Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 20 tháng 01 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Nguyên GĐ Bảo tàng Hải Dương bảo: Ở Kinh Môn có mấy quả núi nhiều khỉ lông vàng lắm. Tớ đã từng lấy cả danh dự của nhà khảo cổ của mình ra để bảo vệ mấy quả núi, quần thể khỉ, nhưng thất bại cậu ạ...
Nhắc đến khỉ, vượn, tôi thường nghĩ đến những đại ngàn xa tít mù tắp, cả ngày cuốc bộ ở vùng cực Bắc, cực Tây của Tổ quốc. Nhưng thật ngờ, một hôm nói chuyện với ông Tăng Bá Hoành (nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương), ông bảo: “Ở Kinh Môn có mấy quả núi nhiều khỉ lông vàng lắm. Tớ đã từng lấy cả danh dự của nhà khảo cổ của mình ra để bảo vệ mấy quả núi, quần thể khỉ, nhưng thất bại cậu ạ. Giờ chắc bọn khỉ lông vàng ở đó chết sạch rồi. Cậu thử tìm về xem còn con nào không”. Nghe chuyện những quả núi ở Hải Dương có khỉ, dù thông tin mù mịt lắm, song tôi vẫn cố công tìm hiểu.
Đường vào làng Tử Lạc (thị trấn Minh Tân, Kinh Môn, Hải Dương) bẩn thỉu, bụi mù. Vào làng mà cứ như kiểu rẽ mây trên Sapa đầu xuân. Các nhà máy xi măng, các công trường khai thác, xe tải chở đá ật ưỡng đi lại thật là khủng khiếp. Hỏi chị bán nước ở đầu làng, chị bảo: “Khỉ à, đúng là ở đây từng có nhiều khỉ lắm. Khỉ lông vàng, khỉ má đỏ, đít đỏ. Chồng em còn tóm được khỉ con về nuôi mà. Nhưng giờ núi bị bắn phá nhiều lắm. Không biết có còn khỉ không? Anh thử hỏi mấy ông già xem”.
Tôi tìm vào nhà ông Nguyễn Văn Nguyện, nguyên Bí thư xã Minh Tân, hiện là Chủ tịch Mặt trận thôn Tử Lạc. Ông Nguyện dẫn tôi ra đầu làng, chỉ mấy rông núi bị bắn mìn nham nhở bảo: “Hai mươi năm trước, khu vực này đẹp lắm. Tôi đã từng vào vùng đất ngập nước Vân Long ở Ninh Bình, thấy không đẹp bằng ở đây đâu. Khỉ lông vàng nhiều lắm, phải gọi là “vương quốc khỉ lông vàng”, không biết có bao nhiêu đàn, mỗi đàn từ 10 đến 30 con, hót ríu rít cả ngày...”.
Theo ông Nguyện, 20 năm trước, làng Tử Lạc có phong cảnh vô cùng đẹp. Núi non lô nhô giữa cánh đồng, với các thung, các áng. Ông chỉ tay về những dải đất trống, bảo đó là Mỏ Phượng, Núi Voi, Núi Gấu, Hang Làng, Năm Cửa, Áng Chuối, Áng Thuyền, Áng Thơ, Áng Rong, Áng Sấu, Áng Bát, Chợ Giời... Rồi ông đọc những bài thơ nói về những áng, những núi. Đẹp đến thế là cùng!
Nhưng giờ núi bị phá, áng bị lấp sạch, tan nát hết rồi. Ông Nguyện nhớ mãi cảnh ông Tăng Bá Hoành về họp bàn, “tuyên chiến” với cả lãnh đạo cấp bộ, cấp tỉnh, để bảo tồn cảnh quan vùng núi ngập nước tuyệt đẹp này, nhưng không được. Nhà máy xi măng Hoàng Thạch đã khởi công xây dựng, thì người ta phải phá núi lấy đá làm nguyên liệu chứ. Đàn khỉ thì cũng chỉ coi là đàn kiến mà thôi!
Nhưng người dân Tử Lạc đều ghi ơn ông Hoành, vì sự kiên quyết của ông mà giữ được núi Hàm Long, nơi có ngôi chùa trong hang nổi tiếng, cùng với Hang Dơi có sức chứa vô vàn bon đạm, hàng vạn người thời chiến tranh. Nhớ về đàn khỉ, ông Nguyện chợt buồn. Ông bảo Kinh Môn là vùng đất bán đảo, bị vây quanh bởi các con sông, thì Tử Lạc lại là bán đảo của bán đảo, có con sông Đá Bạc và sông Hàn ôm ấp. Bên kia sông là tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng. Tử Lạc là vùng đất “khỉ hót 3 tỉnh cùng nghe”.
Bây giờ, thi thoảng người dân Tử Lạc vẫn nghe thấy tiếng khỉ hót, nhưng hiếm hoi lắm. Còn nhìn thấy nó thì chẳng mấy ai có cơ duyên nữa. Chúng sợ tiếng mìn, sợ bọn săn bắn, nên trốn sâu vào hang, trốn lên tận đỉnh núi, rúc vào chỗ khuất nẻo. Ông Nguyện như chợt trở về tuổi thơ cùng chúng bạn trong làng, vào áng, vào núi chăn trâu, cắt cỏ. Khắp các rông núi là những khu vườn vải tu hú, với những cây vải to 2-3 người ôm. Quả vải tu hú nhỏ và chua loét, khó ăn. Nhưng vải tu hú lại là món ưa thích của bọn khỉ.
Ông Nguyện và đám trẻ làng thả trâu rồi trèo lên cây vải chọc ghẹo bọn khỉ. Những đàn khỉ hàng trăm con cũng chẳng sợ người, sà xuống ghẹo người, ghẹo trâu, khiến trâu lồng lên giận dữ. Khỉ với người sống vui vẻ, hòa bình lắm. Bà vợ ông Nguyện thấy chồng nói về đàn khỉ, cũng xen vào vẻ tiếc nuối. Bà bảo, chẳng phải đâu xa xôi lắm, mới chục năm trước, bà cùng con cái vào chân núi bọn khỉ “đểu” vẫn tìm cách trêu chọc đàn bà con gái.
Phụ nữ ở Tử Lạc ít khi một mình dám vào núi lắm. Nếu có việc phải vào, thì phải rủ nhau vài người cùng đi. Nếu phát hiện có một mình, chúng xông đến giật nón, giật mũ, lôi rách cả áo. Xua đuổi chúng, chúng cáu lên, hò hét cả bọn lấy đá sỏi ném như mưa rào. “Bọn khỉ chả khác gì người!” – vợ ông Nguyện cứ thở dài, như thể tiếc nuối một xóm của đồng loại ở những rông núi đang bị bắn phá nham nhở kia. Nhớ nhất là cảnh chị em đi gặt lúa, vừa vui mà vừa tức cái lũ khỉ chúa nghịch ngợm, thọc mạch. Lúa mọc vàng ươm, tốt bời bời, chúng không phá. Nhưng hễ chị em phụ nữ vào khe núi gặt, là chúng kéo đến trêu ghẹo.
Chị em gặt lúa, xếp thẳng thớm, chúng hò nhau kéo xuống ruộng giũ cho rối tinh rối mù lên. Cầm liềm đuổi, chúng lại chạy tót lên núi. Lúc gánh lúa về, mấy tên khỉ đểu cáng xông ra, nhảy lên một bên quang gánh, rồi đột ngột nhảy tót ra, khiến chị em chao đảo, gánh lúa bật tung.
Trời thì nóng, tức lắm, nhưng chẳng làm gì được chúng. Đuổi chúng, chúng chạy tót lên núi rồi cả lũ hò hét như thể trêu ngươi. Bà vợ ông Nguyện nghĩ lại cảnh đàn khỉ trêu đàn bà con gái, mà không thấy có chút gì bực dọc. Chục năm nay, được nghe tiếng khỉ hót vang lại từ những rông núi kia cũng hiếm, chứ nói gì được chúng... trêu ghẹo.
Ông Nguyện bảo rằng, muốn tìm hiểu trên núi còn khỉ hay không, thì gặp anh Đào Văn Mạnh, là Trưởng thôn Tử Lạc. Anh Mạnh sống ngay dưới chân mấy quả núi, nên anh là người nắm rõ nhất về đàn khỉ lông vàng. Loanh quanh qua mấy hố nước như thể miệng núi lửa, do khai thác cao lanh, qua chân mấy quả núi đã bị bóc đi, thì thấy một mái nhà lúp xúp giữa những lùm cây thấp phủ một màu trắng xóa của bụi. Căn nhà nhỏ, nhưng đóng kín mít, chằng bạt khắp nơi để ngăn bụi.
Nhắc đến đàn khỉ lông vàng, anh Mạnh hào hứng hẳn lên. Sau nửa tiếng đồng hồ ca ngợi vẻ đẹp của “Hạ Long trên cạn”, anh Mạnh thở dài thườn thượt. Cũng như cư dân Tử Lạc, anh đều tiếc nuối cho một kỳ quan của làng, đã bị đánh đổi vì phát triển kinh tế. Anh Mạnh bảo, những quả núi ở làng Tử Lạc từng là “vương quốc của Tề Thiên Đại Thánh”.
Nhưng giờ thì tan tác cả rồi. Suốt một thời gian dài, các doanh nghiệp đua nhau bắn phá núi. Đàn khỉ bị dồn co cụm lại, rồi thợ săn mò vào tiêu diệt. Chẳng có ai ngoài anh là có trách nhiệm với đàn khỉ, nhưng anh chẳng làm được gì. Giờ đàn khỉ mất môi trường sống, lại sợ bị “người ăn thịt”, nên trốn sâu vào trong núi Mìn. Thời gian nữa, quả núi này bị bắn (bắn mìn, khai thác), thì đàn khỉ cũng sẽ tiêu đời...
Trưởng thôn Tử Lạc (Minh Tân, Kinh Môn, Hải Dương), anh Đào Văn Mạnh, đạp chiếc Win 100 cũ nát nổ bình bịch, chở tôi đi một vòng quanh nơi từng là “Hạ Long trên cạn”. Đi mãi, đi mãi, chỉ thấy bụi mịt mờ, những quả núi trắng phau, vì đã bị bóc sạch lớp đất, cây cối, những quả núi bị mìn nổ nham nhở. Anh Mạnh dẫn tôi đến một khe núi, mà dân làng gọi là Áng Chuối. Theo anh Mạnh, đó là áng cực đẹp, nhiều hang động, có cả con suối chảy ra từ hang, phải chèo thuyền mới vào được. Áng Chuối có núi Mìn, là nơi các nhà máy cất giữ mìn, nên chưa khai thác. Đàn khỉ đã bị dồn cả vào quả núi này. Tôi đang loay hoay chụp ảnh, thì mấy bảo vệ xông ra tuyên bố: Cấm chụp ảnh!
Tôi và anh Mạnh tiếp tục vòng ra phía bên kia quả núi Mìn, sát sông Hàn, rồi vào con đường hun hút, cheo leo trên sườn núi. Trong khe núi là căn nhà của vợ chồng bà Trần Thị Hiền và ông Phạm Văn Năng.
Bà Hiền chỉ hòn đá to tướng nằm giữa sân và bảo, năm ngoái, người ta nổ mìn ở bên kia quả núi, mà một tảng đá bằng cái thúng bay qua đỉnh núi, rơi trúng bếp nhà bà, làm bếp sập hoàn toàn. Nhìn căn nhà nhỏ xíu, mà có tầng hai chon von, tôi thấy lạ lùng. Bà Hiền bảo, ngày xưa xây ngôi nhà nhỏ, cả nhà cùng ở, nhưng đêm nào rắn độc cũng mò về, sợ quá, nên phải cơi chòi rồi ở cả bên trên.
Núi này lắm rắn, nhiều trăn. Vợ chồng bà vào khe núi này ở từ năm 1980. Thời điểm đó, khỉ nhiều vô kể, từng đàn lớn bé, ngày ngày chạy nhảy, hót hét trên núi. Chúng kéo nhau về vườn nhà bà phá phách, bứt hoa quả ăn, thậm chí chạy dọc bờ ao đuổi gà.
Mấy năm trước, vẫn còn cả chục đàn, thường xuyên về rông núi sát nhà bà. Bà còn nhớ mặt mũi từng tên khỉ độc, từng đàn có bao nhiêu con. Thế nhưng, mấy năm nay, người ta bắn mìn nhiều quá, thợ săn cũng giết hại khỉ nhiều, chả ai quan tâm bảo vệ chúng, nên chúng hao hụt rất nhiều. Thời gian gần đây, bọn khỉ ít xuất hiện. Ngày nào mìn cũng nổ đùng đoàng, nên bọn chúng sợ hãi, trốn sâu trong hang, ít ló mặt ra.
Rời sườn Đông núi Mìn, tôi và anh Mạnh vòng ra con đường nhỏ xíu sát mép sông Hàn. Để đi qua con đường này, buộc phải qua nhà ông Hoàng Văn Nhĩ. Ông Nhĩ đặt một cái lồng nhốt khỉ ngay bờ sông. Hóa ra, năm trước, một chú khỉ con bị lạc mẹ, mò về nhà ông, thế là ông... giữ nó ở nhà cho vui. Hằng ngày, vợ chồng già có con khỉ làm bạn, vui đáo để. Ở với ông hóa ra nó lại an toàn tính mạng.
Ông Nhĩ sống ở đây đã mấy chục năm, nên ông nắm rất rõ tập tính của bọn khỉ lông vàng trên mấy quả núi sau nhà ông. Theo ông, từ xưa, người dân quanh vùng đã thường xuyên săn khỉ về làm thịt, nấu cao. Hai người nổi tiếng săn khỉ là ông Cải và ông Đích. Ông Cải chết rồi, ông Đích thì cũng đã giải nghệ. Hai ông có cách săn khỉ khá đơn giản, chỉ đặt lồng như cái bẫy, cho thức ăn vào. Bọn khi vào bẫy ăn, lồng úp xuống, thế là thành “tù binh”.
