|
Ngày 19 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Những khu rừng tự nhiên ở xã Cư Yang (huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) bị lâm tặc tàn phá nghiêm trọng trong thời gian dài nhưng lực lượng kiểm lâm không ngăn chặn
Ngày 18-7, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Y Rốt, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ea Kar, cho biết lực lượng chức năng đang có mặt ở khu vực rừng bị phá ở xã Cư Yang để xác minh, làm rõ thông tin rừng bị phá để báo cáo với huyện và tỉnh.
Trước đó, trong những ngày giữa tháng 7-2017, phóng viên đã xâm nhập vào rừng xã Cư Yang theo thông tin người dân phản ánh tình trạng phá rừng rất nghiêm trọng. Từ đập chứa nước thôn 13 (xã Cư Yang) đã nghe rõ tiếng máy cưa rít vang từ cánh rừng. Từ đây, men theo con đường mòn luồn sâu vào rừng, những cây gỗ lớn bị chặt hạ dần hiện ra trước mắt chúng tôi.
Dưới cơn mưa tầm tã, chúng tôi men theo lối đi do "lâm tặc" mới mở xuyên qua rừng để xe công nông vào vận chuyển gỗ. Hai bên đường nhiều khúc gỗ được xẻ thành khối nằm rải rác. Sau gần 1 giờ chúng tôi mới tới được khu vực phát ra tiếng cưa máy. Lúc này, nhóm "lâm tặc" đã rời khỏi hiện trường để lại những bìa gỗ, phần ngọn và gốc cây có đường kính khoảng 45 cm còn rỉ nhựa.
Cách đó khoảng 500 m, nhiều khối gỗ trâm đá vừa được xẻ ra nằm ngổn ngang, có đường kính khoảng 70 cm, cùng với khoảng 40 bìa gỗ cũ, mới đan xen nằm la liệt trên đất. Cạnh đó, 2 cây gỗ có đường kính khoảng 80 cm bị đốn chưa kịp xẻ để vận chuyển ra khỏi rừng. Đi sâu thêm một đoạn, những cây gỗ dài gần 20 m, đường kính bằng hai người ôm, cành lá còn xanh tươi vừa bị cưa ngang gốc trải rộng một khoảnh rừng. Cứ thế, trong vòng bán kính chưa đầy 1 km, chúng tôi đã chứng kiến đủ loại cổ thụ bị tàn phá tan hoang.
Chiều 14-7, chúng tôi tìm đến Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã (Cư Yang, Cư Bông và Cư Prông, huyện Ea Kar) để tìm hiểu về tình trạng phá rừng ở đây. Tuy trong giờ hành chính nhưng trụ sở trạm kiểm lâm đóng cửa, không có người.
Liên lạc qua điện thoại, ông Quách Trung Hiếu, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã, cho hay: "Chiều nay, do đơn vị (Hạt Kiểm lâm huyện Ea Kar) họp nên anh em về hết cơ quan". Khi được hỏi vào sáng cùng ngày và cả ngày 13-7 đều không thấy lực lượng kiểm lâm địa bàn túc trực, ông Hiếu phân bua: "Sáng nay anh em đi công việc trên xã, còn hôm qua anh em đi ra ngoài huyện hiến máu".
Còn theo ông Y Rốt, sau khi nhận được phản ánh, Hạt Kiểm lâm huyện Ea Kar đã cử lực lượng xuống địa bàn để xác minh thông tin. Khu vực rừng mà phóng viên phản ánh thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar. "Hiện anh em đang kiểm tra, tổng hợp. Chủ yếu là mấy cái cây sót lại, ngã đổ, bị bọng trước đây khai thác bỏ lại, người dân tận dụng để làm đòn tay. Không phải phá rừng đâu" - ông Y Rốt xuề xòa. Khi phóng viên cho biết những cây này mới bị hạ thì ông Y Rốt ầm ừ: "Không có gì".
Về vấn đề này, ông Nguyễn Hồng Mạnh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Ea Kar, cho rằng sau khi nghe phóng viên liên hệ làm việc, lực lượng liên ngành đã vào kiểm tra nhưng theo báo cáo chỉ là người dân phát gỗ rừng trồng. Tiếng máy cưa nghe được là do người dân cắt dọn khu vực rừng trồng sát rừng tự nhiên.
Lúc này, chúng tôi đưa cho ông Mạnh xem những hình ảnh gỗ bị đốn hạ thì ông Mạnh nhận định: "Nếu đúng như vậy thì anh em đã báo cáo sai sự thật hoặc có khả năng anh em đi kiểm tra không đúng vị trí. Tôi sẽ đích thân vào tận trong rừng để kiểm tra, quy trách nhiệm cho những người để xảy ra sai phạm và xử lý theo quy định" - ông Mạnh nói. (Người Lao Động 18/7)đầu trang(
Ngày 18/7, ông Nguyễn Ơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tây Sơn (Bình Định) cho biết UBND tỉnh này đã ký quyết định xử phạt hành chính đối với tài xế ô tô gắn biển xanh giả chở gỗ lậu quý hiếm.
Theo đó, ông Trần Châu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã ký quyết định xử phạt hành chính 75 triệu đồng đối với ông Nguyễn Đức Dụng (SN 1976, trú thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, Bình Định) về hành vi vận chuyển trái phép 28 hộp gỗ xẻ thuộc loại quý hiếm, tịch thu toàn bộ số gỗ vi phạm và xe ô tô vận chuyển lâm sản gắn biển xanh giả 77B - 0407.
Trước đó, lúc 3 giờ ngày 4/6, trong khi làm nhiệm vụ Tổ tuần tra của Công an huyện Tây Sơn phát hiện ô tô 16 chỗ BKS 77B - 0407 xanh do tài xế Nguyễn Đức Dụng điều khiển đang đỗ trên Quốc lộ 19 (đoạn qua thôn Tả Giang 2, xã Tây Giang, huyện Tây Sơn) có dấu hiệu khả nghi nên Tổ đã tiến hành kiểm tra.
Qua đó, phát hiện bên trong xe chứa 28 hộp gỗ xẻ chủng loại gỗ gụ lau, thể tích gần 2,4m3, chủng loại gỗ gụ lau, nhóm IIA thuộc loài nguy cấp, quý hiếm nhưng tài xế không xuất trình giấy tờ xe, hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp số gỗ nói trên.
Lực lượng chức năng cũng xác định chiếc xe này gắn biển số xanh giả nên lập biên bản tạm giữ theo quy định. (Giao Thông 18/7)đầu trang(
Một con culi nhỏ quý hiếm, có tên trong sách đỏ, vừa được một cậu bé ở Biên Hòa giao nộp cho lực lượng kiểm lâm.Chiều 18.7, Hạt Kiểm lâm TP.Biên Hòa (Đồng Nai) đã tiếp nhận cá thể Culi nhỏ từ em Lê Quốc Bảo (16 tuổi, ngụ xã Tam Phước, TP.Biên Hòa), sau đó đưa về cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học tại xã Phước Tân (TP.Biên Hòa) để chăm sóc cho khỏe mạnh rồi thả về môi trường rừng tự nhiên.
Con culi nhỏ này nặng khoảng 300 gr, lông màu hung nâu, xen kẽ ít lông trắng bạc. Dọc sống mũi có vết trắng, phía sống lưng có vết hoe đỏ thẫm, bụng trắng vàng ánh bạc.
Bảo cho biết con culi này được em bắt ngoài rẫy. Ban đầu không biết con gì nhưng sau khi biết đây là động vật quý hiếm nên Bảo chủ động giao nộp cho kiểm lâm.
Trước đó, vào tháng 5.2017, Hạt kiểm lâm TP.Biên Hòa cũng đã tiếp nhận một cá thể culi nhỏ, nặng khoảng 300 gr từ một người dân sống ở P.Tân Biên (TP.Biên Hòa).
Sau một thời gian chăm sóc, Hạt kiểm lâm TP.Biên Hòa đã thả con culi trên vào Khu bảo tồn Thiên nhiên Văn Hóa Đồng Nai, địa giới hành chính là xã Mã Đà (H.Vĩnh Cửu, Đồng Nai). (Thanh Niên 18/7)đầu trang(
Hàng nghìn m3 đất, đá, phế liệu được đổ thải giữa ban ngày trong phạm vi khu vực vườn Quốc gia Tam Đảo những ngày gần đây khiến dư luận bức xúc.
Sự việc diễn ra liên tục gần một tuần, vậy mà các lực lượng chức năng lại không hề có động thái ngăn cản. Chỉ đến khi người dân địa phương phát hiện và ngăn cản, việc đổ đất thải xuống khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo mới được dừng lại.
Theo phản ánh của người dân địa phương, trong nhiều ngày có khoảng 4, 5 chiếc xe tải chở đất, đá, phế liệu xây dựng, ngang nhiên đổ đất thải vào khu vực suối Đá xanh (thuộc địa bàn khu vực Tam Đảo 2). Thậm chí, nơi đổ ngay trước cửa Trạm kiểm lâm Tam Đảo, việc đổ thải chỉ dừng vào ngày thứ 7, Chủ nhật có nhiều khách du lịch thăm quan do sợ bị lộ.
Được biết, những chiếc xe chở đất thải xuống khu vực thuộc Vườn quốc gia Tam Đảo, người dân báo cho lãnh đạo vườn Quốc Gia lên để kiểm tra, sự việc mới được dừng lại.
Ông Nguyễn Văn T, người dân sống gần khu vực đổ đất thải bức xúc: "Khi chúng tôi phát hiện việc đổ đất, phế thải vào khu vực rừng cấm, chúng tôi đã quay phim, chụp ảnh lại. Sau đó báo cho các cơ quan chức năng của Thị trấn Tam Đảo, ban quản lý vườn Quốc gia Tam Đảo, UBND huyện Tam Đảo để kịp thời có biện pháp ngăn chặn. Đến khi, ông Đỗ Thanh Hải - Giám đốc vườn Quốc gia Tam Đảo lên kiểm tra và phát hiện một chiếc xe vẫn đang đổ đất tại khu vực suối Đá Xanh”.
Cũng theo phản ánh của người dân, khi ông Hải lên hiện trường có cả ông Trần Quốc Lực - Trạm trưởng trạm kiểm lâm Tam Đảo. Điều ngạc nhiên, khi ông Hải yêu cầu lái xe dừng ngay việc vận chuyển, đổ đất, đá vào khu vực rừng cấm thì ngay lập tức ông Lực lại có động thái “ngăn cản”?
Ghi nhận tại khu vực trước cửa Trạm kiểm lâm Tam Đảo, xuất hiện một lượng đất khá lớn được đổ ngay bên vệ đường, theo chứng cứ người dân cung cấp có cả máy xúc san gạt.
Ở khu vực suối Đá Xanh cách hạt kiểm lâm Tam Đảo gần 2 km, để vào được khu vực này chỉ có duy nhất một con đường là đi qua trạm barie kiểm lâm Tam Đảo đồng thời phải mua vé. Tuy nhiên, khi chúng tôi hỏi mua vé vào thăm quan thì cán bộ kiểm lâm trực tại đây cho biết, khu vực này đã bị cấm, không cho phép ai vào nữa nên chúng tôi đành quay ra.
Trạm kiểm lâm Tam Đảo luôn có cán bộ trực 24/24h, nếu khách du lịch muốn vào khu vực này để thăm quan đều phải mua vé, không hiểu bằng cách xe tải chở đất lại có thể băng qua trạm kiểm tra một cách dễ dàng.
Ông Ngô Hữu Mai - Chủ tịch UBND Thị trấn Tam Đảo trả lời PV là đang đi họp, và thông tin ngắn gọn: "Liên hệ với Ban quản lý vườn Quốc gia, họ nắm rõ hơn. Sự việc xảy ra cả trên địa bàn xã Tam Quan nữa, hơn nữa phạm vi, thẩm quyền giải quyết là của Ban QLVQG".
Liên hệ với ông Đỗ Thanh Hải - Giám đốc vườn Quốc Gia Tam Đảo được biết: “Tôi đang đi công tác và giao cho ông Đặng Văn Thức - Hạt phó hạt kiểm lâm Tam Đảo làm việc”.
Trao đổi với phóng viên, ông Đặng Văn Thức cho biết: "Sự việc mà người dân phản ánh là có thật, diễn ra nhiều ngày nay, chúng tôi đang tiến hành kiểm tra, lập biên bản để báo cáo UBND huyện, đề nghị Công an huyện điều tra làm rõ. Việc xác định về khối lượng cũng như nguồn gốc của số đất được đổ thải vào khu vực vườn Quốc gia từ đâu thì tôi không nắm được".
Sự việc diễn ra ngay trong khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo từ nhiều ngày trước, những Lãnh đạo quản lý trực tiếp lại không hề biết nguồn gốc đất thải từ đâu, đơn vị nào trở đất đổ thải. Trong khi, đây là khu vực cấm ra vào, được trông coi, canh gác 24/24 lại xuất hiện những chiếc xe tải ngang nhiên đổ đất.
Những thắc mắc này, xin gửi tới các cơ quan chức năng huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc vì người dân nơi đây đang mong mỏi một câu trả lời thỏa đáng. (Pháp Luật VN 18/7)đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng phá rừng tự nhiên tại huyện Ea Súp diễn biến hết sức phức tạp, nóng bỏng, đặc biệt sau khi Báo Nhân Dân điện tử đăng bài “Vào điểm nóng phá rừng ở Ea Súp” vào đầu tháng 3-2017, phản ánh tình trạng lâm tặc ngang nhiên phá rừng tại tiểu khu 149 nằm trên địa bàn hai xã Ia Jlơi và Ia Lốp, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo UBND tỉnh Đác Lắc chỉ đạo các ngành chức năng tỉnh điều tra xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng ở Ea Súp.
Trong khi chưa biết các cơ quan chức năng của tỉnh Đác Lắc và huyện Ea Súp điều tra, xử lý các đối tượng phá rừng đến đâu thì trong những ngày giữa tháng 7 này, khi nhóm phóng viên trở lại huyện Ea Súp và tiếp tục chứng kiến các đối tượng ngang nhiên dùng cưa máy phá rừng tự nhiên như chốn không người.
Tình trạng phá rừng lần này diễn ra tại Tiểu khu 267 thuộc địa phận xã Ea Bung, huyện Ea Súp. Trên đường từ Quốc lộ 29 rẽ vào tiểu khu này, chúng tôi bắt gặp hai chiếc xe kéo nối đuôi nhau đi từ trong rừng ra. Lần theo dấu vết của những chiếc xe, phát hiện khoảng 20m3 gỗ rừng tự nhiên đã cắt thành từng khúc dài khoảng 1m, đường kính từ 15 - 40cm nằm ngổn ngang bên con đường mòn và trong bìa rừng, chủ yếu là gỗ thuộc nhóm IV, VI như gỗ dầu, bằng lăng.
Từ bên trong cánh rừng, tiếng cưa máy đang gầm rú. Đi sâu vào rừng khoảng 500m, chúng tôi phát hiện hàng chục đối tượng mang theo cưa máy ngang nhiên triệt hạ cây rừng. Phát hiện có người lạ, ngay lập tức các đối tượng vác cưa tháo chạy vào rừng, bỏ lại hiện trường hàng loạt cây gỗ rừng vừa bị cưa hạ, cành cây thu gom chất thành từng đống, một diện tích lớn rừng tự nhiên bị phá trắng, cây rừng nằm ngổn ngang.
Theo một số người dân địa phương, thời gian gần đây, có một nhóm đối tượng mang cưa máy, xe kéo độ chế, dựng lán trại vào tiểu khu 267 thuộc địa phận xã Ea Bung phá rừng lấy gỗ, củi, lấn chiếm đất rừng, gỗ cắt thành từng khúc, chờ thời cơ vận chuyển ra khỏi rừng. Thế nhưng không thấy chủ rừng cũng như các cơ quan chức năng của huyện Ea Súp và xã Ea Bung đến ngăn chặn, xử lý.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trên địa bàn huyện Ea Súp hiện có khoảng 86.000 ha rừng, trong đó có 80.964 ha rừng tự nhiên và hơn 3.200 ha rừng trồng. Đến thời điểm hiện nay, đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện do các công ty lâm nghiệp quản lý với diện tích 63.147 ha, trong đó có 41.487 ha rừng.
Ngoài ra, UBND tỉnh Đác Lắc đã cho các doanh nghiệp tư nhân thuê đất thực hiện 28 dự án đầu tư phát triển nông - lâm nghiệp và các dự án khác với tổng diện tích là 19.974 ha, trong đó có 12.010 ha rừng. Diện tích do UBND cấp xã quản lý là 11.592 ha, trong đó diện tích rừng là 6.912 ha.
Qua rà soát, thống kê chưa đầy đủ của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đác Lắc, từ đầu năm 2016 đến nay, trên địa bàn huyện Ea Súp đã có hơn 191 ha rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép. Tuy nhiên, theo người dân địa phương, với tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng diễn ra nóng bỏng như trong thời gian qua thì diện tích rừng bị tàn phá, lấn chiếm có thể lớn hơn nhiều.
