổ chức giao ban định kỳ, đột xuất nhằm đánh giá, rút kinh nghiệm kịp thời trong công tác phối hợp thực hiện... (Biên Phòng 19/7)đầu trang(
Theo Bộ NN&PTNT, vi phạm về rừng trong 6 tháng đầu năm 2017 giảm so với năm 2016. Tổng số vụ vi phạm đã được xử lý là 7.704 vụ, trong đó: xử phạt hành chính 7.520 vụ; xử lý hình sự 184 vụ; tịch thu 10.375 m3 gỗ các loại; thu nộp ngân sách hơn 97,5 tỷ đồng.
Bộ NN&PTNT cho biết, 6 tháng đầu năm 2017, đã chỉ đạo, đôn đốc đảm bảo thực hiện hiệu quả chỉ tiêu kế hoạch về công tác bảo vệ rừng là giảm 20% số vụ và 50% diện tích thiệt hại về rừng.
Theo đó, bộ này đã ban hành các văn bản chỉ đạo địa phương kiểm tra, xác minh làm rõ và có các biện pháp xử lý kịp thời đối với những đơn vị để xảy ra vi phạm nhiều về phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trái pháp luật, như tại Hà Giang, Bắc Kạn, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Nghệ An, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Đắk Lắk, Đắk Nông...
Nhờ vậy, công tác bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm 2017 đạt được những kết quả tích cực. Tình hình vi phạm giảm so với năm 2016. Cụ thể: cả nước phát hiện 9.280 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 1.683 vụ, tương ứng giảm 15% so với cùng kỳ năm 2016. Diện tích rừng bị thiệt hại là 1.020 ha, giảm 2.569 ha, tương ứng giảm 72% so với cùng kỳ năm 2016.
Tổng số vụ vi phạm đã được xử lý là 7.704 vụ, trong đó xử phạt hành chính 7.520 vụ; xử lý hình sự 184 vụ. Tịch thu 10.375 m3 gỗ các loại; thu nộp ngân sách hơn 97,5 tỷ đồng.
Cùng thời điểm, cả nước đã xảy ra 145 vụ cháy rừng, giảm 191 vụ (57%); diện tích cháy bị thiệt hại 322 ha, giảm 2.413 ha (88%) so với cùng kỳ năm 2016. (Thời báo Tài Chính VN 19/7)đầu trang(
Tại kỳ họp HĐND tỉnh Phú Yên vừa diễn ra, cử tri tỉnh này đặc biệt quan tâm đến các dự án phá rừng, khai thác tài nguyên. Tuy nhiên, trong khi lãnh đạo Sở nói đúng quy trình, không nghiêm trọng thì người đứng đầu tỉnh lại nói ngược lại.
Một trong những vấn đề được dư luận ở Phú Yên dành nhiều sự quan tâm là các dự án liên quan đến phá rừng. Trong đó hai dự án được cử tri quan tâm là dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao (tại huyện Sông Hinh) và Khu du lịch liên hợp cao cấp New City (tại TP Tuy Hòa).
Theo ông Nguyễn Như Thức, Giám đốc Sở TN-MT tỉnh Phú Yên, đối với dự án nuôi bò thịt, và khu du lịch New City, tỉnh đã có quyết định tạm dừng và đang chờ kết quả thanh tra của các Bộ và ý kiến chỉ đạo của Chính phủ. “Trong các văn bản gần đây, tỉnh Phú Yên thừa nhận có thiếu sót các thủ tục trong quá trình triển khai thực hiện dự án Khu du lịch liên hợp cao cấp New City. Đó là đến nay các thủ tục hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất rừng vẫn chưa hoàn tất. Hiện tỉnh đang chờ ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng”, ông Thức nói.
Hiện tất cả dự án liên quan đến phá rừng và khai thác khoáng sản đã được tỉnh cho tạm dừng để chờ thanh tra, xem xét. Trong trường hợp, khi các bộ ngành trung ương thanh tra, phát hiện sai phạm tỉnh sẽ xử lý nghiêm. Không thể để tình trạng bất tuân, làm sai quy định của nhà nước như trong thời gian qua”, ông Trà khẳng định.
Theo nguồn tin riêng, hiện Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) vừa có báo cáo dự thảo liên quan đến vấn đề báo chí phản ánh tình trạng phá rừng làm dự án nuôi bò thịt và làm du lịch ở tỉnh Phú Yên. Cụ thể, đối với dự án bò thịt chất lượng cao của Cty CP chăn nuôi Thảo Nguyên, khu vực này có khả năng phòng hộ đầu nguồn, giữ nước tốt và có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt. Vì vậy, khu vực này có ý nghĩa rất quan trọng trong phòng hộ cho lòng hồ thủy điện Sông Hinh.
Từ đó, Tổng cục Lâm nghiệp đề xuất thu hồi, hủy bỏ quyết định số 1605 ngày 24.3.2017 của UBND tỉnh Phú Yên về việc cho phép Cty CP chăn nuôi Thảo Nguyên; chỉ đạo, tổ chức kiểm điểm trách nhiệm của người đứng đầu, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật đối với cơ quan tổ chức và cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng nêu trên; tổ chức thu hồi, hủy bỏ các văn bản ban hành về áp dụng cơ chế đặc thù để thực hiện dự án, chấm dứt tình trạng tham mưu, áp dụng cơ chế đặc thù để thực hiện dự án không đúng thẩm quyền, trái pháp luật.
Đối với Sở NN&PTNT tỉnh Phú Yên, chỉ đạo các đơn vị, cá nhân có liên quan thuộc Sở quản lý đã để xảy ra sai phạm, đặc biệt là việc phê duyệt thiết kế khai thác tận dụng và cấp phép khai thác không đúng quy định của pháp luật. Tổ chức kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm, để có biện pháp khắc phục những sai phạm, tùy theo tính chất, mức độ sai phạm mà có hình thức xử lý phù hợp. (Văn Hóa 19/7)đầu trang(
Nhiều hộ dân ở xã Hùng Thành, huyện Yên Thành (tỉnh Nghệ An) sau khi được giao rừng đã phá rừng tự nhiên để trồng rừng nguyên liệu khiến dư luận bất bình.
Đứng ở xóm Sơn Thành, xã Hùng Thành ngước nhìn về phía Tây, đập vào mắt PV là những đám rừng bị phá trụi, bên cạnh sườn núi những mảng đất bị máy xúc ngoạm nham nhở để làm đường đi sâu vào cánh rừng tự nhiên.
Leo gần 1 ki lô mét đường dốc dựng đứng, tại thửa 155, thuộc khoảnh 4, tiểu khu 879, rừng Hố Búng, Hố Su phóng viên bắt gặp nhiều khúc gỗ rừng rải rác dọc đường vì chưa kịp chuyển đi.
Nhìn tận mắt không khỏi xót xa vì những đám rừng ở đây bị đốt đen trụi đến xơ xác. Những đám đất rừng đen sì còn trơ tua tủa những gốc cây lớn nhỏ còn sót lại. Tại đây, nhiều gốc cây có đường kính từ 20 đến 40 cm bị cưa hạ không tiếc. Rải rác trên triền đồi một vài can dầu hỏa mà những kẻ phá rừng dùng để đốt cây đang được tấp lá cây dấu sát bên đường.
Một số người dân ở xã Hậu Thành lên đây tận thu những cành củi còn sót lại đã không khỏi tiếc nuối cho những cánh rừng dẻ tự nhiên nhiều năm tuổi. Quệt vội những dòng mồ hôi trên mặt, người đàn ông đang tận thu những cành cây làm củi, cho biết: Trước đây rừng tốt, rậm lắm, những giờ đây thành đồi trọc để họ trồng keo lấy gỗ làm nguyên liệu hết rồi.
Một người khác đi mót củi xen vào: Rừng đẹp mấy thì đẹp, tốt mấy thì tốt, không có nguồn thu nhập hàng ngày thì nhiều người còn chặt phá nữa vì người ta chẳng cần thấy lợi ích lâu dài của rừng đầu nguồn.
Xã Hùng Thành, huyện Yên Thành là xã vùng xa của huyện. Địa phương này có gần 800 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ là 400ha. Hiện, rừng tự nhiên có khoảng 130ha. Đây là diện tích rừng mà nhiều năm qua, chính quyền xã Hùng Thành đang ra sức gìn giữ.