Nhưng ngày đó, bọn khỉ sống ở không gian rộng, nên săn cũng khó. Giờ bọn khỉ bị dồn từ chục quả núi, về mỗi quả núi Mìn thấp lè tè này, là cơ hội để đám thợ săn tiêu diệt. Chính mắt bà Hoàng Thị Phấn, vợ ông Đích, nhìn thấy một đàn khỉ bơi qua sông Hàn, sang trú ngụ quả núi bên huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng). Thế nhưng, quả núi bên đó giờ cũng bị phá nát rồi, nên chắc bọn chúng cũng chết sạch. Từ nhiều năm nay, có một nhóm thợ săn bên Thủy Nguyên vẫn bơi thuyền sang núi Mìn săn khỉ. Sợ người dân xua đuổi, nên họ không dùng súng, mà dùng bả chuột đánh khỉ.
Theo ông Đích, bố con anh Lại, ở Thủy Nguyên là sát thủ giết nhiều khỉ nhất. Bố con anh này thường xuyên mò lên núi rải chuối, thóc đã tẩm bả chuột ở những nơi bọn khỉ thường xuyên qua lại. Loài khỉ lông vàng có đặc tính rất đặc biệt, đó là, khi trúng độc, nó sẽ cố gắng lết về nơi bầy đàn ở để chết. Vậy nên, dù rải bả chuột khắp núi, song chỉ việc mò lên hang đàn khỉ trú ngụ, có thể gom được ối xác khỉ về nấu cao.
Bản thân ông Đích đã nhìn thấy bố con anh này nhiều lần vác cả bao khỉ xuống núi, nhưng ông không làm gì được. Có lần, thấy bố con anh ta vác khỉ xuống phà sang bên kia sông, ông đã điện cho anh Mạnh đuổi theo thu lại, nhưng khi anh Mạnh đến, anh ta đã chạy mất. Hồi năm ngoái, cậu con trai anh Lại lên núi rải bả, đã trượt chân, ngã xuống vực chết. Từ đó, không thấy anh này sang bắt khỉ nữa.
Theo ông Đích, hiện tại, trên núi Mìn chỉ còn 4 đàn khỉ lông vàng, có đàn 8 con, đàn 10 con. Xưa kia, trên những quả núi này, có hàng trăm đàn, đàn nhiều có tới 60 khỉ. Loài khỉ lông vàng ở đây khá nhỏ, mỗi con chỉ độ 10 đến 12kg. Riêng khỉ độc thì lớn hơn, khoảng 20kg. Mỗi đàn một lãnh địa riêng. Giờ chúng bị dồn vào một quả núi, địa bàn ít, đi kiếm ăn thường xuyên gặp nhau, tranh giành lãnh địa, đánh nhau chí chóe. Chúng quăng nhau từ đỉnh núi văng xuống chân núi mà không hề hấn gì.
Theo Trưởng thôn Đào Văn Mạnh, đã có vài đoàn từ trên tỉnh tìm về nghiên cứu đàn khỉ trên núi Tử Lạc. Họ cũng quay phim, chụp ảnh được rất nhiều khỉ. Nhưng quay, chụp xong thì đi biệt tăm, chả thấy có ý kiến phản hồi là có bảo tồn hay không. Mấy ông cán bộ này cũng chỉ dặn anh Mạnh hãy cùng nhân dân trông nom đàn khỉ này, nếu gặp bọn săn bắn thì xua đuổi và báo cáo kiểm lâm. Họ chỉ dặn thế rồi đi biệt.
Ông Nguyễn Văn Nguyện, nguyên Bí thư xã Minh Tân, giờ là cán bộ Mặt trận thôn Tử Lạc, được giao nhiệm vụ viết điếu văn cho đám ma, nhìn mấy rông núi bị bắn mìn nham nhở mà thở dài: “Chẳng bảo tồn được đâu. Chẳng giữ được đàn khỉ đâu. Đàn khỉ không bị bắn chết thì cũng bị xua đuổi khỏi quả núi đấy thôi. Làm gì có chỗ nào cho chúng nó trú ngụ nữa. Nhà máy xi măng Hoàng Thạch đặt ở đây, thì họ đã nhòm mấy quả núi ấy rồi.
Đến quả núi có chùa, có động, có bia cổ khắc vào vách đá, rồi có di tích Hang Dơi từng nuôi giấu hàng ngàn bộ đội, cất giữ hàng vạn tấn vũ khí họ còn đòi nghiền ra làm xi măng, thì cái núi khỉ kia họ có coi ra cái gì. Vài năm nữa thì đàn khỉ sẽ biến mất”. Lời than thở của ông Nguyện là lời bất lực. Có lẽ, đó cũng là lời ai điếu cho bầy khỉ lông vàng duy nhất và cuối cùng ở tỉnh Hải Dương. (Người Đưa Tin 19/1) đầu trang(
Mặc dù đã quen với việc sống chung với loài rắn cực độc hơn 10 năm nay nhưng người dân luôn phải có thuốc trị độc ở trong nhà, dẫu vậy, hàng năm, xã nghèo vùng núi thu 20 tỷ đồng từ rắn độc...
Bạch Lưu là một trong những xã nằm ở cuối huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Địa bàn chủ yếu là đồi núi, giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, đất đai cũng không mấy thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp...
Thế nhưng, gần 10 năm nay, nghề nuôi rắn độc lại khiến đia phương giàu lên nhanh chóng, mỗi năm, xã vùng núi thu nhập tới 20 tỷ đồng...
Chúng tôi tìm đến gia đình anh Nguyễn Văn Sơn, một chủ hộ nuôi rắn tiêu biểu trong xã, hiện tại mô hình nhà anh Sơn có trên 400 con rắn. Anh cho biết, gia đình anh bắt đầu áp dụng mô hình nuôi rắn này từ năm 2004, ban đầu anh nuôi số lượng ít, sau khi thấy hiệu quả kinh tế cao, anh đã mạnh dạn nhân rộng mô hình và đã thu được thành công bước đầu.
Anh cho biết với mô hình nuôi này, hằng năm gia đình anh thu về từ 150 – 200 triệu đồng đã trừ hết chi phí. Đó là một con số không nhỏ đối với một gia đình ở vùng núi còn nhiều khó khăn này.
Nếu nuôi rắn để bán thương phẩm, cứ 1kg rắn thương phẩm có giá 980 nghìn đồng. Anh thường nuôi khoảng 2 – 3 kg sẽ xuất bán, cũng có khi lên đến 4kg mới bán. Như vậy một con rắn 4kg anh thu về khoảng gần 4 triệu đồng.
Ông Hà Văn Chữ Hà Văn Chữ, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã và cũng là một hộ nuôi rắn cho biết, gia đình ông thường nuôi cho rắn đẻ rồi bán trứng. Mỗi quả trứng sẽ có giá từ 100 đến 150 nghìn đồng. Như vậy mỗi lứa trứng, ông sẽ thu được khoảng gần 70 triệu đồng.
Ông Chữ chia sẻ: “Gia đình tôi hiện tại kinh tế đã ổn định, thu nhập từ rắn không những đủ để trang trải cuộc sống mà còn có thể gửi tiết kiệm”...
Ông Hoàng Văn Vượng, phó Chủ tịch xã Bạch Lưu cho biết, nghề nuôi rắn đã có tại địa phương từ gần chục năm nay. Ban đầu chỉ có vài hộ dân nuôi với quy mô nhỏ lẻ, manh mún, nhưng sau đó người dân và chính quyền xã nhận thấy đây là một mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nuôi rắn hiệu quả hơn hẳn so với chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm khác. Sau đó chính quyền xã đã xin Chi cục Kiểm lâm huyện Sông Lô cấp phép cho bà con nông dân. Đến nay, mô hình này đã được nhân rộng trong toàn xã.
Theo con số thống kê của Chi cục Kiểm lâm huyện Sông Lô, hiện nay trong toàn xã đã có 132 hộ dân được cấp phép. Quy mô cũng được mở rộng, trung bình mỗi hộ dân nuôi từ 200 – 300 con, lớn nhất là trên 400 con. Rắn nuôi trung bình đạt khoảng 2kg đến 3kg thì xuất bán, con trên 3kg đến 4kg có thể bán với giá vài triệu đồng/con. “Hàng năm, cả xã đã thu về trên 20 tỷ đồng từ mô hình nuôi rắn, đây quả là một con số không nhỏ đối với một xã nghèo vùng núi chúng tôi” - ông Vượng cho biết thêm.
Hổ mang bành là loài có nọc độc, trong quá trình nuôi, không ít người đã bị rắn cắn. Tuy nhiên, trong xã chưa có trường hợp nào bị tử vong do rắn cắn, ông Hoàng Văn Vượng, Phó chủ tịch xã khẳng định.
Theo kinh nghiệm những người nuôi rắn lâu năm, nếu bị rắn hổ mang bành cắn trong vòng 1 ngày không có thuốc chữa sẽ dẫn đến tử vong, chính vì vậy những hộ nuôi rắn ở đây nhà nào cũng có thuốc phòng trường hợp bị cắn sẽ chữa ngay. Nếu cẩn thận hơn nữa thì tốt nhất khi tiếp xúc với rắn phải đeo gang tay cao su.
Ông Hà Văn Chữ cho biết, gia đình ông bắt đầu áp dụng mô hình nuôi rắn từ năm 2002, cho đến nay, mô hình đã được nhân rộng với quy mô 160 con. Chuồng rắn xây không quá phức tạp nhưng phải giữ cho rắn không thể trườn ra ngoài gây nguy hiểm cho người xung quanh. Chuồng rắn có tường bao quanh, và phải lợp mái kiên cố, bên trong đổ bê tông chạy dài theo nhà, kiểu hang hầm tối, rồi chia thành từng ngăn nhỏ. Trong mỗi ngăn hầm nhỏ đổ đất làm đệm lót để hút ẩm và giữ nhiệt độ ổn định cho hang nuôi, lại tạo được không gian tự nhiên cho rắn.
Ông Chữ cũng cho biết thêm, có 2 hình thức là nuôi tập thể và nuôi đơn lẻ, nếu nuôi tập thể thì phải cho trứng ấp cùng một lứa và nuôi cùng nhau từ bé đến lớn, tránh việc cho rắn khác lứa vào vì chúng sẽ đánh nhau. Nuôi đơn lẻ là trường hợp mua ở ngoài hoang dã, chưa được thuần hóa hoặc con giống khi mua về đã lớn, không thể nuôi theo hình thức tập thể được nữa, nuôi đơn lẻ mỗi con sẽ được phân ra thành 1 ô riêng trong chuồng. Người dân áp dụng mô hình nuôi đơn lẻ là phổ biến vì mô hình này tiện chăm sóc, dễ dàng kiểm soát được số lượng.
Thức ăn chủ yếu của rắn là cóc, một tuần rắn chỉ ăn từ 2 đến 3 bữa (3 ngày mới phải cho ăn 1 lần), lượng thức ăn cũng phụ thuộc vào từng thời kỳ, theo kinh nghiệm của những hộ nuôi rắn thì rắn ăn nhiều nhất vào lúc còn nhỏ, cần nhiều thức ăn để sinh trưởng.
Rắn sinh trưởng nhờ quá trình thay da, trung bình mỗi tháng rắn thay da một lần, sau khi thay da chúng sẽ rất yếu, vì vậy sẽ mất 10 ngày rắn không ăn uống gì. Tuy nhiên sau 10 ngày đó chúng sẽ ăn rất nhiều, nếu thời gian này được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng thì tốc độ tăng trưởng của rắn sẽ nhanh hơn trước khoảng 2 – 3 lần để tiếp tục cho chu kỳ thay da mới...
Tuy nhiên, theo ông Chữ, thị trường tiêu thụ hiện nay hoàn toàn phụ thuộc vào Trung Quốc vì đây là loại thương phẩm giá cao, còn thị trường tiêu thụ trong nước không thể đáp ứng. Chính vì vậy, nguy cơ rủi ro, giá cả bấp bênh là một vấn đề lớn mà người dân phải đối mặt.
Năm 2015 theo đánh giá của các hộ nuôi rắn trong xã thì lãi thấp hơn so với những năm trước vì giá thương phẩm bán ra hạ, giá thức ăn lại cao.
Do đó, người dân xã Bạch Lưu bày tỏ sự mong muốn được chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tạo điều kiện hơn nữa về việc mở rộng quy mô mô hình nuôi và chính sách mới để bình ổn thị trường tiêu thụ... (Người Đưa Tin 19/1) đầu trang(
Khi đến du lịch tại những đảo khỉ, du khách phải giữ đồ đạc, túi xách của mình thật chắc, nếu không những chú khỉ có thể "móc túi" bạn bất cứ lúc nào.
Đảo Khỉ Cát Bà với phong cảnh thiên nhiên hoang sơ tuyệt đẹp, Đảo Cát Dứa hay còn gọi là đảo Khỉ đã và đang trở thành một điểm sáng của du lịch Cát Bà. Đây cũng thường là điểm dừng chân đầu tiên của khách du lịch trên vịnh Lan Hạ.
Trước đây, đảo có tên gọi là Cát Dứa là vì trên đảo có nhiều cây dứa dại cao um tùm, quả dứa trông thì rất ngon nhưng không ăn được. Người dân đi đánh cá thường mang về ngâm nước uống cho mát hoặc sấy khô làm thuốc.
Sau này, người dân ở đảo Cát Bà hay gọi là đảo Khỉ vì ở đây có khoảng vài chục con khỉ, mà phần lớn được những người kiểm lâm thả về sinh sống tại đây, nên chúng khá dạn dĩ với người. Chúng sẵn sàng xông ra giành thức ăn từ tay du khách thiếu cẩn thận, thậm chí chúng có thể cắn nếu ai chọc tức.
Đảo Khỉ cách thị trấn Cát Bà khoảng 1 km đường chim bay và là đảo nhỏ chỉ có chu vi khoảng 3 km. Đây là một hòn đảo cấu tạo dạng núi, và có 2 bãi tắm hình vòng cung hấp dẫn, là bãi Cát Dứa 1 và bãi Cát Dứa 2.
Bãi tắm Cát Dứa 1 dài hơn, có doanh trại quân đội đồn trú và là điểm tắm biển lý tưởng với dải cát trắng tinh, cùng làn nước biển xanh trong nhìn rõ đáy. Dịch vụ biển ở đây có cho thuê phao, thuyền kayak... và nhà hàng mái lá để bạn có thể ngồi nhâm nhi đồ uống và vãn cảnh.
Bãi tắm Cát Dứa 2 yên tĩnh hơn và nằm khuất sau mỏm núi hình con hổ. Ở đây có một khu vườn rộng gồm các loại cây như dứa dại, cây phong ba, cây si, cây táo trắng... và cũng là khu nghỉ dưỡng Monkey Island Resort, được xây dựng theo kiểu nhà bungalow mái lá nhưng đầy đủ tiện nghi.
