|
Ngày 20 tháng 04 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Như thông tin đã đưa, đám cháy rừng tại khu vực bản Nậm Pọng, xã Mường Đăng, huyện Mường Ảng xảy ra vào trưa ngày 18/4, đến nay đã hoàn toàn được khống chế.
Để đám cháy không lan trên diện rộng sang khu vực rừng già, gần 200 người thuộc các lực lượng đã được huy động tham gia chữa cháy; trong đó có 109 người là cán bộ công chức thuộc các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể của huyện, hơn 70 người là nhân dân địa phương. Có nhiều người đã tham gia chữa cháy trong vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn trước đó cũng vẫn tình nguyện tham gia.
Với sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền và nhân dân huyện Mường Ảng, đến 23h cùng ngày, đám cháy dài khoảng 500m đã hoàn toàn được khống chế. Sáng ngày 19/4, trên địa bàn huyện Mường Ảng đã có mưa nhỏ nên nguy cơ cháy rừng giảm từ cảnh báo cấp 5 xuống cấp 2. Tuy vậy, lực lượng chữa cháy vẫn triển khai phát đường băng cản lửa để bảo vệ các khu rừng lân cận.
Đồng chí Trần Thanh Hà, Bí thư Huyện ủy Mường Ảng thường trực tại hiện trường cho biết: huyện vẫn tiếp tục tăng cường lực lượng cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng là cán bộ công chức các đơn vị ngành dọc và lực lượng dự bị động viên đang tham gia khóa huấn luyện cũng sẵn sàng chờ lệnh. (Báo Điện Biên Phủ 19/4) ) đầu trang(
Cục Kiểm lâm vừa đưa ra cảnh báo, 20 địa phương trong cả nước có nguy cơ cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm trong đó có tỉnh Đồng Nai. Ngoài ra nhiều địa phương trong danh sách có nguy cơ cháy rừng cấp nguy hiểm.
Theo đó danh sách 20 địa phương có nguy cơ cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm gồm: An Giang, Bình Định, Bình Phước, Bà Rịa, Bình Thuận, Cà Mau, Điện Biên, Đăk Lăk, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Kiên Giang, Kon Tum, Long An, Lai Châu, Ninh Thuận, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Sơn La.
Cụ thể trên địa bàn Đồng Nai, các huyện có nguy cơ cháy rừng cấp cực kỳ nguy hiểm là: Long Thành, Nhơn Trạch, Tân Phú, Định Quán và Vĩnh Cửu. Cục Kiểm lâm cảnh báo, nhiều khu vực đã lâu ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng. Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các cánh rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh.
Ban chỉ đạo Nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 yêu cầu Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng, Ủy ban nhân dân các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương có cấp cảnh báo nguy cơ cháy rừng cấp 4, cấp 5 thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Nai 19/4) ) đầu trang(
Cả nước có 20 tỉnh, thành phố có cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm; 8 tỉnh có cảnh báo cháy rừng ở cấp IV, cấp nguy hiểm.
Theo cảnh báo của Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), hiện nay, tình hình nắng nóng, khô hạn dang diễn ra gay gắt trên phạm vi cả nước, đặc biệt tại các tỉnh khu vực Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nhiều khu rừng đang ở cấp cảnh báo cháy rừng cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Cụ thể, hiện cả nước có 20 tỉnh, thành phố có cảnh báon nguy cơ cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm; 8 tỉnh có cảnh báo cháy rừng ở cấp IV, cấp nguy hiểm.
Do đó, Cục Kiểm lâm yêu cầu các địa phương có cảnh báo cháy rừng thực hiện ngay các biện pháp phòng, cháy chữa cháy rừng theo quy định; sẵn sàng chuẩn bị lực lượng, phương tiện theo phương châm 4 tại chỗ phù hợp với từng khu vực, để kiểm soát tình hình, kịp thời khống chế nhanh nhất các trường hợp xảy ra cháy rừng, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn.
Bên cạnh đó, tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn hướng dẫn nhân dân canh tác nương rẫy theo đúng quy hoạch; quy định cụ thể khu vực cấm đốt nương làm rẫy và những hành vi dùng lửa khác; có phương án kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng tại các khu rừng trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng.
Ngoài ra, các lực lượng liên ngành (kiểm lâm, công an, quân đội) thực hiện quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; có các phương án đảm bảo lực lượng, vật tư, trang bị và hậu cần theo phương châm 4 tại chỗ, thường trực tại địa phương để sẵn sàng phối hợp, ứng phó trong trường hợp xảy ra cháy rừng.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Chỉ thị yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố tổ chức thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; trong đó tập trung vào xây dựng triển khai phương án huy động lực lượng, phương tiện, chỉ huy, hậu cần trong trường hợp xảy ra cháy lớn. Kip thời xử lý các tình huống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ, xác định rõ khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng và cháy lớn theo mức độ kiểm soát của chủ rừng, thôn, xã, huyện.
Chỉ đạo lực lượng ứng trực 24/24 giờ; bố trí lực lượng canh phòng, kiểm soát chặt chẽ người vào những khu vực rừng có nguy cơ cháy cao, tạm dừng các hoạt động xử lý thực bì bằng dùng lửa trong suốt thời kỳ cao điểm cháy rừng. Xử lý nghiêm những vi phạm quy định phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật.
Theo Cục Kiểm lâm, trong những ngày qua, đã liên tiếp xảy ra các vụ cháy rừng nghiêm trọng trên địa bàn các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái, Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng Nai... gây thiệt hại lớn về rừng, môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. (Bnews 19/4) ) đầu trang(
Rừng U Minh Hạ, Cà Mau đang "oằn mình" hứng chịu nắng hạn gay gắt chưa từng có. Các kênh nhỏ trong rừng đã khô cạn nước. Với mực nước ít ỏi còn sót lại trên các tuyến kênh chính hiện nay, việc chữa cháy chỉ có thể thực hiện ở những phần rừng, cách mé kênh trục không quá 150m.
Mỗi ngày, mực nước tại rừng U Minh Hạ lại tiếp tục xuống thấp khoảng 1 - 2cm. Theo ngành kiểm lâm Cà Mau, nếu xảy ra cháy lớn trong vùng lõi, nơi khô cạn sẽ không đủ nguồn nước để chữa cháy.
Nắng nóng gay gắt ngay từ đầu mùa khô, khiến toàn bộ 40.000ha rừng tràm U Minh Hạ đứng ở mức báo cháy cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm. Trong khi đó, phương án bảo vệ rừng hiện nay không thể làm gì khác hơn là tăng cường tuần tra, phát hiện kịp thời để có thể dập tắt đám cháy. (Đài Truyền Hình Việt Nam 19/4) ) đầu trang(
Từ đêm 18 cho tới sáng 19/4, những trận mưa bắt đầu xuất hiện trên diện rộng khắp các địa phương của tỉnh Điện Biên sau nhiều tháng khô hạn. Mưa “vàng” đã làm giảm đáng kể nguy cơ cháy rừng sau khi hàng loạt vụ cháy rừng liên tiếp xảy ra trên địa bàn tỉnh Điện Biên nhiều ngày qua.
Ông Hoàng Thanh Hải, Chủ tịch UBND huyện Mường Ảng (Điện Biên) cho biết: Từ ngày 12/4 đến nay, toàn bộ lãnh đạo Huyện ủy, UBND và hơn 1.500 lượt người thuộc tất cả các cơ quan, đơn vị và nhân dân địa phương phải thường trực trong rừng sâu để chữa cháy rừng. Những đám cháy liên tục xảy ra 3 đợt tại các khu vực rừng đã chết rét vì băng giá hồi đầu năm, thuộc các bản Chăn Nuôi, Nậm Pọng (xã Mường Đăng).
Sau khi dập tắt đám cháy từ ngày 18/4, tiến hành làm xong các đường băng cản lửa tránh để đám cháy tiếp tục bùng phát và lan rộng, đến sáng 19/4 mưa xuất hiện đã làm giảm đáng kể nguy cơ cháy rừng đang có khả năng bùng phát trở lại.
Tại các huyện Mường Chà, Tuần Giáo, mưa đã xuất hiện trên diện rộng từ đêm 18 và rạng sáng 19/4. Lượng mưa nhỏ nhưng kéo dài đã làm giảm đáng kể nguy cơ cháy rừng được cảnh báo ở cấp độ 1, cấp nguy hiểm nhất. Đây là những địa phương chịu thiệt hại lớn nhất về rừng trong đợt rét đậm, rét hại và băng giá, khiến hàng ngàn ha rừng gẫy đổ và chết khô. Nhiều khu vực cành cây, lá khô phủ trên mặt đất dày trên 1m khiến cho nguy cơ cháy rừng bùng phát và lan rộng hơn bao giờ hết.
Tại huyện Mường Nhé, khu vực từ nhiều ngày qua đã xuất hiện các đám cháy rừng nhỏ, rải rác kéo dài từ trung tâm thị trấn đến xã Lenh Su Sìn. Ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Mường Nhé cho biết: Sau nhiều ngày huy động lực lượng tham gia, các đám cháy rừng đã được dập tắt, cộng thêm các trận mưa nhỏ rải rác từ ngày 17 đến nay, nguy cơ cháy rừng đã giảm xuống đáng kể.
Tại thị xã Mường Lay, trong đêm 18/4 đã xuất hiện trận mưa đá kéo dài khoảng 10 phút. Trận mưa này không gây thiệt hại cho hoa màu và góp phần làm giảm phần nào nguy cơ khô hạn, giảm mức độ nguy cơ cháy rừng cho địa phương này. Đến thời điểm này, tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Điện Biên bắt đầu hửng nắng. (Bnews 19/4) ) đầu trang(
Tại Quảng Ngãi, hiện đang bước vào mùa khô, thời tiết nắng nóng, đồng nghĩa với đó là nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn. Hơn bao giờ hết, công tác phòng, chống cháy rừng trở thành nỗi lo cấp bách của các địa phương và ngành chức năng.
Rút kinh nghiệm từ những năm trước, năm nay các ngành chức năng và lực lượng phòng, chữa cháy rừng tại cơ sở đã chủ động phòng ngừa, chuẩn bị lực lượng, phương tiện ứng phó với mọi tình huống khi có cháy rừng xảy ra.
Những ngày qua, tại các xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi lực lượng kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Khu Đông và Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Ba Tơ đã tăng cường tổ chức kiểm tra các chủ rừng về công tác phòng, chữa cháy rừng. Tổng diện tích có rừng trên 13 nghìn ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên trên 9 nghìn; rừng trồng trên 4 nghìn ha nên việc cháy rừng sẽ ảnh hưởng lớn đến tài sản của đơn vị và nhân dân trong vùng.
Lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng đã tổ chức cho công nhân phát băng trắng, dọn sạch thực bì cạnh khu vực rừng để tránh sự lây lan của lửa. Triển khai các tình huống giả định cháy do đốt rẫy, huy động lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ chữa cháy kịp thời tránh lây lan ra diện rộng. Hạt kiểm lâm Ba Tơ còn chủ động phối hợp giữa các lực lượng trên địa bàn huyện phòng chống cháy rừng, góp phần bảo đảm an toàn cho các diện tích rừng trong mùa khô năm nay.
Từ đầu năm 2016 đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã tổ chức trên trên 30 đợt tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, PCCC rừng và triển khai Quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, với gần 2.000 người tham dự; đồng thời tổ chức tập huấn nghịêp vụ bảo vệ rừng PCCC cho trên 20 hợp đồng bảo vệ rừng.
Hy vọng với sự quyết liệt và nhiều biện pháp phòng cháy, chữa cháy của các ngành chức năng, số vụ, số diện tích rừng bị cháy trên địa bàn tỉnh ta trong thời gian tới sẽ được hạn chế đến mức thấp nhất. (ANTV 19/4) ) đầu trang(
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Ninh Hòa, địa phương có khoảng 4.700ha rừng trọng điểm dễ cháy, chủ yếu là diện tích rừng căm xe tự nhiên ở khu vực xã Ninh Tây và các diện tích rừng trồng chưa khép tán.
Theo ông Lê Văn Đỏ - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã: “Nguy cơ cháy rừng ở Ninh Hòa ở mức cao là do nhiều diện tích rừng trồng gần các rẫy mía, sau thu hoạch người dân đốt dọn nên dễ gây cháy. Bên cạnh đó, một số hộ phát, đốt dọn nương rẫy cũ và tình trạng người dân vào rừng, sử dụng lửa bất cẩn rất dễ dẫn đến cháy rừng”.
Việc địa phương xác định, khoanh vùng những khu vực có nguy cơ cháy cao và nguyên nhân dẫn đến cháy rừng sẽ giúp việc bảo vệ các diện tích rừng trên địa bàn trong mùa khô năm nay hiệu quả hơn. Theo ông Đặng Cửu - Trưởng phòng Kinh tế thị xã Ninh Hòa, trước tình hình hạn hán nghiêm trọng như năm nay, bên cạnh triển khai các biện pháp cấp bách chống hạn, UBND thị xã Ninh Hòa cũng hết sức chú trọng việc phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR).
Theo đó, địa phương đã xây dựng các phương án để ứng phó với từng tình huống trong PCCCR. Các đơn vị chủ rừng, nhất là Ban quản lý rừng phòng hộ Ninh Hòa đã chủ động phát dọn thực bì, duy tu, bảo dưỡng các đường ranh cản lửa, kiểm tra thiết bị chữa cháy.
Ông Lê Văn Đỏ cho biết: “Hạt Kiểm lâm đã tập trung tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia công tác PCCCR; phối hợp với Đài Truyền thanh Tiếp hình thị xã phát các bản tin, nhất là bản tin cảnh báo cháy rừng để nhân dân biết, nâng cao tinh thần cảnh giác. Bên cạnh đó, chỉ đạo các trạm kiểm lâm trực thuộc thường xuyên kiểm tra các vùng có nguy cơ cháy cao; vận động các hộ ký cam kết không để xảy ra cháy rừng khi đốt nương rẫy; cắt cử lực lượng trực cháy 24/24 giờ…”.
Qua kiểm tra công tác PCCCR tại thị xã Ninh Hòa, ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, thành viên Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đánh giá: “Công tác PCCCR của địa phương đã được triển khai một cách tích cực, chủ động. Bên cạnh đó, địa phương cũng có một số cách làm hay như: chủ động đốt dọn thực bì vật liệu cháy trước cao điểm mùa khô, hay việc chuẩn bị đầy đủ phương tiện, lực lượng để phục vụ công tác PCCCR”.
Mặc dù công tác PCCCR đã được thị xã Ninh Hòa chú trọng, tuy nhiên thực tế cho thấy, dụng cụ tham gia chữa cháy còn quá thô sơ; việc sử dụng lửa bất cẩn của người dân vẫn tồn tại. Mặt khác, diện tích rừng của Ninh Hòa khá lớn, lại được phân bố ở địa hình có đồi dốc, hiểm trở, nếu trường hợp xảy ra cháy lớn, việc huy động nhân lực, phương tiện tham gia chữa cháy hết sức khó khăn.
“Trong cao điểm mùa khô, Ninh Hòa được dự báo cấp cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm, vì vậy địa phương cần lưu ý việc trực PCCCR; đơn vị chủ rừng cần đẩy nhanh tiến độ việc làm đường ranh cản lửa; triển khai sớm việc hợp đồng khoán để bảo vệ rừng khu vực Hòn Hèo…”, ông Nguyễn Tuấn Kiệt nói. (Báo Khánh Hòa) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có công văn chỉ đạo các địa phương, đơn vị về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2016.
Cụ thể, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành (là thành viên Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh), UBND các huyện, thị xã, thành phố và các cơ quan liên quan quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường các biện pháp cấp bách PCCCR.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đôn đốc, kiểm tra và theo dõi việc triển khai thực hiện tại các địa phương; báo cáo kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện để UBND tỉnh có chỉ đạo, xử lý; thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo diễn biến tình hình cháy rừng trên địa bàn tỉnh về Văn phòng Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng - Cục Kiểm lâm để phối hợp chỉ đạo và huy động lực lượng chữa cháy rừng trong trường hợp cần thiết.
Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị yêu cầu các địa phương chỉ đạo thực hiện có hiệu quả phương án PCCCR trên địa bàn; tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân trong bảo vệ rừng và PCCCR; xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy định PCCCR… (Báo Khánh Hòa 19/4) ) đầu trang(
UBND huyện Tánh Linh tổ chức cuộc họp giao ban công tác quản lý bảo vệ rừng – phòng cháy chữa cháy rừng qúi 1 năm 2016.