Thực tế trên cho thấy, mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu UBND tỉnh Đác Lắc chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng ở huyện Ea Súp mà Báo Nhân Dân điện tử đã phản ánh, tuy nhiên rừng ở đây vẫn hàng ngày bị tàn phá, không biết các ngành chức năng làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh Đác Lắc và huyện Ea Súp ở đâu? (Nhân Dân 18/7)đầu trang(
“Người rừng là có thật và ở Việt Nam có người rừng”, đó là những lời khẳng định của PGS.TS Trần Hồng Việt sau hơn 20 năm miệt mài tìm kiếm dấu vết “người rừng”. Đặc biệt năm 1982 ông đã may mắn tìm thấy và chụp được dấu chân “người rừng” để lại sau cơn mưa đầu mùa trên đỉnh núi Ngọc Vin (tên còn được nhiều người biết đến là núi Ngọc Linh - PV).
Nhắc đến chủ đề “người rừng ở Việt Nam”, người ta không thể không nhắc đến tên tuổi PGS.TS Trần Hồng Việt, cựu giám đốc trung tâm nghiên cứu động vật ẩn sinh và động vật quý hiếm thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Có thể nói, ông là một trong những nhà khoa học hiếm hoi “đeo đẳng”, thậm chí có thể nói là “ám ảnh” với đề tài này.
Gặp ông ở nhà riêng trên đường Nguyễn Khoái (TP.Hà Nội), ở cái tuổi 81 nhưng trông ông vẫn còn rắn rỏi, nhất là khi nhắc đến người rừng. Vị chuyên gia đầu ngành cho biết: Người rừng là một loài giống người, là họ hàng gần gũi với người văn minh.
Đi tìm người rừng chính là cuộc hành trình tìm về nguồn gốc, lịch sử tiến hóa loài người. Đây không chỉ là công cuộc có ý nghĩa đối với Việt Nam mà còn có ý nghĩa rất lớn trong di truyền học, sinh học và giải mã câu hỏi lớn của nhân loại về lịch sử tiến hóa loài người khi đến tận bây giờ mắt xích về thuyết tiến hóa giữa giai đoạn linh trưởng đến người vẫn còn chưa có lời giải.
Kể về hành trình đi tìm người rừng, PGS.TS Trần Hồng Việt cho biết ông là người rất may mắn khi tận mắt thấy và chụp được dấu chân người rừng để lại ở trên đỉnh núi Ngọc Vin (Tây Nguyên) vào năm 1982.
Đó là một ngày đầu mùa mưa khi ông đang thực hiện chuyến thám hiểm trong khuôn khổ chương trình bảo vệ môi sinh 5.202. Như một sự sắp đặt của tạo hóa, hôm đó thực sự ông đã rất may mắn bởi nhờ có cơn mưa đầu mùa nên các loài động vật sống ở trong rừng mới ùa ra và để lại dấu chân. Càng may mắn hơn khi cơn mưa chỉ vừa đủ để đất dẻo mà không bị nhão nên khi “người rừng” đi qua đã để lại dấu chân in lên rất rõ.
Ông nói đó là lần đầu tiên ông nhìn thấy “một dấu chân đẹp đến như vậy, nó rất lớn và các ngón chân dài”, “các ngón chân để lại rõ giống như khi ta lấy tay ấn lên bột bánh trôi”. PGS.TS Việt cho biết, từ trước đến giờ ông cũng đã bắt gặp nhiều dấu chân được cho là của người rừng để lại nhưng chỉ có thể có thể đo được kích thước vì trên cát hoặc trên đất khô nên không rõ “đó là lần duy nhất ông chụp được dấu chân người rừng rõ mồn một”.
PGS.TS Trần Hồng Việt cũng đã rất may mắn, bởi khi đó đã xin trang bị được một chiếc máy ảnh để phục vụ quá trình nghiên cứu và xin được từ đồng nghiệp một túi bột thạch cao mang theo. Với sự nhảy cảm của 1 người làm công tác nghiên cứu, ông không chỉ chụp lại mà còn dùng bột thạch cao đổ vào dấu bàn chân người rừng mang về làm tư liệu nghiên cứu.
Theo mô tả của PGS.TS Việt và phóng viên chúng tôi cũng được tận mắt xem bức ảnh thì bàn chân đó dài khoảng 28cm, rộng khoảng 12 cm. Các ngón chân rất dài, giữa lòng bàn chân có một vùng lõm rất sâu.
Căn cứ vào các đặc điểm như vậy, đặc biệt chi tiết bàn chân có vùng lõm sâu cho thấy nó rất phù hợp với điều kiện leo núi đặc biệt là đi đứng trên các mỏm đá. Dấu chân chân này khi được bắt gặp vẫn còn rất mới.
PGS.TS Trần Hồng Việt cho rằng đây chính là một bằng chứng cho thấy trong những cánh rừng đại ngàn ở Tây Nguyên người rừng vẫn còn sống. Ông đã tin là có người rừng ở Việt Nam và việc “tóm” được dấu chân trên đỉnh núi Ngọc Vin càng cũng cố thêm niềm tin sắt đá rằng người rừng đang hiện hữu ở Việt Nam.
Kể lại câu chuyện này, vị PGS đầu ngành động vật vẫn còn tỏ ra vô cùng tiếc nuối về cuộc bắt gặp dấu chân người rừng hôm đó. Ông nói nếu ngày ấy chiếc xe của ông không bị gãy nhíp, nếu trong tay ông có thêm các trang bị để tránh thú dữ thì rất có thể hôm đó ông đã ở lại đỉnh núi Ngọc Vin và đã có một cuộc gặp gỡ lịch sử giữa lớp cháu chắt văn minh và những người rừng cổ đại.
Ông cũng kể thêm, ngoài dấu chân chụp được trên đỉnh núi Ngọc Vin vào năm 1982, ông còn từng chụp được dấu chân cũng được cho là của người rừng ở tư thế đứng thẳng, để lại cạnh một cây chuối khi bóc lõi cây ăn phần lõi ruột bên trong. Dấu chân này được ghi nhận ở Đắk Lắk nhưng tương đối mờ, không rõ chỉ biết kích thước của nó cũng lớn tương đương với dấu chân ông chụp được trên đỉnh núi Ngọc Vin.
Theo PGS.TS Trần Hồng Việt có hai căn cứ quan trọng để khẳng định về sự tồn tại của người rừng ở Việt Nam là căn cứ vào vết dấu chân và căn cứ vào dấu hiệu thức ăn để lại.
Ngoài việc nghe người dân kể lại là nhìn thấy người rừng rung cây để tìm kiếm trứng chim, ông cũng tận mắt nhìn thấy và chụp được hình ảnh những khúc gỗ mục sau khi đã bị “ai đó” bới tìm sâu bọ bên trong được gác lên cao và hình ảnh những vết cắn được để lại trên các chiếc lá trong rừng.
Ông cho rằng, những dấu tích đó không thể là của lợn rừng hay loài động vật khác ủi để tìm sâu bọ được vì như thế sẽ để lại dấu chân và sẽ bị ủi lật lên chứ không thể xếp chồng lên nhau như thế được. Hoặc nếu là khỉ ăn lá cây thì sẽ để lại vết cắn khác chứ không thể để lại vết cắn rộng và có vết răng nanh nhẹ như vậy.
Ngoài việc tận mắt nhìn thấy các dấu vết để lại, PGS.TS Việt cũng được nghe kể rất nhiều câu chuyện về người rừng. Nhiều chiến sĩ quân giải phóng cũng từng bắt gặp người rừng khi hành quân qua rừng Trường Sơn.
Trong đó, đáng chú ý là chuyện về cuộc hội ngộ giữa một đoàn dân công với người rừng trong một đêm trăng sáng. Đêm đó, hơn hai chục anh chị em trong đoàn văn công đang thồ hàng lên núi thì đột ngột sững sờ khi thấy một cái bóng to lớn, sừng sững đi xuống từ trên đỉnh đèo Ngọc Vin.
Con người to lớn đầy lông lá này thản nhiên rẽ đám đông sang hai bên và nhanh chóng mất hút trong rừng già. Sau này kể lại, các thành viên trong đoàn khẳng định họ đã nhìn thấy rõ người rừng, có người còn sợ quá trượt xuống cái hố bị thương. Ông cũng cho biết hiện nay một số nhân chứng trong đoàn văn công đó vẫn còn sống.
Hay câu chuyện năm 1980, anh nhân viên kiểm lâm ở lâm trường Bắc Sa Thầy đã tận mắt “nhìn ngắm” người rừng từ vị trí rất gần. Thoạt đầu, họ tưởng đó là gấu, nhưng tiến sát lại gần thì thấy một con vật to lớn, người đầy lông lá, đứng thẳng bằng hai chân, tóc xõa ngang lưng, đang rung một thân cây để nhặt trứng chim rơi xuống. Người rừng đó rất cao khoảng 1m8 và rất khỏe, cái cây lớn có đường kính khoảng 20cm người rừng rung thấy cây rung rất mạnh.
Trở lại Bắc Sa Thầy vào năm 1983, PGS.TS Trần Hồng Việt được một số người dân sinh sống trong rừng sâu cho biết: khoảng 1 tuần trước đó, họ đưa đoàn văn công biểu diễn xong thì trời đã tối nên vào một cái hang trong rừng để trú lại qua đêm và cũng đã “giáp mặt” người rừng.
Theo lời kể, nửa đêm họ nhìn thấy một cái bóng cao lớn khoảng 1m50, đi thẳng hú lên và có nhiều tiếng hú xung quanh hang đáp lại. Sợ quá họ liền lấy súng AK để bắn dọa, người rừng sau đó bỏ đi và tiếng hú cũng xa dần. Sáng hôm sau họ nhìn thấy những dấu chân to hơn chân người xung quanh hang.
“Như vậy không chỉ có những cuộc bắt gặp những cá thể người rừng hay gia đình ba cá thể to lớn mà còn có những cuộc bắt gặp dạng người rừng thấp bé hơn và sống theo đàn”, PGS Việt nhấn mạnh...
Ngọc Linh (hay Ngọc Vin) là tên ngọn núi nằm ở phía Đông dãy núi Trường Sơn thuộc địa bàn xã Ngọc Linh, huyện Đắkglei, tỉnh Kon Tum, nơi giáp giới với tỉnh Quảng Nam.
Ngọc Linh, tên gọi bắt nguồn từ tiếng dân tộc ở địa phương. Ngọc có nghĩa là núi. Vì thế mới có những tên như Ngọc Linh, Ngọc Gơ-Le-Lang, Ngọc To-Ba, Ngọc Giơ-Lang, Ngọc B'Biêng, Ngọc Vin, Ngọc Kót, v.v.
Núi cao 2.598m được xem là ngọn núi cao nhất miền Nam nước ta. Trên núi, cây cối dày đặc, bốn mùa mây phủ. Ngọc Linh là nơi bắt nguồn của nhiều con sông lớn trong khu vực như sông Tranh, sông Cái chảy sang Quảng Nam, sông Sê San chảy sang Campuchia và sông Ba chảy sang Phú Yên. Núi Ngọc Linh vốn được xem là kho dược liệu của đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt là loài sâm quý hiếm Ngọc Linh được phát hiện nơi đây.
Rừng đặc dụng trên núi có diện tích tự nhiên 46.574 ha. Rừng có nhiều cảnh quan và động thực vật phong phú đa dạng. Rừng đặc dụng Ngọc Linh có loài Sâm khu 5, là loài cây đặc sản và quý hiếm. Hiện khu vực này đã được bảo vệ để chăm sóc các nguồn gen động thực vật quý hiếm. (Pháp Luật VN 18/7)đầu trang(
Song song với việc khai thác các điểm du lịch, tỉnh Ninh Bình đang chú trọng đến gìn giữ, bảo tồn đa dạng sinh học để phục vụ trở lại sự phát triển của du lịch.
Nếu có dịp về với người dân làm du lịch tại Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (huyện Gia Viễn, Ninh Bình), du khách sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị. Ở đó người dân không đặt mục tiêu làm kinh tế lên hàng đầu mà thay vào đó họ mong muốn duy trì và phát huy được sự đa dạng của thiên nhiên nơi đây.
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được thành lập từ năm 2010, trải rộng trên địa bàn 7 xã với diện tích 2.736 ha nằm ở phía Bắc của huyện Gia Viễn; trong đó 3/4 là diện tích núi đá, diện tích còn lại là khu vực đất ngập nước.
Nơi đây có sự đa dạng sinh học cao, gồm các loại cây sống trên núi đá vôi với 687 loài; trong đó có 266 loài cây dùng làm thuốc; gần 1.000 ha đầm nước đang ở trạng thái tự nhiên hoang dã với 35 loài thực vật thủy sinh, các loài vi tảo.
Tại Vân Long, các loại động vật sống trên cạn phong phú với trên 100 loài chim, 39 loài thú... Đặc biệt, tại đây có nhiều loại động thực vật quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam; trong đó có loại voọc mông trắng, một loài động vật đặc hữu của Việt Nam.
Hiện Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long được Ban Quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình quản lý, bảo vệ.
Khu vực thôn Đá Hàn, xã Gia Hòa, thuộc khu vực vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long. Cộng tác viên kiểm lâm Trần Xuân Văn, Trạm bảo vệ rừng Bắc Đá Hàn phấn khởi cho biết, anh làm cộng tác viên bảo vệ rừng ở đây đã được hơn mười năm.
Theo anh Văn, trước đây, tình trạng người dân vào rừng săn bắn, đốt than và chặt cây diễn ra thường xuyên, đến nay không còn tình trạng này nữa.
Thời gian gần đây, khách du lịch về rất đông nên người dân càng có ý thức bảo vệ rừng, bởi bảo vệ rừng chính là bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cảnh quan đẹp, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách du lịch.
Bà Vũ Thị Tuyên, thôn Tập Ninh, xã Vân Long, một lái đò lâu năm tại Khu du lịch sinh thái Vân Long cho biết, ngoài việc đồng áng, những lúc nông nhàn, bà tham gia vào đội lái đò của khu du lịch và gắn bó với công việc này được hơn chục năm nay.
Theo bà Tuyên, công việc lái đò không chỉ mang thêm thu nhập cho gia đình mà còn là công việc thú vị đối với bà, bởi nó gắn với thiên nhiên, có điều kiện bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ cảnh quan của địa phương. Đơn cử như việc trên mỗi đò đều có thùng đựng rác, tránh tình trạng khách du lịch xả rác ra đầm.
Lần đầu tiên đến Vân Long, du khách Nguyễn Thị Lệ, quận Đống Đa, Hà Nội cho biết, bà có nhiều ấn tượng đẹp về cảnh quan thiên nhiên, hệ động thực vật đa dạng nơi này. Bên cạnh đó, bà Lệ cảm nhận được sự thân thiện, nhiệt tình của những người làm du lịch.
Đặc biệt là những người lái đò rất tâm huyết với nghề, ngoài việc chèo đò, họ còn là những hướng dẫn viên du lịch thông thạo địa bàn, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức bảo vệ thiên nhiên rất tốt.
Trạm trưởng Trạm Du lịch Vân Long Trần Xuân Quang cho biết: “Ngay từ khi thành lập Khu du lịch Vân Long, các cấp chính quyền đã xác định đây là khu du lịch bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, cảnh quan.
Do vậy, Trạm Du lịch Vân Long đã tuyên truyền, giáo dục cho bà con không được chặt cây, phá vỡ cảnh quan môi trường, không được khai thác đá cảnh ở trong khu bảo tồn. Với 500 lái đò đăng ký hoạt động, Trạm yêu cầu đò hoạt động phải là đò nan tre chèo tay, không được sử dụng đò máy.
Những năm gần đây, Vân Long đón bình quân 40.000 khách/năm đến thăm quan, nghỉ dưỡng, con số này tăng trưởng từng năm.
Về vấn đề bảo vệ Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long gắn với khai thác du lịch, ông Mai Văn Quyền, Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Hoa Lư - Vân Long cho biết, ngay từ khi thành lập khu bảo tồn Ban Quản lý rừng đã chú trọng đến việc thu hút cộng đồng tham gia bảo vệ rừng, bảo tồn sự đa dạng sinh học.
Vì thế, tại đây không di dời người dân ra khỏi khu bảo tồn để người dân bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên. Hiện 7 xã tại khu bảo tồn có khoảng 50.000 dân, việc bảo tồn chỉ bền vững nếu như có cộng đồng cùng tham gia.
Để tiếp tục làm tốt công tác bảo tồn, bảo vệ và khai thác Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, ông Quyền cho rằng cần phải có kế hoạch khai thác hợp lý, đẩy mạnh tuyên truyền ở cộng đồng thông qua công việc thực tế hàng ngày của những người trực tiếp làm du lịch.
Đồng thời, tuyên truyền tại các trường học, tổ chức các tiết học ngoại khóa cho học sinh trên địa bàn để thăm quan, tham gia bảo tồn, nâng cao nhận thức, định hướng lâu dài cho các thế hệ.
Mặt khác, trong tương lai, địa phương cần có một chiến lược phát triển du lịch phù hợp, có sự quản lý theo hệ thống để khai thác tốt, bền vững hơn, hài hòa giữa mục tiêu phát triển du lịch với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên. (Bnews 18/7)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định đóng cửa rừng, tuy nhiên, tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thời gian qua liên tiếp xảy ra nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng, rừng bị tàn phá nặng nề. Điều đáng nói là chính quyền và các cơ quan chức năng được giao nhiệm vụ để quản lý rừng lại không hề hay biết và viện dẫn nhiều lý do khác nhau…?