Đến đảo Khỉ, ngoài đắm mình trong làn nước mát, bạn còn có thể trèo lên lưng chừng núi, thậm chí lên đến tận đỉnh để thưởng ngoạn bao quát toàn cảnh vịnh Lan Hạ với hàng trăm hòn đảo nhấp nhô, như mọc lên từ biển cả bao la.
Đảo Khỉ Nha Trang tọa lạc ngay giữa đầm Nha Phu, Đảo Khỉ ( Hòn Lao) là một cù lao nhỏ, có diện tích khoảng 25 hecta. Đây là một trong những vịnh đẹp nằm ở phía Bắc, cách thành phố Nha Trang 18km (về phía Bắc), là nơi phong cảnh hữu tình, quanh năm biển lặng sóng êm, và cũng là nơi cung cấp nguồn thủy hải sản phong phú cho tỉnh nhà.
Đảo Khỉ còn có tên gọi là Hòn Lao bởi khi nhìn từ trên cao xuống đảo như một mũi lao nhọn. Khỉ được mang đến đây nuôi từ năm 1991, cho đến nay quần thể khỉ đã lên tới hơn 1200 con. Khỉ được thả nuôi trong rừng nguyên sinh với hai loại là khỉ mặt đỏ và khỉ lông xám.
Đặc biệt khi vào khu rừng hoang dã cuối đảo Hòn Lao, du khách sẽ ngạc nhiên và thích thú hơn với đàn khỉ vô tư tinh nghịch thân thiện tạo cảm giác gần gũi với thiên nhiên hoang dã mà tạo hóa ban tặng cho con người. Cũng như vui thích khi xem chương trình biểu diễn xiếc thú đầy hấp dẫn và hứng khởi tại đây.
Mặc dù đàn khỉ ở đây rất thân thiện nhưng chúng cũng vô cùng nghịch ngợm nên phải hết sức cẩn thận, vì chỉ trong nháy mắt, nếu không để ý những món đồ bạn đang cầm trên tay có thể bị khỉ "cướp trắng trợn".
Ngoài ra, tại khu du lịch Hòn Lao, du khách cũng có thể ra tắm biển với làn nước trong xanh hoặc xem những cuộc đua cho hấp dẫn. Ngoài ra những ai thích thám hiểm có thể tham gia hoạt động lặn biển, ngắm những rạn san hô tuyệt đẹp.
Đảo Khỉ Cần Giờ nằm cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh hơn 50km về phía Nam, huyện Cần Giờ là một trong những địa điểm du lịch sinh thái lý tưởng đối với nhiều du khách. Từ một vùng trắng hoang tàn bởi chiến tranh tàn phá ngày nào, giờ đây, rừng ngập mặn Cần Giờ được coi là một trong những cánh rừng đẹp nhất Đông Nam Á và được UNESCO công nhận là "Khu dự trữ sinh quyển thế giới".
Đến đây, du khách sẽ được tắm mình trong bầu không khí trong lành, hoang sơ của thiên nhiên, ngắm nhìn vẻ đẹp của những thân, rễ cây đước chằng chịt của vùng rừng ngập mặn, và đặc biệt được thư giãn, trêu đùa với những chú khỉ tinh nghịch tại khu du lịch Lâm Viên, mà mọi người vẫn quen gọi là Đảo Khỉ.
Từ vài chục con ban đầu, đến nay đảo khỉ đã có gần 2.000 con khỉ các loại, có một số loài quý hiếm nên nơi đây luôn được ví như "vương quốc" của loài khỉ. Bầy khỉ ở Lâm Viên rất dạn, chúng không sợ người, bạn có thể đến gần bắt tay hoặc cho chúng ăn và tranh thủ chụp những bức ảnh độc đáo làm kỷ niệm. Nhưng du khách phải lưu ý bảo vệ vật dụng tư trang cẩn thận vì đôi khi có người sẽ phải hốt hoảng bởi những hành vi “giật đồ” giữa ban ngày của chúng.
Đến Cần Giờ không ghé qua Đảo Khỉ để ngắm nhìn đàn khỉ hàng ngàn con kéo ra chào đón du khách từ những cánh rừng đước thì xem như chưa tới Cần Giờ. Những ngày lễ, mỗi ngày có hàng ngàn du khách đổ về Đảo Khỉ hết sức nhộn nhịp để thưởng thức bầu không khí trong lành, hoang sơ của thiên nhiên, ngắm nhìn vẻ đẹp của những thân, rễ cây đước chằng chịt của vùng rừng ngập mặn, và đặc biệt được thư giãn, trêu đùa với những chú khỉ tinh nghịch. (VN Tin Nhanh 19/1) đầu trang(
Dù UBND tỉnh Quảng Ninh có công văn yêu cầu giao 28 ngà voi lậu bị bắt từ năm 2008, nhưng đến nay lô hàng trên vẫn chưa về Bảo tàng Quảng Ninh.
Vụ việc được phát hiện khi một đơn vị bảo vệ thiên nhiên có công văn gửi Bảo tàng Quảng Ninh, đề nghị cho biết việc bảo tồn và phát huy số ngà voi trên ra sao trong suốt hơn 7 năm qua.
Trước đó, ngày 16/12/2008, khi kiểm tra xe khách, do tài xế Đinh Như Dương (quê Thủy Nguyên, Hải Phòng), lực lượng cảnh sát giao thông Quảng Ninh đã phát hiện lái xe vận chuyển trái phép 28 chiếc ngà voi, trọng lượng 47,7 kg.
Đến ngày 16/1/2009, số ngà voi trên - được xác định là ngà voi Châu Phi - được Phòng cảnh sát tội phạm về kinh tế và chức vụ, Công an tỉnh Quảng Ninh bàn giao cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh để xử lý.
Ngày 11/2/2009, UBND tỉnh Quảng Ninh có quyết định tịch thu toàn bộ số ngà voi trên; đồng thời giao Giám đốc Sở Tài chính cùng Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh lập Hội đồng giao 28 chiếc ngà voi cho Bảo tàng Quảng Ninh quản lý để phục vụ công tác tham quan và giáo dục về môi trường.
Đến nay, Bảo tàng Quảng Ninh vẫn chưa nhận được số ngà voi đó. Vụ việc chỉ “lộ” ra khi ngày 29/12/2015, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, có công văn gửi Bảo tàng Quảng Ninh tìm hiểu về số phận 28 ngà voi buôn bán trái phép trên.
Theo ENV, việc xác minh tính chính xác cũng như cập nhật đầy đủ những thông tin về việc vi phạm luật bảo vệ động vật hoang dã là rất quan trọng cho công tác lưu trữ thông tin của ENV và các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ động vật hoang dã của cộng đồng.
Đến lúc này, lãnh đạo Bảo tàng Quảng Ninh mới “tá hỏa” và đi truy số ngà voi trên. (Zing News 19/1) đầu trang(
Khoảng 16h ngày 19/1, một số người dân thấy rùa nổi lên ở góc hồ đối diện báo Hà Nội mới, có dấu hiệu bốc mùi.
Ban quản lý Hồ Hoàn Kiếm cùng với người dân đã đưa rùa vào ven bờ, tiến hành lau qua cơ thể rùa.
Chiều tối cùng ngày, Ban quản lý Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội) thông báo cho nhà nghiên cứu rùa học - Phó giáo sư, Tiến sỹ Hà Đình Đức việc rùa Hồ Gươm chết và mời ông đến hiện trường xác nhận.
Theo Tiến sỹ Hà Đình Đức, xác rùa đã được đưa về đền Ngọc Sơn bảo quản. Trong những ngày tới, các cơ quan chức năng của thành phố sẽ xin ý kiến các nhà khoa học về biện pháp bảo quản để có thể lưu giữ lâu xác rùa, trong đó có thể tính đến phương án ướp xác.
Nhà nghiên cứu rùa học cho biết thêm, năm 2015 số lần cụ rùa hồ Gươm nổi lên mặt nước khá ít. Tháng 11 nổi hai lần, tháng 12 nổi một lần. Trung bình mỗi tháng cụ rùa nổi vài lần, trong khi những năm trước, trung bình một tháng nổi khoảng chục lần. Lần cuối cụ rùa nổi lên là từ 10h đến 12h ngày 21/12/2015, gần khu vực đối diện đường Lê Thái Tổ.
Rùa hồ Gươm là cá thể cái. Năm 2011 rùa được đưa lên bờ để chữa trị các vết lở loét trên thân trong hơn ba tháng. Khi đó rùa có chiều dài toàn thân là 185 cm, chiều rộng mai 100 cm, chiều dài đuôi là 35 cm, nặng 169 kg. (Pháp Luật Việt Nam 20/1; Giáo Dục Và Thời Đại 20/1; Tin Tức 20/1) đầu trang(
Thuộc địa phận xã Krông Na, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk, cách trung tâm Buôn Ma Thuột 40km về hướng Tây, Bản Đôn không chỉ là điểm đến du lịch sinh thái hoang dã, nhiều tiềm năng, mà còn là nơi thuần dưỡng voi rừng nổi tiếng vùng đất Tây Nguyên.
Con đường đất đỏ giờ đã trải nhựa phẳng lỳ sẽ đưa du khách qua những ngôi làng nhỏ nhắn của người Ê Đê, qua những đồi chè, vườn cà phê để về với Bản Đôn. Xa xa, Bản Đôn hiện ra trong một không gian núi rừng xanh ngát, những con đường trải dài dưới hàng cây cổ thụ…
Đâu đó đã thấy những chú voi ngạo nghễ từng bước và còn nghe cả tiếng nước của dòng Sêrêpôk hùng vĩ, tiếng gió hú, tiếng cười rộn vui của những nhịp chân lắc lư cầu treo… Tất cả thôi thúc sự tò mò của du khách lần đầu đặt chân lên mảnh đất Tây Nguyên này.
Được mệnh danh là “vương quốc voi”, nên mong ước đầu tiên của nhiều du khách khi đến Bản Đôn là được du ngoạn trên lưng voi. Trước đây, voi Bản Đôn giúp người dân vận chuyện kéo gỗ, xây nhà, làm thủy lợi... Ngày nay voi lại có thêm “nghề” mới là chở khách du ngoạn. Hành trình du lịch của voi có nhiều tuyến, đi dạo dọc Bản Đôn, thăm dòng sông Sêrêpôk hay rừng quốc gia nổi tiếng… Qua những đoạn sông Sêrêpôk đang cuộn chảy, nhiều du khách e ngại, nhưng chính những bước chân vững chắc rất “chuyên nghiệp” của voi cùng với cái lắc mạnh đều đặn đã giúp xóa tan mọi nỗi sợ sệt của du khách. (Dân Việt 19/1) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết, năm 2015 đã phát hiện 316 vụ vi phạm chặt phá cây rừng, săn bắt động vật hoang dã trái phép.
Năm 2016, tỉnh sẽ tăng cường các giải pháp quản lý, bảo vệ rừng, triển khai trồng mới 500 ha rừng nhằm phấn đấu đạt tỷ lệ che phủ rừng và cây phân tán 24,5%. Các đơn vị kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an, quân đội, Bộ đội Biên phòng tăng cường kiểm tra, truy quét nhằm hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác rừng phức tạp, khai thác rừng kéo dài ở khu vực rừng phòng hộ ven biển và Vườn Quốc gia mũi Cà Mau. (Nhân Dân 19/1) đầu trang(
Câu chuyện xảy ra vào những ngày cuối năm 2015 khi Hạt kiểm lâm Krông Pa (tỉnh Gia Lai) phát hiện và bắt giữ một xe tải gỗ lậu.
Ngay sau đó, ông Nguyễn Đình Sơn, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Rsai đã đứng ra nhận lượng gỗ 9,818m3 là của ông ta đã mua, trong đó 4363m3 gỗ không hề có giấy tờ chứng minh.
Điều trùng hợp trong câu chuyện này là vào cùng thời điểm đó, rất nhiều tiểu khu ở cánh rừng mà ông Sơn quản lý bị đốn hạ, tàn phá đến mức tan hoang và kì lạ hơn nữa là gỗ ở chuyến xe mà ông Sơn nhận mình đã mua cũng khớp với các gốc cây đã bị đốn. Hầu hết toàn là gỗ sao, gỗ hương, gáo vàng…
Dường như lâm tặc trong cánh rừng mà ông Sơn quản lý chẳng “kiêng dè” một ai vì thậm chí, chúng còn làm hẳn một cây cầu cho tiện việc vận chuyển gỗ lậu. Vậy là lòng tham cộng với cái quyền mà chúng tự (hoặc được một thế lực khác) phong, chúng đã phá tan tành một cánh rừng phòng hộ.
Đúng là bi hài khi một người đáng lẽ phải có trách nhiệm bảo vệ những cánh rừng đó như một người mẹ bảo vệ đứa con của mình thì giờ đây lại “vô tình” dính líu đến việc vận chuyển gỗ lậu trái phép. Người ta bảo hổ dữ không ăn thịt con nhưng có lẽ trong chuyện này thì “hổ” lại… phá lệ mất rồi!
Nỗi buồn của câu chuyện này còn được nhân đôi khi cánh rừng ấy là rừng phòng hộ - tức là rừng quyết định trực tiếp đến cuộc sống, tính mạng của người dân bản địa và các khu vực lân cận, thậm chí ảnh hưởng đến biến đổi môi trường, khí hậu cả một quốc gia.
Rốt cục, việc người dân “Chọn mặt gửi vàng”, chọn một người cán bộ có khả năng, có đức, có tài để quán xuyến, quản lý và bảo vệ cánh rừng, bảo vệ cuộc sống của nhân dân đã hoàn toàn thất bại. Ai đó đã viết lại “kịch bản” của câu chuyện này thành “Giao trứng cho ác” mất rồi.
Hóa ra, những những tấm biển “Bảo vệ rừng chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta...” được đặt ở những nơi chúng ta thường xuyên nhìn thấy cũng chẳng có giá trị gì trước những con người bị đồng tiền làm mờ mắt.
Hóa ra, những thân cây có tấm biển “Cấm chặt cây” do Ban quản lý rừng ghim vào cũng chẳng thể tự cứu mình khỏi lưỡi cưa, lưỡi rìu của lâm tặc.
