Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 07 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều 20-7, Hạt Kiểm lâm Nông Sơn (Quảng Nam) cho biết, những ngày qua, bảy con voi rừng hoang dã đã xuất hiện tại các khu vực: Vũng Thùng, Khe Dứa, Khe Cắt… thuộc tiểu khu 454, xã Quế Lâm (giáp ranh với xã Phước Ninh, huyện Nông Sơn).
Ông Nguyễn Ngọc Nguyên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nông Sơn cho biết, trong quá trình đi kiếm thức ăn, đàn voi này đã đi qua rừng trồng (của người dân Thôn Cẩm La, xã Quế Lâm) và vườn cây cao su đại điền của Nông trường Cao su Nông Sơn, làm ngã đổ nhiều cây keo và cao su.
Rút kinh nghiệm những lần trước, lần này, để ứng phó và tránh xung đột giữa người dân địa phương và đàn voi, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với Vụ Bảo tồn thiên nhiên (Tổng cục Lâm nghiệp) tổ chức tập huấn, cấp phát các dụng cụ để xua đuổi voi về lại rừng.
Theo đó, đến nay, tại hai xã Quế Lâm và Phước Ninh đã thành lập Tổ bảo vệ voi. Đồng thời, yêu cầu các địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, cảnh báo người dân đang sinh sống và sản xuất tại khu vực thường xuyên có đàn voi xuất hiện để biết phòng tránh nguy hiểm đến tính mạng, cũng như hạn chế vào rừng…
Hiện tại, Hạt Kiểm lâm Nông Sơn cùng với chính quyền địa phương tiếp tục theo dõi hoạt động của đàn voi; đồng thời đưa ra phương án nhằm bảo vệ đàn voi và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt, nhất là tính mạng của người dân ở địa phương…(Nhân Dân 20/7)đầu trang(
Được đánh giá là Di sản ASEAN bởi chứa đựng nhiều đa dạng về sinh học cũng như những loài động, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng, Vườn Quốc gia (VQG) Kon Ka Kinh trở thành tâm điểm của các nhà nghiên cứu, bảo tồn.
Thế nhưng, vấn nạn phá rừng, săn bắn động vật hoang dã, đặc biệt ở các vùng đệm vẫn đang có nhiều diễn biến phức tạp. Nhiều loài động vật, trong đó có Voọc chà vá chân xám - loài Linh trưởng đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, được xếp vào bậc cực kỳ nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam và trong Danh lục Đỏ của thế giới vẫn đang bị săn lùng hằng ngày.
Voọc chà vá chân xám là loài linh trưởng đặc hữu và quý hiếm với tên khoa học Pygathrix cinerea, được các nhà nghiên cứu quốc tế liệt vào danh sách “25 loài thú linh trưởng có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất trên thế giới”.
Theo đánh giá của TS Sinh thái học Hà Thăng Long - Trưởng đại diện Hội động vật Frankfurt (CHLB Đức) tại Việt Nam - người đặt nền mỏng đầu tiên về nghiên cứu loài voọc chà vá chân xám tại VQG Kon Ka Kinh thì: loài này phân bố hẹp ở 5 tỉnh trong khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (từ Quảng Nam đến Gia Lai) của Việt Nam.
Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân tác động khiến vùng phân bố của loài voọc chà vá chân xám ngày càng bị thu hẹp và trở nên phân tán, tách biệt. Trong đó VQG Kon Ka Kinh là một trong những điểm phân bố đặc trưng và quan trọng của loài, chiếm đến 1/4 số lượng cá thể của loài.
Cũng theo Tiến sĩ Hà Thăng Long, quần thể chà vá chân xám ở VQG Kon Ka Kinh là một quần thể quan trọng trong công tác bảo tồn loài.
Từ năm 2010 đến nay, Hội động vật học Frankfurt đã phối hợp với VQG Kon Ka Kinh thực hiện chương trình giám sát tình trạng phân bố trong Vườn và biến động quần thể. Nhìn chung, tình trạng phân bố của loài tương đối ổn định. Đặc biệt là những điểm phân bố ở khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, sự xuất hiện của loài có thể quan sát được hàng tháng. Về số lượng quần thể, ước lượng trên toàn vườn có khoảng 300-350 cá thể.
Tuy nhiên, thời gian gần đây tình trạng săn bắn đang ảnh hưởng rõ rệt đến quần thể chà vá chân xám. Tuy vậy, đến nay, ngoài những đề tài, chương trình của Tiến sĩ Hà Thăng Long thì loài voọc chà vá chân xám vẫn còn nhiều “bí ẩn” đối với các nhà nghiên cứu.
Một lần theo kiểm lâm viên của VQG Kon Ka Kinh cũng như những người nghiên cứu loài voọc chà vá chân xám ở vườn Di sản ASEAN này, P.V đã được căn dặn: Không như những cá thể voọc chà vá chân nâu ở bán đảo Sơn Trà (TP Đà Nẵng) có thể tiếp cận rất gần, voọc ở đây sợ... đủ thứ. Chỉ cần có mùi hơi người, tiếng người, tiếng sắt thép cọ vào nhau hay tiếng chó sủa, lũ chà vá chân xám sẽ biến mất cả tháng trời mới quay trở lại dù đó là “bãi” ăn, nghỉ của nó.
Điều đó có thể thấy, những cá thể linh trưởng nằm trong “25 loài thú linh trưởng có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất trên thế giới” này đã từng bị con người săn, bắn như thế nào. Đủ thứ bẫy được giăng khắp nơi và hơn cả là những tiếng súng vang lên giữa đêm khuya là những bầy voọc lại mất đi vài thành viên.
Mới đây, sát nách VQG Kon Ka Kinh, lực lượng chức năng đã kiểm tra và phát hiện những cá thể linh trưởng, thú nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và cả những con voọc đang trong tình trạng bị... cấp đông chờ xẻ thịt hoặc nấu cao.
Cụ thể, ngày 7-2-2017, CAH Mang Yang (Gia Lai) phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra quán tạp hóa của vợ chồng bà Đặng Thị Ngọc Dung (1969), ông Nguyễn Văn Tánh (1970, trú thôn 1, xã A Yun, H. Mang Yang), phát hiện một số cá thể động vật hoang dã đã chết bị đông lạnh trong 2 tủ lạnh của quán. Sau khi lập biên bản và qua trưng cầu tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã có kết luận trong số động vật hoang dã đã bị sát hại chứa trong tủ đông gồm: 4 cá thể voọc chà vá chân xám, 2 cá thể mèo rừng, 1 cá thể khỉ mốc, 1 cá thể khỉ mặt đỏ, 2 cá thể khỉ vàng, 1 cá thể khỉ đuôi lợn và 7 cá thể sóc đen.
Vụ việc đến nay vẫn đang được CQĐT CAH Mang Yang điều tra xử lý. Dù chưa xác định số động vật hoang dã hầu hết nằm trong Sách Đỏ Việt Nam này bị săn bắn ở đâu nhưng ngoài khu vực gần nhất là VQG Kon Ka Kinh ra thì không còn cánh rừng nào còn những loại động vật quý hiếm này.
Ông Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc VQG Kon Ka Kinh thừa nhận: “Vẫn còn tình trạng người dân mang súng, bẫy lén lút vào rừng để săn bắn động vật hoang dã. Dù lực lượng kiểm lâm Vườn luôn tuần tra kiểm soát, nhưng với diện tích rộng mênh mông, tiếp giáp với nhiều huyện như Mang Yang, Kbang, Đắc Đoa khiến việc kiểm soát khó khăn. Chỉ cần 1 dây phanh xe đạp, những kẻ đi săn đã tự chế thành chiếc bẫy siết chặt bất cứ con thú nào.
Bên cạnh đó, súng săn được các đối tượng cất giấu trong rừng nên việc kiểm tra, ngăn chặn là không hề đơn giản. Mỗi đợt tuần tra, lực lượng Vườn phá hàng chục, hàng trăm chiếc bẫy đặt trong rừng cũng như phát hiện, thu giữ nhiều khẩu súng săn tự chế”.
Trước thực trạng này, mới đây, UBND tỉnh Gia Lai đã ban hành công văn chỉ đạo cho các sở, ngành, cơ quan chuyên môn cũng như tại VQG Kon Ka Kinh và Khu Bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng tổ chức xây dựng kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn các loài linh trưởng trên địa bàn. Ngoài công tác tuyên truyền, điều tra, nghiên cứu, khảo sát về bảo tồn các loài động vật hoang dã, đặc biệt là các quần thể linh trưởng đặc hữu, quý hiếm, nguy cấp, UBND tỉnh Gia Lai cũng yêu cầu các đơn vị xử lý nghiêm các hành vi xâm hại đến động vật hoang dã. (Công An TP Đà Nẵng 20/7)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng đã báo cáo lên các cơ quan có thẩm quyền và đề nghị công an vào cuộc làm rõ thông tin một cán bộ bị đe dọa.
Ngày 20/7, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng đã gửi báo cáo ban đầu đồng thời đề nghị Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà (TP Đà Nẵng) vào cuộc xác minh, làm rõ thông tin một cán bộ kiểm lâm bị hai kẻ lạ mặt đến nhà riêng đe dọa, uy hiếp.
Theo báo cáo nhanh từ đơn vị này, khoảng 11h ngày 14/7, có 2 người đàn ông lạ mặt đã đến nhà riêng kiểm lâm viên Nguyễn Hữu V. (Hạt Kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn) ở chung cư Nại Hiên Đông (quận Sơn Trà). Tại đây, 2 người này được cho là đã có những hành vi dọa nạt, uy hiếp gia đình ông V. Thời điểm này ông V. không có ở nhà.
Nội dung đe dọa liên quan đến công việc của ông V. tại Hạt kiểm lâm. Lo sợ sự việc, gia đình ông V. đã không điện báo ông về.
Hiện vụ việc đang được xác minh, làm rõ theo quy định pháp luật. (An Ninh Tiền Tệ và Truyền Thông 21/7)đầu trang(
Ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cho biết đã có thư kiến nghị gửi tới các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước sau hội thảo ‘Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên bán đảo Sơn Trà’ được tổ chức mới đây.