Những cánh rừng nguyên sinh trước kia có chức năng phòng hộ đầu nguồn sông Hương như rừng phòng hộ quanh hồ Tả Trạch (xã Dương Hòa, TX Hương Thủy) nay bị tàn phá nghiêm trọng.
Đi cặp khe 57, khe Vàng, khe Nóng, khe De,… và đi ngược lên các triền dốc vào các khu rừng tự nhiên, mới chứng kiến cảnh tan hoang, nhiều cây gỗ tự nhiên có bán kính gần cả mét đã bị lâm tặc đốn hạ, đưa ra khỏi rừng chỉ còn lại trơ gốc. Một số khúc gỗ vẫn còn nằm lại trong bìa rừng đang chờ ngày vận chuyển. Những tuyến đường xe ủi dọc, ngang qua các quả đồi để lâm tặc ngang nhiên vận chuyển gỗ về xuôi, nhìn mà thấy xót xa.
Ghi nhận tại hiện trường, phóng viên nhận thấy nhiều diện tích rừng tự nhiên đã bị tàn phá nghiêm trọng, thay thế vào đó là những cây keo, cây tràm đang dần đổi chỗ cho những cánh rừng nguyên sinh.
Quanh lòng hồ Tả Trạch có 2 trạm kiểm soát bảo vệ rừng của Ban Quản lý rừng Phòng hộ TX Hương Thủy và Trạm Kiểm lâm lòng hồ (thuộc Hạt kiểm lâm TX Hương Thủy) với hàng chục cán bộ, nhân viên túc trực cả ngày lẫn đêm. Tuy nhiên, rừng vẫn bị chặt phá ngang nhiên, gỗ khai thác đã được đưa về xuôi. Những tiếng máy cưa của lâm tặc vẫn reo vang gần khu vực của 3 chốt nêu trên tạo cảm giác như thể chốn ấy không có người canh gác.
Làm việc với chúng tôi, ông Hoàng Phước Toàn, Phó Giám đốc Ban quản lý rừng Phòng hộ TX Hương Thủy, sau khi xem hình ảnh mà PV ghi nhận từ hiện trường rừng bị chặt hạ, cho biết: “vẫn chưa xác định được vị trí khai thác rừng trái phép như phóng viên cung cấp, nếu đúng như vậy thì sẽ cho kiểm tra ngay”.
Còn ông Trịnh Ngọc Thuận, Hạt trưởng hạt Kiểm lâm Hương Thủy thì khẳng định như đinh đóng cột: “làm gì có chuyện rừng ở lòng hồ Tả Trạch bị tàn phá như các anh nói được. Chúng tôi đã xây dựng trạm chốt chặn 700 triệu tại khu vực lòng hồ rất khang trang, bố trí 6 cán bộ kiểm lâm túc trực cả ngày, lẫn đêm không thể gỗ lậu lọt qua đây được. Nếu có tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật.”
Khi phóng viên đưa những hình ảnh rừng tự nhiên bị tàn phá và những khúc gỗ đã được tập kết nằm công khai tại đập phụ của lòng hồ Tả Trạch cho ông Thuận xem, thì nét mặt của Hạt trưởng đã đổi sắc và ông lại nói rằng “Đây là khu vực do Ban quản lý rừng Phòng hộ TX Hương Thủy quản lý, thì Ban phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi sẽ kiểm tra, nếu đúng tiến hành lập biên bản. Các anh đưa hình ảnh thế này chúng tôi biết đâu để kiểm tra“. Nhưng khi PV hỏi: Vậy kiểm lâm được bố trí trực tại lòng hồ Tả Trạch thời gian vừa qua làm việc gì, mà không biết rừng bị tàn phá, thì ông Thuận im lặng.
Tương tự, rừng thuộc Khu bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền cũng đang bị “chảy máu”. Được xem là khu rừng đặc dụng có nhiều loại cây gỗ quý lâu năm, nhưng ngày đêm đang bị lâm tặc “xẻ thịt”, tàn phá công khai.
Khu vực đang thi công công trình thủy điện A Lin 2, phát hiện những gốc cây trơ trụi có đường kính từ 60 đến 80 cm thuộc các loài gỗ quý như: gõ, dổi, táu,… Bên cạnh đó là một số khúc gỗ dài hơn 3m chưa lấy hết còn sót lại. Các tấm bìa được bóc tách để lấy lõi, tất cả đều mới được chặt hạ ít tuần và đã được vận chuyển ra khỏi rừng.
Tiếp tục hành trình dọc theo tỉnh lộ 71, tại khu vực mỏ đá làm vật liệu xây dựng công trình thủy điện A Lin 1(thuộc khoảnh 4, tiểu khu 57, Khu bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền) lại thấy xuất hiện nhiều tấm ván nằm ngổn ngang giữa đường và hơn 10 gốc cây trơ trụi giữa rừng.
Điều đáng nói ở đây là để vận chuyển gỗ ra khỏi rừng thì chỉ có một đường duy nhất là tuyến đường 71, trong khi đó tuyến đường này có 2 trạm kiểm soát của Khu bảo tồn Thiên nhiên Phong Điền được đặt ở đầu và cuối nhưng gỗ vẫn bị đốn hạ và biến mất một cách “khó hiểu”.
Tuyến đường 74 nối liền 2 huyện Nam Đông và A Lưới rừng tự nhiên cũng bị tàn phá không kém gì. Tiếng máy cưa rừng gần các trạm chốt chặn của kiểm lâm và Ban quản lý rừng phòng hộ phía A lưới vẫn vang lên inh ỏi cả ngày lẫn đêm.
Đặc biệt, từ khi đường 74 thông tuyến, tình hình xâm phạm tài nguyên rừng rất phức tạp. Các đối tượng lợi dụng đường sá thuận tiện để vận chuyễn lâm sản trái phép. Hiện nay diện tích rừng ở A Lưới và Nam Đông là khu vực có nguy cơ cao về chặt phá rừng, trong khi đó do tác động của sinh kế, người dân địa phương trong vùng đệm vẫn có hành vi xâm phạm về tài nguyên rừng.
Thiết nghĩ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở tỉnh Thừa Thiên Huế, trước hết là Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cần đưa ra ngay những giải pháp cấp bách để bảo vệ tài nguyên rừng trên địa bàn do địa phương quản lý. (Nhà Báo & Công Luận 18/7)đầu trang(
Khoảng 529kg ngà voi được cất giấu trong ruột các khối gỗ được khoét rỗng, trộn lẫn với những khối gỗ nguyên vẹn.
Ngày 18/7, trao đổi với PV báo Người Đưa Tin, đại diện chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 cho biết, đã ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa xảy ra tại cảng Cát Lái liên quan đến công ty TNHH Dịch vụ - Vận tải – Giao nhận hàng hóa XNK Huỳnh Phát.
Theo hồ sơ vụ việc, cuối tháng 11/2016, chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 phối hợp với các lực lực chức năng thực hiện khám xét 3 container hàng nhập khẩu theo loại hình quá cảnh của công ty Huỳnh Phát, phát hiện có khoảng 529kg ngà voi châu Phi.
Số ngà voi châu Phi được cất giấu trong ruột các khối gỗ đã khoét rỗng, trộn lẫn với những khối gỗ nguyên vẹn ngụy trang trong 2 container.
Sau thời gian xác minh, điều tra, chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 vừa ban hành quyết định khởi tố vụ án.
Qua xác minh, theo đăng ký của công ty Huỳnh Phát, địa chỉ của doanh nghiệp nằm ở số 27 Lê Văn Huân, phường 13 quận Bình Thạnh TP.HCM. Tuy nhiên, cơ quan Hải quan cho biết, không có doanh nghiệp nào hoạt động tại địa chỉ đã nêu. (Người Đưa Tin 18/7)đầu trang(
Tính đến ngày 18-7, Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật (Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng) đã tổ chức tiếp nhận và nuôi cứu hộ 59 cá thể động vật hoang dã.
Trong đó, đã thả về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 16 cá thể (cầy vòi hương, khỉ đuôi lợn, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ…). Hiện tại, trung tâm đang nuôi cứu hộ 43 cá thể động vật hoang dã tại khu cứu hộ, khu phục hồi chức năng Vườn Thực vật và khu nuôi thả bán hoang dã Núi Đôi.
Ngoài ra, trung tâm đã tiếp nhận từ Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 73,6 kg phong lan, thuộc 11 loài để chăm sóc, cứu hộ và thả vào môi trường tự nhiên tại Vườn Thực vật.
Thống kê cho thấy, có khoảng 40% động vật hoang dã được tiếp nhận để cứu hộ trong hơn 6 tháng đầu năm 2017, có nguồn gốc từ việc tự nguyện giao nộp của người dân địa phương. Đây là dấu hiệu tốt, cho thấy nhận thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh học đang từng bước được nâng lên. (Báo Quảng Bình 18/7)đầu trang(
Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, 6 tháng đầu năm 2017, tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh trật tự ở vùng dân tộc thiểu số (DTTS) Tây Nguyên tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp, trong đó nổi lên tình trạng phá rừng với 327 vụ bị phát hiện.
Báo cáo nêu rõ, công tác quản lý, bảo vệ rừng vùng DTTS thời gian qua đạt hiệu quả chưa cao. Tình hình vi phạm pháp luật về rừng như chặt phá rừng làm nương rẫy vẫn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, là các tỉnh Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông.
Theo tổng hợp của Ủy ban Dân tộc, đã có có 327 vụ chặt phá rừng với 178,16ha rừng bị tàn phá. Bên cạnh đó, vấn đề về đất đai tiếp tục bộc lộ nhiều khó khăn, nhất là bố trí đất sản xuất cho đồng bào DTTS thiếu đất và bố trí đất cho các dự án ổn định dân cư. Chính sách định canh, định cư cho đồng bào DTTS tại chỗ không đủ kinh phí để thực hiện, nhiều dự án không hoàn thành. Các dự án sắp xếp, quy hoạch tái định cư vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc trong đồng bào.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk có nhiều hộ đồng bào người Mông bán hết tài sản, ruộng đất, đi khỏi địa phương không rõ nguyên nhân; địa bàn huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng hiện còn 502 hộ với 2.584 khẩu là người di cư tự do (chủ yếu là dân tộc Mông và Dao) vẫn chưa được bố trí nơi ở ổn định. Tình hình người DTTS vượt biên có giảm song vẫn tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp. (Biên Phòng 18/7)đầu trang(
Hơn 240 cây gỗ dầu và sao thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc (Đồng Nai), bị kẻ gian khoan lỗ, bơm thuốc độc vào khiến cây héo úa, rụng lá và một số bị chết khô.
Ngày 18.7, Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc (Ban QLRPH, Đồng Nai), phối hợp với Công an và Viện kiểm sát H.Xuân Lộc vào khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ để điều tra vụ đầu độc hàng trăm cây gỗ lớn thuộc lâm phần đơn vị này quản lý.
Theo thông tin ban đầu, qua công tác tuần tra, cán bộ Ban QLRPH Xuân Lộc phát hiện 242 cây gỗ dầu và sao khoảng 12 năm tuổi, cao trên 10 m, đường kính khoảng 16 cm (thuộc phân trường Trản Táo, xã Xuân Hưng, H.Xuân Lộc), bị úa vàng, rụng lá và một số bị chết khô.
Qua kiểm tra, Ban QLRPH phát hiện những cây gỗ này bị khoan từ 2 đến 3 lỗ vào sát gốc cây. Các lỗ khoan sau đó được bơm hóa chất vào rồi dùng bông gòn nhét lại để ngăn chất độc chảy ra ngoài. Chất độc bơm vào thân cây nghi là thuốc diệt cỏ (2,4D).
Số cây bị đầu độc nằm trên diện tích khoảng 5 ha (trong tổng 7 ha) được giao khoán cho ông Nguyễn Mốc (ngụ xã Xuân Trường, H.Xuân Lộc) chăm sóc, quản lý.
Ngay khi sự việc xảy ra, Ban QLRPH Xuân Lộc đã nhiều lần mời ông Mốc lên làm việc nhưng ông này không hợp tác.
"Theo nhận định ban đầu, có thể người dân khoan lỗ, đổ thuốc sâu vào để kìm hãm cây gỗ dầu, sao để cho cây kinh tế của họ phát triển. Đây là lần đầu tiên sự việc phá hoại như vậy xảy ra tại Ban QLRPH Xuân Lộc", anh Đặng Văn Hiện, trưởng Phân trường Trản Táo nói. (Thanh Niên 18/7)đầu trang(
Theo tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ đầu năm đến nay, các hạt kiểm lâm cùng Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng đã lập biên bản xử lý 145/170 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó đã xử lý hành chính 139 vụ, tịch thu trên 71 m3 gỗ các loại và nhiều tang vật khác, thả về rừng 10 cá thể cầy vòi hương và xử lý hình sự 6 vụ.
Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô, ngành kiểm lâm sẽ tiếp tục điều tra và xử lý dứt điểm các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Bình Định 17/7)đầu trang(
Từ năm 2010 đến nay, Dự án Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đã hỗ trợ cho bà con 5 xã ở huyện Minh Hóa trồng, khoanh nuôi, bảo vệ trên 3.053 ha rừng cây bản địa. Qua 7 năm, những rừng cây bản địa đã phát triển thành những cánh rừng lim, trám xanh tốt. Những cánh rừng khoanh nuôi bảo vệ cũng đang lớn lên, cho những cây gỗ quý có giá trị kinh tế và đa dang về mặt sinh học.
Dự án Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được triển khai trên địa bàn 13 xã với 146 thôn, bản vùng đệm thuộc 3 huyện Bố Trạch, Minh Hóa và Quảng Ninh. Tổng diện tích rừng và đất rừng vùng đệm thuộc Dự án là 225.000 ha, được Chính phủ Việt Nam và Liên bang Đức ký kết với nguồn vốn đầu tư 15,77 triệu Euro.
Dự án được tiến hành trong thời gian từ năm 2008 đến 2015 nhằm hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị to lớn của Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; tăng cường quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao thu nhập và giải quyết việc làm cho người dân, hỗ trợ phát triển kinh tế trên nguyên tắc sử dụng tài nguyên bền vững, tạo điều kiện đầu tư phát triển du lịch sinh thái…
Tại huyện Minh Hóa, Dự án đã hỗ trợ cho bà con trồng cây lim xanh và trám; khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên với diện tích trên 3.053 ha tại 26 thôn, bản thuộc các xã Thượng Hóa, Trung Hóa, Hóa Sơn, Trọng Hóa và Dân Hóa. Trong đó có 1.872 ha rừng khoanh nuôi, bảo vệ và 1.181 ha rừng trồng.
Tháng 4/2013, UBND huyện Minh Hóa đã ký quyết định giao gần 804 ha rừng tại tiểu khu 239 cho bản Phú Minh, xã Thượng Hóa.
Thực hiện công tác giao rừng cộng đồng, các đơn vị liên quan đã tiến hành lập hồ sơ giao đất, giao rừng cho dân bản. Đây là khu rừng trên đèo Đá Đẽo, có trữ lượng gỗ gần 102.000 m3. Trong đó có gần 30.000 ha rừng giàu, gần 74.000m3 gỗ; rừng trung bình trên 420 ha, có 73.000 m3 gỗ và đất chưa có rừng gần 100 ha. Mỗi ha rừng sẽ được hỗ trợ 200 nghìn đồng/năm và Dự án sẽ kéo dài 6 năm. Rừng cộng đồng bản Phú Minh hiện đang có rất nhiều loại gỗ và lâm sản quý như: lim, táu, re thơm, dạ hương, dỗi... Từ khi trở thành chủ của khu rừng này, bà con bản Phú Minh rất phấn khởi chăm sóc nên trữ lượng gỗ đã tăng, những vùng rừng nghèo kiệt trong khu vực đã dần hồi sinh.
Anh Cao Xuân Điều, một người dân bản Phú Minh tâm sự: “Trước đây, khu rừng này có nhiều gỗ quý nên lâm tặc các nơi hay đến khai thác. Nhưng từ khi trở thành chủ khu rừng này, chúng tôi không để họ phá nữa. Bởi đây là tài sản chung của bản làng, của mỗi chúng tôi nói riêng”.
Trong thời gian bảo vệ, người dân bản Phú Minh có quyền được khai thác gỗ và các loại lâm sản khác để dùng làm nhà cửa và các vật dụng trong gia đình, thậm chí bán ra ngoài nhưng phải trích phần trăm lại cho Ban quản lý của bản.
Tuy nhiên, muốn khai thác rừng cần có quy hoạch rõ ràng, chặt cây ở vị trí nào phải được sự đồng ý của Ban quản lý và phải khai thác đúng kỹ thuật, không được ảnh hưởng đến những cây xung quanh. Trong quá trình khai thác cần có biện pháp khôi phục lại rừng bằng cách trồng lại các cây bản địa để rừng bảo đảm độ che phủ, điều hòa khí hậu và tránh những tác động của thiên tai...
5 thôn, bản ở xã Hóa Sơn đều được hưởng lợi từ Dự án trồng rừng này. Năm 2010, toàn xã có 72 hộ dân đăng ký trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng bản địa với diện tích trên 550 ha. Trong đó có 446 ha khoanh nuôi, bảo vệ và 104 ha trồng mới. Diên tích rừng trồng mới chủ yếu là cây lim xanh và cây trám.