Hóa ra, nhiều người mang danh, làm nghề “bảo vệ rừng” cũng chẳng thoát được cái suy nghĩ và hành động giống hệt “lâm tặc” khi (gián tiếp hay trực tiếp) tiếp tay cho chính những đối tượng đó, phủ nhận đi bổn phận và trách nhiệm mà nhân dân, đất nước tin tưởng giao phó cho mình.
Chỉ vài hôm trước thôi, ông Cục trưởng cục Phòng cháy chữa cháy có khẳng định trước truyền thông rằng: “Đã là bình chữa cháy thì không bao giờ cháy được”!
Vậy thì ông Giám đốc Ban quản lý rừng ở Gia Lai lại đi ngược với câu nói đó rồi. Bởi đã là cán bộ kiểm lâm thì không được phá rừng chứ! (Người Đưa Tin 20/1) đầu trang(
Ngày 19/1, Sở NN-PTNT tổ chức hội nghị bàn một số giải pháp phòng, chống hạn, xâm nhập mặn năm 2016 trên địa bàn tỉnh.
Sở này đề nghị các địa phương thường xuyên nắm tình hình nguồn nước, củng cố các đội thủy nông cơ sở, có giải pháp phòng, chống hạn cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với các địa phương triển khai phương án phòng, chống cháy rừng cụ thể, hạn chế tối đa nạn cháy rừng vào mùa khô và tăng cường tuyên truyền, vận động người dân không đốt phá rừng làm rẫy. (Báo Phú Yên 20/1) đầu trang(
Dù đã có lệnh cấm, hiện nay ở nhiều địa bàn vùng sâu vùng xa của tỉnh Đắk Lắk, rất nhiều xe độ chế vẫn ngày ngày hoành hành trên các tuyến đường.
Vi phạm quy định về đăng ký lưu hành xe, gây tình trạng mất an toàn giao thông, là công cụ chính phục vụ các đối tượng lâm tặc phá rừng, chở gỗ trái phép, nhưng những chiếc xe này hầu như không bị cơ quan chức năng xử lý.
Đoạn đường từ thị trấn Ea Sup đến xã Ia JLơi dài khoảng 30 km, thế nhưng có đến trên 10 km đường đã xuống cấp. Trên tuyến đường, máy cày thì độ thêm rơ-moóc để có thể chở được bảy, tám mét khối gỗ hoặc cả chục tấn nông sản; xe máy thì đôn nòng, thêm nhún, mặc thêm giáp sắt bằng xích cho lốp, để có thể bon rừng chở gỗ lậu. Mỗi buổi tối và sáng sớm, những chiếc xe độ chế này lại nối đuôi nhau, tỏa khói mù mịt, trên cả một đoạn dài, chở gỗ từ rừng về.
Anh Lữ Văn Dũng, xã Ia Jlơi, điều khiển một xe máy độ chế, mới từ rừng về cho biết, để có thể hành nghề phá rừng bằng xe này, cần có sự châm chước của cơ quan chức năng: “Một cái xe độ như anh em đi thì được khoảng một tấc gỗ, nếu gỗ nhóm 2 cam xe thì bán được khoảng độ 500.000, trừ chi phí xăng dầu thì bỏ túi được 200.000 đồng. Có một lần bị bắt thì ông giám đốc kia bắt chở vào trong phân trường, thả gỗ vào đó rồi đưa xe về vậy thôi chứ không bị mất tiền nong gì cả”.
Ông Huỳnh Xuân Vỹ, Phó hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Ea Sup cho biết trong năm vừa qua địa phương đã bắt giữ 223 vụ vận chuyển lâm luật trái phép với số lượng gần 600 mét khối gỗ. Trong đó, hạt xử lý tịch thu gần 40 vụ xe độ chế chở tang vật vi phạm.
Theo ông Vỹ, xe độ chế trong huyện rất nhiều, phần lớn có tham gia chở gỗ lậu, nhưng hạt chỉ có quyền bắt giữ khi đang có tang vật trên xe: “Nói chung xe lưu thông trên đường mà không vận chuyển lâm sản và không có hành vi vi phạm lâm luật thì kiểm lâm đâu có quyền giữ xe người ta. Khi mà có đi phương tiện vào rừng trái theo quy định thì mới giữ để xử lý”.
Chủ tịch UBND xã Ea Jlơi, ông Phạm Thanh Long thừa nhận: Vấn đề về xe độ chế đã tồn tại từ nhiều năm nay. Xe máy là hàng nhập lậu, không biển số giấy tờ; rơ-moóc gắn máy cày thì hầu hết do các xưởng cơ khí trong huyện gia công. Theo ông Long, phần lớn người dân trong xã thuộc diện di cư tự do, thiếu đất sản xuất, công việc không ổn định nên dùng xe độ chế, bám vào rừng để tìm kiếm sinh kế.
Ông Long cho rằng, tình trạng này chưa thể được giải quyết vì ngành chức năng còn đùn đẩy: “Giữa các ngành chức năng chưa có tính phối hợp chặt chẽ, có thể một vụ vi phạm xảy ra nhưng còn mang tính đổ qua đổ về. Có thể là vi phạm lâm luật là anh kiểm lâm xử lý, nhưng trong vụ vi phạm đó có liên quan đến giao thông, nhưng nhiều khi kiểm lâm chỉ xử lý của mình thôi mà lại không phối hợp với công an xử lý về xe độ nên nhiều lúc còn có những khe hở. Thứ hai là cần phải giải quyết vấn đề đời sống của dân, thiếu đất sản xuất, thiếu hàng loạt vấn đề nên người ta cứ lao vào rừng, bằng mọi biện pháp rồi nhưng họ sống chết vẫn bám vào rừng”.
Chính vì công tác xử lý vi phạm chưa triệt để nên tình trạng xe lậu vào phá rừng vẫn đang còn tiếp diễn. Từ đó đường hỏng, giao thông không đảm bảo. Nếu không tạo được công ăn việc làm ổn định lâu dài cho người dân ở khu vực biên giới thì hoạt động này sẽ còn diễn biến phức tạp. (VOV Giao Thông 20/1) đầu trang(
Do địa bàn rộng, địa hình bị chia cắt gây khó khăn cho việc tuần tra, quản lý bảo vệ, nên nhiều khu rừng giáp ranh giữa 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai bị lâm tặc tàn phá nặng nề.
Vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai trải dài 145,6 km qua 4 huyện Ea Súp, Ea H’leo, Krông Năng, Ea Kar (Đắk Lắk) và 5 huyện Chư Pưh, Chư Prông, Ayun Pa, Phú Thiện, Krông Pa (Gia Lai). Đây là những cánh rừng có hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài gỗ, thú quý hiếm và là rừng phòng hộ đầu nguồn của các con sông lớn đóng vai trò quan trọng trong cảnh quan môi trường và quá trình phát triển kinh tế-xã hội không chỉ cho Tây Nguyên mà còn cho cả một số tỉnh Nam Trung Bộ.
Tuy nhiên thời gian qua, một số khu vực rừng này đã trở thành điểm nóng do tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra thường xuyên.
Huyện Ea Súp và Ea H’leo có rừng giáp ranh với các huyện Chư Pưh, Chư Prông, Phú Thiện, Krông Pa, thị xã Ayun Pa (Gia Lai), tổng chiều dài 107 km. Trong vòng 3 năm trở lại đây, những khu rừng giáp ranh này luôn là điểm nóng của nạn khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, từ đầu năm 2013 đến cuối 2015, tại khu vực giáp ranh trên đã xảy ra 650 vụ vi phạm lâm luật, cơ quan chức năng qua kiểm tra xử lý đã tịch thu 2.347 m3 gỗ các loại, trong đó, chỉ tính riêng địa bàn 2 xã Ia J’lơi, Ya Lốp (Ea Súp) đã phát hiện 320 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1.684 m3 gỗ các loại.
Không chỉ khai thác lâm sản trái phép, một số hộ dân ở tỉnh Gia Lai còn kéo sang phá rừng làm rẫy. Điển hình như năm 2015, trong lâm phần do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea H’mơ quản lý có 29 hộ dân từ Gia Lai kéo sang xâm canh; khoảng 10 ha rừng đã bị những hộ này phun thuốc diệt cỏ, ken cây lớn và đã xuống giống lúa. Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp đã cử lực lượng phối hợp với chủ rừng vận động người dân dỡ lán trại, không được canh tác trên đất rừng đã có chủ.
Về phía tỉnh bạn, ông Lê Anh Dục, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Chư Pưh (Gia Lai) cho biết, tình trạng người dân ở huyện này kéo sang địa phận các huyện Ea Súp, Ea H’leo thường xuyên xảy ra. Theo thống kê của đơn vị thì từ đầu năm 2014 đến cuối 2015 huyện Chư Pưh đã phát hiện xử lý 211 vụ vận chuyển, tàng trữ lâm sản trái phép, trong đó có tới 148 vụ các đối tượng vận chuyển lâm sản từ Đắk Lắk vào địa bàn huyện, chiếm 70,4%.
Ngoài ra, địa bàn giáp ranh giữa các huyện Krông Năng, Ea Kar (Đắk Lắk) và huyện Krông Pa (Gia Lai) nạn phá rừng cũng nhức nhối không kém. Trong đó, tại vùng giáp ranh của huyện Krông Năng có khoảng 958 ha do UBND xã Ea Tam và Cư Klông quản lý cũng thường xuyên bị lâm tặc xâm nhập khai thác gỗ trái phép. Những cây gỗ lớn có giá trị bị đốn hạ xẻ hộp, sau đó dùng trâu kéo ra các bãi tập kết rồi vận chuyển bằng xe máy ra khỏi rừng.
Còn tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (huyện Ea Kar), ở những khu vực giáp ranh với huyện Krông Pa (Gia Lai), tình trạng săn bắt động vật hoang dã, khai thác gỗ quý hiếm diễn ra hết sức phức tạp. Ở những khu vực này, lâm tặc thường sử dụng xe máy độ chế, cưa máy đi theo các đường mòn nhỏ luồn sâu vào rừng cấm để khai thác gỗ. Không chỉ vậy, chúng cũng rất liều lĩnh, sẵn sàng tấn công lực lượng kiểm lâm khi bị phát hiện.
Điển hình, ngày 2-12-2014, khoảng 70 lâm tặc từ huyện Krông Pa vào khai thác gỗ tại Tiểu khu 617, khi bị kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô truy bắt chúng đã dùng đá và gậy gộc chống lại, chỉ khi lực lượng chức năng nổ súng chỉ thiên chúng mới chịu rút ra khỏi rừng. Gần đây, vào sáng 17-11-2015, cũng tại Tiểu khu 616, trong lúc chặn bắt đoàn xe chở gỗ ra khỏi rừng, kiểm lâm Khu Bảo tồn đã bị khoảng 30 đối tượng dùng súng tự chế, gậy gộc uy hiếp.
Do lực lượng mỏng, lâm tặc manh động nên các kiểm lâm buộc phải rút lui, sau đó thông báo cho lực lượng chức năng huyện Krông Pa để làm rõ vụ việc. Theo ông Trần Lê Trinh, Phó Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, vùng giáp ranh bên phía tỉnh Gia Lai đã hết rừng, chỉ còn rừng trồng nên người dân bên đó kéo sang bên này để khai thác lâm sản.  Trong khi đó, khu vực rừng giáp ranh với huyện Krông Pa chưa có đường tuần tra nên muốn kiểm soát những khu vực này, lực lượng kiểm lâm phải cắt rừng đi bộ khoảng 7-8 tiếng mới đến nơi. Hoặc phải chạy xe máy khoảng 70 km xuống tỉnh Phú Yên rồi vòng lên huyện Krông Pa mới vào được những khu vực rừng cần tuần tra…
Theo ông Y Sy H’Dơk, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng là do đời sống kinh tế của đa phần người dân sống ở khu vực này còn khó khăn, phần nhiều thu nhập phụ thuộc vào rừng; một số đơn vị chủ rừng trong khu vực còn lỏng lẻo trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; việc phối hợp tuần tra, chia sẻ thông tin giữa lực lượng chức năng hai tỉnh ở khu vực giáp ranh thời gian qua còn nhiều bất cập…
Để từng bước lập lại an ninh rừng ở những khu vực giáp ranh, ông Y Sy H’Dơk cho rằng: các ngành chức năng, chính quyền địa phương, chủ rừng cần tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27-9-2012 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo, thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ; thường xuyên tổ chức tuyên truyền pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân, nhất là tăng cường kiểm tra các xưởng chế biến gỗ, cơ sở mộc.
Chính quyền hai tỉnh cần kiểm tra chặt chẽ các đối tượng tạm trú, tạm vắng, tình hình dân di cư tự do và phân loại, xử lý các đối tượng lâm tặc cộm cán trên địa bàn, tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp tuần tra, truy quét, xử lý các đối tượng phá rừng… (Đắk Lắk 24 Giờ 20/1) đầu trang(
Lâm tặc ngang nhiên mang máy móc phương tiện lên khu vực biên giới khai thác, tập kết gỗ trái phép với quy mô lớn. Khi bị phát hiện, điều tra, nhóm đối tượng đã đe dọa, lăng mạ lực lượng chức năng.
Từ ngày 7 – 9/1/2016, lực lượng bảo vệ rừng thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương (Nghệ An) đã tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng tại tiểu khu 990, 991 khu vực Đòi Hoi, Chum Vại thuộc địa bàn hai xã Thanh Sơn và Hạnh Lâm (Thanh Chương), vùng này giáp ranh với biên giới Việt Lào.
Tại khoảnh 2, 5 và 6 thuộc tiểu khu 990 tuyến Chum Vại, lực lượng chức năng đã phát hiện một khối lượng lớn lâm sản trái phép tập kết tại nhiều điểm dọc đường biên giới xuống khe chum vại.
Do địa bàn hiểm trở, để lên được địa điểm tập kết gỗ trái phép mất hơn 5 giờ đồng hồ leo núi, lại bị các đối tượng cảnh giới điện thoại báo tin, nên khi lực lượng bảo vệ rừng tổ chức tuần tra lên đến nơi, lâm tặc đã rời khỏi hiện trường.
Lực lượng bảo vệ rừng đã phá lán, 2 máy tời gỗ và một số dụng cụ phục vụ cho việc khai thác vận chuyển gỗ lậu, lập biên bản thống kê số gỗ vận chuyển và khai thác trái phép.
Tổng số tang vật thu được gồm 72 phiến gỗ, 16 khúc gỗ tròn ước khoảng 36 m3 gỗ các loại như Táu, Sến, Giổi, De….
