Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 04 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Chiều ngày 20-4, thông tin từ Hạt kiểm lâm huyện Tây Trà, Quảng Ngãi cho biết, trong 2 ngày qua, trên địa bàn huyện liên tiếp xảy ra các đợt cháy rừng gây thiệt hại đáng kể cho địa phương.
Sáng ngày 20-4, nhận được tin báo tại xã Trà Lãnh, huyện Tây Trà xảy ra vụ cháy rừng, lực lượng chức năng địa phương đã lập tức huy động Công an, xã đội tham gia dập tắt lửa. Ngọn lửa nhanh chóng được dập tắt, tuy nhiên, đã kịp đốt cháy hơn 1000 cây gỗ keo của người dân địa phương.
Trước đó, ngày 19-4, tại thôn Hà, xã Trà Khê, huyện Tây Trà xảy ra vụ cháy do một người dân đi làm keo đốt vỏ, lá  keo khô ở ven đường, không may ngọn lửa bén cháy vào rừng keo vừa mới khai thác rồi cháy lan ra trên diện rộng. Sau hơn 2 giờ đồng hồ lực lượng chức năng mới khống chế được đám cháy. Theo thống kê ban đầu, diện tích cháy khoảng 1, 5 héc ta.
Cùng thời gian này, tại núi Dĩa thuộc thôn Bắc Dương, xã Trà Thọ, huyện Tây Trà xảy ra đám cháy thiêu rụi hơn 4 héc ta rừng keo và vườn quế của người dân. Sau hơn 5 tiếng đồng thì đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn. Vụ cháy đã gây thiệt hại lớn cho kinh tế của người dân, ước tính trên 200 triệu đồng.
Hiện ngành chức năng đang vào cuộc tìm nguyên nhân của các vụ cháy để xử lý nghiêm theo quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng. (An Ninh Thủ Đô 20/4) đầu trang(
Cháy âm ỉ từ 5h sáng ngày 20/4, đến 17h30 cùng ngày, lực lượng PCCC mới khống chế được ngọn lửa tại rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng.
Tin tức trên báo Lao động, theo báo cáo ban đầu của Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, vị trí xảy ra cháy nằm ở Km2 đường lên đỉnh Bà Nà – Núi Chúa, thuộc địa phận xã Hòa Ninh, là vị trí tiếp giáp giữa rừng sản xuất và rừng đặc dụng, nơi vừa là khu vực rừng bảo tồn, vừa có các hoạt động phát triển du lịch.
Người dân địa phương cho hay, họ phát hiện khói bốc lên từ 5h sáng ngày 20/4 và nghĩ rằng do người dân đốt xử lý thực bì để trồng rừng nên chủ quan không để ý. Đến trưa cùng ngày, khi ngọn lửa bùng phát mạnh, người dân mới hốt hoảng báo cho đội kiểm lâm quản lý khu rừng đặc dụng và tiến hành dập lửa.
Báo Thanh niên đưa tin, trong nhiều giờ, ngọn lửa đã cháy lan từ khu vực taluy dương ven đường lên khu vực rừng đặc dụng. Lực lượng PCCC đã huy động cả chục lượt xe tiếp nước, cùng kiểm lâm, lực lượng địa phương cứu rừng. Theo thống kê ban đầu, khoảng 5ha rừng trồng của người dân bị thiệt hại.
Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng khẳng định, nguyên nhân là do con người chủ quan đốt xử lý thực bì gây cháy và lực lượng sẽ tiếp tục điều tra xử lý nghiêm theo quy định. Trước đó, trên địa bàn TP Đà Nẵng đã xảy ra 2 vụ cháy rừng liên tiếp. Nguy cơ cháy rừng đang ở mức nguy hiểm báo động cấp 4, có nguy cơ cháy trên diện rộng. (Đời Sống Và Pháp Luật 21/4; Thanh Niên 20/4; Lao Động 20/4) đầu trang(
Năm nay thời tiết diễn biến khó lường, mới đầu mùa khô nhưng nắng nóng kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao. Trước tình hình đó, từ đầu năm đến nay Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô.
Hạt Kiểm lâm các huyện đã chủ động xây dựng và triển khai chương trình kế hoạch công tác bảo vệ rừng, PCCCR trên địa bàn. Củng cố, kiện toàn lại 12 ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện; 141 ban chỉ huy PCCCR cấp xã, 624 tổ, đội chữa cháy rừng cơ sở. Ký kết lại hợp đồng bảo vệ rừng trong mùa khô đối với tất cả các xã có nguy cơ cháy rừng. Chuẩn bị đầy đủ nguồn lực và các dụng cụ chữa cháy theo phương châm “3 tại chỗ”.
Lực lượng kiểm lâm địa bàn còn tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra lửa rừng tại các vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để chủ động ứng phó khi có xảy ra cháy rừng. Đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR: Đã tổ chức được 38 đợt tuyên truyền, thu hút hơn 2.500 lượt người tham gia; qua đó có 125 hộ chủ rừng ký cam kết không vi phạm các quy định về bảo vệ rừng và PCCCR. Chi cục Kiểm lâm còn thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với các địa phương và các chủ rừng trên địa bàn tỉnh.
Ông Nguyễn Đại - Phó chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Nhờ thường xuyên củng cố và nâng cao năng lực PCCCR mà hiện nay ý thức của người dân ở các địa phương đã tốt hơn trước rất nhiều. Ví dụ như đầu tháng 4.2016, ở tại xã Đức Minh (Mộ Đức) có kẻ xấu cố tình đốt hơn 10 cây dương liễu dọc đường đi. Khi phát hiện, chính quyền xã đã huy động lực lượng tại chỗ kịp thời đến dập tắt đám cháy.
Ông Đại cho biết thêm, hiện nay thời tiết rất nắng nóng nên một số nơi trong tỉnh đã chuyển cấp dự báo cháy rừng lên đến cấp 3-4, cấp báo hiệu nguy cơ cháy rừng rất cao. Vì vậy, các địa phương trong tỉnh cần ứng trực thường xuyên để kịp thời xử lý các tình huống khi có cháy rừng xảy ra. Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đang hướng về cơ sở, giao kinh phí cho mỗi huyện chọn 1 xã tổ chức diễn tập chữa cháy rừng cấp xã ngay trong mùa khô này, với mức hỗ trợ 40 triệu đồng/xã có tổ chức diễn tập. (Báo Quảng Ngãi 20/4) đầu trang(
Văn phòng Ban chỉ đạo phòng cháy chữa cháy rừng tỉnh Hậu Giang phối hợp với Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng huyện Long Mỹ cùng xã Lương Nghĩa vừa diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng tại Trung tâm Giống thực nghiệm ấp 6, xã Lương Nghĩa.
Được biết khu trung tâm giống có khoảng 67ha diện tích rừng, thời gian này do thời tiết nắng nóng kéo dài nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra cháy rừng nên việc tổ chức đợt diễn tập lần này là cần thiết trong việc nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng chống cháy rừng, đồng thời nâng cao trình độ chỉ huy tại chỗ của Ban chỉ huy xã, sẵn sàng xử lý khi có tình huống xấu xảy ra. Đặc biệt là đảm bảo an toàn cho tổng số 18 hộ sinh sống trong khu vực có diện tích rừng khu trung tâm giống. (Báo Hậu Giang 19/4) đầu trang(
Xã Nậm Khắt (Mù Cang Chải) giáp ranh với nhiều địa phương có diện tích rừng lớn với nguy cơ xảy ra cháy rừng cao như các xã: Púng Luông, Chế Tạo (Mù Cang Chải), Nậm Búng (Văn Chấn) và Ngọc Chiến (Mường La, Sơn La) nên công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được Đảng ủy, chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm và coi là nhiệm vụ hàng đầu.
Xã Nậm Khắt có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn với tổng diện tích 6.584,18 ha; trong đó, rừng tự nhiên phòng hộ 3.230,5 ha, rừng đặc dụng 1.226,3 ha, rừng trồng phòng hộ 1.179,2 ha, rừng tự nhiên sản xuất 358,18 ha, rừng trồng sản xuất 563 ha.
Để giữ được tài nguyên rừng, Đảng ủy, chính quyền địa phương đã chỉ đạo thành lập 9 tổ xung kích PCCCR tại 9 bản, mỗi tổ có từ 6 đến 7 người, có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với nhân dân cư trú trên địa bàn làm tốt công tác bảo vệ rừng (BVR).
Hàng tháng, Ban chỉ huy PCCCR xã, đại diện Ban quản lý Rừng phòng hộ huyện và cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn cùng với các ban, ngành, đoàn thể thường xuyên tổ chức giao ban, chỉ đạo thực hiện các phương án tác chiến và bàn giao nhiệm vụ cụ thể theo từng giai đoạn cho các tổ.
Xã đã tích cực tuyên truyền về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, phổ biến sâu rộng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị của UBND tỉnh, huyện về công tác PCCCR và quản lý, BVR đến với nhân dân. Cấp ủy Đảng, chính quyền xã luôn phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả phương châm “4 tại chỗ”, thường xuyên nhắc nhở các chủ rừng sửa chữa và làm mới các tuyến   đường băng cản lửa.
Các khu rừng trọng điểm như: Tà Sua, Háng La - điểm giáp ranh với xã Ngọc Chiến, Chỏm Mỏ - nơi giáp ranh với xã Púng Luông và khu vực Xua Lông thuộc bản Xua Lông… đều được chính quyền xã đặc biệt quan tâm lưu ý. Nếu xảy ra cháy rừng tại bản Hua Khắt thì các bản lân cận như: Nậm Khắt, Páo Khắt và Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) xã phải huy động kịp thời 180 người ra ứng cứu ban đầu, còn nếu xảy ra cháy rừng thuộc khu vực bản Cáng Dông thì các bản Páo Khắt, Lả Khắt và Ban CHQS xã phải huy động ngay 150 người ra ứng cứu.
Phương án này đều được áp dụng cho tất cả các bản trên địa bàn. Trường hợp xảy ra cháy lớn với cường độ mạnh, xã huy động lực lượng của toàn xã và các xã lân cận đến tham gia cứu chữa.
Ông Chang Thế Sửu - Chủ tịch UBND xã Nậm Khắt cho biết: “Xã đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể tăng cường lực lượng phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện chuẩn bị tinh thần sẵn sàng ứng cứu ở cấp báo động nguy hiểm. Đồng thời, tổ chức tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề với các xã giáp ranh để trao đổi, bàn bạc phương án tác chiến trong công tác quản lý, BVR để khi cần thiết có thể huy động lực lượng kịp thời”.
Với nhiệm vụ của mình, thời gian qua, Ban chỉ huy PCCCR xã đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền BVR, trong đó Ban Văn hoá xã tổ chức truyền thanh liên tục trên loa về công tác BVR ở các địa phương để giúp người dân nắm bắt được tình hình ở từng khu rừng trọng điểm.
Ban Công an, Ban CHQS xã, Đoàn Thanh niên và các tổ PCCCR ở bản cùng với nhân dân chuẩn bị tốt phương tiện cần thiết để sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng. Còn với nông dân, Ban chỉ huy PCCCR xã đã quán triệt không được đốt nương trong giờ nắng nóng, lúc có gió thổi mạnh.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho bà con nông dân sản xuất kịp thời vụ, Ban chỉ huy PCCCR đã tổ chức hướng dẫn bà con cách đốt nương vào những buổi sáng sớm trong khoảng thời gian từ 7 đến 8 giờ và buổi chiều sau 5 giờ.
Trước khi đốt nương phải làm đường băng cản lửa và có người canh gác cẩn thận. Nương rẫy chỉ được làm ở những khu vực đã được quy định cho phép sản xuất, nếu ai cố tình xâm lấn vào rừng thì sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đến bản Làng Minh - một bản nằm cách trung tâm xã gần chục cây số - nơi có nhiều rừng tự nhiên phòng hộ, bà con nơi đây đã thực hiện tốt công tác BVR.
Ông Giàng A Phùa cho hay: “Bà con đã chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện khi cần thiết nếu như có lửa lan vào rừng. Rừng là nguồn sống, rừng điều hoà môi trường, tạo ra không khí trong lành, chống xói mòn, hạn chế lũ lụt và cho gỗ làm nhà; đặc biệt, cây sơn tra đã góp phần cải thiện đời sống nên chúng tôi luôn thực hiện tốt công tác BVR”.
Các bản Xua Lông, Làng Sang, Pú Cang… có diện tích rừng tự nhiên phòng hộ, rừng tái sinh, rừng lau lách thường dễ xảy ra cháy rừng. Các tổ PCCCR của các bản này đã tổ chức tuần tra, canh gác thường xuyên trong giờ cao điểm.
Ông Trần Quang Trung - Trạm phó Trạm Kiểm lâm khu II, kiêm nhiệm công tác phụ trách địa bàn xã Nậm Khắt cho hay: “Việc giữ rừng ở đây được tổ chức rất khoa học, mỗi bản có một chòi canh gác rừng. Mỗi ca trực gác và đi tuần có từ 2 đến 3 hộ tham gia với thời gian từ 1 ngày đến 2 ngày. Sau mỗi ca trực đều có sổ ký kết bàn giao công việc, các hộ dân trong bản thay phiên nhau canh trực lần lượt theo vòng tròn”.
Nhờ đó, từ năm 2010 đến nay, Nậm Khắt chưa có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra. Hiện nay, xã đang tiếp tục duy trì lực lượng trông coi, BVR và phát huy tính hiệu quả của phương án tác chiến đã đề ra. (Báo Yên Bái 20/4) đầu trang(
Ngày 20-4, đoàn công tác của tỉnh do Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phan Văn Đon làm trưởng đoàn đã kiểm tra tình hình bảo vệ, phòng chống cháy rừng tại huyện Lộc Ninh.
Huyện Lộc Ninh hiện có 25.946,25 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng là 22.102,30 ha, 3.004,42 ha đất chưa có rừng và 839,53 ha diện tích khác. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Lộc Ninh chưa để xảy ra cháy rừng nghiêm trọng. Ngành chức năng của huyện đã phát hiện, xử lý 17 vụ vi phạm hành chính về quản lý bảo vệ rừng và lâm sản, thu giữ 9 xe máy, 66,089m3 gỗ tròn, xẻ các loại, 448 cây rừng non gỗ tạp và 180,6kg động vật rừng.
Tại buổi kiểm tra, lãnh đạo huyện Lộc Ninh kiến nghị các ngành chức năng tăng cường tập huấn phòng cháy, chữa cháy rừng cho lực lượng bảo vệ rừng trên địa bàn huyện; đầu tư trang thiết bị, phương tiện, công trình phòng cháy, chữa cháy. Lãnh đạo huyện cũng kiến nghị tỉnh có văn bản với Trung ương sớm công nhận Khu căn cứ Bộ chỉ huy Miền - Tà Thiết là khu rừng đặc dụng để thuận lợi hơn trong công tác bảo vệ và phòng chống cháy rừng.
Đoàn kiểm tra đã tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của huyện và cho biết sẽ báo cáo UBND tỉnh để có giải pháp hỗ trợ kịp thời trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2016 và các năm tiếp theo. (Báo Bình Phước 20/4) đầu trang(
Từ cuối năm 2015 và đầu năm 2016 đến nay, liên tục các đợt nắng nóng kéo dài xảy ra đã làm cho các khu vực rừng ở tỉnh ta trở nên khô hạn, phải đối mặt với nguy cơ cháy rất cao.
Theo Chi cục Kiểm lâm (KL) tỉnh, trong 4 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra gần 10 vụ cháy rừng, gây thiệt hại nhiều diện tích rừng phòng hộ và rừng trồng trên địa bàn tỉnh. Hầu hết diện tích rừng bị cháy là rừng trồng của các công ty lâm nghiệp, gồm rừng keo, bạch đàn, dầu rái… Các địa phương thường xảy ra cháy rừng là huyện Hoài Nhơn, Vân Canh, Phù Cát, Tuy Phước.
Ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt KL huyện Vân Canh, cho biết: “Hàng năm cứ đến mùa hanh khô, nguy cơ cháy rừng tại khu vực rừng trồng của các doanh nghiệp ở các xã Canh Vinh, Canh Liên, Canh Hiệp là khá cao do các điều kiện về phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) chưa đạt yêu cầu. Mới đây nhất, một vụ cháy rừng đã xảy ra tại tiểu khu 339, xã Canh Vinh đã thiêu rụi 10 ha rừng; trong đó, rừng tự nhiên dầu rái và 9 ha rừng trồng keo lai từ 1 - 3 năm tuổi”.