Hội thảo được tổ chức ngày 15.7.2017 do Viện Sinh thái học Miền Nam (trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam) và Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng đồng chủ trì với sự tham dự của gần 190 đại biểu đến từ Văn phòng Chính phủ; Bộ TNMT; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Công an; các đại biểu quốc hội; các vị lão thành cách mạng, nhân sỹ trí thức  và cựu chiến binh thành phố Đà Nẵng; các viện nghiên cứu và trường đại học…
Tại hội thảo đã có 12 báo cáo và 7 tham luận khoa học chứng minh bán đảo Sơn Trà thực sự là một vùng sinh thái đặc thù của Việt Nam nằm trên thành phố Đà Nẵng. Cụ thể, có ít nhất 1.010 loài thực vật và 21 loài nấm lớn, trong đó có 43 loài quý, hiếm theo quy định của Việt Nam và quốc tế. Thảm thực vật ở cao độ thấp hơn 200 mét có vai trò quan trọng bảo vệ an toàn cho loài Chà vá chân nâu.
Sơn Trà có 370 loài động vật (38 loài thú, 160 loài chim, 18 loài lưỡng cư, 52 loài bò sát, 19 loài cá và 79 loài côn trùng), trong đó có 24 loài quý, hiếm theo quy định của Việt Nam và quốc tế.
Có từ 700 đến 1.300 cá thể Chà vá chân nâu. Tình trạng sinh trưởng và phát triển tốt, có nhiều con non trong bầy đàn. Bán đảo Sơn Trà đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bảo tồn nguồn gen và loài trước nguy cơ tuyệt chủng. Loài này phân bố ở tất cả các đai độ cao và sinh cảnh trên bán đảo (kể cả rừng trồng và bãi đá), từ sát mặt nước biển đến độ cao 696m. Bán đảo Sơn Trà có nguồn thức ăn phong phú, đa dạng cho Chà vá chân nâu. Phạm vi kiếm ăn của chúng rất rộng, bao gồm toàn bộ các vùng rừng tự nhiên và trảng cây bụi.
Sơn Trà có khoảng 20 con suối chảy quanh năm hoặc theo mùa. Lượng nước ngầm mà Đà Nẵng hiện được hưởng từ bán đảo Sơn Trà dao động ở mức trên 1.200m3/ngày đêm, là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng cho mọi hoạt động trên bán đảo. Việc bảo vệ Sơn Trà không chỉ là bảo vệ rừng mà còn bảo vệ đất, nước và cả vùng đại dương.
Giới khoa học khẳng định bán đảo Sơn Trà là độc nhất bởi số lượng loài động, thực vật (kể cả loài quý, hiếm, đặc hữu) tập trung cao trên một diện tích rất nhỏ (4.300 ha). Không những vậy, đây là kho cây thuốc tự nhiên với 329 loài, có mật độ phong phú và đa dạng, trong số đó có 8 loài cây thuốc quý thuộc diện bảo tồn cấp quốc gia. Đây là một trong số ít nơi ở Việt Nam là khu bảo tồn thiên nhiên còn có cảnh quan rừng tự nhiên gắn liền với biển.
Thư kiến nghị cho rằng, cần xác định Sơn Trà là một vườn quốc gia thuộc hệ thống rừng đặc dụng của Việt Nam, hoàn trả lại diện tích rừng của bán đảo Sơn Trà đã bị chuyển sang cho việc quy hoạch du lịch; tiến hành khảo sát xác định phạm vi, ranh giới, diện tích chính xác của vườn quốc gia Sơn Trà trên thực địa và trên bản đồ, bao gồm cả hợp phần trên cạn và hợp phần biển ven bờ.
Để làm được việc này, trước mắt các đại biểu hội thảo cho rằng phải giữ nguyên hiện trạng ở Sơn Trà, không xây dựng mới các công trình hạ tầng và du lịch, tháo bỏ ngay 40 móng biệt thự đã xây trái phép. Yêu cầu chủ đầu tư phải thực hiện các biện pháp chống trôi đất xuống biển trước mùa mưa bão 2017.
Các đại biểu và nhà khoa học cũng kiến nghị UBND Đà Nẵng và Chính phủ không quy hoạch bán đảo Sơn Trà thành khu du lịch quốc gia để ưu tiên tập trung cho quy hoạch bán đảo Sơn Trà thành khu bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Đồng thời, thành lập đoàn kiểm tra đánh giá hiện trạng các dự án đầu tư trên bán đảo Sơn Trà để có các giải pháp chấn chỉnh và cải thiện hiệu quả của hoạt động du lịch.
Bên cạnh đó, UBND thành phố Đà Nẵng xem xét, nghiên cứu có thể thành lập Khu dự trữ sinh quyển thế giới Hải Vân-Sơn Trà.
Theo nhận định của chuyên gia, việc bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên bán đảo Sơn Trà có một thuận lợi hết sức to lớn, đó là công tác bảo tồn nằm ngay trong khu vực chiến lược an ninh quốc gia. Sơn Trà hiện đang thực thi nhiệm vụ kiểm soát không lưu và cảnh báo sớm toàn bộ vùng nước Biển Đông, vịnh Bắc Bộ và không phận Đông Nam Á, vì vậy vai trò của quốc phòng đối với vấn đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng sinh học của bán đảo Sơn Trà là rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và giữ gìn bảo vệ an ninh, an toàn xã hội bền vững. (Một Thế Giới 21/7)đầu trang(
Sáng 20/7, ông Nguyễn Đình Lưu – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Khê (Hà Tĩnh) cho biết, đơn vị vừa bắt giữ 3 xe máy vận chuyển gỗ trái phép trên đường mòn Hồ Chí Minh.
Khoảng 4h30" sáng nay, trong lúc cán bộ Hạt Kiểm lâm Hương Khê tuần tra trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh thì phát hiện 3 người đàn ông điều khiển 3 xe máy chạy theo hướng thị trấn Hương Khê – Vũ Quang, vận chuyển 48 thanh gỗ xẻ hình hộp, mỗi thanh dài 1m – 2m, đường kính mỗi thanh khoảng 12cm – 20cm.
Khi các đối tượng chạy đến địa phận xã Phương Điền (Hương Khê) thì bị lực lượng kiểm lâm bắt giữ.
Tại thời điểm kiểm tra, các đối tượng không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ nên lực lượng Kiểm lâm Hương Khê đã đưa tang vật cùng phương tiện đưa về trụ sở lập biên bản tạm giữ để xác minh làm rõ.
Trước đó (từ 6/7/2017 – 18/7/2017), Công an huyện Hương Khê phối hợp với Hạt Kiểm lâm Hương Khê tuần tra trên một số tuyến đường trên địa bàn huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) thì phát hiện bắt giữ 3 vụ tập kết, vận chuyển gỗ trái phép.
Cụ thể, ngày 6/7/2017, tại địa bàn xã Phú Gia, huyện Hương Khê, lực lượng chức năng phát hiện ông Lê Khắc Tường (SN 1940, trú tại xã Phú Gia, Hương Khê) đang thuê một số đối tượng bốc xếp hơn 2,2m3 gỗ tròn (thuộc nhóm N4 – N6) lên xe ô tô mang BSK 38C-017.90 để vận chuyển đi tiêu thụ.
Tiếp đó, vào khoảng 19h30 ngày 10/7/2017, cơ quan chức năng phát hiện Phan Văn Hòa (SN 1979, trú tại xã Hương Vĩnh, Hương Khê) điều khiển xe đầu ngang tự chế có hành vi vận chuyển 8 khúc gỗ tròn, mỗi khúc dài khoảng 3 - 3,5m, đường kính mỗi khúc khoảng 30-35cm.
Ngày 16/7/2017, lực lượng chức năng phát hiện anh Trần Đình Việt (1985, trú tại xóm 10, xã Hương Long, Hương Khê) dùng xe máy kéo theo sau xe lôi bò lốp vận chuyển 8 khúc gỗ tròn, dài khaongr 3,5m – 4m, đường kính mỗi khúc khoảng 25cm – 40cm đi trên đường liên xã Hương Long.
Tại những thời điểm kiểm tra nói trên, các đối tượng đều không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ số gỗ nói trên.
Ông Nguyễn Đình Lưu – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hương Khê cho biết thêm: “Trong quá trình tuần tra, phát hiện, các đối tượng rất manh động, có ý chống đối hoặc để lại tang vật rồi thoát thân nhưng lực lượng chức năng kiên quyết bắt giữ”. (Báo Hà Tĩnh 20/7)đầu trang(
Bên bếp lửa bập bùng, già Guông (SN 1942, ngụ làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kom Tum) trầm giọng kể lại: “Cách đây vài chục năm, già của tôi (cha của già Guông-PV) là một trong những người đã trực tiếp nhìn thấy “người rừng không đuôi”…”
Đó là một buổi sáng tinh mơ, già cùng mấy thanh niên làng chuẩn bị đi đến khu rừng có những bụi song (mây), lượm cây tốt nhất về làm đồ dùng sinh hoạt thì nghe thấy những tiếng hú lạ. Tiếng hú vang vọng cả cánh rừng nhưng không giống tiếng con người, cũng không phải tiếng của thú rừng.
Sau một hồi lâu lần mò, rẽ rừng mà đi, cả nhóm đã tiến sát về nơi phát ra tiếng hú. Xuất hiện trước mắt họ là một nhóm bốn, năm con vật lạ, chúng đang ở giữa bãi song rừng. Chúng có mặt hao hao giống người, vóc dáng nhỏ bằng một thiếu niên Rơ Mâm, cao khoảng hơn một mét, người có lông màu xám, không có đuôi. Điều đặc biệt là chúng đi bằng hai chân như con người, dùng tay để trẻ cây song rừng lấy lõi ăn.
Sau vụ “giáp mặt” người rừng không đuôi ở bãi song, cả nhóm người Rơ Mâm bỏ chạy bán sống bán chết. Về đến tận làng họ mới biết mình may mắn thoát nạn. Chẳng ai bảo ai, nhưng tất cả đều tụ tập ở nhà già làng để báo cho người đứng đầu làng Le biết. Già làng nghe xong liền tiến hành họp cả làng để báo cho già trẻ lớn bé làng Le biết.
Để tránh chuyện xấu xảy ra, già làng còn dặn dò, từ nay khi mọi người đi rừng phải tránh xa khu có những cây song. Đàn bà con gái vô rừng phải đi từng nhóm, có trai làng đi theo và mang theo vũ khí.
Trong nhóm người đi cùng phải có người mang theo tù và (vật dụng báo động của người dân tộc Tây Nguyên - PV), phòng khi phát hiện ra đám con vật lạ kia sẽ báo động cho cả làng biết và có biện pháp ứng phó kịp thời.