Tham dự có lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Ở huyện ta có đồng chí Nguyễn Đình Lâm – Chủ tịch UBND huyện; đồng chí Lưu Đức Vinh, Phó Chủ tịch UBND huyện.
Trong qúi 1 toàn huyện xảy ra 34 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và quản lý lâm sản, giảm 14 vụ so với cùng kỳ năm 2015. Cũng trong qúi 1 xảy ra 4 vụ cháy, giảm 10 vụ so với cùng kỳ. Toàn huyện không xảy ra điểm nóng về khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, phá rừng trái phép và cháy rừng.
Phát biểu tại buổi làm việc lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, lãnh đạo UBND huyện Phân tích những mặt đã làm được, chỉ ra những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý bảo vệ rừng – phòng cháy chữa cháy rừng qúi 1 năm 2016 và định hướng những nhiệm vụ trong thời gian tới.
Phát biểu tại cuộc họp đồng chí Lưu Đức Vinh cho rằng, mặc dù các đơn vị chủ rừng, các địa phương có rừng, và ngành chức năng chuyên môn đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR nhưng tình trạng vi phạm trên lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng vẫn còn xảy ra.
Do đó, để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ qủan lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng trong thời gian tới, đề nghị Hạt Kiểm lâm, các đơn vị chủ rừng, các địa phương có rừng triển khai thực hiên nghiêm túc, hiệu qủa các phương án của UBND huyện về quản lý bảo vệ rừng, PCCCR rừng năm 2016. Đối với các đơn vị chủ rừng thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhỡ, khắc phục thiếu sót trong quản lý bảo vệ rừng, PCCCR.
Xác định khu vực trọng điểm có nguy cơ dẫn đến phá rừng, cháy rừng, khai thác lâm sản, trái phép…để xây dựng kế hoạch thực hiện quyết liệt có hiệu quả. Thực hiện tốt quy chế phối hợp với các ngành, lực lượng trong công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát, ngăn chặn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Thuận 19/4) ) đầu trang(
Trước tình hình thời tiết liên tục có nắng nóng kéo dài, thời gian này, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) đang được chính quyền và người dân xã Nậm Chà (huyện Nậm Nhùn) triển khai quyết liệt nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra.
Cách trung tâm huyện Nậm Nhùn hơn 30km, xã Nậm Chà có 540 hộ, 3.070 nhân khẩu, chủ yếu là 2 dân tộc Dao, Cống sinh sống. Toàn xã hiện đang quản lý, bảo vệ khu vực rừng rộng hơn 13.000ha. Năm 2015, từ tiền chi chả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) người dân trong xã được nhận hơn 4,1 tỷ đồng, góp phần giúp ổn định đời sống.
Đồng chí Phan Văn Sên - Chủ tịch UBND xã Nậm Chà cho biết: “Những năm qua, nhờ triển khai thực hiện thực hiện quyết liệt công tác quản lý, bảo vệ rừng đã làm thay đổi nhận thức và hành động của người dân về bảo vệ rừng. Người dân thấy rừng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống của mình, tin tưởng và chấp hành nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước. Chính quyền xã còn thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng, PCCCR cấp xã và các tổ, đội xung kích bảo vệ rừng tại 7/7 bản với sự tham gia của các gia đình (mỗi hộ 1 người). Duy trì thường xuyên hoạt động tuần tra, kiểm soát, bảo vệ rừng, đặc biệt là các khu vực rừng trọng yếu, dễ xảy ra cháy rừng trong mùa hanh khô”.
Song song với đó, công tác phối hợp giữa địa phương với lực lượng kiểm lâm được tăng cường: thường xuyên tổ chức nhiều buổi tuyên truyền để người nâng cao ý thức khi sử dụng lửa trong rừng; cử người giám sát, giúp bà con đốt nương trong thời gian cao điểm của mùa khô để đảm không để lửa cháy lan vào diện tích rừng lân cận. Nhờ vậy, từ đầu mùa khô 2015 - 2016 đến nay, trên địa bàn xã không xảy cháy rừng.
Táng Ngá là bản có diện tích rừng lớn nhất (hơn 4.887ha) của xã Nậm Chà. Năm 2015, bản được nhận hơn 1,5 tỷ đồng từ tiền chi trả DVMTR. Trong đó, 88 hộ dân trong bản mỗi hộ được nhận hơn 17 triệu đồng/năm. Được biết, bản có diện tích rừng giáp ranh với bản Pa Tết của huyện Mường Tè, có nhiều thảm cỏ khô rất dễ xảy ra cháy rừng. Chính vì vậy, để tập trung phòng, chống cháy rừng trong mùa hanh khô, bản phối hợp với các tổ chức đoàn thể vận động các gia đình trong bản sẵn sàng các phương tiện, thiết bị cần thiết để tham gia chữa cháy trong trường hợp có cháy rừng xảy ra.
Bước vào đầu mùa khô, bà con trong bản đã cùng nhau phát đường băng cản lửa với chiều rộng 15m tại khu vực giáp ranh. Đặt các biển cảnh báo, biển cấm sử dụng lửa tại những khu vực có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Đồng thời, để đảm bảo công tác cảnh báo, phát hiện khi có cháy rừng, tổ, đội xung kích của bản được chia thành 22 nhóm tổ, mỗi tổ 4 người phân công trực 24/24 giờ tại điểm giáp ranh, thường xuyên đi tuần tra, nắm tình hình và sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống cháy rừng xảy ra theo phương châm “4 tại chỗ”.
Anh Hùng Văn Xuyến (người dân bản Táng Ngá, xã Nậm Chà) cho biết: “Nhận thấy lợi ích từ việc bảo vệ rừng, gia đình tôi và các hộ trong bản hăng hái tham gia trong tổ đội xung kích PCCCR bản và nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong công tác giữ rừng. Thường xuyên cùng bà con kiểm tra, tuần tra, phát hiện và xử lý kịp thời những bất thường xảy ra đối với cánh rừng mà bà con trong bản đã nhận trông coi. Để rừng không bị tổn thương, giữ mãi màu xanh, đem lại cuộc sống ấm no cho người dân chúng tôi”.
Thời gian tới, để thực hiện hiệu quả công tác PCCCR, không chỉ cần có sự vào cuộc của các cấp, ngành mà cả sự ủng hộ và tham gia tích cực của người dân. Bởi vậy, xã Nậm Chà sẽ tiếp tục tuyên truyền để người dân trong bản hiểu được tầm quan trọng và vai trò của rừng đối với cuộc sống, cùng chung sức giữ cho những cánh rừng mãi mãi xanh tươi. (Báo Lai Châu 15/4) ) đầu trang(
Tỉnh Đắc Nông cũng như toàn Tây Nguyên đang “quay quắt” trong đại hạn, hàng trăm nghìn héc-ta cây trồng thiếu nước tưới làm giảm năng suất hoặc mất trắng; hàng chục nghìn hộ dân “khát” nước sinh hoạt. Việc để mất rừng tràn lan là một trong những nguyên nhân làm cho hạn hán diễn ra ngày càng khốc liệt hơn.
Theo thống kê, riêng tại Đắc Nông có hơn 22.000 ha cây trồng bị ảnh hưởng bởi khô hạn; hơn 10.000 hộ gia đình, với khoảng 50.000 nhân khẩu thiếu nước sinh hoạt, thiệt hại về kinh tế ước tính khoảng hơn 1.100 tỷ đồng. Hầu hết các sông suối, hồ đập đều cạn kiệt, nhiều hồ cạn trơ đáy, lòng hồ nứt nẻ. Đi đến đâu cũng gặp cảnh bà con ra sức khoan giếng, đào ao, vét hồ để tìm nguồn nước phục vụ sinh hoạt, cứu cây trồng vật nuôi. Nhưng có nơi đào khoan sâu tới 150m cũng không thể tìm thấy nguồn nước ngầm.
Trước tình hình hạn hán diễn ra gay gắt, tỉnh Đắc Nông đã nỗ lực triển khai những giải pháp giúp nông dân chống hạn. Tuy nhiên ở nhiều vùng do không có nước nên việc hỗ trợ tiền dầu, tiền điện phục vụ bơm tưới không có ý nghĩa. Nông dân trồng các cây công nghiệp lâu năm đang đứng ngồi không yên vì những ảnh hưởng của hạn hán không chỉ giới hạn trong niên vụ này mà còn ảnh hướng lớn đến các niên vụ tiếp theo. Có thể nói, nguồn nước đang là vấn đề sống còn đối với ngành Nông nghiệp các tỉnh Tây Nguyên hiện nay.
Nguyên nhân khô hạn nặng nề được cho là ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, lượng mưa ít, nắng nóng kéo dài, dòng chảy các sông suối giảm mạnh. Tuy nhiên, còn một nguyên nhân rất cơ bản là rừng bị mất quá nhiều, nhất là rừng nguyên sinh và tình trạng hạn hán đã lên đến đỉnh điểm trong mấy chục năm trở lại đây. Hàng loạt sông hồ có thể tích hàng trăm nghìn, hàng triệu mét khối nước đã cạn trơ đáy là minh chứng sinh động cho tình trạng hạn hán kéo dài và sự suy giảm nghiêm trọng mực nước ngầm. Việc rừng bị xâm hại, tàn phá vô tội vạ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng này.
Trong 5 năm qua (2010-2015), diện tích rừng bị mất trên địa bàn tỉnh Đắc Nông lên đến 26.000 ha, diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh, bao chiếm hơn 50.000 ha. Áp lực của tình trạng di dân ngoài quy hoạch ở phía Bắc vào, hay việc đầu tư vào nhiều dự án phát triển, hoặc việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, trong khi công tác bảo vệ, quản lý rừng lại không hiệu quả nên rừng nguyên sinh hiện còn không đáng bao nhiêu.
Diện tích, độ che phủ rừng giảm cũng đồng nghĩa với việc sa mạc hóa ở khu vực Tây Nguyên ngày càng nhanh hơn. Trong những giải pháp chống hạn cho vùng Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắc Nông nói riêng, các nhà khoa học, quản lý đều nhấn mạnh đến giải pháp bảo vệ rừng và trồng rừng thay thế. Bởi, chỉ có giữ được rừng thì mới chống được biến đổi khí hậu, giảm thiểu những rủi ro do thiên tai gây ra.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắc Nông Đỗ Ngọc Duyên cho biết: Việc phá rừng, lấn chiếm đất đai khiến diện tích rừng phòng hộ của Đắc Nông bị suy giảm nghiêm trọng và là một trong những tác nhân gây nên hạn hán. Hiện nay theo chủ trương của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh đã chỉ đạo ngành Nông nghiệp và chính quyền địa phương các cấp các ngành phải tiến hành trồng lại rừng trên diện tích đã bị phá, đặc biệt là rừng đặc dụng, phòng hộ; kiên quyết xử lý các đối tượng lấn chiếm, phá rừng trái phép để thu hồi lại trồng rừng, kể cả các diện tích phòng hộ đầu nguồn, các hệ thống sông suối, các công trình thủy lợi là phải kiên quyết trồng lại rừng để đảm bảo giữ nguồn nước đầu nguồn.
Theo kết quả kiểm kê rừng của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), trong 7 năm (từ 2008 đến 2014) diện tích rừng tự nhiên tại Tây Nguyên đã mất hơn 358.700 ha, tương đương mỗi năm mất hơn 51.000 ha rừng. Trong khi đó, với gần 16.000 ha rừng phải trồng thay thế tại các dự án, toàn vùng mới chỉ trồng được hơn 1.000 ha. Nếu tính riêng về rừng đúng nghĩa thì độ che phủ rừng ở Tây Nguyên chỉ đạt 32,4%.
Bàn về các giải pháp chống hạn lâu dài cho vùng Tây Nguyên, ông Trần Việt Hùng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban chỉ đạo Tây Nguyên cho rằng: Việc quản lý và sử dụng tài nguyên còn nhiều thiếu sót dẫn đến tình hình hạn hán thêm gay gắt và trầm trọng. Tài nguyên rừng có thể được coi là tài nguyên quan trọng nhất của vùng Tây Nguyên, nó giữ và tạo nên nguồn nước. Trong mùa hạn hán từ đầu năm tới nay, mực nước trung bình tích được tại các hồ thủy điện hầu hết giảm xuống chỉ còn 50–60% so với mọi năm.
Trồng rừng là biện pháp rất quan trọng, nhất là trồng rừng thay thế ở những nơi đã có sự tác động để làm thủy điện và các hồ đập. Đặc biệt là những nơi rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn mà diện tích rừng không còn nhưng diện tích đó vẫn quy hoạch là rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn phải nhanh chóng trồng lại rừng chứ không chuyển đất sang các mục đích khác. “Việc trồng và bảo vệ rừng là một giải pháp trước mắt và lâu dài rất quan trọng để hạn chế tác động của thiên tai ở khu vực Tây Nguyên”, ông Hùng nói. (Công An TP.Đà Nẵng 19/4) ) đầu trang(
Mặc dù nhiều diện tích rừng nằm ngay cạnh đường lớn, có điểm nằm cạnh biển cấm đốt, phá rừng, nhưng nhiều nơi ở huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) rừng vẫn bị đốt, phá với quy mô lớn trước sự thờ ơ của các cơ quan chức năng.
Điều đáng nói, những diện tích rừng bị đốt, phá không phải nằm ở nơi xa xôi, khó phát hiện… mà nằm ngay cạnh các đường giao thông lớn. Theo ghi nhận của chúng tôi, dọc 2 bên đường lớn đi qua các xã như Đăk Trăm, Văn Xuôi, đặc biệt là Ngọc Yêu… của huyện Tu Mơ Rông, những khoảnh rừng còn sót lại cây to bị chặt phá, xẻ thành gỗ; những cây gỗ nhỏ hơn thì bị đốt cháy nằm ngổn ngang không thương xót.
Tại xã Ngọc Yêu, bước vào cửa rừng do xã quản lý, đập vào mắt chúng tôi là một tấm biển lớn nằm ngay bên đường của Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông, với nội dung “nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại tài nguyên rừng, lấn chiếm đất rừng”. Nhưng cách tấm biển này chưa đầy 10m là cảnh rừng bị tàn phá không thương tiếc. Tất cả cây rừng từ nhỏ đến lớn đều bị đốt phá trơ gốc, thân cây cháy không hết nằm ngổn ngang dưới đất.
Từ tấm biển “cấm” trên, đi dọc vào tuyến đường Ngọc Hoàng đang thi công đâm xuyên qua rừng phòng hộ Tu Mơ Rông, tình trạng phá rừng diễn ra tràn lan. Con đường được thiết kế từ xã Ngọc Yêu đâm qua rừng phòng hộ đến xã Măng Bút (huyện Kon Plong) mới thi công được vài km nhưng đã có nhiều cây gỗ bị chặt phá, cưa xẻ thành từng phách nằm cạnh đường giao thông.
Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Duy Linh - Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Yêu cho biết, tổng diện tích rừng nằm trên địa bàn xã Ngọc Yêu là 8.000ha, UBND xã quản lý 1.000ha còn lại 7.000ha do Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông quản lý. Việc rừng bị “xẻ thịt” ở khu vực trên ông sẽ cho kiểm tra lại và báo cáo sau.
Còn ông A Đua- Bí thư Đảng ủy xã cho biết, có biết việc phá rừng trên, nhưng đây là dân phá rừng để lấy gỗ làm nhà và cũng có thể là khu vực trên thuộc rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông.
Còn việc nhiều diện tích rừng bị đốt trọc trụi thì được 2 cán bộ xã giải thích, bà con nơi đây có tập tục du canh, sau khi làm rẫy ở khu vực này được vài ba năm, bà con sẽ bỏ đám rẫy đó đi để tìm đám rẫy khác. Khu vực rừng bị đốt phá thực chất là rẫy của người dân họ đã bỏ trước đó 3, 4 năm và bây giờ họ quay lại phát đốt, phát cây để làm rẫy chứ không phải là rừng (?!).
Ông Lê Viết Bảy- Phó Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông khẳng định, khu vực rừng bị đốt, chặt phá không thuộc lâm phần đơn vị quản lý. Còn khu vực rừng được Ban quản lý thì theo báo cáo của cán bộ, nhân viên trong Ban là rừng không hề bị chặt phá. Những người được nhà nước trả lương để giữ rừng vẫn thờ ơ trước "số phận" của những cánh rừng. Vậy ai sẽ cứu rừng đây? (Dân Trí 19/4) ) đầu trang(
Hàng trăm hécta rừng đặc dụng ở Tây Nguyên đã và đang bị đánh đổi để xây dựng Nhà máy Thủy điện (NMTĐ) Thượng Kon Tum và Đrăng Phốk. Nếu mất đi những cánh rừng đầu nguồn này, khí hậu Tây Nguyên sẽ biến đổi và hạn hán, lũ lụt sẽ ập xuống nơi đây trong một ngày không xa. Nhiều vùng đất miền Trung, Nam bộ và Đông Nam bộ cũng sẽ hứng chịu cảnh tương tự.
Năm 2009, tỉnh Đắk Lắk đồng ý cho Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO (TPHCM) lập dự án NMTĐ Đrăng Phốk với công suất 28MW tại tiểu khu 430, 431 và 451, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn.
Dự kiến, diện tích rừng đặc dụng phải chuyển đổi làm NMTĐ này khoảng 63ha, trong đó diện tích chuyển đổi vĩnh viễn 53ha (trải dài theo 9km bờ sông Srêpốk) và chuyển đổi tạm thời 10ha. Theo TECCO, rừng đặc dụng khu vực làm thủy điện này không ảnh hưởng nhiều đến VQG Yok Đôn vì chủ yếu là rừng nghèo và đa dạng sinh học thấp?
Một ngày giữa tháng 4-2016, sau 4 giờ lặn lội qua nhiều cánh rừng rậm rạp, chúng tôi đến được vị trí làm NMTĐ Đrăng Phốk. Từ bến cá ông Lại (nơi dự kiến ngăn đập NMTĐ) nhìn ra xung quanh, đâu đâu cũng thấy những cây bằng lăng cổ thụ cả hai người ôm không xuể. Trên cây bằng lăng cổ thụ sát bờ sông, đoàn khảo sát của chủ đầu tư đã đánh dấu sơn đỏ vị trí làm thủy điện. Bên kia sông Srêpốk, rừng cây cổ thụ dày đặc, sum suê hơn và trải dài xanh thẳm theo dòng sông.
Nhìn bằng mắt thường cũng dễ dàng nhận thấy tính đa dạng sinh học khu vực rừng này không thấp như người ta đã phán. Đoàn chúng tôi khó khăn lắm mới bộ hành qua được những cánh rừng sẽ ngập nước khi NMTĐ ngăn đập. Dưới sông, nhiều người dân địa phương đang chèo thuyền đánh cá.
Ông Phạm Tuấn Linh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm VQG Yok Đôn, kể rằng: Người dân địa phương đã từng đánh bắt được nhiều cá mõm trâu, cá leo… cả hàng chục ký trên sông Srêpốk. Đây là những loại cá quý có tên trong sách đỏ, chúng bơi ngược theo sông Srêpốk từ biển Hồ (Campuchia) qua đây sinh sản. Càng đi, chúng tôi càng gặp nhiều loại gỗ quý như hương, cẩm lai, căm xe… phân bố rải rác khắp cánh rừng này. Rõ ràng, hệ sinh thái rừng đặc dụng khu vực này VQG không hề nghèo nàn như TECCO đã nêu.
NMTĐ Thượng Kon Tum đang được xây dựng ở đầu nguồn sông Đắk Snghé là một trong những dự án thủy điện lớn và sẽ lấy đi hơn 382ha rừng phòng hộ đầu nguồn của tỉnh Kon Tum và khi đi vào vận hành sẽ làm cạn khô sông suối ở hạ lưu vì nó chuyển nước sang sông Trà Khúc (Quảng Ngãi). Dự kiến, nhà máy này sẽ chặn dòng và phát điện vào năm 2018. Tổng diện tích đất để xây dựng thủy điện này khoảng 782ha, trong đó có 414ha đất rừng tự nhiên và 135ha đất sản xuất nông nghiệp thu hồi của 154 hộ dân trong vùng.
NMTĐ Thượng Kon Tum nằm trọn trong cao nguyên Kon Tum với hệ sinh thái phong phú, đa dạng và những cánh rừng đầu nguồn có độ che phủ cao nhất nước, ở các xã Đắk Tăng, Măng Bút (huyện Kon Plông), một phần thuộc các huyện Kon Rẫy, Tu Mơ Rông. Khu vực này có vai trò bảo vệ và điều tiết nguồn nước cho vùng hạ lưu và cả hệ thống sông Sê San.
Trong 414ha rừng tự nhiên chuyển đổi làm công trình này, có tới hơn 382ha rừng phòng hộ đầu nguồn. Theo quan sát của chúng tôi, những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn này rất rậm rạp và có nhiều cây gỗ lớn. Từ trên tỉnh lộ 676 xuống sông Đắk Snghé là những cánh rừng xanh thẳm với hệ sinh thái phong phú và đa dạng.
VQG Yok Đôn có diện tích 115.000ha, nơi đây rất giàu về tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học. Vì thế, khi chuyển đổi rừng đặc dụng ở vùng lõi làm thủy điện sẽ ảnh hưởng rất lớn đến VQG Yok Đôn. Theo ông Phạm Tuấn Linh, nếu dự án NMTĐ Đrăng Phốk thực hiện sẽ gây ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ rừng của VQG. Sau khi nhà máy vận hành, nước hồ dâng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lâm tặc vận chuyển lâm sản bằng đường thủy.
Ngoài ra, trong quá trình thi công có nổ mìn, phá đá sẽ gây ô nhiễm môi trường và tiếng ồn từ nổ mìn sẽ làm động vật hoang dã (như voi, bò tót...) của vườn bỏ đi nơi khác. Khi nhà máy chặn dòng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, sinh sản, môi trường sống của các loài thủy sinh trên dòng sông Srêpốk. Tại hội thảo tham vấn về việc xây dựng thủy điện này được tổ chức tại TP Buôn Ma Thuột vào ngày 23-3 vừa qua, hầu hết các cơ quan chức năng tỉnh Đắk Lắk đều phản đối việc xây dựng NMTĐ Đrăng Phốk trong VQG Yok Đôn.
Ông Phạm Tuấn Linh chia sẻ: ‘’Hệ sinh thái VQG Yok Đôn chủ yếu là rừng khộp, vì thế không thể đánh giá đây là rừng nghèo. Mỗi loại rừng đều có hệ sinh thái riêng và chức năng riêng. Vì thế, không thể nói rừng khộp là rừng nghèo hay không nghèo để chuyển đổi làm thủy điện bằng mọi giá’’. Còn PGS-TS Bảo Huy, Khoa Nông lâm - Đại học Tây Nguyên, cảnh báo: ‘’VQG Yok Đôn là quần thể sinh thái phong phú và đa dạng về sinh học, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của vùng đất Tây Nguyên. Vì thế chúng ta không nên có những tác động tiêu cực vào đây. Nếu cứ đánh đổi rừng đặc dụng để xây dựng thủy điện, chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ chẳng còn VQG’’.
Theo kết quả khảo sát năm 2007 của Viện Sinh học nhiệt đới, quần thể rừng Kon Plông có diện tích hơn 65.000ha, nằm trong khu vực sinh thái vùng núi cao tỉnh Kon Tum và có quần thể rừng đa dạng với 644 loài cây. Khu vực này cũng là nơi cư trú của nhiều loài thực vật, chim, thú, bò sát được đưa vào danh sách các loài bị đe dọa trên phạm vi toàn cầu. Trong khi đó, nơi xây dựng NMTĐ Thượng Kon Tum cũng là vùng có tiềm năng về tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của quần thể rừng Kon Plông, trong đó, khu vực lòng hồ có độ che phủ rừng cao nhất cả nước (85%).
Vì thế, việc xây dựng thủy điện Thượng Kon Tum tại đây sẽ ảnh hưởng bất lợi đối với khả năng phòng hộ, điều tiết nước cho hệ thống sông Sê San và các sông, suối phía Đông Trường Sơn cũng như tiềm năng du lịch sinh thái quốc gia trên cao nguyên Măng Đen. (Sài Gòn Giải Phóng 20/4) đầu trang(
Mới đây, thông tin sẽ triển khai dự án Nhà máy Thủy điện (NMTĐ) Đrăng Phốk khiến chủ rừng Vườn Quốc gia Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk) phải lo lắng vì nhiều hệ lụy sắp diễn ra.
Trao đổi với PV Báo Giao thông, ông Đỗ Quang Tùng, Giám đốc Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn (tỉnh Đắk Lắk) cho biết: “Sau một thời gian im ắng, chúng tôi cứ ngỡdự án NMTĐ Đrăng Phốk đặt trong VQG sẽ không được phép xây dựng nữa. Tuy nhiên, vào tháng 3 vừa qua, tôi có dự một hội thảo lấy ý kiến về đánh giá tác động môi trường của NMTĐ Đrăng Phốk, mới biết, NMTĐ rục rịch tiến hành xây dựng ngay trong vùng lõi của VQG. Thực tế thì Ban quản lý VQG chưa nhận được bất kỳ tài liệu văn bản chính thức nào. Nhưng thông tin chưa chính thống này khiến chúng tôi vô cùng lo lắng. Nếu thực sự NMTĐ được xây dựng thì VQG đang đứng trước hậu quả tổn thương…”.
Theo ông Tùng, NMTĐ triển khai chắc chắn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đa dạng sinh học của khu rừng. Ví dụ, khi thủy điện tích nước sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi thức ăn của động vật rừng ở khu vực diện tích tích nước và sẽ thu hẹp diện tích chuỗi thức ăn của động vật khác...
Ông Phạm Tuấn Linh, Hạt phó Hạt Kiểm lâm VQG đặt vấn đề: “Ai có thể dám chắc việc lợi dụng làm thủy điện để chặt phá cây rừng, vận chuyển gỗ ra ngoài?”. Mặt khác, việc xây dựng thủy điện ngay chính vùng lõi của VQG sẽ diễn ra trong khoảng 2 - 3 năm, trong quá trình thi công có nổ mìn, phá đá sẽ gây ô nhiễm môi trường, lượng xe cộ qua lại gây tiếng ồn làm động vật hoang dã... bỏ đi nơi khác.
Khi nhà máy chặn dòng cũng sẽ ảnh hưởng đến việc di cư, sinh sản, môi trường sống của các loài thủy sinh sôi nảy nở trên dòng sông Srêpốk. “Dòng nước bị ngăn lại sẽ khiến cho nhiều loại cá hiếm quý như cá tai trâu, cá lăng… sẽ không thể di chuyển từ Campuchia vào đến địa phận này để sinh sôi. Đặc biệt, VQG có đặc trưng của loài voi rừng và nhiều loại động vật khác sẽ bị đe dọa lãnh thổ kiếm ăn và diện tích di chuyển“, ông Linh phân tích.
Được biết, tại hội thảo lấy ý kiến đánh giá tác động môi trường của NMTĐ Đrăng Phốk trong tháng 3 vừa qua, hầu hết các cơ quan ban ngành của tỉnh Đắk Lắk đều phản đối việc xây dựng NMTĐ này. Trong khi đó, đại diện Công ty CP Đầu tư xây dựng và Ứng dụng công nghệ mới - TECCO (TP HCM) - đơn vị chủ đầu tư cho biết: Đây là bậc thang thủy điện cuối trên đường sông Srêpốk ít có sự tác động và ảnh hưởng đến xã hội như quá trình định canh định cư.
Trước thông tin này, ông Linh phản biện: “Nếu là thủy điện bậc thang cuối, việc tích nước chắc chắn sẽ dẫn đến ngập nước sang hệ thực vật ở xung quanh bờ sông này. Nếu không ngập nước thì làm sao tạo độ dốc lớn để phát điện năng?!”. (Giao Thông 19/4) ) đầu trang(
Thời gian gần đây, hàng chục hộ dân ở thôn Phước Chánh, xã Mỹ Phong, H. Phù Mỹ (Bình Định) nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan chức năng phản ánh việc Ban quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) H. Phù Mỹ chặt phá, đốt nhiều diện tích rừng tại khu vực RPH đầu nguồn hồ Hóc Sình... để trồng rừng dự án.
Tháng 7-2015, BQL RPH H. Phù Mỹ ký hợp đồng khoán thi công trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ RPH thuộc dự án (DA) phục hồi và quản lý rừng bền vững (gọi tắt: DA JICA 2) với 92 người dân thôn Phước Chánh. Địa điểm thi công trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng tại khoảnh 1, khoảnh 2a, Tiểu khu 160A, xã Mỹ Phong (tức RPH đầu nguồn hồ Hóc Sình) với tổng diện tích 95,48ha.
Theo quy trình kỹ thuật trồng rừng DA JICA 2, việc xử lý thực bì được thực hiện theo băng, các băng song song với đường đồng mức; băng chặt phát rộng 5m để trồng cây; băng chừa rộng 1m để hạn chế xói mòn, rửa trôi. Gốc phát không cao quá 15cm, phát sạch, băm thành từng đoạn ngắn dưới 1m, sau đó xếp vào vị trí tiếp giáp băng chừa và không được đốt. Để lại cây tái sinh có mục đích và những cây gỗ rải rác có đường kính 6cm trở lên (nếu có)…
Do những cá nhân ký hợp đồng khoán trồng rừng không thể thực hiện đúng quy trình kỹ thuật nên ủy quyền cho BQL RPH H. Phù Mỹ tìm và thuê nhân công từ H. Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi) vào địa điểm trồng rừng để thi công DA JICA 2.
Đáng nói, quá trình phát dọn và xử lý thực bì, những người đảm nhận thi công không những chặt, phát cây bụi, dây leo mà còn triệt hạ nhiều cây gỗ lớn; thậm chí, những cây gỗ hàng chục năm tuổi, có đường kính từ 20-40cm cũng bị chặt bỏ không thương tiếc. Sau đó, những người thi công còn đốt thực bì và nhiều cây gỗ đã đốn hạ, khiến rừng bị cháy.
Phát hiện việc làm không đúng quy trình kỹ thuật, nhiều người dân thôn Phước Chánh rất bức xúc nên gửi đơn phản ảnh, kiến nghị đến nhiều cơ quan chức năng. Đồng thời, người dân cho rằng làm như vậy sẽ tàn phá RPH đầu nguồn, ảnh hưởng tiêu cực đến hồ thủy lợi Hóc Sình nên đứng ra ngăn cản trồng rừng; khiến việc trồng rừng bị dang dở. Ông Huỳnh Đây (76 tuổi, trú thôn Phước Chánh), cho biết: “Trước khi thực hiện DA, họ (tức BQL RPH H. Phù Mỹ) tuyên truyền một đằng; nhưng khi triển khai lại làm một nẻo. Việc chặt bỏ, đốt những cây gỗ lớn chẳng khác nào phá rừng”.
Liên quan việc này, UBND H. Phù Mỹ và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định (thuộc Sở NN&PTNT Bình Định) đã tổ chức kiểm tra, trả lời. Tuy nhiên, cả 2 cơ quan mới chỉ khẳng định địa điểm thực hiện DA JICA 2 thuộc khoảnh 1, khoảnh 2a, Tiểu khu 160A, có trạng thái 1B (đất trống chưa có rừng, chỉ có cây bụi và dây leo) chứ không phải “rừng nguyên sinh” như người dân phản ảnh.
Riêng tình trạng nhiều cây gỗ lớn bị chặt bỏ và việc đốt rừng sau khi phát dọn thực bì chưa được đề cập cụ thể, rõ ràng như: ai chặt, đốt và cá nhân, đơn vị nào chịu trách nhiệm đối với việc này. Do đó, người dân chưa “tâm phục” nên tiếp tục gửi đơn kiến nghị đề nghị các cơ quan chức năng làm rõ trách nhiệm những ai liên quan. Bên cạnh đó, một số người đã ký hợp đồng nhận khoán trồng rừng không còn mặn mà trong việc trồng, chăm sóc bảo vệ rừng nên tìm cách “rút lui”.
Từ phản ánh của người dân, chúng tôi tìm về khu vực RPH đầu nguồn hồ Hóc Sình để “mục sở thị”. Theo khảo sát, có hàng chục cây gỗ (đường kính từ 20cm - 40cm) bị chặt phá, đốn hạ. Nhiều gốc, thân cây gỗ bị đốt cháy đen nằm ngổn ngang; một số cây đang đứng cũng bị lửa thiêu rụi, chết khô…
“Người dân chúng tôi không rõ trạng thái rừng 1B là gì; chỉ biết việc chặt phá nhiều cây gỗ lớn và đốt rừng là hành vi phá hoại rừng tự nhiên đã có từ hàng trăm năm nay tại khu vực đầu nguồn hồ thủy lợi Hóc Sình. Tôi đề nghị đại diện lãnh đạo H. Phù Mỹ và các ngành chức năng liên quan trực tiếp về thực địa kiểm tra, sau đó đối thoại, giải thích cụ thể cho người dân”, ông Nguyễn Văn Cừu (68 tuổi, trú thôn Phước Chánh), nêu ý kiến.
Ông Thái Bình Minh, Phó Chủ tịch UBND xã Mỹ Phong, xác nhận: “Việc nhiều cây gỗ lớn tại khu vực rừng triển khai DA JICA 2 bị chặt bỏ và tình trạng đốt rừng sau khi phát dọn thực bì là có xảy ra. Cơ quan CAH Phù Mỹ đang điều tra, xác minh những ai liên quan đến việc này”. Còn ông Bùi Văn Thăng, Giám đốc BQL RPH H. Phù Mỹ, lại cho rằng: Đúng là có những cây gỗ lớn bị chặt bỏ, nhưng đa số các loại cây không có giá trị về mặt kinh tế. Ngoài ra, chưa thể khẳng định những người thi công DA JICA 2 chặt cây, đốt rừng; bởi lẽ không loại trừ khả năng những người ký hợp đồng khoán trồng rừng thực hiện việc này?!
“Hoàn toàn không có chuyện chúng tôi tổ chức, chỉ đạo việc chặt cây, đốt rừng như người dân đã phản ảnh. Tuy nhiên, do không giám sát chặt chẽ quá trình thi công nên đã dẫn đến điều không hay như trên. Chúng tôi nhận thiếu sót, khuyết điểm này”, ông Thăng nói.
Cần khẳng định, JICA 2 là DA trồng, khoanh nuôi rừng bền vững, có nhiều ý nghĩa tích cực trong việc quản lý bảo vệ rừng. Thế nhưng, quá trình thi công không đúng QTKT trồng rừng đã khiến người dân địa phương bức xúc, gửi đơn khiếu nại vượt cấp, kéo dài. Mong rằng, UBND H. Phù Mỹ và ngành chức năng sớm xác minh, làm rõ, xử lý nghiêm những cá nhân, đơn vị liên quan đến việc chặt cây, đốt rừng nhằm ổn định dư luận; cũng như để DA JICA 2 thực hiện hiệu quả, bền vững một cách đúng nghĩa. (Công An TP.Đà Nẵng 19/4) ) đầu trang(
Theo tài liệu còn lưu giữ, đến năm 1993 Lâm trường Bố Trạch còn quản lí diện tích 12.135ha đất rừng trên địa bàn xã Xuân Trạch, thực hiện các hợp đồng giao khoán với các hộ dân, để trồng và bảo vệ rừng theo Dự án 327.
Nhưng sau khi sáp nhập thành lập Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, năm 2009, UBND tỉnh Quảng Bình ban hành quyết định cho Công ty thuê tới hơn 10.000ha, các hộ dân chỉ được giao hơn 1.000ha, nên không đủ đất sản xuất, dẫn đến tranh chấp ngày càng gay gắt với Lâm trường Bố Trạch…
Ông Cao Thế Vĩnh, Chủ tịch UBND xã Xuân Trạch cho biết: Tình trạng tranh chấp đất rừng giữa người dân địa phương với Lâm trường Bố Trạch đã nổi lên từ mấy năm nay. Từ năm 2010, 2011 bà con đã có đơn khiếu kiện. Đất rừng xã Xuân Trạch được UBND tỉnh giao cho Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình quản lí, trực tiếp là Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch. Về chủ trương trồng rừng, Lâm trường Bố Trạch chọn cây keo, là cây có giá trị kinh tế cao. Thấy vậy, bà con cũng có nguyện vọng trồng rừng, nên nảy sinh kiến nghị để được giao đất.
Từ năm 2013 – 2014 trở lại đây, tình hình tranh chấp trở nên rất nóng. Bà con yêu cầu xã phải giành lại đất của Lâm trường để giao cho bà con. Nhưng đất rừng thì UBND tỉnh đã giao cho Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, là đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, để sản xuất, kinh doanh theo chức năng, nhiệm vụ của họ. Vì vậy, người dân địa phương sống gần rừng, nhưng diện tích đất rừng được giao không đáng kể.
Ông Vĩnh cũng xác nhận cuộc sống người dân nơi đây hiện rất khó khăn. Cơn lũ năm 2013 tàn phá hầu hết diện tích đất nông nghiệp trồng hoa màu của bà con, toàn xã có 30ha đất 2 vụ lúa, thì vừa bị cuốn trôi, vừa bị bồi lấp mất khoảng 10 ha. Trước đây nguồn nước mùa khô chỉ thiếu khoảng 1 đến 2 tháng, nhưng nay thiếu nước đến 3 - 4 tháng.
Mặc dù cũng biết tác hại của việc phát rừng trồng cây keo, nhưng Lâm trường làm thì bà con cũng chỉ biết đứng nhìn. Nhu cầu được giao đất rừng của bà con là thực tế, tuy nhiên để hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và người dân, thì thẩm quyền và trách nhiệm thuộc UBND tỉnh, xã và huyện cũng chỉ biết kiến nghị thay bà con.
Tính đến nay, xã mới tiếp nhận 5 quyết định giao đất của UBND tỉnh, tổng cộng gần 1.000ha, trong đó có gần 500ha là đất rừng tự nhiên, địa phương phải giao cho cộng đồng quản lí, xã đang làm thủ tục giao vẫn chưa xong. Trong số diện tích tỉnh giao lại cho địa phương quản lí, thì xã mới chỉ giao cho dân được hơn 100ha, còn lại dân chưa đồng tình.
Vừa rồi xã lập phương án giao đất, nhưng người dân vẫn chưa nghe, vì thực tế diện tích tỉnh giao lại vẫn quá ít. Trước đây các hộ có thẻ di dân được giao khoán 30ha, nay trong số diện tích địa phương được nhận lại, phải rà soát, bóc tách, tính toán để giao cho dân, thì không đủ diện tích. Do đó dân vẫn chưa nghe, tiếp tục khiếu nại. Tỉnh đã có những văn bản trả lời, dân vẫn chưa đồng ý.
Tìm hiểu nguyên nhân gây nên tình trạng tranh chấp đất rừng giữa người dân với Lâm trường Bố Trạch được biết: Năm 2002, UBND tỉnh Quảng Bình quyết định sáp nhập các lâm trường Bắc Quảng Bình, thành lập Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, trực thuộc UBND tỉnh.
Ngày 3/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường Quốc doanh. Trên cơ sở đó, ngày 29/6/2010 UBND tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số 1472/QĐ-UBND, chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, gồm 6 đơn vị thành viên, trong đó có Lâm trường Bố Trạch quản lí địa bàn xã Xuân Trạch.
Trước đó, ngày 9/12/2009, UBND tỉnh Quảng Bình đã kí Quyết định số 3545/QĐ-UBND, cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình (chưa chuyển đổi) thuê 106.579.665m2 (10.657,97ha) đất rừng sản xuất tại xã Xuân Trạch, để sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, thời hạn cho thuê đất đến ngày 16/7/2049.
Đồng thời, quyết định này cũng có nội dung thu hồi 1.953.487m2 (1.953,487ha) đất lâm nghiệp của Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, giao cho UBND huyện Bố Trạch, UBND xã Xuân Trạch quản lí và có kế hoạch giao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình có trách nhiệm thu hồi sản phẩm và bàn giao đất cho địa phương…
Như vậy, số đất lâm nghiệp để lại cho dân quá ít so với diện tích đất cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê. Mặt khác, việc UBND tỉnh Quảng Bình ban hành quyết định cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê phần lớn đất rừng ở xã Xuân Trạch, trong thời gian dài (50 năm), là không phù hợp với quy định của pháp luật, trái với chủ trương giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nhằm phát triển và bảo vệ rừng của Nhà nước. Cần phải khẳng định rằng, chủ trương giao đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân để trồng, khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng, được Chính phủ quy định, là xuyên suốt, về cơ bản không thay đổi.
Bắt đầu từ Quyết định số 327-CT ngày 15/9/1992 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng), về một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng… (gọi là Dự án 327), đã có quy định: Lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy doanh nghiệp quốc doanh hoặc đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa; xây dựng kinh tế vườn đối với hộ gia đình.
Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các hộ với cộng đồng, với các thành phần kinh tế tập thể quốc doanh trên địa bàn nhằm phát triển mạnh sản xuất, bảo đảm lợi ích của mỗi hộ, đồng thời làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước và tập thể;… (Điều 3). Về chính sách giao đất, giao rừng, Điều 6 Quyết định số 327-CT nêu rõ: “Đối với các dự án về trồng các loại rừng: phòng hộ, đặc dụng sản xuất trên đồi núi trọc,… và các dự án về bảo vệ, khoanh nuôi, tái sinh rừng các loại,… mỗi hộ (kể cả đồng bào định canh, định cư) được giao hoặc khoán một số diện tích để trồng mới rừng hoặc để bảo vệ, khoanh nuôi và tái sinh rừng…
Tiếp đó, ngày 15/1/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 02-CP, quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, trong đó quy định rõ tại Điều 1: Đất lâm nghiệp Nhà nước giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài gồm: Đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng; đất chưa có rừng được quy hoạch để gây, trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật.
Điều 2: “Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài… gồm: Rừng phòng hộ; vùng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn… Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản khác…, và kết hợp phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.
Điều 3 quy định rõ: “1- Nhà nước giao đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, có rừng trồng bằng vốn của Nhà nước cho tổ chức theo luận chứng kinh tế kĩ thuật, dự án quản lí, xây dựng khu rừng được cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; cho hộ gia đình, cá nhân theo phương án quản lí, sử dụng rừng được cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, để bảo vệ, phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước;…
Để cụ thể hóa, ngày 12/11/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg, quy định về việc hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp. Trong đó, tại Khoản 2, Điều 8 quy định: “Được phép khai thác khi rừng đạt tiêu chuẩn khai thác và được hưởng 75-85% giá trị lâm sản khai thác sau khi nộp thuế, tùy theo cấp tuổi rừng lúc được giao…”.
Ngày 3/9/2003, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC, hướng dẫn thực hiện Quyết định số 178/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp, trong đó xác định bên giao khoán là các tổ chức nhà nước được Nhà nước giao rừng và đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp gồm: Lâm trường quốc doanh,… Bên nhận khoán là các hộ gia đình, cá nhân và được hưởng các lợi ích từ rừng theo quy định của pháp luật. (Người Cao Tuổi 19/4) ) đầu trang(
H.Sóc Sơn của TP.Hà Nội có 26 xã, thị trấn thì có tới 11 xã có rừng phòng hộ bảo vệ môi trường (gọi tắt là rừng phòng hộ). Nhưng rừng phòng hộ tại phần lớn những xã này đều đã bị chia ô, chia mảnh để xây dựng biệt thự, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng...
Theo khảo sát, tại địa bàn xã Minh Phú có rất nhiều khu vực đã được chuyển đổi từ đất rừng phòng hộ sang đất trồng cây ăn quả (còn gọi là đất vườn quả) để xây biệt thự, khu nghỉ dưỡng bất hợp pháp. Để làm rõ việc mua bán đất rừng trái phép này, chúng tôi tiếp cận với một người tên Đức sống tại khu Lâm Trường.
Người này cho biết: Đất rừng tại vị trí đẹp, chẳng hạn như trên sườn núi, phía trước có hồ nước, tiện đường giao thông... đã được các đại gia ở nội thành Hà Nội mua hết. Còn lại những khu vực khác, vị trí không được đẹp lắm nhưng giá cả vẫn không rẻ hơn là mấy. Riêng đất rừng phòng hộ chưa được chuyển đổi thành đất vườn quả thì còn nhiều. Nhưng khách hàng phải trải qua các công đoạn chạy giấy tờ mất thời gian và tốn kém cỡ 150 triệu đồng.
Sau lời giới thiệu, ông Đức dẫn chúng tôi đến đường phòng cháy tại khu Lâm Trường. Đập ngay vào mắt là con đường dài gần 1 km, nhưng hai bên đã được chia thành lô, mảnh lớn nhỏ. Trong đó đã có gần 10 biệt thự vườn mọc lên ven hai bên đường... Theo lời ông Đức, nếu muốn xây dựng biệt thự, chủ nhân mỗi lô đất này phải chuyển đổi từ đất rừng phòng hộ sang đất vườn quả. Nếu thành công thì người dân sẽ được xây dựng nhà tạm bằng tranh tre, nứa lá trên diện tích 200 - 400 m2. Các đại gia lợi dụng quy định này để xây biệt thự, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, biệt phủ hoành tráng, thay vì dựng nhà tạm bằng tranh tre, nứa.
Còn tại các xã Quang Tiến, Hiền Ninh, Tiên Dược, nhiều biệt thự vườn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng sang trọng… mọc lên dọc theo đường 131 và đường Hồ Đồng Quan. Điển hình như: khu du lịch sinh thái Phúc Lộc Thọ, khu yoga Sóc Sơn, nhà hàng Suối Di, nhà hàng Hương Tràm, khu Văn Lang Quán, hay các biệt thự nằm tại Xóm Trại, Xóm Núi...
Có thể kể tới nhà hàng Hương Tràm với diện tích lên tới nhiều héc ta. Hay khu Văn Lang Quán có diện tích nhiều nghìn mét vuông được xây dựng tiếp giáp với khu vực phòng thủ của quân đội. Điều đặc biệt là những công trình vi phạm trên mọc lên đã lâu nhưng các cơ quan chức năng vẫn chần chừ, không đưa ra biện pháp xử lý dứt điểm.
Sau nhiều ngày tiếp cận các khu vực có đất rừng phòng hộ tại H.Sóc Sơn, PV Thanh Niên ghi nhận một thực tế, đó là hoạt động buôn bán đất ồ ạt, sôi động chứ không “chết yểu” như nhiều người lầm tưởng. Bất kỳ mảnh đất nào, dù là rừng phòng hộ, đất giáp khu vực phòng thủ quốc phòng... thì cò đều cho rằng có thể hô biến thành đất vườn quả. Sau đó chủ đất (người thực chất được chính quyền giao đất rừng để bảo vệ, phát triển) sẽ làm giấy tờ bàn giao cho người mua (nhưng không được công chứng) để xây biệt thự, khu nghỉ dưỡng trước sự làm ngơ của lực lượng chức năng địa phương từ cấp xã cho tới cấp huyện.
Dừng chân tại khu vực thôn Ninh Môn (tên gọi khác là Xóm Trại Đồng Đảng), thôn Xóm Núi, chúng tôi hỏi một người đàn ông đang chăn trâu ven đường. Người này nhận mình là “cò” đất và giới thiệu vanh vách về nguồn gốc đất của từng thửa tại xã Hiền Ninh. Theo người này, khu Xóm Trại Đồng Đảng, đoạn nằm ven phía dưới đường nhựa, toàn bộ là đất rừng.
Trong đó, mỗi gia đình được cấp vài trăm mét đất để dựng nhà tạm, lán trại thô sơ nhằm trông coi, phát triển vườn quả. Nhưng những hộ mua được đất lại xây biệt thự vườn cao 2 - 3 tầng, tạo thành biệt khu sang trọng. Hiện giá đất tại địa điểm này dao động khoảng 200 triệu đồng/sào (mỗi sào tương đương 360 m2).
Rời thôn Ninh Môn, PV đến khu đất của một người tên Dũng, trú tại xã Quang Tiến. Mặc dù các khu đất đồi tại đây được trồng thông, lẽ ra phải được bảo vệ nghiêm ngặt, tuy nhiên Dũng nói: “Cái gì chả bán được. Quan trọng là có giá của nó”. Tỏ ý muốn mua một mảnh đất rừng phòng hộ để xây biệt thự, địa thế đẹp, lưng tựa vào núi, sát ngã ba đường, chúng tôi được Dũng giới thiệu: “Đất rừng chưa chuyển đổi “50 củ” (50 triệu đồng - NV) một sào. Phải mua 5 sào trở lên mới bán”.
PV đồng ý mua với điều kiện giấy tờ phải thông suốt. Hai ngày sau, Dũng giới thiệu chủ đất tên Sang. Người này nói là sẽ lo hết tất cả các loại giấy tờ, thủ tục để chuyển đổi từ đất rừng phòng hộ sang đất vườn quả, nhưng phải đặt trước cho ông ta 50 triệu đồng để đưa cho các đầu mối. Sang khuyên chúng tôi nên làm ăn với ông, bởi ông có thể dắt mối trực tiếp đến người có thẩm quyền ký quyết định, như “anh Long, chị Hằng”, chứ không nên đi “đường vòng”, vừa mất thời gian lại tốn tiền. Ngoài ra, nếu PV cần mua đất ở địa điểm khác thì ông Sang vẫn có thể đứng ra chạy giấy tờ đầy đủ.
Rời xã Hiền Ninh và Quang Tiến, chúng tôi tiếp tục đến các xã Minh Phú, Minh Trí, Tiên Dược... Một “cò” tên Huyền ngụ ở xã Minh Trí đưa chúng tôi đi khắp các ngõ ngách tại xã Minh Phú. Tại một địa điểm nằm tại khu Lâm Trường, Huyền giới thiệu: Diện tích mảnh đất khoảng 5 sào. Giá 150 triệu đồng/sào. Đáng nói hơn, khu vực này đang hình thành các biệt thự được phân lô, phân mảnh cận kề nhau. Cách mảnh đất này vài mét là biệt thự của một người được cho là anh em với ca sĩ M.L. Gần đó là hàng loạt biệt thự khác được xây tường đá ong, tường gạch theo lối cổ kim, đủ các kiểu.
Để làm rõ cách hô biến từ đất rừng phòng hộ thành đất vườn quả, PV đề nghị các “cò” đất phải cho biết về đường đi nước bước rõ ràng, phòng trường hợp mất tiền oan.
Cò đất tên Sang tại xã Quang Tiến cho biết: Đầu tiên, khách phải thỏa thuận với chủ đất để mua diện tích đất theo ý muốn. Sau khi bàn giao và chuyển đổi chủ sở hữu, khách mua sẽ phải làm thủ tục chuyển đổi từ đất rừng phòng hộ sang đất vườn quả. Khi chuyển đổi thành đất vườn quả, chủ sở hữu được phép sử dụng tối đa đến 400 m đất để dựng nhà tạm, lán, trại. Sau khi xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chủ sở hữu sẽ phải làm việc với chính quyền địa phương bao gồm: chủ tịch, phó chủ tịch phụ trách xây dựng, thanh tra xây dựng... để lo lót việc xây biệt thự, nhà vườn, nhà hàng...
Ông Sang nói luôn: Chẳng có ai, cấp nào dám cấp phép cho các ông xây nhà trên đất vườn quả hết. Nhưng các ông cứ xây. Khi xây, cán bộ địa phương bao gồm chủ tịch hoặc phó chủ tịch phụ trách xây dựng, thanh tra xây dựng sẽ đến lập biên bản vi phạm, thì ông phải ký vào đấy. Mục đích là sau này, nhỡ thành phố, T.Ư có đến kiểm tra thì cán bộ xã nó thoát tội, vì đã lập biên bản xử lý vi phạm rồi.
Nếu có thì chỉ chịu trách nhiệm ở việc giám sát không chặt chẽ. Khi lập biên bản xong, chủ sở hữu cứ thế mà xây nhà. Nhưng việc này phải khéo một chút. Nếu có cán bộ xã đến kiểm tra, thanh tra thì phải dừng lại, đợi họ đi rồi mới tiếp tục xây. Thậm chí, nếu tuyến trên có làm căng thì chủ sở hữu phải xây ban đêm để tránh mang tiếng cho cán bộ địa phương.
Cũng như ông Sang, tất cả các “cò” đất khác ở Sóc Sơn đều có chung cách hô biến này. Cò đất tên Dũng, tại xã Quang Tiến nói thẳng: Phải làm như vậy để cán bộ địa phương an toàn. Nếu không thì từ trước đến nay làm sao mà bán được đất, làm sao mà xây được hàng trăm biệt thự chình ình giữa ngã ba đường như thế. Cái biệt thự, khu nghỉ dưỡng chứ có phải con kiến đâu mà giấu giếm. (Thanh Niên 19/4) ) đầu trang(
Sau nhiều tuần lễ thâm nhập, PV Thanh Niên đã tiếp cận được những nhân vật có vai trò quyết định trong việc hô biến đất rừng phòng hộ thành đất vườn để xây biệt thự, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng sang trọng...
Ở thôn Lâm Trường, xã Minh Phú, H.Sóc Sơn, Hà Nội, chúng tôi tiếp cận một người tên Đức, tự nhận là cán bộ ngành lâm nghiệp nghỉ hưu và có quan hệ thân thiết với một số đầu mối chuyên chạy giấy tờ mua bán, chuyển đổi đất rừng. Trong số đó, lộ ra hai cái tên đáng chú ý là ông Cam và ông Sơn. Theo lời ông Đức khẳng định thì ông Cam là Trưởng thôn Lâm Trường, còn ông Sơn là Phó giám đốc Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội (thuộc Sở NN-PTNT Hà Nội).
Khi biết chúng muốn mua khu đất rừng vị trí đẹp, mát mẻ, ông Đức nói có một mảnh đất diện tích 3 sào muốn bán và dẫn chúng tôi đi xem. “Mảnh đất này đã được đóng thuế và cấp mã số đất. Sổ đỏ chưa có nhưng không việc gì phải làm cho tốn tiền. Đợi cả khu xung quanh làm luôn thể”, ông Đức nói.
Đó là một khu đất từng có thông già, nhưng đã bị chặt phá gần hết để bạt núi, san lấp mặt bằng. Ông Đức khuyên chúng tôi nên mua cả khu đất rừng thông ở phía sau, để dải đất chạy thẳng tắp lên đỉnh núi, sau này không ai có thể nhảy vào được nữa, xung quanh sẽ rất thông thoáng, muốn làm trang trại hay xây biệt thự kiểu gì cũng được…
Sau vài tiếng thăm đất và mặc cả về giá, ông Đức nói 3 sào đất này giá 1,5 tỉ đồng. Ngoài ra, tiền lo lót chuyển đổi chúng tôi phải tự lo liệu. Ông chỉ đứng ra dẫn mối để việc chuyển đổi được suôn sẻ. Ngay trưa hôm ấy, ông Đức gọi điện thoại cho ông Cam để hỏi về việc chạy giấy tờ chuyển đổi.
Theo lời ông Đức, từ trước tới nay nhiều người trong thôn vẫn chạy “cửa” ông Cam. Nhưng dạo này công việc nhiều, nên ông Cam từ chối, nói ông Đức nhờ “cửa” khác. Tới đây, ông Đức tiếp tục gọi cho ông Sơn. Sau vài phút gọi điện, ông Đức hồ hởi quay sang nói với chúng tôi là ông Sơn đã nhận lời, nhưng hiện ông này đang bận, để hôm sau gặp.
Ông Đức cho số điện thoại của ông Sơn bảo chúng tôi liên lạc trực tiếp và dặn khi nói chuyện thì xưng là “cháu bác Đức”. Qua điện thoại chúng tôi được ông Sơn đồng ý giúp. Tuy nhiên ông Sơn nói rất vắn tắt và bảo không nên nói qua điện thoại mà phải gặp mặt trao đổi trực tiếp.
Ngày 17.3, ông Đức hẹn gặp chúng tôi tại ngôi nhà sàn sang trọng ở thôn Lâm Trường, sau đó ít lâu, ông Sơn xuất hiện. Sau vài phút làm quen, ông Đức dẫn ông Sơn cùng chúng tôi đi xem lại mảnh đất một lần nữa. Lúc này, chúng tôi bày tỏ muốn mua thêm 7 sào đất rừng chạy thẳng lên đỉnh núi, liền ô với mảnh đất của ông Đức.
Nghe nói vậy, ông Sơn khẳng định là mua được và nói chúng tôi nên mua luôn cho liền ô, liền mảnh. Sau vài phút khảo sát thực địa, ông Đức, ông Sơn nói chúng tôi quay về ngôi nhà sàn để tiện trao đổi công việc. Cũng tại đây, ông Đức cười nói: “Có chú Sơn đây chống lưng thì các chú cứ yên tâm, không việc gì phải lo hết”.
Nghe ông Đức nói vậy, ông Sơn bảo “mảnh đất đó mua được” và khuyên chúng tôi nên mua thêm cả lô đất rừng phòng hộ phía sau chạy dọc lên đỉnh núi. Về phần giấy tờ, ông Sơn sẽ dẫn chúng tôi đến gặp các quan chức của xã Minh Phú. Đến đó, ông Sơn sẽ giới thiệu chúng tôi là người nhà, là anh em họ hàng muốn mua mảnh đất để ở.
Để việc xây dựng được thuận lợi, ông Sơn hướng dẫn chúng tôi rằng: Khi đến xã thì phải nói với họ là xin xây cái nhà tạm, nhà tranh tre nứa lá thôi chứ đừng nói xây biệt thự, bởi “về pháp luật thì không ai cho phép anh làm chuyện đó”. Còn về mảnh đất rừng phòng hộ phía sau thì ông Sơn hứa sẽ “kết nối” để chúng tôi gặp người được giao giữ rừng và mua luôn.
Trong cuộc thảo luận này, ông Sơn cho biết sẽ kết nối đến các cán bộ kiểm lâm địa bàn, thanh tra xây dựng, lãnh đạo thanh tra xây dựng, Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội... Nhưng kinh phí thì người mua phải chuẩn bị chu đáo. Mức kinh phí mà ông Sơn tiết lộ cụ thể: “Cho trung tâm một trăm, còn cán bộ xã, kiểm lâm... khoảng mấy chục”. Sau đó ít lâu, ông Sơn ra về và hẹn sẽ nói chuyện lại một cách cụ thể vào hôm sau.
Đến ngày 25.3, chúng tôi hẹn gặp ông Sơn tại nhà riêng, cách Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội chỉ vài trăm mét. Tại nhà riêng, ông Sơn giục chúng tôi, nếu mua được thì phải mua luôn chứ không gặp nhau nhì nhằng, gặp nhiều không giải quyết được việc gì. Sau đó ông Sơn lấy điện thoại gọi cho một người được giao giữ rừng nào đó trao đổi về việc mua bán đất rừng phòng hộ. Khoảng 5 phút sau, ông quay lại và gật đầu tỏ ý công việc suôn sẻ. Tại đây, một lần nữa ông Sơn nhắc lại, kinh phí lo chạy giấy tờ chúng tôi phải chi ra, còn các thủ tục khác ông lo hết.
Chiều 19.4, chúng tôi đã có buổi làm việc với ông Ngô Đại Ngọc - Phó giám đốc Sở NN-PTNT Hà Nội. Tại buổi làm việc, ông Ngọc xác nhận ông Lê Văn Sơn hiện là Phó giám đốc Trung tâm phát triển lâm nghiệp Hà Nội. Về những nội dung thông tin mà Báo Thanh Niên cung cấp và phản ảnh, ông Ngọc khẳng định sẽ vào cuộc điều tra làm rõ và có biện pháp xử lý nghiêm.
Liên quan tới nhân vật tên Cam, ông Nguyễn Văn Hân - Chủ tịch UBND xã Minh Phú, H.Sóc Sơn, cho biết ở xã Minh Phú có Trưởng thôn Lâm Trường tên Ngô Văn Cam. Ông Hân cho biết chính quyền sẽ xác minh, làm rõ việc ông Cam có liên quan tới sai phạm đất rừng hay không. (Thanh Niên 20/4) ) đầu trang(
Sáng 19/4, Sở Nông nghiệp&PTNT đã công bố Quyết định của UBND tỉnh về Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng Ninh Bình đến năm 2020.
Ngày 26/01/2016, UBND tỉnh đã có Quyết định số 223/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
Theo đó: Quan điểm là quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng trên hệ sinh thái núi đá vôi và hệ sinh thái đất ngập nước; kết hợp hài hòa và bền vững giữa bảo vệ rừng với phát triển du lịch sinh thái gắn với xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp ven rừng, trong khu rừng đặc dụng; phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng.
Khu rừng đặc dụng Hoa Lư được chia làm 2 phân khu (bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái); Khu vân Long được chia làm 3 phân khu ( Bảo vệ nghiêm ngặt, phục hồi sinh thái và phân khu dịch vụ hành chính). Quy hoạch cũng xác định rõ: Quy mô của từng khu rừng, phạm vi từng phân khu (diện tích; thuộc địa bàn các xã, huyện), rà soát bổ sung diện tích rừng đặc dụng.
Các hạng mục bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng; khoán bảo vệ rừng, tuần tra truy quét, phòng chống cháy rừng, trồng rừng và chăm sóc rừng, cải tạo rừng, nghiên cứu khoa học trong các khu rừng, phát triển du lịch sinh thái trong các khu rừng, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển vùng đệm...
Hội nghị đã dành nhiều thời gian để các đại biểu tham gia ý kiến nhằm triển khai thực hiện Quy hoạch; trong đó nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề cần làm ngay là phải cắm mốc phân định rõ các phân khu của từng khu rừng làm cơ sở cho các địa phương và cơ quan chức năng quản lý bảo tồn phát triển rừng bền vững. (Báo Ninh Bình 19/4) ) đầu trang(
Nhìn lại trong những năm vừa qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo. Các tổ chức, các hộ gia đình đã đầu tư bảo vệ rừng, trồng rừng trên diện tích được giao nhờ đó độ che phủ của rừng được nâng lên 37,1%.
Mặc dù kết quả đạt được rất đáng ghi nhận, nhưng sản xuất lâm nghiệp của tỉnh ta vẫn còn một số tồn tại, khó khăn thách thức như: kết quả phát triển rừng không đồng đều giữa địa phương; chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên có nơi vẫn tiếp tục bị suy giảm.
Tình trạng chặt phá rừng tự nhiên để lấy đất trồng rừng tập trung tại các huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam vẫn diễn ra; năng lực quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp của đơn vị chủ rừng còn hạn chế. Một số diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao đã bị chuyển đổi sang mục đích khác nhưng chưa xử lý kiên quyết, kịp thời. Trồng rừng sản xuất kinh doanh gỗ nhỏ là chủ yếu, đời sống người làm rừng vẫn còn khó khăn.
Theo Quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 được UBND tỉnh phê duyệt ngày 31/12/2015, toàn tỉnh có tổng diện tích 153.739 ha đất lâm nghiệp. Trong đó rừng đặc dụng 13.303 ha (8,6%); rừng phòng hộ 20.708 ha (13,5%); rừng sản xuất 119.728 ha (77,9%), nâng độ che phủ của rừng đến năm 2020 38%. Như vậy diện tích đất quy hoạch lâm nghiệp tăng so với năm 2014 là 7.304 ha. Ngày 23 tháng 12 năm 2014 UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 20152020.
Trong đó định hướng phát triển lâm nghiệp từ nay đến năm 2020 là: Thực hiện làm giàu rừng tự nhiên khoảng 1000 ha; cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt kém chất lượng sản trồng rừng sản xuất 2.300 ha; Trồng 29.000 ha rừng tập trung, áp dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật, công nghệ, giống mới vào trồng rừng nhằm nâng cao năng xuất rừng trồng bình quân lên 20m3/ha/năm; mở rộng diện tích kinh doanh gỗ lớn, đến năm 2020 dự kiến diện tích kinh doanh gỗ lớn khoảng 7.200 chiếm 10% trồng diện tích rừng trồng sản xuất; sản lượng khai thác gỗ bình quân 250.000 m3 năm 2015 và đến năm 2020 đạt 350.000 m3, trong đó tỷ lệ gỗ lớn chiếm 40% trổng sản lượng khai thác; Tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu ván ghép thanh, ván MDF.
Để thực hiện mục tiêu, nội dung đề ra, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau đây: Trước hết vẫn là giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, nâng cao nhận thức về bảo vệ, phát triển rừng trong nhân dân cùng với việc tiếp tục thực hiện củng cố hệ thống tổ chức quản lý gắn với tăng cường bảo vệ tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp.
Thứ hai: Tổ chức thực thiện tốt Quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Bắc Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; Rà soát đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít sung yếu chuyển sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất theo văn bản 845/BNNTCLN ngày 16/3/2016 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về lâm nghiệp ở cấp huyện, cấp xã theo theo phân cấp tại Quyết định số 07/2012/QĐTTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường kiểm tra, giám sát việc quản lý, phát triển và sử dụng rừng đối với các doanh nghiệp được thuê rừng trên địa bàn tỉnh.
Thứ 3: Tiếp tục thực hiện Kế hoạch nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp nhằm tăng năng suất, chất lượng rừng trồng sản xuất trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 20152017; tiếp nhận chuyển giao công nghệ nuôi cấy mô tế bào sản xuất giống Bạch đàn lai các dòng (UP99, UP95, UP54, PNCT3...) và Keo lai (các dòng BV10, BV33, BV73) và một số giống mới khác.
Thứ 4: Chỉ đạo thực hiện tốt quy trình, kỹ thuật thâm canh rừng trồng; các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp chuyển đổi phương thức sản xuất giống cây lâm nghiệp theo phương pháp truyền thống thay bằng vật liệu bầu siêu nhẹ để giảm bớt nhân công lao động trong khâu trồng rừng; từng bước áp dụng cơ giới hóa vào khâu làm đất, thực hiện tỉa thưa, tỉa cành, chuyển hóa rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gỗ rừng trồng.
Thứ 5: Tiếp tục thực thiện phương án sắp xếp đổi mới các công ty lâm nghiệp để ổn định mô hình tổ chức sản xuất mới trên địa bàn tỉnh. Triển khai hiệu quả Quyết định 62/2013/QĐTTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn. Liên kết giữa các công ty lâm nghiệp với hộ gia đình và các doanh nghiệp chế biến lâm sản; liên kết giữa các hộ gia đình tạo thành nhóm hộ, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm lâm nghiệp từ khâu trồng rừng, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp.
Thứ 6: Cụ thể hóa, đề xuất một số chính sách hỗ trợ cho lâm nghiệp. Tăng cường thu hút các doanh nghiệp có tiềm lực đầu tư vào lâm nghiệp, nhất là đầu tư các nhà máy chế biến sâu với công nghệ hiện đại; đẩy mạnh nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại nhằm hỗ trợ tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ lâm sản; tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa các hộ gia đình, doanh nghiệp và nhà chế biến, tiến tới hình thành Hiệp hội doanh nghiệp lâm nghiệp tỉnh. Xây dựng và triển khai các mô hình kinh doanh rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) để có thể mở rộng xuất khẩu nguyên liệu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường các nước Mỹ, EU, Nhật Bản …
Thứ 7: Đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, khuyến khích tích tụ đất đai theo quy định, tạo ra các vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung; khuyến khích mở rộng các hình thức liên doanh liên kết giữa nhà đầu tư có tiềm lực về kỹ thuật, tài chính và chế biến, tiêu thụ với các chủ rừng là công ty lâm nghiệp, các Ban quản lý rừng có quỹ đất trồng rừng sản xuất, các hộ gia đình; chủ rừng cho thuê hoặc góp cổ phần bằng quyền sử dụng rừng và đất lâm nghiệp với nhà đầu tư.
Huy động các nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng, vốn viện trợ của các tổ chức nước ngoài, từ các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và vốn trong dân đầu tư lại sau khi khai thác rừng trồng. (Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Bắc Giang 19/4) ) đầu trang(
Ngày 19/4, Hạt KL Quảng Ninh (Quảng Bình) cho biết, đã có văn bản báo cáo cơ quan chức năng để điều tra làm rõ các đối tượng có hành vi hành hung cán bộ kiểm lâm khi đang thực thi công vụ.
Trước đó, vào rạng sáng 17/4, anh Nguyễn Sơn Thủy (SN 1971) - trạm phó trạm KL Trường Sơn và anh Hoàng Tuấn Anh (SN 1982) - kiểm lâm viên công tác tại trạm KL Trường Sơn (thuộc Hạt KL huyện Quảng Ninh), đang làm nhiệm vụ tại chốt công tác ở thôn Hồng Sơn - xã Trường Sơn, thì có 2 đối tượng đi xe máy tới xin ngủ nhờ. Khi các anh từ chối thì 2 đối tượng này lên tiếng đe dọa rồi bỏ đi.
Sau đó, có khoảng 7 đối tượng đi xe máy đến dùng lời đe dọa, chửi bới, lăng nhục. Thấy vậy, các anh rời chốt để đến khu dân cư gần đó để xác minh lý lịch các đối tượng. Khi hai anh quay lại chốt gác thì bất ngờ bị 1 đối tượng từ bóng tối xông ra dùng gậy gỗ đánh từ trên đầu xuống bả vai anh Thủy, rồi bỏ chạy.
Nhận được tin báo, Trạm KL Trường Sơn, chính quyền địa phương và lực lượng đồn Biên phòng làng Mô đã đến hiện trường để truy bắt các đối tượng gây án và nhanh chóng đưa anh Thủy đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa TP Đồng Hới. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/2) ) đầu trang(
Để ngăn chặn tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, giám sát các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, người làng Hà Ri (thuộc xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh) đã tự lập tổ, lập chốt bảo vệ rừng với sự tham gia tự nguyện của khoảng 100 người dân.
Làng Hà Ri có hơn 618 ha rừng tự nhiên, trong rừng có nhiều loại cây gỗ quý như hương, cà te, chò… Những năm qua, tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép làm cho tài nguyên rừng bị xâm hại nghiêm trọng.
Bức xúc trước thực trạng này, ngày 1.6.2015, dân làng Hà Ri đã xin phép chính quyền cho lập tổ, lập chốt bảo vệ rừng với 30 thành viên ban đầu do ông Đinh Kơi làm tổ trưởng. Phạm vi hoạt động của tổ là từ khu vực suối Tà Má (thuộc làng Hà Ri) đến khu vực suối nước Tấn (thuộc thôn Vĩnh Thọ, xã Vĩnh Hiệp) vùng rừng được giám sát có diện tích hơn 600 ha.
Sau khi thành lập, các thành viên bắt đầu chia ra thành từng tổ nhỏ gồm 3 người. Mỗi tổ sẽ thay phiên túc trực tại chốt canh gác (rộng chừng 9 m2) được dựng ngay con đường độc nhất dẫn vào rừng từ 7 giờ hôm trước đến 7 giờ ngày hôm sau; còn những tổ khác thì chia thành nhiều mũi, có nhiệm vụ đi tuần tra trong rừng.
Trong quá trình làm nhiệm vụ, nếu phát hiện có hoạt động khai thác lâm sản trái phép thì các tổ lập tức thông báo với lực lượng chức năng như chính quyền địa phương, kiểm lâm địa bàn… để có biện pháp ngăn chặn kịp thời; hoặc tham gia chữa cháy nếu có. Mỗi tháng, tổ công tác bảo vệ rừng sẽ họp lại để kiểm tra hoạt động, đề ra các biện pháp tháo gỡ khó khăn.
Từ khi thành lập đến nay, tổ công tác đã phát hiện, ngăn chặn khoảng 20 vụ vi phạm. Điển hình như vào tháng 9.2015, trong lúc đi kiểm tra rừng tại khu vực núi Hòn Dựng, tổ tuần tra phát hiện một nhóm đối tượng đang chặt trái phép những cây gỗ quý. Sau khi báo cáo với lực lượng kiểm lâm địa bàn, tổ bảo vệ rừng đến ngăn chặn, thu được tang vật và bàn giao cho ngành chức năng 2,02 m3 gỗ chò, chiều dài mỗi súc gỗ là 3,5m.
Nhờ công tác tuyên truyền, vận động cùng với việc thấy được lợi ích từ bảo vệ rừng, đến nay nhiều người dân làng Hà Ri tự nguyện tham gia tổ bảo vệ rừng. Hiện tổ có khoảng 100 thành viên, trong đó có nhiều thành viên chỉ mới 20 tuổi như Đinh Dấu, Đinh Thưng… Điều đáng ghi nhận là nhiều thành viên trong tổ bảo vệ rừng trước đây từng tham gia phá rừng nay lại tham gia công tác bảo vệ rừng tích cực, đơn cử như trường hợp của anh Đinh Văn Sơn (SN 1980), Đinh Hùng (SN 1982)…
Ông Đinh Thái, Trưởng làng Hà Ri, phấn khởi cho chúng tôi biết: “Làng sống được là nhờ rừng. Rừng bị phá thì dân làng sống không yên cái bụng. Trách nhiệm bảo vệ rừng không chỉ của cán bộ, mà cả dân làng cũng phải chung tay. Giờ thì ai cũng hiểu, cũng biết điều này hết rồi nên đều tham gia tổ bảo vệ rừng. Trung bình, mỗi nhà đều có một người tham gia. Có nhiều đêm, dân làng huy động thêm lực lượng để ứng trực với tổ bảo vệ rừng. Thấy ý thức của người dân tốt vậy, mình mừng lắm”.
Khi chúng tôi hỏi có sợ khi phải đối mặt với “lâm tặc” không thì ông Đinh A Lưng, một thành viên trong tổ bảo vệ rừng của làng Hà Ri, lắc đầu: “Mình làm việc đúng mà sao phải sợ. Mỗi lần thấy chúng tôi, dù không có vũ khí gì trong tay nhưng bọn lâm tặc đều bỏ chạy hết”.
Nói về tổ bảo vệ rừng của dân làng Hà Ri này, ông Phạm Văn Thơm, Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hiệp, giọng đầy tự hào: “Từ khi có tổ bảo vệ rừng do người dân làng Hà Ri thành lập cho đến nay nạn phá rừng và cháy rừng được ngăn chặn, phát hiện kịp thời. Đây là điều rất đáng ghi nhận của người dân làng Hà Ri mà không phải địa phương nào cũng làm được”. (Báo Bình Định 18/4) ) đầu trang(
Khoảng 22h, ngày 17/4, tại địa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Sơn La phối hợp với đội Kiểm lâm cơ động số 1 tỉnh Sơn La kiểm tra và phát hiện 2 xe ôtô chở số lượng lớn thớt gỗ không có giấy tờ hợp lệ.
Quá trình kiểm tra, tổ công tác đã lập biên bản thu giữ hơn 500 thớt gỗ đang được vận chuyển trên xe ôtô mang BKS 29C-597.46 do Võ Thế Công (trú tỉnh Hà Tĩnh) và ô tô mang BKS 29C-624.13 do Chu Văn Sơn (trú tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) điều khiển.
Lái xe khai nhận, số gỗ trên là của Vũ Thị Quy (trú tại bản Huổi Ái, xã Mường É, huyện Thuận Châu). Hiện toàn bộ tang vật trên đã được bàn giao cho Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Sơn La để giải quyết theo quy định của pháp luật. (ANTV 19/4) ) đầu trang(
Sau 7 năm chú bò tót “si tình” tách bầy xuống núi chung sống với bầy bò nhà ở Vườn Quốc gia Phước Bình, tỉnh Ninh Thuận, đã cho ra hàng chục chú bò lai thế hệ F1, đã mở ra hi vọng nhân giống được bò lai F2 có khả năng sinh sản tốt.
Vượt gần 100km đường rừng, đèo núi từ trung tâm thành phố Phan Rang, Tháp Chàm, chúng tôi cùng đoàn công tác nghiên cứu nhân giống bò tót lai bò nhà tìm đến Vườn Quốc gia Phước Bình, huyện Bác Ái, Ninh Thuận. Nơi đây đang nuôi dưỡng 10 chú bò tót lai bò nhà thế hệ F1 với 5 con đực, 5 cái và gần chục bò Lai Sin để tìm cách nhân giống thế hệ F2.
Một khu vực rộng hơn 2ha được lập hàng rào che chắn cao hơn 3m để ngăn bò phá rào ra ngoài. Đàn bò tót lai thấy người đến gần liền dừng gặm cỏ, ngước đầu nhìn, mũi khịt khịt đánh hơi trông không khác gì những chú bò rừng cảnh giác con người. Dẫn chúng tôi ra thăm đàn bò, ông Não Ngọc En, người phụ trách chăm sóc đàn bò tót lai cho biết, đàn bò tuy đã được thuần hóa nhưng bản tính của bò tót vẫn không thay đổi. “Bình thường chúng khá hiền nhưng khi thấy người lạ lại gần thì cảnh giác và hung hăng lắm”, ông En nói.
Chỉ vào hàng rào chuồng trại cao hơn 3m, ông En cho biết, bò tót lai thường phi bay qua hàng rào để ra ngoài: “Trước đây hàng rào được làm cao khoảng 2m nhưng có những con vẫn lao bay qua để ra ngoài. Phải tốn công sức nhiều lắm mới bắt được chúng, tôi cùng mọi người phải chặt cây nới thêm cho cao lên để chống bò ra ngoài”, ông En nói.
Nhìn đàn bò tót lai F1 đang gặm cỏ, ông Nguyễn Công Văn, Giám đốc Vườn Quốc gia Phước Bình cho biết, sau thời gian dài cất công nghiên cứu, lai tạo với nhiều phương thức khác nhau, đến nay đã có một tia hi vọng khi chú bò tót lai F1 có dấu hiệu mang thai. Còn những chú bò đực lực lưỡng, khỏe mạnh thì phát triển rất tốt, chú lớn nhất hiện tại có trọng lượng trên 600kg, gấp 3 lần bò nhà bình thường.
Thời gian đầu những chú bò lai F1 có giá bán chỉ tầm 10 đến 20 triệu đồng, nhưng khi đoàn nghiên cứu tâm huyết muốn mua thì người dân bất ngờ đẩy giá lên 40 triệu đồng, thậm chí có con phải mua với giá trên 65 triệu đồng. Ông Nguyễn Công Văn nói: “Người dân thấy mình có nhu cầu nên đẩy giá lên cao. Trong khi toàn bộ số bò lai khoảng gần 30 con đều của người dân nên đành phải mua trong khi kinh phí dự kiến chỉ 20 triệu mỗi con, phải mua với giá gấp 2, gấp 3. Thời gian ấy, ban dự án nghiên cứu gặp không ít khó khăn”.
Nói về dự án nghiên cứu lai tạo nhân giống bò tót lai F2, ông Vân cho biết, nguồn gen bò tót lai là rất quý hiếm và nếu nghiên cứu nhân giống thành công thế hệ F2 có khả năng sinh sản sẽ mở ra hướng bảo tồn nguồn gen quý hiếm này. Dự án lai tạo bò tót thế hệ F2 vừa được Bộ KH-CN phê duyệt đầu tư kinh phí 13 tỷ đồng, sau khi đề tài “Nghiên cứu giám định di truyền và đánh giá khả năng phát triển của bò tót lai F1” được hai Sở KH-CN Ninh Thuận và Lâm Đồng cùng Vườn Quốc gia Phước Bình thực hiện thành công.
Để nhân giống, các nhà khoa học lập ra ba phương án lai tạo để thử nghiệm. Đầu tiên là cho lai giữa đực F1 với cái F1, sau một thời gian dài nhưng không có kết quả. “Phương án lai giữa bò lai F1 với nhau coi như đã phá sản, nhóm nghiên cứu dùng phương pháp thứ hai là cho lai giữa bò đực F1 với bò cái các giống khác như bò Lai Sin, Ra măng, bò Úc… Đến nay, có một vài dấu hiệu khả quan là chú bò cái F1 đã có dấu hiệu mang thai”, ông Vân nói.
Theo ông Vân, giai đoạn 2 của dự án nghiên cứu nhân giống bò tót lai F2 có khả năng sinh sản đã được Bộ KH-CN chấp thuận cấp vốn nhưng đến nay ban dự án vẫn gặp nhiều khó khăn trong công tác nghiên cứu do chưa được giải ngân. “Mục đích của dự án nghiên cứu là chọn được giống bò F2 có đặc điểm của bò rừng như chống chịu được khí hậu, thiên nhiên, sức đề kháng bệnh cao và tầm vóc lớn…”, ông Vân nói.
Năm 2008, một con đực trong đàn bò tót gần 30 con cư trú ở rừng quốc gia thuộc hai huyện miền núi Ninh Sơn, Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận, bỗng nhiên tách bầy, xuống núi khu bìa rừng thuộc Tiểu khu 20 của Vườn Quốc gia Phước Bình.
Chú bò tót này đã gây biết bao phiền toái cho người dân khi húc bò đực nhà, phá hoa màu khiến nhiều người dân khi đó đã mang đơn đi kiện Vườn Quốc gia. Sau đó vài tháng, con bò tót này đã phối giống với bò cái chăn thả của người dân địa phương để cho ra đời những con bò tót lai đầu tiên có giá đắt hơn nhiều lần bò nhà. (Tiền Phong 16/4) ) đầu trang(
Trong lúc làm nhiệm vụ tuần tra bảo vệ tại tiểu khu 64, Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơ Trà), Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn phát hiện Vi Văn Sơn đang sử dụng bẫy tự chế để săn bắt động vật hoang dã.
Qua kiểm tra tại hai lán trại do Sơn dựng lên, cán bộ Hạt Kiểm lâm liên quận thu giữ 90 bẫy thép, 10 bẫy kẹp sắt, 311 kg mẫu vật động vật rừng gồm: xương, da, thịt toàn thân đã sấy khô không hoàn toàn, nội tạng động vật sấy khô không hoàn toàn (nghi là chồn, sóc cây, ếch cây, hoẵng...).
Đáng chú ý, lực lượng kiểm lâm phát hiện xương, da, thịt, mình, không có tứ chi, không có nội tạng đã sấy khô không hoàn toàn, 8 chi động vật gồm 4 chi trước và 4 chi sau, xương, da, thịt sấy khô không hoàn toàn nghi là của loài voọc chà vá chân nâu - loài động vật quý hiếm cần được bảo tồn.
Qua quá trình điều tra, lực lượng chức năng xác định trong tháng 3-2015, Nguyễn Văn Hội (53 tuổi) và Nguyễn Văn Lý (29 tuổi, con ruột của Hội), Lê Thị Lan (26 tuổi, vợ của Nguyễn Văn Lý), Vi Văn Hoàng (50 tuổi) và Vi Văn Sơn (40 tuổi) cùng trú tại xã Tiên Kỳ, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đến khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, Đà Nẵng để săn bắt động vật hoàng dã. Các đối tượng này đã bẫy được 2 cá thể linh trưởng và 4 động vật khác gồm 2 con mang, chồn và sóc.
Mục đích của những đối tượng này là săn bắt động vật hoang dã và bán kiếm tiền, nhưng đến thời điểm bị phát hiện nhóm vẫn chưa bán được cá thể động vật rừng nào. Do vậy, cả nhóm đã giết số động vật hoang dã để ăn, còn lại phơi khô, riêng cá thể linh trưởng được lóc thịt phơi khô, xông khói cất giấu trong lán trại.
Theo kết luận giám định động vật số 245 ngày 3-4-2015 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, một phần cơ thể động vật gồm đầu, ngực, lưng, bụng, 8 chi động vật gồm 4 chi trước và 4 chi sau là của cá thể vọoc chà vá chân nâu.
Ngày 6-4-2015, Hạt Kiểm lâm liên quận Sơn Trà-Ngũ Hành Sơn ra quyết định khởi tố hình sự "Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm" và chuyển vụ án cho Công an quận Sơn Trà điều tra xử lý.
Ngày 8-4, Công an quận Sơn Trà ra quyết định khởi tố và lệnh bắt bị can. Trước đó, ngày 23-3, Viện Kiểm Sát quận Sơn Trà phê chuẩn quyết định khởi tố và lệnh bắt bị can. Ngày 3-4, Công an quận Sơn Trà đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với Vi Văn Sơn và Vi Văn Hoàng để tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Đà Nẵng 16/4) ) đầu trang(
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có nhiều hộ dân, tổ chức đang nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép, chủ yếu là các cá thể khỉ. Qua công tác nắm tình hình, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an thành phố Đồng Hới đã vận động 4 hộ dân tự nguyện giao nộp cho cơ quan chức năng.
Một trong 4 cá thể khỉ được người dân tự nguyện giao nộp cho Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình và chiều ngày 14/4/2016. Đây là cá thể khỉ được người dân nuôi nhốt cách đây hơn 3 tháng. Các cá thể khỉ có trọng lượng từ 1,5 đến 3kg.
Bà Đinh Thị Ánh Nguyệt, phường Hải Đình, cho biết: "Gia đình tôi có nuôi một con khỉ, bắt nó từ nhỏ, nhưng trong thời gian qua, được sự vận động của công an thì gia đình cũng nhận ra được cái sai, bây giờ gia đình tôi tự nguyện để trả lại cho con khỉ được về vườn tự nhiên."
Tại thời điểm giao nộp các cá thể khỉ nhìn chung các cá thể còn tương đối nhanh nhạy và khỏe mạnh. Tuy nhiên, vì nuôi nhốt lâu ngày nên các cá thể phần nào bị thuần hóa. Chính vì thế để bảo đảm cho chúng được an toàn khi trở về với môi trường tự nhiên, lực lượng chức năng đã phối hợp và bàn giao toàn bộ 4 cá thể khỉ mà người dân tự nguyện giao nộp cho Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật, Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng để tiếp tục chăm sóc trước khi thả lại vào môi trường tự nhiên.
Ông Phạm Kim Vương, trưởng Bộ phận cứu hộ sinh vật, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng cho biết: "Sau khi tiếp nhận về trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật chúng tôi sẽ tiến hành một số tác nghiệp trước hết đấy là phải qua một thời gian cách ly, kiểm dịch để đảm bảo khi động vật trở về môi trường tự nhiên thì không mang dịch bệnh đối với tự nhiên. Riêng các trường hợp này thì nó mất tập tính hoang dã, cho nên trước khi thả vào môi trường tự nhiên, chúng tôi phải cho chúng qua khu phục hồi chức năng, nuôi bán hoang dã, mục đích là để động vật tập tính hoang dã trước khi thả vào tự nhiên đảm bảo thích nghi."
Có thể nói, tình trạng nuôi nhốt động vật hoang dã là việc làm trái pháp luật. Tuy nhiên hiện nay, tình trạng này vẫn còn diễn ra trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Chính vì thế để nâng cao nhận thức cho người dân trước việc nuôi nhốt trái phép động vật hoang dã, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân tự nguyện giao nộp trả về tự nhiên, tích cực bảo vệ động vật hoang dã trước nguy cơ tuyệt chủng. (ANTV 19/4) ) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có Quyết định về việc chỉ định ngân hàng phục vụ cho Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý rừng bền vững cảnh quan Trung Trường Sơn Việt Nam” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ.
Theo đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) được Thống đốc NHNN chỉ định làm ngân hàng phục vụ cho Dự án hỗ trợ kỹ thuật “Lồng ghép bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý rừng bền vững cảnh quan Trung Trường Sơn Việt Nam” theo Hiệp định viện trợ số 0433-VIE ký ngày 04/9/2015 giữa đại diện nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và đại diện ADB.
Cũng tại Quyết định này, Thống đốc NHNN yêu cầu Tổng Giám đốc Agribank chịu trách nhiệm thực hiện những quy định nêu trong Nghị định số 38/2013/NĐ-CP của Chính phủ về Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, các văn bản hướng dẫn thực hiện của NHNN, Bộ Tài chính và các quy định, hướng dẫn của ADB để phục vụ tốt việc thực hiện Khoản Viện trợ cho Dự án.
Được biết, Dự án này nhằm tăng cường quản lý và duy trì tính toàn vẹn sinh thái của hệ thống khu bảo tồn và vùng xung quanh tại cảnh quan Trung Trường Sơn của Việt Nam; bảo đảm dịch vụ hệ sinh thái rừng bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng Trung Trường Sơn, đem lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương góp phần tăng trưởng kinh tế khu vực.
Dự án gồm 2 hợp phần: Hợp phần 1 là tăng cường lập kế hoạch và quản lý đa dạng sinh học và rừng trong và xung quanh khu bảo tồn tại cảnh quan Trung Trường Sơn; Hợp phần 2 là các biện pháp bảo tồn cảnh quan ở cấp cộng đồng tại các khu bảo tồn và vùng xung quanh khu bảo tồn nhằm cung cấp tài chính bền vững và giảm phát thải khí nhà kính.
Dự án được giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản, cùng với sự tham gia của các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam. Theo dự kiến, dự án sẽ được thực hiện từ năm 2015 đến năm 2018. (Thời Báo Ngân Hàng 18/4) ) đầu trang(
Theo quy hoạch mới công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), diện tích cây mắc ca đến năm 2020 sẽ vào khoảng 10.000 ha thay vì 200.000 ha như tham vọng của nhiều chuyên gia và doanh nghiệp, tức chỉ bằng gần 5% mức đề xuất. Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn (ảnh) đã có những lý giải về quy hoạch này.
Ông cho biết, quy hoạch phát triển cây mắc ca đã được thực hiện một thời gian tương đối dài, quá trình làm rất thận trọng để đảm bảo có căn cứ khoa học. Quy hoạch phát triển cây mắc ca không chỉ tính đến điều kiện tự nhiên, sinh thái, đất đai phù hợp. Do đây là quy hoạch một loại cây trồng để lấy thực phẩm nên việc quy hoạch phải gắn với điều kiện về thu hoạch, chế biến, bảo quản.
Việc phát triển cây trồng này phải đảm bảo chất lượng của sản phẩm cũng như phải nghiên cứu kỹ thị trường đầu ra để đảm bảo làm sao mắc ca phát triển bền vững. Chúng ta đã có nhiều bài học kinh nghiệm từ quy hoạch những cây trồng khác nên phải tránh được chuyện nay trồng mai chặt, gây thiệt hại cho nông dân.
Chẳng hạn, theo quy trình chuẩn đối với cây mắc ca, từ khi thu lượm hạt chuyển sang tách vỏ chỉ trong vòng 3 giờ. Trong 24 tiếng sau khi tách vỏ phải đưa vào lò sấy và sấy trong điều kiện ít nhất 3 ngày, độ ẩm của hạt phải dưới 10%. Nhiệt độ bảo quản tốt nhất là 18 oC… Không như cà phê, sau khi thu hoạch có thể phơi khô, với hạt mắc ca nếu phơi khô chất lượng hạt sẽ hỏng. Do đó, cần có nhà máy chế biến gắn liền với vùng nguyên liệu.
Bài học của thế giới cho kinh nghiệm rất rõ, cùng là mắc ca nhưng thu hoạch, bảo quản chế biến không tốt giá sẽ rất khác nhau. Ở Australia, nếu giá mắc ca khoảng 3,6 USD/kg nhưng ở Nam Phi bình quân chỉ là 1-1,5 USD/kg. Nếu giá dưới 1,5 USD/kg là không có lãi, như vậy nếu trồng cây khác còn có lãi hơn.
Bởi vậy, quy hoạch phát triển cây mắc ca được Bộ NN&PTNT làm rất kỹ lưỡng. Có thể nói, chưa một loại cây nào được làm kỹ như cây mắc ca. Áp lực với Bộ NN&PTNT khi xây dựng quy hoạch này là làm sao đưa ra được luận cứ khoa học rồi đưa ra được quy hoạch để khi triển khai sẽ có hiệu quả.
Về thông tin 220.000 ha, đây chính là con số Viện Điều tra Quy hoạch rừng điều tra đưa ra. Viện đã điều tra và cho thấy, cây trồng này có khả năng phù hợp, sinh trưởng tốt với điều kiện tự nhiên ở diện tích trên. .
Đã có nhiều loại cây trồng nông nghiệp bị phá vỡ quy hoạch. Với cây trồng mới này, Bộ NN&PTNT cần có sự giám sát quy hoạch. Đơn vị giám sát không ai khác chính là chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên môn. Bộ cũng phải giám sát nhưng ở mức độ tổng quan. Giám sát của Bộ không phải là đi đo, đi tính mà là kiểm tra sự giám sát của địa phương.
Bây giờ chắc chắn Bộ sẽ phải hướng dẫn và chỉ đạo các Sở NN&PTNT đảm bảo việc trồng mới đúng theo quy hoạch. Hiện nay, các địa phương đều chưa có quy hoạch, do đó, địa phương phải căn cứ vào quy hoạch chung này để xây dựng quy hoạch của mình.
Trước mắt từ nay đến năm 2020 chỉ những vùng được quy hoạch mới trồng và những vùng này phải đảm bảo giống tốt. Còn ở những nơi khác nếu trồng thì rủi ro cao.
Quy hoạch này chính là khuyến cáo cao nhất. Từ nay đến năm 2020 chỉ trồng khoảng 10.000 ha, cũng chủ yếu là trồng xen, còn trồng thuần cũng khoảng trên 2.350 ha. Bộ đã có khuyến cáo cụ thể đối với từng địa phương trong khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên và cũng đề nghị với các cơ quan chức năng địa phương trên cơ sở định hướng chung có quy hoạch chi tiết đến từng địa bàn và hướng dẫn nông dân từ khâu trồng, chăm sóc đến thu hái. Đồng thời, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham gia vào liên kết chuỗi với bà con đảm bảo thu mua và tiêu thụ sản phẩm.
Mặt khác, có những chương trình kêu gọi các doanh nghiệp vừa đầu tư vào khâu chế biến, vừa liên kết, hỗ trợ cho dân để có nguồn nguyên liệu. Như vậy, cây mắc ca mới phát triển bền vững. (Tin Tức 19/4) ) đầu trang(
Ngày 19-4, Ban Quản lý vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức đoàn kiểm tra, khảo sát lại hiện trạng của Hòn Mun sau khi Công ty CP Hòn Tằm biển Nha Trang (Công ty Hòn Tằm) đề xuất thực hiện dự án Khu Du lịch Bảo tồn sinh thái đảo Hòn Mun.
Theo đề xuất, Công ty Hòn Tằm xin sử dụng toàn bộ diện tích 18.340 m2 đất tự nhiên trên đảo Hòn Mun để xây dựng khu du lịch với công suất 800 khách tham quan/ngày theo 3 đợt. Công trình cấp 4, chiều cao dưới 7 m, gồm: cầu tàu, nhà đón khách, nhà thông tin - giáo dục về bảo tồn biển, 4 chòi tranh lớn, 12 chòi nhỏ, hệ thống xử lý nước, nhà hàng, nhà trẻ em, phòng kỹ thuật và công trình phụ trợ khác… Tổng vốn xây dựng dự án trên 30,5 tỉ đồng, trong đó 70% vay từ ngân hàng. Thời gian thực hiện dự án là 50 năm.
Công ty Hòn Tằm cho rằng việc đầu tư vào Hòn Mun không mất thời gian và tốn kém trong chi phí giải phóng mặt bằng; thực trạng cơ sở hạ tầng cũng như các dịch vụ phục vụ cho du khách hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu tối thiểu của du khách tham quan; dự án thực hiện hoàn toàn phù hợp với chủ trương khuyến khích phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa…
Tuy nhiên, ông Huỳnh Bình Thái, phụ trách Ban Quản lý vịnh Nha Trang, cho biết Hòn Mun là vùng bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn biển với hệ sinh thái rất đa dạng và phong phú. Điều lạ là không thấy Công ty Hòn Tằm đề cập việc bảo tồn ra sao.
“Quan trọng nhất của khu bảo tồn biển là bảo tồn để trở thành một điểm nhấn, một sản phẩm du lịch biển chứ không phải sử dụng cho mục đích kinh tế. Thật khó nói nhà đầu tư bỏ tiền ra mà không sinh lợi, nhưng muốn sinh lợi thì phải đầu tư thu hút du khách. Trong khi đó, lượng khách đến Hòn Mun đang quá tải, chúng tôi phải vây phao phân vùng để họ tắm sao cho ít ảnh hưởng đến việc bảo tồn nhất” - ông Thái băn khoăn.
Theo ông Trần Minh Hải, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Khánh Hòa, dự án này xin hoạt động trên phạm vi toàn Hòn Mun là chưa phù hợp. Phương án đầu tư lại rất sơ sài, nhiều thiếu sót. Ông Huỳnh Ngọc Bông, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Khánh Hòa, cũng cho biết khi trình bày, dự án Hòn Mun còn nhiều vấn đề cần rà soát lại.
Theo ông Trần Minh Thái, để bảo tồn, phát huy Hòn Mun thì nên giao nhà nước đầu tư, quản lý thống nhất cả trên đảo và dưới nước hoặc chỉ nên hợp tác đầu tư với doanh nghiệp, cho thuê lại để việc quản lý được hiệu quả, chứ không nên giao hẳn cho doanh nghiệp. Việc đầu tư chỉ nên dừng lại ở bố trí thêm cây xanh, chòi nghỉ bằng vật liệu đơn giản; không nên đầu tư công trình kiên cố, không kinh doanh lưu trú, không xây dựng khu vui chơi, giải trí. Bên cạnh đó, cần tính toán lại lượng khách phù hợp để có những giới hạn nhất định khi tham quan khu bảo tồn biển.
Theo Ban Quản lý vịnh Nha Trang, hiện có khoảng 15 CLB bơi lặn, hơn 200 thuyền du lịch và hàng chục hộ dân làm dịch vụ liên quan đến Hòn Mun. Nếu thêm dự án của Công ty Hòn Tằm thì nhiều hộ dân sống nhờ Hòn Mun sẽ ra sao?
TS Võ Sĩ Tuấn, Viện trưởng Viện Hải Dương học, cho rằng việc xây dựng công trình tại khu bảo tồn biển phải có đánh giá tác động môi trường để thấy được mức độ ảnh hưởng. Trong khi đó, phương án của Công ty Hòn Tằm đưa ra chỉ nói sơ sài về nước thải và rác thải sinh hoạt. Trước đây, UBND tỉnh Khánh Hòa từng xử phạt Công ty Hòn Tằm về hành vi vi phạm Luật Đất đai và Luật Bảo vệ môi trường khi công ty này san ủi đảo Hòn Tằm, đồng thời san lấp luôn cả một phần vịnh Nha Trang để xây dựng nhà hàng, khách sạn…
Trong khi đó, ông Phạm Minh Nhựt, đại diện Công ty Hòn Tằm, cho biết qua làm việc với UBND tỉnh Khánh Hòa, công ty rút kinh nghiệm nhiều vấn đề. Trong đó, việc bảo tồn được xác định là quan trọng nhất nên công ty sẽ xây dựng một quy chế bảo tồn dựa vào quy chế mà Ban Quản lý vịnh Nha Trang đang thực hiện. Công ty cũng sẽ hợp tác với Viện Hải Dương học và các chuyên gia của Thái Lan để xây dựng quy chế bảo tồn. “Chúng tôi sẽ giữ nguyên hiện trạng 100%; sử dụng vật liệu nhẹ như tre, nứa, dừa ở đây” - ông Nhựt nói.
Như Báo Người Lao Động đã thông tin, đơn vị tư vấn Wimberly Allison Tong & Goo (WATG - Mỹ) vừa thuyết trình ý tưởng xây khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng và tâm linh ở Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã (tỉnh Thừa Thiên - Huế) với diện tích trên 300 ha.
Liên quan đến khu vực mà WATG nêu ý tưởng, PGS-TS Võ Văn Phú, giảng viên Trường ĐH Khoa học - ĐH Huế (chuyên gia đa dạng sinh học và môi trường), cho biết từng nghiên cứu về đa dạng sinh học và xuất bản cuốn sách về động thực vật ở đây vào năm 2004. Theo đó, VQG Bạch Mã là rừng đặc dụng, tính đa dạng sinh học rất cao.
Hệ sinh thái ở đây rất đặc thù, có thảm xanh chạy từ Lào ra biển Đông và từ Quảng Nam ra Quảng Trị - duy nhất có ở Việt Nam. Chính vì vậy, khu vực này thu hút được lượng động, thực vật di cư từ Bắc vào Nam, từ Đông sang Tây và ngược lại; là nơi giao lưu, hội tụ các giống loài khác nhau mà không nơi nào có.
“Tôi hy vọng Thừa Thiên - Huế không phát triển du lịch như những khu bảo tồn khác để cuối cùng phải trả giá. Tôi không phản đối ý tưởng quy hoạch nhưng theo tôi thì khó tìm ra giải pháp để vừa bảo tồn vừa phát triển bền vững đa dạng sinh học. Các giải pháp WATG đưa ra chỉ giảm thiểu chứ chắc chắn có tác động đến đa dạng sinh học. Ý tưởng quy hoạch này phù hợp với vùng đồi núi nhưng áp dụng ở khu rừng đặc dụng, với diện tích lớn thì sẽ mất nhiều hơn được mà không thể bù đắp” - ông Phú lo ngại. Q.Nhật (Người Lao Động 19/4) ) đầu trang(
Cùng với việc tập trung bảo vệ an toàn diện tích rừng trên địa bàn, năm 2016, Hạt Kiểm lâm Như Xuân (thuộc chi cục kiểm lâm) đã được UBND tỉnh giao thực hiện nhiệm vụ trồng mới 200 ha rừng thay thế.
Để hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng, Hạt Kiểm lâm Như Xuân đã chủ động thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh; tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng mới trồng; tổ chức cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn chuẩn bị tốt hiện trường như: phát dọn thực bì, đào hố, lấp hố...
Đến đầu tháng 4-2016, Hạt Kiểm lâm Như Xuân đã chỉ đạo, tổ chức cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trong huyện trồng mới được 200 ha rừng thay thế, chủ yếu là keo tai tượng Úc, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2016.
Nét mới là Hạt Kiểm lâm Như Xuân đã phối hợp với các ngành chức năng tăng cường quản lý chặt chẽ chất lượng cây giống, tiến hành kiểm tra cây giống tại các vườn ươm của đơn vị cung cấp cây giống nếu đạt các tiêu chuẩn quy định mới cho xuất vườn đem ra trồng nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng rừng trồng. (Báo Thanh Hóa 15/4) ) đầu trang(
Đồng Nai có điều kiện để thực hiện liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp. Đó là nhận định được đưa ra tại hội nghị mới đây của ngành Nông nghiệp và PTNT tỉnh.
Theo thống kê của ngành Nông nghiệp tỉnh, tính đến cuối năm 2014, Đồng Nai có 199.680 ha rừng và đất lâm nghiệp với 3 loại rừng. Trong đó chiếm phần lớn là rừng đặc dụng hơn 1.000 ha, rừng phòng hộ hơn 40 ngàn ha, rừng sản xuất hơn 35.600 ha và diện tích đất lâm nghiệp ngoài 3 loại rừng với gần 20 ngàn ha. Diện tích đất rừng được giao khoán trên địa bàn tỉnh gần 11 ngàn ha, chiếm 5,6% diện tích đất lâm nghiệp.
Đồng Nai là tỉnh có nhiều nỗ lực trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện sắp xếp đổi mới các nông lâm trường, quy hoạch các loại rừng, trồng rừng phòng hộ và trồng rừng nguyên liệu kết hợp với chế biến gỗ rừng trồng. Tỷ lệ che phủ cây xanh đạt 56% và che phủ rừng đạt 29,76%.
Bên cạnh đó, ngành chế biến gỗ tỉnh đã có những bước phát triển nhất định, tăng mạnh về số lượng nhà máy, quy mô sản xuất, đầu tư thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 1.082 cơ sở hoạt động kinh doanh, chế biến lâm sản. Đa số các cơ sở chế biến nhỏ, hộ kinh doanh cá thể với quy mô vốn dưới 1 tỷ đồng. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhập khẩu gỗ chủ yếu từ các tỉnh lân cận. Đáng chú ý, trên địa bàn tỉnh hiện chưa có tổ hợp tác hay hợp tác xã hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp.
Trước tình hình trên, ngành Nông nghiệp tỉnh đã thảo luận và tìm giải pháp xây dựng chuỗi liên kết trong lâm nghiệp. Mục tiêu đến năm 2020 sẽ xây dựng, thực hiện 4 chuỗi liên kết sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm trong lâm nghiệp, vận động thành lập các hợp tác xã làm đại diện cho nông dân tham gia chuỗi liên kết, triển khai nhiều chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất, thực hiện liên kết chuỗi giá trị trong lâm nghiệp, đảm bảo phát triển bền vững. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đà Nẵng 18/4) đầu trang(
Trong 10 năm qua, từ chỗ phụ thuộc 70% nguyên liệu gỗ nhập khẩu, ngành chế biến gỗ đã “đảo ngược” tỉ trọng này nhờ hiệu quả phát triển rừng. Giá trị xuất khẩu cũng tăng khoảng 3,6 lần trong thời gian đó.
Đây là những chia sẻ của ông Nguyễn Văn Hà, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) với phóng viên Báo điện tử Chính phủ.
Ông cho biết, rất khó có thể đánh giá chính sách nào đem lại hiệu quả cao nhất. Để đạt được những kết quả như ngày hôm nay là do tác động tổng hợp của nhiều chính sách. Tổng hòa các chính sách đã tạo được hiệu quả như trên.
Điển hình như việc giao đất, giao rừng ổn định, lâu dài tạo tâm lý yên tâm cho các tổ chức, cá nhân nhận đất trồng rừng sẵn sàng đầu tư, hưởng lợi từ rừng. Cùng với đó, chính sách phát triển rừng sản xuất đã hỗ trợ người dân cây giống, vật tư để trồng rừng; khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gỗ tại các vùng nguyên liệu tập trung.
Ngoài ra, ở địa phương nào có sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền, ở đó công tác trồng rừng đạt kết quả cao. Bắc Kạn là ví dụ điển hình của cả nước về công tác trồng rừng.
Mặc dù là một trong những tỉnh nghèo nhất của cả nước, nhưng nhờ những chính sách của Nhà nước và sự vào cuộc của chính quyền cấp tỉnh (Bắc Kạn có hẳn 1 nghị quyết chuyên đề về phát triển lâm nghiệp), Bắc Kạn đã trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về kết quả trồng rừng: Trong vòng 5 năm qua, từ 2011-2015, đã trồng được xấp xỉ 61.000 ha, trong đó 98% là rừng sản xuất, tạo vùng nguyên liệu cho chế biến gỗ.
Bắc Kạn cũng là tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất cả nước: Tăng 13% trong vòng 5 năm, từ 57,5% năm 2011 lên 71% năm 2015. Trong quá trình Bộ KH&ĐT xây dựng dự thảo chính sách hỗ trợ trồng rừng, Bộ cũng đã chủ động thường xuyên phối hợp với Bộ để đưa những nội dung cần thiết vào trong dự thảo.
Theo dự thảo chính sách hỗ trợ trồng rừng cần được xây dựng theo các nguyên tắc: Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong thời gian vừa qua; góp phần thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đạt hiệu quả cao.
Riêng đối với suất đầu tư trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, để bảo đảm chất lượng, hiệu quả, Nhà nước cần cấp kinh phí theo thiết kế, dự toán phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và người trồng rừng được hưởng lợi từ rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. (Chính Phủ 19/4) ) đầu trang(
Phát triển 40 năm, Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Hàm Tân (gọi tắt là Cty Hàm Tân) luôn đứng hàng đầu về hiệu quả sản xuất của tỉnh, bỗng bị sáp nhập, xóa sổ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đời sống của hàng trăm công nhân lao động (CNLĐ).
Tập thể CNLĐ Cty Hàm Tân vừa gửi đơn đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ NNPTNT, UBND tỉnh Bình Thuận và Báo Lao Động kêu cứu về những bức xúc trong Cty. Đó là việc UBND tỉnh ra Quyết định số 3616 ngày 16.12.2015, theo đó sáp nhập Cty Hàm Tân vào Cty Lâm nghiệp Bình Thuận. Ngày 2.2.2016, Cty Lâm nghiệp Bình Thuận ra quyết định thành lập Xí nghiệp Hàm Tân. Thế là, Cty Hàm Tân có thương hiệu, bề dày uy tín, tồn tại từ hàng chục năm qua chính thức bị xóa sổ, mất thương hiệu.
Trong 2 năm gần đây (2014 và 2015), Cty Hàm Tân đạt doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập của CNLĐ ở mức cao. Cụ thể, năm 2014, doanh thu đạt 43 tỉ đồng, lợi nhuận 21 tỉ đồng, nộp ngân sách 6 tỉ đồng. Năm 2015, tăng trưởng mạnh hơn, doanh thu đạt 54,5 tỉ đồng, lợi nhuận 22,5 tỉ đồng, nộp ngân sách 17 tỉ đồng (tăng 3 lần). Người lao động có thu nhập trung bình 11,3 triệu đồng/người/tháng.
Từ vốn điều lệ ban đầu có 4,6 tỉ đồng đã tăng lên 76 tỉ đồng. Cty Hàm Tân đang làm ăn phất lên như nêu trên, lại bị sáp nhập và bị xóa mất thương hiệu. Trong khi đó, Cty “mẹ” là Cty Lâm nghiệp Bình Thuận lại làm ăn kém hiệu quả nhiều so với Cty Hàm Tân, vì chỉ có mức đóng góp ngân sách thấp 2,5 tỉ đồng vào năm 2015, lợi nhuận chỉ 4,4 tỉ đồng và thu nhập người lao động là chưa đến 6 triệu đồng/người/tháng.
Càng phát sinh những vấn đề bức xúc khi sáp nhập, đó là Cty Hàm Tân khi trở thành xí nghiệp, thì Cty “mẹ” rút vốn, không thể chủ động trong sản xuất kinh doanh. Trong khi diện tích rừng do Cty “mẹ” quản lý sẽ tăng lên trải dài hơn 200km, dẫn đến khó quản lý, nguy cơ lấn chiếm sẽ cao và phát sinh cháy rừng tăng.
Việc sáp nhập còn thể hiện sự làm trái với chỉ đạo của Chính phủ, đó là ngày 16.11.2015, Thủ tướng Chính phủ có văn bản số 2095 chỉ đạo về “Phương án tổng thể sắp xếp đổi mới Cty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Bình Thuận”, là không sáp nhập các Cty nông, lâm nghiệp.
Theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17.12.2014, là phải tiếp tục giữ và phát triển thương hiệu và cũng không được đổi tên doanh nghiệp, không sáp nhập các Cty nông, lâm nghiệp. Những vấn đề cầu cứu của tập thể CNLĐ Cty Hàm Tân đang mong chờ Chính phủ, Bộ NNPTNT… cũng như UBND tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết thỏa đáng. (Lao Động 19/4) ) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo số liệu công bố của Ngân hàng Thế giới, khu vực Mỹ Latin và Caribe có diện tích rừng sụt giảm nhiều nhất thế giới từ năm 1990 tới nay.
Theo Telegraph, thế giới đã mất đi diện tích rừng tương đương 1.000 sân bóng đá mỗi giờ trong 25 năm qua. Các chuyên gia cảnh báo vấn nạn phá rừng là một vấn đề lớn đối với thế giới do tài nguyên rừng đang bị cạn kiệt nhanh chóng.
Sau ngày Quốc tế về Rừng 21/3 năm nay, một nghiên cứu cho biết ước tính hiện còn 3.000 tỷ cây xanh trên Trái Đất.Tuy nhiên, theo số liệu công bố của Ngân hàng Thế giới, Trái Đất đã mất 1,3 triệu km2 rừng từ năm 1990 tới nay, lớn hơn diện tích quốc gia Nam Phi.
Trong khi vùng Trung Đông và Bắc Phi có tỷ lệ gia tăng diện tích rừng lớn nhất từ năm 1990 đến 2015, thì khu vực Mỹ Latin, Caribe và tiểu vùng Sahara châu Phi mất nhiều diện tích rừng nhất, mỗi khu vực giảm 10%.
Khu vực Mỹ Latin và Caribe có diện tích rừng sụt giảm nhiều nhất, 970.000 km2 từ năm 1990 đến 2015. Vùng này có diện tích rừng lớn thứ hai trên thế giới, chiếm 1/4 tổng diện tích rừng toàn cầu.
Đến năm 2012, hơn 14% diện tích đất trên thế giới được các quốc gia bảo vệ.Mỹ Latin và khu vực Caribe dẫn đầu tỷ lệ này, với 21,2% tổng diện tích đất được bảo vệ.
"Rừng đóng vai trò chính trong cuộc chiến chống đói nghèo ở nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực và tạo công ăn việc làm. Và rừng cung cấp các dịch vụ môi trường quan trọng như nước và không khí sạch, bảo tồn đa dạng sinh học và chống biến đổi khí hậu", José Graziano da Silva, Tổng giám đốc Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc cho biết.
"Hướng thay đổi đang tích cực, nhưng con người cần làm tốt hơn. Thế giới sẽ không giảm thiểu được tác động của biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển bền vững nếu không bảo vệ rừng và sử dụng nhiều nguồn tài nguyên bền vững mà rừng mang lại", ông Graziano nhấn mạnh. (Khoa Học Và Phát Triển 17/4) đầu trang(
Hôm 15/4, chính quyền Malaysia đã cho tiêu huỷ số ngà voi buôn bán trái phép trị giá khoảng 20 triệu USD.
Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường Malaysia, ông Wan Junaidi Tuanku Jaafar cho biết, các nhà chức trách Malaysia đã tịch thu hơn 4.000 mẫu ngà voi và nhiều loại mẫu vật thú hoang dã khác trong những nỗ lực ngăn chặn, buôn bán động vật hoang dã. Tổng cộng 9,55 tấn ngà voi bị thiêu huỷ với giá trị ước tính hơn 20 triệu USD.
Malaysia đã ký kết Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) từ năm 1978, và đất nước này cũng đã ban hành và thực thi luật pháp riêng để hoàn thành nghĩa vụ của mình theo Công ước. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 16/4) đầu trang(./.
|
|||