Tại hiện trường giáp biên giới, lực lượng chức năng phát hiện 7 gốc mới bị chặt trên địa bàn Việt Nam là gỗ táu, còn một phần lớn nghi ngờ các đối tượng khai thác trái phép từ Lào, vận chuyển về Việt Nam để tập kết, chờ thời cơ khi các ngành chức năng sơ hở thì kéo ra, đưa đi tiêu thụ.
Do lực lượng bảo vệ rừng của kiểm lâm và phòng hộ vào cuộc quyết liệt nên vào chiều ngày 09/1/2016, một số đối tượng đã kéo về trạm BVR Khe 4 của Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương để đe dọa hành hung cán bộ.
Đây là những đầu nậu, lâm tặc khét tiếng ở địa phương, các đối tượng lâm tặc còn tuyên bố sẽ dùng luật rừng để xử lý hai đồng chí trạm trưởng và trạm phó.
Ông Dương Lê Hường, Trạm trưởng Trạm Khe 4 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ nói: “Chúng tôi phát hiện vụ phá rừng từ ngày 7/1, sau khi phát hiện đẩy đuổi, phá máy tời thì 3 lâm tặc người xã Hạnh Lâm đến trạm chửi bới, đe dọa”.
Khi nhận được tin báo các đối tượng vào đe dọa hành hung, chửi bới tại Trạm BVR Thanh Chương, lãnh đạo BQL đã báo cáo chỉ huy Đồn Biên phòng Ngọc Lâm và Hạt Kiểm lâm hỗ trợ lực lượng để giải tán đám đông.
Ngày 11/1/2016, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường (PC 49) của Công an tỉnh Nghệ An được tăng cường để phối hợp mở rộng điều tra xử lý vụ việc.
Trao đổi với PV qua điện thoại, sáng ngày 13/1, Đại tá Trần Hữu Hồng, Trưởng Phòng PC49 cho biết: “Đây là vụ phá rừng nghiêm trọng. Hiện nay, chúng tôi đang phối hợp với lực lượng kiểm lâm, rừng phòng hộ để bảo vệ hiện trường và đưa số gỗ tịch thu về nơi tập kết; đồng thời mở rộng điều tra, làm rõ nhóm người lăng mạ, đe dọa lực lượng chức năng. Nếu điều tra truy tìm được chủ mưu, đủ cơ sở sẽ khởi tố hình sự”. (Môi Trường Và Đời Sống 19/1) đầu trang(
Năm 2015, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh Sơn La cũng đạt được nhiều kết quả nổi bật, trong đó có thể kể đến số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm đáng kể so với năm 2014.
Nhận thức của cấp ủy, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần gìn giữ và phát triển vốn rừng trên địa bàn tỉnh. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, PV Đài PT-TH đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Ngọc Cừ, Quyền Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Kết thúc năm 2015 số vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn toàn tỉnh đã giảm 42 % so với cùng kỳ năm 2014. Đây quả thực là tín hiệu đáng mừng.Để đạt được kết quả trên là kết quả nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong nhiều năm qua và năm 2015. Trong đó có thể nói những yếu tố cơ bản để có được kết quả như trên đó là: Công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng và phát triển rừng trong những năm qua được cấp ủy các cấp đặc biệt quan tâm lãnh đạo.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về quản lý rừng bảo vệ rừng của chính quyền các cấp được nâng lên rõ rệt, Thực tế cho thấy những xã nào đảng ủy, UBND xã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chặt chẽ các nhiệm vụ về bảo vệ rừng thì các hành vi vi phạm luật BV&PTR ngày càng giảm.
Yếu tố thứ 2: Nhận thức về tác dụng của rừng, tác hại của việc phá rừng, các quy định của pháp luật về công tác bảo vệ rừng, PCCR của đại đa số nhân dân các dân tộc trong tỉnh ngày càng được nâng cao.
Yếu tố thứ 3: Các chính sách an sinh xã hội của đảng và Nhà nước ngày càng được tăng cường, đời sống và thu nhập của nhân dân các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn từng bước được ổn định, góp phần rất quan trọng trong việc hạn chế các hành vi xâm hại rừng.
Yếu tố thứ 4: Công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp và công tác phối hợp giữ lực lượng kiểm lâm với các lực lượng chức năng từ tỉnh đến các xã trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ rừng, PCCCR, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng  ngày càng tốt hơn.
Yếu tố thứ 5: Trình dộ, tinh thần trách nhiệm và năng lực tham mưu và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm được nâng lên.
Để đạt những kết quả tích cực này chắc chắn đã có những đóng góp rất lớn của lực lượng Kiểm lâm, nhất là Kiểm lâm phụ trách địa bàn. Trước hết xin nói đến chức năng của lực lượng kiểm lâm là: Tham mưu và giúp Uỷ ban nhân dân các cấp; tham mưu và giúp giám đốc sở nông nghiệp và PTNT về chức năng quản lý nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và đảm bảo chấp hành pháp luật về công tác bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn toàn tỉnh.
Như vậy kiểm lâm địa bàn có trách nhiệm tham mưu cho chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn có rừng thực hiện chức năng quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Việc bố trí kiểm lâm phụ trách địa bàn được bố trí từ năm 2005. Kiểm lâm địa bàn chịu trách nhiệm tham mưu xây dựng phương án, kế hoạch quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng. Đề xuất qui hoạch diện tích sản xuất nương rẫy. Xây dựng tổ đội quần chúng bảo vệ rừng, PCCCR.
Tham mưu huy động lực lượng, phương tiện PCCCR; chống chặt phá rừng trái phép.Tham mưu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng, quản lý lâm sản lâm sản theo qui định pháp luật. Theo dõi diễn biến rừng. Tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Hướng dẫn cộng đồng dân cư xây dựng và thực hiện qui ước bảo vệ rừng. Với các nhiệm vụ trên trong thời gian qua, đa số kiểm lâm viên đã thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ được phân công. Trong đó các hành vi vi phạm tại cơ sở đều được phát hiện và sử lý kịp thời góp phần thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng tại gốc.
Về việc phối hợp của các cấp các ngành, các địa phương trong tỉnh về công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2015 được thực hiện khá đồng bộ, chặt chẽ và thống nhất. Điều đó được thể hiện qua công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện trong từng cấp như sau:
Ở tỉnh: Ngay từ đầu năm UBND tỉnh đã kiện toàn Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh gồm 34 thành viên, do đồng chí phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban.  Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định ban hành phương án PCCC rừng toàn tỉnh; kế hoạch quản lý bảo vệ toàn tỉnh. Ngài ra UBND tỉnh, Ban chỉ đạo của tỉnh ban hành các Chỉ thị, công điện, văn bản chỉ đạo các cấp các ngành triển khai thực hiện công tác quản lý rừng, BVR và PCCCR.
Ở huyện, thành phố: Kiện toàn 12 ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Ban hành 12 phương án PCCCR và 12 kế hoạch quản lý bảo vệ rừng. Các văn bản, Chỉ thị của UBND huyện chỉ đạo về công tác BVR và PCCCR.
Ở xã, phường, thị trấn có rừng : Kiện toàn 201 ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng. Xây dựng 201 phương án PCCCR và 201 kế hoạch quản lý bảo vệ rừng. Ký cam kết thực hiện các nội dung bảo vệ rừng giữa UBND xã, phường, thị trấn với các trưởng bản. Ký cam kết thực hiện các nội dung bảo vệ rừng giữa bản với các chủ rừng. Xây dựng và kiện toàn 2.879 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng ở cơ sở
Các sở, ngành chức năng đã phối hợp tham mưu cho UBND tỉnh; ở huyện các phòng, lực lượng chức năng đã tham mưu cho UBND huyện triển khai đồng bộ kịp thời các cơ chế, chính sách đầu tư, hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng.
Ngoài ra Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ký quy chế phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh về việc phối hợp thực hiện công tác đảm bảo an chính chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ rừng. Ký chương trình phối hợp giữa sở NN&PTNT tỉnh Sơn la với Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Hủa phăn, nước CHDCND Lào về công tác bảo vệ rừng, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm luật BV&PTR khu vực vành đai biên giới giữa 2 tỉnh
Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện các qui chế phối hợp với Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng về công tác bảo vệ rừng, đấu trang ngăn chặn các hành vi vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng khu vực biên giới. Tiếp túc triển khai thực hiện qui chế phối hợp với chi cục Kiểm lâm các tỉnh giáp ranh: Điện Biên – Hòa Bình – Phú thọ - Yên Bái làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng khu vực giáp ranh.
Mặc dù đã đạt được kết quả bước đầu trong việc giảm các vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, tuy nhiên Sơn la là một trong những tỉnh có diện tích rừng hiện còn lớn trên 630.000 ha; địa hình cắt cứ; giao thông đường bộ, đường thủy thuận lợi; sản xuất nương rẫy là tập quán canh tác lâu đời của nhân dân các dân tộc; thời tiết diễn biến phức tạp. Nguy cơ nẩy sinh các hành vi vi phạm lớn, nhất là hành vi phá rừng làm nương, cháy rừng.
Trong năm 2016 lực lượng kiểm lâm sẽ tập trung thực hiện một số giải pháp sau:Một mặt là một mặt là chủ động thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR đi liền với công tác hướng dẫn và vận động nhân dân các dân tộc thực hiện tốt pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR.
Tham mưu cho giám đốc sở NN&PTNT phối hợp với các sở ngành chức năng để tham mưu cho tỉnh chỉ đạo việc thực hiện các chính sách đầu tư, chính sách hỗ trợ cho công tác bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi rừng gằn liền với việc nâng cao sinh kế cho người dân sống trong vùng rừng, gần rừng, nhất là người dân hiện đang sinh sống xen kẽ trong các khu rừng đặc dụng.Tiếp tục phối hợp với các ngành chức năng, lực lượng chức năng thực hiện hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy.
Đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm theo qui định pháp luật đối với các hành vi vi phạm luật BV&PTR.Cân đối bố trí tối đa lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn xã để tham mưu cho chủ tịch UBND xã triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong công tác quản lý rừng, BVR, phát triển rừng trong năm 2016.
Mặt khác có kế hoạch bồi dưỡng, sát hạch nghiệp vụ, để kiểm lâm viên  nâng cao năng lực tham mưu cho xã.Tiếp tục hướng dẫn và thực hiện các biện pháp nghiệp vụ kỹ thuật trong công tác PCCCR, theo dõi diễn biến rừng, phòng trừ sâu bệnh hại rừng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 19/1) đầu trang(
Thú chơi tao nhã này của người miền xuôi càng được ưa chuộng cũng đồng nghĩa, việc “tàn sát” đào rừng càng nhiều hơn, khiến những cây đào cổ thụ đang bên bờ vực bị tận diệt…
Những ngày cuối năm, thời tiết trên đỉnh đèo Cao Bắc (nối liền giữa Cao Bằng và Bắc Kạn) lạnh tê tái, phủ kín sương mù. Nhưng đã hơn một tuần nay, ngày nào cũng như vậy, Nông Văn Hải (19 tuổi) phải luôn dậy từ rất sớm, rồi vác dao, vác xẻng cùng với người em trai lên rừng tìm kiếm những cành đào mới bắt đầu hé nụ.
Hải tâm sự, 3 năm nay, nhờ những cây đào rừng mà em và gia đình đã có được một khoản tiền kha khá để lo cho cái Tết được chu đáo hơn. Chàng trai người dân tộc Tày này cho biết: “Ngày xưa đào rừng nở hoa rồi ra trái, người dân lên hái ăn hoặc nó rụng đầy cả chân núi. Còn mấy năm nay, do người miền xuôi thích dùng nó để trang trí ngày Tết nên bọn mình vào tìm để bán. Cây càng to, thế đẹp thì giá càng cao. Mấy năm trước, nhiều người lên đây thuê mình vào rừng để chặt rồi vận chuyển ra ngoài quốc lộ để đưa về xuôi. Bây giờ mình không làm thuê nữa mà tự đưa xuống đây để bán cho ai có nhu cầu”.
Theo Hải, mỗi gốc đào rừng có giá từ 200.000 - 1 triệu đồng, với những gốc đào cổ thụ thì giá còn cao hơn. Hải bảo: “Ở đây bây giờ nhiều người biết dễ kiếm tiền nên đua nhau vào rừng để tìm đào. Trước đây chỉ đi hai bên đường đã thấy đào nở đỏ cả một góc rừng, nhưng nay thì hiếm rồi. Muốn có đào đẹp thì phải đi xa”.
Khác với Cao Bằng, Bắc Kạn, ở những nơi được xem là “thủ phủ” và có tiếng hơn về đào rừng như Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu (Hòa Bình) thì những ngày này đã trở thành “ngày hội” của những người đi săn tìm đào rừng. Ngày xưa thì chặt đào ở ven các vách núi, giờ đây hiếm hơn, họ len lỏi vào những nơi xa hơi, nguy hiểm hơn để cố gắng kiếm được cho những cành đào, gốc đào “độc”.
Còn tại Hà Nội, khoảng gần một tuần nay, đào rừng đã rải rác được các tiểu thương đem về tập kết tại nhà hoặc các khu đất trống để chuẩn bị phục vụ cho dịp Tết Nguyên đán. Các gốc đào tại đây tùy thuộc vào “thế” và số tuổi mà có những mức giá khá phong phú. Cụ thể, gốc đào có tuổi đời khoảng 10-15 năm có giá giao động 4 - 5 triệu đồng; gốc đào 20 - 30 năm có giá khoảng 8-10 triệu; gốc đào trên 30 năm có giá trên 15 triệu đồng. Đa số đào đều chưa ra hoa, hoặc lác đác vài nụ hoa nhỏ.
Chị Hồ Thị Hương, một tiểu thương tập kết đào rừng ở đường Lạc Long Quân (quận Tây Hồ) chia sẻ, để đưa được các gốc đào này về Thủ đô, trước đó các tiểu thương đã phải lặn lội hàng tháng trời lên các vùng Tây Bắc tìm kiếm, thu gom và vận chuyển về xuôi để kịp bán cho người dân dịp Tết Nguyên đán. “Do trên Sơn La, Hòa Bình thời tiết khá lạnh nên hoa đào nở muộn. Chúng tôi tìm cách vận chuyển cả gốc về đây, hi vọng thời tiết nắng ấm hoa sẽ nở đều. Có như vậy thì mới có giá và dễ bán hơn”, chị Hương chia sẻ.