Qua 7 năm trồng và chăm sóc, nhiều rừng cây bản địa của bà con phát triển rất tốt, có những cây có đường kính từ 15cm đến 25cm, biến những vùng đất nghèo kiệt thành những cánh rừng xanh mướt, ngút ngàn.
Chị Nguyễn Thị Long, ở thôn Đặng Hóa phấn khởi: “Diện tích rừng lim chắc tôi sẽ để lại cho con cháu sau này làm nhà làm cửa. Còn cây trám năm sau tôi sẽ khai thác mủ bán. Hiện có nhiều cây đã xòe tán, ra hoa và cho những lứa quả đầu tiên”.
Năm 2010, chị Long nhận 6 ha đất rừng gần nhà để trồng cây bản địa. Trong đó có 3 ha trồng lim và 3 ha trồng trám. Thời điểm trồng, chị đã được cán bộ Dự án lên tận rừng cầm tay, chỉ việc, hướng dẫn cách trồng và chăm sóc. Mỗi ha rừng chị được hỗ trợ hoàn toàn giống cây và 6 triệu đồng.
Ông Đinh Thanh Tiến, Phó Chủ tịch UBND xã Hóa Sơn cho biết: “Nhận trồng và giữ rừng bản địa, bà con trong xã ai cũng phấn khởi. Vì họ vừa có tiền, vừa được làm chủ những khu rừng có giá trị cao ngay trên mảnh đất quê hương.
Cũng từ hình thức này đã tạo nên “thế trận” toàn dân giữ rừng. Nhờ đó mà những khu rừng cộng đồng được bảo vệ rất tốt, cây trong rừng ngày càng phát triển, tạo những rừng gỗ bản địa lớn, phục vụ cho bà con những năm tới”.
Năm 1994, dự án định canh định cư đã hỗ trợ cho bản Ông Tú, xã Trọng Hóa mỗi năm 20 triệu đồng cho việc bảo vệ 500 ha rừng cây bản địa trong bản. Để bảo vệ khu rừng quý này, trong các cuộc họp, dân bản Ông Tú cũng được cán bộ tuyên truyền Luật Bảo vệ rừng, hướng dẫn cách chăm sóc, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng.
Ngoài ra, bản còn dựa vào Luật Bảo vệ rừng để xây dựng các hương ước như: khi vào rừng đốt ong xong phải dập tắt lửa. Việc làm rẫy cũng phải theo quy hoạch. Nếu trong bản ai vi phạm nhẹ là bị khiển trách, vi phạm nặng sẽ bị phạt bằng nhiều hình thức.
Trưởng bản Hồ Chui nhớ lại: “Cách đây 10 năm, có nhóm người từ nơi khác đưa máy cưa lên chuẩn bị hạ một cây cổ thụ sau bản. Thấy người lạ vào phá rừng, tôi gọi cả bản kéo lên ngăn chặn rồi đuổi đi. Bọn chúng còn hù dọa, đòi đánh đập dân bản nếu chống đối. Vậy là tôi phải báo với Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng cùng phối hợp với chính quyền địa phương mới đuổi được bọn chúng đi. Từ đó đến nay, không ai dám vào đây khai thác gỗ nữa”.
Năm 2010, Dự án Bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng tiếp tục hỗ trợ cho bà con trong bản Ông Tú hàng chục nghìn cây lim, trám trồng xen vào cánh rừng của mình và những nơi đất trồng lúa bạc màu. Nhờ đó, cả một khu rừng nguyên sinh rộng 500 ha không những được bảo vệ nghiêm ngặt mà còn phát triển hơn trước rất nhiều.
Những cây lim, trám trồng năm 2010 đã phát triển xanh tốt, cho đường kính trung bình khoảng 15cm đến 20cm. Còn nhiều cây táu, gõ, xà bung, dẻ, lim được bảo vệ trước đó có đường kính trên 1m đến 2m.
Già làng Hồ Nhâm tâm sự: “Tuy rừng gần như thế nhưng dân miềng không ai dám tự tiện khai thác đâu. Nếu nhà ai có việc cần dùng tới gỗ thì phải “đăng ký”. Sau đó, bản tổ chức họp dân, thống nhất chọn cho chặt cây nào mới được chặt. Còn những cây bản không cho mà tự tiện chặt thì sẽ bị phạt theo quy ước. Kể cả việc lấy củi trong rừng cũng thế, người dân không được chặt những cây còn sống mà phải lấy củi khô hoặc tận thu cành, ngọn những cây đã khai thác”.
Việc giữ rừng cây bản địa trên địa bàn huyện Minh Hóa không chỉ có cộng đồng mà cá nhân cũng đứng ra nhận giữ và bảo vệ. Điển hình phải kể đến ông Trương Quốc Đô, ở thôn 5 Yên Thọ, xã Tân Hóa.
Năm 1993, khi Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân bảo vệ, ông nhận thấy tầm quan trọng của rừng rồi tự nguyện nhận 17 ha rừng lim sau nhà mình để giữ. Hàng ngày, ông tranh thủ lên rừng để kiểm tra, chăm sóc. Ông cẩn thận chặt tỉa từng cây bụi trong rừng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lim vươn lên. Gần 25 năm qua, bước chân ông như cánh chim không mỏi đi khắp 17 ha rừng để tuần tra, kiểm soát. Nếu ai xâm nhập vào rừng trái phép sẽ bị ông nhắc nhở và đuổi ra.
Nhờ chăm sóc, bảo vệ chu đáo mà rừng của ông Đô ngày càng phát triển tốt. Trong rừng có hàng trăm cây lim có đường kính từ 0,5 đến 1m, hàng ngàn cây nhỏ khác cũng đang vươn mình lớn dậy.
Ngoài lim ra, trong rừng ông Đô còn có rất nhiều loại cây gỗ quý khác như cây đỏ lòng, ngát, trám có kích thước lớn nhỏ khác nhau. Ông Đô nói: “Tôi giữ rừng là giữ cho Nhà nước, cho hậu thế. Nếu sau này Nhà nước cần thì tôi cho khai thác, con cháu làm nhà, làm cửa thì mình xin phép khai thác cũng dễ dàng hơn”.
Với thành tích bảo vệ rừng hàng chục năm qua, ông Trương Quốc Đô vinh dự được UBND tỉnh, huyện tặng bằng khen, giấy khen về thành tích trong công tác bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng.
Ông Đinh Hồng Sơn, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Minh Hóa nhận định: “Việc giao rừng cho cộng đồng, cá nhân bảo vệ là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho bà con. Qua đó, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng trên địa bàn huyện nói riêng và cả tỉnh nói chung.
Từ hiệu quả các mô hình trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng bản địa, chúng tôi đang tiếp tục nghiên cứu, tham mưu cho huyện để nhân rộng mô hình, khôi phục lại diện tích rừng nghèo kiệt bằng những rừng cây bản địa; đồng thời, hỗ trợ kinh phí, tuyên truyền để người dân tiếp tục nâng cao nhận thức trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng”. (Đài Phát Thanh- Truyền Hình Quảng Bình 18/7)đầu trang(
Những năm qua, cùng với thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm công tác quân sự, an ninh địa phương, lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) trên địa bàn tỉnh luôn thể hiện vai trò nòng cốt, tích cực tham gia công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Thực hiện Nghị định số 133/2015/NĐ-CP ngày 28-12-2015 của Chính phủ quy định việc phối hợp của DQTV với các lực lượng trong hoạt động bảo vệ biên giới, biển, đảo; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở; bảo vệ và phòng, chống cháy rừng; Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch hoạt động bảo vệ, PCCCR giữa lực lượng quân sự và kiểm lâm.
Đến nay, hạt kiểm lâm và ban chỉ huy quân sự tại 27/27 huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng quy chế, kế hoạch phối hợp. Các trung đội DQTV trở thành lực lượng nòng cốt, xung kích trong việc phối hợp ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng và PCCCR.
Qua hơn 1 năm thực hiện kế hoạch phối hợp, lực lượng kiểm lâm và quân sự đã tổ chức được 756 cuộc tuyên truyền, vận động cán bộ, chiến sĩ và nhân dân chấp hành các quy định bảo vệ rừng, PCCCR, với hơn 32.500 lượt người tham gia; 96 lớp tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ bảo vệ, PCCCR cho lực lượng DQTV, kiểm lâm địa bàn và tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở địa phương với hơn 4.000 lượt người tham gia. Đồng thời, triển khai thực hiện 10 cuộc diễn tập chữa cháy rừng (4 cuộc cấp huyện, 6 cuộc cấp xã) với 1.180 người tham gia; làm mới 142 km và tu sửa, bảo dưỡng, phát dọn lại 139 km đường băng cản lửa, làm giảm vật liệu cháy được 85,5 ha dưới tán rừng thông; thành lập 150 tổ tuần tra canh gác lửa rừng ở các vùng trọng điểm cháy.
Tuy nhiên, việc trang bị dụng cụ, thiết bị chữa cháy rừng cho lực lượng DQTV còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Việc tập huấn về PCCCR mới chỉ thực hiện được ở các địa phương trọng điểm cháy rừng, do đó lực lượng DQTV ở những xã không trọng điểm, không có rừng khi được huy động hỗ trợ tham gia chữa cháy rừng còn nhiều lúng túng.
Kinh phí chi trả cho lực lượng DQTV khi được điều động tuần tra, kiểm soát, trực gác lửa rừng, kiểm soát người và phương tiện ra vào rừng trong những ngày nắng nóng nguy cơ cháy rừng cao không có, gây khó khăn khi điều động ở cơ sở.
Để phát huy vai trò, nòng cốt của lực lượng DQTV trong công tác bảo vệ, PCCCR, thời gian tới Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi đến cán bộ, chiến sĩ, các tầng lớp nhân dân thực hiện công tác bảo vệ, PCCCR.
Tập huấn, huấn luyện cho lực lượng DQTV ở cấp xã, phường về nghiệp vụ bảo vệ, kỹ thuật PCCCR gắn với công tác huấn luyện nhiệm vụ. Đối với các địa bàn trọng điểm, các khu rừng còn giàu tài nguyên, khu vực giáp ranh thường bị xâm hại tài nguyên rừng, lực lượng kiểm lâm và DQTV cùng các lực lượng chức năng địa phương thường xuyên phối hợp tuần tra, kiểm tra rừng để phòng chống, ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm.
Đồng thời, tổ chức làm giảm vật liệu cháy, xây dựng, tu sửa đường băng cản lửa ở các khu rừng có nguy cơ cháy cao, các đơn vị tổ chức lực lượng tuần tra, kiểm soát, trực gác lửa rừng, bố trí lực lượng, dụng cụ, phương tiện sẵn có để sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng.
Ban chỉ huy quân sự các xã, phường, thị trấn thường xuyên theo dõi nắm chắc biến động quân số của trung đội DQTV ở địa phương và duy trì tốt chế độ trao đổi thông tin với kiểm lâm viên địa bàn về tình hình an ninh rừng trên địa bàn. (Báo Thanh Hóa 18/7)đầu trang(
Trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng tại địa bàn tỉnh ta đã và đang được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo sâu sát; nhiều giải pháp phù hợp với thực tiễn ở cơ sở được triển khai hiệu quả, tác động tích cực đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng của tỉnh, các mục tiêu về quản lý rừng bền vững thu được kết quả đáng khích lệ.
Tuy nhiên, vẫn còn một số cơ sở để xảy ra tình trạng xâm lấn đất rừng, khai thác và vận chuyển lâm sản, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác quản lý và bảo vệ rừng...
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm, trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã phát hiện và lập hồ sơ 344 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Trong đó, đã xử lý 329 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 2 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tăng 38 vụ, chủ yếu do hành vi phá rừng làm nương, thiệt hại 20 ha.
Ông Lương Ngọc Hoan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Tài nguyên rừng đang đứng trước nhiều thách thức trong tình hình hiện nay, kể cả tác động từ những yếu tố, điều kiện khách quan như biến đổi khí hậu, sức ép từ phát triển KT-XH, cũng như các yếu tố chủ quan từ tác động của con người.
Trong đó, phải kể đến là trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp, các lực lượng làm công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Những năm qua, lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã phối hợp cùng các ngành chức năng và quần chúng nhân dân kiểm tra phát hiện, tố giác nhiều vụ việc vi phạm trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Mỗi vụ việc, ở mỗi cơ sở đều có tính chất khác nhau, nhưng qua theo dõi cho thấy, các vụ việc phần lớn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc thực hiện các quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp hoặc xảy ra ở các vùng rừng giáp ranh, nơi còn nhiều rừng tự nhiên.
Vấn đề rút ra sau các vụ việc cho thấy, cần phải tăng cường hơn nữa việc triển khai thực hiện các quy định, các chính sách, pháp luật bảo vệ và phát triển rừng hiện hành. Đặc biệt là tăng cường sự vào cuộc của các cấp ủy, chính quyền từ huyện đến thôn bản, sự phối hợp chặt chẽ của các địa phương, các đơn vị trong công tác quản lý bảo vệ rừng, vì vẫn còn không ít cơ sở coi công tác quản lý, bảo vệ rừng là trách nhiệm của riêng lực lượng kiểm lâm, chưa thực sự quan tâm tới lĩnh vực này...
Nhiều năm qua, lực lượng Kiểm lâm đã tích cực tham mưu với tỉnh trong việc ban hành các cơ chế, chính sách đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng. Trong đó, đã có rất nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn được đề ra trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thể hiện qua các chủ trương, chính sách, các văn bản chỉ đạo của tỉnh.
Do vậy, vấn đề quan tâm hiện nay là cần triển khai một cách nghiêm túc, quyết liệt, có hiệu quả các quy định, chính sách đã ban hành; thu hút sự vào cuộc của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị.
Xác định rõ trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, của chủ rừng và sự phối hợp của các ngành chức năng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Riêng đối với lực lượng kiểm lâm, nhất là kiểm lâm địa bàn cần triển khai thực hiện tốt chức năng tham mưu với cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc bảo vệ rừng và giúp UBND các cấp thực hiện tốt việc quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, bảo đảm chấp hành pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó, cần phải tiếp tục tham mưu với tỉnh, ngành nông nghiệp chỉ đạo, đôn đốc các cơ sở triển khai việc giao rừng, cho thuê rừng, cùng với việc rà soát, sắp xếp diện tích rừng do các ban quản lý rừng, các công ty lâm nghiệp sau khi thực hiện việc giải thể theo quy định.
Đồng thời, cấp ủy, chính quyền cơ sở cần phải có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát hoạt động của kiểm lâm địa bàn, chỉ đạo việc phối hợp giữa kiểm lâm địa bàn với công an xã, dân quân tự vệ và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn trong bảo vệ rừng.
Trong thời gian tới, cùng với việc tích cực tham mưu với ngành và tỉnh ban hành các giải pháp hữu hiệu trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, Chi cục Kiểm lâm tiếp tục chỉ đạo lực lượng kiểm lâm phối hợp các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra truy quét các “đầu nậu”, xử lý nghiêm các cá nhân, tổ chức, chủ rừng có hành vi vi phạm pháp luật; quản lý chặt chẽ những cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các xưởng chế biến gỗ sử dụng gỗ bất hợp pháp.
Đồng thời, tiến hành kiểm tra, rà soát toàn bộ diện tích đất rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm sử dụng sai mục đích tại các cơ sở, kiên quyết xử lý vi phạm, tham mưu cho cấp thẩm quyền thu hồi theo quy định của pháp luật, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm. (Báo Sơn La 19/7)đầu trang(
Trong khi một số ít đơn vị chủ rừng còn chưa nhiệt tâm với nhiệm vụ giữ rừng hoặc đau đầu tìm biện pháp bảo vệ rừng trước sự tàn phá của lâm tặc thì những người tâm huyết ở Vườn quốc gia Chư Mom Ray, huyện Sa Thầy tỉnh Kon Tum đã làm tốt chức trách của mình đối với vườn quốc gia này. Họ không quản ngại, vất vả ngày đêm trong rừng để gìn giữ nguồn gien, cứu hộ bảo vệ những thảm thực vật giúp các loài động vật được sống và phát triển tự nhiên.
Hơn 20 năm công tác tại đây, từ anh cán bộ “quèn” rồi trở thành quản lý nhưng ông Đào Xuân Thủy - Phó giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia - vẫn chưa đi hết được rừng Chư Mom Ray. “Nó còn nhiều bí ẩn lắm, chưa khám phá hết được”, ông Thủy nói. Đó là điểm giữa của 3 ngọn núi nhìn vào nhau: phía sau đỉnh Chư Mom Ray, phía Nam ngọn Ngọc Tơ Num và phía bắc đỉnh núi Nhọn, chưa có ai đặt chân đến vì hiểm trở, khó đi. Trên đỉnh núi Nhọn còn có một hang cọp. Đồng bào ở đây muốn đến đó phải đi qua “vườn thuốc của Yàng (trời)” còn đầy bí ẩn.