Không lâu sau đó, dân làng Rơ Mâm lại được một phen bàn ra tán vào về chuyện một người đàn bà dân tộc Jrai, sống độc thân ở làng bên cạnh đi rừng Chư Mom Ray bắt được một con thú lạ. Con thú ấy chỉ nhỏ bằng cái bắp chuối, có hình thù giống người nhưng lại… không có đuôi. Người đàn bà này đem nó về nhà nuôi nhưng nó chỉ khóc, dỗ thế nào cũng không chịu nín, nó cũng không chịu ăn cháo bắp, cây măng.
Một lần bà này đem con vật lạ ra suối tắm thì thấy nó chộp lấy con nhái ăn ngấu nghiến, nó còn gặm cả ốc suối nữa. Sau một thời gian, con vật lạ này lớn rất nhanh, nhưng nó chén sạch đàn gà của chủ nhà. Nó còn hú về đêm, tiếng hú nghe ghê rợn khiến cả làng Jrai hoảng sợ. Trước áp lực của người dân, sáng hôm sau bà này đã phải gùi lên rừng, thả cho nó đi.
Cũng theo già Guông, cho đến nay, mặc dù cây rừng đã bị lâm tặc tàn phá nhiều, đường xá, giao thông cũng thuận tiện hơn, thế nhưng trong rừng già Chư Mom Ray, trên núi cao vẫn còn nhiều hang sâu, dưới vực thẳm vẫn còn những con suối chưa có người đặt chân đến.
Chỉ cần đi sâu một chút vào rừng sẽ bắt gặp rất nhiều con thú như sóc, thỏ, nai lởn vởn chạy qua ngay trước mặt. Trong rừng cũng có các loại cây quí hiếm có tuổi hàng trăm năm như giáng hương, cẩm lai, gụ, căm xe, sao xanh xuất hiện rải rác ở khắp nơi, nhiều gốc to đến mức cả mấy vòng tay người ôm.
Già Guông nhớ lại, trong khi sự việc “người rừng không đuôi” xuất hiện giữa rừng nguyên sinh vẫn còn đang nóng hổi khiến người đồng bào Rơ Mâm ở làng Le nơm nớp lo sợ thì không lâu sau đó có hai người dân trong làng đi rừng không thấy trở về. Cả làng Le đã đốt đuốc đi tìm mấy ngày liền nhưng vẫn không thấy tăm hơi.
Hàng loạt cuộc họp đã diễn ra ở nhà rông, với hàng loạt ý kiến khác nhau. Trong đó, một người phát biểu được cho là hợp lý và có nhiều người tán thành nhất là hai người mất tích đã bị “người rừng không đuôi” bắt mất. Cũng có người thắc mắc, nó bắt để làm gì? “Người rừng” có thể ăn con nhái, ăn con gà thì cũng có thể ăn con người được”, một người suy luận. Chắc là vậy, mọi người gật gù tán thành.
hế là luồng thông tin “người rừng không đuôi bắt con người về ăn thịt” được lan truyền rộng rãi, ai cũng cho rằng như thế là hợp lô-gic. Sự mất tích bí ẩn của hai người trong làng càng làm cho dân làng Le hoang mang, lo lắng. Sau bữa đó, không một người dân làng Le nào dám bén mảng lên núi Chư Mom Ray nữa. Khi mặt trời vừa xuống núi, nhà nào, nhà nấy then cài, cửa đóng. Đám người lớn không dám ngủ, đốt lửa trông trẻ con cho đến sáng.
Sự việc còn tệ hại hơn khi những con vật trong nhà như gà, dê, lợn bỗng dưng bị mất sạch với những vệt máu dài. Thế là, dân làng đinh ninh thủ phạm của những vụ bắt gà, lợn chính là “người rừng không đuôi”. Chẳng còn ai dám nuôi con vật gì nữa.
Buôn làng khi ấy vắng hẳn những con vật nuôi. Già làng họp dân và đề ra phương án, ban ngày cắt cử một đám thanh niên tự vệ trông trẻ con ở nhà rông, đêm đến một đám khác đốt lửa bảo vệ làng. Cũng thật lạ, từ đó người dân làng Le không còn thấy gì bất thường nữa. Buôn làng trở về những tháng ngày bình yên.
Thời gian trôi qua, chuyện về “người rừng không đuôi” cũng lắng xuống dần. Dân làng Le lại rủ nhau vào rừng hái măng, nhưng không ai dám đi một mình. Cũng không ai còn gặp người rừng nữa. Nhưng tất cả người dân làng Le vẫn tin ở đâu đó trong cánh rừng bạt ngàn kia vẫn có sự tồn tại của “người rừng không đuôi” với lời đồn bắt con người về ăn thịt.
Để hiểu rõ hơn những luồng thông tin xoay xung quanh “người rừng không đuôi”, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông A Dối (SN 1952, thôn trưởng làng Le, xã Mô Rai):
“Đúng là chuyện về “người rừng không đuôi” tồn tại trong đời sống văn hóa của của người Rơ Mâm chúng tôi từ nhiều đời nay. Người dân làng Le vẫn tin ở trong những cánh rừng bạt ngàn kia có sự tồn tại của “người rừng không đuôi”. Và họ tin tổ tiên của mình đã được gặp gỡ loài vật này. Tuy nhiên sự thật về sự tồn tại của “người rừng không đuôi” như thế nào thì vẫn còn đang được các nhà khoa học nghiên cứu và làm rõ”.
Còn chuyện “người rừng không đuôi” bắt con người về ăn thịt chỉ là suy đoán, không có bất cứ một bằng chứng cụ thể nào cả. Theo cá nhân ông A Dối thì rất có thể hai người làng bị mất tích trong rừng do nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất là bị mất mạng do ngã xuống vực sâu, do hổ vồ, hoặc rắn độc cắn. Vì khu rừng quá rậm rạp nên không tìm thấy xác của họ.
Thứ hai là do họ không còn yêu thung lũng Mô Rai, không còn yêu đồng bào Rơ Mâm này nữa nên đã âm thầm rời làng đi. Sợ bị phát hiện nên họ đã chọn cách đi theo đường rừng.
Trên bản đồ địa lý, trong khu bảo tồn rừng Chư Mom Ray thì đỉnh Chư Nâm Rai có độ cao khoảng gần 1.800m. Khí hậu ở đây rất lạnh và từ sau chiến tranh đến giờ rất ít khi con người đặt dấu chân lên vì đỉnh núi này rất hoang sơ, có nhiều thú dữ và đặc biệt là có những đoạn dốc đứng nguy hiểm. Cũng vì khu rừng còn nhiều người chưa từng đặt chân đến cho nên có thể sự tồn tại của các loài vật quý hiếm giống với miêu tả của đồng bào nơi đây.
Trong khi các nhà khoa học vẫn còn đưa ra giả thiết với những nghi vấn từ những chứng cứ cụ thể thì câu chuyện về “người rừng không đuôi” của đồng bào Rơ Mâm vẫn đang được che phủ trong màn sương huyền thoại. (Infonet 21/7)đầu trang(
Hiện nay tổng diện tích rừng tập trung của tỉnh Cà Mau là 92.000 ha, chiếm tỷ lệ 77% rừng của vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỷ lệ che phủ rừng và cây phân tán đạt 24,5%, chủ yếu là rừng ngập nước.
Trong đó có 3 loại rừng chính: Rừng ngập mặn (rừng đước) có diện tích khoảng 54.000 ha, tập trung chủ yếu vào các huyện như Năm Căn, Ngọc Hiển, Đầm Dơi và Phú Tân; Rừng ngập lợ (rừng tràm U Minh Hạ) có tổng diện tích khoảng 37.000 ha, tập trung vào các huyện U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình. Ngoài ra, tại một số đảo như đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc cũng có cây rừng với diện tích khoảng vài trăm ha.
Rừng Cà Mau độc đáo và có giá trị đặc biệt hiếm có nơi nào sánh kịp, trong đó, có vườn quốc gia Mũi Cà Mau, vườn quốc gia U Minh Hạ và rừng phòng hộ ven biển Tây đã được UNESCO công nhận là khu Dự trữ sinh quyển thế giới. Đặc biệt, riêng vườn quốc gia Mũi Cà Mau đã được công nhận là khu Ramsar của thế giới vào năm 2013.
Do tài nguyên phong phú của rừng nên rừng Cà Mau luôn đứng trước nhiều áp lực, tác động tới sự tồn tại của rừng như áp lực chặt phá rừng để nuôi tôm, tình trạng sạt lở đe dọa rừng phòng hộ ven biển, tình trạng cháy rừng tràm trong mùa khô…
Nhằm bảo tồn và phát triển rừng có giá trị quý hiếm trước mắt cũng như về lâu dài, chính quyền địa phương đã chủ động, tích cực triển khai các giải pháp đồng bộ, trong đó chú trọng tuyên truyền, quảng bá nâng cao ý thức bảo vệ rừng của cộng đồng; đổi mới mô hình quản lý rừng theo chủ trương của chính phủ; làm tốt việc quy hoạch và phát triển rừng đến năm 2020; tích cực trồng mới rừng, ưu tiên trồng rừng tràm và rừng phòng hộ ven biển.
Bên cạnh đó, địa phương còn chú trọng hợp lý hóa các chính sách, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia trồng rừng gắn với sản xuất, kinh doanh rừng kinh tế, đầu tư nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu; tăng cường quản lý rừng đước, trong đó có rừng phòng hộ ven biển, tập trung phòng chống cháy cũng như xâm mặn diện tích rừng tràm U Minh Hạ.
Đồng thời, Cà Mau đang từng bước quy hoạch nhằm ổn định dân cư hiện sinh sống trong lâm phần, tiến tới từng bước ổn định cuộc sống cho người dân; xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm chính sách bảo vệ và phát triển rừng . (Báo Ảnh Dân Tộc và Miền Núi 20/7)đầu trang(
Lực lượng kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cho biết, hiện các đối tượng khai thác rừng trên địa bàn rất manh động, sẵn sàng chống trả khi bị phát hiện để cướp lại gỗ.
Xã Vạn Bình là một trong những điểm nóng về khai thác lâm sản trái phép tại huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Từ năm 2016 đến nay, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ đã tổ chức ngăn chặn tình trạng phá rừng tại Dốc Mỏ - Suối Hương, tạm giữ hàng chục m3 gỗ các loại và nhiều phương tiện vận chuyển.