Được biết, trong tháng 5 và tháng 6, năm 2017, ông Đường Xuân Nhiên, ở xóm Sơn Thành, xã Hùng Thành là người được giao đất rừng từ trước đã tiến hành chặt cây làm đường để khai thác keo nguyên liệu. Lúc đầu, ông Nhiên tuân thủ chỉ phát dọn thực bì để có diện tích làm đường cho xe tải lên chở keo. Nhưng được đà, hộ dân này đã phát lấn sang diện tích rừng tự nhiên và đốt mở rộng diện tích trồng keo nguyên liệu.
Khi chúng tôi nêu sự việc chặt phá rừng ở Hố Búng, Hố Su, Chủ tịch UBND xã Sơn Thành, ông Trần Văn Trung, cho biết: “Xã đã lập biên bản yêu cầu ông Đường Xuân Nhiên phải dừng ngay việc phá rừng, giữ nguyên hiện trạng không được đốt và từng bước phục hồi lại diện tích rừng đã bị chặt phá. Xã cũng đã tiến hành xử phạt hành chính đối với hộ dân này với số tiền là..3 triệu đồng”.
Khi PV đặt câu hỏi vì sao sự việc diễn ra trong nhiều ngày nhưng xã không ngăn chặn kịp thời? Ông Trung, cho hay: “Họ chặt tỉa dần dần trong nhiều ngày nên chúng tôi không biết để ngăn chặn. Hiện, chúng tôi cũng chưa báo cáo huyện vì muốn xử lý nội bộ”(?).
Theo ghi nhận của PV tại hiện trường, diện tích rừng tự nhiên bị chặt hạ khá lớn, trong đó có một phần đã bị đốt sạch. Tuy nhiên, trong biên bản kiểm tra hiện trạng được lập bởi Kiểm lâm phụ trách địa bàn và UBND xã Hùng Thành lại chỉ ghi 0,35ha?.
Điều đáng nói ở đây là việc chặt đốt rừng tự nhiên xảy ra cách khu dân cư chưa đầy 1km, diễn ra trong nhiều ngày mà việc ngăn chặn đối tượng phá rừng lại diễn ra hết sức chậm chạp. Dư luận không khỏi đặt câu hỏi về vai trò của kiểm lâm địa bàn, của cán bộ địa phương ở đâu trong sự việc nói trên?.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Trọng Thực – Hạt trưởng Hạt kiểm Lâm huyện Yên Thành, nói ngắn gọn: “À, việc đó đã lập biên bản và xử phạt rồi”. Còn ông Nguyễn Vương Ngọc – Phó chủ tịch UBND huyện Yên Thành, cho biết: “Hiện nay huyện chưa nắm được thông tin vì chưa thấy xã và kiểm lâm báo cáo. Tôi sẽ cho kiểm tra lại thông tin để có hướng xử lý tiếp theo”.
Sự việc tự ý chặt phá rừng tự nhiên đầu nguồn để chuyển sang trồng keo nguyên liệu diễn ra tại xã Hùng Thành là sự việc nghiêm trọng. Nếu không được ngăn chặn và xử lý thật nghiêm để răn đe kịp thời thì sẽ tạo ra tiền lệ xấu, nhiều hộ dân khác được giao khoán chăm sóc, bảo vệ rừng tự nhiên sẽ được đà làm theo. Khi đó, nguy cơ mất nhiều ha rừng tự nhiên đầu nguồn là điều khó tránh khỏi. (Tài Nguyên và Môi Trường 18/7)đầu trang(
Phòng cảnh sát công an tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt giữ xe tải BS 76C-055-78 đang vận chuyển 15m khối gỗ bằng lăng (nhóm 3) trên đường liên huyện đoạn qua xa Ea Hiao, H.Ea Hleo (Đắk Lăk); tài xế không xuất trình được giấy tờ hợp pháp về nguồn gốc số gỗ. (Thanh Niên 19/7)đầu trang(
Ngày 19/7, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa cho biết, đã thành lập đoàn kiểm tra, phối hợp với các đơn vị có liên quan làm việc cụ thể với hộ nuôi nhốt hổ tại xã Xuân Tín, Thọ Xuân.
Theo đó, Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa đã tổ chức hội nghị tham vấn về việc nuôi hổ của gia đình ông Nguyễn Mậu Chiến ở xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), hiện trang trại nuôi hổ của gia đình ông Nguyễn Mậu Chiến ở thôn 27,  xã Xuân Tín, huyện Thọ Xuân đang nuôi 11 cá thể hổ đã hết hạn cho phép từ ngày 22/5/2017.
Căn cứ đơn đề nghị của bà Lê Thị Hồng (là vợ và người được ông Nguyễn Mậu Chiến ủy quyền đứng tên chủ trại nuôi) và khuyến nghị của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV), Sở NN&PTNT đã phối hợp với UBND huyện Thọ Xuân và các cơ quan có liên quan tiến hành rà soát, kiểm tra.
Kết quả kiểm tra cho thấy, trại nuôi hổ của ông Nguyễn Mậu Chiến chưa đủ điều kiện thành lập cơ sở bảo tồn sinh học phục vụ việc nuôi động vật quý hiếm, ưu tiên bảo vệ theo điều 42, Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và điều 13, Nghị định 160 ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ngoài ra, bà Hồng hiện đang có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, không ở tại địa phương để trực tiếp quản lý trại nuôi.
Tại buổi tham vấn, các ý kiến đều cho rằng không có cơ sở pháp lý để tịch thu 11 cá thể hổ trên. Trên cơ sở pháp lý cũng như thực tiễn, Sở NN&PTNT, các ban, ngành có liên, ENV thống nhất chuyển giao 11 cá thể hổ hiện có cho các cơ sở, trung tâm cứu hộ động vật hoang dã trong nước, trên cơ sở thỏa thuận giữa hai bên.
Trước đó, 1 em nhỏ đã bị hổ vồ bị thương khi vào trêu đùa trong trại nuôi nhốt, phải đưa ra Hà Nội cấp cứu. (Công Lý 19/7)đầu trang(
Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ) sông Hổng có tổng diện tích 137.261 ha được phân bố và trải dài trong 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình; có giá trị cao về bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như góp phần mang lại cơ hội to lớn đối với việc phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội của nhiều địa phương.
Khu DTSQ thế giới đất ngập nước liên tỉnh ven biển đồng bằng châu thổ sông Hổng được UNESCO quốc tế công nhận là khu DTSQ thế giới thứ 3 của Việt Nam, đồng thời cũng là khu DTSQ đầu tiên của Việt Nam thực hiện cơ chế quản lý liên tỉnh gồm các vùng ngập nước ven biển. Nhưng cho đến nay, công tác bảo tồn DTSQ tại đây vẫn tồn tại nhiễu khó khăn cần phải giải quyết.
Theo ông Nguyễn Viết Cách - Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy đồng thời là Thư ký khu DTSQ thế giới của Việt Nam, những khó khăn trong công tác bảo tồn và phát triển các khu DTSQ thế giới của Việ Nam (trong đó bao gồm Khu DTSC sông Hồng) đều đang là những khí khăn chung của các cấp, các ngành.
Trước tiên là về mặt quản lý, phải nỗ lực rất nhiều, phải tạo ra được tiếng nói chung trong lãnh đạo cũng như tổ chức thực hiện. Thêm nữa là áp lực của nhiều người dân đang sống dựa vào nguồn tài nguyên hiện nay, họ cũng luôn phải kiếm sống hàng ngày bằng các tài nguyên mà tự nhiên mang lại cho bao thế hệ qua. Nếu không có biện pháp quản lý tốt, chúng ta sẽ đứng trước nguy cơ mất mát dần các di sản quý giá trong hệ sinh thái chúng ta đang sống.
Về nguyên nhân, ông Cách cho rằng: ở Việt Nam phân chia thành rất nhiều cấp, ngành khác nhau... thậm chí còn được quy định bởi các văn bản pháp quy về trách nhiệm đối với các khu bảo tồn và duy trì các giá trị về di sản, nhân văn. Nhưng mỗi ngành mỗi cấp đều thực hiện theo định hướng riêng biệt của ngành mình nên việc phối hợp với nhau rất yếu.
Cũng theo ông Cách, khi thực hiện nhiệm bảo tồn, xây dựng các khu DTSQ hay các danh hiệu quốc tế thì các bên liên quan cần ngồi lại với nhau để cùng đi đến thống nhất hành động, cùng đưa ra chiến lược, đồng thời liên kết với nhau trong quá trình thực hiện để đi đến mục tiêu chung như đã cam kết với cộng đồng quốc tế để thực hiện việc đó. "Chúng ta đã ký cam kết với quốc tế thì việc đầu tiên chúng ta phải tìm mọi giải pháp để thực hiện tốt. Tuy nhiên, muốn làm được thì sẽ có rất nhiều việc phải làm. Từ việc ban hành các văn bản quản lý về mặt pháp luật, cho đến việc tổ chức thực hiện thực tiễn và đặc biệt là huy động tất cả nguồn lực cả về vật chất và nhân văn để đi đến mục tiêu rất cao cả và bền vững đó là sự hài hòa thống nhất giữa con người và thiên nhiên"- theo ông Cách.
Liên quan đến vấn đề này, nhiều ý kiến chuyên gia cho rằng cùng với các khó khăn trong công tác quản lý, các vấn đề về tự nhiên như môi trường, biến đổi khí hậu và đa dạng sinh học... cần phải có giải pháp thích hợp để có thể vừa duy trì và bảo tồn được các Khu DTSQ thế giới ở Việt Nam, lại vừa đáp ứng được yêu cầu cũng như đảm bảo được những ký kết với quốc tế (UNESCO) đối với các khu DTSQ thế giới tại Việt Nam. (Đại Đoàn Kết 19/7)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Những tác động do biến đổi khí hậu đã gây thiệt hại nặng nề trong sản xuất nông nghiệp ở vùng Tây Nguyên.
Trong những năm qua, chính quyền, ngành chức năng và người dân đã triển khai nhiều giải pháp để ứng phó.
Cụ thể, như đầu tư xây dựng thủy lợi, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào kỹ thuật canh tác, sản xuất giống cây trồng chịu hạn... Tuy nhiên, để Tây Nguyên phát triển bền vững thì cần phải trả lại môi trường sinh thái tự nhiên, trong đó việc bảo vệ và phát triển rừng đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Để ứng phó với hạn hán khốc liệt do biến đổi khí hậu, một trong những giải pháp ngắn hạn đang được các tỉnh Tây Nguyên quan tâm đó đầu tư cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thủy lợi. Lâm Đồng là địa phương tiên phong về xã hội hóa trong lĩnh vực này. Theo kế hoạch đến năm 2020, tỉnh này sẽ đào mới khoảng 5.500 ao, hồ nhỏ với tổng kinh phí 125 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp một nửa.
Ông Nguyễn Văn Sơn – Giám đốc sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng cho biết, công trình tuy nhỏ, nhưng hiệu quả lớn, năm vừa qua nhân dân đã đào được hơn 1.300 công trình.
“Thực hiện đề án đào ao hồ nhỏ thì cực kỳ hiệu quả. Nguồn kinh phí chỉ khoảng 160 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 80 tỷ đồng, nhà nước hỗ trợ 80 tỷ đồng nhưng mà tưới được trên 8.000ha. Bà con rất hưởng ứng, đến mức kinh phí đối ứng của nhà nước không đủ cho bà con đào ao. Qua việc đào ao mà hạn hán của chúng tôi đã giảm đến mức tối thiểu” - ông Nguyễn Văn Sơn cho biết.
Mô hình liên kết 3 nhà: nhà khoa học – doanh nhân – người nông dân đang triển khai nhiều giải pháp tích cực nhằm chủ động trước những khó khăn của biến đổi khí hậu. Một số doanh nghiệp, hợp tác xã đã và đang liên kết với nông dân để thực hiện sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn mang tính bền vững. Những thành công ban đầu được rút ra từ công tác quản lý chặt chẽ từ khâu chọn giống, phân bón hợp lý, tưới nước tiết kiệm và trồng cây che bóng chắn gió … cho đến giải pháp phối hợp bao tiêu sản phẩm sau thu hoạch giữa doanh nghiệp và người nông dân luôn được chú trọng.
Về một số giải pháp chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, ông Trần Thanh Sơn – Phó giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Dịch vụ Thương mại Công Bằng Ea Kiết, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk, cho biết thêm: “Đặc biệt là chống biến đổi khí hậu thì hợp tác xã khuyến khích bà con sử dụng nguồn nước từ ao hồ và nước giếng khơi, chứ không sử dụng giếng khoan. Vì đây cũng nằm trong chương trình chống biến đổi khí hậu”.
Một thách thức lớn hiện nay là hầu hết các loại cây trồng chủ lực ở Tây Nguyên đã vượt quy hoạch khá nhiều. Cụ thể như: cà phê và hồ tiêu là những ví dụ điển hình. Toàn vùng đã có trên 550.000 ha cà phê, vượt quy hoạch hơn 100.000 ha; hồ tiêu đã lên đến 70.000ha, vượt quy hoạch 20.000 ha. Riêng ở các tỉnh như Đắk Nông, Đắk Lắk và Gia Lai, diện tích hồ tiêu đã vượt quy hoạch gấp đôi, gấp ba lần.
Trước thực trạng đó, yêu cầu đặt ra cho các địa phương cần sớm điều chỉnh quy hoạch cho từng loại cây trồng theo tiểu vùng khí hậu để vừa phù hợp với điều kiện sinh thái và chủ động trước những khó khăn của biến đổi khí hậu. Tiến sĩ Trương Hồng – Quyền Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên cho rằng công tác quản lý quy hoạch không tốt và chưa đồng bộ.
“Có một vấn đề ở chỗ là chúng ta chạy theo diện tích. Bây giờ cả hồ tiêu và cà phê đều vượt quy hoạch, ảnh hưởng chung đến sản xuất bền vững. Do diện tích vượt quy hoạch nên hạ tầng thủy lợi đi theo là chưa đáp ứng được. Hiện nay, cơ sở hạ tầng thủy lợi của nhà nước chỉ mới đáp ứng được từ 30 đến 40% nhu cầu nước tưới, còn lại người dân tự khai thác sông suối và nước ngầm. Chính vì vậy làm tăng nguy cơ làm thiếu hụt nguồn nước” - Tiến sĩ Trương Hồng bày tỏ.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, giai đoạn 2010 – 2014, toàn vùng Tây Nguyên đã mất 300.000 ha rừng tự nhiên. Thực tế hiện nay, tình trạng phá rừng vẫn đang diễn ra khá phức tạp ở nhiều địa phương trong khu vực. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây biến đổi khí hậu, làm thiệt hại rất lớn trong sản xuất nông nghiệp và cũng một hệ lụy tất yếu từ việc để mất rừng ở Tây Nguyên.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020, từ năm ngoái đến nay, các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt.
Cụ thể, tháng 6 vừa qua, UBND tỉnh Đắk Nông đã quyết định thu hồi gần 2.000 ha đất rừng của các dự án không hiệu quả và giao về địa phương quản lý. Cũng tương tự như vậy, UBND tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo các ngành chức năng thực hiện nghiêm túc việc đóng cửa rừng tự nhiên; rà soát các dự án liên quan đến rừng. Qua đó, tỉnh đã tạm ngưng 43 dự án liên quan đến rừng.
Về các giải pháp quản lý rừng hiệu quả, Tiến sĩ Phạm S – Phó chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết: “Tỉnh Lâm Đồng đã phân loại các dự án liên quan đến rừng gồm có 7 nhóm liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao, dự án du lịch sinh thái, các công trình thủy điện... Do tính chất quan trọng của rừng Lâm Đồng có tác động rất lớn đến môi trường sinh thái của lưu vực sông Đồng Nai, 11 tỉnh trong lưu vực, cho nên Lâm Đồng rất quyết liệt, không tác động đến rừng tự nhiên, theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ”.
Cùng với đó, năm nay các tỉnh khu vực Tây Nguyên đều có kế hoạch trồng rừng với diện tích rất lớn (trên 15.000ha), trong đó riêng tỉnh Gia Lai chiếm gần một nửa. UBND tỉnh Gia Lai ban hành kế hoạch trong 3 năm từ 2017 - 2019 sẽ thu hồi tối thiểu 30.000 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm để giao đất cho người dân trồng rừng có hưởng lợi.
Theo ông Nguyễn Nhĩ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai: “Đất lâm nghiệp là phải trả về cho lâm nghiệp. Chúng tôi cũng khắc phục và chuyển một số diện tích đất trống, một số đất thu hồi để trồng rừng trong năm 2017 và những năm tiếp theo. Riêng năm 2017,chúng tôi phấn đấu trồng 7.000 ha rừng. Đây là nhiệm vụ có chỉ tiêu hết sức cao so với các năm về trước”.