Ông Thủy dẫn chứng: Năm 2004, khi Vườn quốc gia Chư Mom Ray được công nhận là di sản Đông Nam Á, thì công bố nơi này có trên 56.000 ha, trong đó có 1.534 loài thực vật và 718 loài động vật, trong đó có 115 loài động vật có vú, 275 loài chim, 41 loài bò sát, lưỡng cư, 108 loài cá nước ngọt, 179 loài côn trùng...
Thế nhưng càng về sau thì các nhà khoa học chứng minh có nhiều loài khác nữa, thuộc dòng quí hiếm ở khu vườn Chư Mom Ray này. Chẳng hạn như loài khỉ vượn, vườn quốc gia có 6 loài quí hiêm nằm trong sách đỏ.
Đến năm 2010, lại phát hiện thêm loài vượn đen má hung (tên khoa học Nomacus q Anamensis). Loài này do nhà khoa ( học người Đức lấy mẫu của ông Đô Tước (Viện điều tra quy hoạch rừng Việt Nam nghiên cứu tại vườn) về Đức xét nghiệm ADN, giọng hót và tiếng hót hoàn toàn khác với các loài vượn của Việt Nam và thế giới từng biết đến trước đó. Nó có đám lông màu vàng che gần hết hai bên má, khác hoàn toàn với loài vượn má vàng có đám lông vàng nằm gọn như trái xoài ở bên má.
Cũng trong năm 2010, các nhà khoa học còn công bố 3 loài động vật mới tìm thấy ở rừng Chư Mom Ray, đó là loài thăn lằn giả 4 vạch mới (Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus), rắn sài mép trắng (Amphiesma leucomystax) và loài rắn trán cúc (Opisthotropis cucae).
Ông Thủy tin rằng, nếu các nhà khoa học có thời gian tìm hiểu rừng này, chắc chắn sẽ tìm ra nhiều bí ẩn mới và rất có thể sẽ tìm được nhiều loài mới.
Hai năm qua, những cán bộ ờ đây đã theo dấu hàng chục đàn vượn quí hiếm đang sống trong rừng sâu Chư Mom Ray.
Nói thì nghe đơn giản, nhưng để tìm được nơi vượn ở, phải mất bao nhiêu mồ hôi và công sức băng rừng lội suối. Trước tiên là khảo sát tiếng nghe, điểm nghe vượn hót. Sau tổ chức nhóm 4-5 người mang vật dụng cá nhân và lương thực vào ăn, ngủ trong rừng để tìm vượn.
Theo anh Thái, anh Tín: Những nơi nào ẩm ướt, khe suối ít hơi người là nơi vượn ở. Mỗi sáng mùa hè, cứ 5 giờ là tiếng vượn, khỉ hót lên những tiếng hót dài. Sau tiếng hót đầu tiên của con đầu đàn là hàng loạt tiếng hót khác kéo dài theo giữa mênh mông rừng thẳm. Khi đổi mùa mưa, chúng dậy muộn nên cũng hót muộn hơn mùa hè...
“Khoảng cách nghe tiếng vượn hót xa nhất là l,5km, còn nghe rõ nhất là 400 đến 500m. Có điều giữa rừng bao la, không bao giờ biết chúng ở góc nào, nên phải dùng định vị, dùng GPS để xác định phương vị, khoảng cách. Nhóm bọn em sau đó chia nhau ra 2 tổ cách nhau chừng lkm để nghe” - Thái nói.
Để xác dịnh được đàn có bao nhiêu con vượn, phải nghe chúng hót đơn, hót đôi và lấy tiếng hót ban đầu cất lên cho đến khi tiếng hót kết thúc. Thông thường con đực đầu đàn hót cảnh giới trước với giọng trầm vang vọng. Tiếp theo, con cái hót giọng rít lên có vẻ đanh đá rất... khó tinh, cuối cùng mới đến lượt vượn trưởng (3-4 năm tuổi) hót. Cứ thế, Tín, Thái đếm từng tiếng hót của vượn để phân loại đàn vượn có mấy con, con nào là đầu đàn, con nào là con cái. Cụ thể, vì chưa khảo sát hết được các điểm nghe của vương quốc khỉ vượn này”, Tín nói.
Ngoài việc gìn giữ rừng thì đội ngũ cán bộ nhân viên ở vườn quốc gia Chư Mom Ray cũng đang nỗ lực để bảo vệ các loài thú rừng. Việc bảo vệ cũng gặp nhiều gian nan, vất vả nhưng vì trách nhiệm, vì sự sống của loài thú rừng, họ vẫn đang ngày đêm làm mọi điều để giành lại sự sống cho chúng.
Theo ông Đào Xuân Thủy, hàng năm cán bộ của vườn đã tìm và gỡ được hàng nghìn chiếc bẫy thú của người dân đặt trong vườn quốc gia.
Ở góc đầu hồi nhà ở Hạt kiểm lâm của vườn quốc gia Chư Mom Ray là hàng nghìn chiếc bẫy các loại nằm hỗn độn mà lực lượng kiểm lâm gỡ được. Vậy mới biết, nếu không có các anh, không biết bao nhiêu con thú rừng sẽ bị bắt và theo đó mà cạn kiệt.
Cũng theo ông Thủy, để tìm được những chiếc bẫy cũng không hề đơn giản, cán bộ của vườn phải vất vả ngày đêm bám rừng và đặc biệt phải có kinh nghiệm, chịu khó mới có thể phát hiện được. Ông Thủy đã đưa chúng tôi đến gặp những người trực tiếp vừa làm công tác giữ rừng, vừa trực tiếp đi gỡ bẫy để nghe họ kể về việc vất vả này.
Đến trạm Za Bốc, tại cửa rừng, chúng tôi gặp anh Từ Tấn Khanh - Trạm trưởng Trạm Za Bốc - anh cho biết: Trạm có 4 anh em quản lý hơn 5.000ha, bình quân mỗi người hơn 1.000 ha. Ngoài nhiệm vụ bảo vệ rừng, hàng năm anh em thường xuyên đi vào rừng để tìm, gỡ bẫy bảo vệ các loại thú trước nạn săn bắt bừa bãi của người dân.
Cũng theo anh Khanh, thời điểm người dân hay đi đặt bẫy nhất là vào mùa mưa với đủ các loại bẫy to, nhỏ khác nhau. Rất khó để phát hiện bẫy vì chúng được ngụy trang rất kỹ. Nếu không có kinh nghiệm và tinh mắt thì rất khó phát hiện.
“Tùy theo đặc điểm từng loại thú mà người dân dùng bẫy. Loại bẫy người dân dùng cho loại thú leo cây hay thú nhỏ thường để chừa lỗ nhỏ thì còn dễ phát hiện. Khó phát hiện nhất là loại bẫy thú lớn. Loại bẫy này thường được đặt trong dưới đất, được phủ kín lá, cây rừng, người dân lại xóa dấu vết, vì vậy, nêu không tinh mắt và có kinh nghiệm thì rất khó phát hiện” - anh Khanh chia sẻ.
Việc gỡ bẫy khó khăn và vất vả là thế nhưng với trách nhiệm, hàng năm hàng nghìn chiếc bẫy thú rừng đã được cán bộ vườn quốc gia Chư Mom Ray gỡ bỏ. Đơn cử, như năm 2016, lực lượng cán bộ của vườn đã gỡ được hơn 1.000 chiếc bẫy và từ đầu năm đến nay cũng gỡ được hơn 150 chiếc bẫy. Đặc biệt, nhiều thú rừng đã được cán bộ của vườn phát hiện và cứu kịp thời.
Hễ cứ nghe tin báo có động vật bị phát hiện khi trên đường vận chuyển hay bị dính bẫy là đội ngũ cán bộ của Trung tâm cứu hộ và bảo tồn, phát triển sinh vật (Vườn quốc gia Chư Mom Ray) tức tốc tìm đến. Bởi theo anh Trần Quốc Tuấn - Phó giám đốc Trung tâm cứu hộ và bảo tồn, phát triển sinh vật
Hễ cứ nghe tin báo có động vật bị phát hiện khi trên đường vận chuyển hay bị dính bẫy là đội ngũ cán bộ của Trung tâm cứu hộ và bảo tồn, phát triển sinh vật (Vườn quốc gia Chư Mom Ray) tức tốc tìm đến. Bởi theo anh Trần Quốc Tuấn - Phó giám đốc Trung tâm cứu hộ và bảo tồn, phát triển sinh vật “Mình đến sớm có thể cứu được thú bị thương vì chỉ cần chậm ít phút thôi là cơ hội sống của những con thú sẽ ít đi”
Đúng như vậy, mới 32 tuổi Tuấn đã có 8 năm sống dưới tán rừng và làm công việc mà anh yêu thích. Trò chuyện với chúng tôi anh say sưa kể về những loài thú rừng mà anh và đồng đội cứu thương. Các loài thú đang điều dưỡng ở đây nào là khỉ má hung, voọc chân xám... hầu hết là bị bẫy, bắt và vận chuyển trái phép, được ngành chức năng phát hiện rồi đưa về đây điều trị.
Với Tuấn, anh dành tình thương nhiều nhất cho 1 con khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ đang được chăm sóc ở đây. Thấy người vào, một chú khỉ con nhảy tót từ trong lồng ra, hai tay quấn quít kêu luôn mồm kêu như làm nũng với Tuấn. Đã hơn một năm được Tuấn và đồng nghiệp chăm sóc, chú khỉ con này đã lớn, cửa lồng đã mở nhưng nó không vào rừng mà ở lại đây sống với các “cô, chú”.
“Lúc người dân đưa nó vào đây, nói mẹ nó bị bẫy chết trên rừng. Khi tiếp nhận, nó yếu ớt lắm, phải bồi dưỡng như em bé sơ sinh, cho bú sữa, bồng bế, vuốt ve... may mà nó sống khỏe mạnh đến giờ”. Còn một chú khỉ đã trưởng thành sát lồng chú khỉ con thì bị sợi dây thép của cái bẫy thít chặt hai bên hông, lòi cả thịt bên trong, nhưng may là chưa hoại tử. Nó thuộc nhóm quí hiếm 2B, do đã lớn nên rất khó tiếp cận điều trị. Ban đầu phải tiêm thuốc mê cho nó ngủ, rồi sát trùng, may vết thương lại. Được một thời gian, vết thương ngứa ngáy, khỉ gãi sồn sột, vết thương lại trầy trụa lại như ban đầu. Vì vậy, Tuấn bàn với anh em trong đơn vị không may vết thương cho nó mà bôi thuốc sát trùng, thuốc, cứ thế vết thương lành hẳn.
Chỉ một chú khỉ khác, Tuấn nói “ Nó yêu em Nguyễn Thị Lan ở đây nhất”.Lan là cán bộ của đơn vị. Khi cô này đi công tác xa mấy ngày, nó có biểu hiện nhớ, mong đợi. Ai cho nó ăn, nó uể oải lạ lắm”. Giờ chú khỉ này có bạn gái là chú khỉ mặt đỏ bên cạnh, thấy con trai đàn ông vào, nó tỏ ra không thích. Còn con gái, nó còn... chọc ghẹo bằng cách đưa “của” ra khoe.
Theo Tuấn thì mỗi năm đơn vị tiếp nhận rất nhiều trường hợp kiểu này. Năm 2016, Trung tâm đã tiếp nhận, cứu hộ và thả về tự nhiên 44 cá thể động vật hoang dã (khỉ, trăn, cầy hương, rùa, tê tê...). Cũng theo Tuấn, phần lớn chúng được anh em cứu sống, nhưng cũng có trường hợp đành nuốt nước mắt, bó tay. Cách đây hơn một năm, có một con khỉ trưởng thành được đưa cứu ra từ tay kẻ mua bán thú rừng và được giao về đây. Khi tiếp nhận, khỉ đã kiệt sức. Cho uống nước, đút cho ăn, nó đều từ chối, chỉ cào cấu và kêu thảm thiết cho đến khi chết. Kể về chuyện này, giọng Tuấn chùng xuống, mắt anh nhìn về phía rừng, nơi an táng chú khỉ xấu số hồi nào.
Không chỉ bảo vệ các loại thú rừng, những người cán bộ Vườn quốc Chư Mom Ray cũng đang làm việc đầy ý nghĩa là bảo vệ và gìn giữ nguồn gien thực vật ngay tại khu vườn với hơn 3.000 cây gỗ trắc trong khu bảo tồn với tổng diện tích khoảng hơn 3 ha.
Trao đổi với chúng tôi, ông Đào Xuân Thủy cho biết: Gỗ trắc là loại gỗ quý hiếm đang bị săn lùng ráo riết và đứng trước nguy cơ cạn kiệt. Nhận thấy điều này, chúng tôi quyết định trồng và di thực loại cây này ngay trong vườn. Mục đích chúng tôi làm chủ yếu nhằm gìn giữ loại gỗ này không bị tuyệt chủng và điều quan trọng là gìn giữ được nguồn gien của loại gỗ quý này. Cũng ngay trong vùng lõi của khu vườn, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật (Vườn quốc gia Chư Mom Ray) đã trồng và bảo tồn được hơn 100 loài phong lan bản địa.
Ông Trần Quốc Tuấn cung cấp thêm: Hiện nay nhu cầu chơi hoa phong tăng nên người dân địa phương thường vào rừng lấy phong lan về bán khá nhiều khiến nguy cơ cạn kiệt ngày càng cao. Từ thực tế đó, để bảo vệ nguồn gien trong vườn quốc gia và trên địa bàn huyện Sa Thầy, hàng ngày, chúng tôi cho anh em vào rừng để lấy các loài lan khác nhau về nuôi, chăm sóc tại trung tâm. Hiện tại, chúng tôi đã thu thập được hơn 100 loài phong lan đang được trồng, chăm sóc tại khu vườn thực nghiệm và đang phát triển tốt.
“Sau khi phát triển lên nhiều, chúng tôi sẽ lại đưa các loại phong lan vào sâu trong rừng để chúng phát triển tự nhiên và tạo sự đa dạng về các loại thực vật trong khu vườn được phong phú, đa dạng” - ông Tuấn cho biết thêm. (Giáo Dục và Thời Đại 17/7)đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng vừa cho hay, trong 6 tháng đầu năm 2017 các cơ quan chức năng địa phương đã phát hiện và lập biên bản 543 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với diện tích rừng bị thiệt hại là 44ha, giảm 155 vụ (22%) và 26,5ha (37,6%) so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến nay, các cơ quan chức trách đã xử lý 405 vụ, trong đó xử lý hành chính là 389 vụ, chuyển xử lý hình sự 16 vụ. Tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước là 4.869,83 triệu đồng, trong đó tiền phạt là 962,96 triệu đồng và 3.906, 87 triệu đồng là tiền bán lâm sản tịch thu.
Cũng trong 6 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 8 vụ cháy rừng với diện tích 25,44ha, giảm 26 vụ và 92,72ha so với cùng kỳ năm trước. Hiện các đơn vị lâm nghiệp đang tích cực triển khai nhiệm vụ trồng rừng năm 2017 với kế hoạch là 2.971 ha và đã thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ rừng được 396.079 ha/418.500ha rừng. (Pháp Luật VN 18/7)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 18/7, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Ngọc Sơn chủ trì buổi làm việc nghe dự thảo Đề án khai thác tiềm năng, lợi thế rừng, đất lâm nghiệp để phát triển bền vững kinh tế - xã hội bền vững đến năm 2020.
Theo dự thảo đề án, Hà Tĩnh hiện có 360.703 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên. Những năm qua, tỉnh đã tập trung chỉ đạo khai thác tiềm năng, lợi thế về rừng và đất lâm nghiệp, đạt được một số kết quả quan trọng.
Về rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng tự nhiên, từ năm 2012 đến nay, Hà Tĩnh đã khoanh nuôi xúc tiến tái sinh được 6.045 lượt ha, bảo vệ rừng 744.157 lượt ha, chuyển hóa 100 ha rừng giống; một số điểm kinh doanh dịch vụ du lịch gắn với cảnh quan, môi trường rừng trên địa bàn đã được đưa vào khai thác, thu hút đông đảo du khách tham quan.
Về đất rừng sản xuất, với hơn 72.000 ha rừng trồng nguyên liệu hiện có, mỗi năm cung cấp khoảng 400.000 m3 - 500.000 m3 gỗ nguyên liệu và các loại lâm sản khác, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu nguyên liệu các nhà máy chế biến gỗ, với giá trị xuất khẩu đạt trên 47 triệu USD/năm, giải quyết việc làm cho gần 5 ngàn lao động.
Tuy nhiên, nhìn chung, giá trị sản xuất từ rừng, đất rừng, năng suất, chất lượng rừng trồng còn thấp, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao; hệ sinh thái đa dạng nhưng chưa được quan tâm khai thác: hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất còn bất cập… Do vậy, đề án được xây dựng nhằm mục tiêu quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng có hiệu quả; khai thác tiềm năng, lợi thế rừng, đất rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất để phát triển sản xuất, kinh doanh phù hợp…
Trên cơ sở đó, Hà Tĩnh phấn đấu đến năm 2020 đưa tổng giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trên đất lâm nghiệp từ 3.044 tỷ đồng năm 2016, lên khoảng 5.274 tỷ đồng vào năm 2020, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 15%/năm; giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho khoảng 70.000 - 80.000 lao động vùng nông thôn miền núi; đảm bảo hài hòa giữa phát triển KT-XH bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chất lượng rừng để đảm bảo chức năng phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học, ổn định độ che phủ rừng 52%.
Phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh cho rằng, đây là đề án rất quan trọng gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Tuy nhiên, dự thảo đề án vẫn còn thiếu bài bản, chưa đạt yêu cầu đề ra; việc đặt vấn đề còn sơ sài, thiếu thuyết phục; đánh giá thực trạng rừng, đất lâm nghiệp rất quan trọng, do đó, cần phân tích đầy đủ cả về mặt đạt được và chưa đạt được; giải pháp thực hiện phải chia ra theo các loại rừng, đánh giá vai trò và hiệu quả từng loại rừng; cần bổ sung nhóm giải pháp về quản lý Nhà nước; xác định rõ nguồn kinh phí thực hiện, nguồn lực huy động...
Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị đơn vị tham mưu, trực tiếp là Sở NN&PTNT tiếp tục hoàn thiện đề án trên cơ sở các nội dung góp ý của đại biểu và gợi ý của Chủ tịch UBND tỉnh tại buổi làm việc. Đề án phải bám sát quan điểm phát huy tối đa lợi thế của rừng, đảm bảo môi trường và pháp luật.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng đề nghị UBND các địa phương, sở ngành liên quan báo cáo đầy đủ các nội dung yêu cầu gửi đơn vị tư vấn, phối hợp xây dựng, góp ý, hoàn thiện đề án. (Báo Hà Tĩnh 18/7)đầu trang(
Trong vài năm trở lại đây, xuất khẩu lâm sản có giá trị kim ngạch còn cao hơn xuất khẩu gạo. Tiềm năng ngành này rất lớn. Hiện nay, có khoảng 20% người dân sống dựa vào lĩnh vực lâm nghiệp.
Trên thế giới đã có hàng rào quản lý rừng bền vững và xuất xứ nguồn gốc nguyên liệu gỗ để kiểm soát nguồn gỗ xuất khẩu. Theo đó, trồng rừng theo tiêu chuẩn quốc tế này thì giá bán sẽ đạt gấp 1,5 lần khi bán gỗ thông thường.
Công ty Cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ gỗ Trường Thành có 14.000 hecta rừng trồng ở Phú Yên, Đắk Lắk và Đắk Nông. Chỉ số phát triển thường niên của rừng trồng từ 25 đến 40m3/tấn/hecta/năm.
Tập đoàn giấy Original paper của Nhật, trồng rừng với mật độ 1.600 cây/hecta, trong đó, chỉ số phát triển rừng thường niên của họ chỉ từ 15-18m3. Trong khi đó ở Việt Nam trồng khoảng 4.000 cây/hecta thì số lượng cây đã tăng 2,5 lần.
Với cách trồng này, chỉ tính đến chỉ số phát triển rừng thường niên mà không nghĩ đến giá trị của nó thì sẽ không phù hợp với trồng rừng kinh tế. Ông Nguyễn Thành Trung – Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô - nhìn nhận:“Việt Nam phải có quản lý rừng bền vững, có thị trường để tiếp nhận, sử dụng các dịch vụ của rừng tạo ra, phát triển kinh tế rừng bền vững. Là đơn vị trải qua phát triển kinh tế rừng bền vững có chứng chỉ quản lý rừng bền vững, công ty tôi đã đưa ra 3 mục tiêu rõ ràng để phát triển rừng bền vững”.
Ông Võ Trường Thành, nguyên Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Kỹ nghệ gỗ Trường Thành, phân tích, ở miền Bắc, miền Trung hiện là nơi trồng rừng chiếm số lượng nhiều.
Số lượng gỗ sau khi khai thác, vận chuyển đưa vào nhà máy tốn thêm phí vận chuyển và một số chi phí khác, giá trị còn lại của những người trồng rừng không còn nhiều. Do đó, tuy trồng gỗ lớn có giá trị cao, nhưng chỉ kêu gọi trồng rừng nhiều năm, giữ rừng nhiều tuổi để có gỗ lớn, tuổi lớn thì chỉ mới đúng về mặt nghiên cứu khoa học.
Trong khi đó, dòng nâng lưu của nhà đầu tư trồng rừng luôn khó khăn và họ cần bán ở năm thứ tư, hoặc trồng dầy để khai thác sớm. Và như vậy, không thể giữ cây này đến 6-7 tuổi được. Ngoài ra, lâm nghiệp còn có mối liên hệ chặt chẽ với nông nghiệp. Chính vì vậy, tác dụng giữ nước, chống xói mòn, hay phóng thích cacbon thì loại rừng này không đạt được như rừng trồng thực thụ.
“Giống như chúng ta kết luận là chặt nó vào đúng 4 tuổi. Như vậy thì Chính phủ muốn thay đổi cục diện này, cần có những chính sách, cần trợ giup với lãi suất vay ưu đãi cho người trồng rừng đã có rừng từ năm thứ 4 tới năm thứ 10, thì đó là khuyến khích họ giữ rừng. Bởi vì, suy cho cùng, họ đầu tư thì họ có quyền thu hoạch theo thời điểm nào mà họ tính có hiệu quả cho họ” – ông Thành cho hay.
Ông Tân Trường Khôi, Phó Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Bà Rịa - Vũng Tàu đề xuất Chính phủ cần nâng cao ý thức về phát triển bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường kinh tế lâm nghiệp cho các cấp chính quyền, đồng thời cổ phần hóa, sắp xếp các công ty lâm nghiệp, vận dụng vốn, kỹ năng về quản lý để phát triển.
“Về việc cổ phần hóa công ty lâm nghiệp, tôi cũng đề nghị hợp đồng nhận khoán theo nghị định 135 chuyển giao cho địa phương để quản lý, giao đất cho người nhận khoán có quyền tự chủ phát triển năng lực trồng rừng của mình, đầu tư, thâm canh lâu dài mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Tôi cũng đề nghị là khi giao rừng, chúng ta quy định ổn định lâu dài” – ông Khoi nói.
Doanh nghiệp cũng đề xuất Chính phủ có cơ chế hỗ trợ vốn và lãi suất ưu đãi để trồng rừng. Theo đó, ngân hàng nào cho vay trồng rừng thì sẽ được hỗ trợ tái cấp vốn với lãi suất 3%. Nhà đầu tư chỉ lấy một phần lâm sản từ việc trồng rừng, trong khi những lợi ích còn lại như: giữ nước, chống xói mòn, làm trong lành khí quyển, nơi phong tỏa khí cacbonic, hay khí thải… cộng đồng được thụ hưởng.
Hiện tốc độ tăng trưởng kinh tế của ngành lâm nghiệp liên tục tăng trong những năm qua. Theo Giáo sư Tiến sĩ Võ Đại Hải, Giám đốc Viện Lâm nghiệp Việt Nam, phát triển ngành lâm nghiệp trong bối cảnh hiện nay phải theo hướng tổng hợp, cả về kinh tế, môi trường, không được xem nhẹ giá trị nào.
“Trước đây chúng ta ưu tiên quá nhiều cho phát triển rừng kinh tế. Nhưng trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, cần ưu tiên cho vấn đề môi trường.
Ngành lâm nghiệp còn có giá trị về mặt xã hội, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. Rõ ràng, rừng trồng là rất quan trọng. Nhưng nó không đủ. Ngành lâm nghiệp còn quản lý một diện tích rừng tự nhiên rất lớn. Nhưng hiện nay rừng nghèo chiếm chủ yếu, diện tích rừng nghèo chiếm 70%. Và với giá trị gần như không có, Chính phủ bây giờ cấm khai thác rừng tự nhiên. Vậy làm thế nào để thu hút được các chủ rừng quan tâm bảo vệ các diện tích này?”.
Theo ông Võ Đại Hải, trong thời gian tới, cần quan tâm phát triển cả rừng trồng và rừng tự nhiên. Riêng đối với rừng tự nhiên, nên áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động, thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi rừng.
Hiện diện tích rừng trồng của nước ta liên tục tăng trong những năm qua, đến nay đạt được hơn 3,8 triệu hecta. Ngoài việc tăng về diện tích, thì năng suất và chất lượng rừng cũng đã cải thiện rõ rệt. Ngành lâm nghiệp cũng đang chỉ đạo áp dụng các biện pháp ứng dụng được các giống tốt nhất đưa vào sản xuất. Năng suất rừng cũng đã tăng lên trung bình từ 25-35m3/hecta/năm. Chính sự tăng lên này đã góp phần thúc đẩy đời sống của những người làm nghề rừng. (Đài Tiếng Nói Nhân Dân TP.HCM 19/7)đầu trang(
Vụ trồng rừng năm 2017, huyện Pác Nặm được giao trồng 430ha rừng, trong đó rừng sản xuất là 400ha, rừng phân tán là 30ha. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền về trồng rừng nên năm nay Pác Nặm trồng vượt 133ha so với kế hoạch.
Toàn huyện đã thiết kế ngoại nghiệp trên diện tích đăng kí được hơn 563 ha trong đó, trồng rừng sản xuất tập trung 398 ha, trồng cây phân tán hơn 165ha. Đến thời điểm này, huyện đã trồng rừng đạt trên 99% diện tích, các xã đã hoàn thành công tác trồng rừng như Bằng Thành, Xuân La, Bộc Bố...
Hiện nay còn hơn 2ha ở một số thôn vùng cao của xã An Thắng người dân chưa trồng được, Ban Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng huyện Pác Nặm đang tích cực đôn đốc người dân hoàn thành trong những ngày tới, đồng thời tiến hành cấp cây giống trồng dặm và phục vụ trồng rừng phân tán cho người dân.
Theo Ban Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng huyện Pác Nặm, tiến độ trồng rừng năm nay của huyện Pác Nặm nhanh hơn so với những năm trước. Sau khi hoàn thành việc trồng rừng, Ban Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng huyện Pác Nặm sẽ tiến hành kiểm tra, nghiệm thu những diện tích rừng đã trồng. Những diện tích có cây sống đạt tỷ lệ 85% trở lên bà con sẽ được hỗ trợ theo quy định của Nhà nước về chi phí cây giống và công chăm sóc trong 3 năm đầu…(Báo Bắc Kạn 18/7)đầu trang(
Trước việc UBND tỉnh Quảng Nam đề xuất xây thêm 4 dự án thủy điện gọi là “siêu nhỏ” ở huyện miền núi Nam Trà My, tại kỳ họp thứ 5, khóa IX HĐND tỉnh Quảng Nam ngày 18.7, các đại biểu đã “mổ xẻ”, phản đối kịch liệt vì lo sợ ảnh hưởng đến môi trường, người dân.
Nhiều đại biểu phản đối, việc đầu tư xây nhiều thủy điện sẽ ảnh hưởng lớn đến đất rừng, đất sản xuất của người dân, gia tăng tình trạng phá rừng, do đó việc bổ sung thủy điện cần cân nhắc kỹ, tính toán, quan tâm an toàn hồ, đập thủy điện. Một số đại biểu không đồng tình việc bổ sung quy hoạch các dự án thủy điện ở miền núi và đề nghị phát triển năng lượng khác ngoài thủy điện để đảm bảo tính bền vững, không phát sinh hệ lụy về môi trường.
Các đại biểu có ý kiến phản đối cho rằng, ngoài lợi ích về kinh tế, những tác động bất lợi, hậu quả đem lại từ thủy điện không ít, cần phải tính toán lâu dài, như: Mất đất sản xuất, khai thác rừng trái phép, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, môi trường sinh thái bị ảnh hưởng, biến đổi khí hậu, tác động đến đời sống, tập quán sinh sống của đồng bào dân tộc (gắn liền với núi rừng).
Bà Lê Thị Thủy - Trưởng ban Dân tộc tỉnh, phân tích: Việc đầu tư xây dựng thêm 4 thủy điện ở huyện Nam Trà My là không cần thiết và chưa tính đến vấn đề hệ lụy sâu xa. Xây thêm thủy điện này mới chỉ tính đến góc độ kinh tế nhưng vấn đề lâu dài như mất đất, mất rừng chưa được tính toán kỹ.
“Tôi lo ngại việc xây dựng các thủy điện này thì diện tích đất rừng bị thu hẹp, sẽ tác động đến môi trường sinh thái, gây biến đổi khí hậu, đặc biệt là ảnh hưởng đời sống, văn hóa của đồng bào dân tộc miền núi gắn liền với thiên nhiên, gắn liền với rừng. Giờ chúng ta phá rừng, dần dần hậu thế sẽ nói chúng ta là tội đồ. Trước những thực trạng như vậy, có cần thiết phải có nhiều thủy điện như vậy không? Tôi chưa thấy có tỉnh nào quá nhiều thủy điện như Quảng Nam hiện nay” - bà Thủy đề cập.
Ông Hồ Quang Bửu - Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My cho biết: Việc xây dựng thêm 4 thủy điện trên địa bàn huyện là cần thiết và không có gì đáng lo ngại. Vì 4 thủy điện đang đề xuất xây dựng là loại thủy điện nhỏ, không ảnh hưởng đến tự nhiên, không ảnh hưởng đến người dân.
“Hiện nay, tại huyện Nam Trà My chỉ có 1 đường dây trên 35kV nên thiếu điện, chiều nào cũng cúp điện, mùa mưa cúp điện cả tuần. Trong khi, địa phương đang phát triển cây dược liệu, đặc biệt là cây sâm, hiện Nam Trà My còn có cụm công nghiệp, nhiều tập đoàn lên đầu tư xây dựng. Có cụm công nghiệp mà không có điện thì sao họ làm?”.
Ông Bửu cũng cho biết thêm: Ông đã khảo sát nơi định xây 4 thủy điện, rõ ràng ở đó không có rừng, chỉ có rừng nứa thôi và không ảnh hưởng đến đất của nhân dân. “Tôi cam đoan việc xây dựng thủy điện không ảnh hưởng đến rừng, không ảnh hưởng đến người dân. Tất nhiên việc gì cũng có 2 mặt, nhưng mặt thiệt hại quá nhỏ so với cái lợi” - ông Bửu nói.
Tại xã Trà Don, huyện Nam Trà My, nơi dự kiến xây dựng thủy điện Nước Lah, đa số người dân trong xã đều không hề biết sắp tới xây dựng thủy điện tại địa bàn xã. Bà Hồ Thị Ni (55 tuổi, người dân xã Trà Don) cho biết: “Dân chúng tôi chỉ mới nghe thông tin huyện khảo sát và đề xuất xây dựng một thủy điện ở xã thôi, chứ cụ thể như thế nào và chừng nào triển khai xây dựng thì không rõ. Làm sao cũng được nhưng phải đảm bảo rằng không làm mất đất sản xuất của người dân và đặc biệt phải đảm bảo sinh kế cũng như chỗ ở cho chúng tôi, không phá rừng nhiều”.
Tại nghị trường, nhiều đại biểu kiến nghị, huyện Tây Giang đang có 2 dự án thủy điện dang dở, khởi công tháng 8.2008, hiện nay đường dây 110KW vẫn chưa xong, đền bù cho dân trong vùng dự án vẫn chưa xong. Đề nghị UBND tỉnh có chỉ xử lý dứt điểm đền bù phát sinh. Cần cân nhắc tính toán đầu tư thủy điện miền núi.
Ông Nguyễn Quang Thử - Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Nam cho rằng: 4 dự án thủy điện ở Nam Trà My mới chỉ đề xuất chứ chưa thống nhất thông qua quy hoạch. Theo quy hoạch chung, toàn tỉnh có 34 dự án thủy điện vừa và nhỏ, sau đó loại hai dự án Bông Miêu, Hà Ra, sau này loại thêm dự án thủy điện Nước Xa, Ag Rồng do diện tích chiếm đất rừng quá cao. Loại các thủy điện không đảm bảo ra ngoài, đưa vào các dự án có tiềm năng, đảm bảo môi trường. Bây giờ thêm vào 4, thì vẫn không thay đổi, vẫn là 34 dự án vừa và nhỏ, không tăng so với trước đây.
Ông Nguyễn Ngọc Quang - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Quảng Nam cho rằng: “Việc quy hoạch bổ sung các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh cần phải xem xét lại, nhất là 4 dự án thủy điện tại huyện Nam Trà My”.
Tại kỳ họp này, UBND tỉnh Quảng Nam trình HĐND tỉnh đề án về sửa đổi, bổ sung quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn, theo đó đề xuất loại ra khỏi quy hoạch 2 dự án: Thủy điện Nước Xa và thủy điện Ag Rồng. Đồng thời bổ sung 4 dự án thủy điện tại huyện Nam Trà My gồm: Trà Linh 1, Tăk Lê, Nước Lah và Trà Leng. Như vậy, tổng số dự án thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh sau khi bổ sung quy hoạch lần này 34 dự án. (Dân Việt 19/7)đầu trang(
Qua thảo luận tại Kỳ họp HĐND tỉnh Quảng Nam, đa số đại biểu đồng tình đưa vào quy hoạch 4 nhà máy thủy điện đầu nguồn Sông Tranh 2.
Ngày 18/6, các đại biểu dự Kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam tiến hành thảo luận và chất vấn nhiều vấn đề "nóng" trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Trong đó có việc xây dựng 4 nhà máy thủy điện ở huyện vùng cao Nam Trà My, đầu nguồn Thủy điện Sông Tranh 2, nơi thường xuyên xảy ra động đất khiến người dân lo lắng.