Anh Nguyễn Xuân Ba, một tiểu thương với kinh nghiệm 4 năm đưa đào rừng từ Sơn La, Hòa Bình, Lạng Sơn về Hà Nội tiết lộ: “Giá gốc đào mỗi năm phụ thuộc vào thị trường cung cầu. Nhưng nói chung, mỗi mùa, chúng tôi cũng kiếm được dăm bảy chục triệu đồng. Tuy nhiên, cái giá để đưa được các gốc đào về đây là chúng tôi phải bỏ ra hàng tháng trời lên vùng cao như Mộc Châu (Sơn La), Mẫu Sơn (Lạng Sơn), Mai Châu (Hòa Bình)… tìm kiếm các cây đào mọc sâu trên núi, rồi thuê người và phương tiện vận chuyển về xuôi. Có những gốc đào chúng tôi phải mất nhiều ngày mới đưa từ trên lưng chừng núi cao xuống đường quốc lộ từ đó vận chuyển về xuôi”.
Theo anh Ba, vài năm trở lại đây, do nhu cầu chơi đào rừng của mọi người tăng lên nên số lượng các gốc đào to và đẹp đã giảm đáng kể. Anh Ba cho biết thêm: “Có những gốc đào trước kia chỉ cần lên khoảng 10 - 15m trên núi là có thể tìm thấy thì nay để có được những gốc đào này cần đi lên cao hơn và nguy hiểm hơn rất nhiều. Mặt khác, năm nay chi phí thuê nhân công, phương tiện đều cao hơn năm ngoái, nên việc giá đào rừng năm nay chắc chắn sẽ tăng”.
Với việc đào rừng nườm nượp kéo nhau về xuôi phục vụ nhu cầu người dân mỗi dịp Tết Nguyên đán thì cũng đồng nghĩa ở các khu rừng trở nên hoang tàn, xơ xác. Bởi để săn được những cành đào đẹp, đào to, người ta sẵn sàng chặt phá mọi thứ để săn đào cho bằng được.
Những cành đào rừng, thậm chí là cả cây đào rừng bị đào tận gốc đã rời núi rừng về thành phố để thỏa mãn thú chơi của nhiều người. Một số người dân địa phương vì hám lợi và kém hiểu biết thì cho rằng đó là “lộc rừng” nên nghe theo lời các tiểu thương, kẻ vác dao, người vác cưa vào rừng “xẻ thịt” cây đào để mang ra đường bán. Nhiều năm trước Tây Bắc vốn là thiên đường hoa đào với những khu rừng bạt ngàn hương sắc của các cây đào rừng bung nở mỗi dịp xuân về thì nay, chỉ sau vài năm, nơi đây chỉ còn lại chỏng chơ những mô đất trống, những gốc đào rỉ nhựa đỏ như máu, quặt quẹo, nham nhở đến quặn lòng.
Anh Nguyễn Văn Cơ, một thầy giáo bản ở nông trường Mộc Châu (Sơn La) đau xót: “Cứ mỗi dịp cận kề Tết Nguyên đán, chứng kiến cảnh người dân vào rừng săn đào mà thắt lòng. Tiếng máy cưa, tiếng dao, cùng với tiếng cười nói của các tiểu thương và những người dân bản địa vào rừng săn đào dịp cuối năm đã trở thành những âm thanh ám ảnh biết bao người dân gắn bó với mảnh đất này”.
Anh Ly A Khá (ở huyện Mộc Châu), một người bạn học cũ của chúng tôi khi được hỏi về đào rừng, bảo: “Trước đây, đào mọc khắp nơi, người dân không cần đi đâu xa, ngay cạnh nhà là có thể nhìn thấy đào rừng bung nở rồi. Đào thường nở trắng cả khu rừng rất bắt mắt. Trước đây còn có nhiều người đi “phượt” tò mò thích thú ghé qua ngắm đào. Nhưng vài năm nay, đào trên này được chuyển phần lớn về xuôi nên việc thấy đào rừng nở là điều hiếm gặp. Chắc phải đi sâu lên núi may ra mới thấy”.
Anh Khá cũng cho biết, những thương lái chủ yếu tìm chọn những cây đào có dáng đẹp nên không thương tiếc chặt hết những cành đào không có giá trị kinh tế do không đẹp về thẩm mĩ. Cùng chung suy nghĩ với anh Khá, ông Hà Văn Rền (Mai Châu, Hòa Bình) đau xót: “Còn đâu là không khí Tết của vùng Tây Bắc nữa các anh ơi. Đào người ta thi nhau mang vác về xuôi cả rồi, chỉ còn trơ trụi lại là núi đá cằn cỗi, lạnh lẽo thôi”.
Ông Rền cũng bảo, với nạn khai thác đào rừng ngày càng “thô thiển” như hiện nay, nguy cơ đào rừng bị xóa xổ chỉ còn là câu chuyện thời gian. Nhưng để ngăn chặn được việc này thì không phải là dễ. Đào rừng hiện không nằm trong danh sách các cây cần bảo tồn nên việc ngăn chặn nguy cơ tận diệt đào rừng ở các địa phương vẫn tỏ ra khá lung túng và chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền. Đây chính là thách thức lớn đối với các địa phương vùng núi Tây Bắc. (Gia Đình Và Xã Hội 20/1) đầu trang(
Những vụ phá rừng với quy mô lớn, diện tích rộng, thời gian dài cộng với hàng loạt trường hợp xây dựng, chuyển nhượng trái phép đất rừng là hồi chuông cảnh báo về công tác quản lý và bảo vệ rừng của Đà Nẵng.
Có vào tận lõi, đi đến những vùng giáp ranh mới thấy được "lá phổi" của thành phố đã bị biến dạng chỉ trong một thời gian ngắn.
Chỉ trong một thời gian ngắn, chúng tôi đã có 2 lần thâm nhập vùng lõi của rừng đặc dụng (RĐD) Bà Nà - Núi Chúa để chứng kiến hiện trạng của những vụ phá rừng nghiêm trọng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Lần trước là năm 2014, khi hàng chục lâm tặc đã ăn dầm nằm dề trong một thời gian dài tại các tiểu khu giáp ranh giữa Đà Nẵng và Quảng Nam thuộc thôn Láy, xã Tư, H. Đông Giang để "xẻ thịt" khối lượng gỗ khổng lồ. Theo thống kê sơ bộ của cơ quan chức năng sau đó, tổng cộng đã có 154,360m3 gỗ tròn cây đứng nguyên khai bị đốn hạ, giá trị thiệt hại tạm tính là 4,278 tỷ đồng. Trong khi vụ án đang trong giai đoạn hoàn tất quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị đưa ra xét xử thì lâm tặc lại có thời gian hàng tháng trời để triệt hạ khối lượng lớn gỗ quý tại các tiểu khu 12, 13 và 20, giáp ranh với H. Nam Đông, TT-Huế.
Từ trung tâm xã Hòa Bắc, H. Hòa Vang, mất hơn một giờ đồng hồ qua 2 ngầm nước chảy xiết và những con dốc dựng đứng, chúng tôi có mặt tại khu vực thuộc tiểu khu 20, một trong những vị trí có số lượng gỗ bị đốn hạ nhiều nhất của RĐD Bà Nà - Núi Chúa. Khi đoạn đường La Sơn - Túy Loan được khởi công xây dựng, chuyện đi lại không còn khó khăn thì cũng là lúc lâm tặc cũng được "hưởng lợi" để khai thác và vận chuyển gỗ từ rừng ra ngoài thuận tiện hơn.
Nhờ dẫn đường lên hiện trường vụ phá rừng, một cán bộ Trạm Quản lý bảo vệ rừng Sông Nam bảo, "bây giờ anh em đi địa bàn hết, không còn người dẫn đường". Để đến được chính xác địa điểm, chúng tôi điện thoại hỏi ông Lê Đình Thám - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (KL) Hòa Vang thì ông Thám nói "khó lắm, cần thiết thì lên, nếu không cứ về Hạt, ông cung cấp hết số liệu, hình ảnh hiện trường". Chúng tôi đành phải tự tìm đường đi.
Từ trục đường chính đang được thi công, có rất nhiều đường xương cá cắt rừng đến những địa điểm có nhiều loại gỗ quý như trám đinh, sơn huyết, xoan đào… Dẫn chúng tôi đến hiện trường, một người dân đi làm rẫy, chua chát: Dân ở đây sống trên "rừng vàng" mà vẫn nghèo. Vàng thì người ta khai thác vô tội vạ rồi lấy đi, ô nhiễm thì dân lãnh hết. Gỗ thì lâm tặc khai thác hàng tháng trời "gọn gàng" mà ngành chức năng không hề hay biết. Trên tiểu khu 20, cây nào trước đây cao to thì giờ còn lại mỗi gốc thôi.
Hiện trường mà chúng tôi đến chỉ cách đất của H. Nam Đông, TT-Huế khoảng 3km. Nơi đây từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 vừa qua, lợi dụng sự buông lỏng quản lý của cơ quan KL, lâm tặc đã kéo vào khu vực nằm giữa đất rừng sản xuất và RĐD để khai thác gỗ.
Rừng bị tàn phá nặng nề, kéo dài hàng tháng trời được ông Phan Thế Dũng - Giám đốc Ban Quản lý RĐD Bà Nà - Núi Chúa giải thích là do thời gian cuối năm thường xuyên có mưa lớn nên cán bộ Trạm Quản lý, bảo vệ rừng Tà Lang - Hòa Bắc phải rút về Trạm Sông Nam. Lợi dụng địa hình hiểm trở, thời tiết không thuận lợi cho việc tuần tra, truy quét bảo vệ nên các đối tượng khai thác gỗ trái phép đã lén lút vào khu vực giáp ranh giữa rừng trồng và RĐD để ra tay.
Sau khi đi thực tế ở hiện trường, phải mất nhiều lần hẹn, chúng tôi mới làm việc được với ông Lê Đình Thám - Hạt trưởng Hạt KL H. Hòa Vang. Trái với lời hứa cung cấp hết số liệu, hình ảnh hiện trường, ông Thám nói vụ việc đã được chuyển cho CQĐT nên bây giờ không thể thông tin gì thêm cho báo chí!
Khi nói về việc gỗ bị khai thác trái phép thì ông Thám cho rằng: "Ông bà mình ngày xưa ngồi cưa cả ngày không được một gốc cây, giờ lâm tặc có cưa lốc, vài tiếng đồng hồ là cưa hết dăm ba cây liền" - ông Thám ví von. Nhưng khi hỏi vì sao rừng bị tàn phá trong thời gian dài mà cơ quan chức năng không biết thì ông lại cho rằng "địa hình phức tạp" nên việc tuần tra gặp khó khăn.
Sau khi giải thích chuyện không thể cung cấp thêm thông tin do hồ sơ đã chuyển cho CQĐT, ông Thám cũng tạm tính khối lượng gỗ thành phẩm đã bị lâm tặc triệt hạ tại các tiểu khu 12, 13, 20 là khoảng hơn 100m3, bao gồm trám đinh, sơn huyết, xoan đào. Nhưng đa số đã được tẩu tán, vận chuyển khỏi hiện trường, cơ quan KL chỉ thu hồi lại được khoảng 10m3 nằm rải rác trong rừng.
Sau khi đề cập đến các yếu tố như khai thác gỗ là "miếng cơm manh áo của người dân, cơm áo gạo tiền của các đối tượng", ông Lê Đình Thám kết luận rằng, nói gì thì nói, KL phải nhận trách nhiệm, ông Lê Huy Ngọ hồi làm Bộ trưởng Bộ NN&PTNT mà còn nhận trách nhiệm chuyện phá rừng ở trong miền Nam nữa là mình!
Trong một thời gian ngắn, nhiều loài gỗ quý đã bị "hô biến" khỏi rừng Hòa Vang. Trong đó, được giao quản lý khoảng 33.000ha rừng, Ban Quản lý RĐD Bà Nà - Núi Chúa với nhiệm vụ phối hợp cùng cơ quan cùng cấp của H. Đông Giang quản lý đã để lâm tặc từ nhiều địa phương trên cả nước thoải mái gây ra vụ phá rừng lớn nhất từ trước tới nay tại khu vực rừng Cà Nhông.
Không lâu sau, lại đến lượt hàng loạt gỗ quý hàng trăm năm tuổi khu vực giáp ranh với H. Nam Đông, TT-Huế cũng ngã xuống. Rõ ràng, RĐD Bà Nà - Núi Chúa đang "hấp hối", nếu chính quyền và ngành chức năng không sớm có phương án quản lý, bảo vệ hiệu quả thì không còn lâu nữa, "lá phổi xanh" của thành phố sẽ bị khai tử. (Công An TP.Đà Nẵng 20/1) đầu trang(
Tin từ Công an xã Bạch Long cho biết, địa phương vừa giải cứu thành công con cá voi khổng lồ, nặng 3 tấn mắc kẹt vào bờ biển của xã.
Tin nhanh từ Công an xã Bạch Long (Giao Thủy - Nam Định) cho biết: Địa phương vừa phát hiện và giải cứu thành công một con cá voi khổng lồ, nặng 3 tấn mắc kẹt vào bờ biển của xã.
Theo thông tin từ chính quyền địa phương: Vào khoảng 9h sáng nay (18/1), một con cá voi dài hơn 5 mét nặng gần 3 tấn đã trôi dạt vào bãi biển thuộc khu vực xã Bạch Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
Thời điểm trên, một số người dân thuộc trong xã Bạch Long trên đường đi ra biển làm muối đã phát hiện một vật thể lạ ở mép nước ngoài bãi cát. Ngay sau đó, người dân đã chạy ra khu vực trên để kiểm tra thì vô cùng hoảng hốt nhận ra vật thể trên là một con cá voi còn sống đang bị mắc kẹt.
Thấy vậy, người dân đã hô hoán nhau chạy ra tìm cách cứu giúp, đưa con cá voi về biển và thông báo Công an xã Bạch Long.
Nhận được tin báo của nhân dân, Công an xã Bạch Long đã nhanh chóng có mặt tại hiện trường và cùng với người dân giải cứu cho con cá voi bị dạt vào bờ biển Nam Định. Sau 30 phút tìm cách giải cứu, đến 9h30 phút, con cá voi trên đã được đưa ra biển an toàn.