Theo lực lượng quản lý bảo vệ rừng, nguy hiểm nhất hiện nay là các đối tượng lâm tặc ngày càng manh động, sẵn sàng chống trả khi bị phát hiện để cướp lại gỗ.
Diện tích rừng và đất rừng trên địa bàn huyện Vạn Ninh trải dài qua hầu hết các xã. Rừng tiếp giáp nhiều khu dân cư nên tình trạng xâm canh, xâm cư, lấn chiếm đất rừng, tình trạng khai thác lâm sản phổ biến và diễn ra trên diện rộng.
Phương tiện được lâm tặc sử dụng chủ yếu là cưa máy nên tốc độ khai thác gỗ nhanh và phương tiện vận chuyển bằng xe máy nên khó bị phát hiện. Với mức thu nhập cao (từ 700.000 - 800.000 đồng/ngày) khi khai thác rừng nên ngày càng nhiều đối tượng tham gia.
Bên cạnh việc tổ chức chốt chặn, vấn đề quan trọng hiện nay là cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các lực lượng chức năng và lực lượng quản lý bảo vệ rừng với người dân địa phương. Ngoài ra, huyện Vạn Ninh cũng đang triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất, trong đó ưu tiên vận động, chuyển đổi nghề nghiệp cho các đối tượng phá rừng để họ không quay trở lại phá rừng. (VTV 20/7)đầu trang(
Những ngày gần đây, thông tin về hàng trăm cây gỗ ở rừng phòng hộ Xuân Lộc thuộc địa bàn xã Xuân Hưng, huyện Xuân Lộc (Đồng Nai) bị khoan gốc, đổ thuốc độc cho héo úa và chết đang khiến dư luận bất bình.
Theo cơ quan quản lý rừng này thông tin thì hiện tại đã có khoảng 242 cây gỗ dầu, gỗ sao bị chết và héo úa. Mỗi gốc cây có 3 lỗ khoan, mỗi lỗ khoan sâu khoảng 5 cm. Bên trong chứa đầy chất hóa học là thuốc diệt cỏ 2,4D. Sau khi đổ thuốc độc vào, người khoan dùng bông gòn bịt kín miệng lỗ để chất này không trào ra ngoài. Một cách bức tử cây cực tàn ác.
Được biết, Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc được giao quản lý 10.000 ha rừng. Cơ quan này đã giao khoán cho 2.000 hộ dân trực tiếp chăm sóc, bảo vệ cây với điều kiện họ sẽ được thu hoạch gỗ sau 50 năm chăm sóc. Để quản lý gỗ, lực lượng chức năng đánh số thứ tự và kiểm tra bằng hệ thống định vị GPS.
Sự việc xảy ra khiến nhiều người đau lòng vì thương rừng. Có người ngờ vực rằng: “Có phải có kẻ giết cây chết để lấy ánh sáng trồng cây điều? Nhiều nơi làm thế rồi, cơ quan chức năng cần điều tra xử lý nghiêm. Vì rừng phòng hộ này được phép trồng đan xen điều, người muốn thu hoạch điều mà nhẫn tâm thì quả thực khó lường”, bạn Luyến Nguyễn bình luận.
Có người thì trách cứ rằng, bảo vệ rừng mà để cây bị khoan, bơm thuốc độc mà không biết. Tuy nhiên có bạn lại bênh vực khi comment rằng: “Họ canh khuya chui vô rừng khoan thì ai mà biết được. Rừng rộng cả trăm ngàn ha không phải vườn nên bảo vệ làm sao nghe được tiếng khoan. Các cơ quan chức năng nên gấp rút vào cuộc điều tra tìm cho ra kẻ phá rừng và xử phạt thật mạnh tay để đru sức răn đe. Tội này được khép vào tội phá hoại tài sản quốc gia, đến khi xảy ra lũ lụt hạn hán lại đổ tại trời”.
Không chỉ ở Đồng Nai mà nhiều khu rừng quý của nước ta vẫn đang bị tàn phá trong khi cơ quan chức năng loay hoay đủ mọi cách nhưng “không thể nghiêm cấm triệt để” nạn phá hoại này. Thậm chí, nhiều khu rừng bị tàn phá không có đơn vị nào đứng ra nhận trách nhiệm. Hoặc nếu có xử lý thì cũng chỉ là hình thức xử phạt cho có.
Nhiều người vẫn chưa quên vụ phá tổng cộng gần 49 ha rừng tự nhiên thuộc địa bàn quản lý của Hạt kiểm lâm H.Đắk Song (tỉnh Đắk Nông). Vụ việc này chỉ khiến hai cán bộ kiểm lâm H.Cư Jút bị khiển trách, 3 cán bộ kiểm lâm H.Đắk Song (cùng tỉnh Đắk Nông) bị tạm đình chỉ công tác. Hình thức xử phạt này đã từng khiến cộng đồng dậy sóng.
Nếu lần phá rừng này, khi tìm ra thủ phạm cũng chỉ là xử lý cho có thì đó lại là cơ hội để các đối tượng phá rừng tiếp tục tung hoành, phá nát những cánh rừng quý giá còn lại của nước ta. Và lúc đó, ai “giết” rừng thì đã rõ! (Gia Đình và Xã Hội 20/7)đầu trang(
Buông lỏng quản lý, năng lực yếu kém, nhiều chồng chéo trong phân cấp quản lý bảo vệ rừng là những nguyên nhân dẫn đến việc rừng Tây Nguyên vẫn tiếp tục bị suy giảm.
Theo khảo sát của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, chính quyền địa phương các cấp, các chủ rừng và các tổ chức cá nhân được giao quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn 5 tỉnh Tây Nguyên đã để mất khoảng 400.000 ha rừng các loại. Trong tổng số diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao có đến 282000 ha đang bị người dân tranh chấp. Đây là thực trạng đáng báo động trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại Tây Nguyên.
Mới đây, một vụ phá rừng phòng hộ đã xảy ra ngay tại khu vực biên giới thuộc xã Ia Chía, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai. Chỉ đến khi phần lớn gỗ đã bị đưa ra khỏi rừng, vụ việc mới được phát hiện.
Tại điểm nóng của tình trạng phá rừng giáp ranh thuộc xã Hà Tây, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai, lực lượng quản lý, bảo vệ rừng ở đây không thiếu, đường vận chuyển gỗ chỉ có một, nhưng rừng vẫn bị xâm hại từng ngày.
Rừng Tây Nguyên không chỉ bị phá bởi sự liều lĩnh, manh động của các đối tượng lâm tặc mà còn bị xà xẻo bởi không ít doanh nghiệp được giao đất, giao rừng.
Cánh rừng thông bạt ngàn chạy dọc Quốc lộ 28 đi ngang qua xã Quảng Sơn, huyện Đak Glong, tỉnh Đăk Nông, bỗng nhiên chết rụi, lá khô vàng úa.
Dùng những công cụ để đục gốc cây thông sau đó bơm hóa chất vào để cây thông chết từ từ, đây là thủ đoạn triệt hạ rừng tinh vi nhằm lấy đất sang nhượng trái phép của Công ty TNHH Thương mại Nguyên Vũ, một doanh nghiệp được giao rừng để làm dự án quản lý rừng và đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp.
Hiện tỉnh Đăk Nông đang tiến hành thanh tra toàn diện vụ việc này, nhưng chắc chắn đây không phải là trường hợp duy nhất và cuối cùng trên địa bàn tỉnh Đăk Nông, cũng như các tỉnh Tây Nguyên.
Buông lỏng quản lý, năng lực yếu kém, nhiều chồng chéo trong phân cấp quản lý bảo vệ rừng là những nguyên nhân dẫn đến việc rừng Tây Nguyên vẫn tiếp tục bị suy giảm. (VTV 20/7)đầu trang(
Theo thông tin từ  Trung tâm Cứu hộ, Bảo tồn và Phát triển sinh vật (Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng) tính đến ngày 18/07 Trung tâm đã tổ chức tiếp nhận và nuôi cứu hộ 59 cá thể động vật hoang dã.
Ngoài ra, trung tâm đã tiếp nhận từ Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 73,6 kg phong lan, thuộc 11 loài để chăm sóc, cứu hộ và thả vào môi trường tự nhiên tại Vườn Thực vật.
Thống kê cho thấy, có khoảng 40% động vật hoang dã được tiếp nhận để cứu hộ trong hơn 6 tháng đầu năm 2017, có nguồn gốc từ việc tự nguyện giao nộp của người dân địa phương. Đây là dấu hiệu tốt, cho thấy nhận thức của người dân địa phương trong việc bảo tồn đa dạng sinh học đang từng bước được nâng lên.
Cụ thể , đã thả về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng 16 cá thể (cầy vòi hương, khỉ đuôi lợn, khỉ vàng, khỉ mặt đỏ…). Hiện tại, trung tâm đang nuôi cứu hộ 43 cá thể động vật hoang dã tại khu cứu hộ, khu phục hồi chức năng Vườn Thực vật và khu nuôi thả bán hoang dã Núi Đôi. (Tạp Chí Thương Gia & Thị Trường 20/7)đầu trang(
Sở Giao thông Vận tải TP.HCM cho biết sẽ đốn bỏ, di dời 123 cây xanh ở hai dự án mở rộng đường ra vào sân bay Tân Sơn Nhất, gồm 93 cây xanh ở dựu án mở rộng đường Hoàng Hoa Thám và 30 cây xanh ở dự án mở rộng đường Hoàng Minh Giám. (Tuổi Trẻ 20/7)đầu trang(
Có thêm thu nhập từ kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số nhận quản lý, bảo vệ rừng tại tỉnh Kon Tum dần thay đổi.
Với tổng diện tích lâm phần được Nhà nước giao quản lý gần 37 nghìn ha rừng và đất rừng trải rộng trên 14 xã thuộc địa bàn ba huyện: Đăk Tô, Tu Mơ Rông và Sa Thầy (Kon Tum), Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô là một trong những đơn vị triển khai tốt công tác giao khoán quản lý, bảo vệ rừng đến từng cộng đồng dân cư.
Để tạo được niềm tin và sự ủng hộ của đồng bào dân tộc thiểu số tại từng địa phương, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô đã đến từng thôn, làng tuyên truyền, vận động người dân tham gia công tác bảo vệ rừng. Thời gian đầu, bà con còn e dè, sau khi một vài hộ làm tốt công tác nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng và mang lại giá trị kinh tế, giúp xóa đói giảm nghèo.