Tương tự, một số rừng trồng ở các khu vực như: dãy núi Dông Bồ - Gò Cầy thuộc 2 xã Hoài Hải, Hoài Mỹ (Hoài Nhơn); khu vực núi Đá Đen, thuộc địa bàn thôn Bình An 2, xã Phước Thành (Tuy Phước) hay vùng rừng dọc núi Bà Hỏa, núi Vũng Chua (TP Quy Nhơn),… hầu như không có chòi canh lửa nào được xây dựng. Hơn nữa, hàng ngày, tại các khu vực rừng kể trên có nhiều người ra vào rừng tự do để chăn thả bò, dê, săn bắn chim thú, lấy củi, đốt tổ ong, nhưng không thấy có lực lượng nào lưu ý, nhắc nhở PCCCR.
Gần đây nhất (ngày 6.4), tại khoảnh 7, tiểu khu 96, xã Hoài Đức đã xảy ra vụ cháy rừng. Đáng nói, dù các ngành chức năng đã huy động 51 người tham gia và triển khai việc chữa cháy rừng, nhưng đám cháy đã kịp thiêu rụi 3,1 ha rừng trồng nhiều năm tuổi.
Hiện nay, mùa khô ở tỉnh ta vẫn còn tiếp diễn và theo dự báo nắng nóng vẫn còn kéo dài đến cuối tháng 8, nên nguy cơ cháy rừng rất dễ xảy ra. Việc tổ chức tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng, PCCCR cần được ngành KL và các tổ chức, hội, đoàn thể chú trọng; bởi với các trang thiết bị chữa cháy hiện có còn rất hạn chế về tính năng. Do vậy, biện pháp khả thi nhất hiện nay là xây dựng các phương án cảnh báo, dự báo cháy rừng, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tại các khu vực có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Trao đổi với chúng tôi, ông Huỳnh Ngọc Bảo, Phó Chi cục trưởng Chi cục KL tỉnh, cho biết: Để chủ động PCCCR, thời gian qua, Ban chỉ huy PCCCR của tỉnh đã được củng cố, kiện toàn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho 132 Ban chỉ huy bảo vệ rừng và PCCCR xã, phường, thị trấn cùng 711 tổ đội bảo vệ rừng và PCCCR.
Chi cục KL cũng đã yêu cầu các Hạt KL, các chủ rừng xây dựng, củng cố các tổ đội bảo vệ rừng, đội PCCCR thường xuyên tổ chức tuyên truyền về công tác PCCCR; vận động người dân ở các địa phương có rừng quan tâm hơn đến công tác này. Bên cạnh đó, bằng nguồn vốn từ Dự án nâng cao năng lực PCCCR giai đoạn 2014 - 2016, tỉnh ta cũng đã trang bị cho các Hạt KL, Đội KL, tổ xung kích và các ban quản lý rừng phòng hộ tại các địa phương 40 máy thổi gió cùng các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho công tác PCCCR.
Có thể thấy, PCCCR là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý - bảo vệ rừng. Để công tác này đạt hiệu quả thiết thực, thì cần phải có sự tham gia của cả cộng đồng, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành chức năng và nhất là của người dân. (Báo Bình Định 20/4) đầu trang(
Trước tình hình thời tiết nắng nóng, Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn đã biên chế, thành lập các tổ đội tuần tra phòng cháy chữa cháy 1.158ha rừng tự nhiên Mỹ Sơn.
Qua đó tăng cường lực lượng đến các điểm nóng có nguy cơ cháy rừng để chốt chặn, ngăn ngừa; bố trí thường xuyên 2 nhân viên chốt canh rừng tại điểm cao đỉnh núi Mỏ Cày nhằm quan sát toàn bộ diện tích rừng, kịp thời báo động khi phát hiện cháy; tổ chức phát tuyến hàng chục cây số đường băng xanh, tạo tuyến giao thông cho lực lượng cơ động chữa cháy.
Ban Quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn còn lập phương án tác chiến tại chỗ, phương án phối hợp với UBND xã Duy Phú, Hạt Kiểm lâm huyện Duy Xuyên trong phòng cháy chữa cháy và bảo vệ rừng… Đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn, nhắc nhở du khách đến tham quan di tích về an toàn cháy nổ trong mùa nắng nóng. (Báo Quảng Nam 19/4) đầu trang(
Lâm tặc mang cưa máy phá tan hoang cánh rừng, xẻ thịt nhiều cây gỗ lớn, chỉ đến khi vô số hộp gỗ đã đưa về điểm tập kết, chuẩn bị được đưa ra khỏi rừng thì lực lượng chức năng mới phát hiện bắt giữ. Ông Trương Thanh Hà - Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa (Gia Lai) thừa nhận đã để xảy ra một vụ phá rừng quy mô lớn…
Bức xúc trước việc lâm tặc lộng hành, khai thác gỗ rầm rộ tại cánh rừng giáp danh giữa huyện Krông Pa (Gia Lai) và huyện Krông Năng (Đăk Lăk), ngày 16.4, một người dân huyện Krông Pa (xin được giấu tên) đã tình nguyện đưa phóng viên vào rừng để tận thấy những cánh rừng bị triệt hạ tan hoang…
Theo chân người dẫn đường, chúng tôi từ ngã ba Mê Linh (thôn Mê Linh, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa) vượt qua dốc Mái Nhà dựng đứng, luồn theo con đường mòn giữa rừng với nhiều cây cối bị chặt hạ nằm rải rác hai bên đường. Theo ghi nhận của chúng tôi, ngay tại khu vực cửa rừng, có rất nhiều người mang theo cưa lốc, dao rựa cũng như các dụng cụ hành nghề thợ mộc nối đuôi nhau vào rừng. Ngoài bìa rừng thảm thực vật đã bị đốt cháy khiến cho quả đồi càng trở nên trơ trọi. Nhiều thân gỗ bị chặt phá hoặc bị cháy đổ  nằm rải rác trên ngọn núi…
Sau nhiều giờ đi theo con đường mòn dẫn thẳng vào rừng rậm, chúng tôi lần theo vết xe ô tô còn mới nhất và tìm đến nơi tập kết gỗ nằm trên đỉnh ngọn đồi. Tại đây, hàng trăm súc gỗ đã xẻ vuông vức được xếp chồng chất khắp nơi. Mỗi súc gỗ có chiều rộng 0,6m, chiều dài 0,8m và đều dài khoảng 4-5m.
Nơi tập kết gỗ giống như một đại công trường với những máy móc, cáp tời để vận chuyển gỗ nằm la liệt trong khu vực rừng này. Có những gốc cây đã bị cưa đổ đường kính lên đến hơn 1m… Qua thống kê sơ bộ, tổng cộng tại đây có trên dưới 80 súc gỗ, trung bình khoảng 1m3/súc. Tất cả đều được chặt hạ bằng cưa máy…
Theo phỏng đoán của chúng tôi, để đưa được số gỗ này về vị trí tập kết, lâm tặc đã dùng ô tô với hệ thống dây cáp tời lớn. Tại bãi gỗ, lâm tặc còn đang để lại một rơmoóc cùng nhiều lốp xe ô tô khác. Bên cạnh đó, lâm tặc cũng đã thiết kế hệ thống dây cáp dài để kèo gỗ từ bãi tập kết qua con dốc tới địa điểm xe ô tô có thể vào chở gỗ ra được.
Để tiện cho việc phá rừng, lâm tặc đã dựng hai chòi để ở, nấu ăn ngay tại chỗ. Xung quanh còn nhiều bì nilon đựng thực phẩm, các vật dụng sinh hoạt chứng tỏ đã có lượng người khá đông và ở tại khu vực này trong thời gian dài…
Trao đổi với phóng viên, ông Trương Thanh Hà – Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa (Gia Lai) cho biết đối với vụ việc này, đơn vị đã “nghe thông tin lâu rồi, nhưng để tìm ra bãi gỗ và bắt giữ thì mới đây”. Riêng các đối tượng khai thác thì không bắt giữ được…
Chất vấn về trách nhiệm của kiểm lâm trong vụ việc này, ông Hà nói rằng các cán bộ kiểm lâm vẫn thường xuyên đi tuần tra kiểm soát bảo vệ rừng rất tích cực. Khi phóng viên hỏi với khối lượng gỗ bị khai thác lớn, xảy ra trong thời gian dài như vậy cần rất nhiều thời gian, lực lượng tuần tra kiểm soát tích cực tại sao không phát hiện ? Ông Hà cho rằng việc bắt gỗ trong rừng là rất khó: “Rừng này rộng lớn, đi sao hết được. Việc lâm tặc khai thác trong rừng phải tìm, phải kiếm chứ đâu phải như đường như ô bàn cờ mà dễ thấy” – ông Hà trả lời.
Ông Hà nói thêm, dù đã nhận được thông tin lâm tặc phá rừng nhưng với quan điểm “đánh rắn phải đánh giập đầu” nên đã chỉ đạo phải tìm mọi cách bắt được đối tượng. “Chính vì thế Hạt đã cho anh em mật phục. Nhưng mật phục mãi mà không sao bắt được đối tượng” – ông Hà than vãn.
“Nhiều khả năng có sự liên kết giữa các đối tượng vì khối lượng gỗ lớn. Đây là vụ phá rừng lớn nhất từ khi tôi về nhận nhiệm vụ tại đây” - ông Hà nói.
Ông Nguyễn Thế Cường – Chánh Văn phòng UBND huyện Krông Pa cho biết, đã giao Hạt Kiểm lâm và Công an huyện nhanh chóng điều tra làm rõ vụ việc. Một lãnh đạo Công an huyện Krông Pa cho biết đã cho cán bộ cùng phối hợp kiểm tra vụ việc, tới đây sẽ thông tin cho báo chí.
Thời gian gần đây, huyện Krông Pa luôn là điểm nóng về tình trạng phá rừng. Nổi bật gần đây nhất là vụ phá rừng tại lâm phần của Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Rsai với việc xe chở gỗ của ông Nguyễn Đình Sơn – Trưởng Ban quản lý bị bắt giữ. Cứ ngỡ các cơ quan chức năng sẽ có nhiều biện pháp mạnh tay để hạn chế nạn phá rừng thì lại để xảy ra một vụ phá rừng quy mô lớn nhất từ trước tới nay như phóng viên phản ánh. (Dân Việt 21/4) đầu trang(
Như số báo trước đã nêu, diện tích đất rừng UBND tỉnh Quảng Bình quyết định cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê quá lớn so với diện tích giao cho người dân toàn xã. Hơn nữa, tại Quyết định số 3545/QĐ-UBND có nội dung: “Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình có trách nhiệm thu hồi sản phẩm…”, là trái với chính sách của Nhà nước…
Không những diện tích đất rừng cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê lớn hơn rất nhiều (gấp gần 100 lần) diện tích đất giao cho các hộ gia đình, cá nhân của xã Xuân Trạch, mà nội dung “Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình có trách nhiệm thu hồi sản phẩm…”, còn trái với chính sách của Nhà nước tại Nghị định số 02-CP, Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg và Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT/BNN-BTC, quy định về quyền lợi của hộ gia đình, cá nhân được giao, cho thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Đó là nguyên nhân chính để xảy ra tranh chấp giữa các hộ dân với Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch sau này. Ngày 3/12/2004, Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường Quốc doanh. Theo đó, quy định những lâm trường đang quản lí chủ yếu là rừng trồng sản xuất, đất quy hoạch để trồng rừng sản xuất và quản lí rừng sản xuất chủ yếu là rừng tự nhiên có quy mô diện tích tập trung, thì tổ chức lại thành Công ty Lâm nghiệp, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Tuy nhiên, ở tỉnh Quảng Bình, việc sáp nhập các lâm trường, chuyển sang hình thức Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình đã được thực hiện trước khi Chính phủ ban hành Nghị định số 200/2004/NĐ-CP 2 năm (năm 2002).
Từ tháng 12/2009, UBND tỉnh Quảng Bình có quyết định cho Công ty Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê đất, rồi chuyển đổi mô hình thành Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình năm 2010, để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Trước đó, năm 2004, Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch (thành viên của Công ty) đã gom diện tích giao khoán cho các hộ gia đình trồng rừng theo Dự án 327 (chủ yếu là cây huỵnh, có tuổi khai thác là 50 năm), rồi cho đốn cây huỵnh có tuổi mới trên dưới 10 năm, đồng thời khai thác rừng tự nhiên đầu nguồn, để trồng thay thế vào đó là cây keo lá tràm, là giống cây kinh tế ngắn ngày.
Đến năm 2014, Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch khai thác cây keo lá tràm, cho máy móc múc đất làm đường chằng chịt để cho xe lên chở gỗ cây keo, phá nhiều đồi núi, không còn giữ được trạng thái như ban đầu. Việc làm đó của Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch gây bức xúc cho Nhân dân địa phương, dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện ngày càng gay gắt.
Đến đây, mọi việc đã khá rõ ràng, kể từ khi chuyển đổi mô hình từ lâm trường Quốc doanh, sang mô hình Công ty lâm nghiệp theo Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch, thuộc Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình đã phá vỡ mối quan hệ Lâm trường – các hộ gia đình, cá nhân đã hình thành và tồn tại trước đây, với mô hình Lâm trường là “bà đỡ”, các hộ dân thực hiện các công việc trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng; để Lâm trường chuyển sang thế độc quyền, chiếm hữu phần lớn đất rừng ở địa phương này, khiến Nhân dân địa phương hầu như không còn đất để sản xuất, chăm lo cuộc sống (trong số hơn 12.000ha Lâm trường Bố Trạch quản lí năm 1993, đến năm 2009 được tỉnh cho thuê 10.657,97ha; các hộ dân xã Xuân Trạch chỉ được giao lại 195,349ha). Như vậy, là chưa phù hợp với quy định tại các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn.
Thực tế, Nghị định số 200/2004/NĐ-CP là văn bản pháp quy, chuyên về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường Quốc doanh, không liên quan đến chính sách giao rừng và đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, tại Điều 5 Nghị định này cũng có nội dung quy định: “3- Công ty Lâm nghiệp được lựa chọn các hình thức khoán rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để bảo vệ, trồng và khai thác rừng có hiệu quả theo quy định của pháp luật”. Nội dung này đã không được Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch, Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình (nói riêng), UBND tỉnh Quảng Bình (nói chung) thực hiện đúng.
Sau nhiều đơn từ khiếu nại, kiến nghị của người dân, 30/10/2012, UBND tỉnh Quảng Bình ban hành Quyết định số 2702/QĐ-UBND, thu hồi 5.056.615m2 (505,662ha) đất của Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, giao cho UBND xã Xuân Trạch quản lí. Ngày 23/9/2013, UBND tỉnh Quảng Bình ban hành tiếp Quyết định số 2330/QĐ-UBND, thu hồi 887.226m2 (88,723ha) đất của Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, giao cho UBND xã Xuân Trạch quản lí…
Tiếp đến, ngày 7/9/2015, UBND tỉnh Quảng Bình lại có Quyết định số 2477/QĐ-UBND, thu hồi 1.659.920m2 (165,992ha) đất bằng trồng cây hằng năm khác của Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, giao cho UBND xã Xuân Trạch quản lí, lập hồ sơ giao đất, cấp GCNQSDĐ cho các hộ gia đình, cá nhân… lí do Công ty tự nguyện trả lại đất. Cuối cùng, ngày 22/12/2015, UBND tỉnh Quảng Bình lại ban hành Quyết định số 3707/QĐ-UBND, thu hồi 399.741m2 (40ha), của Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình, cũng với mục đích và lí do như trên…
Như vậy, tính từ năm 2009 đến hết năm 2015, UBND tỉnh Quảng Bình có 5 quyết định giao đất cho UBND xã Xuân Trạch, với diện tích vỏn vẹn gần 1.000ha (chưa bằng 1/10 diện tích đất cho Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê), để xã lập phương án giao cho các hộ gia đình, cá nhân trồng và bảo vệ rừng. Chưa nói đến việc thu hồi và giao đất quá manh mún, thì trong số gần 1.000ha giao lại cho xã Xuân Trạch đã có gần 500ha rừng tự nhiên thuộc vùng bảo vệ nguồn nước chảy về đập, chỉ có thể giao cho cộng đồng dân cư quản lí, khoanh nuôi, bảo vệ.