Ông Nguyễn Văn Nguyên - Trưởng Công an xã Bạch Long cho biết: Nhận định ban đầu, con cá voi này nặng khoảng 3 tấn, dài hơn 5 mét. Rất có nhiều khả năng, đêm qua nước to nên con cá này đã theo dòng nước vào khu vực gần bờ và bị mắc kẹt. (Kiến Thức 19/1) đầu trang(
Trọng những năm gần đây, tình trạng chặt phá rừng và vận chuyển gỗ lậu diễn ra phức tạp trên khắp cả nước. Dọc trục đường xương sống Quốc lộ 1A, lực lượng chức năng đã phát hiện, bắt giữ rất nhiều vụ vận chuyển gỗ trái phép với số lượng lớn.
Vì lợi nhuận, giới buôn lậu gỗ dã không từ bất kỳ thủ đoạn vận chuyển nào để qua mắt lực lượng chức năng. Trong đó, phải kể đến xe khách, xe tải loại nhỏ dược ngụy trang chở hàng nông sản... Điển hình là những tháng cuối năm 2015, lực lượng tuần tra, kiểm soát thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Thừa Thiên- Hue dã phát hiện, bắt giữ nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu trên xe khách, xe tải loai nhỏ, với thủ đoạn vận chuyển, cất giấu rất tinh vi.
Vào lúc lh ngày 1/12/2015, tổ tuần tra kiểm soát thuộc Trạm CSGT Phú Lộc đã phát hiện xe tải BKS 81C-039.97 có dấu hiệu khả nghi. Qua kiềm tra tại chỗ, đã phát hiện trên xe chở gần 3m3 gỗ Gỗ đỏ, thuộc nhóm 1. Để qua mắt lực lượng chức năng, tài xế đã ngụy trang rơm rạ và hạt dẻ phủ trùm lên gỗ để che giấu nhưng không qua được con mắt nghiệp vụ của các chiến sỹ Trạm CSGT Phú Lộc đang làm nhiệm vụ.
Trước đó 2 ngày, cũng vào thời điểm rạng sáng ngày 29/11/2015, Đội tuần tra kiểm soát giao thông số 1 cũng đã phát hiện, thu giữ nhiều gỗ quý không rõ nguồn gốc được vận chuyển trên xe giường nằm của nhà xe Tú Tài mang BKS 47B-015.40, do tài xế Đỗ Văn Sinh (34 tuổi, trú Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk) điều khiển, chở 265kg gốc rễ gồ hương (gỗ quý nhóm 1), tám độc bình đã được chế tác thành phẩm; cùng một số gỗ dỗi, gỗ cà chắc, gỗ thông... Toàn bộ số gỗ trên có tổng trọng lượng gần 1 tấn, đều được cất giấu tinh vi trong khoang hành lý của xe khách.
Mới đây nhất, vào lúc 13h chiều ngày 3/1/2016, tổ công tác của Trạm CSGT Phú Lộc lại tiếp tục lập công, khi phát hiện, bắt giữ xe tải BKS 38C-05978 có hành vi vận chuyển trái phép l,3m3 gỗ dỗi gừng, không có hóa đơn chứng từ hợp lệ. Điều đáng nói, toàn bộ số gỗ này được ngụy trang, che đậy bằng hàng trăm buồng chuối, nếu không tinh mắt và có kinh nghiệm, sẽ rất khó phát hiện.
Những vụ vận chuyển gỗ lậu đó, đều được lực lượng tuần tra, kiểm soát lập biên bản và bàn giao cho lực lượng kiểm lâm địa bàn xử lý. Trao đổi với PV, ông Lê Văn Thiện- Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, phòng chống cháy rừng số 1- Chi cục Kiểm lâm Thừa Thiên - Huế ghi nhận tinh thần, trách nhiệm, cũng như vai trò của lực lượng tuần tra thuộc Phòng CSGT tỉnh, trong việc phát hiện và bắt giữ kịp thời các phương tiện vận chuyện gỗ lậu di chuyển qua địa bàn. Điều này khẳng định trảch nhiệm, quyết tâm trong lúc thi hành nhiệm vụ, cũng như quan hệ phối hợp tốt giữa lực lượng tuần tra kiểm soát và Kiểm lâm tại địa phương trong việc chống buôn lậu, vận chuyển gỗ trái phép.
Trung tá Võ Hồng Quang-Trưởng phòng CSGT Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, trên đây là những vụ điển hình trong 6 vụ bắt giữ xe cơ giới vận chuyển gỗ lậu đi qua trên địa bàn 2 tháng cuối năm này, còn trước đó, các đội tuần tra kiểm soát của Phòng cũng đã tích cực kiểm tra, phát hiện và bắt giữ nhiều vụ vận chuyển gỗ lậu, hàng hóa không có chứng từ hợp lệ đi qua trên địa bàn. Điều đáng biểu dương, ghi nhận ở anh em chiến sỹ là phần lớn việc phát hiện, bắt giữ phương tiện vận chuyển gỗ lậu là vào thời điểm nửa đêm về sáng...
Qua trao đổi với lãnh đạo Phòng CSGT Công an tỉnh Thừa Thiên -Huế, cho thấy Trạm CSGT Phú Lộc do Đại úy Phan Bảo Trung làm Đội trưởng, mặc dù mới thành lập 3 tháng nay, nhưng đã xuất sắc lập công, với việc phát hiện bắt giữ 2 vụ vận chuyển gỗ lậu, 1 vụ trộm cắp xe máy. Trong lúc đó, án ngữ phía Bắc tỉnh là Đội tuần tra kiểm soát số 1 do Thiếu tá Nguyễn Hoàng Vũ làm Đội trưởng cũng đã liên tiếp bắt giữ 3 vụ vận chuyển gỗ lậu, không những thế, còn xuất sắc lập công trong việc tấn công tội phạm, khi phát hiện, đuổi bắt 2 vụ trộm cắp xe máy và ti vi trên đường đi tuần tra.
Riêng Đội tuần tra kiểm soát số 2, do Trung tá Nguyễn Ngọc Hoàng làm Đội trưởng, trong thời gian qua cũng đã liên tiếp lập công, với những lần đấu tranh, bắt giữ đối tượng bị truy nã di chuyển trên xe khách, ngăn chặn nhóm côn đồ hành hung 1 tài xế xe tải, hay vụ phát hiện và dập tắt 1 vụ cháy nhà dân, cứu sống 5 thành viên trong 1 gia đình ở khu dân cư thuộc Thị trấn Phú Lộc vào lúc nửa đêm...
Nói về đặc thù và trách nhiệm, Đại úy Phan Bảo Trung- Trạm trưởng nhận định, cung đường do Trạm CSGT Phú Lộc phụ trách là địa bàn có tội phạm diễn ra nhiều nhất tỉnh. Với 3 đèo quanh co, nguy hiểm là Hải Vân, Phú Gia, Phước Tượng, số km phụ trách cũng dài nhất tỉnh, nhưng cả Trạm chỉ có 19 cán bộ chiến sỹ, lại mới được thành lập (từ giữa tháng 9/2015), nên cũng có những khó khăn, nguy hiểm trong thực thi nhiệm vụ tuần tra kiểm soát, đảm bảo an toàn giao thông cho các phương tiện.
Bởi cung đường đi qua địa bàn nhiều đèo dốc nên phức tạp về giao thông, nhất là mùa mưa bão, QL 1A lại là tuyến đường độc đạo, nếu xảy tai nạn giao thông ở đèo thì phải xử lý kịp thời để thông đường. “Mới đây, hầm qua đèo Phú Gia, Phước Tượng đã thông xe, nên những khó khăn, phức tạp có giảm đi, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là đường đẹp, các phương tiện phóng nhanh, vượt ẩu... Do đó, chúng tôi luôn trong tình trạng thực thi nhiệm vụ cao độ, nhằm đảm bảo an toàn giao thông cho người và phương tiện trên toàn tuyến, cũng như quyết không để hàng lậu như gỗ, vải vóc... “lọt” qua địa bàn”- Đại úy Trung cho biết. (Bảo Vệ Pháp Luật 19/1) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Qua lời giới thiệu của Phó Chủ tịch UBND xã Thanh Minh, TP. Điện Biên Phủ Nguyễn Thị Ngát, chúng tôi không mấy khó khăn để tìm đến trang trại của anh Nguyễn Xuân Tuyến, bản Co Củ, hộ có diện tích rừng sản xuất lớn nhất xã.
Hiện nay, gia đình anh Nguyễn Xuân Tuyến có trang trại rộng khoảng 40ha, gồm: 5ha ao nuôi cá thương phẩm; 20ha rừng cây keo và cây dổi mỡ; diện tích còn lại là rừng khoanh nuôi tái sinh.
Anh Tuyến cho biết: “Trước đây, gia đình tôi chỉ tập trung nuôi cá thương phẩm. Đến năm 2010, tôi mới mua cây giống về trồng rừng, trước là để phủ xanh đất trống cho trang trại, giữ nước để phát triển nuôi trồng thủy sản, sau đó mới tính đến việc khai thác bán gỗ ra thị trường. Mới đầu, gia đình gặp nhiều khó khăn, vì thiếu kinh phí mua cây giống và vướng mắc trong việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Được chính quyền xã quan tâm, hỗ trợ cây giống và hướng dẫn các thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến nay, toàn bộ 40ha trang trại đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hơn 20ha cây keo, cây dổi mỡ đã đến kỳ thu hoạch. Cuối năm 2015, Công ty chế biến gỗ Hoàng Lâm (xã Núa Ngam, huyện Điện Biên) đến hỏi mua nhưng do chưa thỏa thuận được mức giá nên tôi chưa bán”.
Theo anh Tuyến thì, cây keo, cây dổi mỡ là những giống cây dễ trồng, tốn ít chi phí chăm sóc và còn tạo đạm, cải tạo đất. Hiện rừng keo, dổi mỡ của gia đình anh Tuyến trị giá hàng tỷ đồng.
Phát triển kinh tế theo hướng trồng rừng sản xuất không những nâng cao thu nhập mà còn có tác dụng giữ nước, giúp gia đình anh Tuyến thuận lợi trong phát triển nuôi trồng thủy sản. Nhờ trồng rừng nên lượng nước từ các khe, suối dồi dào, năm 2014, anh Tuyến mở thêm 1 ao nuôi cá rộng gần 2ha, nâng tổng diện tích ao nuôi cá lên trên 5ha. Ngoài ra, anh Tuyến còn tạo việc làm thường xuyên cho 4 lao động là người dân trong bản để chăm sóc, bảo vệ rừng, với mức lượng 4 triệu đồng/tháng và 20 - 30 lao động thời vụ khi đến mùa phát tán rừng hoặc thu hoạch cá, góp phần tạo thu nhập cho người dân địa phương.
Ở bản Co Củ còn có gia đình anh Nguyễn Công Hải cũng phát triển kinh tế rừng với diện tích 15ha. Gia đình anh Hải phát triển kinh tế rừng từ năm 2002 đến nay với 3 loại cây chủ đạo là: tre (12ha), keo (2ha) và muồng. Cây tre thì cho thu hoạch hàng năm, chủ yếu bán cho các doanh nghiệp làm cọc chống xây dựng. Đối với cây keo thì mới cho thu hoạch từ năm 2010, cũng chỉ bán cho người dân trong bản để dựng nhà là chủ yếu. Mỗi năm, trừ chi phí chăm sóc, khai thác, gia đình anh Hải thu lợi nhuận khoảng 120 – 150 triệu đồng từ khai thác gỗ rừng trồng.
Anh Hải chia sẻ: Phát triển kinh tế rừng vừa tăng thu nhập vừa có tác dụng bảo vệ môi trường. Nhà đất rộng không trồng rừng thì cũng để không, rất lãng phí. Tuy trồng rừng sản xuất có nhiều lợi ích nhưng có một khó khăn đối với các chủ rừng hiện nay là đầu ra sản phẩm. Hiện nay, sản phẩm gỗ chủ yếu được tiêu thụ theo hình thức bán lẻ. Các chủ rừng chưa kết nối được với công ty, doanh nghiệp chế biến gỗ nên quá trình khai thác, tiêu thụ sản phẩm phải kéo dài, ảnh hưởng đến việc trồng mới rừng.
Bà Nguyễn Thị Ngát, cho biết thêm: Những năm gần đây, xã đang khuyến khích người dân phát triển kinh tế theo hình thức trồng rừng sản xuất, vừa tăng thu nhập, bảo vệ môi trường và làm tăng độ che phủ rừng của xã. Để phong trào này được lan tỏa, hàng năm, UBND xã thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng.
Ngoài ra, xã lồng ghép các nguồn vốn để hỗ trợ người dân về cây giống phát triển rừng. Hiện nay, các chủ rừng đang gặp khó khăn về đầu ra sản phẩm. Vì vậy, trong thời gian tới, chính quyền xã sẽ chú trọng công tác kết nối với các công ty, doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh để giúp người dân yên tâm phát triển kinh tế rừng. (Báo Điện Biên Phủ 20/1) đầu trang(
Sử dụng hiệu quả nguồn vốn Chương trình 135, ông Lê Văn Hùng, Chủ tịch UBND xã Xuân Quang 2 (huyện Đồng Xuân) đã giúp bộ mặt xã đổi thay từng ngày, đời sống người dân được nâng lên. Ghi nhận những đóng góp của ông Hùng, UBND huyện đã tặng giấy khen cho ông.
Theo ông Lê Văn Hùng, sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của nông dân trong xã, nên khi được hỗ trợ phát triển sản xuất, xã đã tập trung hướng dẫn bà con đầu tư trồng rừng. Toàn xã đã trồng rừng theo các dự án với tổng diện tích 320ha, trong đó trồng rừng phân tán 122,5ha, trồng rừng thay thế đất rẫy 47,6ha, trồng theo dự án Flitch 150ha.
Ông Phạm Văn Trung, Trưởng phòng Dân tộc huyện Đồng Xuân, nhận xét: Sử dụng đúng mục đích nguồn vốn đầu tư, UBND xã Xuân Quang 2 mà đứng đầu là Chủ tịch UBND xã Lê Văn Hùng đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng trong xã, tạo điều kiện để bà con xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu. (Báo Phú Yên 20/1) đầu trang(
UBND tỉnh Bắc Giang vừa có văn bản gửi các sở, ngành, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, các huyện, thành phố phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ nhân dịp Xuân Bính Thân năm 2016.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu các cấp, các ngành và địa phương trong tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về mục đích, ý nghĩa của “Tết trồng cây”, động viên các cấp và nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng và bảo vệ rừng nhằm nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò, tác dụng, giá trị của rừng.