Tuy nhiên, qua thảo luận ở tổ thì đa số các đại biểu đồng tình với việc đưa vào quy hoạch 4 dự án thủy điện này.
Ông Lê Minh Hưng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Nam cho biết, cả 4 dự án thủy điện được tỉnh Quảng Nam đưa vào quy hoạch lần này ít ảnh hưởng đến rừng. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh buộc các doanh nghiệp bồi thường thiệt hại theo quy định. Ước tính mức bồi thường mỗi héc ta khoảng 1 tỷ đồng đối với rừng giàu, vài trăm triệu đồng đối với diện tích rừng bình thường.
Theo ông Lê Minh Hưng, diện tích rừng bị ảnh hưởng rất ít, trong đó, rừng phòng hộ ảnh hưởng có 2,44 ha, còn lại là rừng sản xuất. Tổng diện tích rừng tự nhiên ảnh hưởng khoảng 22 ha rừng có cây gỗ, còn lại là tre nứa. Địa hình Nam Trà My độ chênh cao nên lợi dụng thế năng là chính, không xây đập cao lên như những hồ lớn nên không ảnh hưởng nhiều.
Tờ trình của UBND tỉnh Quảng Nam trình HĐND tỉnh về việc "quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh" bổ sung 4 dự án thủy điện nằm trên địa bàn huyện Nam Trà My gồm: Thủy điện Trà Linh 1, Thủy điện Tăk Lê, Thủy điện Nước Lah và Thủy điện Trà Leng. Tổng công suất 4 dự án nhà máy thủy điện này gần 80 MW; tổng diện tích đất hơn 140 ha. Trong đó, đất lâm nghiệp hơn 60 ha.
Trong phiên thảo luận sáng nay, ông Hồ Quang Bửu, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Nam Trà My cho rằng, do cả 4 thủy điện này không di dời dân nên chính quyền không tổ chức lấy ý kiến dân mà chỉ lấy ý kiến trong lãnh đạo huyện.
"Đối với huyện 30a, địa phương được cho là "thủ phủ" sâm, dược liệu quốc gia, có cụm công nghiệp để nhà đầu tư vào phát triển kinh tế- xã hội thì điện là ưu tiên số 1. Cái gì cũng có 2 mặt, nhưng mặt hại rất là ít so với phát triển kinh tế, không những hiệu quả kinh tế cho địa phương mà hiệu quả kinh tế cho quốc gia", ông Bửu lưu ý.
Lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam cho rằng, việc đưa 4 thủy điện vừa và nhỏ ở huyện Nam Trà My vào quy hoạch là phù hợp với chủ trương và nghị quyết của Tỉnh ủy về quy hoạch thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh nhằm huy động mọi nguồn lực sớm hoàn thành và đưa hệ thống truyền tải 110kV từ Sông Tranh 2 về huyện Nam Trà My hiệu quả, đảm bảo yêu cầu cấp điện ổn định cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân huyện Nam Trà My, phát huy tối đa hiệu quả nguồn nước của địa phương. Đồng thời, phù hợp với chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 của Chính phủ.
Trước những băn khoăn, lo lắng của người dân về những tác động bất lợi của các dự án thủy điện này, ông Trần Đình Tùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đề nghị phải xem xét kỹ, tránh "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" rất khó thực hiện. (VOV 18/7)đầu trang(
Ông trồng rừng chẳng giống ai: thuê chuyên gia Singapore, đào đất lên liếp thẳng tắp trồng từng cây như rau củ. Hơn 1.000ha keo lá tràm của ông đạt chứng chỉ rừng quốc tế, nên đối tác Nhật Bản và châu Âu tranh nhau ký hợp đồng mua gỗ, củi.
Khu rừng độc đáo của ông Lê Hoàng Thế ở tận U Minh, Cà Mau. Vậy mà cứ dăm ba bữa lại có một đoàn khách nước ngoài tìm đến tham quan, thương lượng hợp đồng mua các sản phẩm từ gỗ. Những nông dân giữ rừng ở đây
Mất hơn một giờ ngồi ôtô như... cưỡi ngựa từ trung tâm TP Cà Mau đến trước trạm y tế xã Khánh Thuận, huyện U Minh thì hết đường. Trời mưa lất phất.
“Từ đây vào rừng của tôi mất gần một tiếng nữa, nhưng chỉ có cách duy nhất là đi bằng vỏ lãi (loại ghe nhỏ làm bằng composite, gắn động cơ)” - ông Thế quấn chiếc khăn rằn vào cổ, tự tay đưa cho mỗi người một chiếc áo mưa dã chiến, ổ bánh mì mềm nhũn, nói.
Chuyến đi này còn có George Yeo - người Singapore mang quốc tịch Mỹ, chuyên gia về kỹ thuật tự động hóa.
Yeo đến Cà Mau làm thuê cho ông Thế được gần hai năm. Công việc của anh là nghiên cứu, thiết kế các loại máy trồng, thu hoạch, sơ chế gỗ. Tất cả làm tự động
để thay cho lao động thủ công.
“Ông Thế muốn trồng rừng đạt đẳng cấp quốc tế. Đó là lý do tôi đến đây cộng tác với ông ấy” -
Yeo cười.
Rừng của ông Thế nằm trong khu vực rừng U Minh. Rất dễ nhận ra rừng ông Thế là đám keo lá tràm được trồng trên những liếp có bề rộng khoảng 10m và dài tới 1.000m, thẳng tắp. Giữa các liếp là con kênh nhỏ cho ghe tàu ra vào chở cây giống, máy móc và gỗ khi thu hoạch.
Ông Thế có thời gian dài học tập, định cư và làm việc ở Nhật Bản. Nhưng quê hương cứ thôi thúc ông về. Năm 2009, trong lúc đang kinh doanh bất động sản ở TP.HCM, ông... đột ngột biến mất. Khá lâu sau đó, bạn bè mới phát hiện ông đang cặm cụi trồng rừng ở Cà Mau.
“Vì sao ông bỏ phố về rừng?” - chúng tôi thắc mắc. Ông cười: “Cả thế giới đang chạy đua ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. VN cũng đã ký cam kết giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính.
Trong khi khắp nơi người ta phá rừng làm thủy điện, làm dự án này kia khiến dư luận lên án, tôi nghĩ mình trồng rừng thì không ai rầy. Vả lại đây cũng là một ngành nghề sản xuất kinh doanh mà!”.
Năm 2010, UBND tỉnh Cà Mau có chủ trương giao ông Thế 1.200ha đất rừng nghèo. Ông đổ tiền nghiên cứu đất, gieo trồng nhiều giống keo lai trên diện tích 10ha để xem giống nào phù hợp và lập hẳn phòng thí nghiệm để sản xuất giống cấy mô.
Một năm sau, tỉnh quyết định chỉ giao 700ha. Ông thuê nhân công đốn bỏ rừng nghèo, thuê máy đào lên liếp để trồng như rau màu. Tất cả liếp đều có kích thước giống nhau, diện tích 1ha/liếp.
Mấy năm qua, ông bỏ tiền chuyển nhượng thêm được hơn 300ha đất của người dân địa phương. Đến nay, khu rừng ông Thế đã rộng tới 1.047ha và sẽ còn tiếp tục mở rộng.
Rừng ông Thế được thu hoạch bằng máy. Những chiếc máy kẹp cứng phần gốc cây, sau đó cắt bằng loại dao rất bén. Cắt xong, máy ôm cây còn đứng thẳng đưa ra chỗ trống, bỏ nằm xuống cho nhân công cắt từng đoạn ngắn khoảng 1,5m đều nhau.
Chiếc máy đốn cây nhỏ gọn này do anh Yeo thiết kế theo địa hình rừng của ông Thế rồi đặt hàng cho đối tác nước ngoài chế tạo riêng.
Anh Lưu Cường Thịnh (công nhân vận hành máy) nói nếu đốn cây bằng sức người phải mất 20-25 ngày mới xong 1ha. Còn dùng máy này chỉ mất 10 ngày, vừa tiết kiệm thời gian mà còn giảm chi phí nhân công.
Yeo cho biết đây là vụ đầu tiên thu hoạch bằng máy, rất hiệu quả. “Công việc của tôi lúc này là nghiên cứu, chế tạo ra máy trồng cây tự động, máy bóc vỏ cây sau thu hoạch, máy cắt khúc cây sau khi đốn, máy gom nhánh và lá cây rồi băm, nghiền để chuyển xuống ghe chở về nhà máy.
Mục tiêu mà ông Thế đưa ra là thu gom hết thân, vỏ, lá cây để chế biến thành các sản phẩm xuất khẩu” - Yeo cho biết.
Hiện nay, lá và nhánh nhỏ sau thu hoạch đều bỏ lại rừng. Cứ thu hoạch, làm đất xong thì trồng lại rừng thật nhanh, cũng bằng máy.
Ông Thế nói rừng của ông đã được cấp chứng chỉ FSC-FM. Đây là một chứng chỉ rất quan trọng, có nó thì được xuất khẩu các sản phẩm gỗ đi khắp thế giới. Muốn được cấp chứng chỉ này, rừng phải đạt 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí chuẩn mực quốc tế.
Sau khi rừng ông Thế có chứng chỉ FSC-FM, khách hàng Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu tìm tới tham quan, ký hợp đồng mua các sản phẩm gỗ.
Đặc biệt là đối tác Nhật Bản đã ký hợp đồng dài hạn mua viên gỗ năng lượng (biomass) cung cấp cho các nhà máy điện sinh khối tại nước này.
Gỗ keo lá tràm đã được thế giới đưa vào danh mục gỗ thương mại từ năm 2015. Gỗ có kích thước lớn thì dùng làm tủ, bàn, ghế; còn nhánh, lá nghiền làm biomass, dăm gỗ...
Hiện nay, nhiều nước nhập khẩu gỗ bắt buộc nơi bán phải có chứng chỉ FSC-FM để xác định nguồn gốc hợp pháp và đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Không chỉ lo cho rừng của mình, ông Thế còn tham gia các đoàn thẩm định cấp chứng chỉ FSC-FM ở VN.
Theo ông, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm từ rừng trồng của các nước phát triển rất lớn.
Hằng năm, khách hàng của ông cần tới 1 triệu m3 gỗ xẻ và 1,5 triệu tấn biomass, nhưng rừng của ông chỉ đáp ứng một phần nhỏ.
Nhật đã tính đến chuyện luyện than cốc từ biomass tại VN rồi chuyển về nước sử dụng, bởi than cốc nhẹ mà nhiệt lượng cao hơn biomass.
Mong ước lớn nhất của ông là VN hạn chế và chấm dứt xây dựng nhà máy nhiệt điện than, chuyển sang đầu tư nhiệt điện sinh khối như Nhật Bản và các nước phát triển để giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân.
FSC (Forest Stewardship Council) là một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận. Nhiệm vụ của FSC là khuyến khích việc quản lý rừng trên thế giới phù hợp với môi trường, có lợi ích xã hội và đạt hiệu quả kinh tế. Logo FSC dán trên sản phẩm sẽ giúp người tiêu dùng trên toàn thế giới nhận biết được các tổ chức hay sản phẩm ủng hộ chương trình quản lý rừng có trách nhiệm.
FSC-FM (FSC Forest Management): Chứng chỉ dành cho các đơn vị
trồng và khai thác rừng. Chứng nhận khu rừng/đơn vị quản lý rừng xác định đã tuân thủ theo 10 nguyên tắc FSC phù hợp các nguyên tắc về môi trường, kinh tế, xã hội.
Mới đây, Đan Mạch đã đồng ý tài trợ cho Công ty Thúy Sơn của ông Thế xây dựng một nhà máy ở Cần Thơ chuyên sản xuất biomass cho nhà máy điện sinh khối ở Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ngoài ra còn chế biến dăm gỗ, gỗ xẻ xuất khẩu có nguồn gốc từ rừng ở U Minh. Hiện nay, nhà máy đang lắp đặt thiết bị, dự kiến cuối năm vận hành chính thức.
Ông Thế cho biết: “Khách hàng đã đặt tôi 200.000m3 gỗ xẻ và 200.000 tấn biomass/năm.
Rừng trồng 5 năm sẽ thu hoạch. Thu hoạch xong chỗ nào thì trồng lại ngay, nên lúc nào cũng có nguyên liệu đưa về nhà máy và lúc nào cũng đảm bảo độ bao phủ rừng theo quy định của FSC”. (Tuổi Trẻ 18/7)đầu trang(
Sáng 17-7, UBND tỉnh tổ chức họp nghe và cho ý kiến về Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 có mục tiêu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tính đa dạng sinh học, đặc biệt là các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, các loài, nguồn gen nguy cấp, quý, hiếm và các chức năng của chúng, phục vụ cho sự nghiệp phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh sinh thái và an ninh quốc phòng.
Trong đó mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là kiện toàn 3 khu bảo tồn hiện có; thành lập mới 3 khu bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh (khu bảo tồn đất ngập nước vùng cửa sông Tiên Yên, khu bảo tồn biển Cô Tô, khu bảo tồn biển Đảo Trần); cải thiện về chất lượng và số lượng quần thể các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, đảm bảo không gia tăng số lượng loài bị tuyệt chủng…
Đến năm 2030 tiếp tục bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên có tầm quan trọng quốc tế, tầm quan trọng quốc gia và của tỉnh, các hệ sinh thái san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn tự nhiên, núi đá vôi bị suy thoái. Đồng thời phấn đấu đến năm 2030 tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 58%; thành lập và đưa vào hoạt động 3 hành lang đa dạng sinh học với diện tích khoảng trên 254.000 ha.
Nội dung chính của quy hoạch gồm có: Quy hoạch hành lang đa dạng sinh học; quy hoạch bảo vệ và phát triển một số hệ sinh thái tự nhiên đặc thù; quy hoạch hệ thống các khu bảo tồn đa dạng sinh học; quy hoạch bảo tồn chuyển chỗ…
Việc thực hiện hiệu quả quy hoạch sẽ góp phần tạo thành hệ sinh thái hoàn chỉnh, phát huy chức năng phòng hộ, giữ được tính đa dạng sinh học và bảo tồn được các nguồn gen, cải thiện môi trường tự nhiên.
Với hệ sinh thái và cấu trúc rừng ổn định sẽ bảo vệ được đất đai, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt, duy trì nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt, góp phần cải thiện điều kiện khí hậu thời tiết, thay đổi môi trường sống có lợi cho người và sinh vật…
Tham gia đóng góp ý kiến tại cuộc họp, các đại biểu đề nghị đơn vị tư vấn cần cập nhật lại số liệu, trong các bảng biểu cần trích dẫn nguồn đảm bảo tính chính xác. Trong quy hoạch cần làm rõ tính cấp thiết của việc thành lập mới 3 khu bảo tồn vì sẽ dẫn đến tăng biên chế; xem xét bổ sung chính sách chi trả dịch vụ môi trường vùng biển và đất rừng; bổ sung và làm rõ định hướng bảo tồn đi đôi với phát triển hệ sinh thái để phát triển du lịch, làm rõ từng địa điểm phù hợp với định hướng phát triển này để có hướng đầu tư phù hợp…
Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nhấn mạnh tính cần thiết của quy hoạch nhằm duy trì đa dạng sinh học, cân bằng hệ sinh thái, góp phần phát triển KT-XH và phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.
Để hoàn thiện quy hoạch, đồng chí yêu cầu đơn vị tư vấn tiếp thu ý kiến của các đại biểu tại cuộc họp; xác định rõ địa chỉ từng vùng bảo tồn, các loài cần bảo tồn, tránh dàn trải. Đồng thời thống nhất với việc hình thành một số khu bảo tồn; nâng hạng Khu bảo tồn đất ngập nước vùng cửa sông Tiên Yên thành khu Ramsar Tiên Yên vào năm 2020; mở rộng Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng, rừng quốc gia Yên Tử.
Tuy nhiên, đồng chí cũng yêu cầu cần xem xét lại địa danh một số khu vực để đảm bảo tính chính xác; rà soát quy hoạch môi trường Vịnh Hạ Long, đảm bảo tránh chồng lấn và nắm bắt số liệu chính xác, từ đó lên lộ trình thực hiện các nội dung đã nêu trong quy hoạch.
Đối với nguồn lực thực hiện quy hoạch, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Tài chính để xem xét cụ thể, xây dựng lộ trình thực hiện theo từng năm đảm bảo tính khả thi cao nhất khi thực hiện quy hoạch. Đơn vị tư vấn cần bổ sung và hoàn thiện lại quy hoạch trước ngày 21-7 để trình Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và các cấp có thẩm quyền theo đúng quy định. (Báo Quảng Ninh 17/7)đầu trang(
Nghệ An: Lên rừng dựng nghiệp
Họ là những thanh niên tình nguyện lên với đồi hoang, rừng tạp, biên giới xa xôi để dựng làng, biến những vùng khó khăn thành mảnh đất trù phú.
Tháng ngày ta góp sức chung/ Vun từng luống đất cuốc từng gốc cây/ Đường xa ta tới đây/ Trên đồi cây khát nắng/ Giữa hai dòng suối vắng/ Đoàn ta vui cấy cày… Những câu thơ mộc mạc của nhà thơ Hoàng Trung Thông cứ như để nói về những người mà chúng tôi gặp ở làng Thanh niên lập nghiệp (TNLN) Sông Rộ và Tam Hợp (Nghệ An). Họ là những thanh niên tình nguyện lên với đồi hoang, rừng tạp, biên giới xa xôi để dựng làng, biến những vùng khó khăn thành mảnh đất trù phú.
Năm 2000, làng TNLN Sông Rộ ra đời. Mục tiêu của làng là biến đồi hoang, rừng tạp ở xã Thanh Thủy và Thanh Hà (huyện Thanh Chương) thành ngôi làng quy mô với 150 gia đình trẻ, vừa phát triển kinh tế trang trại, vừa bảo vệ rừng. Anh Võ Tuấn Vi, Phó Chỉ huy làng TNLN Sông Rộ (nay là Tổng đội phó Tổng đội 9 thuộc Tỉnh đoàn Nghệ An), kể lại, trong năm đầu tiên, có 20 thanh niên ở các địa phương của Nghệ An xung phong đến đây lập nghiệp. Khi ấy, muốn vào được khu vực như hiện nay, anh em phải lội suối, luồn rừng khảo sát nhiều ngày để dựng lán trại. Sống giữa rừng núi hoang vu, thời gian đầu rất buồn, một số anh em trẻ muốn về, nhưng rồi mọi người động viên nhau vượt qua khó khăn. Dựa vào con đường mòn trong rừng, ban chỉ huy làng đo đạc, chia cho mỗi đội viên 3ha đất rừng để ở và sản xuất.
Anh Hà Văn Dương, một trong những thanh niên lên lập làng đợt đầu nhớ lại, khi ấy anh mới 20 tuổi lên vùng rừng núi hoang vu này nhưng lại được hướng dẫn trồng chè công nghiệp. Anh không thể hình dung nổi trồng như thế nào, bán cho ai, vì có ai biết nơi “khỉ ho cò gáy” này mà vào mua. Nhưng được hướng dẫn, anh trồng và may mắn cây chè hợp đất đai, khí hậu nên phát triển rất nhanh.
3 năm sau, anh thu hoạch lứa chè đầu tiên và bán được giá. Được khích lệ, anh Dương tiếp tục cải tạo toàn bộ 3ha đất trồng chè. 10 năm sau, vợ chồng anh có cơ ngơi khá khang trang. Mấy năm qua, giá chè khá ổn định nên mỗi năm, 3ha chè mang về cho vợ chồng anh khoảng 150 triệu đồng.
Đến lập nghiệp ở đây sau anh Dương 2 năm là vợ chồng anh Nguyễn Hữu Vân. Từ 3ha đất được chia, vợ chồng anh Vân trồng chè và trồng keo. Đến nay, ngoài chè thu về 100 - 120 triệu đồng/năm, gia đình anh Vân còn trồng 400 gốc cam, năm qua, dù mới có 200 gốc cam cho quả nhưng vợ chồng anh đã thu về 130 triệu đồng. Chỉ về phía quả đồi rậm rì cây bụi và gỗ tạp phía trước nhà, anh Vân cho biết: “Thời điểm thanh niên tình nguyện bọn tôi lên đây lập làng, toàn thế cả. Nhưng sau 15 năm, sức trẻ đã biến đồi hoang thành khu dân cư trù phú với những đồi chè xanh mướt”.
Anh Võ Tuấn Vi cho biết, trong tổng đội hiện nay thì Đội sản xuất số 2, nơi trước đây khó khăn nhất của làng, nay đều đã có cuộc sống ổn định. Hộ thấp nhất cũng có thu nhập trên 100 triệu đồng/năm. Hiện làng có 150 hộ dân với 230ha chè, thu về trên 10 tỷ đồng/năm, 20ha lúa đủ cung cấp lương thực cho các hộ đội viên, 20ha cam, hơn 100ha keo nguyên liệu, 10ha tre điền trúc lấy măng. Mỗi năm, thu nhập từ trồng trọt của làng khoảng 15 tỷ đồng và 5 tỷ đồng từ chăn nuôi. Bản Huồi Sơn và Phà Lõm (xã Tam Hợp) là những bản vùng sâu, vùng xa của huyện Tương Dương, nằm ở khu vực biên giới Việt - Lào. Người dân ở 2 bản này là đồng bào Mông, cuộc sống chủ yếu dựa vào rừng với nghề săn bắt, hái lượm... Vùng đất này trước đây an ninh phức tạp, thổ phỉ từ Lào xâm nhập vào tận bản.
Năm 2004, trong một lần truy đuổi những đối tượng xâm nhập biên giới, trung úy biên phòng Và Bá Giải đã hy sinh vì bị bọn phỉ phục kích. Năm 2013, Trung ương Đoàn ra quyết định thành lập làng TNLN Tam Hợp với mục tiêu chuyển giao cách thức sản xuất mới cho bà con dân bản và tham gia bảo vệ rừng, an ninh biên giới.
Anh Vương Trung Úy, Phó Chỉ huy làng TNLN Tam Hợp, kể, năm 2014, anh cùng 11 anh em lên đây dựng lán lập làng. Khi ấy, điện chưa có, đường đất đá, dốc dựng đứng... Một năm sau, khu đất nằm chênh vênh bên sườn đồi được san phẳng, nhà cửa dần mọc lên, con đường từ đầu bản Huồi Sơn đến cuối bản được đổ bê tông, điện lưới được kéo về.
Năm 2015, ban chỉ huy làng và Phòng Nông nghiệp huyện bắt đầu hướng dẫn cho người dân trồng chè Tuyết Shan, đến nay làng đã có được 10ha chè. Tiếp đó, dân làng được hướng dẫn trồng nghệ, năm 2016 thu được 6 tấn củ. Sau khi trồng thử nghiệm, làng TNLN Tam Hợp triển khai cho người dân trồng cây chanh leo.
Đến nay đã có 20 hộ nhận trồng cây chanh leo với diện tích 5ha. Với sản lượng như đã trồng thử nghiệm, mỗi hécta chanh ở đây thu về khoảng 80 triệu đồng. Anh Vừ Giống Hùa (bản Huồi Sơn) là 1 trong 19 gia đình được nhận hỗ trợ từ dự án làng TNLN 30 triệu đồng/hộ để tách hộ, giãn dân, dựng nhà sinh sống riêng.
Ông Vi Cảnh Toàn, Bí thư Đảng ủy xã Tam Hợp, phấn khởi cho biết: “Từ khi làng TNLN ra đời, cuộc sống của hơn 150 hộ dân ở nơi sâu nhất, xa nhất của xã đã thay đổi rất nhiều từ cơ sở hạ tầng. Quan trọng nhất là thay đổi được tư duy làm ăn của người dân vốn lâu nay chỉ biết phụ thuộc vào rừng. Chúng tôi đánh giá cao mô hình làng TNLN này, vì không chỉ góp phần bảo vệ an ninh biên giới mà còn giúp đời sống của người dân vùng biên thay đổi rõ nét”. (Sài gòn Giải Phóng 18/7)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hơn 150 đám cháy rừng nguy hiểm đang lan nhanh ở tỉnh British Columbia, Canada, buộc gần 40.000 người phải đi sơ tán.
159 đám cháy rừng xuất hiện trong khu vực rộng 150 km, dài 350 km ở đông bắc thành phố Vancouver, tỉnh British Columbia, trong đó có 17 đám cháy mới, Reuters dẫn lời Kevin Skrepnek, sở cứu hỏa British Columbia, nói ngày 17/7. Hiện chưa có thương vong.
Gần 40.000 người sống ở đông bắc Vancouver phải đi sơ tán do lính cứu hỏa chưa thể kiểm soát ngọn lửa. Nhiều người được đưa tới thành phố Kamloops gần đó. Quân đội đã triển khai hai phi cơ và 5 trực thăng để hỗ trợ sơ tán.
Bộ trưởng An ninh Công cộng Canada Ralph Goodale nói British Columbia đã gửi hai đề nghị hỗ trợ quân sự để dập lửa lên chính quyền liên bang. Australia đang gửi 50 lính cứu hỏa tới Canada, dự kiến đến nơi vào ngày 19/7.
Skrepnek ước tính diện tích bị lửa thiêu rụi khoảng 188.000 hecta và tỉnh cần hơn 70 triệu USD để xử lý.
British Columbia công bố quỹ khẩn cấp 100 triệu CAD (gần 80 triệu USD). Hội Chữ thập Đỏ Canada sẽ trao trợ cấp 600 CAD cho mỗi người đi sơ tán. (Vnexpress 18/7)đầu trang(
Một nghiên cứu cho thấy việc buôn bán xương và các bộ phận cơ thể sư tử giả làm sản phẩm lấy từ hổ đang trở nên phát đạt tại các thị trường Trung Quốc và Đông Nam Á. Bài viết sau đây của Navin Singh Khadka - phóng viên môi trường đài BBC News:
Đã có những nghi ngờ rằng giới buôn bán đem chào bán xương hổ, nhưng thực ra là giao sư tử cho khách hàng, chủ yếu là từ sau khi Trung Quốc cấm việc buôn bán các sản phẩm từ hổ hồi 10 năm trước. Đài BBC News đưa tin ngày 19/7, Cơ quan Điều tra Môi trường đóng tại Anh nói rằng việc xác nhận được đưa ra sau các vụ bắt giữ, tịch thu của chính quyền, và dựa trên những lượng lớn hàng được chào bán trên mạng ở các nước này.
Kết quả nghiên cứu đưa ra năm vụ tịch thu xương sư tử được giả làm xương hổ để bán tại Trung Quốc và Việt Nam trong vòng hai năm qua. Những kết quả trên được đưa ra trước khi có kỳ họp của CITES (Hiệp định quốc tế về kiểm soát buôn bán động vật hoang dã), khai mạc tại Thụy Sỹ ngày 19/7.
CITES cho phép việc buôn bán theo những hạn ngạch nhất định dựa trên các sản phẩm khai thác từ sư tử nuôi nhốt. Nam Phi được coi là nhà xuất khẩu lớn nhất các bộ phận cơ thể sư tử sang các thị trường Đông Nam Á, nơi chủ yếu là địa điểm trung chuyển sang Trung Quốc.
Chính phủ Nam Phi hồi tháng trước công bố hạn ngạch xuất khẩu 800 bộ xương. Các nhà vận động bảo vệ đời sống động vật hoang dã nói, việc cho phép bán các bộ phận cơ thể từ sư tử nuôi đang khiến làm tăng việc săn bắn và buôn bán bất hợp pháp hổ, loài động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Các quốc gia khác ở châu Phi không có hoạt động nuôi nhốt sư tử thì lo ngại rằng, số lượng loài vật này trong đời sống hoang dã cũng có thể bị săn bắn trộm để đáp ứng nhu cầu giả sản phẩm từ hổ.
Tại Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, xương hổ được cho là có giá trị chữa bệnh cao. Các thị trường này có nhu cầu cực lớn đối với sản phẩm cao hổ cốt. (Người Tiêu Dùng 19/7)đầu trang(
Tin tức về những loài nguy cấp gần đây đa phần là những tin không vui, tuy nhiên đâu đó cũng có những chuyển biến và tín hiệu tích cực. Dưới đây là 10 tin vui đối với các loài nguy cấp trong hơn một năm qua theo đánh giá của trang tin môi trường Mongabay.
Chuyến khảo sát đầu tiên ở khu vực rừng bang Karen, đông nam Myanmar – khu vực trước đây các nhà khoa học không thể tiếp cận vì lý do an ninh, chính trị – đã mang lại những kết quả đáng kinh ngạc. Các nhà nghiên cứu ghi nhận có ít nhất 31 loài động vật có vú trong khu vực, hơn một nửa trong số đó được xếp loại Nguy cấp, Sắp nguy cấp và Dễ bị tổn thương trong Sách Đỏ IUCN như loài hổ (Panthera tigris), voi châu Á (Elephas maximus), voọc xám Phayre (Trachypithecus phayrei), và sói lửa (Cuon alpinus).
Loài ếch cây Rome với chiều dài trung bình từ 1,5 đến 2,5 cm không chỉ là loài ếch nhỏ nhất sống trên lãnh thổ Hồng Kông mà còn là một trong số những loài nhỏ nhất trên thế giới. Ếch cây Romer đang thích nghi và phát triển mạnh ở một số khu vực của Hồng Kông.
ác nhà bảo tồn ở Thái Lan và Cục Bảo tồn Động Thực vật hoang dã và Vườn quốc gia nước này đã công bố hình ảnh chứng minh sự tồn tại của quần thể hổ Đông Dương thứ hai trên thế giới ở khu vực rừng rậm phía đông Thái Lan.
Mặc dù các dữ liệu khoa học cho thấy mật độ hổ thấp nhưng phát hiện này chứng tỏ khả năng phục hồi đáng kể của loài này trước nạn săn trộm động vật hoang dã và khai thác gỗ hồng mộc bất hợp pháp trong khu vực.
Được phát hiện lần đầu vào năm 1996, một loại ung thư truyền nhiễm đã lan rộng và làm suy giảm hơn 80% quần thể loài quỷ Tasmania (Sarcophilus harrisii) ở Tasmania, Úc.
Loại bệnh u ác tính này lây lan qua việc ăn chung con mồi. Mới đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng loài quỷ Tasmania đã và đang hình thành sức đề kháng chống lại loại bệnh này, nhờ vậy các nhà khoa học có thể tìm ra phương pháp chữa trị, ngăn ngừa sự tuyệt chủng của loài.
heo số liệu Sách Đỏ IUCN công bố năm ngoái, loài mèo Andean (Leopardus jacobita) được cho là chỉ có khoảng 1.378 cá thể, phân bố rải rác trên diện tích hơn 150.000 km2 trên cao nguyên từ đông bắc Peru đến Patagonia (Nam Mỹ). Tuy nhiên, việc một chú mèo Andean đột nhiên xuất hiện giữa một sân bóng đá ở Bolivia đã khiến nhiều nhà bảo tồn muốn tìm hiểu thêm về loài này.
Sử dụng bẫy ảnh gắn trên tầng cao và tầng thấp của cây, các nhà nghiên cứu đã ghi được hình ảnh đầu tiên về một quần thể mới của loài khỉ Dryas quý hiếm (Cercopithecus dryas) ở gần Vườn Quốc gia Lomami ở Cộng hòa Dân chủ Congo.
Trong một thời gian dài, loài khỉ Dryas được cho là chỉ tồn tại trong rừng Wamba Kokolopori ở trung tâm Congo.
Sau khi lắng nghe ý kiến của người dân, các nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ, chính quyền Malaysia đã quyết định loại bỏ kế hoạch gây tranh cãi về việc xây dựng cây cầu bắc qua sông Kinabatangan thuộc bang Sabah, trên đảo Bomeo.
Các nhà bảo tồn cho rằng việc xây dựng cây cầu sẽ phá vỡ môi trường sống của các loài voi, linh trưởng và chim ở khu bảo tồn động vật hoang dã dọc song Kinabatangan.
Nhờ chiến dịch vận động của các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức khoa học, tuyến đường cao tốc Cross River dài 260km cắt ngang qua Vườn quốc gia Cross River, Nigeria đã được điều chỉnh chỉ đi qua ranh giới của vườn quốc gia để tránh ảnh hưởng tới vùng lõi của vườn.
Khu vực này là điểm nóng về đa dạng sinh học, nơi sinh sống quan trọng của nhiều loài và phân loài có tên trong Sách đỏ IUCN như Voi rừng (Loxodonta cyclotis), khỉ mặt chó (Mandrillus leucophaeus) và tinh tinh Nigeria-Cameroon (Pan troglodytes ellioti) và cũng là nơi ẩn náu cuối cùng của gần 300 con khỉ đột sông Cross (Gorilla gorilla diehli).
20 con tê giác đen Đông Phi (Diceros bicornis michaeli), phân loài tê giác đen đang bị đe dọa nghiêm trọng, đã được tái thả tại đồng cỏ thuộc Vườn quốc gia Akagera, Rwanda .
Theo tổ chức Các Vườn quốc gia châu Phi, hiện có khoảng 1.000 con tê giác đen Đông Phi, phần lớn sống ở Kenya. Theo ông Peter Fearnhead, Giám đốc Các Vườn Châu Phi: “Sự trở lại của tê giác tự nhiên ở Rwanda là một minh chứng cho cam kết phi thường của quốc gia này đối với công cuộc bảo tồn và là dấu mốc quan trọng trong việc khôi phục lại sự đa dạng sinh học của Akagera”.
Cây mè được cho là cây loại trồng hạt cổ nhất thế giới, một số loài có niên đại gần 300 triệu năm, cổ hơn cả khủng long.
Các loài thuộc bộ thực vật cổ xưa này thường được các nhà sưu tập nỗ lực tìm kiếm để phục vụ cho thú chơi cây cảnh, do vậy chúng thường bị hái trộm. Năm 2014, 24 cá thể mè đã bị đánh cắp từ Vườn Bách thảo Quốc gia Kirstenbosch ở Cape Town, Nam Phi – 22 trong số đó được liệt kê trong danh sách loài nguy cấp của Sách đỏ IUCN. Các nhà bảo tồn đang nỗ lực để khôi phục lại các loài này. (Bảo Vệ Rừng và Môi Trường 19/7)đầu trang(./.
|
|||