Số còn lại 500ha chia cho các hộ dân, với dân số khoảng 6.000 người, để trồng rừng sản xuất là quá ít. Do đó, đang trở thành gánh nặng vô cùng khó khăn với UBND xã Xuân Trạch trong việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân (do không đủ để chia).
Về chính sách giao rừng, giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trồng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng của Nhà nước là xuyên suốt, chưa bao giờ thay đổi. Thiết nghĩ, tỉnh Quảng Bình nên xem xét lại việc cho Công ty TNHH MTV Lâm Công nghiệp Bắc Quảng Bình thuê diện tích lớn đất rừng tại xã Xuân Trạch, đồng thời cân đối lại diện tích rừng, đất lâm nghiệp giao cho các hộ gia đình, cá nhân, sao cho hài hòa lợi ích giữa người dân và doanh nghiệp (theo kiến nghị của dân, ít nhất cũng phải đạt tỉ lệ 50/50), tạo điều kiện để người dân vừa tham gia sản xuất, vừa tham gia bảo vệ rừng, là lá chắn bảo vệ cuộc sống yên bình ở nơi đây. (Người Cao Tuổi 20/4) đầu trang(
Khoảng 9h15 ngày 20.4, tại địa phận thôn Bản Nghè, xã Yên Cường (Bắc Mê) tổ công tác Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Mê phối hợp với lực lượng Công an xã Yên Cường tuần tra, phát hiện, bắt giữ đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép.
Khi bị phát hiện, bắt giữ, đối tượng Dìm Văn Cảnh, thôn Bản Nghè đang dùng xe máy không biển kiểm soát, vận chuyển 2 khúc gỗ Nghiến nhóm IIA dạng thớt, đường kính 45cm, cao 20cm, khối lượng 0,063 m3. Qua đấu tranh, khai thác, bước đầu đối tượng Cảnh khai nhận, được một người thuê 300 nghìn đồng vận chuyển ra Hà Giang tiêu thụ. Bị áp giải về trụ sở UBND xã, Dìm Văn Cảnh có biểu hiện chống đối, thách thức lực lượng chức năng, đồng thời gọi điện cho đồng bọn kéo đến trụ sở UBND xã.
Hiện lực lượng chức năng đang tiến hành điều tra, xác minh nguồn gốc số gỗ Nghiến trên, đối tượng thuê Dìm Văn Cảnh vận chuyển đi tiêu thụ. Hành vi vận chuyển gỗ khai thác trái phép, đi tiêu thụ giữa ban ngày cho thấy sự liều lĩnh và coi trường pháp luật của một bộ phận người dân. (Báo Hà Giang 20/4) đầu trang(
Sáng 20-4, Bộ Chỉ huy BĐBP Đăk Lăk đã tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai kế hoạch đấu tranh phòng, chống buôn lậu lâm sản trên địa bàn khu vực biên giới tỉnh Đăk Lăk.
Tham dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, lãnh đạo các phòng, đồn trưởng, chính trị viên, đồn phó nghiệp vụ, đội trưởng đội trinh sát, phòng chống ma túy và tội phạm các đồn Biên phòng.
Hội nghị đã quán triệt, triển khai Kế hoạch của Bộ Tư lệnh BĐBP và kế hoạch của Bộ Chỉ huy BĐBP Đăk Lăk về đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn khu vực biên giới tỉnh Đăk Lăk; đánh giá thực trạng tình hình khai thác, buôn lậu vận chuyển trái phép lâm sản trên địa bàn khu vực biên giới của tỉnh Đăk Lăk trong thời gian qua.
Hội nghị cũng nghiêm túc rút kinh nghiệm những mặt ưu, khuyết điểm và giải pháp triển khai thực hiện các kế hoạch nói trên.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ, Đại tá Phạm Quang Hùng, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh yêu cầu cấp ủy, chỉ huy các đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, quán triệt sâu rộng kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển lâm sản trái phép của Bộ Tư lệnh BĐBP và của BĐBP tỉnh đến mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân địa bàn khu vực biên giới.
Trong quá trình triển khai thực hiện phải nêu cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ chủ trì, phát huy đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ công tác biên phòng.
Đồng thời, phối hợp với các lực lượng Công an, Kiểm lâm, chính quyền địa phương nắm chắc tình hình địa bàn, đối tượng, thời gian, phương thức hoạt động của các loại tội phạm, tổ chức tốt hoạt động tuần tra, mật phục; kịp thời phát hiện, xử lý tốt các vụ việc xảy ra trên biên giới, đảm bảo an toàn tuyệt đối người, phương tiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; kiên quyết không để các đối tượng câu móc vào nội bộ đơn vị, phát hiện và xử lý nghiêm khắc đối với các trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm câu móc, tiếp tay cho tội phạm, góp phần quản lý chặt chẽ, giữ vững an ninh trật tự ở khu vực biên giới. (Biên Phòng 20/4) đầu trang(
Sáng 20/4, trao đổi với PV Báo Giao thông, một lãnh đạo huyện Kbang cho biết, lực lượng chức năng vừa tiến hành bắt giữ một chiếc xe quân sự BKS KV-7680 của đơn vị Trung đoàn 38- Sư Đoàn 2- Quân khu V đóng tại huyện Đak Pơ (Gia Lai).
Trước đó, quá trình kiểm tra hành chính, lực lượng chức năng phát hiện chiếc xe này chở một khối lượng gỗ hộp trong xe. Tại thời điểm kiểm tra, người điều khiển phương tiện chở gỗ không chứng minh nguồn gốc hợp pháp số gỗ trên.
Thông tin từ lãnh đạo này cho biết, vào chiều tối ngày 16/4, khi chiếc xe đang trên đường Trường Sơn Đông hướng Khu bảo tồn Kon Chư Răng, xã Sơn Lang về trung tâm thị trấn Ka Nak (huyện Kbang), gần trạm cửa rừng số 2 (Hạt Kiểm lâm huyện Kbang) thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện.
Một cán bộ Kiểm lâm tại vị trí bắt giữ cho biết: "Khi chúng tôi dừng xe và kiểm tra hành chính thì lái xe cự cãi. Lấy lý do là xe quân sự để nhằm không cho lực lượng kiểm tra. Tuy nhiên, sau khi chúng tôi đưa ra lý lẽ theo luật và làm "rắn" thì lái xe mới cho kiểm tra. Người lái xe tên là Nguyễn Chí Xuyên, ông này cho biết làm trong một đơn vị quân đội. Qua thuyết phục lái xe khai nhận số gỗ trên không có giấy tờ hợp lệ. Chiếc xe quân đội không có giấy điều động theo nhiệm vụ. Phương tiện và tang vật được lập biển bản và tạm giữ để tiếp tục điều tra".
Qua đo đếm, trên xe chở hơn 7 khối gỗ hộp, chủng loại gỗ Chò, Kháo, thuộc nhóm 4-6. Hiện lực lượng chức năng tiếp tục mở rộng điều tra liên quan đến vụ việc trên. (Giao Thông 20/4) đầu trang(
Về vụ việc Trạm phó trạm Kiểm lâm Trường Sơn (Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh) bị một số đối tượng đánh trọng thương, chiều 19-4, ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng điều tra làm rõ.
Ông Thái cũng cho biết thêm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã giao Hạt Kiểm lâm huyện Quảng Ninh phối hợp với chính quyền địa phương, Đồn Biên phòng Làng Mô, Công an huyện Quảng Ninh sớm điều tra làm rõ danh tính các đối tượng đánh anh Nguyễn Sơn Thủy. Và tùy theo mức độ vi phạm của các đối tượng sẽ có hướng xử lý theo quy định của pháp luật.
Cũng trong chiều 19-4, các bác sỹ Bệnh viên đa khoa Đồng Hới đã có kết luận ban đầu về tình trạng của anh Thủy, đó là vết thương gây dư chấn não nhẹ cần phải điều trị.
Như đã đưa tin, trước đó, trong lúc đang làm nhiệm vụ tại điểm gác bảo vệ rừng tại thôn Hồng Sơn, xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, anh Nguyễn Sơn Thủy (SN 1971), Trạm phó trạm Kiểm lâm Trường Sơn, đã bị một nhóm đối tượng đánh trọng thương. (Báo Quảng Bình 20/4) đầu trang(
Ngày 20/4, Ban chỉ đạo Thực hiện Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) tổ chức Hội nghị đánh giá công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016. Đồng chí Hà Sỹ Đồng, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng BCĐ Thực hiện BV&PTR chủ trì hội nghị.
Năm 2015, việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp được các cấp ngành, địa phương thực hiện tốt, rừng được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường được thực hiện kịp thời và đúng quy định tạo nên hiệu quả tốt trong công tác bảo vệ rừng tại các vùng được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường. Trong công tác đấu tranh và ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng, qua đấu tranh ngăn chặn các cơ quan chức năng đã bắt giữ và xử lý hơn 430 vụ vi phạm hành chính, tịch thu trên 860 m3 gỗ quy tròn các loại, 450 kg động vật rừng và sản phẩm động vật rừng.
Về nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2016: Tiếp tục bảo vệ vốn rừng hiện có, giảm hẳn tình trạng khai thác, mua, bán, vận chuyển trái pháp luật và tuyệt đối không để xảy ra điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm rừng... Thu hút, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn; chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn. Đồng thời ổn định quy hoạch ba loại rừng để tổ chức phát triển lâm nghiệp bền vững theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh...
Phát biểu kết luận tại hội nghị, đồng chí Hà Sỹ Đồng, Phó chủ tịch UBND tỉnh, trưởng BCĐ thực hiện BV&PTR nhấn mạnh: Các sở, ban, ngành liên quan cần tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, kiểm tra kiểm soát nghiêm nghặt việc khai thác, vận chuyển chế biến lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh; chủ động xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa hanh khô cuối năm nay. Đồng thời, đề nghị các sở, ban, ngành, địa phương cùng chung tay hành động để phát triển rừng một cách hiệu quả và bền vững trong thời gian tới. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Trị 20/4) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Hà Trung được giao bảo vệ 24.450,48 ha rừng tự nhiên trên địa bàn 3 huyện: Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc và thị xã Bỉm Sơn.
Thời gian qua, đơn vị đã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân, các tổ chức tham gia hoạt động lâm nghiệp quản lý chặt chẽ nguồn lửa, không để xảy ra cháy rừng ở các khu vực trọng điểm cháy; phấn đấu không để xảy ra các tụ điểm, điểm nóng về mua bán, vận chuyển, kinh doanh chế biến, lâm sản trái phép.
Ngay từ đầu năm, Hạt Kiểm lâm Hà Trung đã chủ động rà soát, khoanh vùng trên diện tích rừng được giao và xác định 11 xã trọng điểm có nguy cơ cháy cao với tổng diện tích 2.157,31 ha tập trung ở các xã Hà Sơn, Hà Lâm, Hà Bình, Hà Phú... Các khu vực rừng có ràng ràng, cỏ tranh, lau lách, lá thông... tạo thành thảm thực bì dầy, vào thời điểm nắng nóng, khô hanh rất dễ bén lửa nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất lớn.
Trước thực trạng trên, đơn vị đã kiện toàn lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) cơ sở và tổ chức tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy cho các đội, như: Đội phản ứng nhanh, dân quân tự vệ, tổ đội bảo vệ rừng,... sẵn sàng tham gia chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Tổ chức diễn tập chữa cháy rừng, đưa ra các tình huống cháy rừng có thể xảy ra trên địa bàn để các lực lượng địa phương, các tổ chức cùng tham gia học tập, rút kinh nghiệm, nâng cao khả năng tác chiến và phối hợp tác chiến giữa các lực lượng.
Xây dựng các đường băng cản lửa kết hợp với đường tuần tra, kiểm tra an ninh rừng. Thường xuyên kiểm tra, rà soát, khoanh vùng các khu vực có nguy cơ cháy rừng cao, số hóa lên bản đồ vùng trọng điểm cháy nhằm phục vụ có hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành từ huyện đến xã. Căn cứ đặc điểm khí hậu, tình hình thời tiết trên địa bàn để dự tính dự báo nguy cơ xảy ra cháy rừng, thông tin kịp thời đến các xã, thị trấn, chủ rừng và nhân dân để có giải pháp phòng, chống hiệu quả.
Tổ chức lực lượng thường xuyên tuần tra, canh gác, phát hiện lửa rừng trong những ngày nắng nóng khô hanh, có nguy cơ cháy rừng cao (từ cấp III trở lên). Đặc biệt, chú trọng đến khu vực trọng điểm cháy. Chuẩn bị lực lượng, dụng cụ, phương tiện, hậu cần sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ. Xây dựng các công trình PCCCR, như: bảng tin tuyên truyền, biển báo, biển cấm lửa...; mua sắm các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác chữa cháy rừng...
Cùng với công tác PCCCR, công tác bảo vệ rừng và ngăn chặn vận chuyển lâm sản trái phép được Hạt Kiểm lâm Hà Trung thực hiện thường xuyên. Đơn vị tổ chức lực lượng tuần tra, kiểm tra, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, nắm vững tình hình từng địa bàn, tuyến vận chuyển, đối tượng, phương tiện vận chuyển lâm sản trái phép, bắt giữ, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Tổ chức tuyên truyền và vận động nhân dân phát giác, tố giác các đối tượng vi phạm. Phối hợp với các lực lượng chức năng địa phương để ngăn chặn, xử lý tại gốc. Bố trí đội ngũ kiểm lâm viên trên địa bàn trực tiếp tham mưu, đấu tranh ngăn chặn, truy quét và xử lý vi phạm của các tổ chức, cá nhân buôn bán, kinh doanh, vận chuyển, chế biến, nuôi nhốt động vật hoang dã trái phép. (Báo Thanh Hóa 20/4) đầu trang(
Mới đây, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đưa ra nội dung hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới (5-6) năm 2016 là hướng về cuộc chiến chống nạn buôn bán trái phép động thực vật hoang dã.
Mục tiêu của Ngày Môi trường thế giới năm 2016 nhằm gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh đến công dân toàn cầu về điểm giới hạn của hệ sinh thái trên trái đất. Hơn bao giờ hết việc bảo vệ động, thực vật hoang dã cần sự chung tay của toàn thể cộng đồng.
Theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), việc buôn bán bất hợp pháp các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã không chỉ làm suy thoái hệ sinh học, cướp đi những di sản, mà còn đẩy các giống loài đến gần sự tuyệt chủng. Thậm chí còn làm suy yếu nền kinh tế, gia tăng tổ chức tội phạm, tham nhũng và bất ổn trên toàn cầu.
Mặc dù, gần đây, các cơ quan chức năng và cộng đồng đã có nhiều nỗ lực nhằm bảo vệ các giống loài hoang dã. Thế nhưng, những loài mang tính biểu tượng được ghi danh vào sách đỏ như voi, tê giác, hổ, khỉ đột, rùa biển và một số loài ít được biết đến như chim mỏ sừng, tê tê, các loài lan rừng vẫn đang bị đe dọa bởi lợi ích của con người.
Ví dụ như loài hổ, mặc dù số lượng hổ thế giới gia tăng nhưng ở các nước Đông Nam Á thực trạng buôn bán trái phép loài động vật hoang dã quý, hiếm này vẫn đang ở mức “báo động đỏ”.
Còn tại Việt Nam thì sao? Theo thống kê của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên, trong vòng một thập kỷ qua đã có khoảng 1 triệu cá thể tê tê bị săn bắt, buôn bán trái phép để lấy vẩy và làm thịt. Chỉ tính riêng trong 5 tháng cuối năm 2015, tại một số cảng biển, lực lượng chức năng đã bắt giữ hơn 7 tấn vảy tê tê có nguồn gốc từ nước ngoài tuồn vào Việt Nam.
Trước thực trạng buôn bán bất hợp pháp các giống loài hoang dã đáng lên án trên, các chuyên gia bảo tồn cho rằng, cộng đồng Việt Nam cần phải thay đổi thói quen và hành vi để giảm nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã. Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng cần nâng cao nhận thức, tăng cường áp lực đối với chính phủ, các tổ chức quốc tế nhằm ban hành, tăng cường thực thi pháp luật và ngăn chặn những cá nhân, tổ chức vi phạm.
Với tinh thần trên, Ngày Môi trường Thế giới năm 2016 khuyến khích người dân quan tâm, bảo vệ tất cả các loài đang bị đe dọa và có những hành động của riêng bạn để bảo vệ động, thực vật và bảo vệ các thế hệ tương lai. (Tuổi Trẻ 21/4) đầu trang(
Ngày 19/4/2016, UBND tỉnh ban hành công văn số 795/UBND-CN về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ động vật hoang dã. Chủ tịch UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo như sau:
Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố được giao chỉ đạo cán bộ, công chức, người lao động của cơ quan nghiêm chỉnh chấp hành và phổ biến các quy định pháp luật về bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, đặc  biệt là các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Cụ thể, khuyến cáo cán bộ, công chức, người lao động và người dân không mua, bán, sử dụng, tặng hay nhận quà biếu là động vật hoang dã nguy cấp và các sản phẩm của chúng.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với hải quan, tăng cường phối hợp liên ngành, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với các nhà hàng, cơ sở kinh doanh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã nguy cấp.
Sở Thông tin và Truyền thông phối hợp với các sở, ngành, các cơ quan báo, đài tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức cho người dân về các vấn đề liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, động vật hoang dã… (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Cao Bằng 20/4) đầu trang(
Ngày 19/4, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai giao lại mèo rừng cho lực lượng cứu hộ động vật hoang dã thuộc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh chăm sóc và thả về rừng tự nhiên.
Thông tin từ Chi cục kiểm lâm tỉnh Gia Lai, sau khi giải cứu thành công con mèo rừng quý hiếm bị rao bán trên mạng xã hội Facebook trước đó 5 ngày, trong ngày 19/4, đơn vị này giao lại con mèo rừng cho lực lượng cứu hộ động vật hoang dã thuộc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh chăm sóc và thả về rừng tự nhiên.
Trước đó, ngày 14/4, trên trang mạng xã hội Facebook, một thành viên có tài khoản tên Thùy Trang đã rao bán một con mèo rừng với giá 5 triệu đồng, nặng khoảng 2 kg, có kèm theo số điện thoại của người bán. Sau khi nhận được tin báo của người dân, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đã tìm tung tích của người này, đồng thời vận động người dân giao nộp lại mèo rừng, bởi đây là loài động vật thuộc nhóm 1B, nhóm động vật quý hiếm cần phải bảo tồn.
Trước đó, lực lượng kiểm lâm tỉnh Gia Lai cũng đã đưa được một số động vật quý hiếm trở lại rừng như: cầy vòi hương, rắn hổ mang, trăn gấm, rùa núi vàng... (Đài Truyền Hình Việt Nam 20/4) đầu trang(
Săn bắt động vật hoang dã là một thực trạng nhức nhối tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thế nhưng, việc vận động người dân từ bỏ truyền thống và ngăn chặn hành vi buôn bán của các thương lái thì không hề đơn giản.
Kỷ niệm về một quãng thời gian dài lang bạt khắp rừng thiêng núi đỏ của ông A Kiên Pun – một thợ săn nổi tiếng ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là một chiếc xương sọ của loài Sao La. Theo ông chia sẻ, thì săn bắt động vật hoang dã tại đây đã là một truyền thống từ ngàn đời nay của các dân tộc.
Ông A Kiên Pun chia sẻ: Hồi xưa, cũng có đi làm đó, làm bẫy sập. Còn bây giờ sức yếu rồi, không làm được nữa nhưng tất cả các con đều làm, những người khác cũng làm. Nếu mà không làm thì ở đây không có cái gì, họ làm để kiếm tiền, chứ ăn uống cũng không có, muối, mì chính cũng không có, nên họ phải đi làm.
Không có cái ăn, đời sống nghèo đói, thiếu thốn. Cùng với đó là hủ tục lạc hậu và trình độ dân trí thấp đã khiến rất nhiều đồng bào dân tộc tại đây tiếp tay cho các thương lái, các nhà hàng để đưa hàng ngàn cá thể động vật hoang dã lên các bàn nhậu mỗi năm.
Anh Bùi Hữu Vinh – Đội trưởng đội bảo vệ rừng khu bảo tồn Sao La, huyện A Lưới cũng cho biết: Ở A Lưới này thì có một số thương lái hay thu mua, thu gom động vật hoang dã, thậm chí là người ta còn đầu tư một số loại bẫy để người dân vào rừng đánh bắt , sau đó đem số động vật đánh bắt được bán lại cho các thương lái đó.
Khi hủ tục được các thương lái vận dụng một các khôn khéo để làm lợi bất chính thì đó quả là một vấn đề đáng báo động. Thế nhưng việc vận động người dân tại đây từ bỏ thói quen săn bắt động vật hoang dã lại trở nên vô cùng khó khăn. Vì chính quyền địa phương không thể hỗ trợ tiền để người dân sinh sống. Còn các thương lái thì liên tục về mua hàng.
Vô hình chung, thực trạng đã trở thành một cái vòng luẩn quẩn không thể tìm được lối thoát. Và sau bao nhiêu năm, nó vẫn chỉ dừng lại ở việc tháo dỡ bẫy của người dân chỉ là phần ngọn chứ không giải quyết được tận gốc của vấn đề. (ANTV 20/4) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo phương án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Công văn số 321/TTg- ĐMDN ngày 26/2/2016, Nghệ An có 11 đơn vị nông, lâm nghiệp được sắp xếp, chuyển đổi hình thức hoạt động.
Chiều 20/4, dưới sự chủ trì của đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hoàng Viết Đường, UBND tỉnh có buổi làm việc với Đoàn công tác của Ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp Trung ương do đồng chí phó trưởng ban Hoàng Quốc Doanh làm trưởng đoàn về phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty nông lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh.
Theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Nghệ An có 4 đơn vị sẽ duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu Công ty TNHH MTV nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích gồm: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Sông Hiếu, Tương Dương, Con Cuông và Đô Lương; Cổ phần hóa đối với 3 công ty TNHH MTV nông nghiệp là Công ty ĐTPT chè,  Công ty Cao su cà phê và Công ty nông công nghiệp 3/2; góp nguyên trạng tài sản, tài chính, lao động, đất đai để thành lập Công ty TNHH 2 thành viên trở lên đối với 3 công ty 1/5, Xuân thành, An Ngãi; chuyển thành BQL rừng phòng hộ, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu và sáp nhập với BQL rừng phòng hộ Quỳnh Lưu đối với Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Quỳnh Lưu. Riêng Công ty TNHH MTV nông nghiệp Sông Con xin để lại lần sau.
Tại buổi làm viêc, đại diện các ban ngành và các đơn vị liên quan nêu lên một số băn khoăn về công tác rà soát, đo đạc, cắm mốc, hoàn tất hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; công tác kiểm tra, rà soát hợp đồng giao khoán đất đai để làm cơ sở xây dựng phương án sử dụng đất …
Đồng chí Phạm Quốc Doanh nêu rõ: Các ban ngành liên quan của Nghệ An cần tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị quán triệt và khẩn trương xây dựng Đề án sắp xếp, chuyển đổi theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 321/Ttg- ĐMDN ngày 26/2/2016.
Những diện tích đất đã khoán trắng, cho thuê và cho mượn không thu hồi lại được thống nhất giao lại cho địa phương quản lý; lưu ý các công ty sắp xếp, chuyển đổi thành Công ty TNHH 2 thành viên trong trường hợp đối tác không tham gia góp vốn theo đề án được duyệt phải báo cáo tỉnh xem xét nhưng không được thay đổi hình thức sắp xếp chuyển đổi đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. (Báo Nghệ An 20/4) đầu trang(
Liên quan đến khu nghỉ dưỡng Le Mont Bavi Resort & Spa xây không phép tại Vườn quốc gia Ba Vì, mặc dù đã quá thời hạn thanh tra theo luật định, nhưng đến thời điểm hiện tại, dường như các cơ quan chức năng vẫn “đang trong quá trình làm việc” và chưa thể đưa ra được kết luận cuối cùng.
Chiều 19.4, trao đổi với PV Báo Lao Động qua điện thoại, ông Nguyễn Phi Truyền – Giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Vì – xác nhận thông tin cho đến thời điểm hiện tại, Thanh tra Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn vẫn chưa công bố kết luận thanh tra về những sai phạm xảy ra tại khu vườn ông quản lý. “Các cơ quan chức năng vẫn đang trong quá làm việc. Khối lượng công việc rất nhiều. Hiện vẫn chưa biết khi nào thì có kết quả”, ông Truyền thông tin.
Cũng trong buổi chiều cùng ngày, PV đã nhiều lần liên lạc với ông Cao Chí Công – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp để lắng nghe ý kiến, tuy nhiên mọi nỗ lực đều không thành công. Nhiều lần gọi điện thoại, ông Công bấm máy bận nhưng sau đó không phản hồi lại.
Trước đó, ngày 29.2, Báo lao Động đăng bài: Ngang nhiên xây Resort không phép giữa vườn quốc gia” phản ánh việc công trình có tên Le Mont Bavi Resort & Spa do Cty TNHH Phát triển công nghệ (CFTD) làm chủ đầu tư tọa lạc ở độ cao 600m (cốt 600) giữa vườn quốc gia Ba Vì (xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, Hà Nội) làm khu nghỉ dưỡng 4 sao bề thế, với hàng chục khách sạn, biệt thự, bể bơi...đã gần như hoàn tất và đưa vào sử dụng. Điều đáng ngạc nhiên là công trình lại chưa được phê duyệt dự án, chưa có giấy phép xây dựng nhưng được xây dựng rầm rộ suốt gần chục năm trời tại Thủ đô.
Ngay sau đó, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã có công văn hỏa tốc yêu cầu Tổng cục Lâm Nghiệp lập biên bản đình chỉ mọi hoạt động xây dựng, đón khách (nếu có) và các hoạt động khai thác của Le Mont Resort. Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng chỉ đạo Tổng cục Lâm nghiệp “tổ chức ngay đoàn thanh tra, kiểm tra làm rõ các công trình trái phép ở Vườn QG Ba Vì” và báo cáo Bộ trưởng trước ngày 4.3.
Ngày 23.3, trao đổi với PV báo Lao Động bên lề Quốc hội về vụ việc này, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát đã khẳng định Sẽ xử lý nghiêm sai phạm này. Trả lời về thời hạn phải báo cáo hoặc công bố kết luận thanh tra vụ việc, Bộ trưởng Phát cho biết: “Thời hạn báo cáo hoặc công bố được thực hiện theo luật, thời hạn thanh tra không quá 45 ngày, sau thời hạn thanh tra sẽ có báo cáo kết luận thanh tra”. (Lao Động 20/4) đầu trang(
Hàng chục nghìn hecta đất mà các dự án nuôi bò sử dụng là đất rừng hoặc đất người dân đang canh tác, đặt ra những mối lo lớn về xã hội và môi trường.
Các tỉnh Tây Nguyên đang đón một làn sóng đầu tư mạnh chưa từng có vào lĩnh vực chăn nuôi bò, với tổng giá trị đầu tư cam kết khoảng 50.000 tỷ đồng, làm quy mô ngành chăn nuôi bò ở đây tăng vọt. Giá trị kinh tế lớn, lợi nhuận dự kiến cao khiến chính quyền các tỉnh nhiệt tình đón nhận, tạo điều kiện hết mức để các dự án được nhanh chóng triển khai. Tuy nhiên, hàng chục nghìn hecta đất mà các dự án sử dụng là đất rừng hoặc đất người dân đang canh tác, đặt ra những mối lo lớn về xã hội và môi trường.
Thêm vào đó là những thất bại nhãn tiền của các dự án nông nghiệp chuyển rừng sang trồng điều, trồng cao su ở khu vực, càng khiến nỗi lo về các dự án gia tăng.
Suốt hơn 1 năm nay, ở huyện Ea Kar và huyện Chư M’Gar tỉnh Đắc Lắc râm ran câu chuyện về những dự án nuôi bò sẽ đầu tư tại địa phương và những nỗi mừng lo, được mất khi dự án triển khai. Có sự râm ran ấy, bởi hàng nghìn hecta đang trong giai đoạn đổi chủ. Người dân thì muốn giữ quyền lợi của mình, các nhà đầu tư thì muốn càng nhiều đất càng tốt. Ngay cả chủ rừng, cũng muốn sớm đưa lâm phần của mình quản lý vào thực hiện dự án.
Ông Dương Văn Sơn, Giám đốc Công ty lâm nghiệp Buôn Ja Vầm, đơn vị đang xin chuyển đổi 758 hecta sang trồng cỏ và trồng bắp nuôi bò, cho biết: “Có 358 hecta của hơn 200 hộ từ miền Bắc vào ở ngay giữa rừng. Nếu không đưa diện tích này vào dự án thì nguy cơ họ càng xâm chiếm. Quan điểm là đất rừng thì trồng lại rừng, nhưng thực chất mà nói, trồng lại rừng rất là khó. Vì hợp đồng với dân để trồng lại rừng thì hiệu quả không cao. Nhanh nhất là cây keo, cũng phải năm sáu năm mới được thu hoạch thì trong thời gian đó người ta ăn gì?”
Một trọng điểm đang thực hiện dự án nuôi bò khác của Đắk Lắk là xã Ea Sol, huyện Ea H’Leo, vấn đề cạnh tranh giữa dự án và dân cũng diễn ra phức tạp khi nhà đầu tư, Công ty Cổ phần XNK Phước Thành chỉ muốn đền bù tiền khai hoang với giá rẻ mạt.
Ông Y Manh A Đrơng, Phó Chủ tịch UBND huyện Ea H’Leo cho biết: “Về chủ trương đầu tư xây dựng trại bò thì người dân đồng ý giao đất và vào làm công nhân nhưng về giá hỗ trợ là người dân không đồng tình vì quá thấp. Chính quyền địa phương cũng yêu cầu công ty phải làm đúng quy định của nhà nước. Khi thẩm định, chúng tôi mời lên công ty ấy còn nặng lời với chúng tôi nữa chứ. Họ nói là xây dựng cao thế làm sao mà hỗ trợ được. Nhưng theo quy định của nhà nước thì anh phải hỗ trợ tiền công khai hoang bằng 30% giá trị, tương đương 45 triệu đồng/hecta, nhưng công ty xây dựng chưa tới 10% tức là 8 triệu đồng thì sao mà được”.
Theo thuyết trình của đại diện tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai khi xin đầu tư vào Đắk Lắk, trên diện tích 4.000 hecta đăng ký, tập đoàn sẽ đầu tư 320 triệu USD cho phần chăn nuôi và 150 triệu USD cho nhà máy sữa. Khi đi vào hoạt động, mỗi năm dự án có thể đem lại lợi nhuận khoảng 4.650 tỷ đồng và nộp ngân sách hơn 1.023 tỷ đồng mỗi năm. Theo thuyết trình này, cứ mỗi hecta nuôi bò, doanh nghiệp sẽ lãi hơn 1 tỷ đồng 1 năm, nộp ngân sách hơn 250 triệu đồng.
Hoan nghênh những dự án nuôi bò, và để giúp doanh nghiệp sớm thoát khỏi rắc rối đền bù, nhanh chóng triển khai những dự án siêu lợi nhuận, UBND tỉnh Đắk Lắk trình HĐND tỉnh và đã được phê duyệt kế hoạch chuyển đổi 36.000 hecta đất rừng sang đất trồng cây ngắn ngày. 16.000 hecta trong đó là đất lâm nghiệp người dân đang sản xuất, 20.000 hecta còn lại là đất rừng, chuyển đổi để trồng cỏ nuôi bò.
Theo ông Vũ Văn Đông, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Đắk Lắk, tỉnh đã cân nhắc, đây chỉ là diện tích rất nhỏ, không ảnh hưởng tới nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng của địa phương: “Đúng là trọng tâm chỉ đạo của Chính phủ và của tỉnh Đắk Lắk là phải giữ được rừng. Nhưng mà với tổng diện tích hơn 600.000 hecta đất lâm nghiệp của tỉnh mà chỉ chuyển đổi hơn 20.000 hecta thì rất bé nhỏ. Chúng tôi tính ra chỉ hai, ba phần trăm thôi. Ngoài những vùng đã chuyển thì những vùng còn lại phải tập trung tái tạo, nâng cao chất lượng rừng”.
Trước viễn cảnh siêu lợi nhuận, siêu đóng góp ngân sách mà các doanh nghiệp nuôi bò thuyết minh, không chỉ tỉnh Đắk Lắk hào phóng chuyển đổi rừng. Tại Gia Lai, tỉnh đã cho phép Công ty Cổ phần chăn nuôi Tây Nguyên chuyển 2.000 hecta đất rừng trồng thành đất trồng cỏ nuôi bò; để cho doanh nghiệp này tự ý thực hiện dự án khi chưa có báo cáo tác tộng môi trường. Thêm vào đó, trang trại chủ yếu được mở trên địa bàn thị xã An Khê và và huyện Mang Yang, trái ngược với quy hoạch trước đó của tỉnh.