Đến nay, bà con các thôn, làng sống ven rừng đã chủ động đăng ký tham gia. Nhờ đó, cuộc sống của bà con cũng ổn định hơn, tinh thần gắn kết cộng đồng được nâng lên rõ rệt.
Ông A Đâu, thôn Tu Ben, xã Pô Kô, huyện Đăk Tô được Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô giao khoán 15 ha đất trồng cây thông ba lá. Trước đây, gia đình ông thuộc diện nghèo của xã, từ khi nhận khoán trồng và bảo vệ rừng, cuộc sống gia đình ông đã dần ổn định. Ngoài việc chi trả cho từng hộ tham gia nhận khoán, cộng đồng thôn còn trích một phần tiền dịch vụ môi trường rừng làm quỹ thôn, làng.
Ông A Kôn, trưởng thôn Đăk Giá, xã Đăk Sao, huyện Tu Mơ Rông cho biết, trong năm 2016, cộng đồng thôn đã trích tiền dịch vụ môi trường rừng để sửa nhà Rông, mua lưới B40 làm hàng rào trường mầm non, thăm hỏi những người bị bệnh trong thôn…Trên diện tích trồng rừng được giao khoán, bà con thôn Đăk Rô Gia, xã Đăk Trăm, huyện Đăk Tô trồng xen canh cây mì để tăng thêm thu nhập.
Theo ông A Thu, trưởng thôn Đăk Rô Gia, năm 2016, thôn nhận quản lý, bảo vệ 287 ha rừng. Ông A Thu phân công các đội tuần tra rừng nhằm đảm bảo an toàn cho khu vực rừng nhận quản lý. Sau khi chi trả cho các hộ nhận quản lý, bảo vệ rừng, ông trích 40 triệu đồng từ số tiền dịch vụ môi trường rừng mua tôn, xi măng làm lại nhà Rông kiên cố cho thôn.
Ngoài ra, ông A Thu còn trích tiền quỹ mua muối, gạo phát cho bà con trong các dịp lễ, Tết. Thấy được hiệu quả thiết thực mang lại cho cá nhân và tập thể, bà con trong thôn rất phấn khởi, ai cũng muốn nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Thành Chung, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Đăk Tô cho biết: Đơn vị rất mừng là quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng được bà con địa phương sử dụng vào mục đích cộng đồng, tạo tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong thôn, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ rừng của bà con dân tộc thiểu số. Cây trồng được công ty lựa chọn trồng thay thế tại một số diện tích đất trống, đồi trọc là thông ba lá. Đến nay, cây thông đã được 5 năm tuổi.
Từ khi triển khai giao khoán các diện tích quản lý, bảo vệ rừng cho cộng đồng thôn làng, ý thức bảo vệ rừng của người dân sống ven rừng được nâng lên rõ rệt, qua đó giảm thiểu việc chặt phá rừng làm rẫy của người dân địa phương và các vụ khai thác gỗ trái phép. (Đại Đoàn Kết 20/7)đầu trang(
Trước Kỳ họp thứ 5, HĐND tỉnh (khóa IX), cử tri huyện Phú Ninh tiếp tục lo ngại về tài nguyên rừng bị xâm hại nhưng chậm phục hồi; còn ở Núi Thành người dân mong muốn trả lại sự trong xanh cho cánh đồng Thọ Khương.
Hơn 10 năm nay, cánh cửa vào rừng phòng hộ Phú Ninh rộng mở, cho dù chính quyền các cấp ban hành nhiều chỉ thị quản lý. Cả nghìn héc ta đất rừng bị lấn chiếm trái phép. Hồ sơ giấy tờ đất thuộc Nhà nước quản lý, nhưng trên thực tế dân đã canh tác, trồng rừng năm này qua năm khác.
Tại núi Dương Ba Gò (thuộc thôn Bích An, xã Tam Xuân 1, Núi Thành) vừa qua có một nhóm người dùng máy cơ giới đào đất mở đường để chặt phá rừng keo, rừng phòng hộ Phú Ninh. Ông Nguyễn Anh Quân - Chủ tịch UBND xã Tam Xuân 1 xác nhận, trên địa bàn xã có ít nhất 22,3ha đất do UBND xã quản lý nhưng người dân đã trồng cây hơn 10 năm nay. Chính quyền lúng túng khi tìm cách thu hồi lại diện tích mà người dân trồng cây trên đất của Nhà nước.
Diện tích rừng phòng hộ Phú Ninh do 2 huyện Phú Ninh và Núi Thành quản lý. Theo số liệu, năm 2016, riêng địa bàn huyện Phú Ninh, lực lượng chức năng xử lý 51 vụ vi phạm lâm luật. Về ý kiến khôi phục lại rừng tự nhiên đã mất, theo UBND huyện Phú Ninh, đối với diện tích rừng đã bị phá trước đây, Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh đã tổ chức trồng lại, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên với tiêu chí rừng phòng hộ do Nhà nước hỗ trợ vốn từ các chương trình, dự án.
Ông Nguyễn Xuân Phước - Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Ninh thông tin, đơn vị đã giao khoán toàn bộ diện tích rừng tự nhiên hiện có cho đội bảo vệ rừng, nhóm hộ bảo vệ rừng tại các xã có rừng với tổng diện tích hơn 4.897ha từ nguồn vốn Kế hoạch bảo vệ phát triển rừng và dịch vụ chi trả môi trường rừng. Hiện lực lượng chức năng của huyện Núi Thành và Phú Ninh rà soát, xử lý dứt điểm các trường hợp xâm lấn đất rừng trái phép để mở rộng diện tích trồng rừng.
Trong khi đó, trả lời cử tri Núi Thành về chấn chỉnh việc lén lút xả thải của Khu công nghiệp Bắc Chu Lai ra cánh đồng Thọ Khương (xã Tam Hiệp) gây ô nhiễm nặng môi trường, UBND tỉnh đã chỉ đạo Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai giám sát chặt Công ty TNHH MTV Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Chu Lai thực hiện các yêu cầu theo Kết luận thanh tra số 349/KL-TCMT ngày 27.3.2017 của Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT).
Trong đó, tập trung cải tạo hệ thống xử lý nước thải tập trung của khu công nghiệp đảm bảo xử lý nước thải đạt quy chuẩn cho phép trước khi xả ra môi trường; đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở trong khu công nghiệp. Bắt buộc các doanh nghiệp đấu nối triệt để nước thải vào hệ thống xử lý nước thải tập trung, không được rò rỉ vào hệ thống thoát nước mưa, chảy ra cánh đồng Thọ Khương.
Được biết, hệ thống xử lý nước thải tập trung có công suất 1.900m3/ngày đêm vận hành từ năm 2013, do Công ty TNHH MTV Phát triển hạ tầng Khu công nghiệp Chu Lai làm chủ đầu tư. Hiện có 19/19 doanh nghiệp đấu nối thu gom nước thải về hệ thống xử lý tập trung. Tuy nhiên, từ năm 2013 đến nay, nhiều lần người dân phát hiện nước thải ra cống chảy vào cánh đồng Thọ Khương bốc mùi hôi hóa chất khó chịu, có thời điểm cá chết hàng loạt và lúa không kết hạt. (Báo Quảng Nam 20/7)đầu trang(
Theo báo cáo của Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, trong 6 tháng đầu năm 2017, khu bảo tồn đã phát hiện lập biên bản 36 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng, trong đó, ra quyết định xử phạt 30 vụ, so với cùng kỳ năm 2016, giảm 33 vụ; tình trạng lấn chiếm đất rừng mới không còn xảy ra; hàng rào bảo vệ rừng được bảo vệ tốt; số vụ cháy rừng 3 vụ, giảm 3 vụ so với cùng kỳ năm 2016. (Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 20/7)đầu trang(
Đây là nhận định của PGS. TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục biển và Hải đảo Việt Nam tại Hội thảo chuyên đề “Quản lý hiệu quả mạng lưới Khu Bảo tồn biển tại Việt Nam” do Tổng Cục Thủy sản, Bộ NN&PTNT phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế IIUCN1 tổ chúc tại Đà Nảng mới đây.
Theo PGS. TS Nguyễn Chu Hồi, rùa biển là sinh vật trải qua nhiều sinh cảnh và hệ sinh thái khác nhau trong quá trình di cư phát triển và sinh sản. Giá trị của rùa biển là giá trị toàn cầu. Rùa biển được coi là một trong những chỉ số về sự khỏe mạnh của môi trường biển. Tuy vậy, loài này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Tại Việt Nam, rùa biển mới được đưa vào trong danh mục các loài cần khai thác từ những năm 90 của thế kỷ trước và hiện tại, việc bảo vệ rùa biển ở nhiều địa phương còn nhiều hạn chế. Điều này góp phần làm cho quần thể rùa biển tại Việt Nam bị thu hẹp cả về số loài cũng như số lượng cá thể trong từng loài.
Theo báo cáo công tác bảo tồn rùa biển tại Việt Nam của TS. Chu Thễ Cường (Viện Tài nguyên và Môi trường biển), Vích suy giảm 75%, Đồi mồi và Đồi mồi dứa suy giảm 95%, Rùa da suy giảm 99%. 4 trong số 5 loài rùa biển của Việt Nam đã từng sinh sản, 1 loài chỉ kiếm ăn không sinh sản tại vùng biển Việt Nam.
Trước những năm 1975, rùa biển sinh sản tại 13 trong số 27 tỉnh ven biển. Đơn cử như loài rùa da đã bị suy giảmnghiêm trọng, chỉ còn khoảng 1 - 2 con đẻ trứng mỗi năm tại khu vực miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận các khu vực khác hầu như không có. Các địa phương hiện còn ghi nhận loàirùa da sinh sản là Khánh Hòa và Quảng Trị.
Nguyên nhân được chỉ ra là do tình trạng đánh bắt trực tiếp bằng các phương tiện đánh bắt như: Câu kiều, lưới quàng, nghề lặn, bắt rùa mẹ khi lên đẻ, thu nhặt trứng rùa biển. Đáng chú ý, các hoạt động phát triển kinh tế như: Nuôi tôm trên cát, khai thác cát, phát triển du lịch, rác thải và phát triển cơ sở hạ tầng tại vùng ven biển là những nguyên nhân chính gây nên tác động tiêu cực đến nơi sinh sản của rùa biển.