Những năm gần đây, khu vực Tây Nguyên liên tục hứng chịu thiệt hại nặng nề do biến đổi khí hậu, với những trạng thái thời tiết cực đoan. Năm ngoái, toàn vùng đã trải qua đợt hạn hán khốc liệt nhất trong lịch sử, với khoảng 140.000 ha cây trồng ảnh hưởng, chủ yếu là cà phê, hồ tiêu; hơn 43.000 hộ bị thiếu nước sinh hoạt. Chính phủ đã hỗ trợ 108 tỷ đồng để khắc phục hậu quả và xuất cấp 2.000 tấn gạo cứu đói giáp hạt.
Trong khi đó từ đầu năm nay, mưa phùn lại xuất hiện và kéo dài ngay trong mùa khô, tiếp tục gây thiệt hại đối với cây trồng trên diện rộng. Và hiện nay, mùa mưa đã tới, nỗi lo về lũ quét, ngập úng đã cận kề, chắc chắn không tránh khỏi thiệt hại. Rồi cuối năm, các địa phương lại đề nghị Trung ương hỗ trợ khắc phục hậu quả và cứu đói.
Đành rằng sự hỗ trợ của Chính phủ là rất kịp thời, giúp người dân khắc phục được khó khăn trước mắt. Thiết nghĩ, số ngân sách này cùng với các nguồn lực khác được chủ động đầu tư để triển khai các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu thì chắc chắn sẽ giảm thiểu được thiệt hại đáng kể. Và, trong rất nhiều giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu ở Tây Nguyên hiện nay chỉ mới là trước mắt, khôi phục lại rừng tự nhiên mới là cốt lõi lâu dài. (VOV 20/7)đầu trang(
Hội nghị triển khai Quyết định số 886/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 (Chương trình 886) do Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì vừa khai mạc tại Hà Nội.
Hội nghị còn có thêm một nội dung nữa là tổng kết dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016.
Ngày 16/6/2017, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 886/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình 886. Trước đó, từ năm 2012 đến nay, ngành lâm nghiệp thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, thời gian qua, công tác bảo vệ, phát triển rừng đã thu được những kết quả tích cực. Giá trị, sản lượng, hiệu quả từ sản xuất lâm nghiệp tăng cao hơn so với trước đây. Tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất lâm nghiệp đạt 6,57%/năm trong giai đoạn 2013-2016 trong khi giai đoạn 2010-2012 chỉ tăng bình quân 5,03%/năm. Sản lượng gỗ rừng trồng tăng hơn 3,3 lần, từ 5,16 triệu m3 năm 2011 lên 17,3 triệu m3 năm 2016; 6 tháng đầu năm 2017 đạt 8,9 triệu m3, cả năm ước đạt trên 17 triệu m3.
Khai thác rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ, giảm mạnh về quy mô. Năm 2011 khai thác 200.000 m3 năm. Năm 2015 chỉ có 2 công ty lâm nghiệp được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) khai thác khoảng 13.500 m3; năm 2016 chỉ còn 1 công ty khai thác 5.500 m3; năm 2017, dừng khai thác rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc.
Tuy giảm và hiện đã dừng khai thác rừng tự nhiên, nhưng giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng hơn 2 lần, từ 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006-2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn 2012-2015.
Công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng có nhiều tiến bộ, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng giảm dần, diện tích rừng bị thiệt hại giảm từ 5.546 ha/năm giai đoạn 2006-2010 xuống 2.948 ha/năm giai đoạn 2012-2016.
Công tác trồng rừng được triển khai tích cực, bình quân hàng năm trồng được 225.000 ha rừng tập trung, trong đó trên 90% là rừng sản xuất; năng suất rừng trồng tiếp tục được cải thiện. Tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 40,7% năm 2012 lên 41,19% năm 2016, năm 2017 ước đạt khoảng 41,45%. Diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt khoảng 225.000 ha.
Bên cạnh đó, cũng đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác, liên kết giữa công ty chế biến, sản xuất sản phẩm đồ gỗ với người trồng rừng trồng rừng gỗ lớn có chứng nhận quản lý rừng bền vững.
Dịch vụ môi trường rừng trở thành nguồn tài chính quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát triển rừng; tăng thu nhập cho chủ rừng. Hằng năm, thu từ 1.200-1.300 tỷ đồng, chi trả cho trên 5,0 triệu ha rừng; 6 tháng đầu năm 2017, thu được 608,8 tỷ đồng, bằng 132,8% so với cùng kỳ, đạt 37% kế hoạch năm, ước cả năm thu khoảng 1.650 tỷ đồng.
Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp cũng đã có sự chuyển dịch. Đất rừng do các tổ chức nhà nước quản lý giảm từ 80,1% năm 2000 xuống 45,2% năm 2015. Diện tích do thành phần kinh tế ngoài nhà nước quản lý tăng từ 19,9% năm 2000 lên 54,8% năm 2015. Hộ gia đình, cá nhân được giao 3,146 triệu ha.
Hệ thống văn bản quy phạm, pháp luật, các cơ chế, chính sách được hoàn thiện hơn. Luật Bảo vệ và phát triển rừng đang được sửa đổi, thể chế hoá kịp thời chủ trương xã hội hoá nghề rừng.
Bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được nêu trên, việc triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2016 cũng còn một số tồn tại lớn. Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng vẫn còn những điểm nóng về phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép và chống người thi hành công vụ (Kon Tum, Đắk Lắk, Quảng Nam, huyện Mường Nhé-tỉnh Điện Biên).
Kết quả trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, trồng rừng thay thế còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch.
Năng suất, chất lượng rừng thấp, đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm (80% diện tích rừng tự nhiên là rừng nghèo), giá trị thu nhập trên 1 ha rừng sản xuất, bình quân chỉ đạt khoảng 7-8 triệu đồng/ha/năm. Hầu hết hộ gia đình quản lý diện tích rừng nhỏ dưới 3,0 ha/hộ, tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập, đời sống rất khó khăn.
Chất lượng nhiều loại sản phẩm lâm nghiệp còn chưa cao và khả năng cạnh tranh thấp do quy mô sản xuất nhỏ, chưa tổ chức liên kết theo chuỗi; kết cấu hạ tầng phục vụ chế biến như kho tàng, bến bãi, công nghiệp phụ trợ… kém phát triển, chưa phát triển mạnh thị trường nội địa. Giá trị gia tăng của lâm sản còn rất thấp do thiếu gắn kết giữa nhà máy chế biến và vùng nguyên liệu.
Công tác đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất còn chậm; phần lớn các công ty lâm nghiệp chưa được tự chủ kinh doanh, không có nguồn tài chính ổn định; trách nhiệm của chủ rừng chưa gắn với kết quả bảo vệ rừng, chưa phân định rõ sản xuất kinh doanh với việc thực hiện nhiệm vụ công ích. (Báo Chính Phủ 20/7)đầu trang(
Được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Nghệ An đã triển khai dự án “Xây dựng và phát triển mô hình áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh” giai đoạn 2016-2018.
Dự án thực hiện tại xã Bắc Sơn và xã Châu Thành, huyện Quỳ Hợp với quy mô 38ha. 20 hộ tham gia dự án đều là người dân tộc thiểu số. Dự án đưa giống keo lai nuôi cấy mô vào trồng thâm canh tại địa phương, đồng thời áp dụng đồng bộ các khâu từ chọn lập địa, giống, xử lý thực bì, làm đất và phân bón, trồng chăm sóc, bảo vệ, tỉa cành để tạo ra rừng cây gỗ lớn. Mật độ trồng là 1.330 cây/ha.
Quá trình triển khai thực hiện dự án gặp những khó khăn về điều kiện địa hình lập địa, không chủ động giống, một chu kỳ trồng rừng gỗ lớn từ 12 - 15 năm nên người dân trồng rừng không mặn mà với dự án.
Tuy nhiên, Trung tâm Khuyến nông tỉnh phối hợp cùng với các ban ngành địa phương đã thuyết phục người dân và thống nhất thực hiện dự án. Các hộ dân tham gia được hỗ trợ cây giống (giống keo lai mô BV10, BV16, BV32), phân bón, tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Ngoài học lý thuyết, những người dân tham gia dự án còn được thực hành ở hiện trường.
Kết quả bước đầu cho thấy các giống cây keo lai mô phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương , tỷ lệ cây sống đạt 95 - 97%, cây sinh trưởng, phát triển mạnh hơn so với cây trồng hom cành và hạt tại địa phương. Sau 5 tháng trồng, cây đạt chiều cao từ 1,4 - 1,6m, đường kính gốc từ 2 - 2,5cm. Những kết quả này giúp người dân tin tưởng vào dự án, có động lực để chăm sóc bảo vệ rừng tốt hơn. (Nông nghiệp Việt Nam 19/7)đầu trang(
Theo sử gia Trịnh Hoài Đức thời Gia Long (1802 - 1820), Sài là củi cây rừng, Gòn là giống cây gòn thời xưa mọc thành rừng phía Phú Lâm khỏi Chợ Lớn. Đơn giản như vậy, mà từ ngày mở cõi đã trở thành một tên gọi rất đỗi thân thương, cho nên sau này không ai nỡ quên lãng cái tên ấy...
Ngày nay muốn tìm cây gòn (tên khoa học Ceiba pentandra L.) phải ra xa thành phố, dọc theo quốc lộ 1, bắt đầu từ đèo Cả trở vào ta hay gặp cây gòn, một trong những loài thực vật thân gỗ thuộc họ gạo (Bombaceae) đã có mặt ở nước ta từ lâu đời, được trồng nhiều ở vùng đất  thấp, nơi có điều kiện khí hậu nhiệt đới ấm áp, độ cao dưới 700m so với mặt biển và có lượng mưa hàng năm từ 1.200 - 1.500mm với mùa mưa phân bố đúng vào mùa trồng - sinh trưởng và mùa khô ấm áp đúng vào mùa ra hoa - kết trái.
Các nước trồng và sản xuất bông gòn chủ yếu là Myanmar, Thái lan, Indonesia, Campuchia và các nước Đông Phi, Ấn Độ, Pakistan. Loài gòn ở nước ta có hai chủng khác nhau: Chủng Ceiba pentandra guineensis có nguồn gốc ở vùng hoang mạc Tây Phi cây cao khoảng 30m và chủng Ceiba pentandra caribaea có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, cây trưởng thành có thể đạt chiều cao 70m.
Cây gòn sức sống mạnh mẽ, thường được trồng dễ dàng bằng hạt hoặc bằng cành hom. Từ xưa, trồng gòn chủ yếu để lấy quả, cây bắt đầu ra quả khi 3- 4 tuổi (khoảng 100 quả/ cây ), cho quả nhiều nhất khi 7- 10 tuổi (khoảng 350-400 quả/cây), có thể cho quả đến năm 60 tuổi hoặc lâu hơn nữa.
Nếu tính theo trọng lượng khô, quả gòn có 44% vỏ cứng, 30% hạt, 17% sợi  và 7% vỏ lụa bao bọc. Sợi bông gòn dài 0,8- 3cm chứa 64% cellulose, là loại sợi mềm mại, bền óng ánh và không thấm nước. Cùng một thể tích, loại sợi này nhẹ hơn sợi bông 8 lần.
Do các đặc tính đó, sợi bông gòn được sử dụng làm nệm và để sản xuất một số loại vải có công dụng đặc biệt và không thấm nước. Ở Mỹ và miền Nam nước ta nhiều người còn hay gọi loài cây này bằng cái tên mộc mạc: cây quần jeans. Vì cách đây hơn 200 năm người dân Mỹ đã biết lấy bông gòn để làm nguyên liệu dệt thành thứ vải thô bền chắc, chuyên dành để may loại quần jeans nổi tiếng.
Trong hạt bông gòn chứa 25% chất béo dùng để ăn và sản xuất xà phòng. Hạt sau khi đã ép lấy dầu, bã còn 20% protein dùng làm thức ăn cho gia súc. Thân cây gòn được sử dụng nhiều để làm nọc tiêu. Lá khô làm bột sản xuất nhang và làm thức ăn lơ lửng trong nước để nuôi tôm...
Từ xa xưa, cây gòn là tài sản quý của người dân quê. Mùa quả chín họ hái cất để dành và làm quà tặng cho đám cưới là một cặp gối gòn thì thật dễ thương, chứa đựng bao tình cảm của bà con, chòm xóm. Ngày nay dù đã có nệm bằng chất hoá học, gối mút, gối bơm hơi, song xem ra cũng chẳng có loại nào qua được cái nệm gòn, cái gối gòn vừa nhẹ, vừa mịn, vừa mát. Nó cho người gối, người ôm một cảm giác thật tự nhiên êm ái. Ở thành phố có tới hàng ngàn đồng bào mà lao động và cuộc sống gắn liền với cây gòn.
Trong 300 năm qua, cây gòn còn là chứng nhân của lịch sử nước nhà. Ngay từ cuối thế kỷ 19, nó đã có trong danh mục những loài cây tham gia vào các thí nghiệm của các nhà khoa học ở Sài Gòn về sức bền của gỗ khi được tẩm thuốc bảo quản chống côn trùng - nấm - mục, cũng như các thí nghiệm lâm sinh đầu tiên ở nam Bộ.
Nó cũng là loài cây lớn nhất trong vườn sưu tập bên ngôi nhà sàn của bác sĩ Yersin từ đầu thế kỷ 20, mà sau ngày thống nhất đất nước đã có nhiều nhà khoa học quốc tế đến thăm. Chỉ ít phút bên hai cây gòn, các nhà khoa học đã phát hiện ra trên thân, cành của chúng đầy vết đạn. Bằng phương pháp đo đếm nhanh, họ đã đếm được hơn 300 phát đạn bắn vào hai cây gòn này. Gần đây chúng đã hồi sinh, còn tăng thêm chiều cao và ra nhiều bông.
Ngoài giá trị kinh tế - khoa học, cây gòn có hình dáng đẹp, thân tròn như cây nến đến tận ngọn, cành mọc xoáy trôn ốc, tán cây xếp thành tầng, lá tập trung ở đầu cành, nó còn là loài cây cảnh quan lớn nhất tương xứng với không gian hoành tráng của miền đất Nam Trung Bộ và Nam Bộ trù phú.
Những năm qua do nhu cầu xây dựng và nhiều áp lực khác mà cây gòn cứ ít dần đi ngay trên thành phố mang tên nó. Nhưng gần đây với những kế hoạch trồng rừng của chính phủ nhằm sớm phục hồi màu xanh cho đất nước thì các nhà khoa học lại nhớ tới cây gòn. Vì trước hết cây gòn là loài cây mọc nhanh, rất kinh tế phù hợp với chủ chương của nhà nước: “Trong trồng rừng chú trọng trồng những cây mọc nhanh để đáp ứng nhanh chóng yêu cầu cung cấp, phòng hộ, cảnh quan, môi trường...”.
Tuy vây, vẫn còn một vần đề người trồng gòn boăn khoăn đó là gỗ cây gòn. Vì không như những cây rừng mọc chậm cho gỗ tốt, đáp ứng được nhiều nhu cầu sử dụng như đinh - lim - sến - táu (được gọi là "tứ thiết mộc") thì các loại gỗ từ những cây mọc nhanh mềm, nhẹ, chất lượng thấp, phạm vi sử dụng rất hạn chế như gỗ cây gòn xưa chỉ làm củi hoặc đóng thùng bao bì.
Do đó muốn phát triển trồng rừng bằng cây gòn và những cây mọc nhanh khác cần có giải pháp không ngừng nâng cao chất lượng và giá trị sử dụng gỗ hay còn gọi là nâng cấp gỗ.
Trên thế giới người ta đã ứng dụng các phương pháp công nghệ: cơ giớ, hóa học, và vật lý - chiếu xạ để chế biến gỗ trong đó phương pháp đầu và thứ hai đã được áp dụng vào sản xuất ở nước ta, như thường thấy trong các xưởng cưa xẻ - đóng đồ mộc, nhà máy sấy - ngâm tẩm hóa chất chống nấm, mối, mọt cho gỗ... Còn phương pháp sau cùng: Chiếu xạ gỗ là kỹ thuật tiên tiến nhất khắc phục được hầu hết các nhược điểm của gỗ, đồng thời giữ nguyên và phát huy nhiều ưu điểm của loại vật liệu này, đến nay mới có thể thực hiện.
Nhà nước ta với nguồn tài trợ của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) từ 1.999 đã quyết định xây dựng Trung tâm Chiếu xạ công nghiệp ở TP.HCM (Vinagamma), hội tụ nhiều nhà khoa học ứng dụng.
Theo TS. Phạm Quốc Trinh - Trưởng ban an toàn bức xạ, Bộ Khoa học và Công nghệ thì "Phương pháp chiếu xạ gỗ cũng đơn giản: Người ta cho thành phẩm gỗ vào thùng kim loại rồi hút chân không để nước trong các tế bào gỗ thoát ra, sau đó nạp monomer và tăng áp lực trong thùng, để monomer thấm sâu vào các mạch gỗ và vào giữa các thành tế bào gỗ.
Xong cung đoạn này, ta chuyển thành phẩm gỗ sang các container đặt trên băng truyền tự động đưa vào buồng chiếu xạ với liều lượng thích hợp để monomer lan tỏa đều trong gỗ và chuyển thành chất không tan và không bay hơi. Quá trình này gọi là polymer hoá gỗ". Các hợp chất gỗ - polymer đã qua chiếu xạ (WPC) về mặt cơ học thì khỏe hơn gỗ chưa được xử lý rất nhiều, chúng có độ cứng và sức chịu nén cực kỳ tốt, chống được hơi ẩm và sự tấn công của côn trùng...
Độ cứng tăng 300%, sức chịu nén tăng 100%, sức căng tăng 80%, tỷ trọng tăng 50 - 100% và khả năng chống xơ xước tăng 200%. WPC có nhiều gam màu đẹp, không bị nhiễm bẩn bởi chất lỏng và chịu được nhiệt độ cao. Tại Trung tâm Nghiên cứu nguyên tử Ấn Độ cách đây hơn 50 năm đã tiến hành một thử nghiệm gỗ cây gòn với 4 loại gỗ xẻ thứ cấp rẻ tiền khác là Betula sp, Diospyros melanoxylon, Adina cordifolia, Hardwickia binata để làm ván sàn chất lượng cao.
Chúng được thấm một loại monomer có tên styrene polyester rồi trùng hợp bởi bức xạ gamma. Mỗi loại có 100m2 được lát và kết quả tất cả 500m2 sàn lát ấy sau 6 năm vẫn còn trong tình trạng tuyệt hảo, không cần đến bất cứ sự bảo dưỡng nào.
Sau đó Ấn Độ đã sản xuất mỗi năm khoảng 1triệu m2 ván sàn cao cấp WPC từ gỗ gòn và những cây mọc nhanh. TS. Trần Tích Cảnh, điều phối viên của IAEA cũng cho biết "thiết bị chiếu xạ gamma SVST- Co- 60 của Trung tâm thuộc hệ công nghệ chiếu xạ đa năng, vận hành tự động và an toàn tuyệt đối. (Một Thế Giới 19/7)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, thống kê, toàn tỉnh Cao Bằng mới trồng được 391,9 ha rừng tập trung, đạt 30,2% kế hoạch, trong đó, 22,8 ha rừng phòng hộ; 369,1 ha rừng sản xuất; 264.266 cây phân tán.
Nguyên nhân trồng rừng đạt thấp do nguồn đầu tư, vốn sự nghiệp thực hiện nhiệm vụ phát triển rừng, bảo vệ rừng chưa được giao nên các chủ dự án gặp khó khăn trong việc triển khai thực hiện trồng rừng.
Hiện nay, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện tốt công tác trồng, quản lý, bảo vệ rừng.
Đẩy mạnh tuyên truyền nhân dân tích cực tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn kịp thời, có hiệu quả việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. (Đại Đoàn Kết 19/7)đầu trang(
Nhằm tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng cây giống trồng rừng năm 2017, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng đã thống nhất chỉ đạo các Ban Quản lý rừng, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp trực thuộc chỉ được phép sử dụng cây giống trồng rừng đã được cơ quan thẩm quyền cấp Giấy Chứng nhận “nguồn gốc giống của lô cây con”.
Riêng đơn vị sản xuất, kinh doanh, trước khi xuất vườn cây giống trồng rừng phải báo cáo về Hạt Kiểm lâm sở tại về các nội dung như: vị trí vườn ươm, Giấy Chứng nhận “nguồn gốc giống của lô cây con”, thời gian, số lượng cây, địa điểm trồng rừng… Trường hợp các chương trình, dự án trồng rừng theo kế hoạch, nếu phát hiện sử dụng cây giống trồng rừng không có chứng nhận nguồn gốc, xuất xứ theo quy định thì cương quyết không được nghiệm thu, thanh quyết toán… (Báo Lâm Đồng 19/7)đầu trang(
Bão số 2 cũng gây thiệt hại gần 3.500 ha rừng, nhiều diện tích rừng của các hộ dân và chủ rừng gãy đổ hoàn toàn, tổng giá trị thiệt hại ước tính gần 120 tỷ đồng.
Ông Lê Văn Đông, xóm 3, Quỳnh Thắng, Quỳnh Lưu trồng hơn 3 ha rừng phòng hộ thuộc Dự án JAICA giai đoạn 2010 – 2020. Sau hơn 3 năm trồng diện tích rừng của ông Đông và hơn 220 ha của 42 hộ trồng rừng ở xã Tân Thắng phát triển đều. Bão số 2 đi qua, chỉ trong một đêm toàn bộ diện tích trên địa bàn đã bị đổ gãy.
Lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt, ông Lê Văn Đông bộc bạch: “Chỉ sau một đêm bão số 2 đi qua, toàn bộ diện tích rừng trông được gần 3 năm của gia đình và nhiều hộ dân gần như mất trắng.”
Tại huyện Yên Thành, bão số 2 đã làm cho hơn 500 ha rừng phòng hộ, rừng sản xuất bị ảnh hưởng, thiệt hại nặng gần 300 ha, số cây giống lâm nghiệp ngập úng trong thời gian từ 4-6 giờ hơn 10 vạn cây. Đặc biệt số diện tích bị đổ gãy chủ yếu mới trồng trên 3 năm của các hộ dân chưa đến thời kỳ thu hoạch.
Cụ thể, ông Nguyễn Thọ Huy – Phó Ban quản lý rừng phòng hộ Yên Thành cho biết: “Mặc dù triển khai nhiều biện pháp ứng phó với cơn bão số 2, nhưng thiệt hại sau bão vẫn rất lớn. Trong đó, khoảng 400 – 500 ha có mức độ thiệt hại 20 – 25%, khoảng 300 ha có mức thiệt hại nặng.”
Ở huyện ven biển Nghi Lộc, bão số 2 đi qua đã làm cho hơn 230 ha rừng kinh tế, rừng sản xuất của Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc và các hộ dân nhận giao khoán trồng rừng đổ gãy, gây thiệt hại nặng nề. Nhiều hộ trồng rừng, hộ công nhân nhận khoán trồng và bảo vệ rừng gần như mất trắng.
Nói thêm về mức độ thiệt hại rừng ở các phần trừng trọng yếu ở địa phương, ông Nguyễn Công Sơn – Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc cho biết: “Diện tích rừng keo bị thệt thại 213 ha. Trong đó có những diện tích mới trồng tầm 2 - 3 năm tuổi bị hỏng hoàn toàn.”
Theo báo báo của ngành lâm nghiệp, bão số 2 đã làm gãy đỗ gần 3.500 ha rừng, giá trị thiệt hại gần 120 tỷ đồng ở 9 địa phương, đơn vị, trong đó diện tích thiệt hại hoàn toàn hơn 2.140 ha; số cây rừng bị thiệt hai chủ yếu là keo.
Nói về giải pháp khắc phục sau bão tại địa phương, ông Nguyễn Bá Nhung – Phó phòng NN & PTNT Đô Lương cho biết: “Đề nghị các cơ quan chức năng cho chủ rừng tiến hành khai thác phần diện tích bị đổ gãy để trồng lại cây mới trong thời gian sắp tới; tạo điều kiện về giá cho bà con nông dân trong giai đoạn này.”
Hiện nay, đang trong mùa phòng cháy chữa cháy rừng, các địa phương đang thực hiện lệnh cấm khai thác; các ngành chức năng cần tạo điều kiện cho các địa phương, đơn vị, chủ rừng được khai thác đối với diện tích rừng bị đổ gãy hoàn toàn, đặc biệt là số diện tích keo nguyên liệu. Mặt khác, các đơn vị, chủ rừng cần khẩn trương thu dọn vệ sinh rừng để giảm thiểu vật liệu cháy trong những ngày nắng nóng sắp tới. (Đài Phát Thanh Truyền Hình Nghệ An 19/7)đầu trang(
Bảo vệ, phát triển và khai thác rừng trồng trở thành một trong những nghề đem lại thu nhập cho người dân các địa phương ở Nghệ An. 7 tháng đầu năm, có gần 280 nghìn m3 gỗ các loại được khai thác.
Báo cáo của UBND tỉnh, ước tính tháng 7/2017, sản lượng gỗ khai thác trên địa bàn tỉnh đạt 39.940 m3 đưa tổng số gỗ khai thác 7 tháng năm 2017 ước đạt 279.447 m3, tăng 24,24% cùng kỳ.
Quá trình khai thác gỗ đảm bảo đúng quy trình pháp luật. Trong tháng 7, lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ 76 vụ vi phạm Luật bảo vệ rừng, tịch thu 158,54 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 667 triệu đồng.
Cùng với khai thác gỗ, việc trồng mới rừng được nhân dân, chính quyền các địa phương triển khai mạnh mẽ. Diện tích trồng mới rừng tập trung toàn tỉnh tháng 7 ước đạt 1.500 ha, lũy kế 7 tháng ước đạt 8.037 ha, tăng 2,06% cùng kỳ. Các đơn vị, chủ rừng phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền vận động người dân bảo vệ tốt diện tích 940.500 ha rừng hiện có. (Báo Nghệ An 20/7)đầu trang(
Anh Lê Mạnh Quy ở xã Quảng Minh, huyện Hải Hà (Quảng Ninh) từng bị mọi người bàn tán là dở hơi khi liều lĩnh đặt cược tiền tỷ đưa “của hiếm” trong rừng là cây trà hoa vàng về trồng đại trà trên đất đồi nhà mình.
Trước khi “bén duyên” với cây trà hoa vàng, anh Quy từng là chủ 1 doanh nghiệp xây dựng có tiếng, đã từng thi công nhiều công trình khắp mọi miền đất nước. Năm 2013, anh Quy nghe báo đài nói nhiều đến giá trị dược liệu của cây trà hoa vàng và huyện Hải Hà quê anh cũng đang có loại cây này.
“Ngày trước trà hoa vàng sống đầy ở trong rừng sâu, nhưng mấy năm nay đang bị bà con huyện Hải Hà ráo riết săn lùng, đào bán sang Trung Quốc nên trở thành “của hiếm”. Trăn trở với loài cây dược liệu quý có nguy cơ bị tận diệt, tôi quyết định bỏ nghề xây dựng về quê mua đất tìm cách trồng, khôi phục lại giống cây dược liệu này”, anh Quy thổ lộ.
Dẫn chúng tôi thăm vườn trà hoa vàng, cây nào cây nấy đều xanh bóng, khỏe mạnh, anh Quy hài hước kể. lúc anh quyết định mua lại 3 ha đất đồi hoang hóa để đầu tư 3 tỷ đồng trồng trà hoa vàng, vợ anh suýt “nổi đóa”, còn hàng xóm thì ai cũng bảo dở hơi, khùng.
“Mà cũng đúng, lúc đầu đưa trà hoa vàng từ rừng sâu về trồng trên đất đồi nhà, tôi gặp khó khăn trăm bề. Cây quý bạc triệu chết thành củi khô nhiều không kể xiết. Nhiều ngày tôi ăn ngủ bên đồi trà hoa vàng này chỉ để nghĩ cách chăm cây. Đến giờ cả đồi trà hoa vàng đều bật rễ xanh tốt, khỏe mạnh tôi mới thở phào nhàn nhã”.
Theo anh Quy, cây trà hoa vàng vốn sống ở trong rừng sâu và ưa bóng râm. Hiểu cây, cùng với đầu tư cả vài chục tấn phân chuồng cho đất màu mỡ, anh Quy cò trồng cây hòe xen lẫn trà hoa vàng.
Anh Quy phân tích: “Trồng xen canh thế này có 2 cái lợi. Cây hòe chịu được nắng nóng, tỏa tán rộng, hấp thu ít chất dinh dưỡng, thích hợp để tạo độ che phủ tốt cho cây trà hoa vàng. Thứ 2 là lợi về thu nhập. Trà hoa vàng phải trồng từ 3 – 4 năm mới cho thu hoạch. Thời gian ấy, nếu không tính toán “lấy ngắn nuôi dài” sẽ rất khó khăn. Cây hòe chỉ cần trồng 1 năm là cho thu hoạch. Hiện, 1.800 gốc hòe của gia đình tôi đã cho nhập hơn 200 triệu đồng/năm”.
Đến nay, anh Quy đã đã phát triển quy mô vườn trà hoa vàng lên hơn 10.000 cây giống huyện Hải Hà và hơn 10.000 gốc lấy giống từ huyện Ba Chẽ (Quảng Ninh). Một số cây trà hòa vàng đã cho thu bói. Dự kiến, sau 1 năm nữa đồi trà hoa vàng của gia đình anh Quy sẽ cho thu hoạch đại trà. (Dân Việt 20/7)đầu trang(
Lào Cai là tỉnh dẫn đầu trong thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) trong lĩnh vực du lịch. Tuy vậy, để chính sách này có thể triển khai và nhân rộng, đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, cần nhiều giải pháp căn cơ.
Theo Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Lào Cai gịai đoạn 2015 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030, các loại hình du lịch dựa vào rừng như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng núi sẽ là trọng tâm phát triển của tỉnh. Các khu vực được quy hoạch để phát triển các loại hình du lịch này bao gồm các: Sapa, Bản Xát, Bắc Hà, Mường Khương, Si Ma Cai.
Với những đặc điểm như vậy, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam đã lựa chọn Lào Cai là tỉnh thí điểm thực hiện Dự án “Tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam” (ADB CDTA 8592 VIE). Dự án này sẽ hỗ trợ Lào Cai xác định được vai trò của dịch vụ môi trường rừng đối với hoạt động du lịch; xác định được đối tượng thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch phải chi trả DVMTR; xác định và đề xuất được mức thu nhập và phương thức thu tiền DVMTR trong hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch phù hợp với thực tế; đề
Kết quả khảo sát tại 20 công ty kinh doanh dịch vụ lưu trú, 4 công ty bán vé du lịch và các đối tượng cung cấp dịch vụ môi trường rừng như Ban Quản lý rừng phòng hộ, Ban Giám đốc Vườn Quốc gia Hoàng Liên, các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Sapa cho thấy, 2 loại hình kinh doanh có mối liên hệ chặt chẽ nhất với dịch vụ môi trường rừng là bán vé tham quan các điểm du lịch trong rừng và kinh doanh phòng nghỉ tại các địa điểm sát hoặc trong rừng. Các công ty bán vé là từ 1 -1,5% doanh thu từ tiền vé và mức sẵn lòng trích 1 -1,5% doanh thu chi trả cho DVMTR và các công ty lưu trú là 0,8 -1% doanh thu từ tiền phòng.
Dựa trên các kết quả trên, nghiên cứu đã đề xuất cơ chế chi trả DVMTR cho Sapa như sau: Đối với các cơ sở bán vé, mức chi trả DVMTR là 1,5% doanh thu từ việc bán vé; đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú, mức chi trả DVMTR là 1% doanh thu từ tiền phòng. Theo dựu kiến chi trả DVMTR trong lĩnh vực du lịch đạt mức 7,72 tỷ đồng trong năm 2017 và tăng dần tới 18,57 tỷ trong năm 2020.
Đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Lào Cai đã tiến hành ký kết hợp đồng ủy thác với 34/118 đơn vị kinh doanh du lịch thuộc đối tượng phải chi trả tiền DVMTR trên địa bàn tỉnh, thu hơn 2,3 tỷ đồng và giải ngân hơn 1,5 tỷ đồng.
Tuy vậy, sau gần 4 năm triển khai, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đối với dịch vụ du lịch tại Lào Cai gặp nhiều khó khăn. Sapa là điểm thu hút khách du lịch chính của tỉnh Lào Cai với 1,4 triệu lượt khách tham quan trong năm 2015, đóng góp 64% tổng doanh thu từ hoạt động du lịch toàn tỉnh Lào Cai, tuy vậy, hiện mới chỉ có 23/185 công ty tham gia ký hợp đồng chi trả (12,4%). Đa số các công ty lớn thuộc Hiệp hội Du lịch Sa Pa chưa tham gia.
Nguyên nhân là do các doanh nghiệp du lịch còn băn khoăn về cơ sở khoa học xác định đối tượng chi trả (bên sử dụng) gồm những hoạt động du lịch nào đang hưởng lợi từ rừng? Căn cứ nào để xác định mức thu bảo đảm công bằng và mức thu cụ thể là bao nhiêu để vừa khuyên khích bảo vệ giá trị rừng, vừa không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp du lịch?
Theo các chuyên gia, muốn áp dụng mô hình này, trước mắt các tỉnh phải có quy hoạch phát triển du lịch, trong đó, chỉ rõ khu vực được quy hoạch cho du lịch sinh thái và du lịch nghỉ dưỡng. Trên thực tế, không phải tất cả các tỉnh trong cả nước đã có quy hoạch này. Bên cạnh đó, xác định cụ thể khu rừng nào tạo ra dịch vụ du lịch. Khác với thủy điện hay sản xuất nước sạch, khi lưu vực tạo ra các giá trị điều tiết và duy trì nguồn nước có thể được đo đạc chính xác, thì giá trị cảnh quan và giá trị giải trí khó có thể được quy định là do đơn vị rừng nào tạo ra. (Tài Nguyên và Môi Trường 18/7)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo phóng viên TTXVN tại châu Âu, ngày 18/7, Bộ trưởng Quốc phòng Croatia Damir Krsticevic​ đã nộp đơn xin từ chức sau khi Tổng thống Kolinda Grabar-Kitarovic​ cho rằng quân đội nước này hành động quá chậm trễ trong việc hỗ trợ các lực lượng cứu hỏa khống chế một vụ cháy rừng.
Tuy nhiên, Thủ tướng Croatia Andrej Plenkovic đã bác đơn từ chức của Bộ trưởng Quốc phòng Damir Krsticevic.
Phát biểu trong một cuộc họp báo, Thủ tướng Andrej Plenkovic nhấn mạnh "Quân đội có thể can thiệp chỉ sau khi họ nhận được yêu cầu trợ giúp."
Thủ tướng Croatia cũng cho biết trong trường hợp này, quân đội không thể tự ý hành động mà phải đợi người đứng đầu lực lượng cứu hỏa gọi điện yêu cầu hỗ trợ.
Trước đó, ngày 17/7, một vụ cháy rừng nghiêm trọng đã lan rộng hơn 20km tại khu vực Split, gần thành phố biển Adriatic, đe dọa khu vực ngoại ô của thành phố này.
Tuy nhiên với sự trợ giúp của 200 binh lính, hơn 400 nhân viên cứu hỏa đã khống chế được toàn bộ đám cháy. (Thông Tấn Xã VN 19/7)đầu trang(
Không phải máy ảnh của bạn là bạn có quyền sở hữu mọi tấm hình trong đó. Giống như câu chuyện của nhiếp ảnh gia người Anh David Slater và vụ lùm xùm xoay quanh câu chuyện bức hình "chú khỉ selfie" ...
Theo Guardian đưa tin, một phiên tòa tại Mỹ đã khiến nổ ra cuộc tranh luận mới về việc một con khỉ có thể sở hữu bản quyền bức ảnh selfie của nó hay không khi mà chiếc máy ảnh lại thuộc về nhiếp ảnh gia David Slater.
David Slater đã không thể có mặt trong phiên tòa xử lý vụ kiện của mình vì không có đủ tiền để mua vé máy bay từ nước Anh tới San Francisco vào hôm thứ Tư (12/7).
Sau khi bị khởi kiện từ năm 2015, nhiếp ảnh gia David đã gần như phá sản khi phải trả tiền luật sư theo phiên tòa. Anh cũng không có tiền để mua lại chiếc máy ảnh đã vỡ - cần câu cơm cho công việc của mình.
Mọi chuyện bắt đầu từ năm 2011 với bức ảnh chú khỉ selfie. Khi David đi du lịch tại Sulawesi, Indonesia, anh đã dành nhiều ngày theo dõi và chụp ảnh đàn khỉ.
Nhiếp ảnh gia cho biết bức ảnh khỉ selfie hoàn toàn là ý tưởng có chủ đích của anh khi cố tình "lừa" chú khỉ bấm nút chụp khi nhìn thẳng vào ống kính.
"Đấy không phải là một khoảnh khắc may mắn", David giãi bày. "Bạn phải cần kiến thức, sự kiên nhẫn, thời gian và nhiều thứ khác".
Ngay sau đấy, bức ảnh đã trở nên nổi tiếng. David cũng kiếm được bộn tiền từ bức hình, đủ để trang trải cho chuyến đi tới Indonesia.
Tuy nhiên, bức ảnh trở thành chủ đề cho một vụ tranh chấp pháp lý vào năm 2014 khi David yêu cầu blog Techdirt và Wikipedia không được sử dụng bức hình mà không có sự cho phép của anh.
Wikipedia đã từ chối yêu cầu của nhiếp ảnh gia và khẳng định, bức hình này không có bản quyền vì con khỉ mới là người chụp bức ảnh. Trong khi đó, văn phòng Bản quyền Mỹ nói động vật không thể sở hữu bản quyền và xác nhận đây là bức ảnh không tác giả.
Sau đó, Tổ chức Bảo vệ Quyền lợi Động vật (PETA) đứng ra kiện Slater vì cho rằng chú khỉ mới là chủ sở hữu bức hình. Nhiếp ảnh gia David Slater và nhà xuất bản Blurb đã vi phạm bản quyền, khi cho ra mắt cuốn sách "Wildlife Personalities" có sử dụng hình selfie chú khỉ này.
Theo PETA, chú khỉ 6 tuổi này có tên là Naruto. Tuy nhiên, tòa án cũng đã bãi bỏ yêu cầu của PETA vào năm 2016 và cho rằng, động vật không phải đối tượng trong quy định của luật bản quyền.
Với David Slater, việc tranh chấp bản quyền bức ảnh lâu ngày đã khiến anh tiêu tốn rất nhiều tài sản. Tuy vậy, anh vẫn cho rằng bản quyền bức hình này phải thuộc về mình.
"Tôi không có đủ tiền mua xe ô tô. Cũng chẳng có thiết bị máy ảnh nào cả. Giờ tôi đã thực sự phá sản".
Luật sư của David cũng đặt câu hỏi ngược cho PETA rằng liệu tổ chức này có thể chứng minh được con khỉ trong bức hình đúng là con khỉ mà PETA đưa thông tin ra không.
Điều an ủi duy nhất với David là bức ảnh của anh đã giúp cứu loài khỉ này khỏi bị tuyệt chủng.
"Những con vật này đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nhờ một bức ảnh của tôi, du lịch sinh thái địa phương đã phát triển và khách du lịch có ý thức bảo vệ động vật hoang dã hơn. Hy vọng là bức ảnh đã đóng góp vào việc cứu sống loài vật này. Đó là chủ ý ban đầu của tôi". (Infonet 19/7)đầu trang(
4 con non của loài hổ Bengal trắng chào đời tại một sở thú ở Trung Quốc.
Một con hổ Bengal trắng gần đây sinh 4 con non tại sở thú Thế giới Động vật Hoang dã ở Tế Nam, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, CCTV ngày 14/7 đưa tin. Hổ mẹ Niu Niu vượt cạn ngày 23/6, đang nuôi ba con non khỏe mạnh. Hổ con thứ tư tên Qun Qun yếu hơn được nhân viên sở thú chăm sóc.
"Chúng tôi chú trọng đến thức ăn và sự bài tiết hàng ngày của con vật ngay từ giai đoạn sớm vì hổ được con người nuôi sẽ chậm lớn hơn những con được mẹ nuôi", Zhang Qingmei, nhân viên sở thú nói. Qun Qun đang phát triển khỏe mạnh.
Hổ trắng là phân loài của hổ Bengal, loài nằm trong diện bị đe dọa. Hổ trắng trong tự nhiên đã bị tuyệt diệt, khoảng 200 con còn tồn tại đều được con người chăm sóc. (Vnexpress 19/7)đầu trang(
Hải quan Pháp vừa thu giữ một lô mai rùa trái phép nặng gần 500 kg tại sân bay Charles de Gaulle của Paris. Đây là lô mai rùa lớn nhất từ trước tới nay bị thu giữ tại Pháp.
Số mai rùa này được cất giấu trong các thùng carton. Có mặt tại sân bay Charles de Gaulle, Bộ trưởng Sinh thái học Pháp Nicolas Hulot đã lên án hành động buôn bán trái phép mai rùa trên, cho rằng đây là một hành vi đáng báo động, đe dọa tới sự đa dạng sinh học. (VTV 19/7)đầu trang(./.