Cho đến thời điểm này, vẫn chưa có trại bò nào ở Tây Nguyên đóng góp ngân sách 250 triệu đồng/hecta/năm như thuyết trình của doanh nghiệp, nhưng sự cố ô nhiễm trầm trọng đã phát sinh, khiến hàng chục nghìn dân thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai, phải gánh hậu quả. Trại bò được xây dựng ngoài quy hoạch khiến vấn đề nước tưới trong khu vực thêm gay gắt, phát sinh ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Ông Nguyễn Duy Hưng, Phó Chủ tịch UBND xã Thành An, thị xã An Khê, nơi có 1 trại bò của Công ty Cổ phần chăn nuôi Gia Lai, tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, nói: “Chất thải tràn ra đất rồi chảy ra đất xung quanh của nhân dân rồi chảy ra sông Ba nên nguồn nước sông Ba rất là kinh khủng. Sở TNMT xuống để xử lý thì họ hứa đến quý 3 năm 205 là họ khắc phục, nhưng sau đó họ không làm. Chất thải mà phóng trực tiếp ra môi trường nên rất là ô nhiễm”.
Ở thời điểm này, trên trang thông tin chính thức của Tập đoàn Đức Long Gia Lai, ở địa chỉ duclonggroup.com, vẫn treo bài viết “Cao su trồng dễ tiền nhiều”, thuyết minh cho triển vọng kinh tế to, lợi nhuận lớn từ cao su, không chỉ của Đức Long mà của cả Hoàng Anh Gia Lai. Câu trả lời thực tế nay đã ngược lại. Đức Long Gia Lai bỏ cao su, tự ý xây dựng trại bò trên phần đất rừng đã chuyển đổi, tiếp tục thuyết minh nuôi bò có nhiều lợi nhuận và xin thêm hơn 7.000 hecta để mở dự án ở cả 3 tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông.
Tây Nguyên đang khô cháy bởi đại hạn, mức kỷ lục trong vòng trăm năm nay, nên càng cần nhận rõ giá trị thực sự to lớn của rừng. Hàng vạn hộ nghèo, thiếu đất sản xuất cũng đang là thực trạng của khu vực. Trong khi đó, lợi nhuận to, đóng góp lớn cho ngân sách của những dự án nuôi bò, mới chỉ là triển vọng. Tây Nguyên cần biến triển vọng thành hiện thực, nhưng đánh đổi một cách quá hào phóng giống như đã làm ở chương trình chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su - thì có thể sai lầm lại nối tiếp sai lầm. (VOV Giao Thông 19/4) đầu trang(
Các địa phương miền núi và trung du, cần ít nhất 20 triệu cây con phục vụ cho kế hoạch trồng rừng mỗi năm.
Thời gian qua, các ban quản lý dự án trồng rừng và các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống trên địa bàn tỉnh chủ yếu gieo ươm keo tai tượng, keo lai hom. Còn người dân trồng rừng phần lớn tự phát sản xuất giống, hoặc mua trôi nổi trên thị trường. Hiện toàn tỉnh có 1 rừng giống chuyển hóa từ rừng tự nhiên A Vương (Đông Giang), hơn 30 đơn vị đăng ký kinh doanh, sản xuất giống, gần vườn ươm của hộ gia đình, cá nhân không đăng ký kinh doanh.
Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành chức năng, lượng giống phục vụ trồng rừng sản xuất tiềm ẩn nhiều rủi ro dịch bệnh, cho năng suất thấp khi thu hoạch. Đến nay, cả tỉnh chưa hình thành một cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp bằng nuôi cấy mô phục vụ kinh doanh, sản xuất. Ngoài các cơ sở chuyên cung cấp giống cây lâm nghiệp như Xí nghiệp Giống nông lâm nghiệp Chiên Đàn, Xí nghiệp Lâm nghiệp Quảng Nam, Công ty TNHH MTV Lâm Quốc Thịnh..., hiện vẫn chưa có đơn vị nào đầu tư đủ sức cạnh tranh.
Để cắt giảm chi phí trồng rừng,  gần đây người dân tự cung tự cấp giống trồng rừng là chính, nên khó kiểm soát chất lượng. Tại các huyện Hiệp Đức, Phước Sơn, Bắc Trà My, mọc lên hàng chục vườn ươm giống cây trồng và mới đây lực lượng chức năng đã yêu cầu không được đưa vào sản xuất hơn chục nghìn cây giống keo, cao su vì nguồn giống không đảm bảo. Bất cập ở chỗ, ngành chuyên môn mới tập trung kiểm tra, giám sát các vườn ươm của các tổ chức, đơn vị có đăng ký kinh doanh, còn gần như thả nổi quản lý hộ gia đình, cá nhân tổ chức sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp.
Tại huyện Bắc Trà My, Nam Trà My, Phước Sơn..., các vườn ươm cây giống tại chỗ thì không thể cung ứng đủ nên địa phương đã liên kết với các địa điểm cung ứng giống cây trồng lâm nghiệp ở Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn để cho bà con chủ động nguồn giống cho mùa trồng rừng mới. Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), nguồn giống trồng rừng trong tỉnh nghèo nàn về chủng loại, lại chưa kiểm soát nguồn gốc giống cây bản địa. Thời điểm này, các địa phương mới kiểm soát được hơn 30% số lượng nguồn gốc giống ở các dự án trồng rừng thuộc vốn nhà nước.
Nhiều địa phương khuyến khích người dân và doanh nghiệp phát triển vườn ươm giống với cơ chế hỗ trợ đặc thù. Điển hình, tại Nam Trà My hỗ trợ giống, vốn cho đồng bào bảo tồn cây quế, cũng như nhiều loại cây dược liệu quý hiếm dưới tán rừng tự nhiên. Huyện Tiên Phước đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia vườn ươm giống cây lâm nghiệp và cây trồng bản địa.
Giai đoạn 2015 - 2020, ngành lâm nghiệp tỉnh triển khai “Cơ chế khuyến khích phát triển trồng rừng sản xuất bằng giống keo nuôi cấy mô” nhằm lập quy hoạch, hỗ trợ cơ sở sản xuất giống nuôi cấy mô và hỗ trợ trực tiếp hộ gia đình, cá nhân trồng rừng bằng giống keo nuôi cấy mô. Tuy nhiên, diện tích rừng keo bằng giống nuôi cấy mô đến nay vẫn còn khá khiêm tốn.
Để giúp kinh tế rừng phát triển xứng tầm, đầu tháng 4.2016, Bộ Kế hoạch - đầu tư đề xuất với Chính phủ cơ chế hỗ trợ xây dựng, phát triển rừng giống, vườn giống. Theo đó, Nhà nước chỉ trực tiếp quản lý rừng giống, vườn giống có tầm quan trọng quốc gia với diện tích tối đa là 30% tổng diện tích được quy hoạch làm rừng giống, vườn giống; phần còn lại được giao, bán, khoán cho các thành phần kinh tế khác quản lý kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Định mức hỗ trợ tối đa từ ngân sách nhà nước cho phần lâm sinh, xây dựng hạ tầng và trang thiết bị được quy định không quá 35 triệu đồng/ha đối với vườn giống được trồng mới; không quá 25 triệu đồng/ha đối với rừng giống được trồng mới; không quá 10 triệu đồng/ha đối với rừng giống được chuyển hóa...
Theo Sở NN&PTNT, nếu cơ chế này được Chính phủ thông qua sẽ là cú hích cho kinh tế rừng phát triển mạnh hơn, doanh nghiệp có điều kiện đầu tư vườn ươm giống chất lượng, công nghệ cao thực hiện mục tiêu đầu tư cánh rừng gỗ lớn. (Báo Quảng Nam 20/4) đầu trang(
Ông Lê Biên Hòa, năm nay 60 tuổi, ở làng Kinh Môn, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, được các tổ chức quốc tế đánh giá không những là người tiên phong trồng rừng trên vùng gò đồi Tây Gio Linh, mà còn là người trồng rừng FSC đầu tiên của Việt Nam.
Dẫn đoàn chuyên gia lâm nghiệp kiểm tra rừng FSC, ông Lê Biên Hòa, nông dân Việt Nam đầu tiên làm rừng FSC, mặt tươi như xuân. Sự tự tin, trải nghiệm về trồng rừng, tiền bạc, uy tín, người nông dân này đều có tất cả.
Chuyện trồng rừng FSC của ông Hòa đến một cách bất ngờ. Năm 1997, khi huyện Gio Linh triển khai Dự án trồng rừng Việt - Đức, gia đình ông Hòa được nhận 4 ha rừng. Lúc bấy giờ, ai có sức bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu diện tích rừng, bà con còn được chính quyền động viên nhận đất trồng rừng để sớm phủ xanh đất trống đồi trọc.
Có chút ít vốn liếng lẫn kiến thức, ông Hòa đặc biệt tuân thủ kỹ thuật trồng rừng đã được các cán bộ dự án hướng dẫn. Cây trồng xuống, bén rễ, đâm chồi, nảy lộc. Mấy tháng sau cả quả đồi có diện tích 4 ha đất ấy đã lấp ló màu xanh của rừng non.
Thấy trồng rừng “mát tay”, mấy năm sau, ông Hòa lại xin cấp thêm 10 ha đất đồi, đầu tư vốn mua cây giống, phân bón, thuê nhân công trồng cây keo lai F1. Hàng ngày, nhìn rừng cây lên xanh ngút ngàn, ông Hòa vui như mở cờ trong bụng. Công thức xóa đói giảm nghèo được ông Hòa định hình, xác lập đó là trồng rừng sản xuất. Ông Hòa nghĩ rằng chỉ cần bán giá rừng 50 triệu đồng/ha cũng giúp nông dân trồng rừng thu về một khoản tiền gấp nhiều lần làm lúa.
Nhiều người cho rằng ông Hòa là người khá may mắn. Khi ông chuẩn bị khai thác diện tích rừng trồng đầu tiên thì Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF) có chương trình giúp người dân Việt Nam trồng rừng bền vững. Được sự giúp đỡ của Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị, họ đã đến thăm khu rừng của nông dân Lê Biên Hòa. WWF nhận thấy tiềm năng về diện tích rừng của hộ gia đình ông Hòa rất phù hợp để triển khai thực hiện các tiêu chí phát triển rừng FSC.
Vì vậy, WWF quyết định hỗ trợ và giúp ông Hòa tham gia vào Dự án “Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững”, bắt đầu triển khai vào năm 2007. Dự án này, thí điểm tại 5 thôn thuộc 2 huyện Gio Linh và Vĩnh Linh.
Ông Hòa lúc ấy được giao nhiệm vụ nhóm trưởng ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn. Giúp các hộ tham gia dự án nhận thấy được lợi ích rất lớn từ việc trồng rừng có chứng chỉ FSC là đem lại thu nhập cao gấp nhiều lần, đồng thời đóng góp tích cực vào việc bảo vệ môi trường.
Ông Hòa kể, để rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC thì hộ dân trồng rừng phải cam kết tuân thủ 10 nguyên tắc, 54 tiêu chí do các tổ chức quốc tế đánh giá, cấp chứng chỉ rừng FSC qui định.
Các tiêu chí đặc biệt quan trọng là cấm săn bắt động vật hoang dã; không được dùng máy cày, san ủi đất vì như thế sẽ ảnh hưởng đến thực bì, làm nghèo chất dinh dưỡng trong đất; giữ lại trên 5% cây bản địa; không được sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học gây hại môi trường; không được sử dụng lao động trẻ em; sau khi khai thác không được đốt rừng.
Đặc biệt, rừng phải khai thác đúng thời hạn, nghiêm cấm khai thác trước thời gian rừng 8 năm tuổi. Những năm đầu mới tham gia dự án, các chuyên gia đã tổ chức tập huấn chuyển giao kỹ thuật, từ lý thuyết đến thực tế theo từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây. Nhờ vậy việc trồng rừng được nâng cao hiệu quả.
Ông Hòa phân tích cho thấy nếu trồng rừng bình thường, mỗi ha rừng từ 6 đến 7 năm tuổi chỉ bán được từ 40 đến 50 triệu đồng. Rừng được cấp chứng chỉ FSC, mỗi ha bán với giá trên 200 triệu đồng. Năm 2013, ông Hòa bán 14 ha rừng đầu tiên được cấp chứng chỉ FSC với tổng trị giá hơn 3 tỷ đồng. Trừ các khoản chi phí, gia đình ông lãi ròng hơn 2 tỷ đồng. Hiện tại ông Hòa có 30 ha rừng đã được cấp chứng chỉ FSC.
Tuy nhiên, so với rừng thế giới thì năng suất rừng của ông Hòa vẫn chưa phải đã cao. Ông Hòa kể đi nước ngoài nghiên cứu thấy rừng trồng của họ năng suất 300 tấn/ha mà thấy mình thua thiệt nhiều thứ. Nguyên nhân làm cho năng suất gỗ rừng trồng của mình thấp theo ông Hòa là do giống cây trồng ban đầu của mình chưa được chú ý. Bà con nông dân ngang đâu trồng đó, chưa tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật.
Rút kinh nghiệm từ nước ngoài nên ông Hòa rất chú ý đến khâu chọn giống cây phục vụ kế hoạch trồng rừng. Rừng ông Hòa hiện đang được trồng các loại giống keo lai hạt, keo tai tượng và giâm hom, giống cấy mô. Ông Hòa đặt ra mục tiêu áp dụng các giống mới và tuân thủ chặt chẽ quy trình kỹ thuật chăm sóc để khi rừng đến 10 năm tuổi sẽ đạt năng suất 200 tấn/ha, rừng 15 năm tuổi đạt 300 tấn/ha. Với mức giá bán như hiện tại sẽ thu về hơn 200 đến 300 triệu đồng/ha rừng.
Kinh nghiệm trồng rừng FSC cho thấy đối với mỗi diện tích rừng trồng, đặc biệt chú ý đến khâu tỉa thưa. Thông thường, trên diện tích 1 ha trồng khoảng 1.600 cây, khi rừng đến 5 năm tuổi thì thực hiện tỉa thưa lần đầu, cắt 500 cây không đạt chất lượng cao đem bán, thu về số tiền từ 12 đến 15 triệu đồng/ha. Số tiền này giúp chủ rừng có thêm vốn để chi tiêu, giúp ổn định cuộc sống. Đến năm rừng lên tuổi thứ 7 tiếp tục tỉa thưa thêm một lần nữa, chỉ để lại khoảng 700 - 800 cây/ha. Khi rừng 10 năm tuổi có những cây đạt chiều cao 30m, đường kính 20 - 25cm, nhiều nơi cây cao đến ngoài 30cm.
Tiếng tăm của ông Hòa vang xa nên các hội trồng rừng trong tỉnh thường xuyên mời ông đến dạy cách trồng rừng FSC. Ông Hòa cho biết với trồng rừng bền vững kiểu này thì chỉ cố gắng của người dân thôi chưa đủ, mà cần sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương và doanh nghiệp. Thực tế chỉ ra rằng ở nơi nào chính quyền địa phương quyết liệt vào cuộc với rừng FSC thì người dân ở đó có nhiều thuận lợi để phát triển, diện tích rừng được cấp chứng chỉ ngày càng nhiều hơn.
Không chỉ dạy nông dân trong tỉnh, ông Hòa còn được nhiều tỉnh khác mời đi tư vấn trồng rừng bền vững FSC. Đặc biệt, mới đây sau chuyến đi hội thảo về trồng rừng bền vững tại Malaysia đã giúp ông học hỏi được nhiều điều bổ ích. Ông Hòa đề nghị Viện Khoa học Lâm nghiệp VN, các trung tâm nghiên cứu nên sớm tìm tòi được nhiều giống mới để phục vụ cho nghề trồng rừng bền vững của Việt Nam. Nếu không có giống tốt thì năng suất rừng chúng ta mãi èo ọp nhóm cuối.
Thi thoảng, ông Hòa còn tiếp nhiều đoàn khách của các tổ chức WWF, FAO đến tìm hiểu cách làm rừng của ông Hòa để về nhân rộng mô hình cho bà con nông dân các tỉnh khác trong cả nước. Các tổ chức đánh giá mô hình trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC của ông Hòa được xem thuyết phục nhất trong các hộ dân trồng rừng của Việt Nam. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/4) đầu trang(
Tại văn bản số 838/UBND-NN, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu, trong năm 2016, khẩn trương giải quyết các vướng mắc để tiến hành triển khai việc trồng rừng thay thế đối với các dự án đã nộp tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh, không để tồn Quỹ, đảm bảo hoàn thành toàn bộ trước quý III/2017.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu xử lý nghiêm và thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những chủ dự án không chấp hành trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác. Trong trường hợp không còn quỹ đất trồng rừng, tiến hành chuyển tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam để bố trí trồng rừng tại các địa phương khác. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Ninh 19/4) ) đầu trang(
Gần 20 năm triển khai dự án “Trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro thảm họa”, Hội Chữ thập đỏ tỉnh đã triển khai trồng hàng trăm ha rừng tại khu vực ngoài đê Bình Minh 3. Trong năm 2016, Hội xác định nhiệm vụ trọng tâm là chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có, để rừng là “lá chắn” phòng, chống thiên tai, bão biển, bảo vệ đê điều, phục vụ đời sống và sản xuất của nhân dân, lại vừa là “lá phổi” bảo tồn môi trường sinh thái.
Biến đổi khí hậu đã hiện hữu những biểu hiện trong toàn cầu: Hạn hán, nắng nóng, nước biển dâng, bão gió... đang thách thức nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy, chống biến đổi khí hậu là vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm.
Một trong những giải pháp cho vấn đề nêu trên chính là bảo vệ và phát triển diện tích rừng. Nói đến rừng, hẳn ai cũng liên tưởng đến một “lá phổi” khổng lồ, giúp loại bỏ những chất độc, ô nhiễm trong không khí, điều hòa khí hậu. Do tính chất đặc thù tại vùng bãi bồi ven biển, rừng ngập mặn còn góp phần làm đa dạng sinh thái, tạo ra môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài thủy hải sản.
Thêm vào đó, với tính chất là rừng phòng hộ ven biển, không thể bỏ qua ý nghĩa như một tấm lá chắn phòng thủ cho đất liền khỏi sự “tấn công” của bão lũ, triều cường và sạt lở đất. Đi dọc theo đê Bình Minh 3, chúng tôi bị choáng ngợp bởi những cánh rừng um tùm, xanh mướt chạy dài hơn 7 km do Hội Chữ thập đỏ tỉnh trồng.
Ông Bùi Trọng Kỳ, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh cho biết: Từ năm 1997, được sự hỗ trợ của Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản, Hội Chữ thập đỏ tỉnh đã triển khai dự án “Trồng rừng ngập mặn - giảm thiểu rủi ro thảm họa” tại vùng bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn, trên địa phận xã Kim Đông, Kim Trung và Kim Hải.
Năm 2014, Ban quản lý dự án đã tổ chức trồng dặm được 24,6 ha. Năm 2015 đã trồng mới hơn 20 ha. Tính đến thời điểm này, Hội Chữ thập đỏ tỉnh đã trồng và hiện đang quản lý khoảng 250 ha diện tích rừng trang, rừng bần, sú, vẹt.
Ông Đỗ Văn Quang, xóm 3, xã Kim Hải còn nhớ như in những ngày chưa có “tấm lá chắn xanh”, những con bão từ biển đổ bộ vào bờ, tiếng gió “gào thét” trong những cơn mưa như trút nước. Cây cối trong vườn đổ rạp, siêu vẹo. Vụ ấy coi như mất trắng đối với những người dân làm nông nghiệp nơi đây.  Nhưng hiện tại, đó chỉ còn là ký ức. Với độ cao trung bình từ 3-5m, rừng ngập mặn che chắn cho đất liền, giảm thiểu cường độ gió bão, hiện tại người dân nơi đây đã an tâm sinh sống và sản xuất.
Lợi ích của rừng ngập mặn chưa dừng lại ở đó. Từ việc góp phần cải tạo môi trường, đa dạng sinh thái, rừng ngập mặn đã góp phần tạo thêm sinh kế cho người dân. Sinh vật biển trong rừng ngập mặn ngày càng phong phú, đa dạng hơn về thành phần loài và số lượng cá thể. Từ đó đã giúp các hoạt động đánh bắt thủy hải sản gần bờ phát triển.
Anh Nguyễn Văn Dũng, một ngư dân tại xóm 7B, xã Cồn Thoi cho biết: Có những ngày thuận lợi, thu nhập của anh em có thể đạt tới 200 – 300 nghìn đồng/ngày. Ngoài ra, còn có mô hình nuôi ong lấy mật, cung cấp nguồn hàng chất lượng cho thị trường, đồng thời mang lại nguồn thu nhập cho người dân.
Lợi ích mà rừng ngập mặn đem đến là vô cùng lớn. Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn mang ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương thông qua các chuyên mục tuyên truyền trên loa phát thanh cấp xã, đội bảo vệ rừng ngập mặn là nhân tố quan trọng.
Ông Nguyễn Văn Quý, Đội trưởng Đội bảo vệ rừng ngập mặn Hội Chữ thập đỏ tỉnh cho biết: Đội đã hoạt động rất lâu, đến năm 2011, sau khi kiện toàn, đội có 3 thành viên thường trực, thực hiện công tác đảm bảo an ninh cho diện tích rừng ngập mặn của Hội Chữ thập đỏ. Các thành viên được phân chia khu vực theo dõi, trực tiếp quản lý, giải quyết các vấn đề xảy ra trong khu vực đó.
Hàng tuần, các thành viên tự bố trí thời gian để đi khảo sát thực tế, nắm tình hình. Nhằm tăng cường công tác tuyên truyền, dọc trên đê Bình Minh 3 có bố trí 4 bảng thông tin, có ghi rõ lợi ích của rừng, đồng thời công bố số điện thoại của từng thành viên Đội bảo vệ, nếu phát hiện những cá nhân, tập thể gây hại đến rừng ngập mặn sẽ trực tiếp liên hệ.
Ông Quý cho biết: Nhiều năm trước, tình trạng phá hoại rừng đã từng diễn ra. Song qua công tác tuyên truyền, ý thức của người dân đã được nâng lên, thời gian gần đây đã không còn xảy ra. Cũng có một vài trường hợp, tàu thuyền mắc cạn vào khu vực trồng rừng đã liên lạc với Đội bảo vệ phối hợp ứng cứu.
Hiện nay, Đội tập trung bảo vệ môi trường rừng ngập mặn, không để tình trạng xả rác bừa bãi, làm ô nhiễm môi trường, gây hại đến rừng.
Ông Bùi Trọng Kỳ, Phó Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh cho biết thêm: Ngoài tăng cường công tác tuyên truyền đến quần chúng nhân dân, Hội phối hợp tổ chức các buổi tuyên truyền, hoạt động ngoại khóa hướng đến các học sinh tiểu học. Xác định gìn giữ, bảo vệ rừng là nhiệm vụ quan trọng lâu dài. (Báo Ninh Bình 19/4) ) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, các đơn vị dự án lâm nghiệp và các huyện, thành phố trong tỉnh đã gieo ươm hơn 13 triệu cây giống phục vụ trồng rừng năm 2016.
Trong đó, một số giống cây trồng chủ lực như: 3.758.600 cây thông, 300.000 cây bạch đàn, gần 3 triệu cây sơn tra, trên 300.000 cây lát hoa, 3.600.000 cây xoan, 53.000 cây ban... Đồng thời, thực hiện thiết kế gần 2.200 ha đất trồng rừng, đạt 44,3% kế hoạch. Cùng với đó, Ban quản lý dự án cơ sở đã tiến hành chăm sóc gần 4.000 ha rừng phòng hộ, 2.810 ha rừng sản xuất và 263 ha rừng đặc dụng; tiếp tục đưa vào khoanh nuôi tái sinh 106.600 ha rừng và bảo vệ 656.276 ha rừng hiện còn.
Hiện nay, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh đang tập trung thẩm định tiêu chuẩn các lô cây giống trước khi xuất trồng và cấp giấy chứng nhận nguồn gốc lô cây giống đảm bảo chất lượng cho các chủ vườn ươm theo quy định. (Báo Sơn La 20/4) đầu trang(
Rừng ngập mặn Cần Giờ được ví như “lá phổi xanh” của TP Hồ Chí Minh và đã được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới.
Hiện rừng Cần Giờ đang tiếp tục được phục hồi và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên bằng việc phát triển hệ thống cây trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ. Đây cũng là một trong những giải pháp lâu dài của TP Hồ Chí Minh để ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bình Dương 20/4) đầu trang(
Hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và hộ gia đình nghèo đang sinh sống tại các xã khó khăn được vay vốn ưu đãi từ NHCSXH để trồng rừng, chăn nuôi. Mức cho cho vay trồng rừng sản xuất tối đa là 15 triệu đồng/ha.
NHCSXH đã ban hành hướng dẫn nghiệp vụ cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi được quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020.
Theo đó, mức cho cho vay trồng rừng sản xuất tối đa là 15 triệu đồng/ha. Mức vay cụ thể do NHCSXH và người vay thỏa thuận phù hợp với thiết kế - dự toán trồng rừng được phê duyệt sau khi trừ đi số tiền được ngân sách hỗ trợ quy định tại Điều 5 của Nghị định 75/2015/NĐ-CP.
Đối với cho vay phát triển chăn nuôi, mức cho vay tối đa 50 triệu đồng/hộ gia đình. Mức vay cụ thể do NHCSXH và người vay thỏa thuận phù hợp với nhu cầu vốn cần thiết cho việc đầu tư phát triển chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác của người vay.
Đối với trồng rừng sản xuất: Thời hạn cho vay tối đa 20 năm. Thời hạn cho vay cụ thể phải phù hợp với chu kỳ kinh doanh của mỗi loại cây trồng, khả năng trả nợ của người vay và thời hạn được sử dụng đất lâm nghiệp còn lại. Như vậy, các loại cây trồng có chu kỳ kinh doanh khác nhau thì thời hạn cho vay khác nhau.
Cho vay chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác: Thời hạn cho vay tối đa 10 năm. Thời hạn cho vay cụ thể do NHCSXH và người vay thỏa thuận phù hợp với chu kỳ sinh trưởng, phát triển của đối tượng đầu tư vốn.
Lãi suất cho vay rất thấp 0,1%/tháng (1,2%/năm). Lãi suất nợ quá hạn bằng 130% lãi suất cho vay. Riêng cho vay để trồng rừng sản xuất có mức vay trên 50 triệu đồng, NHCSXH vẫn uỷ thác cho vay nhưng có thêm một bước là cán bộ tín dụng phải thẩm định Dự án vay vốn của người vay và lập Báo cáo thẩm định theo mẫu quy định.
Đối tượng vay vốn trồng rừng sản xuất là hộ gia đình đồng bào DTTS (không phân biệt giàu nghèo) và hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí của Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện hoạt động trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất.
Riêng đối tượng được vay vốn để chăn nuôi trâu, bò, gia súc khác có thực hiện một trong các hoạt động: Bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ và nhận khoán bảo vệ rừng.
Về quy trình cho vay, điểm mới là khi đi nhận tiền vay, người vay phải nộp cho NHCSXH bản chính giấy tờ được giao đất, giao rừng nêu trên. Giấy tờ này được NHCSXH trả lại khi người vay hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, lãi. Trong thời gian người vay chưa trả hết nợ, lãi; giấy tờ này được NHCSXH quản lý như Giấy tờ có giá (Việc làm này không phải là hình thức thế chấp tài sản mà để chứng minh người vay có đất rừng, làm rừng thực thụ và tránh cho vay chồng chéo giữa NHCSXH và NHNo&PTNT Việt Nam).
Như vậy, chương trình cho vay trồng rừng và phát triển chăn nuôi theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ đã đáp ứng được cả về mức cho vay, thời gian vay dài, mức hỗ trợ cần thiết... tạo ra bước đột phá giúp cho hộ đồng bào DTTS vay vốn, phát triển ngành nghề dịch vụ nông lâm trường trong đó ngoài phần vốn vay còn được Nhà nước hỗ trợ cho phương thức đầu tư, cấp đất để đầu tư và có đầu ra cho sản phẩm của hộ dân.
Điều này sẽ mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế hộ gia đình nói chung và hộ đồng bào DTTS nói riêng, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm chuyển biến nhận thức, cách thức làm ăn cho hộ DTTS, đặc biệt là đối với các địa bàn của huyện nghèo, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
Bên cạnh đó, với chính sách đã ban hành đã giúp cho những hộ đồng bào DTTS an tâm, mạnh dạn vay vốn làm ăn, phát triển sản xuất làm giàu trên chính quê hương của mình, hạn chế việc di dân, cũng như một số tệ nạn xã hội... của tình trạng người dân bỏ làng, bỏ thôn đi làm ăn xa. (Hội Nông Dân Việt Nam 20/4) đầu trang(
Nhận thấy cây thạch đen mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với các loại cây nông nghiệp truyền thống khác nên người dân một số xã ở huyện Na Rỳ đã chủ động chuyển đổi mở rộng diện tích trồng thạch đen với diện tích gần 50ha.
Cây thạch đen được trồng chủ yếu ở xã Vũ Loan với diện tích  trên 37ha, sản lượng ước đạt hơn 131 tấn, còn lại được trồng rải rác tại các xã Kim Lư, Cường Lợi… Người dân cho biết, Cây thạch đen rất phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, cây chịu hạn tốt dễ trồng, ít sâu bệnh, có thể trồng ở ruộng, soi bãi hoặc trên đất dốc.
Đặc biệt, bà con  nông dân có thể tận dụng diện tích trồng keo, mỡ trong 2 năm đầu để trồng xen canh cây thạch cũng rất hiệu quả. Khi vào mùa thu hoạch giá thạch đen giao động từ 15 – 18.000đồng/kg, năng suất trung bình đạt 7 - 10 tấn thạch khô/ha. Chính vì vậy, cây thạch đen đã mở ra một hướng tăng thêm nguồn thu nhập từ trồng trọt cho bà con nông dân huyện Na Rỳ. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 20/4) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, thời gian qua hàng loạt nhà máy, cơ sở chế biến gỗ dăm thi nhau mọc lên tự phát. Điều này không chỉ phá vỡ quy hoạch, đe dọa an ninh rừng, mà còn gây ra tình trạng tranh mua, tranh bán, khiến an ninh trật tự trở nên phức tạp…
Khảo sát tại các địa phương, tỉnh Thanh Hóa có tới gần 30 nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản. Trong đó nhiều cơ sở xây dựng xưởng không phép. Để cạnh tranh nguồn nguyên liệu đầu vào, các cơ sở này tiện đâu mở đó khiến việc kiểm tra, kiểm soát vô cùng khó khăn. Tại huyện Như Xuân có tới 4 hộ xây dựng xưởng chế biến dăm gỗ trái phép trên đất nông, lâm nghiệp hoặc nằm trong hành lang đường bộ...
Được biết, nguyên nhân việc bùng phát xây dựng các nhà máy, xưởng chế biến lâm sản trái phép, là do tại Khu Kinh tế Nghi Sơn có một số công ty đứng ra thu mua dăm gỗ (cây keo đã băm chặt) để xuất sang nước ngoài. Trong khi đó, huyện Như Xuân có diện tích trồng cây keo lớn, địa bàn lại giáp ranh với tỉnh Nghệ An, cũng có nguồn nguyên liệu keo thịt dồi dào, nên các hộ tranh thủ xây dựng các xưởng chế biến lâm sản trái phép, nhằm mục đích kiếm lời.
Cu thể, hộ ông Nguyễn Quốc Kỳ, thôn Xuân Thượng, xã Thượng Ninh chuyển nhượng cho ông Lê Khắc Bảy, thôn Sông Xanh 700m2 đất lâm nghiệp, nhưng không được chính quyền xác nhận. Đến nay, hộ ông Bảy đã và đang xây dựng xưởng chế biến lâm sản khi chưa được cơ quan chức năng cấp phép, vi phạm hành lang đường Hồ Chí Minh.
Tại hiện trường, mặt bằng xưởng sản xuất được đổ đất, đá san lấp xong, nhà bảo vệ, trạm điện đã xây dựng hoàn thiện. Việc làm sai trái này, hộ ông Bảy bị chính quyền địa phương kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ thi công. Tương tự, tại thôn Mỹ Ré, xã Yên Lễ, hộ ông Ngô Đức Huy cũng đang xây dựng xưởng chế biến lâm sản không có giấy phép kinh doanh, không được chấp thuận địa điểm đầu tư, lấn chiếm hành lang đường Hồ Chí Minh tại Km 599+800, gây bức xúc trong quần chúng Nhân dân.
Tại thôn Vân Hòa, xã Cát Vân cũng đang mọc lên một xưởng chế biến dăm gỗ chưa được cơ quan chức năng chấp thuận địa điểm đầu tư, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không có giấy phép đầu tư...
Tại thôn 2, xã Xuân Bình, huyện Như Xuân, một đơn vị của tỉnh Nghệ An tự ý san lấp, xây dựng hệ thống dây chuyền, máy móc, thiết bị, bàn cân phục vụ cho việc băm dăm rất quy mô. Thêm vào đó là nhà ở, công trình phụ vi phạm hành lang giao thông. Việc vi phạm của đơn vị này diễn ra trong một thời gian dài, nhưng chính quyền sở tại lại không hề hay biết. Theo quan sát của phóng viên, diện tích đất đã san lấp, đổ bê-tông phải hơn 1.500m2, trên đó xây dựng nhà trông coi, bảo vệ, dãy nhà cho công nhân ở, khu vệ sinh. Một giàn máy băm hiện đại, trạm biến áp, bàn cân…
Việc xây dựng, lắp ráp diễn ra phải hàng tháng trời, nhưng công trình không phép, không có trong quy hoạch này vẫn cứ ngang nhiên hoàn thiện. Được biết, việc xây dựng trái phép này trước đó đã “lọt lưới” chính quyền, do người dân phát hiện thì mới bị cơ quan chức năng kiểm tra, lập biên bản, đình chỉ xây dựng, buộc tháo dỡ, di dời.
Tuy nhiên, việc xử lí không dứt điểm, nên vi phạm lại tiếp tục, khiến dư luận càng bức xúc. Ông Trương Văn Ký, cán bộ địa chính xã Xuân Bình thừa nhận thực tế trên và cho biết thêm: “Vị trí xây dựng xưởng gỗ dăm nằm trên đất nông nghiệp, theo quy hoạch nông thôn mới của địa phương là đất ở, không phải đất kinh doanh dịch vụ. Ngay khi phát hiện ra sự việc chủ cơ sở là ông Lê Anh Tuấn đang san lấp mặt bằng, chính quyền địa phương đã lập biên bản, đình chỉ việc xây dựng và báo cáo vụ việc lên huyện để có hướng xử lí dứt điểm.
Tuy nhiên, đơn vị vẫn lén lút tập kết phương tiện, lắp ráp thiết rất nhanh chóng, lúc phát hiện ra thì việc đã rồi. Thời gian qua, do bận Đại hội và bàn giao công việc cua lãnh đạo xã, nên địa phương chưa giải quyết dứt điểm được vụ việc này. Chúng tôi đã kiến nghị và huyện cũng chỉ đạo không cấp điện cho cơ sở này hoạt động, nhưng đây là điểm giáp ranh, nên họ lại kéo điện từ Nghệ An sang”.
Không chỉ có Như Xuân mà tại các huyện: Thường Xuân, Thạch Thành, Cẩm Thủy, Như Thanh... cũng có từ 5 - 7 cơ sở chế biến dăm gỗ núp bóng hộ gia đình. Các loại rừng trồng, nhất là keo đều bị bán non do nguồn nguyên liệu khan hiếm, người dân cần tiền chi tiêu. Giá trị của các cây lâm sản giảm sút, rừng ngày một bị tàn phá, khi rừng cây con chưa kịp khép tán đã bị đốn hạ. Đó là chưa kể việc cạnh tranh không lành mạnh từ các nhà máy dăm gỗ, khiến tình hình an ninh, trật tự có biểu hiện phức tạp.
Ông Lê Sỹ Nghiêm, Chủ tịch UBND huyện Như Xuân thừa nhận: “Thời gian qua, trên địa bàn huyện có tình trạng các hộ gia đình và công ty xây dựng xưởng chế biến dăm gỗ không phép. Khi phát hiện sự việc, huyện cũng đã chỉ đạo các phòng liên quan phối hợp với các địa phương kiểm tra, lập biên bản, xử phạt vi phạm hành chính, buộc tháo dỡ công trình. Đến thời điểm này, các đơn vị chưa chấp hành, chúng tôi sẽ có phương án cưỡng chế trong thời gian tới. Chủ trương của huyện không khuyến khích xây dựng nhà máy, xưởng chế biến gỗ dăm”.
Đến nay, đã gần nửa thời gian để tỉnh Thanh Hóa triển khai thực hiện Quyết định số 5115/QĐ-BNN-TCLN ngày 1/12/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phê duyệt phương án quản lí sản xuất dăm gỗ giai đoạn 2014 - 2020. Quyết định trên ban hành với mục đích rất tốt đẹp, nhằm quản lí chặt chẽ việc sản xuất, chế biến dăm gỗ xuất khẩu, hạn chế tối đa sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng trồng, nâng cao giá trị sản phẩm chế biến từ gỗ rừng trồng khai thác trong nước, nâng cao thu nhập cho người dân trồng rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Cùng với mục đích đó và để thực hiện Quyết định số 5115/QĐ-BNN-TCLN, ngày 22/1/2016, UBND tỉnh Thanh Hóa có Quyết định số 797-UBND/NN “giao kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất của các cơ sở băm gỗ dăm trên địa bàn tỉnh”.
Trong đó có nhiệm vụ hạn chế, tiến tới xóa bỏ toàn bộ các cơ sở băm gỗ dăm. Ông Nguyễn Đức Quyền, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo: Giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các nghành của tỉnh, UBND huyện, thị xã, thành phố và đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất trên địa bàn tỉnh, kiểm tra, xử lí nghiêm các cơ sở băm dăm gỗ có sai phạm theo quy định của pháp luật.
Ông Lê Văn Đốc, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp Và Phát triển nông thôn Thanh Hóa cho biết: Những năm gần đây, chúng tôi tham mưu cho UBND tỉnh kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào chế biến lâm sản, nhưng hạn chế tối đa việc đầu tư dàn trải, chỉ cho phép đầu tư dây truyền dành riêng cho việc băm dăm gỗ; vì nếu không kiểm soát chặt việc cấp phép xây dựng cơ sở chế biến dăm gỗ, do nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm, những cơ sở này rất có thể sẽ tận dụng tối đa các mối quan hệ, thuyết phục người dân bán cây keo non, kiểu như thu hoạch lúa non, làm giảm năng suất và thu nhập của chủ rừng, hiệu quả trồng rừng sẽ rất thấp. Đồng thời, việc quản lí rừng rất khó khăn, dễ xảy ra nạn trộm cắp lâm sản, đánh nhau vì tranh giành vùng nguyên liệu”.
Chỉ có điều khiến dư luận băn khoăn, khó hiểu là: tại sao những hệ lụy mà vị Phó Giám đốc Sở đã lường trước, sao vẫn để xảy ra tình trạng khá nhức nhối trong một thời gian dài, trên phạm vi rất rộng như vậy? Doanh nghiệp, cá nhân có thể vì lợi nhuận mà bất chấp... nhưng cả bộ máy quản lí từ trên xuống dưới, với đầy đủ các chế tài của pháp luật quy định, chẳng lẽ chỉ dẫn đến “sự bất lực”? Ở đây cần đặt ra câu hỏi về trách nhiệm của các bên liên quan, trước hết là với các địa phương có sự vi phạm mà không xử lí dứt điểm, kịp thời.
Về tiến độ kiểm tra, xử lí theo chỉ đạo của tỉnh, trong chức năng của Sở Kế hoạch và Đầu tư, ông Phạm Tiến Dũng, Trưởng Phòng Kinh tế đối ngoại Sở này cho hay: “Sở đang thành lập các đoàn kiểm tra, rà soát hoạt động của các điểm chế biễn dăm gỗ trên toàn tỉnh, xem có được cấp phép hay hoạt động tự phát. Sau đó mới có hướng báo cáo để tỉnh xử lí. Theo lịch trình, hết tháng 3/2016 mới tiến hành xong”.
Có thể thấy, từ quyết tâm của lãnh đạo tỉnh đến các văn bản chỉ đạo, guồng máy quản lí của tỉnh Thanh Hóa đang chuyển động và bắt đầu “tăng tốc”. Nhưng hiệu quả ra sao thì còn phải chờ. Vì, đã không ngăn chặn được từ đầu, đến nay khi các cơ sở chế biến dăm gỗ trái phép mọc lên tràn lan, việc xử lí hậu quả không hề dễ.
Liệu việc vi phạm, phá vỡ quy hoạch vùng nguyên liệu, “bóc lột” nguyên liệu một cách tối đa, làm cạn kiệt tài nguyên rừng của những cơ sở chế biến dăm gỗ “chui” nói trên có bị xóa bỏ và khắc phục hậu quả theo pháp luật? Dư luận và công luận dang chờ đợi câu trả lời từ thực tiễn những cánh rừng của tỉnh Thanh Hóa. (Người Cao Tuổi 19/4) ) đầu trang(
Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM mới đây, Đại tá Trần Thắng Phúc - Giám đốc Công an tỉnh Bình Phước cho biết sẽ yêu cầu cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú làm rõ việc triệu tập ông Trần Đức Lý (ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi, Đồng Phú), người tố cáo sai phạm trong quản lý bảo vệ rừng, nhiều lần.
Đồng thời Công an huyện Đồng Phú phải khẩn trương có kết luận liên quan đến các nội dung tố cáo của ông Lý.
Trước đó, ông Lý gửi đơn đến các cơ quan tỉnh Bình Phước tố cáo quá trình kiểm kê bồi thường các hợp đồng liên kết trồng cao su với Công ty Sasco hàng chục hecta rừng khoanh nuôi bảo vệ thuộc tiểu khu 363 thuộc Nông lâm trường Tân Lập (ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi) đã bị một số cá nhân kê khống thành đất cao su để chiếm đoạt nhiều tỉ đồng bồi thường…
Ngoài ra, ông Lý còn cho biết ngày 10-10-2014, ông đã bàn giao hồ sơ liên doanh cho Công ty Phát Lộc (đơn vị được Công ty Sasco ký hợp đồng làm việc với các hộ dân) liên quan đến 35,8 ha cao su mà ông đã trồng và chăm sóc. Công ty Sasco hứa chi trả tiền bồi thường từ tháng 3-2015 nhưng sau đó ông và nhiều hộ dân vẫn chưa được nhận.
Đến 25-3-2015, ông Lý phát hiện trong văn bản của Công ty Sasco báo cáo với tỉnh Bình Phước có danh sách một số người dù không có đất liên doanh với Công ty Sasco nhưng vẫn được nhận tiền bồi thường. Đáng chú ý, phần đất của ông Lý lại do hai người khác đứng ra nhận gần 4 tỉ đồng.
“Tôi đã gửi đơn tố cáo hơn sáu tháng nay nhưng đến nay vẫn chưa được cơ quan công an kết luận. Trong khi tôi là người tố cáo cung cấp thông tin sai phạm cho cơ quan chức năng thì tôi bị Công an huyện Đồng Phú gửi giấy triệu tập đến hai lần. Giấy triệu tập công an ghi “Làm việc liên quan đến hợp đồng đất tại Sasco” (ảnh) là không đúng với các nội dung phù phép đất rừng mà tôi tố cáo. Tôi cũng chưa hề phá rừng hay chặt cao su của ai nhưng cán bộ điều tra lại xoay sang hỏi tôi về việc phá rừng chặt cao su mà không tập trung vào việc tôi tố cáo phù phép đất rừng gây thất thoát nhiều tỉ đồng trong dự án của Sasco. Như vậy việc điều tra khó khách quan” - ông Lý cho biết.
Liên quan đến sự việc trên, trước đó vào tháng 12-2015, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước đã chuyển vụ người dân tố cáo việc phù phép đất rừng thành cao su trong dự án Công ty Sasco cho cơ quan điều tra Công an huyện Đồng Phú tiếp tục điều tra xử lý. Đồng thời nơi đây phải báo cáo kết quả cho thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Phước. Trong diễn tiến khác, phía Công ty Sasco cũng đã có đơn gửi các cơ quan chức năng điều tra việc có hay không một số cá nhân trục lợi, kê khống để hưởng lợi.
Sáng 15-4, Thượng tá Đặng Văn Tiến, Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú, Bình Phước, cho biết: “Công an huyện triệu tập ông Lý là do có đơn tố cáo ông Lý từ trước về việc ông có chặt cây cao su của người khác. Tuy nhiên, qua làm việc ông Lý nói ông không liên quan gì đến việc chặt cây. Còn các tố cáo liên quan đến phù phép đất rừng trong dự án Sasco của ông Lý thì công an huyện đang sắp kết thúc điều tra rồi. Không có việc công an làm khó người tố cáo hay hù dọa”.
Khi nhận đơn tố cáo của ông Lý, lãnh đạo Tỉnh ủy Bình Phước đã chỉ đạo cơ quan chức năng sớm làm rõ việc kê khống đất rừng để hưởng lợi. Tuy nhiên, hơn nửa năm trôi qua vụ việc vẫn chưa có kết quả. (Pháp Luật TP.HCM 21/4) đầu trang(
Ngót 10 năm, với 6 bản án, trong đó có 2 quyết định giám đốc thẩm, vụ án dân sự tranh chấp tài sản gắn liền trên đất, giữa bà Vi Thị Hà và ông Lường Văn Sánh (chị dâu – em chồng) cùng trú tại thôn Lăng Xè, xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn vẫn chưa đến hồi kết. Điều đáng nói, các văn bản của cơ quan chức năng địa phương cung cấp cho Tòa án “trước sau không thống nhất”, gây khó khăn cho việc xét xử…
Diện tích 9.553m2 (thực tế đo được 7.753,5m2) đất đồi rừng đang tranh chấp, giữa bà Hà và ông Sánh vốn là đất lâm nghiệp, thuộc thửa số 998, tờ bản đồ số 01 (thửa 54 cũ) tại đồi Pò Thó, thôn Lăng Xè, xã Đồng Bục, huyện Lộc Bình do HTX nông nghiệp Lăng Xè quản lí từ năm 1972, triển khai trồng cây theo phong trào phủ xanh đất trống đồi trọc.
Năm 1982, HTX nông nghiệp giải thể, người dân địa phương tự ý chiếm dụng, quản lí, khai thác những cây mọc tự nhiên để làm củi. Gia đình bà Hà và ông Sánh cùng chăm sóc khu đồi rừng đó đến khi HTX giải thể.
Theo bà Hà, vợ chồng bà sử dụng khu đồi rừng từ năm 1980, đến năm 1988 chồng bà chết, bà chuyển vào làng Lăng Xè ở, nhưng thỉnh thoảng vẫn đến đồi Pò Thó để quản lí cây rừng. Từ năm 1992, ông Sánh khai thác, sử dụng. Năm 2004, ông Sánh chuyển nhượng khu đồi cho ông Hoàng Văn Cải. Ông Cải đã cải tạo đất và trồng cây thông trên đó. Bà Hà yêu cầu ông Sánh trả lại đất đồi rừng và không đồng ý trả tiền giá trị cây thông do ông Cải trồng. Tuy nhiên, bà Hà không xuất trình được tài liệu chứng minh khu đất đồi là của bà.
Ông Sánh lại cho rằng, khu đất đồi nêu trên, do HTX giải thể năm 1990 nên gia đình ông quản lí và sử dụng. Năm 1994, UBND xã và Hạt Kiểm lâm triển khai giao đất, giao rừng, ông Sánh được cấp bìa xanh (Hồ sơ giao đất, giao rừng) tại sổ giao đất lâm nghiệp (thửa số 54, diện tích 2,3ha, nay là thửa số 998, tờ bản đồ số 01). Gia đình ông quản lí, sử dụng đến năm 2004 thì chuyển nhượng cho ông Cải, theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày 8/1/2004. Ông không đồng ý trả lại diện tích đất đồi rừng cho bà Hà, yêu cầu giữ nguyên hợp đồng chuyển nhượng với ông Cải.
Trong quá trình xét xử, ngày 15/4/2010, TAND huyện Lộc Bình gửi công văn đề nghị UBND huyện Lộc Bình xác minh thời điểm giao đất, giao rừng và cấp GCNQSDĐ đồi rừng Pò Thó, thuộc thôn Lăng Xè. Ngày 8/9/2010, UBND huyện có Công văn số 588/UBND xác nhận: “Căn cứ Nghị định số 02/NĐ-CP của Chính phủ về việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, do Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Bình thực hiện, trong hồ sơ giao đất, giao rừng theo sổ lâm bạ có tên ông Lường Văn Sánh, năm 1994 được giao tại địa danh Pò Pục, diện tích 2,3ha thuộc thửa số 54, tiểu khu khoảnh II, thuộc loại rừng sản xuất (Hồ sơ giao đất giao rừng lưu tại Hạt Kiểm lâm huyện Lộc Bình). Khi chuyển sang dự án trồng rừng Việt – Đức vào năm 1995, số diện tích này tại đồi Pò Thó không thuộc dự án. Khi phòng chuyên môn triển khai công tác cấp GCNQSDĐ tại xã (năm 2000) hộ ông Sánh không đến kê khai đăng kí và cũng chưa được cấp GCNQSDĐ”.
Thế nhưng, trong Văn bản số 985/UBND-TNMT ngày 19/10/2015 của UBND huyện Lộc Bình trả lời TAND huyện, lại xác định: “Hồ sơ giao đất, giao rừng theo sổ lâm bạ có tên ông Lường Văn Sánh, năm 1994 được giao tại địa danh Pò Pục, diện tích 2,3ha thuộc thửa số 54, tiểu khu khoảnh II, thuộc loại rừng sản xuất.
Nhưng đã có ghi (bỏ) tại trang bìa và được thay thế bằng sổ lâm bạ thống kê hiện trạng năm 1995 (Sổ điều chỉnh cấp bìa đỏ phục vụ dự án Đức năm 1995) và không thấy có tên chủ hộ Lường Văn Sánh. Hiện nay, tại Hạt Kiểm lâm không thấy có lưu hồ sơ giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình ông Sánh”.
Cùng một nội dung đề nghị, nhưng lại nhận được 2 văn bản trả lời “tiền hậu bất nhất” như vậy. Ngày 14/12/2015, TAND huyện Lộc Bình một lần nữa ra Công văn số 1204/CV-TA, đề nghị UBND huyện xác định một cách rõ ràng: “Công văn số 985/UBND-TNMT ngày 19/10/2015 mâu thuẫn với công văn số 588/UBND ngày 8/9/2010, vậy TAND huyện đề nghị UBND cho biết công văn nào đúng? Về nội dung hộ gia đình ông Lường Văn Sánh đã được cấp sổ bìa xanh (Hồ sơ giao đất, giao rừng) chưa? Trả lời của UBND huyện có thể dẫn đến 2 cách hiểu khác nhau là được cấp, nhưng do chưa tìm thấy hồ sơ lưu, hoặc chưa được cấp. Vì vậy, TAND huyện đề nghị UBND huyện cần trả lời rõ ràng, cụ thể, chính xác những vấn đề trên”.
Cũng trong công văn này, TAND huyện đề nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi nhận được công văn, UBND huyện trả lời những nội dung trên để Tòa án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Để có phản ánh đa chiều, phóng viên Báo Người cao tuổi có buổi làm việc với ông Đỗ Công Trung, Phó Chánh Văn phòng phụ trách UBND huyện Lộc Bình. Ông Trung cho biết: “UBND huyện đã nhận được Công văn số 1204/CV-TA của TAND huyện. UBND huyện cũng đã chỉ đạo và các cơ quan chức năng đang tiến hành rà soát, kiểm tra một cách kĩ càng để có câu trả lời chính xác theo đề nghị của Tòa án”.
Từ những phản ánh trên, Báo người cao tuổi đề nghị TAND huyện Lộc Bình và các cơ quan chức năng sớm giải quyết dứt điểm vụ việc, tránh gây dư luận trái chiều không cần thiết trong cộng đồng dân cư tại địa phương. (Người Cao Tuổi 20/4) đầu trang(
Quá trình đầu tư cho tiêu chuẩn FSC tốn kém nhiều công sức và thời gian, nhưng đây vẫn là “giấc mơ chung” của các doanh nghiệp ngành gỗ.
Mới đây, việc di dời và đốn hạ 16 cây xanh trên một con đường ở trung tâm TP.HCM để quy hoạch xây dựng các công trình hiện đại đã làm một bộ phận người dân bức xúc. Thế nhưng, con số này chỉ như muối bỏ bể nếu so với hàng chục triệu hecta rừng, tương đương 43% diện tích rừng, mà Việt Nam đã mất trong 40 năm qua.
Vốn được mệnh danh là quốc gia rừng vàng biển bạc, nhưng Việt Nam đang phải làm quen với một khái niệm không hề mong muốn: “rừng lặng”. Cụm từ này được dùng khi các nhà bảo tồn quốc tế nói về những cánh rừng bị săn bắt đến tận diệt, không còn nghe được tiếng chim, tiếng thú. Còn với hệ thực vật, những cánh rừng ngã xuống do khai thác trái phép đang đem đến nhiều vấn nạn không hồi kết như sạt lở, lũ lụt và ô nhiễm môi trường.
Suy cho cùng, có cầu mới có cung. Ngành gỗ chưa bao giờ hết nóng khi đã đem về 6,9 tỉ USD trong năm qua, giúp Việt Nam xếp thứ 4 trong những nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, nếu sản phẩm gỗ các doanh nghiệp trong nước làm ra được bán tốt trên thị trường nội địa do người tiêu dùng dễ tính chỉ quan tâm đến giá cả và thiết kế bắt mắt, thì người tiêu dùng ở những thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ hay EU lại khắt khe hơn. Họ rất coi trọng nguồn gốc xuất xứ của gỗ nguyên liệu trong quyết định mua hàng. Ở Anh và Hà Lan, đồ gỗ làm từ nguyên liệu không có xuất xứ hợp pháp đều bị tẩy chay vì người tiêu dùng tin rằng việc sử dụng chúng là gián tiếp hủy hoại môi trường. Mỹ cũng không ngoại lệ.
Làm cách nào để xác minh nguồn gốc gỗ dùng trong sản xuất ở một nước bên kia bờ đại dương? Một bên thứ 3 độc lập với những quy định chặt chẽ trong quy trình khai thác và sản xuất đồ gỗ chính là đáp án cho bài toán này.
FSC là chứng chỉ được cấp bởi Hội đồng Quản trị rừng thế giới, đi cùng với chứng chỉ CoC về kiểm định chuỗi hành trình sản phẩm hiện là “dấu bảo chứng” được công nhận rộng rãi nhất trên toàn cầu đối với những sản phẩm xuất xứ từ gỗ. Những công ty muốn đạt được chứng chỉ này phải đáp ứng được 10 nguyên tắc và 56 chỉ tiêu của FSC.
Trong đó có những tiêu chí cực kỳ nghiêm ngặt mà người trồng rừng chưa từng được tiếp cận trước đây, như không được sử dụng hóa chất khi trồng cây, cấm săn bắt động vật hoang dã ở rừng FSC, không được đốt thực bì cây, không dùng máy cày, san ủi làm nghèo dinh dưỡng trong đất...
Rõ ràng, quá trình đầu tư cho tiêu chuẩn FSC tốn kém nhiều công sức và thời gian, nhưng đây vẫn là “giấc mơ chung” của các doanh nghiệp ngành gỗ. Bởi một khi được cấp chứng chỉ, sản phẩm gỗ như có được “visa” đến với những thị trường khó tính nhưng béo bở nhất thế giới.
Công ty Cổ phần Lâm đặc sản Xuất khẩu Quảng Nam (Forexco) là một ví dụ. Trước năm 2000, ý thức được tác hại của việc khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, Công ty đã chuyển hướng sang khai thác gỗ từ rừng trồng. Năm 2008, Forexco là một trong những công ty nội địa đầu tiên theo đuổi chứng chỉ FSC, theo sau những công ty liên doanh trước đó.
Bước đầu, Công ty đã đầu tư trồng 1.400 ha rừng theo tiêu chuẩn FSC, rồi mở rộng đến 1.600 ha tính đến hiện tại. Để thay đổi được thói quen trồng cây theo những tập quán cũ, ngoài việc cung cấp cây giống và chi phí trồng cây, Forexco còn tập huấn kiến thức và kỹ thuật cho người trồng.
Ðến năm 2012, chứng nhận FSC và CoC mà Forexco nhận được đã mở ra cơ hội để 4 nhà máy của họ chủ động thực hiện mô hình sản xuất khép kín từ trồng rừng - khai thác - sản xuất - xuất khẩu sản phẩm theo một tiêu chuẩn chung. Những cánh rừng FSC đi vào khai thác đã giúp Công ty tự chủ được nguồn nguyên liệu, giảm dần nguyên liệu gỗ FSC đắt tiền nhập khẩu từ Malaysia và Nam Mỹ, vốn chiếm hơn 30% giá thành trước đây. Trong năm 2015, sản lượng hàng Forexco dành cho xuất khẩu chỉ chiếm 33% tổng sản lượng, nhưng đã đem về hơn 57% doanh thu.
Để mở rộng diện tích rừng theo tiêu chuẩn FSC, mô hình được các công ty gỗ thực hiện là hợp tác với các hộ nông dân trồng rừng nhỏ lẻ. Theo mô hình này, người trồng rừng được bao tiêu gỗ đầu ra với giá cao hơn, môi trường rừng được cải thiện, còn doanh nghiệp thì chủ động hơn về nguồn nguyên liệu cho sản xuất.
Những cánh rừng FSC có thời gian trồng dài hơn gấp rưỡi so với rừng thường, nhưng trung bình mỗi ha rừng đạt chuẩn được bán với giá 150-200 triệu đồng, gấp 2-3 lần so với rừng trồng theo kiểu cũ. Do đó, ngày càng có nhiều hộ nông dân tỏ ra hào hứng hơn trong việc trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC để cải thiện thu nhập, mặc dù phải học hỏi từ đầu các quy trình trồng và chăm sóc rừng.
Theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF), một trong những tổ chức hỗ trợ triển khai chứng chỉ FSC tại Việt Nam, nước ta đã có 13 doanh nghiệp và 2 dự án theo đuổi thành công chứng chỉ này, nâng tổng diện tích rừng đạt tiêu chuẩn FSC lên 184.718 ha. Tuy chỉ mới chiếm 1,4% trong tổng diện tích rừng cả nước, nhưng đây sẽ là hướng phát triển phù hợp với chiến lược phát triển lâm nghiệp đến năm 2020, khi rừng trồng theo tiêu chuẩn FSC phải chiếm 30% trong tổng diện tích rừng.
Trong kinh doanh, những người đi tiên phong luôn là người đặt ra luật chơi cho ngành. Các doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ đang trầy trật tìm đầu ra cho sản phẩm, sẽ có thể nối gót những doanh nghiệp đi trước áp dụng tiêu chuẩn FSC vào sản xuất. Từ đó, từng bước áp dụng cho vùng nguyên liệu để mở rộng thị trường tiêu thụ. Những hiệu quả tích cực về môi trường và xã hội mà FSC đem lại có thể không thấy được trước mắt, nhưng sẽ góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. (Nhịp Cầu Đầu Tư 20/4) đầu trang(
Riêng mặt hàng gỗ ngoài trời, Bình Định đứng đầu cả nước. Đồ gỗ ở Bình Định XK đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với các thị trường lớn như Anh, Pháp, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…
Nếu như trong năm 2015 ngành chế biến gỗ XK ở Bình Định đã có 1 năm khởi sắc thì bước sang năm 2016, tình hình bỗng trở nên u ám...
Bình Định là một trong ba trung tâm chế biến gỗ XK hàng đầu cả nước với giá trị kim ngạch XK bình quân đạt 300 triệu USD/năm, chiếm trên 50% kim ngạch XK toàn tỉnh. Riêng mặt hàng gỗ ngoài trời, Bình Định đứng đầu cả nước. Đồ gỗ ở Bình Định XK đến nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới với các thị trường lớn như Anh, Pháp, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc…
Song song với SX, các doanh nghiệp chế biến gỗ ở tỉnh này luôn đặt việc thực hiện chính sách bảo vệ rừng vì mục tiêu phát triển bền vững theo tiêu chuẩn và yêu cầu của tổ chức FSC lên hàng đầu; sử dụng lao động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam; trang bị bảo hộ lao động, mua bảo hiểm tai nạn cho người lao động… tạo điểm đến tin cậy cho khách hàng.
Nhờ đó, trong suốt những năm qua, dù phải đối mặt với khó khăn chồng chất, nhưng đồ gỗ XK vẫn liên tiếp thắng lợi giòn giã. Có thể nêu ví dụ: Nếu như trong năm 2014, giá trị kim ngạch XK của các mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Bình Định đạt gần 314 triệu USD, chiếm gần 50% tổng giá trị kim ngạch XK của toàn tỉnh; tăng 21,4% so với năm 2013 thì bước sang năm 2015, tổng giá trị XK tăng đến 362,54 triệu USD, chiếm 53% tổng giá trị XK của toàn tỉnh; tăng 13,2% giá trị so với năm 2014.
Trong đó, đồ gỗ ngoài trời, sân vườn giữ mức tương đương với năm 2014, đạt 189,4 triệu USD; đồ gỗ nội thất đạt 31,62 triệu USD, tăng 12,5%; dăm gỗ đạt 89,7 triệu USD, tăng 27,2%.
Theo ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định, kết quả trên có được là nhờ nhiều doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư chuyển đổi SX từ những mặt hàng ngoài trời, sân vườn sang đồ nội thất, đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của các thị trường nhập khẩu đồ gỗ lớn.
“Trong năm 2015, ngành gỗ Bình Định có tốc độ tăng trưởng XK cao tại các thị trường Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ… với mức tăng bình quân 35%, trong khi mức tăng bình quân của cả nước chỉ 10,7%”, ông Lập cho hay.
Thế nhưng vừa bước sang năm 2016, bước “thăng tiến” của ngành gỗ Bình Định đã bị chặn đứng. Theo ông Hồ Quốc Dũng, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định, những tháng đầu năm 2016 mặc dù các doanh nghiệp XK đồ gỗ trong tỉnh đã có nhiều nỗ lực, nhưng tốc độ tăng trưởng XK mặt hàng này lại giảm 3,4% so với cùng kỳ năm trước. Đến giờ này nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có đơn hàng.
Theo nhận định của ông Đỗ Xuân Lập, đầu năm 2016, lượng đơn hàng của ngành gỗ đã giảm sút so với cùng kỳ năm 2015 do tỷ giá hối đoái diễn biến bất lợi, đồng Euro tiếp tục mất giá, có xu hướng hạ thấp bằng với đồng USD, làm giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu, do đó khách hàng tiếp tục yêu cầu nhà SX giảm giá bán.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những điểm yếu như đồ gỗ sử dụng loại gỗ phẩm cấp thấp, đơn điệu về mẫu mã, không bền trong sử dụng, ít thiết kế mới và vật liệu công nghiệp mới nên chưa thật sự hấp dẫn khách hàng.
“Thêm vào đó, Chính phủ vừa siết cho vay ngoại tệ đối với doanh nghiệp hai nhóm 3 và 4 đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động SXKD của cộng đồng doanh nghiệp ngành gỗ. Các nước EU, Úc thắt chặt kiểm soát gỗ hợp pháp và trách nhiệm giải trình đối với nhà nhập khẩu và nhà cung cấp cũng đã làm nhiều doanh nghiệp lúng túng”, ông Lập chia sẻ.
Tuy nhiên, theo dự báo của Trung tâm Nghiên cứu công nghệ Milano (CSIL), trong năm 2016 tiêu thụ đồ nội thất trên thế giới sẽ có mức tăng trưởng 2,8%. Trong đó, các nước Mỹ, Đức, Pháp, Anh và Canada sẽ nhập khẩu đồ nội thất lớn nhất. Nhìn lại 5 năm qua, Mỹ tăng nhập khẩu đồ nội thất từ 19 tỷ USD vào năm 2009 lên 32 tỷ USD vào năm 2015, đó là động lực tăng trưởng chính trong thương mại đồ nội thất quốc tế. Trước đó, Trung Quốc luôn dẫn đầu XK mặt hàng đồ gỗ, tiếp theo là Đức, Ý, Ba Lan và Việt Nam. Kể từ năm 2014, kim ngạch XK của Trung Quốc đã “ì lại”, trong khi các nước XK đồ gỗ phát triển nhanh, dẫn đầu trong số này là Việt Nam.
Trước dự báo trên, một trong ba trung tâm chế biến đồ gỗ lớn nhất nước là Bình Định có quyền hy vọng và nỗ lực thực hiện mục tiêu XK đồ gỗ năm 2016 đạt 255 triệu USD, tăng 5% so với năm 2015, chiếm 69% tổng giá trị XK toàn tỉnh. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/4) đầu trang(./.