Ngoài ra, sự gia tăng tiếng ồn và ô nhiễm biển từ dầu thải, chất thải lục địa đã tác động tới các quần thể rùa biển và các loài khác khi chúng ăn, vướng phải, bị thương, bị tắc hệ thống tiêu hóa hay làm giảm diện tích nơi kiếm ăn và sinh sản. Những yếu tố này góp phần làm tăng tỷ lệ rùa biển tử vong tại Việt Nam.
Để bảo vệ các loài trước nguy cơ tuyệt chủng, Việt Nam đã ban hành Kế hoạch Hành động bảo tồn rùa biển giai đoạn 2016 - 2025 nhằm có cơ sở dữ liệu về rùa biển ở Việt Nam.
Hiện tại, Việt Nam đã xây dựng cơ sở dữ liệu về rùa biển; thiết lập bản đồ vùng rùa biển làm tổ đẻ trứng; cứu hộ, chăm sóc rùa con; theo dõi vùng kiếm ăn, sinh cư của rùa biển... Công tác bảo vệ rùa biển được quy định trong các Công ước quốc tế Việt Nam đã tham gia là CITES, Biên bản Thỏa thuận về bảo tồn và bảo vệ rùa biển tại khu vực Đônc Nam Á tháng 9/1999, Biên bản Thỏa thuận về bảo tồn và phát triển rùa biển và nơi sinh sống của chúng tại khu vực Ấn Độ Dương và Đông Nam Á tháng 7/2001.
Cùng với đó, Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) đã quy định nghiêm cấm khai thác, kinh doanh các loài thực, động vật quý, hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ, một số điều khoản thuộc Luật Đa dạng sinh học và Nghị định số 31/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản. Như vậy tất cả các hành vi khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến rùa biển và các sản phẩm từ rùa biển đều vi phạm pháp luật bất kể nó được đánh bắt từ đâu.
Quy định là vậy, nhưng theo các chuyên gia, sự phối hợp liên ngành, phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan quản lỳ Nhà nước chuyên ngành và một số quy định của pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học còn chồng chéo. Đây được xem là nút thắt trong quản lý và bảo tồn loài sinh vật này.
Theo quy định của Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) 2008, Bộ TN&MT chiu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về ĐDSH (Điều 6, Khoản 2).
Tuy vậy, hiện tại, công tác bảo tồn rùa biển tại Việt Nam chủ yếu do các Ban Quản lý Vườn quốc gia, Khu Bảo tồn biển và các Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại các địa phương có biển (thuộc Bộ NN&PTNT) thực hiện. Cùng là một đối tượng bảo tồn nhưng các loài rùa biển lại bị chi phối bởi Luật Thủy sản, Luật ĐDSH, Luật BVMT... với nhiều cơ quan thực thi khác nhau đã làm quá trình thực hiện gặp nhiều trở ngại.
Đã đến lúc cần những hành động mạnh mẽ và quyết liệt trong bảo tồn và phát triển loài rùa biển trước những nguy cơ tuyệt chủng. (Tài Nguyên & Môi Trường 18/7)đầu trang(
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống cháy rừng, phá rừng, đốt rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn, UBND huyện Nậm Pồ thông báo đường dây nóng của Ban Chỉ đạo Bảo vệ và Phát triển rừng huyện, cụ thể: 02153.745067 - Hạt Kiểm lâm huyện; 0977.587.869 - đồng chí Hạng Nhè Ly, Phó Chủ tịch UBND huyện, Trưởng Ban Chỉ đạo; 01696.868.622 - đồng chí Nguyễn Trung Trường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện; địa chỉ Email: kiemlamnampo@gmail.com; Địa chỉ tiếp nhận đơn thư, văn bản: Hạt Kiểm lâm huyện Nậm Pồ.
Thông tin tiếp nhận, xử lý gồm: Thông tin tố giác tổ chức, cá nhân có hành vi đốt, phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản, động vật trái phép; hành vi tiêu cực, tiếp tay cho các hoạt động vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 19/7)đầu trang(
Vườn quốc gia Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập có diện tích hơn 26.000 ha. Đây là khu rừng tự nhiên lớn nhất Bình Phước hiện nay và là nơi bảo tồn nhiều loài động - thực vật quý hiếm trong sách Đỏ Việt Nam.
Để tăng cường bảo vệ rừng, Ban quản lý rừng đã ký hợp đồng với 15 đơn vị nhận khoán, trong đó 11 cộng đồng là người DTTS tại địa phương và 4 đồn biên phòng. Năm 2016, Ban quản lý rừng Bù Gia Mập đã chi 5 tỷ đồng để trả dịch vụ môi trường rừng cho các đơn vị, cộng đồng nhận khoán, bình quân 320 ngàn đồng/năm/ha.
Theo lãnh đạo Ban quản lý rừng Bù Gia Mập, ở thôn Bù Dốt có 25 hộ dân tộc S’tiêng nhận khoán bảo vệ 1.878 ha rừng. Nhờ nhận khoán nên ý thức bảo vệ rừng của người dân nơi đây được nâng cao và không còn tình trạng vi phạm lâm luật như trước đây. Cũng nhờ có kinh phí từ tiền dịch vụ môi trường rừng mà đời sống người dân trong thôn đã được cải thiện. (Báo Bình Phước 20/7)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng: Phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để bảo vệ rừng và phát triển ngành lâm nghiệp.
Ngày 20/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì Hội nghị triển khai Quyết định số 886/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 (Chương trình 886) và tổng kết dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016.
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng nhấn mạnh trong những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phát triển ngành lâm nghiệp bền vững luôn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
Giá trị, sản lượng, hiệu quả từ sản xuất lâm nghiệp tăng cao hơn so với trước đây. Tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất lâm nghiệp đạt 6,57%/năm trong giai đoạn 2013-2016 trong khi giai đoạn 2010-2012 chỉ tăng bình quân 5,03%/năm. Sáu tháng đầu năm 2017, tăng 5,29%, ước cả năm đạt khoảng 6,6%.
Tuy giảm và hiện đã dừng khai thác rừng tự nhiên, nhưng giá trị xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản tăng hơn 2 lần, từ 2,8 tỷ USD/năm giai đoạn 2006-2010 lên 6,52 tỷ USD/năm giai đoạn 2012-2015. Năm 2016 đạt 7,3 tỷ USD, xuất siêu 5,4 tỷ USD; 6 tháng đầu năm 2017 đạt gần 3,8 tỷ USD, tăng 12,7% so với cùng kỳ; ước cả năm đạt 7,6 đến 7,8 tỷ USD. (Giáo Dục VN 21/7)đầu trang(
Trong 2 ngày (19 – 20/7), tại Khách sạn Bình Minh, TP.Phan Thiết, Ban quản lý Chương trình UN-REDD tỉnh Bình Thuận tổ chức hội nghị “Đối thoại/chia sẻ thông tin giữa đại diện người Dân tộc thiểu số và người dân địa phương với Ban Quản lý chương trình UN-REDD tỉnh Bình Thuận”.
Tham dự có hơn 20 người dân đại diện các hộ dân thực hiện Chương trình UN-REDD đang triển khai tại xã Đông Tiến (huyện Hàm Thuận Bắc) và xã Hồng Phong (huyện Bắc Bình).
Chương trình UN-REDD thực hiện tại xã Đông Tiến, Hồng Phong vào năm 2015. Trong những năm qua, chương trình đã hỗ trợ người dân 2 xã dụng cụ thiết yếu phục vụ bảo vệ rừng như: đồ bảo hộ lao động cho những hộ nhận khoán đi tuần tra, kiểm tra rừng; hỗ trợ trang thiết bị bảo vệ rừng, xây dựng chốt bảo vệ rừng… Đồng thời xây dựng và phát triển các mô hình kinh tế như: Trồng keo lá tràm, trồng điều ghép năng suất cao, nuôi dê sinh sản…
Ngoài ra, Chương trình UN-REDD đã mở nhiều lớp tập huấn về kỹ thuật bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; phổ biến pháp luật lâm nghiệp và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi... Từ những hoạt động hỗ trợ sinh kế, Chương trình UN-REDD đã góp phần nâng cao đời sống kinh tế, thay đổi nhận thức của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng...
Tại hội nghị, người dân đã phản ánh một số hạn chế trong quá trình thực hiện. Cụ thể, việc giao cây giống chưa đúng tiến độ dẫn đến thời điểm trồng điều gặp nắng hạn kéo dài dẫn đến tình trạng điều chết một số nơi; Kỹ thuật trồng keo lá tràm chưa phù hợp với thổ nhưỡng ở địa phương dẫn đến tỉ lệ cây sống chưa cao; việc giải ngân vốn thực hiện mô hình lập Quỹ sinh kế xoay vòng còn chậm.
Người dân kiến nghị Chương trình UN-REDD cần tổ chức thêm các buổi tập huấn kỹ thuật tại thực địa để người dân thực hành tốt hơn. Cùng với đó là việc bố trí giống, giải ngân các gói hỗ trợ cần thực hiện đúng như kế hoạch để người dân chủ động trong sản xuất...(Báo Bình Thuận 20/7)đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết, qua phúc tra nghiệm thu diện tích khoán bảo vệ rừng chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2015 của các chủ rừng, đến nay, 30/30 đơn vị chủ rừng nhà nước đã hoàn tất.
Theo đó, tổng diện tích được nghiệm thu là 333.953,09 ha trên tổng diện tích giao khoán 337.278,4 ha. Như vậy đã giảm 2.702,3 ha do trừ bỏ phần diện tích không có rừng như nương rẫy cũ, diện tích không đủ tiêu chí; do phá rừng, cháy rừng, do khai thác trắng và chuyển đổi mục đích sản xuất... Trong các lý do giảm này, đáng lưu ý là diện tích rừng bị phá, bị cháy và thậm chí cả chuyển đổi mục đích sử dụng.
Được biết, trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, các cơ quan chức năng và chủ rừng đã phát hiện và lập biên bản xử lý 3 vụ lấn, chiếm rừng trái phép với 65.113 m2; 176 vụ khai thác rừng trái phép với 657 m3; 10 vụ cháy rừng với 292.155 m2 và 181 vụ phá rừng trái pháp luật.  (Báo Lâm Đồng 20/7)đầu trang(
Thống kê trong 5 năm qua, huyện Đơn Dương đã giải ngân hơn 13 tỷ đồng trồng hơn 341 ha rừng và gần 41.700 cây phân tán trên địa bàn.
Trong đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn Dương trồng hơn 326 ha, Ban Quản lý rừng phòng hộ D’Ran trồng 15 ha, cây giống trồng chủ yếu thông ba lá.
Riêng cây phân tán được trồng dọc theo các tuyến quốc lộ, huyện lộ, liên xã, liên thôn, bờ thửa, công sở, trường học, trạm y tế, khuôn viên đất vườn hộ gia đình, cá nhân… với gần 20.000 cây trồng rừng và 21.700 cây phân tán. Cụ thể gồm các giống cây như: cẩm lai, phượng tím, phượng đỏ, giáng hương, bằng lăng, lim xẹt, me tây, muồng hoa vàng, mai anh đào, thông ba lá, bàng Đài Loan, kèn hồng, sao đen, gõ đỏ…
Ngoài ra, trong cùng thời gian trên, trên địa bàn huyện Đơn Dương có 16 doanh nghiệp trồng gần 2.000 ha rừng kinh tế, thuộc các dự án quản lý, bảo vệ rừng, sản xuất, kinh doanh dưới tán rừng…(Báo Lâm Đồng 20/7)đầu trang(
Ngày 20-7, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tổ chức hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020, tổng kết 4 năm thực hiện dự án Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng dự và chỉ đạo hội nghị.
Bộ NN&PTNT đã thực hiện điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc ở 6.427 xã của 60 tỉnh, thành phố có rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp.
Kết quả cho thấy, tính đến hết năm 2016, cả nước có 14.377.682ha rừng, trong đó rừng tự nhiên là 10.242.141ha, còn lại là rừng trồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân của sản xuất lâm nghiệp đạt 6,57%/năm (giai đoạn 2013-2016); khai thác rừng tự nhiên được quản lý chặt chẽ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm từ 5.546 ha/năm giai đoạn 2006-2010 xuống 2.948 ha/năm giai đoạn 2012-2016.
Mỗi năm, cả nước trồng được 225.000ha rừng tập trung, trong đó hơn 90% là rừng sản xuất; tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 40,7% năm 2012 lên 41,19% năm 2016, năm 2017 ước đạt 41,45%; diện tích được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 225.000ha...
Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng vẫn còn bất cập. Nạn phá rừng, vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép và chống người thi hành công vụ còn xảy ra; kết quả trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, trồng rừng thay thế còn thấp, chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch… Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu đến năm 2020, nâng độ che phủ rừng lên 42% trở lên và phấn đấu xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt giá trị từ 8-8,5 tỷ USD... (Hà Nội Mới 20/7)đầu trang(
Mới đây, Văn phòng Chính phủ đã chuyển đơn kiến nghị lần 4 của Hội doanh nghiệp Hương Khê, gửi Thủ tướng Chính phủ về việc xin giải cứu ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam cho Bộ NN-PTNT xem xét xử lý và có văn bản trả lời cho Hội.
Trước đó, sau lần làm việc với đại diện Bộ NN&PTNT, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam, Tổng cục Hải quan nhưng vẫn không được giải đáp khúc mắc, Hội DN Hương Khê tiếp tục có đơn kiến nghị, xin giải cứu gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN-PTNT và các cơ quan quản lý.
Ông Trần Phát Đạt, Chủ tịch Hội DN Hương Khê cho hay, buổi làm việc với các cơ quan do Tổng cục Lâm nghiệp chủ trì, các bên liên quan đã trả lời không thoả đáng những thắc mắc của DN.
“Buổi làm việc đã kết thúc mà không đưa ra được kết luận nào nên chúng tôi tiếp tục có văn bản kiến nghị tới Thủ tướng”, ông Đạt nói.
rong đơn kiến nghị lần 4, Hội DN Hương Khê tiếp tục nêu, hiện rất nhiều lô gỗ đã nhập khẩu hợp pháp Trắc, Cẩm Lai, gỗ Hương ... bị ách tắc trong khâu xuất khẩu bởi một thủ tục mang tính quản lý hành chính đơn thuần của cơ quan CITES.
“Cơ quan quản lý CITES Việt Nam áp dụng không đúng nội dung Công ước CITES và các quy định pháp luật trong nước đối với mẫu vật gỗ tiền công ước”, văn bản nêu.
Gỗ của các doanh nghiệp đã được nhập về nước có đầy đủ thủ tục, hồ sơ xuất xứ rõ ràng, đã thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Qua hồ sơ gỗ đã đủ căn cứ chứng minh các lô hàng của doanh nghiệp có trước khi được đưa vào quản lý bổ sung theo phụ lục II Công ước quốc tế CITES theo Thông tư 04 nêu trên
Vậy nên hợp đồng mua bán gỗ và chứng từ liên quan chính là tài liệu chứng minh đây là mẫu vật tiền công ước chứ không cần thêm thủ tục hành chính là doanh nghiệp phải ra tận Hà Nội để xin thêm xác nhận của cơ quan CITES.
“Cơ quan quản lý Cites Việt Nam vô ý hoặc cố ý không áp dụng Điều VII Công ước Cites về “Các trường hợp miễn trừ” và Điều 1 Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006. Từ đó việc áp dụng Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ để bắt buộc tất cả các mẫu vật đều phải cấp Giấy phép (hoặc chứng chỉ) CITES là không đúng”, văn bản có nêu.
Văn bản trích dẫn một động thái mới đây của Tổng cục Lâm nghiệp khi trả lời đơn kiến nghị mặt hàng gỗ Giáng hương Tây Phi.
“Văn bản số 828/TCLN-CTVN ngày 06/6/2017, Tổng cục lâm nghiệp lại khẳng định “các lô gỗ Giáng hương tây phi nhập khẩu vào Việt Nam trước ngày 02/01/2017 thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của CITES và khi làm thủ tục thông quan không cần cấp giấy phép CITES nhập khẩu” và đề nghị Tổng cục Hải quan “tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa theo quy định”.
Tại sao cũng là mẫu vật tiền công ước, cùng một cơ quan ban hành văn bản nhưng lại có sự mâu thuẫn trong nội dung trả lời?
Hội DN Hương Khê bày tỏ sự quan ngại khi xin thủ tục cấp phép Cites, ảnh hưởng lớn tới DN, mất cơ hội kinh doanh vì tuy đã ký hợp đồng với bạn hàng, đã nhận tiền cọc nhưng không có CITES thì không được thông quan, không thể thực hiện được hợp đồng và bị phạt bồi thường thiệt hại.
Hội DN đề nghị, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam áp dụng đúng tinh thần điều VII Công ước quốc tế CITES và Điều 1 Nghị định 82/2006/NĐ-CP để miễn trừ cấp giấy phép, chứng chỉ đối với mẫu vật tiền công ước.
Trong trường hợp vẫn áp dụng phải cấp chứng chỉ Cites thì đề nghị giao quyền cho cơ quan kiểm lâm địa phương, để DN đỡ phải ra Hà Nội hoặc TP.HCM, tốn kém, khó khăn. (Vietnamnet 20/7)đầu trang(
Triển khai Đề án trồng rừng theo mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 – 2020, đến nay huyện Tương Dương đã thu được một số kết quả bước đầu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào phủ xanh đất trống, đồi trọc; tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho người dân.
Về xã Tam Quang, men theo những triền đồi, gần như ở đâu cũng bạt ngàn xanh rừng trồng, chỗ đã đến kỳ thu hoạch, chỗ đã 1 đến 2 năm tuổi... Bà Kha Thị Hiền - Phó Chủ tịch UBND xã Tam Quang cho biết: Những năm trước đây, phong trào trồng rừng chững lại do khó khăn đầu ra, bởi Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng, đơn vị bao tiêu sản phẩm cho các hộ trồng trên địa bàn phá sản.
Tuy nhiên, từ khi triển khai thực hiện đề án trồng rừng theo mục tiêu đề ra của Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 - 2020, diện tích rừng trồng tăng khá nhanh. Sau 2 năm triển khai, đến nay đã tăng thêm 600 ha, chủ yếu là trồng keo. Kinh tế rừng đã khẳng định vai trò quan trọng, thực sự là sinh kế của người dân nơi đây.
Theo ông Đặng Đình Hùng ở làng Khe Bố, xã Tam Quang, hiện giá keo nguyên liệu khá cao, trên 1 triệu đồng/tấn, nếu chăm sóc tốt keo có thể đạt năng suất trên 60 tấn/ha. Sau khi trừ chi phí, người dân thu nhập trung bình trên 60 triệu đồng/ha. Vì lợi nhuận cao, nên nhiều hộ trên địa bàn đã tập trung chăm sóc để keo đạt sản lượng cao nhất.
Không chỉ vậy, những diện tích đất ở khu vực sườn đồi, độ dốc cao trước đây bỏ hoang, người dân cũng tận dụng để trồng keo. “Riêng gia đình tôi, vụ vừa rồi, cũng là vụ đầu thu hoạch, từ 15ha keo cho thu trên 1 tỷ đồng. Hiện nay, với sự hỗ trợ giống của huyện, gia đình tôi tiếp tục trồng keo và xem đây là nguồn thu lâu dài”.
Tương tự, năm 2015, ông Nguyễn Cảnh Sơn ở xóm Làng Mỏ, xã Tam Quang, sau khi được hỗ trợ giống đã chuyển toàn bộ 7ha đất trước đây trồng ngô, sắn sang trồng keo. Nhờ tích cực học hỏi kinh nghiệm, đồng thời tham gia các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về trồng keo do các cấp tổ chức, diện tích keo được gia đình ông chăm sóc phát triển tốt.
Theo tính toán của ông Sơn: Một chu kỳ trồng keo mất hơn 5 năm, nhưng không mất công chăm sóc mà chỉ cần trồng và đợi thu hoạch; với diện tích 7ha, sau 3 năm nữa gia đình sẽ thu gần 500 triệu đồng.
Đến xã Yên Hòa, một trong những xã trước đây nằm trong nhóm khó khăn nhất của huyện Tương Dương, những năm gần đây từ trồng rừng, nhiều hộ dân trong xã đã vươn lên khá, và không ít hộ giàu. Theo đó, tỷ lệ hộ nghèo nay giảm còn 38,4%.
Thực hiện sát Đề án của Đảng bộ huyện, xã đã đề ra kế hoạch trồng rừng mới, trong đó, ngoài 505ha rừng trồng trước năm 2015, thì từ năm 2015 đến nay toàn xã đã trồng mới được 350ha, chưa kể trên 40ha người dân tự trồng, đạt trên 100% so với kế hoạch.
Ông Mộng Văn Xính - Chủ tịch UBND xã Yên Hòa, cũng là một trong những hộ trồng keo trên địa bàn cho biết: “Với một loại cây trồng trên đất đồi rừng, chỉ trồng và thu hoạch không phải chăm sóc, thì đây là nguồn lợi rất lớn. Nhờ cây keo mà đời sống người dân được nâng lên. Các hộ trồng keo có mức thu nhập gấp 2-3 lần làm nương rẫy, trồng lúa, có nhiều hộ đã giàu lên nhờ trồng được nhiều keo”.
Đề án trồng rừng giai đoạn 2015 - 2020 của huyện Tương Dương được triển khai tại địa bàn 17 xã với mục tiêu trồng 4.700ha. Đến nay, theo thống kê, trong năm 2016 đã trồng được 1.470 ha, đầu năm 2017 đến nay tiếp tục cấp phát được trên 1 triệu cây giống.
Ông Lô Khăm Kha - Trưởng phòng Nông nghiệp  và PTNT huyện Tương Dương cho biết: Có được kết quả trên, ngoài những chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế lâm nghiệp nói chung, thì đáng ghi nhận đối với nhận thức của người dân và các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương về lợi ích mà kinh tế rừng đem lại, thúc đẩy người dân đầu tư trồng rừng để phát triển kinh tế.
Đặc biệt, việc giao đất lâm nghiệp cũng đã giúp người dân chủ động sản xuất trên mảnh đất được giao. Việc đầu tư xây dựng, nâng cấp mạng lưới giao thông, tạo thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông hàng hoá trong đó có lâm sản, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm...
Tuy nhiên, một thực tế cho thấy trong phát triển kinh tế rừng trên địa bàn Tương Dương vẫn còn khó khăn nhất định: Trước đây, UBND tỉnh đã phê duyệt quy hoạch vùng trồng nguyên liệu của huyện Tương Dương cho Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng, nhưng hiện nay Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng bị phá sản, nên vùng nguyên liệu không được đầu tư, triển khai thực hiện. Trong khi đó, mặc dù hiện nay bà con không phải lo đầu ra, nhưng huyện Tương Dương chưa được tỉnh phê duyệt quy hoạch vùng trồng rừng nguyên liệu cho Nhà máy chế biến gỗ MDF.
Ông Hồ Mạnh Đức, ở xóm Làng Mỏ, xã Tam Quang - một trong những hộ trồng rừng, cho rằng: “Những hộ trồng rừng như chúng tôi rất thiệt thòi so với những hộ được nằm trong vùng nguyên liệu. Chúng tôi không được nhà máy cho ứng trước không tính lãi suất ngân hàng các khoản tiền: cây giống, phân bón, thuốc diệt mối, hỗ trợ đầu tư thiết kế kỹ thuật, khuyến nông cho người trồng rừng, hỗ trợ cước vận chuyển…
Vấn đề này, qua trao đổi ông Kha Văn Ót - Phó Chủ tịch UBND huyện Tương Dương cho biết: “Trên cơ sở làm việc với Công ty CP Lâm nghiệp Tháng Năm, hiện chúng tôi đã trình UBND tỉnh thu hồi 13.838,4 ha đã quy hoạch cho Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng và rà soát lại quy hoạch, diện tích để tăng mức tối đa diện tích có thể trồng rừng nguyên liệu tập trung để bổ sung quy hoạch cho Nhà máy chế biến gỗ MDF Nghệ An. Đến lúc đó, ngoài những chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế lâm nghiệp nói chung, người trồng rừng trên địa bàn sẽ trực tiếp được hưởng lợi từ những chính sách của nhà máy”.
Như vậy, cùng với việc chờ UBND tỉnh xét cho vào vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu cho Nhà máy chế biến gỗ MDF, thì việc đề án được xây dựng trên cơ sở những điều kiện tiềm năng, lợi thế và sự rà soát, phân tích nhu cầu thực tế của thị trường, có cơ chế, chính sách phù hợp, khuyến khích người dân phát triển kinh tế rừng, tin rằng đề án trồng rừng nguyên liệu không những tạo vận hội cho nghề trồng rừng, mà còn giúp lấy lại niềm tin của bà con vào hướng phát triển kinh tế rừng, góp phần tạo bước phát triển kinh tế bền vững trên địa bàn huyện Tương Dương. (Báo Nghệ An 20/7)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Khu rừng vẫn nguyên vẹn từ kỷ băng hà được tìm thấy ở ngoài khơi Alabama, Mỹ, hé lộ khung cảnh Trái Đất thời tiền sử.
Rừng cây bách dưới nước có niên đại từ kỷ băng hà cách đây hơn 50.000 năm khi mực nước biển thấp hơn 120 m so với ngày nay, theo bộ phim tài liệu "The Underwater Forest" của phóng viên môi trường kiêm nhà làm phim Ben Raines. Khu rừng nằm dưới đáy biển ngoài khơi thành phố Gulf Shores, bang Alabama, Mỹ, thuộc vịnh Mexico, Live Science hôm qua đưa tin.
Raines biết về khu rừng qua lời kể của Chas Broughton, chủ một cửa hàng đồ lặn ở địa phương. Cách đây vài năm, Broughton là người đầu tiên phát hiện khu rừng ở ngoài khơi cách Mobile, Alabama, hơn 20 km, cách mặt biển khoảng 18 m. Khi lặn xuống để nhìn kỹ hơn, Broughton trông thấy những gốc cây đồ sộ vươn cao bên lòng sông cổ đại ăn sâu vào đáy biển. Giống như rạn san hô, các thân cây trở thành ngôi nhà cho hàng nghìn loài sinh vật biển khác nhau.
Raines hợp tác với nhà cổ khí tượng học Kristine DeLong ở Đại học Louisiana để tìm hiểu về khu rừng, đồng thời cố gắng bảo tồn kỳ quan tự nhiên này. Cuộc thám hiểm khoa học đầu tiên tới khu vực diễn ra năm 2012. Sau đó, DeLong và cộng sự tiếp tục khám phá những bí mật của khu rừng. Điều kiện độc đáo giúp bảo quản khu rừng trong trạng thái hoàn hảo. Nơi đây được cho là khu rừng kỷ băng hà duy nhất ở ven biển được bảo tồn trên thế giới, ẩn sâu dưới làn nước biển.
Cây bách thường phân hủy sau khoảng 10.000 năm. Nhưng tại khu vực, những cây bách tồn tại lâu hơn gấp nhiều lần nhờ trầm tích bao gồm bùn và cát có nồng độ oxy thấp, giúp ngăn cản vi khuẩn phân hủy gỗ, DeLong giải thích. Rừng cây bách khổng lồ cổ đại còn tươi tới mức nhiều thân cây vẫn rỉ nhựa khi bị cắt. Phần lớn thân cây phủ đầy hải quỳ và những đàn cá. Những cây gần đây nhất mọc từ 50.000 năm trước, biến khu rừng thành rừng cây dưới nước lâu đời nhất thế giới.
Trong khi phân tích khu vực, các chuyên gia xác định niên đại vòng cây, nhà địa chất học và cổ sinh vật học thuộc nhóm DeLong thu thập nhiều thông tin hiếm về khí hậu kỷ băng hà, lượng mưa, côn trùng và thực vật, góp phần xây dựng góc nhìn mới về Trái Đất trước khi con người định cư.
Nhóm nghiên cứu nhanh chóng xác định các mẫu cây thuộc loài cây bách mọc ở đầm lầy nước ngọt có nhiều mấu giúp cây đứng vững dưới bùn tương tự những cây mọc ven vịnh Mexico hiện nay. Họ lấy mẫu lõi cây để nhờ Grant Harley, chuyên gia nghiên cứu vòng cây ở Đại học Nam Mississippi, phân tích. Tất cả vòng sinh trưởng, nhựa cây và sợi gỗ vẫn có thể quan sát rõ trên gốc cây. "Khi lia lưỡi cưa qua mẫu vật, bạn có thể ngửi thấy mùi nhựa như đang cắt một thân gỗ tươi ngày nay", Harley nói.
Ban đầu, các nhà khoa học cho rằng rừng cây khoảng 10.000 năm tuổi dựa trên độ sâu của khu vực, nhưng kết quả xác định tuổi trầm tích xung quanh bằng carbon chỉ ra khu rừng có niên đại từ kỷ băng hà hơn 50.000 năm về trước.
Dưới kính hiển vi, các vòng sinh trưởng mỏng hơn trên cây bách trọc hiện đại, chứng tỏ cây chịu áp lực môi trường cao hơn. Các cây ngày nay có điều kiện phát triển ổn định nên thường có vòng cây dày hơn và đều đặn hơn.
Dữ liệu vòng cây hé lộ tất cả cây bách trong rừng sinh trưởng và chết đi trong khoảng thời gian 500 năm, với nhiều thời kỳ trải qua áp lực. Chúng chết ở cùng một thời điểm. Nhóm nghiên cứu cũng cố gắng phân tích phấn từ trầm tích gần các cây và phát hiện môi trường thay đổi khá đột ngột.
Ở thời kỳ phát triển đỉnh cao, vùng châu thổ sông tạo thành từ đồng cỏ, sau đó nhường chỗ cho rừng cây bách. Khi mực nước biển tăng lên, đồng cỏ tiến dần vào nội địa. Triền cỏ sát mép nước mọc lui vào bờ, trước khi nước biển dâng cao nuốt chửng toàn bộ khu rừng.
Nhóm nghiên cứu vẫn đang tìm hiểu sâu hơn về khí hậu cổ đại ở kỷ băng hà này. Nhưng giống như mọi vật dưới đại dương, thời gian tồn tại của khu rừng ngập dưới nước không còn lâu. Nếu các trận bão và thủy triều tiếp tục phơi bày khu rừng, nó sẽ dần bị những con hà và vi khuẩn ăn mòn, Raines cho biết.
Các nhà nghiên cứu đang làm việc với cơ quan liên bang như Cục quản lý năng lượng biển và Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA) để biến nơi đây thành khu bảo tồn biển. (Vnexpress 20/7)đầu trang(./.