Việc tổ chức “Tết trồng cây” phải thiết thực, hiệu quả, không phô trương, hình thức. Trồng cây, trồng rừng phải gắn liền với thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2016 và trồng rừng thay thế diện tích rừng đã chuyển sang mục đích sử dụng khác.
Thời gian các địa phương, đơn vị tổ chức phát động “Tết trồng cây” Xuân Bính Thân từ ngày 12/02 đến ngày 11/3/2016. (Cổng Thông Tin Điện Tử Bắc Giang 19/1) đầu trang(
Chiều 19-1, Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam (EU), tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam và Trung tâm Tư vấn Quản lý Bền vững Tài nguyên và Phát triển Văn hóa Cộng đồng Đông Nam Á (CIRUM) đã tổ chức Hội thảo giới thiệu Dự án Nâng cao năng lực tiếp cận và quản lý đất sản xuất và đất rừng cho cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Với tổng vốn hỗ trợ hơn 650.000 euro, Tổ chức CARE Quốc tế phối hợp với trung tâm CIRUM, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN &PTNN tiến hành dự án trong giai đoạn từ tháng 1-2016 đến tháng 12-2018 tại sáu tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Kon Tum.
Khoảng 8 triệu đồng bào dân tộc thiểu số là đối tượng hưởng lợi sau cùng của dự án thông qua quá trình tham vấn, sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển Rừng và các chính sách khác cũng như các hoạt động thành công được nhân rộng của dự án. Đây chính là nhóm hộ nghèo, chiếm tỉ lệ cao nhất trong tỉ lệ nghèo đói tại Việt Nam, mà đời sống, sinh kế và văn hóa của họ phụ thuộc lớn vào tài nguyên thiên nhiên, nhất là là đất rừng.
Phụ nữ và trẻ em gái, là những đối tượng đặc biệt thiếu sự đảm bảo về an ninh lương thực, thiếu các cơ hội phát triển kinh tế, sống ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa, đối mặt với rào cản ngôn ngữ, trình độ giáo dục thấp và thường thiếu cơ hội tham gia trong tiến trình ra quyết định và quyết sách về các vấn đề liên quan đến tiến trình phát triển hòa nhập của cộng đồng các dân tộc thiểu số.
Mục tiêu tổng thể của dự án là góp phần bảo vệ và tăng cường tiếp cận và quản lý đất rừng cộng đồng của đồng bào dân tộc thiểu số. Dự án sẽ nâng cao năng cao hiệu quả sử dụng đất tại khu vực miền núi phía Bắc, miền Trung, và Tây Nguyên, lưu ý đến tiếp cận thông tin và sử dụng đất của đồng bào dân tộc thiểu số đối với đất rừng cộng đồng. Kết quả triển khai dự án sẽ được chia sẻ, tham vấn với Chính quyền và các nhà hoạch định chính sách trong quá trình sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sắp tới. (Hà Nội Mới 19/1; Vietnam + 19/1) đầu trang(
Ngày 19/1, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức hội nghị cải cách hành chính (CCHC) năm 2015 và công tác ứng dụng phần mềm Theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp.
Cùng với việc thực hiện cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính, năm 2015, Tổng cục Lâm nghiệp thông qua dự án Phát triển hệ thống quản lý thông tin ngành Lâm nghiệp (FORMIS) được tài trợ bởi Chính phủ Phần Lan đã bước đầu phát huy hiệu quả to lớn trong công tác quản lí nhà nước của ngành lâm nghiệp.
Với hệ thống hạ tầng gồm 3 máy chủ có hiệu năng cao cùng các hệ thống lưu trữ dữ liệu lớn, hệ thống FORMIS hiện đã tích hợp được Dữ liệu Kiểm kê rừng của 15 tỉnh và đang chuẩn bị tiếp nhận dữ liệu kiểm kê rừng của 25 tỉnh tiến hành kiểm kê trong năm 2015.
FORMIS cũng đã tích hợp nhiều phần mềm quản lí ngành lâm nghiệp khác như Cơ sở dữ liệu giống cây trồng lâm nghiệp; Cơ sở dữ liệu dịch vụ môi trường rừng (DVMTR); Dữ liệu các Cty lâm nghiệp và BQL rừng; Bản đồ hiện trạng rừng của 4 chu kỳ từ 1990 đến 2010…
Tiêu biểu cho ứng dụng phần mềm trong hệ thống FORMIS đã được triển khai hiệu quả trong năm 2015 đó là Dữ liệu thông tin về chi trả DVMTR đã được 37 Quỹ bảo vệ phát triển rừng của 37 tỉnh và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng Trung ương vận hành, cập nhật, khai thác, sử dụng và chia sẻ…
Phần mềm này có khối lượng khổng lồ thông tin liên quan đến hàng triệu ha rừng, hàng vạn chủ rừng, hàng nghìn cơ sở sử dụng DVMTR ở khắp 30 tỉnh, thành cả nước.
Ngoài ra, phần mềm theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hiện cũng đã và đang tích hợp với hệ thống FORMIS để cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm với độ chính xác cao theo kết quả tổng điều tra kiểm tra rừng toàn quốc, cho phép kết xuất các báo cáo và bản đồ ở các cấp từ chủ rừng, nhóm chủ rừng, tổ quản lí rừng, cấp xã, huyện, tỉnh và toàn quốc tại bất kỳ thời điểm nào…
Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn đề nghị, năm 2016, Tổng cục Lâm nghiệp cần triển khai tất cả các phần mềm ứng dụng của hệ thống FORMIS, quan trọng nhất là chương trình theo dõi diễn biến rừng, chương trình áp dụng công nghệ viễn thám trong phòng chống cháy rừng, cảnh báo cháy rừng…
Bởi việc triển khai các phần mềm ứng dụng theo dõi diễn biến rừng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc hiện đại hóa công vụ, nâng cao năng lực quản lí nhà nước về lâm nghiệp. Đây cũng là chương trình thực sự khả thi, thực tiễn đã thí điểm thành công tại Đăk Lăk trong năm 2015. Vì vậy thông qua dự án FORMIS, cần triển khai nhanh chóng chương trình này ra cả nước.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn chỉ đạo, trong quý I/2016, Tổng cục Lâm nghiệp cần phải hoàn thiện dự thảo quy định về kỹ thuật và biện pháp quản lí ứng dụng phần mềm này trình Bộ NN-PTNT ban hành trong quý I/2016. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/1; Thời Báo Tài Chính Việt Nam 19/1) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Có ít nhất 30.000 con trăn Myanmar đang bò ngổn ngang khắp vùng đầm đầy ở bang Florida (Mỹ). Có con rất lớn và nặng đến hơn 90 kg. Số lượng quá mức của loài trăn này đang đe dọa nhiều loài sinh vật bản địa.
Thậm chí, một con số ước tính còn cho rằng số lượng thực sự của trăn Myanmar trên toàn bộ miền nam Florida lên đến 300.000 con. Tình hình này bắt buộc con người phải can thiệp, theo Daily Mail.
Một cuộc thi diệt trăn được tổ chức, bất kỳ ai cũng có thể tham gia. Mục tiêu cuộc thi đề ra rất đơn giản: Giết càng nhiều trăn càng tốt.
Phần thưởng cho nhóm chiến thắng là số tiền mặt 5.000 USD (hơn 110 triệu đồng). Giải thưởng 3.500 USD, khoảng 78 triệu đồng, sẽ được trao cho người giết trăn nhiều nhất.
Cuộc thi bắt đầu từ năm 2013, do Ủy ban Bảo tồn đời sống hoang dã và cá Florida tổ chức. Năm nay, thời gian thi kéo dài 1 tháng, thu hút hơn 600 người tham gia.
Các nhà chức trách Florida cho rằng trăn Myanmar không phải loài bản xứ nhưng lại sinh sôi rất nhanh. Chúng phát triển trên vùng đất mới nhanh đến mức đe dọa các loài động vật hoang dã địa phương.
Một trong những cách giết trăn hiệu quả nhất là chặt đầu. Tuy nhiên, cách này đang bị các tổ chức bảo vệ động vật lên án dữ dội. Họ không phản đối việc giết trăn, chỉ có điều con trăn bị chặt đầu sẽ đau đớn hàng giờ trước khi chết hẳn. Cách duy nhất là tiêu hủy bộ não của chúng ngay sau khi chặt. Họ đề nghị phải dùng lửa để kết liễu lũ trăn.
Trước đây, trăn Myanmar được phép nuôi trong nhà ở Florida. Tuy nhiên, loài bò sát này đã thoát khỏi bể nuôi và chạy vào đầm lầy sau một cơn bão vào năm 1992. (Thanh Niên 19/1) đầu trang(
Số lượng đại bàng đầu hói - loài chim quý và là biểu tượng của nước Mỹ sống ở tiểu bang New Jersey vẫn đang tiếp tục tăng lên. Một báo cáo mới cho biết loài vật từng bị xếp hạng nguy cấp này đang phát triển về số lượng.
Quỹ bảo tồn động vật hoang dã tiểu bang New Jersey (CWF) đang thực hiện Dự án bảo tồn đại bàng, báo cáo rằng họ đã ghi nhận có nhiều đại bàng kết đôi, làm tổ ở tiểu bang này năm 2015.
Quỹ đã cử nhiều tình nguyện viên theo dõi 191 tổ chim trong mùa chúng kết đôi. Trong đó 150 tổ đã có trứng và do đó được coi là “có tín hiệu tích cực”.
Các nhà quan sát đã phát hiện 13 cặp đại bàng mới kết đôi. Mỗi tổ chim được đánh giá là “hoạt động tích cực” phải có tỷ lệ sinh bình quân 1,33 chim con. Tỷ lệ này có thể được tính là 199 con đại bàng non được sinh ra từ 122 tổ, hay 81 phần trăm trong số 150 tổ chim được giám sát.
Vào đầu những năm 1970, số lượng loài đại bàng này giảm mạnh do việc con người sử dụng thuốc trừ sâu dichloro-diphenyl-trichloroethane (DDT) gây ngộ độc các loài chuột và thú nhỏ, vốn là thức ăn của đại bàng.
Năm 1972, chính quyền đã cấm sử dụng DDT. Lệnh cấm này cùng với những nỗ lực bảo tồn các loài vật nguy cấp đã dần dần khôi phục số lượng những con đại bàng hói. Đại bàng đầu hói đã được ra khỏi danh sách các loài nguy cấp ở Mỹ vào năm 2007. (Infonet 20/1) đầu trang(
Theo các cơ quan chức năng, xác cá thể voi trên đang phân hủy được tìm thấy vào cuối tuần trước tại khu rừng Sikumi gần Vườn quốc gia Hwange, nơi các tay săn trộm đã đầu độc hàng chục cá thể voi từ tháng 9-2015. Khi được phát hiện, cá thể voi được xác định đã tử vong khoảng 10 ngày trước đó. Tuy nhiên, các tay săn trộm đã không có thời gian để cưa ngà của cá thể voi trên.
Armstrong Tembo, một quan chức của Ủy ban Lâm nghiệp cho biết: “Vào ngày 12-1, các nhân viên đã phát hiện xác voi đang bị phân hủy nhưng còn nguyên ngà. Nguyên nhân gây tử vong là voi đã ăn muối có trộn cyanide (chất độc)”.
Các tay săn trộm thường thả chất độc vào các hố nước hoặc rắc muối trộn độc gần các hố nước. Đang là mùa khô, số lượng voi tại vườn quốc gia giảm xuống do phải di chuyển để kiếm thức ăn và nước.
Bhejane Trust, một tổ chức bảo tồn đang hoạt động tại Vườn quốc gia Hwange khẳng định: “Với số ít các cá thể voi tại khu vực Sinamatella, chúng ta không khỏi lo lắng cho về tình trạng voi chết do bị đầu độc”.
Trước đó, 22 cá thể voi đã bị đầu độc vào tháng 10-2015 tại Sinamatella, phía bắc Vườn quốc gia Hwange. Các cơ quan quản lý tin rằng có ít nhất hai nhóm tội phạm liên quan đến vụ việc trên. Ít nhất bảy người đã bị thẩm vấn nhưng chưa có thông tin xác thực về kẻ cầm đầu.
Cũng vào tuần trước, một đối tượng đang làm việc tại một công ty vận chuyển ở Bulawayo đã bị bắt tại nhà riêng với gần 1 tấn Cyanide không có nguồn gốc. Bulawayo là trục đường chính nối liền thủ đô Harare với Vườn quốc gia Hwange. (Nhân Dân 19/1) đầu trang(
Loài chim cú bị viễn thị, có nghĩa là nó không nhìn thấy được các vật ở ngay trước mặt nó một cách rõ ràng
Kích thước của một con cú tùy thuộc vào từng loài cú. Loài chim cú nhỏ nhất chỉ nặng 28 gram và dài 13 cm. Loài cú lớn nhất có thể nặng tới 4,5kg và sải cánh rộng tới 2m. Loài cú là động vật ăn thịt. Chúng ăn các loài gặm nhấm, động vật có vú nhỏ, cá, chim và côn trùng.
Loài cú không nhai thức ăn vì cũng giống như các loài chim khác, chim cú không có răng. Nếu con mồi quá lớn, nó sẽ dùng cái mỏ sắc nhọn của mình để xé nhỏ con mồi. Chim cú là kẻ săn mồi giỏi vì chúng có khả năng bay một cách yên lặng. Bộ lông mềm đặc biệt của chim cú giúp giảm tiếng ồn được tạo ra khi nó vỗ cánh, do đó cho phép nó tiếp cận con mồi mà con mồi không phát hiện được.
Cơ quan thính giác của chim cú rất nhạy bén. Tai chim cú nằm ở hai bên đầu, phía sau mắt. Loài cú thường đẻ từ 3 - 4 quả trứng mỗi lần. Trứng của chim cú có hình tròn, màu trắng, và không nở cùng một lúc.
Mặc dù loài cú trông giống như có thể quay đầu được 360 độ nhưng thực chất nó chỉ quay đầu được tới 270 độ mà thôi. Chim cú bị viễn thị, có nghĩa là nó không nhìn thấy được các vật ở ngay trước mặt nó một cách rõ ràng. (Kiến Thức 20/1) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang